Các bài trong tập này:
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
CHƯƠNG IV
SÁCH LƯỢC BÀNH TRƯỚNG CỦA KI TÔ GIÁO TRÊN THẾ GIỚI
Chúng ta đã thấy, qua những tài liệu dẫn chứng
ở các phần trên, sự phát triển của Ki Tô Giáo ở Âu châu đã dựa trên những chính
sách kỳ thị tàn bạo, cường quyền thắng công lý, chứ không dựa trên luân lý và
đạo đức. Kể từ thế kỷ 16, Ca Tô Giáo đã hoặc liên kết với các đế quốc thực dân,
hoặc làm tiền phong, hoặc theo gót các lực lượng thực dân để truyền đạo trên
khắp thế giới. Gia Tô Giáo đã thành công ở Phi Châu và Châu Mỹ La Tinh, nhưng
thất bại ở Á Châu vì gặp phải những nền văn hóa lớn khác, vượt xa nền văn hóa Ki
Tô về mọi phương diện tâm linh, luân lý, đạo đức v..v... như Phật Giáo, Ấn Độ
Giáo, Khổng giáo. Sau đây tôi sẽ duyệt qua sách lược truyền đạo của Ki Tô Giáo
trên thế giới. Riêng về lịch sử du nhập của Ca Tô Giáo vào Việt Nam và ảnh
hưởng của tôn giáo này trên xã hội Việt Nam tôi sẽ dành cho một chương riêng.
Hiển nhiên,
trong cuốn sách nhỏ này, tôi không thể viết đầy đủ chi tiết về sự truyền đạo của
Ca Tô Giáo Rô-ma trên thế giới. Cho nên, sau đây tôi chỉ nêu ra những sắc
thái chính của sự bành trướng của Ca Tô Giáo Rô-ma ở Phi Châu, Châu Mỹ La
Tinh, và Á Châu.
Penny
Lernoux, trong cuốn "Tiếng Kêu Than Của Người Dân" (Cry of the People, p. 10)
viết về sự truyền đạo Ca Tô Giáo Rô-ma ở Châu Mỹ La Tinh như sau:
"Nhìn
theo góc cạnh lịch sử, Giáo hội Ca Tô Rô-ma ở Châu Mỹ La-Tinh có vẻ như là một
tổ chức ít chống đối những chế độ quân phiệt độc tài nhất. Từ khi Columbus đặt
chân trên Tân Thế Giới thì người ta không thể phân biệt giữa Thập Giá và Lưỡi
Gươm. Các linh mục và những quân xâm lược Tây Ba Nha chia nhau dân chúng và đất
đai cưỡng đoạt được. Và rất lâu trước khi các chế độ quân phiệt dựng lên những
phòng tra tấn, những tòa án xử dị giáo đã hoạt đông với roi vọt và giá căng
người. Vào thời các cuộc chiến giành độc lập vào đầu thế kỷ 19, Giáo hội là địa
chủ lớn nhất ở Châu Mỹ La Tinh và cũng là lực lượng chính trị bảo thủ nhất trên
lục địa.
Vì thế
lực chính trị và kinh tế của Giáo hội và vì Giáo hội nắm trong tay độc quyền
giáo dục dân chúng, Giáo hội nắm toàn quyền trong xã hội Mỹ-La-Tinh. Giáo hội
dạy những nô lệ thổ dân và Phi Châu an phận theo định mệnh và hứa hẹn một đời
sau tốt đẹp hơn. Giáo hội gieo hạt giống cao ngạo (của những tín đồ Ca Tô)
mang từ Tây Ba Nha và Bồ Đào Nha tới. Giáo hội khuyến khích quan niệm thủ lợi
sâu đậm trong giới trung lưu, rằng họ có thể làm bất cứ điều gì, kể cả giết
những nông dân vô tội, chừng nào mà họ còn đi xem lễ nhà thờ, đóng góp đất
đai và tiền bạc cho sự bành trướng của Giáo hội, và bắt con cái họ đi rửa
tội. Đây là những tín hữu Ki Tô tốt, được các giám mục ở Châu Mỹ La Tinh tôn
vinh. Hậu duệ của họ ngày nay nắm chính quyền quân phiệt, cai trị hai phần ba
dân chúng trong vùng. Hãy nhìn đằng sau một tên độc tài, chúng ta thấy đứng đó
một giám mục."
(Viewed
historically, the Latin-American Catholic Church would seem the least likely
institution to oppose the military regimes. From the moment Columbus set foot
in the New World, cross and sword had been indistinguishable. Priests and
conquistadors divided the plunder in people and land. And long before Latin
America's military regimes installed their torture chambers, the Inquisition was
at work with whip and rack. By the time of the wars of independence at the
beginning of the nineteenth century, the Church was the largest landowner in
Latin America. It was also the most conservative political force on the
continent.
Because of
its political and economic importance and its monopoly of education, the
Catholic Church was the arbiter of Latin-American society. It taught the Indian
and African slaves to embrace fatalism on the promise of a better hereafter. It
planted the seeds of machismo brought from Spain and Portugal. It encouraged a
deep strain of cynicism among the upper classes, who learned that they might do
anything, including slaughter innocent peasants, as long as they went to Mass,
contributed land and money to the Church's aggrandizement, and baptized
their children. These were the "good Christians" honored by the
Latin-American bishops. Their descendants run the military regimes that
today govern two thirds of the area's people. Look behind a dictator,
there stands a bishop.)
Anene
Obianyido, trong cuốn "Chúa Ki Tô hay Quỷ? Bộ Mặt Đồi Bại Của Ki Tô Giáo ở Phi
Châu" (Christ or Devil? The Corrupt Face of Christianity in Africa, p. 15),
cũng viết như sau về sự hiểu biết của các giáo sĩ thừa sai về Phi Châu và quan
niệm của họ về những truyền thống dân tộc Phi Châu:
"Làm sao
mà người dốt nát Phi Châu ý niệm nổi Thượng đế? Làm sao có thể được? Thượng
đế là một ý niệm triết lý mà những người dân man rợ không thể hiểu nổi. Đó là
những quan niệm sai lầm của những thừa sai và các con buôn Âu châu lúc mới tới
Phi Châu, tác giả của khái niệm méo mó về Phi châu mà xưa kia, và theo một mức
độ nào đo, cho tới ngày nay, kiến thức về lục địa Phi của những người da trắng
vẫn còn dựa trên khái niệm sai lầm này. Thực ra, không phải chỉ là "quan niệm
sai lầm về Thượng đế" của Phi Châu mà các thừa sai chống đối. Mọi khía cạnh của
nền văn hóa truyền thống Phi châu đối với họ đều không thể chấp nhận được, do đó
những người dân Phi Châu tân tòng Ki Tô Giáo không được phép xem coi, đừng nói
đến chuyện tham gia, những lễ lạc truyền thống hay những cuộc nhảy múa
truyền thống, đặc biệt là nếu những cuộc khiêu vũ đó thuộc một dạ hội hóa
trang. Đó là thái độ thù nghịch của người da trắng khi họ không biết gì về Phi
Châu và dân chúng trong lục địa; khi, theo lời của giáo sư Idowu, "đối với
thế giới Tây phương, Phi Châu không có văn hóa và bất cứ một tổ chức xã hội
nào."
(How can
the untutored African conceive God? How can this be? Deity is a philosophical
concept which savages are incapable of framing" That was the erronous view
shared fully by the early missionaries and European traders, the authors of the
original distorted notion of Africa on which the white man's understanding of
the continent was and, to an extent, still is based. Indeed, it was not only
the African's "misconception of deity" that the missionaries quarrelled with.
Every aspect of the traditional culture was unacceptable to them, hence the
early African converts were not allowed to watch, let alone participate in,
traditional ceremonies or traditional dance, especially if it had to do with
masquerades. That was the hostile attitude of the white man when he was
ignorant of Africa and its people; when, in the words of Professor Idowu, "to
the Western world indigenous Africa was barren of culture or any form of social
organization.)
