Các bài trong tập này:
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
CHƯƠNG V
THÁNH KINH KI-TÔ GIÁO
Có thể nói
cuốn Thánh kinh là cuốn sách bán chạy nhất trên thế giới. Trong phương trời Âu
Mỹ trước đây, hầu như mỗi nhà tín đồ KiTô giáo nói chung đều có ít nhất là một
cuốn Thánh kinh, thường được dùng làm vật trang trí hay vật hứng bụi (dust
collector) vì chẳng có mấy ai đọc nó. Nhưng đây cũng là một cuốn sách mà người
ta đã đưa lên bàn mổ để nghiên cứu, phân tích, thẩm định giá trị khả tín v...v..
kỹ nhất và đầy đủ nhất. Người ta đã phân tích từng câu từng chữ trong Thánh
Kinh, tìm hiểu xuất xứ, ai viết và viết bao giờ? Thí dụ, một nhóm khoảng 200
học giả chuyên về Thánh kinh (Bible experts) thuộc mọi tông phái trong KiTô giáo
đã cùng nhau nghiên cứu Thánh kinh trong nhiều năm, từ 1985, và có những phiên
họp định kỳ để bỏ phiếu về những câu mà người ta cho rằng Gìê-Su nói ở trong
Thánh Kinh và những phép lạ Giê-Su làm, được kể trong Thánh kinh. Thể thức bầu
phiếu của họ là đưa ra 4 loại nút màu khác nhau: Nếu nhà khảo cứu cho rằng lời
nói hay phép lạ đó "đúng" là Giê-Su nói hay làm thì bỏ nút màu đỏ, "không đúng"
thì nút màu đen, "có thể đúng" thì nút màu hồng, "có thể đúng, có thể
không" thì nút màu xám. Kết quả? Giê-Su KHÔNG NÓI 80% những điều ghi trong
Thánh kinh và Giê-Su CÓ THỂ chỉ có khả năng chữa lành một số bệnh tâm thần liên
hệ đến sự cử động của thân thể (psychosomatic) hay mẩn da (skin rashes). Ngoài
ra, Giê-Su KHÔNG HỀ thực hiện một phép lạ nào như đi trên nước, làm yên một cơn
bão tố ngoài biển, hay cứu người chết sống lại, đuổi quỷ ám ra khỏi người, biến
nước thành rượu v..v.., tất cả chỉ là vay mượn từ các huyền thoại Hi Lạp của thi
sĩ Homer (The Seminar scholars believe the Gospel writers borrowed from the
Greek poet Homer), hoặc phóng đại quá mức để nhấn mạnh đến quyền năng của Giê-Su
(The Seminar fellows suggest that the Gospel writers exagerated the stories in
order to emphasize Jesus' power). Tôi xin nhắc, đây là công việc nghiên cứu trí
thức của chính các chuyên gia KiTô giáo chuyên môn về mọi ngành, dựa trên rất
nhiều tài liệu và sự kiện lịch sử viết bằng cổ ngữ, văn bản gốc Thánh kinh viết
bằng tiếng Hi Lạp, những sự kiện khoa học v..v.., chứ không phải của những người
ngoại đạo.
Về cuốn
Thánh Kinh, học giả Lloyd M. Graham (Ibid., trg. 5) viết như sau:
"Cuốn
Thánh Kinh không phải là "lời của Thượng đế" mà là những cóp nhặt từ những nguồn
tài liệu dân gian. Vườn Địa Đàng, Adam và Eve được lấy từ các chuyện của dân
Babylone; trận "lụt cả" hay Hồng thủy chỉ là sự phóng đại của khoảng 400 câu
chuyện về những trận lụt; chuyện cái tàu lớn của Noah chúng ta có thể thấy trong
cả tá những huyền thoại về Hồng thủy; ngay cả tên các con của Noah cũng là
những tên cóp nhặt, cũng như những chuyện như hi sinh Isaac, phán xét
Solomon, Samson xô đổ cột; cái tên Moses cũng lấy từ tên Mises của dân Syrie,
các luật của Thượng đế lấy từ luật của Hammurabi. Đấng cứu thế được dẫn xuất
từ đấng cứu thế Madhi của Ai Cập, một vài câu được chép lại nguyên văn từ kinh
điển Ai Cập. Giữa Giê-su và nhân vật Horus của Ai Cập, Gereald Massey kiếm thấy
137 điểm tương tự, và giữa đấng Ki Tô và Krishna có đến cả vài trăm điểm giống
nhau. Làm sao mà Thánh Kinh có thể coi là những lời mặc khải của Thượng đế?"
(The Bible
is not "the word of God" but stolen from pagan sources. Its Eden, Adam and Eve
were taken from the Babylonian account; its Flood or Deluge is but an epitome of
some four hundred flood accounts; it Ark and Ararat have their equivalents in a
score of Deluge myths; even the names of Noah's sons are copies, so also Isaac's
sacrifice, Solomon's judgment, and Samson's pillar act; its Moses is fashioned
after the Syrian Mises; its laws after Hammurabi's code. Its Messiah is derived
from the Egyptian Mahdi, Savior, certain verses are verbatim copies of Egyptian
scriptures. Between Jesus and the Egyptian Horus, Gerald Massey found 137
similarities, and those between Christ and Krishna run into the hundreds. How
can the Bible be a revelation?)
Nhưng có
lẽ nhận xét tổng quát sau đây của một học giả Ca Tô sẽ cho chúng ta biết rõ hơn
về cuốn Thánh Kinh:
Trong cuốn
"Những vị Thần cuối cùng của Huyền Thoại: GiaVê và Giêsu" ("Mythology's
Last Gods: Yahweh and Jesus", p. 16), Tiến sĩ William Harwood, một tín đồ GiaTô
đã tỉnh ngộ và bỏ được một niềm tin sai lầm sau khi nghiên cứu lịch sử các tôn
giáo trong đế quốc La Mã và khám phá ra rằng "bí tích" ăn thịt uống máu Chúa
(Eucharist) mà ông đã tin và thọ hưởng cái bí tích rùng rợn này hàng tuần và
trong nhiều năm, đã có từ 3000 năm trước khi Giêsu ra đời, và rằng các Thần hay
Thượng Đế (Gods) chỉ là những sản phẩm tưởng tượng của con người (Dr.
Harwood..discovered that the "god-eating" ritual in which he participated weekly
as a believing Christian had existed three thousand years before Jesus' birth.
Not for three years, however, could he fully abandon the disproved beliefs to
which he had been emotionally committed, and acknowledge that gods are as
imaginary as fairies), đã viết:
"Người
ta đã khám phá ra rằng, từng quyển một trong Thánh Kinh đều chứa những sai lầm
về sự kiện, những phỏng đoán không chính xác, những kỹ thuật làm hợp lý hóa,
những điều tiên tri về những sự việc đã xảy ra, ghép với những điều tiên tri về
tương lai đã được chứng tỏ là không chính xác, và không còn sai lầm gì nữa
là chứa những lời nói láo cố ý. Nếu sự khám phá này được phổ biến tới đại chúng
thì cái huyền thoại Do Thái - KiTô đã bị quật nhào bởi một cơn gió lốc khó có hi
vọng phục hồi.
Trước
nguy cơ bị loại bỏ này, Giáo Hoàng đương thời (John Paul II) bổ nhiệm một số sử
gia của chính ông ta để khảo sát những kết luận về Thánh Kinh của những sử gia
thế tục và tìm ra trong những bằng chứng của họ những sơ hở mà Giáo Hoàng tin
rằng thể nào cũng phải có. Kết quả là những sử gia của Giáo Hoàng cũng phải xác
nhận là Thánh Kinh của họ thực ra chỉ là một ảo tưởng sai sự thực. Họ phúc
trình kết quả lên Giáo Hoàng, và khi Ngài lập tức dẹp bỏ cái phúc trình này đi
thì họ không còn là tín đồ CaTô nữa. Rồi Giáo Hoàng ra lệnh cho bộ máy tuyên
truyền của Ngài phát minh ra một phương pháp luận khác để đánh đổ phương pháp
của những sử gia trên, một phương pháp luận được tạo ra với mục đích rõ rệt là
phải đi đến kết luận là cuốn Thánh Kinh của Do Thái - KiTô không phải là một tác
phẩm hoang đường, không cần để ý đến chuyện phải xuyên tạc những bằng chứng đến
cỡ nào để đi tới mục đích trên. Cái phương pháp luận đó là "Thần học"...
Đó là
quyền lực của chính trị Thần quyền của thế giới mà, mặc dù đã có hàng ngàn tác
phẩm nghiên cứu và bài khảo cứu phủ bác toàn bộ Thánh Kinh Do Thái - KiTô, cho
tới ngày nay, 90% dân chúng trong những xã hội mà tôn giáo chính là KiTô Giáo
không hề biết đến sự hiện hữu của những bằng chứng bất khả phủ bác là quyển
Thánh Kinh chỉ là một tác phẩm giả tưởng."
(One by
one the various books of the bible were discovered to contain errors of fact;
inaccurate guesses; rationalizations; prophecies ex-post-facto, usually
combined with prophecies of the future that proved inaccurate; and
unmistakable, deliberate lies. Had this discovery been allowed to reach general
public, Judeo-Christian mythology would have suffered a blow from which it could
not have hoped to recover.
Facing
elimination, the current Pope appointed his own historians to examine the
secular historians' conclusions and find the flaw in their evidence that he
believed must be there. The outcome was that the Papal historians confirmed
that their bible really was falsifiable fantasy. They presented the Pope with
their reports and, when he promptly suppressed them, they all ceased to be
Catholics. So the Pope ordered his propaganda machine to invent an alternative
methodology to combat that of the historians, a methodology created for the
specific purpose of reaching the conclusion that the Judeo-Christian bible is
nonfiction, no matter how severely the evidence had to be distorted in order to
achieve that objective. That methodology was 'theology'..
...Such was
the power of the world's theocracies that, despite the publication of thousands
of scholarly books and articles refuting every part of the Judeo-Christian
bible, to this day the existence of unchallengeable proof that the bible is a
work of fiction is unknown to ninety percent of the population of
Christian-dominated societies.)
Có bao
nhiêu tín đồ Ca Tô Giáo Rô-ma biết được điều này, và có bao nhiêu tín đồ Ca Tô
tin được điều này? Có bao nhiêu tín đồ Ca Tô đã đọc những tác phẩm của những
chuyên gia phê bình Thánh Kinh từng câu, từng chữ một và vạch ra những điều sai
trái trong Thánh Kinh, trái ngược hẳn với những lời giảng lệch lạc, méo mó,
ngoài toàn bộ vấn đề (out of context) của hàng giáo phẩm Gia Tô, những người dựa
trên một niềm tin không suy luận, tự cho mình cái độc quyền có khả năng hiểu và
giảng Thánh Kinh, coi thường và hạ thấp trí tuệ của các tín đồ?
Chúng ta đã
thấy Giáo hoàng và Giáo hội đã dùng những thủ đoạn lừa dối như thế nào để duy
trì quyền lực trên đám tín đồ kém hiểu biết. Tại sao Giáo hội phải làm như
vậy? Vì quyền lực thế tục cũng như tài sản của Giáo hội Ca Tô Rô-ma tùy thuộc ở
số đông tín đồ nên Giáo hội rất sợ tín đồ biết đến cái bản chất thực sự của Giáo
hội cũng như những sai lầm trong Thánh Kinh, những sai lầm mà chính giáo hoàng
hay giáo hội cũng không thể phủ nhận. Chúng ta cũng nên nhớ rằng đã một thời
Giáo hội cấm tín đồ đọc Thánh Kinh, vi phạm luật này có thể bị xử tịch thu tài
sản, bị vạ tuyệt thông, hay bị tử hình. Về sự việc này, Bác Sĩ Nguyễn Văn Thọ
(Ibid., trg. 43), đã viết như sau:
"Tôi mới
đầu không hiểu tại sao Giáo hội cấm không cho giáo dân có Kinh Thánh hay đọc
Kinh Thánh, nhất là bằng Quốc Ngữ. Dần dà tôi mới thấy sự cấm đoán đó hết sức
là hữu lý, vì nếu cứ để cho giáo dân đọc Kinh Thánh, dần dà họ sẽ bới ra được
những cái dở của Kinh Thánh, những chỗ dịch sai, dịch bậy của Kinh Thánh, những
chỗ thêm, bớt vào Kinh Thánh.... Ngày nay người ta đã bới móc ra rằng Kinh Thánh
có nhiều đoạn mâu thuẫn nhau; năm quyển Cựu Ước đầu tiên không phải do Maisen
viết mà do nhiều người viết về sau này; Jeremiah, Daniel cũng do nhiều người
viết ở nhiều thế kỷ khác nhau; Thánh thư cho giáo đoàn Hebrews, Thánh thư
Thessalonians II, Thánh thư Peter II không phải do Paul và Peter viết ra. Thực
là điên cái đầu..."
Nhưng
trong Thánh Kinh không phải chỉ có những sai lầm và mâu thuẫn, mà ngay cả căn
bản tín lý cứu rỗi của Chúa Giê su cũng đã bị bác bỏ trước những khám phá mới
nhất của khoa học. Trước những khám phá mới về nguồn gốc con người và vũ trụ,
tuổi của vũ trụ, của trái đất, của loài người v..v.., thuyết sáng tạo trong
Thánh Kinh đã hoàn toàn bị bác bỏ. Không làm gì có chuyện một ông Thượng đế
toàn năng sáng tạo ra vũ trụ và mọi vật trong đó trong 6 ngày rồi mệt phải nghỉ
ngày thứ bảy, cách đây khoảng hơn 6000 năm. Không làm gì có chuyện Adam và Eve
là tổ tiên loài người và sa ngã, cho nên không làm gì có chuyện "Tội tổ
tông". Không có tội tổ tông thì không ai cần ai cứu rỗi, do đó, vai
trò cứu rỗi của Chúa Giê su là chuyện hoang đường và trở thành khôi hài. Và
cũng hoang đường không kém là chuyện Chúa "thăng thiên", vì thân xác con người,
sau khi chết, không thể tự nhiên bay lên trời, chống lại sức hút của trái đất,
trái với định luật vạn vật hấp dẫn, như một số người có đầu óc khuyết tật vẫn
còn tin vào một huyền thoại "bay lên trời" kể ra cách đây gần 2000 năm về một
người Do Thái, Giê su, mà tiểu sử thuộc loại bất minh, đầy mâu thuẫn. Làm sao
chúng ta có thể hiệp thông vĩnh viễn cùng Chúa ở trên Thiên Đường khi chúng ta
không hề biết Thiên đường ở đâu, và niềm tin "Chúa đang ở trên Thiên đường"
chẳng qua chỉ là điều "Giáo hội dạy rằng", nhiều nhất là một viễn cảnh không
chắc chắn nếu không muốn nói là một cái bánh vẽ trên trời. Đã có ai từ Thiên
đường trở về trần gian và khẳng định là Chúa đang ở trên Thiên Đường? Thiên
đường, nếu có, là ở trong tâm con người chứ không phải là ở một nơi nào đó, thí
dụ như trên vòm trời mô tả trong Thánh kinh, mà ta mong lên đó sau khi chết.
