Các bài trong tập này:
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12

Vài Cảnh Tra Tấn và Hành Hình
những người Dị Giáo
của Giáo Hội Công Giáo
"Thánh Thiện Tông Truyền"
CHƯƠNG III :
LỊCH SỬ 5 NÚI TỘI ÁC CỦA CA TÔ GIÁO RÔ MA
[CÔNG GIÁO LA MÃ]
ĐỐI VỚI NHÂN LOẠI
DẪN NHẬP :
1988: Peter de Rosa, một linh mục dòng Tên (a Jesuit), giáo
sư về Siêu Hình Học và Đạo Đức tại trường Dòng Westminster, khoa trưởng khoa
Thần học tại đại học Corpus Christi ở Luân Đôn (Professor of Metaphysics and
Ethics at Westminster Seminary and Dean of Theology at Corpus Christi College in
London) xuất bản cuốn Những Đại Diện của
Chúa Ki-Tô: Cái Mặt Đen Tối Của Những
Triều Chính Giáo Hoàng
(Vicars of Christ: The Dark Side of the Papacy) trong đó tác giả vạch trần cái
mặt đen tối đã ngự trị trong nhiều triều chính giáo hoàng như đồi bại, ngụy tạo
tài liệu, loạn dâm, giết người, theo đuổi chính sách diệt chủng v..v..
(corruption, document-forgery, sex scandal, murder, genocide). Tác giả đã mở
toang những cánh cửa kính màu (thường là mẫu mực trong các nhà thờ ở Tây phương,
nhất là Thánh đường Phê-rô ở Vatican. TCN) và để lộ ra những giáo điều của Giáo
hội thường là "...hình thành bởi những ham
muốn đồi bại, độc tài và cuồng tín của
những giáo hoàng” (de Rosa opens the
stained glass window and reveals that the Church's teachings were too often
"..shaped by the whims of corrupt, despotic and fanatical popes"). Cuốn sách đã
được nhiều tín đồ Ca-tô đánh giá cao vì tính chất lương thiện và nghiêm túc của
nó (The book was appreciated for its honesty and seriousness by many Catholics).
1994: Trong một mật thư gửi cho các
hồng y, về sau bị lộ ra cho báo chí Ý, giáo hoàng John Paul II đặt câu hỏi: "Làm sao mà chúng ta có thể
tiếp tục yên lặng trước nhiều hình thức bạo tàn mà giáo hội đã phạm phải nhân
danh đức tin - chiến tranh tôn giáo, những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo và những hình
thức vi phạm nhân quyền khác?" (Chicago Tribune, June 5, 1995: In a 1994
confidential letter to cardinals which was later leaked to the Italian Press,
Pope John Paul II asked: "How can one remain silent about the many forms of
violence perpetrated in the name of faith - wars of religion, tribunals of the
Inquisition and other forms of violations of the rights of persons?")
1995: Giáo hoàng John Paul II
thúc giục Giáo Hội Ca Tô Rô Ma hãy nắm lấy cơ hội "đặc biệt thuận lợi" của một
thiên niên kỷ mới để ghi nhận "cái mặt đen tối của lịch sử giáo hội (Ca-tô)" (Ibid.,: Pope John Paul II had urged
the Roman Catholic Church to seize the "particularly propitious" occasion of the
new millennium to recognize "the dark side of its history").
1995: Helen Ellerbe cho ra đời cuốn
"Cái Mặt Đen Tối Của Lịch Sử Ki Tô Giáo" (The Dark Side of Christian History).
Chúng ta có thể đọc những lời tóm tắt sau đây nơi trang bìa sau:
"Trong khoảng thời gian gần 2000 năm, giáo hội Ki-Tô đã
đàn áp và bạo hành nhiều triệu người trong toan tính kiểm soát và ngăn chận vấn
đề tâm linh của con người.
Cuốn Cái Mặt Đen Tối Của Lịch Sử Ki Tô Giáo phanh phui với
chi tiết tỉ mỉ những thảm họa, đau khổ và
bất công mà giáo hội đã giáng lên nhân loại. Tác phẩm vạch trần sự thật này là
một đòi hỏi hấp dẫn và nồng nhiệt cho nhân phẩm
và sự tự do trong vấn đề tâm linh" (Over a period of almost two millennia,
the Christian Church has oppressed and brutalized millions of individuals in an
attempt to control and contain spirituality. The Dark Side of Christian
History reveals in painstaking detail the tragedies, sorrows and injustices
inflicted upon humanity by the Church. This exposé is a compelling and
passionate cry for human dignity and spiritual freedom).