Trong cuốn
Các Giáo Sĩ Thừa Sai (Missionaries, p. 90), cuốn sách đi kèm với một chương
trình TV 6 kỳ của đài BBC, khảo luận về những thành quả truyền đạo của Ki Tô
Giáo trên thế giới, Julian Pettifer & Richard Bradley cũng viết như sau về Phi
Châu:
"Những
thừa sai gửi về một phúc trình nói đến sự cải đạo: "Sự cải đạo được vui vẻ đón
nhận, và có những diễn văn về sự truyền bá vinh quang của Ki Tô Giáo; nhưng
thật ra thì các thổ dân đã bị biến đổi từ những người tốt (lương), với nhiều đức
tính tuyệt vời, thành những kẻ dối trá chuyên nghiệp, đạo đức giả, và chuyên
gây tai tiếng. Và công cuộc "văn minh hóa" vẫn tiếp diễn." Vậy mà những phê
bình về mục đích liêm chính của các thừa sai như trên cũng không thay đổi phong
trào đi truyền giáo xảy ra ở khắp Âu Châu, và niềm tin của các thừa sai vẫn vững
chắc. Nhưng cùng lúc họ bắt buộc phải tự hỏi tại sao cái thông điệp của họ
không được đón nhận. Điều hiển nhiên đối với các thừa sai là người Phi Châu dốt
nát sẽ được lợi mọi đàng nếu theo Ki Tô Giáo. Nhưng đối với đa số người Phi Châu
thì vấn đề lại ngược lại. Câu hỏi thích đáng hơn là tại sao các thừa sai lại hi
vọng có thể thành công, vì đối với người dân Phi Châu trước thời bị chiếm làm
thuộc địa, không có lý do gì để họ phải theo Ki Tô Giáo."
(The
missionaries sent home a report of conversions: "It is received ...with joy, and
speeches are made about the glorious work of spreading Christianity;
whereas..the natives have been transformed from good heathens, with many
excellent qualities, into accomplished liars, hypocrites and
scandal-mongers..Thus the glorious work of "civilization" goes on" Yet such
attacks on their integrity of purpose failed to deflect the missionary movement
that was sweeping through Europe, and the belief of the missionaries held firm.
At the same time they were forced to question why their message was not being
taking up more readily. It seemed obvious to them that the benighted
African had
everything to gain by becoming Christian. To most Africans the opposite was
true. It is perhaps more pertinent to ask why the missionaries ever expected to
be successful, since for the African in the pre-colonial period there seemed no
point in becoming Christian.)
về Bắc Phi
(Ibid., p. 190) :
"Sự
tuyển mộ được thi hành triệt để nhưng sự thành công cải đạo những dân theo Hồi
Giáo thật là ít ỏi. Thí dụ ở Morocco, một vị thừa sai hoạt động cho Hội truyền
giáo tiền tuyến phúc trình rằng chỉ có 300 người theo Ki Tô Giáo trong một dân
số 26 triệu; ở Bắc Phi có nhiều mồ của các nhà truyền giáo hơn là số dân theo
đạo. Tuy rằng sự thất bại đã rõ ràng, các nhà truyền giáo vẫn duy trì một niềm
lạc quan không thể dập tắt được. Theo Patrick Johnstone, một tác giả đi truyền
giáo, thì "Những vết nứt trên bức tường Hồi Giáo hầu như không thể xuyên qua
được, có thể mở rộng ra bằng sự cầu nguyện". Đối với cộng đồng những nhà truyền
giáo, cầu nguyện có vẻ như là vũ khí chính thật và hữu hiệu để đánh đổ Hồi
giáo."
(The
recruitment drive is fierce but their success among Muslims are few.
In Morocco, for example, one missionary who worked for the Frontline mission
reported that there were only about 300 Christians in a population of 26
million; more evangelical missionary graves in North Africa than Christian
converts. Despite the very real sense of failure, the
unquenchable
optimism that
typifies evangelical missionary endeavour is sustained. In the words of Patrick
Johnstone, an evangelical author, "The cracks in the seemingly impenetrable wall
of Islam can be widened by prayer!" To the evangelical community, prayer is
seen as a genuine and effective tool with which to combat Islam.)
và về Nam Mỹ
(Ibid., p. 133) :
"Những
thổ dân thường được sống cùng nhau trong những "làng Ki-Tô" tại đó họ được đặt
dưới sự kiểm tra kỹ lưỡng của các linh mục, họ được dạy giáo lý và được khuyến
khích bỏ đi những tục lệ "man rợ" để thay thế vào đó bằng tục lệ và đức tính Ki
Tô. Bị xa lìa khỏi chính dân tộc của mình và bị từ chối sự tự túc dựa trên săn
bắn, trồng trọt vườn tược, họ chỉ còn một con đường để theo. Dựa trên những con
số rửa tội, số người cải đạo thật đáng ngạc nhiên. Người ta ghi những con số
8000, 10000, và đến cả 14000 người cải đạo mỗi ngày. Chúng ta phải nhớ rằng,
khả năng nói tiếng địa phương của các linh mục thường rất yếu kém, không có
Thánh kinh viết bằng tiếng bản xứ, và những người cải đạo
hoàn toàn
mù chữ, điều hiển nhiên là ngay khi đó những sự "cải đạo" thật là vô
nghĩa."
(The
Indians were often drawn together into "Christian villages" where, under the
scrunity of the Fathers, they were taught their catechism and encouraged to
forgo their "savage" practices for Christian customs and virtues. Cut off
from their own
people and
denied the self-sufficiency based on hunting, gathering and the cultivation of
their gardens, there was only one way for them to go. Judging from the numbers
baptized, the conversion rate was astonishing, which records of 8000, 10000 and
even 14000 people being baptized in a single day. Bearing in mind that the
priests' grasp of the language was often feeble, that there was no scripture in
the vernacular and that the "converts" were totally illiterate, it must have
been evident even then that the "conversions" were meaningless.)
Trên đây
là vài sự kiện về thực chất truyền giáo của đạo Ca Tô ở Phi Châu và Nam Mỹ.
Chúng ta thấy cũng những hình ảnh quen thuộc này ở Á Đông. Ca Tô Giáo Rô-ma đã
thành công ở Phi Châu và Nam Mỹ và phần lớn các quốc gia trong những lục địa này
trở thành hầu như toàn tòng Ca Tô Giáo. Nhưng trải qua mấy trăm năm dưới sự
lãnh đạo của Thập Giá và Lưỡi Gươm, các quốc gia ở Phi Châu và Nam Mỹ vẫn là
những quốc gia nghèo khổ và chậm tiến nhất trên thế giới. Có thể tin được
chăng những lời tuyên truyền của các nhà truyền giáo: theo Ki Tô Giáo thì sẽ
trở nên văn minh tiến bộ giàu có như các nước Âu, Mỹ? Trong Kinh Nhật Khóa của
người Gia Tô Việt Nam có đoạn ca tụng Thánh Phan-Xi-Cô Xa-vi-e là "lịnh rao
truyền tiếng đức Chúa Thánh Thần cho những dân mọi rợ", vậy qua mấy trăm năm
rồi những dân theo Ca Tô Giáo Rô-ma đã hết mọi rợ chưa, và người Ca Tô Việt
Nam so với đại đa số người "lương" thì văn minh hơn hay mọi rợ hơn? Tin Chúa mà
không biết gì về Chúa, tin giáo hội mà không biết gì về giáo hội, tin Thánh Kinh
mà không biết gì về Thánh Kinh, vậy đó có phải là những biểu tượng của sự văn
minh tiến bộ hay không? Thế giới đã tiến xa trong mọi lãnh vực kể từ thới Trung
Cổ, các tín đồ Ca Tô vẫn còn giữ đầu óc của thời Trung Cổ (an astrolabe mind),
theo như nhận định của Linh mục Ernie Bringas, vậy đó có phải là dấu hiệu củavăn
minh tiến bộ hay không?
Cũng như ở
Phi Châu và Nam Mỹ, sự truyền bá đạo Ca Tô sang Á Đông luôn luôn song hành với
các lực lượng đế quốc thực dân Âu châu. Tuy nhiên, Ca Tô Giáo đã đụng phải những
nền văn hóa cao hơn văn hóa Gia Tô nhiều nên có thể nói là sự truyền giáo của
đạo Ca Tô Tây Dương đã hoàn toàn thất bại ở Á Đông trừ Phi Luật Tân.
Thật vậy,
trong cuốn Missionaries, trg. 165, chúng ta có thể đọc một đoạn nhận định tổng
quát về thành quả truyền giáo của đạo Ki Tô ở Á Đông như sau:
"Dù số tín
đồ gia tăng ở Nam Hàn, nhưng chỉ có Phi Luật Tân vẫn là quốc gia chính theo Ki
Tô Giáo ở Á Châu. Những thừa sai thành công ở đây vì có cùng những lý do họ đã
thành công ở Phi Châu, Nam Mỹ và vùng vịnh Thái Bình. Các linh mục Gia Tô vào
Phi Luật Tân theo những quân chinh phục Tây Ban Nha và thấy ở nơi đây nhiều bộ
lạc có nhược điểm là theo những tôn giáo truyền thống của từng bộ lạc. Trong
những hoàn cảnh như vậy, Giáo hội đã đạt được một thắng lợi kỳ lạ khác.