Cái vòm trời Thiên đường tưởng tượng này, có những cánh cửa mở ra để các thiên
thần đổ nước xuống thành mưa, của những người viết Thánh Kinh với trí tuệ của
những người bán khai, ngày nay đã bị kính thiên văn của Galileo Galilei và những
khám phá mới của khoa học làm rớt ra từng mảng. Với những kính thiên văn tân kỳ
nhất, các khoa học gia đã quan sát khắp vũ trụ, từ những thiên hà cách xa trái
đất hằng triệu năm ánh sáng cho tới những khối tinh vân cách chúng ta cả tỷ năm
ánh sáng, nhưng không thấy Thiên đường ở đâu. Giả thử Thiên đường ở xa hơn nữa,
tận cùng vũ trụ, nghĩa là cách xa chúng ta khoảng 15 tỷ năm ánh sáng, thì Chúa,
mới chết cách đây có 2000 năm, dù có "thăng thiên cả hồn lẫn xác" với vận tốc
của ánh sáng, vận tốc giới hạn của mọi vật chất, cũng còn nhiều tỷ năm nữa mới
lên tới Thiên đường. Vậy chuyện các tín đồ tin rằng sẽ được hiệp thông với Chúa
ngay sau khi chết phải chăng chỉ là chuyện không tưởng?
Có lẽ vì vậy
mà, sau nhiều năm nghiên cứu, từ năm 1985, Hội nghị các chuyên gia Ki Tô Giáo
nghiên cứu về nhân vật Giê Su (The Jesus Seminar), gồm khoảng 200 học giả thuộc
mọi tông phái trong Ki Tô giáo, đã viết trong tác phẩm "Ngũ Kinh" (The Five
Gospels, trg. 2) như sau:
"Chúa Ki
Tô (Giê Su) của tín điều và tín lý, trong thời Trung Cổ đã là một niềm tin vững
chắc, không còn thuyết phục được những người (khoa học gia) đã nhìn thấy những
vòm trời (như trong Thánh Kinh mô tả. TCN) qua Kính Thiên Văn của Galileo.
Những Thần Thánh và Quỷ dữ cổ xưa đã bị quét ra khỏi những vòm trời đó bằng cái
kính đáng kể này. Copernicus, Kepler, và Galileo đã triệt phá những trụ xứ
huyền hoặc (Thiên đường) của các Thần (hay Thượng Đế) và Satan và để lại cho
chúng ta những thiên đường thế tục."
(The Christ of
deed and dogma, who had been firmly in place in the Middle Ages, can no longer
command the assent of those who have seen the heavens through Galileo's
telescope. The old deities and demons were swept from the skies by that
remarkable glass. Copernicus, Kepler, and Galileo have dismantled the
mythological abodes of the gods and Satan, and bequeathed us secular heavens.)
Đối với
những người ngoại đạo và đối với các khoa học gia thì thiên đường chỉ là một sản
phẩm tưởng tượng của con người để tự an ủi trước những khó khăn của đời sống
hiện tại, cho nên họ không quan tâm đến một cái bánh vẽ trên trời. Đây cũng
không phải là mối quan tâm của hơn 4 tỷ người trên thế giới không tin, không
theo đạo Chúa. Nhưng đối với những tín đồ của đạo Chúa tin rằng Thánh Kinh là
những lời mặc khải không thể sai lầm của Thượng đế, do đó tin rằng có Thiên
đường có Hỏa ngục, tuy không biết ở đâu, thì họ cần biết rõ Chúa đang ở đâu để
mà hiệp thông với Chúa. Điều này họ có thể biết được nếu họ chịu khó đọc Thánh
kinh với một chút logic trong đầu.
Trong
cuốn "Holy Bible: The New King James Version" hoặc cuốn "The Holy Bible:
The New International Version", Chúa phán:
Matthew 5:
22: "Nhưng kẻ nào chê người khác là " đồ điên" thì sẽ bị đày hỏa ngục" (But
whoever says "you fool" shall be in danger of hell fire.)
Nhưng rồi
sau đó, Chúa chê những người khác:
Matthew
23: 17: "Đồ điên và mù! Cái nào lớn hơn, vàng hay đền thờ Thánh hóa vàng?"
(Fools and blind! For which is greater, the gold or the temple that sanctifies
the gold?)
Matthew
23: 19: "Đồ điên và mù! Cái nào lớn hơn, đồ cúng hay bàn thờ Thánh hóa đồ cúng?"
(Fools and blind! For which is greater, the gift or the altar that sanctifies
the gift?"
Vậy bây
giờ Chúa đang ở đâu? Tôi nghĩ chẳng cần phải thông minh cho lắm cũmg có thể trả
lời được câu hỏi này.
Đọc Thánh
Kinh tôi nhận thấy tin theo Chúa kể cũng khá mất nhân vị: khi thì bị mắng là
chó, khi thì bị mắng là đồ điên và mù, khi thì bị mắng là Satan (Phê rô), khi
thì bị rủa là đồ rắn độc, bị đày đọa hỏa ngục v..v.. Hình ảnh của một Chúa nhân
từ, được rao giảng là thương yêu người v..v.. , quả thật không phù hợp với
những ngôn từ Chúa nói trong Thánh Kinh.
Có bao
nhiêu tín đồ Ca Tô biết được rằng, trong giới trí thức và khoa học, Giáo Hoàng
John Paul II đã công nhận thuyết Big Bang và thuyết Tiến Hóa, và như vậy là Giáo
hoàng mặc nhiên phủ nhận thuyết Sáng Tạo trong Thánh Kinh, phủ nhận huyền
thoại Adam và Eve, căn bản của thuyết về tội tổ tông, và cuối cùng phơi bày sự
vô nghĩa của vai trò Cứu Thế của Giê-su Ki-Tô. Nhưng, như Tiến sĩ William
Harwood đã trình bày ở trên, giáo hoàng vẫn dùng những phương tiện không chính
đáng về cách diễn giải Thánh Kinh để giữ đám đông tín đồ kém hiểu biết, dù rằng
những diễn giải này không được chấp nhận trong giới khoa học và trí thức, và
chính Giáo hoàng cũng không tin và tự biết rằng những diễn giải này không có giá
trị thuyết phục trong những nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ. Nhưng chúng ta phải
công nhận là "nghệ thuật" diễn giải Thánh Kinh này của giáo hội đã rất có hiệu
quả trong vấn đề duy trì một niềm tin không suy luận, không cần biết, không cần
hiểu, nơi đa số tín đồ ít học, kém hiểu biết, nhất là ở trong các nước kém mở
mang.
Tôi nghĩ
không có bao nhiêu tín đồ Ca Tô biết những sự kiện trên, vì nếu biết thì cả một
nền tảng tín ngưỡng bị sụp đổ. Con người, nhất là những người dân bình thường,
kém hiểu biết và tinh thần yếu đuối, cần một cái gì dựa vào để được yên tâm, tự
an ủi. Đối với đám tín đồ ngày ngày phải đương đầu với những sự đói khổ, khó
khăn vật chất như ở Nam Mỹ, Châu Mỹ La Tinh, Mễ Tây Cơ, Phi Luật Tân và ở một
sô quốc gia kém mở mang ở Á Châu thì một sự hứa hẹn về một Thiên Đường sau khi
chết quả thật là một niềm an ủi lớn lao. Niềm an ủi này là khát vọng chung của
đám đông tín đồ trong những tôn giáo độc Thần Tây phương. Vì đời sống hiện tại
của họ không có mấy hi vọng sáng sủa nên họ hi vọng một đời sau tốt đẹp
hơn. Họ không hề biết đến một sự kiện: tất cả chỉ là những hứa hẹn không thể
kiểm chứng được, và từ xưa tới nay không có một ai, kể cả Chúa Giê Su và mấy
trăm Giáo Hoàng trong quá khứ, đã từ Thiên đường trở về để cho lớp người đang
sống biết thế nào là Thiên Đường. Giáo hội biết rõ tâm lý này nên đã triệt để
khai thác sự yếu kém của đám tín đồ đông đảo, dùng mọi cách để nuôi dưỡng những
tín lý của giáo hội trong đám tín đồ thiếu hiểu biết để duy trì một hệ thống
quyền lực, một hệ thống sống trên một niềm tin không suy luận mà giáo hội đã
gieo vào đầu óc của những con người chất phác, yếu đuối, ngay từ khi còn nhỏ,
trí tuệ chưa mở mang. Chẳng thế mà nhà trí thức Gia Tô Đỗ Mạnh Tri, trong cuốn
"Ngón Tay và Mặt Trăng", cũng đã cho rằng: "Tin là một cách sống, chết; không
liên quan gì đến cái biết, cái hiểu."
Cộng với
cái tâm cảnh nói trên, để giữ tín đồ, giáo hội thường che dấu những sự thực về
lịch sử giáo hội cũng như những sai lầm của giáo hội và về giáo lý Ca Tô, cùng
lúc dùng những biện pháp như đe dọa "tuyệt thông" (excommunication), nghĩa là
không cho phép tín đồ được hưởng những "bí tích" thuộc loại mê tín dị
đoan, mê tín dị đoan vì chúng không phù hợp với những sự kiện khoa học và cũng
không thể giải thích được cho nên giáo hội đã gán cho chúng một nhãn hiệu "bí
tích" để làm bặt mọi lý luận, mọi thắc mắc nơi tín đồ, hoặc như đe dọa đày
đọa vĩnh viễn xuống một "Hỏa Ngục" tưởng tượng, đối với đám tín đồ ít học, kém
hiểu biết, tinh thần yếu ớt và đã bị mê hoặc từ thuở mới lọt lòng mẹ ra đời với
niềm tin là Giáo Hoàng hay Tòa Thánh Vatican thực sự giữ cái chìa khóa cửa Thiên
Đường, và do đó giữ cái quyền cho hay không cho tín đồ hiệp thông với Chúa..
Ngày nay,
các học giả nghiên cứu về luận lý (logic) để duy trì quyền lực của Giáo hội Ca
Tô Rô-ma đã cho rằng đó là một kiểu kuận lý vòng vo, luẩn quẩn (convoluted
logic), nhưng cái vòng này lại có tác dụng giam giữ đám tín đồ kém hiểu biết, vì
một cái bánh vẽ trên trời (Từ của Linh mục Bringas: A Pie-in-the-Sky), nên không
hề thắc mắc. Cái luận lý vòng vo của Giáo hội Gia Tô nó như sau:
- Quyền lực
của Giáo hội là dựa trên Tân Ước mà Thượng đế đã linh ứng (inspire) cho các tông
đồ viết.
- Làm sao
chúng ta biết được là Thượng đế đã linh ứng cho các tông đồ?
- Vì "Giáo hội
dạy rằng" như vậy.
- Tại sao
chúng ta phải tin những lời "Giáo hội dạy rằng"?
- Vì Giáo hội
là tiếng nói của Thượng đế.
- Căn cứ trên
cái gì mà bắt chúng tôi phải tin như vậy?
- Căn cứ trên
những bằng chứng trong cuốn Tân Ước viết bởi những tông đồ đã được linh ứng.
- Làm sao
chúng ta biết được là Thượng đế đã linh ứng cho các tông đồ?
- Vì "Giáo hội
dạy rằng" như vậy.
Và cái vòng
luận lý này cứ tiếp tục như vậy, không bao giờ chấm dứt, bất kể là ngày nay,
chúng ta đã biết, cuốn Tân Ước được viết sau khi Chúa bị đóng đinh cả mấy chục
năm, trong đó có những tác giả chưa bao giờ gặp Chúa, biết Chúa, như Thánh Phao
Lồ, và chứa không ít mâu thuẫn, những lời "tiên tri" về những sự việc đã xảy ra,
hoặc những lời tiên tri về những sự việc không hề xảy ra, những phép lạ không hề
có v..v....
Sau đây
chúng ta sẽ lược duyệt một số nhận xét tổng quát về cuốn Thánh Kinh và tác dụng
của nó trên con người.
David Voas,
Giáo sư đại học tiểu bang New Mexico (New Mexico State University), trong cuốn
"Cuốn Thánh Kinh Mang Tới Tin Xấu: Cuốn Tân Ước" ("The Bad News Bible:
The New Testament", trg. 1 - 2) đã viết như sau:
"Vấn
đề là người ta nghĩ rằng người ta biết ở trong Thánh kinh có những gì, hoặc ít
nhất là Thánh kinh chứa loại tài liệu gì. Hầu hết đều lầm, họ chỉ quen thuộc
với vài đoạn trích dẫn đã được giáo hội chấp thuận, và họ sẽ ngỡ ngàng khi thấy
không những Thượng đế trong Cựu Ước khủng khiếp dễ sợ như thế nào, mà con của
hắn (nghĩa là Giê-Su; TCN) trong Tân Ước cũng còn ở dưới mức hoàn hảo khá xa.
Thông điệp của Giê-su không hẳn toàn là tin mừng, thiên đường nhiều nhất là một
viễn cảnh không chắc chắn. Xét về toàn bộ thì đó rất có thể là cuốn Thánh kinh
mang tới tin xấu."
(The
problem is that people think they know what's in the Bible, or at least what
kind of material it contains. Most of them are wrong: they are only familiar
with a few church-approved extracts, and are astonished not just how awful God
is in the Old Testament, but also at how much less than perfect his son seems in
the New. The message of Jesus isn't all good news; paradise is an uncertain
prospect at best. Taken as a whole, it could well be The Bad News Bible.)
Linh mục
Ernie Bringas viết về ảnh hưởng của sự tin mù quáng vào Thánh kinh như sau
(Ibid., trg. 17):
"Trải qua nhiều thế kỷ, sự sùng tín Kinh Thánh
đã dẫn tín đồ Ki Tô trong một niềm tin mù quáng, trong sự khủng bố, ngược đãi
người Do Thái vàì những người phi Ki-Tô, giết hại và khủng bố, áp bức
phái nữ, đè nén dục tính, kiểm duyệt, tạo tâm lý tôn sùng, và nhiều lầm lạc
khác. Những mô thức hành xử có tính cách hủy diệt này, người ta có thể thấy dễ
dàng là chúng bắt nguồn từ sự tin vào quyền năng tuyệt đối của những điều viết
trong Thánh Kinh."
(Over the
past centuries, bibliolatry has led Christians in bigotry, the persecution
of Jews and other non-Christians, murder and terrorism, the oppression of
women, the suppression of sexuality, censorship, cult mentality, and other
aberrations. The destructive behavior patterns can be easily traced to the
unchallenged authority accorded biblical writing.)
Lloyd Graham
luận về trách nhiệm tội lỗi của con người như sau (Ibid., trg. 425):
"Chúa Ki Tô cầu nguyện (Chúa Cha):
"Cha hãy tha thứ cho họ vì họ không biết là họ đang làm gì". Người cha duy nhất
của Chúa Ki Tô hay của con người là một nguyên lý thiên nhiên, và nguyên lý này
không ý thức được những gì nó tạo ra. Làm sao mà nó có thể tha thứ những tội
lỗi của con người? Đã làm cho con người man rợ và ngu đần, làm sao nó có thể
kết tội con người? Nếu cái tên Ki Tô không biết gì về siêu hình học này
(Giê-su) mà có chút kiến thức nào về luật nhân quả, thì lời cầu nguyện của hắn
phải đọc ngược lại - Con người, hãy tha thứ cho Thượng đế, vì hắn không biết là
hắn đã làm gì. Tất cả cuộc sống đều chứng tỏ cái sự kiện thê thảm này, cho nên
vấn đề không phải là Thượng đế có tha thứ tội lỗi của con người hay không, mà là
con người có thể tha thứ cho Thượng đế hay không? Bảo rằng con người gây ra
những sự đau khổ cho chính mình vì cái "nguyên tội" (hay tội tổ tông)
là một sự xuyên tạc sự thật. Cái "tội" đó là tội của Thượng đế - sự tạo ra
vật chất, nguồn gốc của những sự xấu ác. Nhưng Thượng đế lại không gánh
chịu sự đau khổ bởi những tội lỗi do chính mình gây ra, hắn bắt con người phải
gánh sự đau khổ."