1999: Douglas Lockhart xuất bản tác phẩm
Cái Mặt Đen Tối Của Thượng Đế (The Dark Side of God) với lời giới thiệu
như sau:
"Giáo hội Ki-tô (Ca-tô) tự nhận là
thừa hưởng trực tiếp từ Giê-su quyền năng tinh thần như được viết trong Phúc
Âm. Nhưng thực ra có phải là một sự chuyển giao quyền lực một cách êm ả từ
Giê-su cho Phê-rô và từ Phê-rô cho Giáo hội hay không? Hay đó chỉ là một chiến
dịch tuyên truyền, ngụy tạo, và lừa dối lâu dài đã che đậy bản chất thực sự của
các biến cố. Cuốn sách mới,
có tác dụng làm cho chúng ta suy nghĩ, về nguồn gốc Ki Tô Giáo, đưa ra một họa
đồ về sự theo đuổi quyền lực không ngừng của Giáo hội , từ lúc đầu cho đến ngày
nay. Trong sự phân tích hấp dẫn và thường gây ngỡ ngàng về niềm tin trong Ki
Tô Giáo, cuốn sách này khảo sát từ đâu mà Giê-su, người xứ Nazareth, đã được thổi
phồng lên quá mức hoàn toàn xa với thực tế thường ngày."
(The Christian Church claims to inherit its spiritual authority directly
from Jesus through the teaching of the gospels. But was there really a smooth
transfer of power from Jesus to Peter and thence to the Church? Or has a
long-term campaign of propaganda, forgery and deception concealed the true
nature of events? This thought-provoking new book on the origins of
Christianity charts the Church's relentless pursuit of power, from its
beginnings to the present day. In a compelling and often disturbing analysis of
Christian belief, it examines how Jesus the Nazarene was inflated into a figure
of cosmic proportions far-removed from everyday reality...)
Từ nội dung những tác phẩm trên, không còn nghi ngờ gì nữa, các triều
chính giáo hoàng cũng như giáo hội Ca-tô quả thật có một lịch sử đen tối, và
ngay cả Thượng đế của họ cũng có cái mặt đen tối của mình.
Giáo hoàng John Paul II đã chính thức thú nhận lịch sử giáo hội Ca-tô
Rô-ma có một mặt đen tối, và lịch sử đó đã chứa không ít bạo tàn đối với nhân
loại dưới nhiều hình thức. Lẽ dĩ nhiên, tuyệt đại đa số tín đồ Ca-Tô giáo Rô-ma
không hề biết đến cái mặt đen tối này, nhất là những tín đồ Việt Nam thì lại
càng ít biết hơn nữa. Bởi vậy, có những tín đồ Ca-Tô Việt Nam vẫn tiếp tục ca
tụng trên báo chí, đài phát thanh ở hải ngoại rằng "hội thánh công giáo vẫn
luôn luôn thánh thiện, công giáo và tông truyền".
Với
kinh nghiệm 2000 năm lừa dối thế giới, với khả năng tài chánh vô tận, với những
phương tiện truyền thông rồi rào, và với một đoàn cán bộ trung kiên (hồng y,
tổng giám mục, đức ông, giám mục và linh mục), những người chuyên vận dụng khả
năng trí thức của mình để lôi kéo quần chúng thấp kém vào vòng nô lệ tâm linh,
giáo hội Ca-Tô Rô-ma đã thành công cấy vào đầu tín đồ những niềm tin như "giáo
hội là một "hội thánh" thánh thiện, công giáo và tông truyền", "giáo hội tiền
phong trong việc tranh đấu cho nhân quyền, dân chủ, tự do", "giáo hội là hiện
thân của nền văn minh tốt đẹp Tây phương", "giáo hội mang hòa bình và sự hiểu
biết đến cho mọi dân tộc". Tất cả những điều tự nhận như trên của giáo hội
Ca-Tô Rô-ma đều chỉ là những sản phẩm tuyên truyền lừa dối đám tín đồ thấp kém,
vì lịch sử giáo hội đã chứng tỏ chúng hoàn toàn trái ngược với sự thực.