Ở các
nơi khác ở Á Châu, sự tiến bộ trong công cuộc truyền giáo Ki Tô rất chậm, có thể
nói là không đáng kể. Bất cứ nơi nào mà các thừa sai đụng phải những nền văn
hóa tôn giáo lớn như Phật Giáo, Ấn Độ Giáo, hay Hồi Giáo thì dân chúng ở những
nơi đây đều cưỡng lại và đôi khi tỏ thái độ thù nghịch rõ rệt."
(Despite
gain in South Korea, the Phillipines is still the only major Christian country
in Asia. The missionaries were successful there for the same reasons they were
successful in Africa, Latin America and throughout the Pacific basin. Roman
Catholic priests entered the Philippines on the arm of the Spanish conquerors
and found there numerous vulnerable tribes adhering to their traditional
religions. In these circumstances the Church scored another extraordinary
success.
Elsewhere
in Asia, Christian progress has been slow, even negligible. Wherever
missionaries have encountered other great religious cultures such as
Buddhism, Hinduism or Islam, the people have remained quite resistant and
sometimes downright hostile.)
Để hiểu tại
sao công vụ truyền giáo của các thừa sai Tây phương ở Á Châu lại thất bại, tôi
xin trích dẫn tóm tắt nhận định tổng quát về thực chất truyền giáo của Ca Tô
Giáo Rô-ma tại Á Châu của Avro Manhattan trong cuốn "Chủ Nghĩa Đế Quốc của Gia
Tô Giáo Và Sự Tự Do Của Thế Giới" ("Catholic Imperialism and World Freedom",
trg. 341 - 365):
"Những
công vụ truyền giáo của Ki Tô Giáo không bao giờ chỉ là thuần túy truyền giáo.
Những công vụ truyền giáo này luôn luôn hoặc theo sau, hoặc đồng hành, hoặc
làm đạo quân tiền phong cho những kho hàng Tây phương, ngoại giao Tây phương, và
những binh đội Tây phương. Bất kể sự diễn tiến như thế nào, kết quả đều giống
nhau: những dân tộc Á châu mất đi hoặc một phần, hoặc toàn phần sự tự do của họ,
bất cứ khi nào và ở nơi nào mà cái Thánh giá cùng cái mũ Tây phương xuất hiện.
Sự chấp nhận, do tự nguyện hay do cưỡng bức, hai thứ trên được tuyên dương là
chiến thắng của nền văn minh Ki Tô, và văn minh Ki Tô có nghĩa là bất cứ cái gì
có tính cách thống trị - hay nói khác đi, bất cứ cái gì của Tây phương - sự
thành công thường thường tùy thuộc ở sự hiện diện của những hạm đội ở ngoài
khơi.
Những
dân tộc chậm tiến, nhưng có nền văn minh cao, mất đi nền độc lập của họ, văn hóa
của họ bị chế nhạo, màu da của họ bị coi như là dấu vết của nhục nhã, quá khứ,
hiện tại và ngay cả những khả năng thành đạt trong tương lai của họ bị khinh
miệt và coi thường... Trong lúc đó thì tôn giáo Tây phương thuyết giáo
về "tứ hải giai huynh đệ", nền dân chủ Tây phương, nhân quyền của mọi người,
và lý tưởng Tây phương về sự bình đẳng của mọi sắc dân.
Thực ra,
từ khi được cấy vào từ Judea, Ki Tô giáo đã trở thành tôn giáo của Tây phương,
và từ đó trở nên tôn giáo lớn nhất trên thế giới, không do sức mạnh của những
nguyên lý tinh thần mà do sự thống trị vật chất của người da trắng... Ki Tô
giáo hiện còn bị hầu hết Á Châu bác bỏ vì tôn giáo này được coi như biểu thị sự
tham tàn của thế giới Tây phương, của chủ nghĩa đế quốc Tây phương và của sự "ưu
việt của người da trắng".
Tuy
nhiên, cho rằng Á Châu đã loại bỏ Ki Tô Giáo chỉ vì nó là một phó sản của Tây
phương là sai lầm. Khoa học và Kỹ nghệ cũng là những phó sản của Tây phương,
nhưng chúng được đón nhận. Chủ nghĩa Marx là một phó sản của tư tưởng Tây
phương, tuy nhiên chỉ trong vài thập niên đã đủ để nó gây mầm mống khắp lục địa
trong đó gần hai ngàn năm nỗ lực của Ki Tô Giáo chỉ đưa tới một kết quả thê
thảm.
Chủ
nghĩa Cộng Sản, như là nguồn cảm hứng cách mạng của thế giới, có ích hay có
hại là tùy theo quan niệm mỗi người. Nhưng sự lan tràn kỳ lạ của nó là một sự
kiện. Nó đã góp phần cho một sự thức tỉnh nhanh chóng hơn của Á Châu, cho sự
nổi giậy mau hơn của tinh thần quốc gia của Á Châu, và cho sự chống lại Ki Tô
Giáo của Á Châu quyết liệt hơn. (Chẳng trách là, cho tới bây giờ, Ca Tô Giáo
Rô-ma vẫn coi CS là kẻ thù nguy hiểm nhất, cần phải tiêu diệt bằng mọi thủ đoạn
và lũng đoạn chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa v..v..)
Có thể
nào một sự rao truyền Ki Tô Giáo thuần khiết hay nguyên lý căn bản về "tứ hải
giai huynh đệ" đã gây nên phản ứng sâu rộng ở Á Châu như vậy? Nếu không thì
nguyên nhân căn bản nào đã, và đang gây nên phản ứng như vậy? Câu trả lời là:
chính trị Ki Tô Giáo. Chính trị Ki Tô Giáo đã đầu độc những sự giao thiệp Âu Á.
Ngay từ những ngày đầu tiên của Ki Tô Giáo ở Viễn Đông, Ki Tô Giáo, xuất hiện
dưới bộ áo tôn giáo, đã luôn luôn vươn lên như một lực lượng chính trị phục vụ
cho những cá nhân và quốc gia Tây phương. Tin Lành Giáo cũng phạm tội như
là Ca Tô Giáo. Giống như Ca Tô Giáo, các thừa sai Tin Lành luôn luôn làm
tiền phong, hoặc theo gót các con buôn, tàu chiến, và những đoàn quân xâm lăng.
Tuy nhiên, chính trị Tin Lành Giáo, dù phạm tội, không thể nào đồng hạng với Ca
Tô Giáo. Sự tác hại gây nên bởi chính trị Ca Tô Giáo (Công Giáo) ở Á Châu thì
to lớn một cách không thể nào so sánh được, hơn tất cả những sự tác hại gây nên
bởi mọi giáo hội Ki Tô khác cộng chung lại với nhau.
Không giống
như Tin Lành, những hoạt động của các thừa sai Ca Tô được phối hợp hoàn toàn
với những mục tiêu tôn giáo - chính trị chuyên biệt. Với chủ ý dùng quyền lực
chính trị để khuất phục những dân tộc Á Châu trong lãnh vực tôn giáo, Gia Tô
Giáo đã đầu độc những mối liên hệ giao thiệp Âu Á ngay từ lúc bắt đầu, và sự đầu
độc này đã góp phần hơn gì hết cho sự nghi ngờ bẩm sinh của dân tộc Á
Châu đối với Tây phương hiện còn âm dội trong mọi lãnh vực cho tới ngày
nay.
Những
yêu sách chính trị của Giáo hội Ca Tô trên những quốc gia phi-KiTô bao giờ cũng
liên kết với những yêu sách tôn giáo. Bởi vì, bất cứ khi nào Giáo hội gửi các
thừa sai đi đến các nơi này, mục đích của Giáo hội là biến những người tân tòng
thành những tín đồ của Giáo hội và là thuộc hạ của Giáo hoàng. Hai điều này
không thể tách rời nhau được. Cũng như ở Tây phương, ở phương Đông, bất cứ nơi
nào mà có Giáo hội Gia Tô là ở đó có Vatican; nghĩa là, quyền lợi ngoại giao và
chính trị của Ca Tô Giáo.
Cho nên,
những thừa sai Ca Tô tự động biến đổi thành những "tác viên chính trị", tạo
thành nền tảng quyền lực chính trị của Ca Tô Giáo bất cứ nơi nào họ dựng lên
những cộng đồng Gia Tô.