(Christ
prayed: "Father forgive them for they know not what they do." The only father
of Christ or man is a natural principle, and this is not conscious of what it
creates. How then can it forgive man for his sins? Having made man savage and
ignorant, how can it hold him guilty? Had this metaphysically ignorant Christ
possessed any knowledge of Causation, his prayer would read in reverse - Man,
forgive God, for he knows not what he does. All life attests this tragic fact,
so the question is not, Will God forgive man for his sins? but can man forgive
God for his cruelty? That man caused his own suffering through an "original
sin" is a perversion of the truth. That "sin" was God's - the creation of
matter, the source of evil. But God does not suffer for his sins, he lets man
do it.")
Ingersoll
(Ibid., trg. 119) viết về những tác hại của Thánh Kinh và của niềm tin vào Chúa
trên nhân loại:
" Nhân
danh Chúa Ki Tô hàng triệu nam nữ đã bị tù đầy, tra tấn và giết hại, hàng triệu
người đã bị làm nô lệ. Nhân danh hắn những tư tưởng gia, khảo cứu gia, bị coi
như là những kẻ tội phạm, và những tín đồ theo hắn đã làm đổ máu của những người
thông thái nhất, giỏi nhất.
Nhân
danh hắn sự tiến bộ của nhiều quốc gia bị chặn đứng cả ngàn năm. Trong phúc
âm của hắn chúng ta thấy cái tín lý về sự đau khổ vĩnh viễn, và những lời của
hắn đã gia thêm sự kinh khủng vô tận vào sự chết. Phúc âm của hắn chất đầy thế
giới với thù hận và trả thù, coi sự lương thiện trí thức như một tội ác, hạnh
phúc trên cõi đời là con đường dẫn xuống địa ngục, tố cáo tình thương yêu như là
thấp hèn và như súc vật, thánh hóa sự nhẹ dạ cả tin, tôn vinh sự mù quáng và
tiêu diệt tự do của con người. Nhân loại sẽ tốt hơn nhiều nếu cuốn Tân Ước chưa
từng được viết ra - Chúa Ki Tô theo quan niệm thần học cũng chưa từng được sinh
ra."
(In Christ
name millions and millions of men and women have been imprisoned, tortured and
killed. In his name millions and millions have been enslaved. In his name the
thinkers, the investigators, have been branded as criminals, and his followers
have shed the blood of the wisest and the best. In his name the progress of
many nations was stayed for a thousand years. In his gospel was found the dogma
of eternal pain, and his words added an infinite horror to death. His gospel
filled the world with hatred and revenge, made intellectual honesty a crime,
made happiness here the road to hell, denounced love as base and bestial,
canonized credulity, crowned bigotry and destroyed the liberty of man.
It would be
far better had the New Testament never been written - far better had the
theological Christ never lived.)
Điều chắc
là những tín đồ Ca Tô hầu như rất ít người đọc cuốn Thánh Kinh, khoan nói đến
chuyện đọc những tác phẩm nghiên cứu kể trên. Cũng vì vậy họ chỉ biết tới một
vài đoạn chọn lọc được giảng với ý nghĩa nằm ngoài toàn bộ Thánh Kinh (Out of
context) bởi những chức sắc Ca Tô, những người đã được huấn luyện rất kỹ về
"nghệ thuật" trích dẫn và giảng Thánh Kinh. Robert G. Ingersoll, một tư tưởng
gia lỗi lạc của Mỹ vào cuối thế kỷ 19 đã đưa ra một thách đố: ông sẽ tặng một
giải thưởng là $100 (năm 1890) cho vị linh mục hay mục sư nào dám lên bục
giảng, giảng những đoạn mà chính Ingersoll trích dẫn từ Thánh kinh. Trong
nhiều năm, không có một người nào nhận lời thách đố này cả. Một người có óc suy
luận tối thiểu có thể mường tượng ngay ra là nội dung những đoạn đó trong Thánh
Kinh nó như thế nào.
Cũng vì vậy
mà Ira Cardiff, một khoa học gia, đã đưa ra nhận xét sau đây:
"Hầu như
không có ai thực sự đọc cuốn Thánh kinh. Cá nhân mà tôi nói đến ở trên (một tín
đồ thông thường) chắc chắn là có một cuốn Thánh kinh, có thể là cuốn sách duy
nhất mà họ có, nhưng họ không bao giờ đọc nó - đừng nói là đọc cả cuốn.
Nếu một
người thông minh đọc cả cuốn Thánh kinh với một óc phê phán thì chắc chắn họ
sẽ vứt bỏ nó đi."
(Virtually
no one really reads the Bible. The above mentioned individual doubtless has a
Bible, perhaps the only book he owns, but he never reads it - much less reads
all of it.
If an
intelligent man should critically read it all, he would certainly reject it.)
Trên đây
chỉ là những nhận định rất tổng quát của một số học giả, linh mục về cuốn Thánh
kinh. Qua những nhận định trên chúng ta không thể biết gì về nội dung của cuốn
Thánh kinh. Muốn biết rõ về nội dung cuốn Thánh kinh chúng ta cần
trích dẫn nhiều đoạn trong đó. Nhưng tôi xin phép quý độc giả cho tôi được
miễn phần này vì những đoạn trích dẫn sẽ không phù hợp với tiêu chuẩn luân lý
đạo đức của Việt Nam. Thay vì trích ra để dẫn chứng, tôi chỉ xin nêu sau đây 3
tài liệu, qua 3 tài liệu này quý độc giả có thể ít ra là mường tượng được nội
dung cuốn Thánh kinh và ảnh hưởng của nó trên nhân loại ra sao.
1. Trong
cuốn "Quyển sách của Ruth" ("The Book of Ruth", trg. 6-8 & 59-60), Ruth
Hurmence Green, một phụ nữ đã trưởng thành trong một gia đình GiaTô và trong nền
giáo dục GiaTô, đã viết như sau:
"Không
có cuốn sách nào mà trong đó mạng sống con người, thật ra là mọi mạng sống, lại
rẻ rúng như vậy. Cái vị Chúa ác ôn của Cựu Ước ra lệnh cho dân Do Thái giết,
cưỡng hiếp, và tra tấn không thương sót toàn thể dân chúng nhiều quốc gia, "trẻ
thơ và sơ sinh, thiếu niên và trinh nữ, và người già cả." Nếu họ không tuân
lệnh thì chính họ sẽ chịu sự thịnh nộ thù hằn của Chúa. Những con cưng của Chúa
đã vâng lời Chúa tàn sát nhiều ngàn người, xé xác những phụ nữ đang mang thai,
quật con nít vào đá, để các đầu lâu vào trong những sọt và chặt chân tay những
nạn nhân của họ. Cái kẻ tội phạm vô tiền khoáng hậu này
(Chúa) đã nhận chết đuối toàn thể nhân loại trừ gia
đình của một tên say rượu (Noah). Hắn đã khiến cho trái tim của Pharaoh thành
chai đá nên đã giết tất cả các trẻ sơ sinh ở Ai Cập. Vì sự tái sinh của hắn
trên trái đất (nghĩa là sự sinh
ra của Giê-su) mà trong một vùng
rộng lớn mọi bé trai dưới hai tuổi đều bị giết
(bởi Herod). Có thể bảo tôi được chăng là mạng sống con người
là thiêng liêng đối với Chúa?
Cuốn Tân
Ước cũng không ủng hộ gia đình như là một ưu tiên của dân KiTô giáo. Giê-Su
không những khinh khi chính gia đình hắn, mà trong một trường hợp, còn từ chối
nói chuyện với gia đình của mình
(Mathew 12: 46-49) nhưng lại đòi hỏi những người theo hắn phải từ bỏ
gia đình họ, nói rõ rằng kẻ nào muốn làm đệ tử hắn thì phải bỏ tất cả những gì
mình có (Luke 14:33).
Cuốn
Thánh Kinh đã được dùng trong nhiều thế kỷ để sát hại nhiều triệu mạng người, và
Ki-Tô giáo đã phá nát gia đình, như Giê Su đã hứa hẹn: "Ta sinh ra để làm cho
con nghịch với cha, con gái nghịch với mẹ, con dâu nghịch với mẹ chồng, và những
người trong nhà thành kẻ thù của nhau."
(Matthew 10: 35-36). Trong Ngày Phán Xét các gia đình sẽ bị tan nát.
Vậy ai là kẻ còn có thể cho rằng cuốn Thánh Kinh ủng hộ gia đình hay đời sống
của con người?
Không có
một trang sách nào trong Thánh Kinh mà không làm tôi bất bình về một phương diện
nào đó. Thật ra, sau mỗi lần tìm hiểu Thánh Kinh tôi lại muốn đi tắm rửa sạch
sẽ với xà bông "lye" của bà nội. Và khi tôi thấy Thánh Kinh coi thường phụ nữ
thường là tôi muốn quẳng nó ra cuối phòng. Tôi nguyện không bao giờ còn cầm
cuốn Thánh Kinh một cách lộ liễu trên tay ở nơi công cộng. Thomas Paine, đấng
cứu rỗi thực sự của thế giới, đã tố cáo cuốn Thánh Kinh thay tôi: "Tôi
thành thật ghê tởm nó như là tôi ghê tởm mọi sự độc ác."
Nhưng
không phải trong đó chỉ có những sự ác độc và những sự tàn bạo không thể tưởng
tượng được. Nếu là chuyện tục tĩu, bạn sẽ thấy nó trong cuốn sách này. Nếu là
chuyện dâm ô, bạn sẽ thấy nó trong Thánh Kinh, và bạn không cần phải mất công
tìm kiếm. Tôi không khuyên bạn mở ra bất cứ trang nào và đọc cái đoạn nó đập
vào mắt bạn đầu tiên. Bạn có thể vi phạm luật kiểm duyệt. Nếu luật kiểm duyệt
được thi hành một cách chặt chẽ, cuốn Thánh Kinh sẽ phải bán dấu diếm dưới quầy
hàng"
(There is
no other book in which human life, all life in fact, is so cheap. The fiendish
Lord of the Old Testament orders the Jews to kill, rape, and torture without
pity entire nations, "infant and suckling, young man and virgin, and the man
with gray hair." If they do not obey, they feel the wrath of the Lord's
vengeance themselves. His favorites dutifully massacre thousands, rip up
pregnant women, and dash little ones against the stones, putting heads in
baskets and mutilating their victims. This criminal of all time drowns the
entire population of the world except for the family of a drunkard. He hardens
Pharaoh's heart to make it possible to put all the first born of Egypt to the
sword. He comes to earth incarnate in such a manner that all male children
under two in a vast area must be killed, again with the edge of the
sword. Tell me, if you can, that human life is sacred to the Lord.
...The New
Testament yields little support for the family as even a Christian priority.
Jesus not only shows contempt for his own family, even refusing to speak to them
on one occasion (Matthew 12: 46-49) but demands that his followers abandon
theirs, specifying that those who wish to be his disciples must "forsake all
that he hath." (Luke 14:33)
...The Bible
has been used for centuries to persecute millions of human beings, and
Christianity has decimated families as Jesus promised it would: "For I have come
to set a man at variance against his father, and the daughter against her
mother, and the daughter-in-law against her mother-in-law. And a man's foes
shall be they on his own household." (Matthew 10:35-36) On Judgment Day
families will be torn apart. Does anyone still presume to picture the Bible as
pro-family and pro-life?
...There
wansn't one page of this book that didn't offend me in some way. In fact, after
a session of searching the scriptures, I always wanted to take a bath with
Grandma's lye soap. And when I encountered the Bible's disdain for women, I
very often almost pitched the good book across the room. I vowed never to be
seen in public with an unconcealed Bible in my hands. Thomas Paine, the true
savior of the world, denounced the Bible for me: "I sincerely detest it as I
detest everything that is cruel."
But it
wasn't only the cruelty and the unimaginable atrocities. If there is
obscenity, you'll find it in this book. If there is pornography, you'll find it
in the scriptures, and you won't even have to search. I don't advise opening
aimlessly and reading aloud the first passage that meets the eye. You might
violate a censorship law. Strict censorship would mean that the Bible would
have to be sold from under the counter.)
2. Trong
cuốn "Kinh Tình Thương Đối Với Tội Ác" ("The Gospel of Love Vs Crime",
trg. 6-7), Jack Bays viết như sau:
"Tín
điều về sự đầy đọa vĩnh viễn là tín điều của những kẻ ác ôn. Hãy nghĩ tới hàng
ngàn trẻ con và những người vô tư mà đời sống của họ chất đầy ảm đạm.
Những
giáo lý này đã trải phủ trái đất với những đống xương vàng của những người dị
giáo và học giả. Chúng ta thấy sự đàn áp ngoại đạo của Constantine, Clovis,
Justinian, Theodosius và Charlemagne; chúng ta thấy những cuộc thánh chiến trong
đó có tới 20 triệu người bị giết; chúng ta thấy sự tàn sát bừa bãi đàn ông, đàn
bà, trẻ con ở Jerusalem bởi Godfrey - thấy những nhà thờ Hồi giáo chồng chất
từng đống thây người Saracine - những người Do Thái bị thiêu sống trong các giáo
đường Do Thái; chúng ta thấy Coeur de Lion tàn sát hàng ngàn những người bị bắt;
sự cướp bóc và tàn sát ở Constantinople bởi dân Frank; chúng ta thấy dân Moor bị
đuổi ra khỏi Tây Ba Nha trong những cuộc tàn sát đẫm máu, cảnh
giết hại dân Huguenots và Waldenes, sự tàn sát những nông dân Đức, sự
tan hoang của Ái Nhĩ Lan - Hòa Lan phủ đầy máu; chúng ta chứng kiến Smithfield
và Bartholomew (các cuộc tàn sát
nhiều ngàn người vì tôn giáo; TCN), chúng ta thấy Tòa Hình Án xử Dị Giáo với những
hình cụ tra tấn ác ôn không thể đếm xuể; chúng ta thấy Auto-da-fé
(cuộc lễ sau phiên tòa xử dị giáo, trao nạn
nhân cho chính quyền hành hạ và thiêu sống; TCN), - nơi mà những người bị kết án là dị giáo bị chế
riễu rồi dẫn đi tra tấn hay thiêu sống; chúng ta thấy con người bị căng ra trên
cái giá, bẻ trẹo khớp xương, và chân tay bị xé ra; chúng ta thấy họ bị lột da
sống - thân xác đẫm máu của họ bị đóng dấu bằng sắt nung đỏ; chúng ta thấy con
người bị phủ đầy hắc ín rồi thiêu sống; chúng ta thấy họ bị ném từ trên các chòi
cao xuống đường phố, đầu dọng xuống đất; chúng ta thấy họ bị chôn sống; chúng ta
thấy họ bị treo cổ và cắt ra từng mảnh; chúng ta thấy họ bị những móc sắt hơ
nóng móc lòi con ngươi ra... lưỡi họ bị kéo ra---xương họ gẫy nát---mình họ bị
cả ngàn mũi kim đâm vào; chúng ta thấy những bà già bị trói chặt vào chân những
con chiến mã hung hăng, và hàng triệu người bị tra tấn bởi những hình cụ ác ôn
mà các bọn cuồng tín tôn giáo có thể nghĩ ra, Bọn người này nhận được quyền lực
trực tiếp từ Thượng đế vì mọi điều này được dạy ngay trong Thánh Kinh.
(Tác giả mô tả những sự kiện trong lịch
sử CaTô giáo cùng những cảnh tra tấn trong các tòa hình án; TCN).
Thật
vậy, đó là những gì mà giáo hội GiaTô đã mang tới cho thế giới, thay vì
hòa bình và tình huynh đệ của phúc âm về tình thương. Những điều trên đã làm
cho GiaTô giáo thành một tôn giáo đẫm máu nhất như chưa có tôn giáo nào làm đen
tối mặt trái đất như vậy. Trong thế kỷ vừa qua, hơn 90% các cuộc chiến tranh là
chiến tranh của người KiTô giết người KiTô hay giết người ngoại đạo. Tất cả
những chiến cụ khủng khiếp; bom nguyên tử, hơi độc, phi cơ chiến đấu , v...v...