Sự
thực là như thế nào? Giáo Hội tuyệt đối không
phải là một "hội thánh" vì không có một hội thánh nào lại có thể gây ra nhiều
tội ác như “hội thánh Ca-Tô”. Giáo hội cũng chẳng có gì có thể gọi là "công
giáo" hay "tông truyền" vì tất cả đều trái ngược với những điều viết trong Thánh
kinh. Giáo hội là một định
chế tôn giáo độc tài sánh ngang với Hồi giáo, Do Thái giáo, do đó tuyệt đối
không có một ý niệm gì về dân chủ và tự do.
Giáo hội là một tổ chức không có một đóng góp nào đáng kể cho nền văn minh Tây
phương, trái lại trong suốt 2000 năm đã dùng mọi nỗ lực và thủ đoạn để ngăn chận
sự tiến bộ trí thức của nhân loại, đưa Tây phương vào một thời đại man rợ và
đen tối trí thức (the age
of barbarism and intellectual darkness) kéo dài hơn 1000 năm. Và sau cùng, Giáo
hội chưa hề mang hòa bình và sự hiểu biết đến bất cứ nơi nào trên thế giới.
Bất cứ giáo hội truyền đạo đến đâu là ở đó xảy ra chiến tranh, hận thù, và
chia rẽ, và các tín đồ bị lùa vào cảnh nô lệ tâm linh, ngu dân dễ trị. Tất cả những sự thực này sẽ được chứng
minh trong những chương tới.
Lời
thú nhận của giáo hoàng John Paul II ở trên là bằng chứng hùng hồn nhất để phủ
bác những điều tự nhận của giáo hội. Chỉ tội nghiệp cho đám con chiên thấp kém
ở dưới đã bị mê hoặc bởi bộ mặt giả dối của giáo hội và những hứa hẹn hoang
đường giáo hội đưa ra, đám người xấu số vì thiếu hiểu biết cho nên cam tâm tình
nguyện làm cái đáy của một kim-tự-tháp, để cho một số người vô hạnh ngồi trên
chóp đỉnh, ngự trị trên đầu trên cổ.
Đến
đây, chúng ta cần hiểu rõ ý nghĩa của từ "thấp kém" hay "ngu đần" (ignorant) mà
các học giả Tây phương thường dùng. Thấp kém và
ngu đần ở đây không hẳn chỉ có nghĩa là ít học hay vô học, mà còn có nghĩa không
dứt bỏ được những tín lý đã không còn giá trị, không biết đến những diễn biến
ngay chính trong nội bộ giáo hội, và không theo kịp sự tiến bộ trí thức của nhân
loại về vấn đề tôn giáo, bất kể là bằng cấp ngoài đời cao như thế nào, thuộc
ngành nào. Phật giáo cũng có
một từ tương đương, "Ngu si vô tri'", không chỉ có nghĩa là ít học hay vô học,
mà còn là không nhìn được vạn pháp như chúng là như vậy (to see things as they
really are) cho nên nhận giả làm chân.
Vì
không biết đến sự thực lịch sử của giáo hội, không biết đến thực chất đạo đức
của giới chăn dắt con chiên, từ giáo hoàng trở xuống tới các linh mục, và vì đã
bị cấy vào đầu óc từ nhỏ những điều "giáo hội dạy rằng", và nhất là đã được nhào
nặn và đóng khuôn trong giáo điều phải "quên mình trong vâng phục" cho nên những
tín đồ Ca-Tô Việt Nam luôn luôn có quan niệm rằng mọi điều trái ngược với những
lời "giáo hội dạy rằng" đều thuộc loại "chống Ca-Tô", bắt nguồn từ sự "thù ghét
Ca-Tô" v..v.. mà không bao giờ nghĩ ra rằng, chính cái lịch sử ô nhục của Ca-Tô
giáo Rô-ma đã "chống Ca-tô" hơn ai hết. Họ cũng không tự đặt cho mình một câu
hỏi: "Nếu giáo hội Ca-Tô thực sự thánh thiện, tông truyền" thì tại sao người ta
lại phải thù ghét hay chống giáo hội. Ở trên cõi đời này, có ai lại đi chống
những cái gì thánh thiện, tốt lành bao giờ. Người ta chỉ chống những cái xấu
cái ác không phù hợp với những tiêu chuẩn luân lý đạo đức xã hội, thí dụ như