Những
hoạt động tôn giáo - chính trị của Ca Tô Giáo như vậy thường tạo nên những ảnh
hưởng sâu rộng, với bản chất ghê tởm nhất, trên lịch sử nhân loại. Những hoạt
động này đã trở nên nguyên nhân trực tiếp của những thảm họa chính trị và quân
sự trong những sự giao dịch giữa Tây phương và Á Châu, những thảm họa mà người
ta thường tin là do những sai lầm, lòng tham lam, và sự thiển cận của những
quốc gia đế quốc, và không bao giờ là do sự lì lợm tôn giáo của Giáo hội Ca Tô,
đường lối ngoại giao lá mặt lá trái của Vatican, hoặc khát vọng thống trị cả hai
lục địa của Vatican mà thường khi làm nhơ nhuốc lịch sử hiện tại và góp phần làm
cho sự phương hại đến những giao dịch hòa bình của các dân tộc trên thế giới
kéo dài bất tận."
(Christian missions were never solely Christian missions. They were
invariably preceded, accompanied, or followed by Western warehouses, Western
diplomacy, and Western armies. Whichever the sequence, the result was eternally
the same: the partial or total loss of the regional, national, and racial
liberty of the Asiatics, wherever and whenever the Cross and the Western Hat had
made their appearance. The voluntary or forced acceptance of both was
proclaimed to be the victory of Christian civilization, and Christian
civilization came to mean whatever tended to be dominant - in other words,
whatever was Western - success very often depending on the appearance of naval
squadrons off the coasts.
Backward
and highly civilized peoples lost their independence; their cultures were
ridiculed, the color of their skin became a mark of opprobium; their past,
present, and even potential future achievements were scorned and despised...
This while, at the same time, Western religion preached universal
brotherhood, Western democracy, the rights of all men, and Western idealism
the equality of all races...
In fact,
since its transplantation from Judea, Christianity had become Western, and
since then had become the dominant world religion, not through the strength of
its principles but through the physical dominance of the White race...
Christianity is still spurned by most of Asia as being hopelessly identified
with the rapacity of the Western world, of Western Imperialism and of
Western "White supremacy".
To think,
however, that Asia has rejected Christianity simply because it is a by-product
of the West would be erroneous. Science and industrialism are Western
by-products; yet they are welcome. Marxism is a by-product of Western thought,
yet a few decades have sufficed to plant its seeds throughout the continent in
which almost two thousand years of Christian efforts were spent with the most
dismal result...
Whether
Communism, as the inspirer of a world revolution, is beneficial or harmful is
anyone's opinion. Its phenomenal spreading, however, is a fact. It has
contributed to a swifter awakening of Asia, to a quicker emergence of Asian
nationalism, to a fiercer Asian opposition to Christianity.
Could the
mere preaching of an unadulterated Christianity or of the basic principle of
brotherhood of man have provoked such far-reaching Asiatic reaction?
If not, what
was, and, indeed what is, its fundamental cause? The reply is: Political
Christianity.
Political
Christianity has poisoned, at the very source,
Asiatic-Western relations. Since its inception in the Far East, Christianity,
having appeared in the apparel of religion, has always emerged as a
political force at the service of Western individuals and nations.
Protestantism is as guilty as Catholicism. Like the Catholic, so also the
Protestan missionaries were invariably preceded or followed by traders,
gun-boats, or military expeditions. Political Protestantism,
however, although guilty, cannot be put on a par with Catholicism. The damage
caused by political Catholicism in Asia has been incommensurably greater than
anything done by all the other Christian Churches put together.
Unlike
those of Protestantism, all its missionaries' activities were fully co-ordinated
and had specific religious-political goals. By purposely employing political
power to subdue Asiatic people in the religious field, Catholicism poisoned
Asiatic-Western relations from the very beginning, and this poisoning has
contributed, perhaps more than anything else, to the inborn suspicions of the
Asiatic people towards the West, which has reverberated in all fields to our
present
day.
The
political claims of the Catholic Church upon non-Christian lands are inseparable
from her religious one. This owing to the fact that, whenever sending out her
missionaries, her aim is to make the newly converted people simultaneously
members of the Church and subjects of the Pope.
The two are
inseparable. As in the West, so also in the East, wherever there is
the Catholic Church there also is the Vatican; that is to say, Catholic
diplomatic and political interests.
Catholic
missionaries, therefore, are automatically transformed ito "political agents"
and ultimately become the foundation stones of the political power of the
Catholic Church wherever they erect Catholic communities...
Such
Catholic religious-political activities have often produced far-reaching
effects, of a most nefarious nature, upon the history of mankind. They became
the direct cause of political and military disasters in Western dealings with
Asia; disasters popularly believed to be due merely to the blunders, rapacity,
and short-sightedness of imperalistic nations, and never to the religious
intransigence of the Catholic Church, to the diplomatic duplicity of the
Vatican, or to the thirst for domination of both which, very often, by befouling
the current of history, have contributed to the perennial detriment of
the peaceful relationship of the peoples of the world.)
Với chính
sách truyền đạo tệ hại như trên, hẳn chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy
các dân tộc Á Châu cho tới ngày nay vẫn từ chối không chấp nhận Ki Tô Giáo (gồm
Chính Thống, Ca Tô và Tin Lành) nói chung, Ca Tô Giáo nói riêng, trừ một thiểu
số tình nguyện làm tôi tớ hèn mọn cho Vatican (Xin đọc câu "Chúng con là
những tôi tớ hèn mọn, sấp mình dưới chân các Đấng run sợ dâng lên những lời
dưới đây" trong bức thư gửi Giáo hoàng John Paul II của 12 môn đệ linh mục
Nguyễn Hữu Trọng), hoặc "vô cùng sợ hãi Tòa Thánh, đến nỗi..."Tòa Thánh đánh rắm
cũng khen thơm" (Nguyễn Văn Trung), trong cuốn Tại Sao Không Theo Đạo Chúa, Tập
2), coi thị quốc Vatican (Vatican city) trọng hơn ông bà tổ tiên đã sinh ra mình
và đất mẹ đã nuôi dưỡng mình.
Để độc giả
có một ý niệm về bản chất cuồng tín của các nhà truyền giáo Ki Tô ngay trong
thời đại này, tôi xin trích dẫn sau đây một đoạn trong cuốn Missionaries, trg.
186, nói về phương cách truyền giáo của Gia Tô Giáo ở Thái Lan:
"Ở Á
Châu, không có mấy nước mà các thừa sai cảm thấy hoàn toàn tin tưởng là công vụ
truyền giáo của họ sẽ không bị gián đoạn trong tương lai. Ngay cả dân Thái
cũng nhạy cảm đối với vấn đề thừa sai nếu sự
truyền giáo
không khéo xử, thái độ khoan dung của dân Thái có thể thay đổi. Hiện nay, trong
một nước mà 97 phần trăm theo Phật Giáo, 2 phần trăm theo Hồi Giáo, số người
theo Ki Tô Giáo hiển nhiên rất ít.
Sulak
Siravaksa là một trí thức Phật Giáo theo học các trường Ki Tô. Tuy nhiên, ông
ta rất lấy làm khó chịu trước những tài liệu truyền giáo mô tả Thái Lan là "địa
hạt của Satan"; rằng "99% dân Thái bị câu thúc bởi ma quỉ"; lên án Phật Giáo là
"thờ hình tượng" và là "một tôn giáo yếm thế một cách vô vọng."; và chấp chặt
là "không có sự mặc khải của Ki Tô thì không hiệp thông được với Thượng đế."
Như Sulak đã vạch rõ, đó là ngôn ngữ hàng ngày của một số tài liệu truyền giáo,
những tài liệu này đã xúc phạm nặng nề đến những Phật tử Thái Lan."
(In Asia
there are few countries where missionaries can feel completely confident of an
uninterrupted future for their work. Even the Thais are sensitive on
the
subject of
missionaries and if evangelism is not carried out in a tactful manner, their
tolerant attitude may change. At present, in a country where 97 percent of the
population is Buddhist and 2 percent Muslim, there are obviously very few
Christians.
Sulak
Sivaraksa is a Buddhist intellectual who was educated in Christian schools. He
is, however, severely irritated by evangelical literature that describes
Thailand as "the territory of Satan"; that declares "99 percent of Thais are in
bondage to demons"; that condemns Buddhism as "idolatry" and "a religion
of hopeless escapism"; and which insists that "without Christian revelation,
there is no relationship with God". As Sulak points out, this is the everyday
language of a certain kind of mission literature, which is deeply offensive to
Thai Buddhists.)
Vì chính
sách truyền đạo cuồng tín cố hữu như trên tại Thái Lan mà Phật Giáo Thái đã phải
chính thức gửi kháng thư cho John Paul II, phàn nàn về những việc làm sai
trái của Ca Tô Giáo ở Thái Lan, như sẽ được trình bày trong một phần sau.