đều là phát minh của người KiTô giáo. Trong bất cứ cuộc chiến nào cũng có những
người giảng đạo, linh mục, mục sư ở mỗi phe cầu nguyện và thúc đẩy sự giết chóc
như là Jehovah (Chúa Cha) già nua tàn bạo đã làm cho dân Do Thái khi họ tàn
sát dân chúng trong vùng đất hứa, chiếm đoạt nhà cửa, gia súc và cả con gái của
họ."
......" Đức
quốc xã giết những người Do Thái chỉ vì những việc mà tổ tiên của họ làm trước
đó 50 hay 100 năm. Điều này có đúng hay không? Không, nhưng thế còn mười lần
đúng hơn là luận phạt con người vì một tổ tiên, Adam, làm 6000 năm về trước.
Đức quốc
xã lùa dân Do Thái vào các phòng sát sinh và giết họ trong vòng vài phút.
Thần
trong Thánh Kinh hứa vứt con người vào trong một cái hồ lửa, không cho họ chết
mà giữ họ hấp hối trong đó vĩnh viễn. Thật là tệ hơn Đức quốc xã tới cả 10000
lần.
...Giá thử
những người KiTô lúc đầu được phép quảng bá kinh về tình thương thì cái bản chất
độc đoán, hiếu chiến của dân Tây phương đã đỡ đi và những cảnh đổ máu và
cực khổ mà chúng tôi kể trên đã có thể tránh được.
Chúng ta
có thể thấy điều này qua sự quan sát ảnh hưởng của kinh về tình thương trên
những dân tộc Đông phương. Lịch sử lúc đầu của Ấn Độ cũng đẫm máu như lịch sử
của mọi nước khác, bộ Bách Khoa Tự Điển ghi như vậy, nhưng sau khi kinh về tình
thương (của đức Phật; TCN)
truyền tới họ thì bản chất của họ thay đổi, và họ trở thành những người yêu hòa
bình và có lòng từ bi đối với mọi sinh vật.
Vua A Dục là một lãnh chúa chưa từng thất
trận, nhưng khi kinh về tình thương yêu được giảng cho ông ta thì ông ta đã
buông gươm xuống và sau đó chinh phục mọi thứ bằng tình thương và tình huynh
đệ. Ông ta đã dùng suốt cuộc đời còn lại của mình để truyền bá cái thông điệp
đó."
(The dogma
of everlasting torment is the dogma of fiends. Think of the thousands of
children and simple-minded adults whose lives have been filled with gloom!
These teachings have strewn the earth with the yellow bones of heretics and
scholars. We see the persecutions of Constantine, Clovis, Justinian, Theodosius,
and Charlemagne; we see the crusades in which twenty million were killed; we see
the indiscriminate massacre of men, women and children in Jerusalem by
Godfrey--see the mosques piled seven deep in murdered Saracines--Jews burn in
their synagogues; we see Coeur de Lion slaughtering thousands of captives; the
Franks pillaging and slaughtering in Constantinople; we see the Moors expelled
from Spain in bloody slaughter, the murder of the Huguenots and Waldenes,
the slaughter of the German peasants, the desolation of Ireland--Holland covered
with blood; we witness Smithfield and Bartholomew; we see the Inquisition with
its countless instruments of fiendish torture; we see the Auto-de-fe,-where
heretics clad in mockery, are led to torture and to death; we see men stretched
upon the rack, disjointed, and torn limb from limb; we see them flayed
alive--their bleeding bodies seared red-hot irons; we see live men covered with
pitch and set on fire; we see them hurled headlong from towers to the street; we
see them burried alive; we see them hanged and quartered; we see their eyes
bored out with heated augers -- their tongues torn out--their bones
broken--their bodies' pierced with a thousand needles; we see aged women tied to
the heels of fiery steeds and on and on were millions tortured by every fiendish
device that cankered minds of religious fanatics could devise. They had
authority direct from God for all of it right there in their Bibles.
Yes, this
is what the church brought upon the worid ; instead of the peace and brotherhood
of the gospel 'of love. It has made Christianity the bloodiest religion that
ever darkened the face of the earth. In the last century 90% of all the wars
have been Christian wars with Christians slaughtering Christians or someone
else. All of the hellish war rnachines; atomic bombs, poison 'gas, war planes,
etc., have been Christian inventions, made and used by Christian nations. In
every war there have been preachers priests and rabbis on each side praying
and urging
on the slaughter just as old brutal Jehovah did for the Israelites while they
were massacreing the people of the promised land, to take their homes, their
stock and their daughters.)
....The Nazis
killed the Jews just because of things their ancestors did in Germany 50 or 100
years before. Was that right? No, but it was ten times more right than to punish
people for what an ancestor, Adam, did 6,000 years ago.
The Nazi
brutes herded the Jews into chambers and snuffed their lives out within a few
minutes.
The Bible God
is pledged to put people into a lake of fire and not let them die but keep them
there in agony forever. That is 10,000 times worse than the Nazis ever were.
Had the
early Christians been allowed to go on promoting the gospel of love the
tyrannical, aggressive nature of the people of the West would have been allayed
and most of the bloodshed and misery we have mentioned would have been avoided.
We can see this by observing the effects of the gospel of love on the peoples of
the East. The early history of India was as bloody as any country, says the
Britanica but after the gospel of love was brought to them their whole nature
was changed, and they became peaceloving and kind to all creatures.
King Asoka
was a victorious war lord whose armies had never known defeat but when the
gospel of love was presented to him he laid down his sword and did all of his
conquering after that by love and friendship. He spent the rest of his life in
spreading that message.)
Có vẻ như những người truyền giáo Ki-tô giáo
không hề biết đến những nghiên cứu mới nhất về cuốn Thánh Kinh của Ki-tô Giáo.
Cho nên trong thời đại này mà họ vẫn viện dẫn Thánh Kinh, coi nó như là những
lời mạc khải của một ông Thiên Chúa mà họ tin, nên không thể sai lầm. Để thấy rõ
vấn đề, chúng ta hãy điểm qua vài đoạn bài giảng của Mục sư Nguyễn Hữu Ninh với
vài nhận xét nho nhỏ để chúng ta cùng thấy trình độ hiểu biết về Thánh Kinh của
một ông Mục Sư Tin Lành Việt Nam ngày nay, từ đó có thể suy ra trình độ hiểu
biết về Thánh Kinh của những tín đồ Tin Lành và do đó có thể nhận rõ sự nguy hại
của những đầu óc Tin Lành. Sau đây là vài đoạn điển hình trong bài giảng của
Mục sư Nguyễn Hữu Ninh. Chúng ta để ý những đoạn này không khác với những lời
giảng đạo tập sự của một số tân tòng Tin Lành như Nguyễn Huệ Nhật, Huỳnh Thiên
Hồng, Lê Anh Huy v..v..,
Thánh Kinh là bộ sách Thánh của hai thời
đại Cựu và Tân Ước. Ki Tô Giáo (Christianity) trong thế kỷ I thừa hưởng
được bộ Kinh điển Cựu Ước đáng tin cậy của người Do Thái, và có bộ sách Thánh
Tân Ước từ thời các sứ đồ và từ uy quyền của chính Chúa cứu thế bảo đảm...
Sách (trong Thánh Kinh) được chọn
lọc và luân lưu giữa các hội thánh, được tra xét cẩn thận. Trước giả là những
người đã được Chúa lựa chọn để ghi chép, tác giả chánh là Chúa Thánh Linh,
Ngài hà hơi vào các lời ấy. Với hai nguyên tố quan trọng: Nhân tố và Thiên
tố.
Nhân tố: Các sứ đồ, môn đệ của Chúa đã ghi
chép theo sự hiểu biết của họ, họ không ở trong trạng thái ngất xỉu, tâm trí họ
sáng suốt, nên văn thể vẫn giữ được sắc thái cá nhân của trước giả. Sách đọc
lên rất rõ ràng, mạch lạc, đề tài tập trung vào sự cứu rỗi của Chúa Giê-su Ki
Tô, không vẽ vời chuyện thần thoại hoang đường.
Thiên tố: Thần quyền (Chúa
Thánh Linh) hà hơi vào trước giả, Ngài cảm thúc, kiểm soát lời
viết. II Tim. 3:16: “Toàn thể Thánh Kinh đều do Thiên Chúa soi dẫn...”
Thiên Chúa hà hơi vào mỗi từ ngữ,
vì thế người đọc Lời Chúa được Ngài tác động trong tâm linh chinh phục họ trở
lại đầu phục Ngài. Sự hà hơi của Ngài bảo đảm giá trị Thần quyền của
sách ấy vào kinh điển của Thánh Kinh...Lời ghi chép đã được chính Chúa Thánh
Linh hà hơi.
Bộ kinh điển Cựu Ước gồm các phần chính
sau đây:
Ngũ Kinh Môi-se – Torah: 1. Sáng
Thế Ký; 2. Xuất Ai-cập Ký; 3. Lê-vi Ký; 4. Dân Số Ký; 5. Phục Truyền Luật Lệ
Ký...
Kinh điển Tân Ước gồm có 27 sách đã được
hội thánh đầu tiên tiếp nhận là thánh thư được Chúa Thánh Linh hà hơi,
có giá trị thẩm quyền khuôn vàng thước ngọc cho niềm tin và phẩm hạnh của tín
hữu (Christian)....
Chính Chúa Cứu thế đã chính thức công
nhận Cựu Kinh và hứa rằng công vụ của Thánh Linh của chân lý sẽ hoàn
tất mọi dữ kiện trong Tân Kinh. Lời phán của Chúa cứu thế là có giá trị tối hậu
và là chìa khóa của kinh điển Cựu và Tân ước...
Đọc đoạn
trên, chúng ta thấy rõ sự mê tín nặng nề trong những đầu óc Tin Lành và trình độ
hiểu biết rất kém cỏi về chính cuốn Thánh Kinh mà họ tôn sùng.
Thật vậy,
thứ nhất, Chúa Thánh Linh là Holy Spirit, hay là Thánh Ma (Holy Ghost), mà một
Spirit lại có thể “hà hơi” như người thường, vì Mục sư Nguyễn Hữu Ninh đã gọi
Chúa Thánh Linh là Ngài. Đúng là một chuyện tiếu lâm độc nhất vô nhị trên thế
gian, chỉ có thể có trong Ki Tô Giáo, hoặc trong bộ phim “Ghost stories” của
Tàu. Chuyện tiếu lâm này cũng tương tự như chuyện Chúa Thánh Linh có thể làm
cho bà Mary mang thai mà không cần đến tinh trùng của...đàn ông. Từ khi khai
thiên (khoảng 15 tỷ năm trước) lập địa (khoảng hơn 4 tỷ năm trước) cho đến khi
Ngài “hà hơi” (khoảng 3000 năm trước, khi Ngũ Kinh được viết) vào các trước giả
Thánh Kinh, thì chắc chắn là trong thời gian nhiều tỷ năm này chưa có những ống
kem Colgate hay Crest v..v... Vậy cái hơi của Ngài tích tụ trong nhiều tỷ năm mà
không có những sản phẩm này tất nhiên phải rất đặc biệt. Vì thế cho nên, do cái
loại hơi đặc biệt này, các trước giả mới viết lên được những lời rất khó ngửi.
Khó ngửi vì những lời đó phần lớn là những tư tưởng ác độc, bạo tàn, dâm loạn,
hoang đường, phản khoa học, phi lý trí v..v.. mà chúng ta thấy có đầy trong
Thánh Kinh, nhất là Cựu Ước. Do đó, khi đọc Thánh Kinh, nếu chúng ta có một bộ
óc tưởng tượng phong phú, thì chúng ta có thể ngữi thấy mùi. Mùi gì? Ngoài mùi
“hà hơi” còn có mùi máu tanh trong suốt cuốn Cựu Ước, át hẳn mùi “hà hơi” khó
ngửi của Chúa Thánh Linh.
Thứ nhì,
Mục sư Nguyễn Hữu Ninh viết rõ là “Ki Tô Giáo (Christianity) trong thế
kỷ I thừa hưởng được bộ Kinh điển Cựu Ước đáng tin cậy của người Do Thái”
Lẽ dĩ nhiên, vì những người Ki Tô Giáo đầu tiên là người Do Thái. Ai cũng biết
Cựu Ước là lịch sử Do Thái, viết theo niềm tin của người Do Thái về một vị Thần
của họ, giải thích những hiện tượng thiên nhiên mà trí tuệ của họ thời đó chưa
hiểu nổi. Tuy nhiên, một câu hỏi được đặt ra là, người Việt Nam chúng ta thì có
liên hệ gì tới lịch sử Do Thái và Thần của họ, do đó cái “kinh điển Cựu Ước đáng
tin cậy của người Do Thái” rất có thể không đáng giá một xu đối với người Việt
Nam chúng ta, khoan nói đến chuyện tin cậy. Lịch sử Việt Nam đã chứng tỏ rõ ràng
như vậy. Cái liên hệ duy nhất có thể có giữa người Việt Nam và người Do Thái là
do cùng một sinh thể ban khai tiến hóa trong khoảng thời gian hàng tỷ năm mà
thành, theo thuyết Tiến Hóa mà ngày nay cả thế giới, trừ một số có đầu óc khuyết
tật trong Ki Tô Giáo, nhất là Tin Lành, đều chấp nhận là một sự kiện không ai có
thể phủ bác [Xin đọc bài Charles Darwin Và Thuyết Tiến Hóa trên trang nhà
Giao Điểm]. Nền văn hóa hòa bình định cư của dân tộc Việt không có gì giống nền
văn hóa du mục bạo tàn của dân tộc Do Thái, và hơn 90% người Việt Nam theo chủ
nghĩa nhân bản và nhân chủ, vậy tại sao người Việt Nam phải tin vào những chuyện
hoang đường trong Thánh Kinh của người Do Thái và tôn thờ một vị Thần của người
Do Thái, chỉ có giá trị tâm linh đối với người Do Thái?
Thứ ba, theo mục sư Nguyễn Hữu Ninh thì:
Chúa Thánh Linh hà hơi vào trước giả, Ngài cảm thúc, kiểm soát lời viết. Vậy
mỗi khi trước giả viết xong một câu lại phải trình lên Chúa Thánh Linh để Ngài
kiểm soát? Kiểm soát như thế nào? Cầm bút nguyên tử gạch bỏ những lời không
ưng ý hay “hà hơi lại” vào các trước giả để cho họ viết lại? Nhưng rồi Mục sư
Nguyễn Hữu Ninh lại viết: Thiên Chúa hà hơi vào mỗi từ ngữ, vì thế người đọc
Lời Chúa được Ngài tác động trong tâm linh chinh phục họ trở lại đầu phục Ngài.
Như vậy là những từ ngữ đã được viết ra, sau khi đã được Chúa Thánh Linh
kiểm soát. Vậy Ngài hà hơi vào những từ ngữ đó để làm gì nữa? Để cho con người
mỗi khi đọc đến những từ ngữ đó lại ngửi được mùi “hà hơi” của Ngài? Mặt khác,
nếu như tôi, vừa đọc vừa bịt mũi thì Ngài tính sao đây? Còn nữa, sao tôi đọc
những Lời Chúa, đọc đi đọc lại nhiều lần, mà lại chẳng thấy Chúa Thánh Linh tác
động gì hết trong tâm linh tôi để tôi trở lại đầu phục Ngài? Trái lại tôi chỉ
thấy ghê tởm Ngài như Thomas Paine đã ghê tởm Ngài qua những chuyện độc ác, vô
luân trong đó. Một bài học sơ đẳng cho Mục sư Nguyễn Hữu Ninh: không nên viết
kiểu “suy bụng ta ra bụng người” rồi “vơ đũa cả nắm”.