những tổ chức như Mafia hay những tổ chức băng đảng tôn giáo đồng loại. Họ cũng
không hề biết rằng, tuyệt đại đa số những tác phẩm mà họ cho là thuộc loại
"chống Ca-Tô" lại do chính những tác giả ở trong giáo hội gồm từ các hồng y trở
xuống, và do những tín đồ Ki-Tô Giáo ở trong môi trường đại học Âu Mỹ như giáo
sư đại học, chuyên gia về tôn giáo v..v.. viết, những bậc trí thức lương thiện,
không thể bán rẻ lương tâm để rao truyền những điều mê tín, phi lý trí, phản
khoa học, ngược thời đại v..v.. Họ đưa ra những sự thực lịch sử của giáo hội
không có nghĩa là họ chống tôn giáo của họ, mà chỉ có mục đích khai sáng tâm trí
người dân để cho họ biết rõ đâu là sự thực, nhất là khi những sự thực này đã
được chính giáo hoàng và giáo hội thú nhận. Cho nên, thật ra các tín đồ Ca-Tô
cần phải cám ơn những người đã giúp họ tìm hiểu sự thực, kéo họ ra khỏi vòng u
mê tăm tối, vòng nô lệ tâm linh, và những giáo điều đã hạ thấp họ xuống hàng súc
vật (con chiên), bảo đâu nghe đó, của một số người tự ban cho mình những thần
quyền hoang đường để hưởng những quyền lợi thế tục trên đám tín đồ thấp kém.
Chương này được viết ra không ngoài mục đích trình bày cùng độc giả cái bộ mặt
đen tối của lịch sử giáo hội Ca-tô, một bộ mặt mà các giới chức cao cấp nhất
trong Ca-tô giáo Rô-ma như giáo hoàng, hồng y.. đều đã biết rõ, và đã thú nhận,
nhưng tuyệt đại đa số tín đồ thấp kém ở dưới vẫn không hề biết đến, vì giáo hội
luôn luôn dùng đủ mọi cách để bưng bít, dấu kín những sự thực lịch sử của giáo
hội, đồng thời dùng bộ máy tuyên truyền đưa ra cái bộ mặt "thánh thiện" không hề
có của giáo hội. Sự hiểu biết đầy đủ về mọi
khía cạnh lịch sử của giáo hội là một điều cần thiết trong thời đại này. Tuy nhiên, tôi cần phải nói trước rằng,
không ai có thể viết ra đầy đủ chi tiết cái lịch sử đen tối của Ki-tô giáo trải
dài suốt 2000 năm nay trong một cuốn sách. Cho nên, cuốn sách này chỉ thâu tóm
những nét chính của bộ mặt đen tối của lịch sử Ki-tô giáo, đặc biệt là lịch sử
Ca-tô giáo Rô-ma, hệ phái Ki-tô giáo ở vị thế độc tôn từ thế kỷ 4 đến thế kỷ 16,
thời điểm có cuộc cải cách của hệ phái Ki Tô phản đối định chế Ca-tô giáo
(Protestant reformation).
Ki Tô Giáo luôn luôn thổi phồng lên quá mức và quảng cáo cho cái bộ mặt
"thánh thiện" của mình, thường là không đúng sự thật. Tôi nghĩ, trong thời đại
này, mọi Ki-tô hữu (Christians) cũng như mọi người ngoại đạo cần phải biết thêm
đến cái mặt chính, cái mặt đen tối của lịch sử Ki-Tô giáo, để có thể quyết định
cho chính mình một con đường tâm linh sáng suốt và hữu ích cho bản thân và cho
nhân loại.
Như đã viết ở trên, Học giả Ca Tô Joseph L. Daleiden đã
tóm tắt lịch sử truyền bá đạo Ca Tô Rô Ma qua nhận định như sau trong cuốn
The Final Superstition:
"Nói
tóm lại, những bằng chứng tràn ngập cho thấy sự truyền bá Ki Tô Giáo trong thế giới
xưa và nay phần lớn dựa vào sự cưỡng bách, bạo hành và đàn áp. Xuyên suốt lịch sử, từ những cuộc diệt trừ những
người lạc đạo ngay từ thuở ban đầu của Giáo hội, cho tới những cuộc thánh chiến,
những tòa án xử dị giáo, sự trấn áp những nền văn hóa khác trên khắp thế
giới, Ki Tô Giáo đã
chứng tỏ những tiêu chuẩn có tính cách hủy diệt và chống loài người của tôn giáo
này."