Người Việt
chúng ta thường ngưỡng mộ thành quả canh tân đất nước của Nhật Bản và các "sử
gia" Ca Tô Việt Nam thường đổ trách nhiệm lên đầu các vua quan triều Nguyễn là
không biết noi gương Nhật Bản để canh tân đất nước. Nhưng bối cảnh lịch sử của
hai nước Nhật và Việt trong thế kỷ 19 hoàn toàn khác nhau. Muốn hiểu tại sao
Nhật Bản canh tân được mà Việt Nam lại không, chúng ta phải trở lại lịch sử
tiếp xúc của Nhật với Tây phương, và từ đó nhận ra sự khác biệt giữa những điều
kiện chính trị, xã hội của hai nước. Sự thành công của Nhật Bản trong vấn đề
canh tân đất nước dựa phần lớn vào thái độ dứt khoát, quyết liệt của Nhật đối
với Ca Tô Giáo như chúng ta sẽ thấy sau đây.
Từ đầu
thế kỷ 16, Nhật Bản đã tiếp xúc với Tây phương qua những thương gia ngoại
quốc, nhất là những thương gia Bồ Đào Nha. Khi đó Nhật Bản hoan nghênh những sự
trao đổi ý kiến và trao đổi hàng hóa và mở cửa cho thông thương tự do. Tuy
nhiên, theo sau các thương gia là những thừa sai Ki Tô Giáo, nhất là những thừa
sai Ca Tô, tới để truyền đạo. Muốn hiểu hiện tượng trên, tưởng chúng ta cũng nên
nhắc lại là:
"Vào
cuối thế kỷ 15, (1493), Giáo hoàng Alexander VI, tự cho Ca Tô giáo cái
quyền thống trị hoàn cầu, đã chia thế giới ra làm hai vùng ảnh hưởng: 1) toàn
thể Mỹ Châu, trừ Ba Tây, thuộc Tây Ba Nha; 2) còn Bồ Đào Nha thì được Ba Tây và
tất cả những đất đai nào chiếm được ở Á Châu và Phi Châu. Sắc lệnh phân chia
vùng ảnh hưởng này quy định rằng, song song với việc chiếm cứ đất đai là bổn
phận phải kết hợp các dân địa phương vào trong giáo hội Ca Tô. Do đó, đi cùng
với những đoàn quân xâm lăng là những linh mục. Sự có mặt của gìới linh mục đã
biện minh cho những hành động áp chế dân địa phương cũng như bất cứ thủ đoạn
cưỡng ép nào được coi là cần thiết để kéo họ vào niềm tin Ca Tô."
(Missionaries, trg. 132-133: By the end of the fifteenth century, Pope Alexander
VI created two spheres of influence; he determined that the whole of the
Americas with the exception of Brazil, should belong to Spain, while Portugal
would take Brazil and whatever could be seized in Asia and Africa. It was
decreed that along with territorial gains would go the duty to incorporate any
native peoples into the Catholic Church...With the invading armies came priests
and friars whose presence justified the subjugation of the people and the use
of whatever coercion was judged necessary to bring them to the faith.)
Các thừa
sai Ca Tô được sự ủng hộ nồng nhiệt của Nobugata, một lãnh chúa Nhật Bản
(1573-1582).
Nobugata,
ngoài việc cho phép các giáo sĩ tự do truyền đạo còn cấp đất cho họ ở Kyoto,
cùng hứa hẹn cấp cho họ một khoản tiền mỗi năm. Do đó, Ca Tô giáo lan
tràn khắp nước, hàng ngàn người theo đạo và các trung tâm Ca Tô mọc lên ở nhiều
nơi trong nước Nhật.
Nếu các
giáo sĩ Ca Tô chỉ giới hạn trong việc truyền bá tình thương của đạo Chúa thì
chắc chắn Nhật Bản và các nước khác ở Á Châu sẽ để cho họ tự do, nhất là Việt
Nam, một dân tộc đã nổi tiếng là hiếu khách và không hề có chuyện kỳ thị tôn
giáo. Nhưng, do sự cực đoan tôn giáo của Ca Tô giáo là Giáo hội Ca Tô phải
thống trị giáo dân trong tất cả những lãnh vực tôn giáo, đạo đức, xã hội,
chính trị v..v.., kết quả là các cộng đồng Ca Tô ở Nhật Bản đều phải đặt dưới
quyền thống trị của Vatican. Theo giáo điều Ca Tô, Giáo hội không cho phép
những người dân Nhật theo đạo phục tùng những người cầm quyền như là một người
dân trong một nước. Những người gia nhập Giáo hội Ca Tô đương nhiên tự biến họ
thành những thuộc hạ của Giáo Hoàng. Một khi sự t rung thành đã chuyển sang
một thế lực ngoại quốc ở ngoài đất Nhật, các giáo dân trở thành bất trung đối
với những nhà cầm quyền Nhật Bản. Điều này rất nguy hại cho sự an ninh của
Nhật, quốc nội cũng như quốc ngoại.
Vì Ca Tô
Giáo dạy rằng đạo Ca Tô là đạo duy nhất chân thật, các tín đồ Ca Tô Nhật đã
phát động tinh thần bất khoan nhượng tôn giáo, và khi ở vị thế có quyền
hành, tìm cách xóa bỏ các tôn giáo khác bằng bạo lực. Điều này đã gây nên
những xáo trộn trong xã hội. Bất cứ ở nơi nào mà Ca Tô giáo chiếm đa số
trên đất Nhật thì ở nơi đó Phật Giáo và các tôn giáo khác đều bị chèn ép. Chùa
chiền bị phá hủy, đóng cửa hay chiếm đoạt để làm nhà thờ. Trong nhiều trường
hợp, Phật tử bị cưỡng bách theo đạo, từ chối có thể bị tịch thu gia sản hay xử
tử. (Những người sống ở miền Nam, nhất là vùng Nam, Ngãi, dưới triều Ngô Đình
Diệm chắc chắn chưa quên những cảnh này).
Trước tình
thế quốc gia như vậy, những nhà cầm quyền Nhật Bản, Hideyoshi rồi Ieyasu, thay
đổi thái độ và bắt đầu từ năm 1614 Ieyasu đưa ra một chính sách để đối phó với
những xáo trộn mà các giáo sĩ và giáo dân Gia Tô giáo đã gây ra:
"Mọi công
dân Nhật theo đạo được lệnh phải bỏ đạo; các nhà thờ và tu viện Ca Tô bị phá
hủy, tài sản đất đai bị tịch thu, và tất cả linh mục ngoại quốc được lệnh phải
rời khỏi các xứ đạo, tập trung tại Nagasaki để chờ tống xuất."
Sắc lệnh
này chưa kịp thi hành thì "một sắc lệnh khác khe khắt hơn được ban hành, và sự
đàn áp tôn giáo trở thành tàn nhẫn hơn cho tới khi mọi vết tích công khai của Ki
Tô Giáo bị phá hủy."
(Missionaries: A further decree, much fiercer in tone, set in train a ruthless
persecution that continued until all overt vestiges of Christianity had been
destroyed.)
"Khi
sắc lệnh trục xuất thứ hai được ban hành, một số thừa sai rời khỏi nước Nhật
nhưng nhiều vị ở lại và toan tính tiếp tục gây dựng ngầm các xứ đạo. Tất cả
đều bị săn lùng và hành quyết.
Toàn thể
các cộng đồng Ki Tô phải chịu đựng những biện pháp cấm đạo. Họ bị cưỡng bức
giẫm lên hình tượng của Mẹ Maria bồng Con khắc trên những bản nhỏ, ai từ chối
đều bị hành quyết. Hình phạt thông thường là đóng đinh, nhưng được thay đổi một
cách ác độc, nạn nhân bị đóng đinh đầu ngược xuống đất và ở bờ biển. Khi
thủy triều lên họ bị chết ngộp dần dần."
(When the
second decree of expulsion was promulgated, a number of missionaries left Japan
but many remained and tried to continue their ministry in hiding. All of them
were hunted down and put to death.. . Whole communities were put to the test.
They were forced to trample upon a fumie, a small plaque bearing a carved
image of the Virgin and Child, and those who refused were executed.
Crucifixion was the usual fate, but, in a cruel refinement, the victims were
crucified upside down on the shoreline. As the tide came in, they slowly
drowned. )
Vào thời
điểm này, những tín đồ Ca Tô ở Nhật bắt đầu tổ chức võ trang chống lại chính
quyền. Cuộc chiến bùng nổ vào mùa đông năm 1637 tại Shimbara và tại đảo
Amakusa, những vùng hầu như toàn tòng Ca Tô. Những cộng đồng Ca Tô này, cầm đầu
bởi các linh mục Tây phương, công khai chống lại chính quyền.