Thứ tư, Mục sư Nguyễn Hữu Ninh viết:
“Chính Chúa Cứu thế đã chính thức công nhận Cựu Kinh”. Như vậy thì Chúa cứu
thế, tức Giê-su, đã chính thức công nhận tất cả những chuyện hoang đường, phi
lý, phản khoa học, sai lầm, ác độc, tàn bạo, loạn luân v..v.. trong Cựu Ước.
Mục sư Ninh có dám phủ nhận là Cựu Ước không có những chuyện như trên không?
Nếu Chúa cứu thế công nhận những chuyện như vậy, và tiếp nối công vụ để hoàn tất
chúng trong Tân Ước, thì phải chăng những chuyện như trên chính là “khuôn
vàng thước ngọc cho niềm tin và phẩm hạnh của Ki Tô hữu”? Chẳng trách lịch
sử Ki Tô Giáo là một lịch sử ô nhục, đẫm máu nhất thế gian, với những giáo hoàng
vô đạo đức, cuồng sát, loạn luân, với những cuộc thánh chiến, tòa hình án xử dị
giáo, săn lùng giết hại “phù thủy”, đồng hành với chủ nghĩa thực dân v..v..., và
ngày nay, chuyện một số không nhỏ linh mục, mục sư phạm tội loạn dâm phải chăng
cũng là để hoàn tất những “khuôn vàng thước ngọc cho niềm tin và phẩm hạnh
của Ki Tô hữu”? Ai có thể phủ nhận những điều này, xin lên tiếng.
Thứ năm, Lời phán của Chúa cứu thế là có
giá trị tối hậu và là chìa khóa của kinh điển Cựu và Tân ước... Như vậy thì
những lời phán ác độc của Chúa, những lời nguyền rủa của Chúa, những lời hỗn hào
với mẹ của Chúa, nhưng lời “tiên tri” hoang đường của Chúa, những lời nói láo
của Chúa như chúng ta sẽ thấy trong đoạn bàn về Ngũ Kinh sau đây v..v.., tất cả
đều có giá trị tối hậu? Giá trị đối với ai? Mục sư Ninh chỉ có thể lừa dối
được đám tín đồ ngu dốt, chưa hề đọc Thánh Kinh, qua những câu cường điệu bậy bạ
như trên, chứ đối với giới hiểu biết thì vô tác dụng.
Và cuối cùng, Mục sư Nguyễn Hữu Ninh, cũng
như Chúa Giê-su của ông ta (John 5:46; Luke 24:27; Luke 16:31), đều tin rằng
Ngũ Kinh là do Môi-se viết. Cả hai đều sai lầm trầm trọng, vì chẳng có cái gì
có thể gọi là “Ngũ Kinh – Môi-se”. Điều này chứng tỏ Chúa Giê-su cũng
chỉ là một người thường như Mục sư Nguyễn Hữu Ninh, sự hiểu biết rất giới hạn.
Chứng minh?
Trước hết, tất cả các học giả nghiên cứu
Thánh Kinh, ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki Tô, đều đồng thuận ở một
điểm: Ngũ Kinh (5 sách đầu trong Cựu Ước) không phải là do Môi-se viết mà là do
nhiều người khác nhau, thuộc nhiều môn phái khác nhau, viết trong khoảng thời
gian 400 năm, từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 6 trước thời đại thông thường ngày nay
(B.C.E = Before Common Era), hay Trước Tây Lịch (TTL) trong khi Môi-se sống
trong khoảng thế kỷ 13 TTL. Các môn phái khác nhau đó là :
- Môn phái Yahwistic (viết tắt là J) vì gọi
Chúa là Jehovah.
- Môn phái Elohistic (viết tắt là E) vì gọi
Chúa là Elohim.
- Môn phái Deuteronomic (viết tắt là D) viết
sách Deuteronomy.
- Môn phái Priestly (viết tắt là P) viết sau
khi dân Do Thái đi lưu đày (sau 500 TTL).
Thứ nhì, Mục sư Rubem Alves đã đặt vấn đề
trong cuốn Protestantism and Repression, trang 63:
Ai viết Ngũ Kinh? Câu trả lời của
giáo hội Ki Tô lịch sử cho câu hỏi trên là khẳng định: "Moses viết". Nếu Moses
không hề viết Ngũ Kinh (theo những kết quả nghiên cứu của các học giả. TCN)
thì các tông đồ (Paul và John) đã sai lầm khi họ nói rằng Moses viết. Nếu họ
sai lầm trong vấn đề này thì làm sao chúng ta có thể tin họ khi họ nói về những
vấn đề như thiên đường và đời sau? Nếu Moses không viết Ngũ Kinh thì Giê-su
đã nói láo hay sai lầm khi ông ta nói rằng Moses viết. (John 5:46 - Luke
24:27 - Luke 16:31). Nếu Giê-su thực sự không biết ai viết,
tuy rằng ông ta nói rằng ông ta biết, làm sao chúng ta có thể tin ông ta được
khi ông ta nói những chuyện trên trời?
(Who wrote the Pentateuch? The response of
the historical Christian Church to that question is definite: “Moses wrote
them”. If Moses did not write the Pentateuch, then the apostles (e.g., Paul and
John) made a mistake when they said that he did. If they erred on this matter,
how can we believe them when they deal with truths concerning heaven and the
future life? If Moses did not write the Pentateuch, then Jesus lied or erred
when he said Moses did. If Jesus did not know this, though he said he did know,
how can we believe him when he talks about the thing of heaven?
Tôi có thể tin chắc là Mục sư Nguyễn Hữu Ninh
không hề biết đến những tác phẩm nghiên cứu về Thánh Kinh Ki Tô Giáo, và chỉ
viết theo những gì ông đã được dạy chứ chính mình chưa đọc kỹ Thánh Kinh, cho
nên ông ta đã dập khuôn nói láo của Giê-su và viết là “Ngũ Kinh – Môi-se”. Nếu
đọc kỹ, ông ta phải biết rằng trong Phục Truyền Luật Lệ Ký 34: 5-7, Môi-se
viết về cái chết của chính mình như sau: “Vậy Môi-se, tôi tớ Chúa qua đời
trong đất Mô-Áp, như Chúa đã phán. Ngài (tức là Chúa) chôn ông ta
(ngôi ba đấy nhé) tại một thung lũng đối ngang...Môi-se qua đời lúc ông ta
(ngôi ba đấy) được 120 tuổi ...”
Vậy có
phải là Môi-se viết ngũ kinh như Mục sư Nguyễn Hữu Ninh rao giảng cho tín đồ hay
không? Nếu đúng là Môi-se viết thì ông không thể dùng ngôi ba “ông ta” để chỉ
chính ông. Mặt khác, Môi-se sống trong thế kỷ 13 TTL và chỉ sống có 120 tuổi,
trong khi Cựu Ước chỉ được viết từ thế kỷ 9 TTL, vậy bằng cách nào mà Môi-se
viết Ngũ Kinh? Tôi đề nghị Mục sư Nguyễn Hữu Ninh hãy đọc ít nhất là cuốn Ai
Viết Thánh Kinh? (Who wrote the Bible?, 1987) của Richard Elliott Friedman,
và cuốn The Bible Unearthed: Archaelogy’s New Vision of Ancient Israel and
The Origin of its Sacred Texts của Israel Filkelstein & Neil Asher
Silberman, mới xuất bản năm 2002. Nhưng đề nghị này có vẻ như nước đổ đầu vịt,
vì tôi hiểu những người Tin Lành hơn ai hết. Đối với họ thì tam đoạn luận sau
đây là khuôn vàng thước ngọc cho mọi “lý luận”:
Tất cả
những gì trong Thánh Kinh đều đúng (Everything in the Bible is true)
Thánh kinh
viết Moses là tác giả của Ngũ Kinh (The Bible says that Moses is the author of the
Pentateuch)
Vậy thì
Moses phải là tác giả của Ngũ Kinh (Therefore Moses is the author of the Pentateuch)
Do đó,
bài dịch này không có mục đích khai sáng Mục sư Nguyễn Hữu Ninh, những tín đồ
Tin Lành (sic) tân tòng Việt Nam như Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng, Huệ Nhật,
Khuất Minh, Phan Như Ngọc v..v.. và tất cả những “tôi tớ, tỳ nữ của Chúa” trên
Mucsu.net, và cũng không có mục đích giúp họ hiểu biết thêm về cuốn Thánh Kinh
Ki Tô Giáo. Nó chỉ có tính cách thông tin xác thực cùng đại chúng mà thôi.
Những tín
đồ thuộc loại “tôi tớ Chúa” này thường cho rằng những gì viết trong cái gọi là
Thánh Kinh Ki Tô Giáo, gồm Cựu Ước và Tân Ước, đều là những chân lý. Họ cũng
còn coi cuốn Thánh Kinh là khuôn vàng thước ngọc cho luân lý đạo đức. Điều hiển
nhiên là họ chưa bao giờ đọc kỹ Thánh Kinh, khoan nói đến chuyện đọc với đầu óc
suy luận. Cũng vì vậy họ thường hay trích dẫn những câu vặt vãnh lạc lõng trong
Thánh Kinh, coi chúng như là những chân lý, để làm luận điểm đối thoại. “Lý
luận” thuộc loại “tôi tớ” của họ trong mọi cuộc đối thoại là: “Thánh Kinh viết
rằng..”, làm như tất cả những điều trong Thánh Kinh phải được chấp nhận trước
khi đối thoại, không hề biết Thánh Kinh chỉ là một sản phẩm man rợ của thời bán
khai. Lẽ dĩ nhiên, họ chưa bao biết ai là những người viết Thánh Kinh, chưa bao
giờ đọc những tác phẩm nghiên cứu về Thánh Kinh, phân tích Thánh Kinh từng câu
từng chữ, và tuyệt đối không bao giờ để ý đến tính cách nhất quán, một tính cách
không thể không có (sine qua non) trong một cuốn sách có thể gọi là có phần nào
giá trị. Tính cách nhất quán này không hề có trong Thánh Kinh. Do đó, dù có
được Thánh Linh hà hơi hay không, cuốn Thánh Kinh cũng chỉ là một sản phẩm hạ
đẳng của thời bán khai vì chứa rất nhiều điều độc ác, vô đạo đức, phi luân lý,
phản khoa học, phi lôgic, hoang đường v..v.. Chứng minh?
Chỉ cần
mở cuốn Thánh Kinh ra và đọc với một đầu óc chưa bị nhiễm độc. Nếu ngại công
tìm kiếm những điều trên, có đầy trong thánh Kinh, tôi xin giới thiệu một số tác
phẩm trong đó các tác giả đã trích dẫn sẵn những câu, những đoạn trong Thánh
Kinh mà lẽ dĩ nhiên các tín đồ Ki Tô Giáo không bao giờ được nghe giảng trong
nhà thờ:
“The X-Rated Bible: An Irreverent Survey of
Sex in the Scripture” của Ben Edward Akerley: cuốn sách dày hơn 400
trang, liệt kê những chuyện tình dục dâm ô, loạn luân trong Thánh Kinh.
“All The Obscenities in the Bible”
của Kasmar Gene: cuốn sách dày hơn 500 trang, liệt kê tất cả những chuyện tục
tĩu, tàn bạo, giết người, loạn luân v..v.. (Human sacrifice, murder and
violence, hatred, sex, incest, child cruelty etc..) trong Thánh Kinh.
“The Bible Handbook” của W. P. Ball,
G.W.Foote, John Bowden, Richard M. Smith et...: Liệt kê những mâu thuẫn
(contradictions), vô ngĩa (absurdities), bạo tàn (atrocities) v..v.. trong Thánh
Kinh.
“The Born Again Skeptic’s Guide to the
Bible” của Bà Ruth Hurmence Green: Bình luận những chuyện tàn bạo, dâm
ô, kỳ thị phái nữ trong Thánh Kinh.
“One Hundred Contradictions in the Bible”
của Marshall J. Gauvin: Liệt kê 100 điều mâu thuẫn trong Thánh Kinh.
“The Bible Unmasked” của Joseph
Lewis: Lột mặt nạ Thánh Kinh, đưa ra những sai lầm trong Thánh Kinh.
“Christianity Cross-Examined” của
William Floyd: Phân tích từng quyển một trong Thánh Kinh.
“Christianity and Incest” của Annie
Imbens & Ineke Jonker: Viết về Ki Tô Giáo và vấn đề loạn luân, những sự kiện về
loạn luân và kỳ thị phái nữ bắt nguồn từ Thánh Kinh.
Những tín
đồ Tin Lành Việt Nam như Mục sư Nguyễn Hữu Ninh, tân tòng như Lê Anh Huy, Huỳnh
Thiên Hồng, Huệ Nhật, Khuất Minh, Phan Như Ngọc v..v.. và tất cả những “tôi tớ,
tỳ nữ của Chúa” trên Mucsu.net không bao giờ biết rằng ngay từ đầu thế kỷ 20,
giới lãnh đạo Tin Lành Mỹ đã hoang mang lo sợ vì phải đối diện với hai thực tế.
Thứ nhất, “Các học giả Âu Châu đã phân tích Thánh Kinh kỹ hơn bao giờ hết,
và kết luận của họ là: Thánh Kinh không phải là cuốn sách do Thần Cha mạc khải
mà viết ra, như các Ki Tô hữu đã tin, do đó không thể sai lầm. Thật ra, đó là,
một hợp tuyển lộn xộn những huyền thoại cổ xưa, truyền thuyết, lịch sử, luật lệ,
triết lý, bài giảng đạo, thi ca, chuyện giả tưởng, và một số ngụy tạo rất hiển
nhiên.” (European scholars were scrutinizing the Bible more closely than
ever before. They had concluded that it (the Bible) was not, as Christians had
long believed, a book dictated by God and therefore infallibly true. It was,
instead, a disorderly anthology of ancient myths, legends, history, law,
philosophy, sermons, poems, fiction, and some outright forgeries.). Thứ nhì,
chính là những tư tưởng trong thuyết Tiến Hóa của Charles Darwin. [Xin đọc bài
Charles Darwin và Thuyết Tiến Hóa trên trang nhà Giao Điểm]
Cho nên
ngày nay, những ai còn nói chuyện mạc khải, hà hơi, hay thẩm quyền của Thánh
Kinh, thật ra chỉ là những người còn sống trong bóng tối, lạc hậu ít ra là vài
thế kỷ. Bởi vì, thực tế là, Thánh Linh có hà hơi hay không, trong Thánh Kinh
(sic) loạn luân vẫn là loạn luân, độc ác vẫn là độc ác, giết người vẫn là giết
người, phi lý phản khoa học vẫn là phi lý và phản khoa học v..v...
Để thay
cho đoạn kết của chương này, tôi xin dịch bài "Những Lời Châu Ngọc về Thánh
Kinh" (Gems Concerning the Holy Bible) của Robert G. Ingersoll trong cuốn
"Ingersoll: Con Người Kỳ Diệu" (Ingersoll, the Magnificient), biên tập bởi
Joseph Lewis, trg. 59-85. Qua bài này, chúng ta sẽ thấy thực chất cuốn Thánh
Kinh của Ki Tô Giáo là như thế nào, và hi vọng Mục sư Nguyễn Hữu Ninh sẽ nhận
thức được “chân giá trị” của một cuốn sách mà ông tin là Thiên Chúa của ông đã
“hà hơi vào từng câu, từng chữ”. Xin quý độc giả ghi nhận, tất cả những gì
Ingersoll viết đều dựa trên nội dung Thánh Kinh và lịch sử Ki Tô Giáo. Cũng
như những bài tôi đã dịch về các chủ đề liên hệ đến Ki Tô Giáo, để tránh bài
dịch quá dài, tôi đã lược bớt một số đoạn thuộc triết lý cá nhân của Ingersoll
mà tôi cho là đã đi xa đầu đề của bài viết, tuy trong những đoạn này có những tư
tưởng rất hay của Ingersoll về nhân chủ và nhân bản. Xin mời quý độc giả thưởng
thức một bài viết ở cuối thế kỷ 19 của một danh nhân Hoa Kỳ: Đại Tá Robert G.
Ingersoll, một chính trị gia, một diễn giả, một nhà hùng biện, và nhất là, một
nhà tư tưởng tự do (Freethinker) lỗi lạc của Mỹ vào cuối thế kỷ 19. Ông có tên
trong lịch sử Hoa Kỳ, trong Tự Điển, trong Bách Khoa Tự Điển, trong Tự Điển điện
tử (CD-ROM, Grolier Electronic Publishing, 1997) và những tác phẩm của ông có
trong mọi thư viện ở Hoa Kỳ.
"Một
người nào đó phải nói lên sự thực về cuốn Thánh Kinh. Những nhà giảng đạo [trong
nước Mỹ. TCN] không dám vì họ sẽ bị đuổi khỏi các bục giảng. Những giáo sư đại
học không dám, vì họ sẽ mất đi đồng lương. Các chính trị gia không dám. Họ sẽ
bị đánh bại. Các chủ biên không dám. Họ sẽ mất độc giả. Các thương gia không
dám, vì họ có thể mất khách hàng. Ngay cả những công chức thường cũng không
dám, vì họ có thể bị đuổi. Vậy thì tôi nghĩ chính tôi sẽ phải làm việc này.
[Xin nhắc lại, Ingersoll viết bài này vào cuối thế kỷ 19]
Có
nhiều triệu người tin rằng Thánh Kinh là lời mặc khải của Thiên Chúa - nhiều
triệu người nghĩ rằng cuốn sách này là cây gậy dẫn đường, là nguồn cố vấn và an
ủi; rằng nó chứa đầy hòa bình trong hiện tại, hi vọng trong tương lai - nhiều
triệu người tin rằng đó là suối nguồn của luật pháp, công lý và tình thương, và
nhờ có những giáo lý thông thái và lành tốt mà thế giới có được tự do, thịnh
vượng, và văn minh - nhiều triệu người tưởng tượng rằng cuốn sách này là sự mặc
khải từ trí tuệ và lòng thương yêu của Thiên Chúa đến với tâm thức con người -
nhiều triệu người coi cuốn sách này như là ngọn đuốc chinh phục được sự tối tăm
của chết chóc, và tỏa ánh sáng trên một thế giới khác - một thế giới không có
nước mắt.
Họ
quên đi cái sự ngu tối và man rợ, sự thù ghét tự do, sự tàn sát tôn giáo ở trong
Thánh Kinh; họ nhớ tới Thiên đường, nhưng quên đi những ngục tù tăm tối và sự
đau khổ vĩnh viễn ở dưới hỏa ngục.
Họ
quên rằng cuốn sách này giam hãm đầu óc con người và làm cho lòng người đồi
bại. Họ quên rằng cuốn sách này là kẻ thù của tự do trí thức.
Các
linh mục, mục sư phân vân là làm sao tôi lại có thể tồi tệ đến độ công kích cuốn
Thánh kinh.
Tôi sẽ
nói cho họ biết:
Cuốn
sách này, cuốn Thánh Kinh, đã truy tố cho đến chết những người thông thái nhất
và tốt nhất. Cuốn sách này đã chặn đứng sự tiến bộ của loài người. Cuốn sách
này đã đầu độc những nguồn kiến thức và lạc dẫn năng lực của con người.
Cuốn
sách này là kẻ thù của tự do, là cột chống của chế độ nô lệ. Cuốn sách này
đã gieo những hạt giống thù hận trong gia đình và quốc gia, nhúm ngọn lửa chiến
tranh, và làm cho thế giới nghèo khổ. Cuốn sách này là công sự của hôn quân bạo
chúa - là chủ nhân của các nô lệ phụ nữ và trẻ em. Cuốn sách này đã làm đồi
bại nghị viện và triều chính. Cuốn sách này đã biến các trường đại học
[Ki Tô Giáo] thành thầy dạy của sự sai trái và kẻ thù ghét
khoa học. Cuốn sách này chất đầy những nước theo KiTô giáo với những tông phái
thù hận, độc ác, ngu tối, chém giết lẫn nhau. Cuốn sách này dạy con người giết
đồng loại vì tôn giáo. Cuốn sách này đã lập nên Tòa Hình Án xử dị giáo, phát
minh ra những hình cụ tra tấn, thiết lập những ngục tù tối tăm trong đó người
lương thiện và nhân từ mai một dần; rèn những chuỗi xích trở thành rỉ xét trong
da thịt họ, dựng lên những đoạn đầu đài để chặt đầu họ. Cuốn sách này đã xếp
những đống củi dưới chân của người lành. Cuốn sách này đã trục lý trí ra khỏi
đầu óc của nhiều triệu người và đưa những kẻ khùng vào đầy nhà thương điên.
Cuốn
sách này đã gây nên cảnh cha mẹ làm đổ máu những trẻ sơ sinh. Cuốn sách này đã
là trường bán đấu giá trên đó người mẹ nô lệ đứng nhìn đứa con nhỏ phải bị chia
lìa khi bà được bán đi. Cuốn sách này chứa đầy thuyền kẻ buôn nô lệ và làm da
thịt con người thành món hàng hóa. Cuốn sách này đã nhúm lửa thiêu sống những
"mụ phù thủy" và những "thầy pháp”. Cuốn sách này chứa đầy tối tăm với những
quỷ và ma [Satan và Holy Ghost], và thân thể con người với những ác quỷ
[demons]. Cuốn sách này đã làm ô nhiễm đầu óc con
người với giáo điều ô nhục về hình phạt đầy đọa vĩnh viễn [của Giê-su]. Cuốn
sách này coi sự cả tin như là đức tính cao nhất, và sự tìm tòi hiểu biết như là
tội ác lớn nhất. Cuốn sách này đã đặt kẻ ngu dốt và những vị Thánh nhơ bẩn lên
trên triết gia và người nhân đức. Cuốn sách này dạy con người coi thường những
niềm vui của đời sống này, để có thể sung sướng ở đời sau - bỏ phí thế giới này
vì thế giới sau.
Tôi
công kích cuốn sách này vì nó là kẻ thù của sự tự do của con người - là sự cản
trở lớn nhất của sự tiến bộ của con người.
Tôi
xin hỏi các linh mục, mục sư một câu: làm sao mà các ông có thể tồi tệ đến mức
bào chữa cho cuốn sách này.
Cuốn
Thánh Kinh đã là thành trì chống đỡ của hầu hết các tội ác.
Ngang
qua cuốn Thánh kinh mở là thanh gươm (để giết người) và bó củi (để thiêu sống
người).
Chúng ta
hãy thoát ra khỏi sự tàn bạo của một cuốn sách, ra khỏi sự nô lệ của sự ngu tối
cùng cực, của cái không khí quý tộc thống trị
[của các giáo sĩ].
Một
trong những việc đầu tiên mà tôi (Ingersoll) muốn làm là giải phóng giới giáo
sĩ. Tôi là bạn tốt của họ, và mặc dù tất cả những gì họ có thể nói về tôi, tôi
sẽ giúp họ một đại sự lâu dài. Trên cổ họ là những vết hằn của cái cổ áo linh
mục, và sau lưng họ là những vết roi. Họ không được phép đọc và tự mình suy
nghĩ. Họ được dạy như những con vẹt, và những người giỏi nhất là những người có
thể nhắc lại đúng những câu mà họ được dạy. Họ ngồi như những con cú vọ [Người Việt Nam dùng danh từ “quạ đen” (corbeau
noir)] trên một cành cây khô của cái cây hiểu biết và phát ra những tiếng cú kêu
giống y như những tiếng cú kêu đã kêu trong 1800 năm nay. (They sit like owls
upon some dead limb of the tree of knowledge, and hoot the same old hoots that
have been hooted for eighteen hundred years).
Có một
ông bác sĩ giải phẫu đến thăm một người tàn tật đáng thương và đề nghị giúp anh
ta trong khả năng của ông ta. Ông bác sĩ bắt đầu phân tích về bản chất và nguồn
gốc chứng tật của người kia, về những loại thuốc có thể giúp anh ta, về sự lợi
ích của tập luyện, của không khí trong lành và ánh sáng, và nhiều điều khác có
thể giúp chữa lành được chứng tật của người kia. Tất cả những hành động này đều
do thiện ý của một bác sĩ có những kiến thức chính xác. Nhưng người kia hoảng
sợ và kêu lên, “Tôi xin ông, đừng lấy đi cặp nạng của tôi. Đó là cái tôi phải
tựa vào, nếu không thì tôi sẽ khốn khổ.” Ông bác sĩ giải phẫu nói: “Tôi không
có lấy đi cặp nạng của anh, tôi sẽ chữa lành cho anh, và rồi tự anh sẽ vứt bỏ
cái cặp nạng ấy đi.” [Đây chính là chủ trương của Ingersoll đối với giới
giáo sĩ Ki Tô Giáo vào cuối thế kỷ 19, và ngày nay, TCN cũng chỉ đi theo con
đường này để giúp các đồng bào xấu số vứt đi những cặp nạng không cần thiết của
họ].
Lấy cái gì để thay thế cho một sự trừng
phạt vĩnh viễn? Chỉ cần chứng tỏ là sự trừng phạt đó không hề có. Một người có
bệnh tật muốn gì? Sức khỏe.
Bất kể sự kiện là những người ngoại đạo
trong mọi thời đại đã chiến đấu cho nhân quyền, và đã là những người ủng hộ tự
do và công lý, nhưng chúng tôi thường xuyên bị giáo hội Ki Tô cáo buộc là chỉ
biết phá đổ mà không biết xây dựng.
Tôi không chống con người. Tôi chống
những giáo lý mà tôi cho là sai lầm. Không cần thiết phải chống con người –
chúng ta hãy chống sự sai lầm.. Chúng ta hãy làm hết sức để cung cấp sự hiểu
biết, giáo dục, vì sự lợi ích của đồng bào chúng ta.
Những người tin vào Thánh Kinh ồn ào tố
cáo những cái mà họ gọi là văn phẩm phi luân của thế giới. Nhưng thật ra thì ít
có cuốn sách nào đã được xuất bản mà chứa những sự dơ dáy về luân lý đạo đức
nhiều hơn là những lời mạc khải của Thiên Chúa. Những chuyện trong Thánh Kinh
không loé lên một điểm thông minh dí dỏm nào. Chúng không bao giờ lên quá được
mức buồn tẻ về những chi tiết của những thói xấu ngu đần. Tôi là người không
muốn làm nhơ những trang giấy của tôi với những câu trích dẫn từ Thánh Kinh. (I
cannot afford to soil my pages with extracts from them); và tất cả những đoạn đó
trong Thánh Kinh, tôi để cho giới giáo sĩ xem xét, bình luận và giải thích. Các
ông giáo sĩ đó có thể kiếm ra cách nào đó để lấy mật ong ra từ những bông hoa
đó.
Cuốn Thánh Kinh không phải là cuốn sách để
cho già cũng như trẻ đáng đọc. Nó chứa những trang sách mà không một ông mục sư
nào ở Mỹ dám đọc trước cộng đồng dân Chúa bất kể là phần thưởng dành cho ông ta
là cái gì. Có những chương mà không một người cha nào muốn đọc cho con nghe.
Có những câu chuyện không thể kể; và sẽ có ngày cả nhân loại sẽ phân vân là sao
mà một cuốn sách như vậy lại có thể gọi là được Thiên Chúa mạc khải.
Chúng ta thường xuyên được bảo rằng Thánh
Kinh là nền tảng của sự khiêm tốn và đạo đức; trong khi thật ra thì những trang
sách trong đó chẳng có gì là khiêm tốn và đạo đức [Xin dọc những lời tự nhận rất
huênh hoang và những lời vô đạo đức của Giê-su trong Tân Ước. TCN], mà nếu một
mục sư đọc chúng trên bục giảng thì ngay lập tức ông ta sẽ bị tố cáo là đồ khốn
nạn dơ dáy (unclean wretch). Mọi phụ nữ sẽ bước ngay ra khỏi nhà thờ, và
nếu nam giới có ở lại thì chỉ với mục đích là nghiêm khắc trừng phạt ông mục sư
đó (chastising that minister).
Có phải tốt hơn là hãy chấp nhận Thánh
Kinh được viết bởi những người man rợ trong một thời đại man rợ, thô thiển
không? Có phải đúng hơn là có những tên Do Thái ngu đần nào đó đã viết lên
những lời tầm thường đó. Những Ki Tô hữu bảo tôi rằng chính Thiên Chúa là tác
giả của những điều đê tiện và ngu xuẩn (vile and stupid) này. [Và ngày nay,
Mục sư Nguyễn Hữu Ninh vẫn dạy các tín đồ Tin Lành rằng Thiên Chúa là tác giả
của những điều đê tiện và ngu xuẩn này. TCN]
Sự kiện là, những điều hay trong một cuốn
sách không chứng minh được là cuốn sách đó đã được Thiên Chúa mạc khải (hay “hà
hơi” theo mục sư Nguyễn Hữu Ninh), nhưng những điều xấu xa và sai lầm trong đó
đích thực đã chứng minh rằng đó không phải là một cuốn sách đã được mạc khải.
Vấn đề thực sự không phải là cuốn Thánh
Kinh có được mạc khải hay không, mà là nó có đúng hay không. Nếu nó đúng, nó
không cần phải được mạc khải. Nếu nó đúng thì không có gì khác biệt là nó đã
được viết bởi một người hay một ông thần; và nếu nó không đúng thì không thể bảo
nó là do sự mạc khải của thần mà viết lên. Một bản cửu chương (multiplication
table) thì cũng có ích, cũng đúng như là một thần đã xếp đặt những con số trong
đó. Nếu Thánh Kinh thực sự đúng, không cần phải đề cao nó là do sự mạc khải của
thần.
Thật ra thì, chân lý không cần phải được
mạc khải. Không có gì phải cần đến sự mạc khải trừ sự giả mạo hay sai lầm
[nghĩa là muốn sự giả mạo trở thành chân thật, sự sai lầm trở thành đúng bằng
cách khoác cho nó bộ áo “do Thiên Chúa mạc khải”. TCN]. Ở đâu mà sự thật
chấm dứt, ở đâu mà xác suất (probability) ngưng lại, thì ở đó sự mạc khải
(hay “hà hơi”) bắt đầu. Một sự kiện không bao giờ đi cùng với một phép
lạ. Chân lý không bao giờ cần đến sự trợ giúp của phép lạ.
Sự mạc khải của cuốn Thánh Kinh tùy thuộc
sự cả tin của người đọc. Đã có một thời, những điều viết trong đó về địa chất,
về thiên văn, lịch sử thiên nhiên, đều được cho là do sự mạc khải của thần và do
đó không thể sai lầm; thời đại đó đã qua. Đã có một thời, những quan niệm về
luân lý đạo đức trong đó đã làm hài lòng những con người nắm quyền thống trị tư
tưởng của nhân loại; thời đại đó đã qua.