Chính
quyền Nhật, sợ rằng các toán giáo dân đó liên kết với những giáo dân Ca Tô Tây
phương và bị Bồ Đào Nha dùng làm phương tiện để chiếm đất đai của Nhật, đánh
thuế rất nặng trên những cộng đồng này. Các linh mục dòng Tên tổ chức một đạo
quân khoảng 30000 giáo dân Nhật, với cờ xí mang tên Giê-Su, Maria, Thánh Iago,
tiến quân đối đầu với đại diện chính quyền về dân sự và quân sự ở địa phương, và
nhiều cuộc chiến đẫm máu đã xảy ra trong vùng Shimbara và vùng vịnh
Nagasaki. Giáo dân giết luôn Thống Đốc ở Shimbara và rồi cố thủ trong một thành
lũy kiên cố khi quân chính phủ kéo đến dẹp.
Với vũ khí
thô sơ, chính quyền Nhật phải nhờ đến sự trợ giúp của Hòa Lan (theo Tin Lành) về
súng đại bác và tàu chiến. Hòa Lan ưng thuận, và giúp chính quyền san thành
bình địa nơi cố thủ của các giáo dân và hầu như tất cả các giáo dân trong đó
đều bị tàn sát.
Kết
quả cuộc nổi loạn của giáo dân này là một đạo Dụ bài Ngoại của chính quyền Nhật
Bản ban hành năm 1639, Manhattan, Catholic Imperialism and World Freedom, trg.
361:
"Trong
tương lai, chừng nào mà mặt trời còn soi sáng thế giới, không một ai được phép
nhập cảnh Nhật Bản, ngay cả với tư cách là đại sứ..."
(For the
future, let none, so long as the Sun illuminates the World, presume to sail to
Japan, not even in the quality of ambassadors...)
Đạo Dụ trên
được áp dụng cho mọi nước Tây phương, trừ Hòa Lan vì Hòa Lan đã giúp phương tiện
cho chính quyền Nhật dẹp cuộc nổi loạn của các giáo dân Ca Tô. Nhưng ngay cả
đối với người Hòa Lan, họ cũng bị hạn chế tối đa. Lý do: tuy họ không phải là
tín đồ Ca Tô Giáo nhưng cũng là tín đồ Ki Tô Giáo. (Nevertheless, even they
were put under extreme restrictions owing simply to the fact that although they
were not Catholics they were Christians.)
Đối với
Nhật Bản khi đó, bất cứ cái gì liên hệ đến Ki Tô Giáo nói chung đều bị nghi ngờ
là có âm mưu lừa dối, chinh phục, và bất khoan dung.
Manhattan,
(Ibid.,trg. 362):
"Người
Hòa Lan không được phép đọc ngay cả những lời cầu Kinh Ki Tô Giáo trước mặt một
công dân Nhật nào. "
(The
Dutch were not permitted to use Christian prayers in the presence of a
single Japanese subject).
Hiệp ước
thương mại giữa Nhật và Hòa Lan có những điều khoản như:
- Không một
tàu buôn nào của Hòa Lan được chở một tín đồ Ki Tô bất cứ quốc tịch nào hoặc
chuyên chở thư từ viết bởi tín đồ Ki Tô.
- Hòa Lan
phải báo cho chính quyền Nhật biết tình hình bành trướng của Ki Tô Giáo ở ngoại
quốc.
- Mọi sách
viết về những đề tài tôn giáo phải khóa kín, niêm phong trong các rương hòm và
trao cho chính quyền Nhật giữ trong suốt thời gian tàu cặp bến Nhật.
(No Dutch
ship should carry a Christian of any nationality or convey letters written by
Christians.
The Dutch
should convey to the Japanese governor any information about the spreading of
Christianity in foreign lands that might be of interest.
All books,
especially those dealing with religious subjects, belonging to Dutch ships had
to be put into trunks, sealed, and turned over to the Japanese during the period
the ship was in port)
Với những
biện pháp quyết liệt và tàn nhẫn đối với Ca Tô Giáo nói riêng vàì Ki Tô Giáo nói
chung, Nhật Bản đã giữ nước khỏi bị cái họa Ki Tô Giáo trong suốt hơn 200 năm,
trong thời gian này trên đất Nhật không hề có bóng dáng của ngay cả một linh
mục thừa sai và con chiên bản địa, đỡ hẳn mối lo âu về một số tín đồ Ca Tô sẵn
sàng theo lệnh các thừa sai Tây phương phản quốc, cho tới khi Đô Đốc Perry của
Mỹ dùng 10 tàu chiến tấn công và uy hiếp Nhật phải mở cửa giao thương và cho
truyền đạo lại vào năm 1854. Trước mối nhục vì bị thua kém về kỹ thuật và
súng ống này, Nhật Bản đã quyết tâm canh tân. Năm 1866, Nhật còn là
một dân tộc thuộc loại Trung Cổ. Chỉ trong vòng 33 năm, tới năm 1899, Nhật đã
trở thành một cường quốc không kém các nước Tây phương. Ngoài lòng yêu nước cao
độ và quyết tâm, yếu tố chính trong sự thành công canh tân của Nhật là một tình
trạng xã hội, chính trị ổn định, không có một đạo quân thứ 5 nằm vùng trong lòng
dân tộc và các thừa sai gián điệp chuyên gây xáo trộn trong các quốc gia để thủ
lợi về mặt tôn giáo cũng như về vật chất thế tục.
Missionaries, trg. 169:
"Trong
24 năm đàn áp Ki Tô Giáo ở Nhật Bản, 62 thừa sai Tây phương đã bị hành quyết
cùng với hàng ngàn giáo dân Nhật. Phải tới hơn 200 năm sau Nhật mới lại mở cửa
cho các thừa sai trở lại, nhưng lòng của họ vẫn khép kín."
(During the
twenty-four years of the great Japanese persecution, sixty-two European
missionaries were put to death together with thousands of Japanese Christians.
It was to be more than 200 years before the Japanese would again open their
doors to missionaries but even then, they did not open their hearts.)
Một câu
ngắn gọn sau đây của Hal Dareff trong cuốn Câu Chuyện Việt Nam (The Story of
Vietnam, trg. 28,) có thể nói lên hoàn cảnh khác biệt giữa Nhật Bản và Việt Nam
trong thế kỷ 19:
"Đóng
cửa biên giới, họ (triều đình Gia Long. TCN) sẽ tránh được sự xâm nhập
của người ngoại quốc với những lối sống xa lạ của họ. Bất hạnh thay, trong nước
đã có những người ngoại quốc rồi - Các giáo sĩ thừa sai."
(By sealing
off their borders, they would keep out the foreigner and his alien ways.
Unfortunately, there were already foreigners in Vietnam - The Missionaries.)
Ở Ấn Độ,
hơn 400 năm nay Ki Tô Giáo đã vô cùng tích cực trong vấn đề truyền đạo với hi
vọng Ki Tô hóa Ấn Độ nhưng dân chúng Ấn, tuy nghèo khó và trước những hứa hẹn
về vật chất của Ki Tô Giáo, vẫn từ chối tôn giáo này. Số người theo Ki Tô Giáo
nói chung chưa lên tới 1% tuy chính quyền Ấn đã rất dễ dãi để cho những nhà
truyền giáo tự do truyền đạo.
Sự dùng vật
chất để ép những người ngoại đạo đang ở trong những hoàn cảnh khó khăn về vật
chất theo đạo lộ liễu đến mức một Ủy Ban Điều Tra Những Hoạt Động của Các Giáo
Sĩ Thừa Sai tại Ấn Độ đã phải đưa ra những khuyến cáo sau đây, trong cuốn "Tín
ngưỡng của người khác" ("The Faith of Other Men", trg. 107) của Giáo Sư Wilfred
Cantwell Smith, một nhà Thần học KiTô nổi tiếng, Giáo sư môn Tôn Giáo Thế giới
và Giám đốc trung tâm nghiên cứu tôn giáo thế giới tại đại học Harvard:
" Nên
yêu cầu những thừa sai mà mục đích chính là dụ người vào đạo phải rút lui. Số
lượng lớn các nhà truyền giáo ngoại quốc không được hoan nghênh và cần phải kiểm
soát.
Sự dùng
các dịch vụ y tế hay chuyên môn như là phương tiện trực tiếp để dụ người vào đạo
phải cấm bởi luật pháp.
Mọi toan
tính dùng vũ lực hay lừa gạt gian dối, hay đe dọa bằng những cách bất chính hay
giúp đỡ tài chính hay mọi sự trợ giúp khác, hoặc bởi những phương tiện hay hứa
hẹn lừa gạt gian dối, hoặc bằng sự giúp đỡ tinh thần và vật chất, hoặc lợi dụng
sự thiếu kinh nghiệm hay lòng tự tin của bất cứ người nào, hoặc bằng cách khai
thác nhu cầu, sự yếu kém về tinh thân (tâm thần) hay nhẹ dạ của bất cứ người
nào, hoặc, đại cương là mọi toan tính hay nỗ lực (dù thành công hay không), trực
tiếp hay gián tiếp thâm nhập vào ý thức tôn giáo của con người (dù đã trưởng
thành hay còn vị thành niên) thuộc tín ngưỡng khác, với mục đích thay đổi ý
thức tôn giáo hay tín ngưỡng của họ, để cho hợp với lý tưởng và niềm tin của
phe đi dụ người ta vào đạo, phải tuyệt đối cấm."
(Those
missionaries whose primary object is proselytization should be asked to
withdraw. The large influx of foreign missionaries is undesirable and should be
checked..
The use of
medical or other professional services as a direct means of making conversions
should be prohibited by law..
Any
attempt by force or fraud, or threats of illicit means or grants of financial or
other aid, or by fraudulent means or promises, or by moral and material
assistance or by taking advantage of any person's inexperience or confidence, or
by exploiting any person's necessity, spiritual (mental) weakness or
thoughlessness, or, in general any attempt or effort (whether successful or
not), directly or indirectly to penetrate into the religious conscience of
persons (whether of age or underage) of another faith, for the purpose of
consciously altering their religious conscience or faith, so as to agree
with the ideas of convictions of the proselytizing party should
be absolutely prohibited..)
Tại sao
người ta lại phải khuyến cáo như vậy nếu các công vụ truyền giáo của CaTô
giáo chỉ thuần túy là truyền giáo? Chúng ta cũng nên để ý rằng, hiện nay, ở Ấn
Độ đang có phong trào bài Ki Tô Giáo rất mạnh. Báo Los Angeles Times ngày 12
tháng 11, 1998, đăng một bài tường thuật dài của ký giả Dexter Filkins về những
hành động bài Ki Tô Giáo, nhiều khi dùng đến bạo lực, ở Ấn Độ. Một lãnh tụ của
phong trào bài Ki Tô Giáo, ông B. L. Sharma, tuyên bố:
"Chúng
tôi đã phải làm nô lệ cả ngàn năm, và nay chúng tôi đã sáng mắt rồi. Tôi đòi
hỏi chính phủ Ấn Độ phải đuổi cổ những kẻ đang dụ dân Ấn cải đạo, và phá hại
văn hóa, ngôn ngữ và y phục của chúng tôi."
(We were
slaves for 1000 years and now we have opened our eyes. I demand that the
government of India throw out these people who are out to convert Hindus and
ruin our culture, language and attire.)
Ở Trung
Quốc , chúng ta đã biết, các giáo sĩ thừa sai toa rập với lực lượng thực dân Anh
đưa thuốc phiện vào đầu độc dân Trung Quốc và lợi dụng cuộc chiến tranh nha
phiến để truyền đạo. Nhưng lịch sử truyền đạo Ca Tô ở Trung Quốc là một thất
bại nặng nề cho các nhà truyền giáo Ca Tô. Chúng ta hãy đọc vài đoạn trích dẫn
sau đây trong cuốn The Chinese Looking Glass của Dennis Bloodworth, trg.
170-173, viết về phản ứng của người Trung Hoa đối với Gia Tô Giáo như thế nào:
"Từ thế
kỷ 16 trở đi, các giáo sĩ dòng Tên đã được đón tiếp ở Bắc Kinh. Người ta nói
rằng, vị Nữ Hoàng cuối cùng của nhà Minh đã cải đạo sang Ki Tô Giáo trước khi
chết, và con trai của bà đã được rửa tội với tên Constantine. Tuy các tín đồ
Gia Tô căm phẫn chính đáng về những sự kiềm chế tiếp tục ngăn cản sự tự do
truyền đạo ở những nơi khác trên đất Trung Quốc, căn bản căm phẫn của họ thật là
yếu ớt một cách lố bịch. Vì chính trong những khoảng thời gian này, Gia Tô Giáo
đang tàn sát những tín đồ Tin Lành ở Netherlands, tra tấn hàng ngàn dân
Huguenots ở Pháp, và Văn Phòng Thánh (Cơ Quan Chỉ Đạo các Tòa Hình Án xử dị
giáo.) còn đang bận thiêu sống những kẻ dị giáo từ Granada tới Goa.
Đối với
người trí thức Trung Hoa, các Thần (hay Thượng đế, hay Chúa, tùy theo cách gọi
trong các nền văn hóa khác nhau. TCN) là để cho những nông dân ngu dốt. Một
Nho gia lỗi lạc đã nói: "Không có ai ở trên trời phán xét tội lỗi." Tôn giáo là
thuốc phiện của những "người đần độn". Còn đối với đại chúng thì, không làm gì
có chuyện cứu rỗi, và như vậy, không làm gì có chuyện luận phạt xuống địa ngục.
Do đó, các học giả chỉ đánh giá đạo đức Ki Tô Giáo còn ngoài ra coi những giáo
sĩ dòng Tên như là các kỹ thuật gia khéo léo.
Nhưng
đối với một giáo sĩ thừa sai thì dân Trung Quốc phải chia thành hai: giáo dân Ki
Tô và những người ngoại đạo. Nhưng sự khó khăn ở đây là Trung Quốc không có
danh từ "ngoại đạo" vì các tôn giáo ở đây đã sống chung tốt đẹp với nhau và hiểu
rõ rằng chỉ có Khổng Giáo mới là đạo chính thức ở Trung Quốc. Tuy nhiên, dần
dần các quan lại Trung Quốc hơi ngạc nhiên khi thấy rõ rằng các tín đồ Ki Tô
không sẵn sàng để sống hòa hợp trong đại khối dân tộc với các tôn giáo khác
nhau, nhưng lại chống Khổng giáo bằng một tập hợp các qui luật của riêng họ.
Đó chính
là lạc đạo. Một người Trung Hoa khi trở thành một tín đồ Ki Tô thì không được
coi như là người Trung Hoa nữa. Cái xí nghiệp truyền giáo bị ngăn chặn, cấm
đoán, rồi lại được phép truyền đạo. Những tín đồ Ki Tô cuồng tín trong cuộc nổi
loạn của giặc Thái Bình (Người cầm đầu giặc Thái Bình là Hồng Tú
Toàn, một tín đồ Ki Tô, tự xưng là em của Giê-su, tự phong là Thái Bình Vương,
chiến đấu cho cái gọi là Thái Bình Thiên Quốc của Chúa Trời. TCN) đã làm nguy
hại cho đức tin của họ khi họ đánh mạnh vào giới văn thân, và khi đến lượt các
thừa sai bị đối xử thô bạo, giết chóc bởi những toán dân khác, thì giáo hội
không được sự thương xót của Bắc Kinh, mà còn bị Bắc Kinh rất đỗi nghi ngờ vì có
vẻ như các quyền lực Tây phương luôn luôn dựa vào những sự đối xử quá đáng đối
với dân Chúa của họ để mượn cớ đòi hỏi nhiều nhượng bộ hơn ở Trung Quốc.
Sau cuộc
cách mạng năm 1911, Ki Tô Giáo được coi như là mốt thời trang, vì những bộ óc mờ
mịt của những người hăng say thuộc đảng Cộng Hòa bị hoang mang bởi những ý
niệm về tự do và dân chủ. Nhưng rồi ngay sau đó họ đã vỡ mộng. Những thiệt
hại đáng sợ trong Đệ Nhất Thế Chiến đã làm cho các quan sát viên Đông phương tin
chắc rằng một giáo phái được gọi là cao quý mà lại gây ra những cảnh tàn sát tập
thể như vậy không thể nào là nguồn cứu rỗi của họ, và những sự tàn bạo trong Đệ
Nhị Thế Chiến đã củng cố cảm tưởng sơ khởi trên.
Ngày nay
những người Cộng Sản không tán thành những sự mê tín duy linh phi lý, và họ
khoan nhượng cho khoảng từ 2 tới 3 triệu tín đồ Ki Tô theo tín ngưỡng của mình
một cách đứng đắn mà không cần đến sự ban phúc của La Mã, và họ ủng hộ một phong
trào Phật Giáo lớn hơn, hướng dẫn bởi những người hiểu rằng "trước hết họ phải
có những trách nhiệm xã hội và những nhiệm vụ yêu nước" trước khi say đắm
trong sự xa xỉ tôn giáo."