Có một người thông minh nào trên thế giới
ngày nay còn có thể tin được câu chuyện vườn Eden? Nếu bạn thấy người nào còn
tin như vậy, hãy gõ lên trán anh ta, bạn sẽ nghe thấy một tiếng vang [vì đầu
óc hắn ta rỗng tuếch. TCN]. Có một người thông minh nào mà ngày nay còn có
thể tin là Thiên Chúa đã tạo ra người đàn ông từ đất sét, và người đàn bà từ một
cái xương sườn, rồi đặt hai người vào trong một cái vườn, và đặt một cái cây ở
giữa vườn? Không có chỗ nào ngoài cái vườn để đặt cái cây đó hay sao, nếu ông
ta không muốn cho họ ăn trái cây trên cây đó? Có còn người nào ngày nay còn có
thể tin vào chuyện con rắn (xúi Adam và Eve ăn trái cấm)? Tôi thật
thương hại bất cứ ai, trong thế kỷ 19 này, còn tin vào những chuyện trẻ con như
vậy.
Tại sao Adam và Eve bất tuân điều cấm của
Thiên Chúa? Tại sao họ bị cám dỗ? Bởi ai? Bởi quỷ (hiện thân thành con
rắn). Ai tạo ra quỷ? Thiên Chúa. Ông ta tạo ra quỷ để làm gì? Tại sao ông
ta không nói cho Adam và Eve biết về con rắn? Tại sao ông ta không canh chừng
con quỷ mà lại đi canh chừng Adam và Eve? Tại sao ông ta không gây ra nạn hồng
thủy trước, và dìm chết con quỷ, trước khi ông ta tạo ra Adam và Eve?
Vậy mà, những người tự cho là mình thông
minh – giáo sư đại học và viện trưởng các học viện [Ki Tô] danh tiếng –
đã dạy trẻ con và lớp trẻ rằng chuyện vườn Eden là một sự kiện lịch sử tuyệt
đối. Cái ông Thiên Chúa này của họ, đứng chờ xung quanh cái vườn Eden – biết
rằng cái gì sẽ xảy ra – đã tạo nên Adam và Eve với mục đích duy nhất là điều xảy
ra sẽ phải xảy ra, rồi sao nữa? Bắt tất cả chúng ta phải chịu trách nhiệm, và
chúng ta không hề có mặt ở đó. Adam và Eve là đại diện của những người chưa
được sinh ra. Trước khi tôi bị ràng buộc vào một đại diện, tôi muốn có cơ hội
để bỏ phiếu chọn anh ta hay không? Và nếu tôi ở đó (vườn Eden), và biết
mọi trường hợp đã xảy ra, tôi đã bỏ phiếu “không chấp nhận”. Tuy vậy, trách
nhiệm vẫn về phần tôi.
Chúng ta được Thánh Kinh và Giáo hội dạy,
vì sự “sa ngã” này của Adam và Eve, “tội lỗi và cái chết đã đi vào nhân loại”.
Theo như vậy thì, ngay sau khi Adam và Eve ăn trái cấm, Thiên Chúa bắt đầu bày
đặt ra những phương pháp để tiêu diệt sự sống của các con cái của ông ta. Ông
ta đã “sáng tạo” ra mọi bệnh tật – nóng sốt, ho hắng và cảm cúm – tất cả những
sự đau đớn cho thể xác và sự truyền nhiễm của bệnh dịch hạch, bệnh sốt rét và
những vi khuẩn, để cho khi thở chúng ta hít vào những tên sát nhân mà chúng ta
không thể nhìn thấy; và, sợ rằng có người sống thọ, Thiên Chúa phát minh ra động
đất và núi lửa, bão tố và sấm sét; và các vi sinh vật tràn ngập vào tim óc, quá
nhỏ đến nỗi mắt không nhìn thấy được.. Tất cả chỉ vì Adam và Eve không nghe lời
ông ta.
Với lòng tốt vô tận (infinite
goodness), Thiên Chúa phát minh ra bệnh nhức xương và đau khớp xương, chứng
khó tiêu (dyspepsia), ung thư và chứng đau thần kinh, và vẫn còn tiếp tục
phát minh ra những chứng bệnh mới. Như vậy cũng chưa đủ, ông ta còn làm cho các
bà mẹ phải đau đớn (khi sinh đẻ), và qua lòng thương yêu của ông ta, sự
chết sẽ đến với mọi người. Ông ta nguyền rủa cả thế giớ. (He cursed the
world). Nhưng tất cả những cái này chỉ là bước mở đầu cho sự trả thù của một
ông Thiên Chúa chí thiện (Good God). Quý vị có thể nói đến một cách
không rõ ràng, nhưng không bao giờ có thể quan niệm nổi những sự khủng khiếp vô
cùng tận của cái giáo lý gọi là “Sự sa ngã của con người”. (the infinite
horrors of the doctrine called “The fall of man”).
Theo Thánh Kinh thì Thiên Chúa đã chọn lựa
dân tộc Do Thái để loan báo một sự kiện vĩ đại: rằng ông ta là ông Thần duy nhất
trên thế gian. Để đạt được mục đích này, ông ta hiện ra nhiều lần trước mặt
Môi-se (Moses) – từ trên mây xuống núi Sinai, trong bụi cây bốc lửa, và làm hàng
ngàn phép lạ để giáo dục và giữ dân Do Thái. Ông ta rẽ nước biển ngay trước mắt
họ. Ông ta làm cho bánh rơi từ trên trời xuống để nuôi họ. Ông ta làm cho nước
phọt ra từ tảng đá để cho họ uống cho đỡ khát. Những kẻ thù của ông ta đều bị
tiêu diệt một cách rất lạ lùng; và trong 40 năm, cái ông Thiên Chúa này đích
thân cai trị dân Do Thái. Tuy nhiên, sau tất cả những phép lạ này, một số người
trong dân của ông ta lại vẫn cứ tin vào các Thần Cây, Thần Đá hơn là tin vào ông
ta.
Cái ông Thiên Chúa này, với tất cả quyền
năng và sự sáng suốt, lại không thể thuyết phục được một số dân du mục man rợ
rằng ông ta thì mạnh hơn là các hình tượng của dân Ai Cập. Ông Thiên Chúa này
không muốn cho dân Do Thái của ông ta có đầu óc suy tư và óc tìm hiểu. Đối với
những người có đầu óc, sự trừng phạt là tử hình. Ở đâu mà ông Thiên Chúa này
trị vì, sự tự do trí thức không được biết đến. Ông ta chỉ trông cậy vào bạo
lực; đòi hỏi sự thờ phụng ông ta bằng gươm giáo và ngọn lửa thiêu đốt; ông ta xử
sự như một điệp viên (spy), một phán quan của tòa án xử dị giáo (inquisitor),
một quan tòa (judge), và một đao phủ (executioner).
Khi tôi đọc lịch sử của dân tộc Do Thái,
từ nô lệ đến chết chóc, với những bạo chúa v..v.., tôi phải thú nhận là tôi thật
thương xót họ. Họ bị gian lận, lừa dối và đối đãi rất tệ hại. Cái ông Thiên
Chúa của họ rất dễ nổi nóng, vô lý, tàn ác, hận thù và bất lương. (Their God was
quick-tempered, unreasonable, cruel, revengeful and dishonest). Ông ta luôn
luôn hứa hẹn nhưng không bao giờ giữ lời. Ông ta phí thì giờ về những chi tiết
nhỏ nhặt, trẻ con, và phóng đại những việc ông ta làm. Tôi không thể quan niệm
được một cá tính nào đáng ghét hơn là cá tính của cái ông Thiên Chúa của người
Do Thái. Ông ta long trọng hứa với dân Do Thái là mang họ ra khỏi Ai Cập đến
một nơi tràn đầy sữa và mật ong.
Ông ta làm cho họ tin tưởng rằng trong
tương lai gần, mọi khổ nạn của họ sẽ qua đi, và họ sẽ trở về vùng đất Canaan với
vợ con, quên đi những sự cực khổ ở Ai Cập. Sau khi hứa hẹn đi, hứa hẹn lại
(again and again) với đám dân du mục Do Thái khốn khổ là ông ta sẽ dẫn họ đến
vùng đất hứa tràn đầy thực phẩm và vui sướng, cái ông Thiên Chúa này, quên hết
mọi điều hứa hẹn của mình, và nói với đám dân khốn khổ đang ở dưới quyền ông ta:
“Súc vật của các ngươi sẽ cùng các ngươi đi vào vùng sa mạc hoang dại và con cái
các ngươi sẽ lang thang cho đến khi súc vật của các ngươi chết hết”. Lời nguyền
rủa trên là kết luận của mọi vấn đề. Trong vùng sa mạc của thần chết và tối
tăm, tất cả những lời hứa hẹn của Thiên Chúa đều phai nhạt. Trong sự cực khổ và
thất vọng của đám dân du mục, tất cả những hi vọng về tự do và định cư đều biến
mất [cho đến năm 1947. TCN]. Hàng triệu dân Chúa bỏ thây trong sa mạc, và mỗi
xác chết là một nhân chứng của sự bất lương của Thiên Chúa (each corpse
certified to the dishonesty of God). Những điều quá độc ác và vô tâm như vậy
thật đã ra ngoài mọi ý niệm về công lý của tôi. [Theo ông Đỗ Mạnh Tri trong
cuốn Ngón Tay Và Mặt Trăng thì tất cả những khổ nạn của dân Do Thái đều nằm
trong chương trình giáo dục của Thiên Chúa. TCN]
Khi chúng ta nghĩ tới những người Do Thái
khốn nạn, sợ hãi, giết nhau, bị giết chóc, rắn cắn, bệnh truyền nhiễm, lừa dối,
lột hết của cải...chúng ta phải cám ơn trời đất là chúng ta đã không phải là dân
tộc được Thiên Chúa chọn lựa (how thankful we should be that we are not the
chosen people of God) [Việt Nam ta, trừ một số mất gốc, nhờ hồng phúc tổ
tiên, cho nên không rơi vào số phận của những kẻ nô lệ tin tưởng và thờ phụng
Thiên Chúa, một vị Thần độc ác ngoài sức tưởng tượng của con người tiến bộ ngày
nay. TCN]. So sánh với Thiên Chúa (Jehovah), Pharaoh (vua Ai Cập) là kẻ
nhân từ, và cách hành xử độc đoán của Ai Cập là sự giải thoát cho những người
phải chịu đựng ý tưởng về tự do của Thiên Chúa.
Đọc Ngũ Kinh, tôi cảm thấy vô cùng phẫn
nộ, ghê sợ và đầy sự thương hại. Không có gì đáng buồn thảm hơn là lịch sử của
một dân tộc du mục thiếu ăn, lang thang trong sa mạc, làm mồi cho đói khát, bệnh
tật. Cực kỳ ngu đần và mê tín, bị thống trị bởi sự lừa dối, đạo đức giả, họ là
trò chơi của giới giáo sĩ. Thiên Chúa là kẻ thù lớn nhất của họ, và họ chỉ có
một người bạn, đó là cái chết. Chúng ta không thể nào quan niệm nổi một sinh
vật nào quá chừng đê tiện, đáng ghét, và kiêu căng hơn là vị Thần của người Do
Thái. (It is impossible to conceive a more thoroughly despicable, hateful, and
arrogant being, than the Jewish God) [Thảm thay, đây cũng lại là chính vị Thần
mà những người Ki Tô Giáo Việt Nam, Ca Tô cũng như Tin Lành, gọi là Thiên Chúa
và thờ phụng. TCN] Trong những huyền thoại của dân gian, không có Thần nào như
hắn ta. Chỉ có hắn là chưa từng bị đau khổ cùng cực về thể xác cũng như tinh
thần, chưa từng chảy nước mắt. Hắn chỉ thích thú với máu đổ và sự đau đớn của
con người. Tình cảm con người không nghĩa lý gì đối với hắn. Hắn ta không biết
gì là tình yêu thương, ca nhạc, hạnh phúc. Là một người bạn giả dối, một quan
tòa bất công, một kẻ khoác lác (a braggart), đạo đức giả, độc đoán, hận
thù, ghen tuông, ưa trả thù, hứa hão, ưa nguyền rủa, ngu đần, đồng bóng, đồi bại
và ghê tởm (infamous and hideous) – đó là Thiên Chúa trong Ngũ Kinh.
[Chúng ta không nên lấy làm lạ khi thấy trong Tân Ước, Thiên Chúa Con, alias
Giê-su, cũng có không ít cùng những đặc tính được mô tả ở trên. Cũng giả dối,
khoác lác, đạo đức giả, độc đoán, ác độc, hận thù, ưa trả thù, hứa hão, ưa
nguyền rủa, ngu đần v..v.. Việc chứng minh rất dễ dàng. Chỉ cần mở cuốn Tân
Ước ra là thấy ngay. Tôi sẽ trình bày chi tiết dẫn chứng từ Tân Ước trong một
bài khác. TCN]
Trong nhiều năm, (trong thế giới Ki
Tô) người ta đã cho rằng 10 điều răn trong Cựu Ước là nền tảng của mọi ý
tưởng về công lý và luật pháp. Nhiều nhà luật học nổi danh đã phải cúi đầu
trước thành kiến phổ thông, và đã méo mó nghề nghiệp đến độ cho rằng luật của
Môi-se là suối nguồn của mọi ý tưởng về công chính. Không có gì sai lầm một
cách ngu đần hơn. Hàng ngàn năm trước khi Môi-se sinh ra đời, dân Ai Cập đã có
một bộ luật. Họ đã có những luật chống phỉ báng, giết người, ngoại tình, ăn
trộm, ăn cướp, luật đòi nợ, tôn trọng hợp đồng, bồi thường, chuộc đồ, và hầu như
về mọi khía cạnh của đời sống xã hội.
Họ thường bảo với tôi rằng, nếu không có
cuốn Thánh Kinh thì không làm gì có nền văn minh nào. Người Do Thái có một
Thánh Kinh. Người La Mã không có. Nhưng dân nào có một chính quyền tốt hơn?
Chúng ta hãy lương thiện. La Mã không có Thánh Kinh, Thiên Chúa không quan tâm
đến đế quốc La Mã. Ông ta không có thì giờ. Tất cả thì giờ ông ta để cho người
Do Thái. Nhưng La Mã đã chinh phục thế giới, kể cả dân Thần lựa chọn. Dân tộc
có Thánh Kinh bị dân tộc không có Thánh Kinh đánh bại. [Điều này cũng đúng
trong thời hiện đại. Mỹ và Pháp đều có Thánh Kinh, Việt Nam không có Thánh
Kinh, nhưng đã đánh bại cả hai]. Và chúng ta có thể nói gì về Hi Lạp? Không
Thánh Kinh. Hãy so sánh Athens với Jerusalem. Athens là trung tâm nghệ thuật
và trí thức của thế giới. [Có lẽ tác giả chỉ biết đến lịch sử Trung Đông và
Tây Phương]. Hãy so sánh những huyền thoại của Hi Lạp với những huyền thoại
của Do Thái. Huyền thoại Hi Lạp đẹp đẽ biết bao, còn huyền thoại Do Thái thì
đầy những hận thù và bất công.
Do Thái đã trở thành thế nào vì có Thánh
Kinh? Đền thờ Thần của họ bị phá hủy, thành thị bị chiếm cứ; và họ chưa bao giờ
trở nên thịnh vượng cho đến khi họ bị Thần bỏ rơi.
Nền tảng văn minh của chúng ta đã khởi đầu
từ nhiều thế kỷ trước khi Ki Tô Giáo xuất hiện. Tất cả những gì đóng góp cho
nền văn minh: sự tiến bộ trí thức, lòng can đảm, tổ chức chính phủ, kỹ nghệ
v..v.. không đến từ Ki Tô Giáo mà là do sự đóng góp của mọi quốc gia trên thế
giới từ xưa.
Có nhiều người cho rằng chính phủ của chúng
ta là một chính phủ Ki Tô, đặt nền tảng trên Thánh Kinh, và người nào coi Thánh
Kinh như là sai lầm và điên rồ (false and foolish) là phá hủy nền tảng của đất
nước. Sự thực là, chính phủ của chúng ta không đặt nền tảng trên quyền của
Thiên Chúa mà là trên quyền của con người. Hiến pháp của chúng ta được đóng
khung trên sự thiêng liêng của nhân loại chứ không tuyên bố và không ủng hộ tư
cách thần thánh của Giê-su. Chính phủ của chúng ta là chính phủ đầu tiên do dân
và vì dân. Đây là quốc gia duy nhất mà Thiên Chúa không có quyền gì trong đó.
Tuy vậy mà cũng còn có một số người bất lương và hèn nhát đến độ (dishonest and
cowardly enough) long trọng quyết định đây là một quốc gia Ki Tô, và định chế tự
do của chúng ta được đặt căn bản trên những luật ô nhục của Thần Gia-vê
(infamous laws of Jehovah).
Và ở đây, tôi xin nói dứt khoát, khi tôi
nói đến Thiên Chúa có nghĩa là tôi muốn nói đến Thần mà Moses mô tả trong Thánh
kinh, Thần Gia-vê của người Do Thái. Tôi muốn nói đến Thiên Chúa đã ngăn chận
sự tiến bộ của con người; đã tăng gấp bội sự cực kỳ đau đớn về tinh thần cũng
như thể xác của phái nữ; và trong cơn giận đã nhận chìm cả thế giới – Thiên
Chúa mà trên bàn thờ hắn có đầy máu, Thiên Chúa đã phanh thây những trẻ sơ
sinh, cưỡng hiếp gái trinh, nô lệ hóa con người và chất đầy thế giới với những
tội ác và sự ác độc; Thiên Chúa đã lập lên thiên đường cho một số nhỏ và hỏa
ngục cho tuyệt đại đa số nhân loại..
Sự thật là, Môi-se (Moses) coi bầu trời
như là một vòm cứng, nơi Thiên Chúa trú ngụ, và nước được giữ ở trên đó. Đó là
tại sao họ thường ngẩng mặt cầu nguyện cho trời mưa. Họ cho rằng có vài thiên
thần nào ở trên đó mở ra những cánh cửa để cho lượng nước mà họ mong muốn rơi
xuống.
Họ không có cách nào để biết thế nào là
mưa. Nước từ đâu mà rơi xuống? Họ không biết gì về sự bốc hơi của nước. Họ
không hề tưởng tượng ra được rằng, ánh sáng mặt trời đã âu yếm hôn (amorous
kisses) những làn sóng biển, từ đó hơi nước bốc lên để gặp người yêu ở trên
không, nhưng rồi thất vọng nên đã biến thành nước mắt rơi xuống thành mưa.
Tôi có thể bị đọa đầy xuống hỏa ngục,
nhưng tôi không bao giờ tin là cây cỏ hoa lá trên trái đất lại có trước mặt trời
[như đã được mạc khải trong Thánh Kinh] với những tia nắng lung linh, xua đi
bóng tối của đêm trường.
Ngày nay, người ta thường cho rằng, trong
khi Cựu Ước có nội dung man rợ của thời đại đó, Tân Ước thì hoàn toàn đạo đức,
không có một tì vết nào trên những trang Tân Ước. Thật ra, Tân Ước còn ủng hộ
chế độ nô lệ hơn là Cựu Ước. Về phần tôi, tôi sẽ không bao giờ, không bao giờ
có thể (I never will, I never can) thờ phụng một Thiên Chúa chấp thuận chế độ nô
lệ. Một Thiên Chúa như vậy, tôi thật là ghét và không thèm đếm xỉa gì đến ông
ta. Tôi chẳng muốn cái thiên đường của ông ta, cũng như chẳng sợ cái hỏa ngục
của ông ta.
Chúng ta được bảo rằng, trong Ngũ Kinh,
Thiên Chúa, vị Cha chung của chúng ta, đã trao hàng ngàn thiếu nữ còn trinh, sau
khi đã giết cha mẹ anh em họ, để cho những con người man rợ thỏa mãn lòng dục
của họ [Ingersoll quên rằng chính Thiên Chúa cũng có phần].
Đó là sự “tự do tôn giáo” (religious
freedom) của Thiên Chúa; lòng khoan nhượng của Thần Gia-vê (Jehovah). Nếu tôi
sống ở Palestine vào thời đại đó, và vợ tôi, mẹ của những con tôi, nói với tôi
rằng: “Tôi chán cái ông thần Gia-vê này quá đi; ông ta luôn luôn đòi nợ máu;
không bao giờ chán ghét sự giết chóc; luôn luôn nói về quyền năng của ông ta;
luôn luôn khoe những việc ông ta làm cho người Do Thái; luôn luôn đòi hỏi sự hi
sinh tế thần – chim cu và chiên non – máu, không có gì ngoài máu. Chúng ta hãy
thờ Thần Mặt Trời. Thần Gia-vê đầy lòng hận thù, xảo quyệt và quá đòi hỏi.
Chúng ta hãy thờ Thần Mặt Trời. Mặt trời soi sáng những vẻ đẹp của trái đất,
giúp cho hoa tươi nở; nhờ có ánh sáng mặt trời mà em được thấy anh, thấy các con
của chúng ta..”
Nếu tôi theo đúng lệnh của Thiên Chúa, tôi
sẽ phải giết vợ tôi. Bàn tay của tôi là người đầu tiên, và rồi bàn tay của bao
nhiêu người khác, sẽ phải ném đá vợ tôi cho đến chết. Về phần tôi, tôi không
bao giờ giết vợ, ngay cả khi một ông Thiên Chúa thực sự của vũ trụ này ra lệnh.
Nếu Thần Gia-vê sống như những thần dân mà
ông ta cai trị, và nếu ông ta theo đúng những luật mà ông ta đặt ra, thì ông ta
sẽ là người nuôi nô lệ, là kẻ buôn bán trẻ con, đánh đập phụ nữ. Ông ta sẽ phát
động những cuộc chiến tranh diệt chủng. Ông ta sẽ là người đa thê, và sẽ phanh
thây (butchered) vợ ông ta nếu bà ta theo một tôn giáo khác với ông ta.
Nếu Gia-vê thực sự là Thiên Chúa toàn trí,
ông ta phải biết những gì sẽ xảy ra về sau. Ông ta phải biết Thánh Kinh của ông
ta là một công sự mà sự đạo đức giả và độc đoán sẽ nằm trong đó, nó sẽ được dẫn
chứng bởi những bạo chúa; được dùng để biện hộ cho những tên ăn cướp gọi là Vua,
những kẻ đạo đức giả gọi là linh mục hay mục sư v..v..
Ông ta phải biết là ông ta không bao giờ
thực hiện lời hứa của ông ta đối với dân Do Thái.. Ông ta hứa hẹn cho họ cả thế
giới nhưng chỉ cho họ có sa mạc. Ông ta hứa hẹn cho họ sự tự do nhưng lại cho
họ sự nô lệ.. Khi chúng ta đọc xong Cựu Ước, chúng ta bắt buộc phải nói rằng:
“Không có một dân tộc nào khốn khổ như là dân tộc mà vua của họ là Thần Gia-vê.”
Nếu chúng ta muốn xét đến những gì đã là
ảnh hưởng của Thánh Kinh, chúng ta phải xét đến tình trạng ở Âu Châu khi mà
Thánh Kinh được coi là tuyệt đối đúng và có ảnh hưởng nhiều nhất. Ki Tô Giáo là
tôn giáo đã chiếm ngự Âu Châu trong thời Trung Cổ. Trong thời đó, nó có quyền
lực tuyệt đối.
Sự thật là, trong thời đó, con người vì đã
nghiên cứu kỹ Thánh Kinh nên đã giết vợ, giết con. Họ đọc Thánh Kinh rồi dùng
những kìm cặp nung đỏ để hành hạ xác thịt con người. Họ đặt Thánh Kinh xuống để
có thì giờ đổ chì nóng vào tai đồng loại. Họ ngưng đọc cuốn Thánh Kinh thiêng
liêng đó để có thì giờ xâu xé đồng loại, trói chặt họ trong xiềng xíxh, và rồi
lại trở lại để đọc Thánh Kinh, để mặc cho nạn nhân của họ chết rục trong ngục tù
tối tăm với sự thất vọng. Họ ngưng đọc Cựu Ước để có thì giờ đóng cọc xuống
đất, đi kiếm những bó củi và thiêu sống người lành và người lương thiện. Ngay
cả những linh mục cũng đã ngưng đọc Thánh Kinh đủ lâu để nói lên những lời giả
dối xuyên tạc về đồng bào của họ. Không có một tội ác nào mà những người đọc
Thánh Kinh, tin Thánh Kinh, thờ phụng Thánh Kinh không làm. Không có một điều
ác ôn nào mà một số người đọc Thánh Kinh, tin Thánh Kinh, và bảo vệ Thánh Kinh
không làm. Những người tin Thánh Kinh và bảo vệ Thánh Kinh đã chất đầy thế giới
này với những sự vu khống (calumnies and slanders).
Tôi không nói rằng đọc Thánh Kinh nhất
định phải làm cho người đọc trở thành bất lương, nhưng tôi phải nói rằng, đọc
Thánh Kinh không có ngăn ngừa họ khỏi phạm tội [những giáo hoàng, linh mục,
mục sư cuồng sát, loạn dâm, và phạm đủ thứ tội là những người đọc và giảng Thánh
Kinh nhiều nhất. TCN]. Tôi không nói rằng tin ở Thánh Kinh sẽ khiến cho con
người trở thành trộm cướp, nhưng tôi phải nói rằng, vì tin ở Thánh Kinh nên con
người đã bạo hành, cầm tù và thiêu sống đồng loại.
Hàng ngàn, hàng ngàn các bà mẹ đã đưa
Thánh Kinh cho con cái mà không hề biết trong đó có những gì. Họ chỉ theo
truyền thống, và như là một quy luật, con cái họ tiếp tục tôn kính cuốn Thánh
Kinh, không phải là họ biết gì về cuốn đó nhưng vì đó là món quà của người mẹ.
Sự kiện là các bà mẹ giới thiệu cuốn Thánh
Kinh với con cái không chứng minh được rằng đó là cuốn sách được viết ra do sự
mạc khải của Thiên Chúa. Sự kiện này chỉ có thể chứng minh một điều, đó là các
bà mẹ đã tin rằng cuốn sách đó là do sự mạc khải của Thiên Chúa Ki Tô. Điều
này cũng không chứng minh được những phép lạ trong đó là những sự thực. Dù tất
cả các bà mẹ trên thế gian đều trao cho con cái cuốn Thánh Kinh cũng không chứng
minh được là những chuyện giết mẹ, giết con, nô lệ hóa các bà mẹ, bán đi con
cái, như được viết trong Thánh Kinh, là đúng.
Edmund About đã kể một câu chuyện minh họa
niềm tin Chúa của một người Ý hiện đại. Một thanh niên ham mê đánh bạc và luôn
luôn thua. Trong phòng hắn ta có một bức hình của bà đồng trinh bồng đứa con
nhỏ. Quỳ trước tấm hình, anh ta đưa tay làm dấu cộng mà người ta thường gọi là
làm dấu thánh giá, và cầu sự trợ giúp của đứa bé. Nhưng anh ta lại vẫn cứ
thua. Trở lại trước tấm hình, anh ta nói với đứa bé là anh ta đã thua hết, chỉ
còn lại đồng tiền cuối cùng, và cầu xin đứa bé hãy dùng quyền năng thần thánh
giúp anh ta thắng trong canh bạc cuối cùng này. Nhưng rồi anh ta lại thua. Trở
lại trước tấm hình, anh ta đưa nắm tay lên mặt đứa bé và hét: “Thằng bé khốn
nạn, tao rất vui là mày đã bị người ta đóng đinh trên thập giá” (Miserable
bambino, I am glad they crucified you).
Sự tin cậy vào một hình ảnh, một thánh
tích, một cuốn sách, tất cả đều từ một nguồn gốc – thờ vật (fetishism) - Tin
rằng một da con rắn, một hình ảnh, một cuốn sách có những thuộc tính siêu nhiên,
về phương diện trí thức đều như nhau.
Đối với tôi, muốn thuyết phục những người
có đầu óc là cuốn Thánh Kinh chỉ là sản phẩm của con người – những con người man
rợ – là bảo họ hãy đọc nó. Hãy đọc nó như mọi cuốn sách khác, nghĩ tới nó như
mọi cuốn sách khác, bỏ đi cái băng kính ngưỡng Thánh Kinh đang che mắt, dẹp bỏ
mọi sự sợ hãi trong lòng, loại ra khỏi đầu óc sự mê tín, rồi hãy đọc cuốn Thánh
Kinh, và các bạn sẽ cảm thấy ngỡ ngàng là tại sao có một thời mình đã cho rằng
một đấng siêu nhiên với trí tuệ siêu việt, lòng thiện vô tận, lại là tác giả của
những điều ngu xuẩn và bạo tàn như vậy (the author of such ignorance and of such
atrocity)? [Ingersoll đã nhận định rất đúng, xin đọc bài của Ruth Hermence
Green kỳ tới. Lẽ dĩ nhiên, theo đúng những tiêu chuẩn đọc Thánh Kinh của
Ingersoll không phải là dễ vì trước hết phải tẩy hết các độc tố Ki Tô ra khỏi
đầu óc như Ingersoll đã đề nghị. TCN]
Trong hầu hết các nền thần học, các huyền
thoại và tôn giáo độc thần, các con quỷ còn nhân đạo và nhân từ hơn các Thiên
Chúa nhiều. Không có môt con quỷ nào đã ra lệnh cho thuộc hạ của mình giết trẻ
con và phanh thây người đàn bà co mang. Tất cả những điều man rợ này đều luôn
luôn là lệnh của Thiên Chúa chí thiện. Bệnh dịch cũng do Thiên Chúa nhân từ tạo
ra. Nạn đói đáng sợ, với những trẻ sơ sinh bờ môi nhợt nhạt bú người mẹ hấp hối
không còn sữa, cũng là tác phẩm của Thiên Chúa đầy lòng thương yêu. Không có
một con quỷ nào đã bị lên án là tác giả của những sự tàn bạo ác ôn như trên
(such fiendish brutality).
Thiên Chúa, theo Thánh Kinh, đã nhận chìm
cả thế giới trừ tám người. Già, trẻ, lớn, bé đều bị sóng nước vô bờ nuốt
chửng. Cái thảm họa đáng sợ này, trong sự tưởng tượng của đám linh mục ngu đần
(ignorant priests), là tác phẩm không phải của quỷ, mà là của cái mà người ta
gọi là Thiên Chúa, và tiếp tục thờ phụng một cách ngu đần cho đến ngày nay.
(ignorantly worship unto this day).
Không có một người thông minh nào, không
có một người nào mà đầu óc chưa bị nhiễm độc bởi mê tín, tê liệt bởi sợ hãi, có
thể đọc Cựu Ước mà không bắt buộc phải đi đến kết luận: Thiên Chúa của chúng ta
là một con thú hoang dại (that our God was a wild beast).
Cho tới bao giờ, than ôi! Cho tới bao giờ
con người còn thờ phụng một cuốn sách? Cho tới bao giờ con người còn quỳ phục
xuống đất trước những truyền thuyết ngu đần của cái quá khứ man rợ? (Hoaw long
will they grovel in the dust before the ignorant legends of the barbaric past).
Cho tới bao giờ họ còn theo đuổi những hồn ma trong sự tăm tối sâu thẳm hơn là
cái chết.
Cho tới bao giờ, than ôi! cho tới bao giờ |