(From the
sixteenth century onwards Jesuits were welcomed in Peking. The last Ming
empress, it was claimed, was converted to Christianity before she died, and her
son was baptized Constantine. Although the Roman Catholics were full of
righteous indignation about the fetters that continued to hamper free missionary
work in the rest of China, they were on ridiculously weak ground. For this was
the sorry period in which the Catholics were butchering the Protestants of the
Netherlands, the Huguenots were being tortured by the thousands in France, and
the Holy Office was busy burning heretics from Granada to Goa.
To the
literate Chinese, gods were only for ignorant peasants. As a prominent
neo-Confucian had laid down: "There is no man in the sky judging sin." Religion
was the opiate of the "stupid people." For the rest, there was no personal
salvation or, come to that, damnation. The scholars therefore appreciate only
the ethics of Christianity and otherwise regarded the Jesuits as clever
technicians...
For the
missionary, China must be divided into Christians and heathens. But the
difficulty was that the Chinese simply had no word for "heathen," for religions
had rubbed along well enough together in the Middle Kingdom on the strict
understanding that Confucianism was the only official creed. Nevertheless, it
gradually became clear to the slightly astonished mandarins that the Christians
were not prepared to be stitched into the patchwork quilt made up of the
rest, but were challenging Confucian doctrine itself with a rival set of rules
of their own.
This was
heresy. A Chinese who became a Christian could no longer be regarded as
Chinese. Missionary enterprise was hampered, then forbidden, then permitted
again. The "Christian" fanatics of the Taiping rebellion perilously compromised
the faith by smitting scholars in the name of Jesus, and when it was the turn of
the missionaries to be manhandles and murdered by other Chinese mobs, the Church
did not earn sympathy in Peking, but even greater distrust, for it seemed that
the Western powers always made these excesses against their men of God to
pretext for seizing more concessions in China...
After the
revolution in 1911, Christianity enjoyed a certain vogue, for it was confused in
the muddles minds of eager Chinese republicans with liberty and democracy. But
disillusion soon followed. The frightful toll of World War I persuaded
Orientals onlookers that a gentle cult productive of so much mass murder held no
salvation for them, and the atrocities of World War II confirmed the initial
impression...
Today the
Communists frown upon reasonless, animistic superstition, tolerate in the best
traditions two
to three
million Catholics in China, who "lead a proper spiritual life" without the
blessing of Rome, and patronize a much bigger Buddhist movement led by men who
understand they must "first bear their socialist responsibilities and
fulfill their patriotic obligations" before indulging in the luxury of
religion.)
Chúng ta đã
thấy, qua những tài liệu về sự thất bại của công vụ truyền giáo của Gia Tô Giáo
ở Á Đông. Á Đông đã dứt khoát tù chối một tôn giáo mà từ những tín lý, lễ nghi
cho tới những cung cách cư xử của những giáo sĩ thừa sai Gia Tô, hoàn toàn không
hợp với người Á Đông. Chẳng thế mà trong những nước lớn ở Á Châu như Trung
Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Thái Lan... số người theo Ki Tô Giáo nói chung, rất là ít
ỏi, có thể nói là không đáng kể. Thống kê mới nhất cho biết số tín đồ Ki Tô ở
Ấn Độ vào khoảng 1%, ở Thái Lan cũng vậy, chỉ khoảng 1%, ở Nhật Bản chưa tới 1%,
và ở Trung Quốc chỉ vào khoảng 4 phần ngàn và không lệ thuộc Vatican. Buồn
thay, ở Việt Nam, số tín đồ Gia Tô lên tới 8% và còn hoàn toàn nô lệ Vatican.
Nền văn
minh kỹ thuật Âu Mỹ, đã một thời vượt xa Á Đông, nhưng từ trước cũng như cho tới
ngày nay, về vấn đề đạo đức và tâm linh thì đối với người Á Đông, Âu Mỹ vẫn còn
trong tình trạng chưa khai hóa. Trong Kinh Nhựt Khóa của người Gia Tô Việt Nam
có câu: "Ông Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-e là lịnh rao truyền tiếng Đức Chúa
Thánh Thần cho những dân mọi rợ". Người Ca Tô Việt Nam đã coi ông bà tổ tiên
và cả dân tộc mình là dân mọi rợ, trong khi thực ra thì câu trên phải được
viết là "Ông Thánh Phan-Xi-Cô Xa-Vi-e là lịnh rao truyền "tiếng nói mọi
rợ" của Đức Chúa Thánh Thần cho những dân tộc văn minh mà về phương diện tôn
giáo và tâm linh đã vượt xa và tiếp tục vượt xa những dân tộc Âu Mỹ mê tín và
cuồng tín."
Để biện hộ
cho những tội ác của Ca Tô Giáo Rô-ma đối với nhân loại và sách lược truyền đạo
bạo tàn, man rợ của Giáo hội Gia Tô, người ta thường viện câu: tôn giáo nào cũng
tốt cả, cũng đều dạy con người làm lành tránh ác, vậy bản chất của mọi tôn giáo
đều tốt cả. Nhưng trên thực tế thì có phải như vậy không? Nếu cùng tốt cả,
cùng dạy con người làm lành tránh ác cả thì tại sao lại có tôn giáo không hề làm
đổ một giọt máu trong quá trình truyền đạo hơn 2500 năm như đạo Phật, và tại sao
lại có cảnh xương chất thành núi, máu chảy thành sông trên vai lịch sử của Ca Tô
giáo? Con người Tây phương vẫn tự hào là văn minh tiến bộ hơn các dân tộc khác,
và sự truyền đạo là để "văn minh hóa" những dân tộc này, nhưng tại sao lại có sự
khác biệt giữa phương cách truyền đạo trong tinh thần từ bi của đạo Phật và
phương cách truyền đạo hết sức man rợ của Ca Tô Giáo mà kết quả là nhiều triệu
người phải chịu đựng những cảnh tra tấn, tù đầy, giết chóc? Các tín đồ Gia Tô
giải thích làm sao về sự khác biệt này? Nếu cho rằng đó là ý của Chúa, thì hơn
80% số người trên thế giới đã có lý khi họ từ chối một tôn giáo mà lịch sử
đẫm máu của nó không thể nào có thể làm mờ nhạt đi được.
Có phải
vì vậy mà ngày nay các dân tộc văn minh trên thế giới đều dần dần rời bỏ cái
tôn giáo mà họ đã phải chịu đựng gần 2000 năm nay, đến nỗi các nhà tuyền giáo
ngày nay đã coi Âu Châu như là vùng truyền giáo quan trọng nhất trên thế giới để
khôi phục niềm tin của dân chúng trong vùng này. Tôi sẽ trở lại tình trạng Ca
Tô Giáo ở Âu Châu với vài con số thống kê mới nhất trong một phần sau. Các học
giả nghiên cứu về tôn giáo đã đồng thuận ở một điểm: sự khác biệt giữa lịch sử
truyền giáo của Phật Giáo và Ca Tô Giáo nằm ngay trong chính giáo lý của mỗi
tôn giáo. Giáo lý Phật Giáo thì khỏi cần bàn tới vì trong suốt hơn 2500 lịch sử
của Phật Giáo chúng ta không thấy một cuộc chiến tranh tôn giáo nào cũng như
chưa từng thấy khi nào Phật Giáo dùng đến bạo lực để tra tấn, hành hạ, thiêu
sống những người không cùng quan điểm với Phật Giáo, hoặc dùng những thủ đoạn
phi luân để dụ hay cưỡng bách người khác tín ngơỡng vào đạo Phật. Người ta chỉ
thấy Vua A Dục buông gươm xuống và chinh phục chư hầu bằng lòng từ bi theo giáo
lý Phật Giáo, sau khi được giáo lý Phật Giáo cảm hóa. Nhưng còn giáo lý KiTô
giáo thì sao? Nó nằm ngay trong hai cuốn Cựu Ước và Tân Ước, gọi chung là Thánh
Kinh. Sau đây tôi sẽ lược duyệt một số tài liệu phân tích nội dung Thánh Kinh
để chứng tỏ rằng những sách lược tàn bạo của Giáo hội Ca Tô Rô-ma đối với nhân
loại bắt nguồn từ sự tin tuyệt đối vào cuốn Thánh Kinh, được tin như là ghi
chép những lời mặc khải của Thượng đế, và được tin là không thể sai lầm. Do
đó, Giáo hội đã theo sát những lời dạy của Chúa trong Thánh Kinh, đi khắp nơi
trong thế giới để truyền bá "đức tin Ca Tô" bằng bạo lực, cưỡng ép, và giết
chóc.
Những gì mà quần chúng được dạy để tin mà
không cần đến lý lẽ Vậy thì ai có thể phủ bác niềm tin này bằng lý lẽ?
(What the populace learned to believe
without reasons, Who could refute it then by means of reasons)?
(Friedrich Nietzche)
Các bài tôn giáo cùng tác giả
|