(In summary, the evidence is overwhelming that the
propagation of Christianity in both the Old World and the New was due in large
measure to coercion, persecution and suppression. Throughout its history, from
the earliest purges of heretics, through the crusades, the Inquisition, and
repression of other cultures throughout the world, Christianity has demonstrated
its destructive antihuman values.)
Nhận định trên đúng hay sai? Phải chăng đó chỉ là những
lời vô căn cứ của một người "chống đạo Ca Tô", một "kẻ thù của giáo hội"
v...v... như giáo hội thường lên án những người viết ra những sự thật về Ca Tô
Giáo RôMa? Hi vọng những chi tiết sau đây sẽ làm sáng tỏ vấn đề.
Đại cương thì, đọc lịch sử GiaTô LaMã Giáo, chúng ta
thấy rằng trong suốt gần 2000 năm nay, tôn giáo này chưa bao giờ hòa hợp với bất
cứ một tôn giáo nào khác, kể cả những tôn giáo cùng thờ một Chúa KiTô. Khi ở vị thế có thể nắm quyền thế gian thì tôn giáo này đã làm đủ mọi
cách, dùng mọi quyền lực và thủ đoạn, thường là bất nhân tàn ác, để bành trướng
bằng sắt máu, tiêu diệt các tôn giáo khác. Đi tới địa phương nào, tôn giáo
này cũng tự cho mình là chân thật duy nhất, cao quý nhất, trong khi thực chất
chỉ là một tôn giáo đầy mê tín dị đoan, thấp kém về vấn đề đạo đức, luôn luôn áp
dụng sách lược phỉ báng các tôn giáo và truyền thống dân tộc địa phương cũng
như tìm cách tiêu diệt các nền văn hóa địa phương để thay vào đó bằng một nền
văn hóa hẹp hòi, tàn độc của CaTô giáo Tây phương. Kinh nghiệm Việt Nam cho thấy, giáo sĩ Alexandre de
Rhodes, khi tới Việt Nam truyền đạo, đã xuyên tạc, mạ lỵ cả ba tôn giáo lớn ở
Việt Nam là Phật Giáo, Khổng Giáo, và Lão Giáo, gọi đức Phật, Khổng Tử bằng
những danh từ thiếu văn hóa. (Xin đọc "Phép Giảng 8 Ngày..." của Alexandre de
Rhodes). Lịch sử Ca Tô Giáo Rô Ma cho chúng ta thấy giáo hội Ca Tô Rô Ma đã
phạm nhiều tội ác trong quá trình bành trướng và truyền bá đạo. Những tội ác
này, theo sự phân tích của đa số học giả ngày nay, là những vết nhơ không thể
gột sạch được trong lịch sử Ca Tô Giáo Rô Ma, dù gần đây Giáo hội đã cố
gắng đánh lạc hướng dư luận thế giới bằng những chiêu bài hữu danh vô thực như
tranh đấu cho tự do, bình đẳng, nhân quyền, và xưng thú 7 núi tội lỗi cùng nhân
loại v..v.. để thế giới quên đi không nghĩ tới cái lịch sử đen tối của Ca Tô
Giáo. Sau đây tôi sẽ lược duyệt năm tội ác chính của Ca Tô Giáo đối với nhân
loại.
3.1.
NÚI TỘI ÁC THỨ NHẤT CỦA CÔNG
GIÁO:
NGĂN CHẬN SỰ TIẾN BỘ TRÍ THỨC
CỦA NHÂN LOẠI.
“Giáo hội Công giáo đã có những tác động tàn phá trên
xã hội. Khi Giáo
hội nắm được vai trò lãnh đạo, hoạt động trong những ngành y khoa, kỹ thuật,
khoa học, giáo dục, lịch sử, nghệ thuật và thương mại đều sụp đổ. Âu Châu đi vào những Thời Đại Hắc Ám. Tuy Giáo hội vơ
vét được một tài sản to lớn trong những thế kỷ đó, hầu hết những gì định nghĩa
cho văn minh đã biến mất.”
(Helen Ellerbe, The Dark Side of Christian History,
p. 50: The [Catholic] Church had devastating impact upon society. As the Church
assumed leadership, activity in the fields of medicine, technology, science,
education, history, art and commerce all but collapsed. Europe entered the Dark
Ages. Although the Church amassed immense wealth during these centuries, most
of what defines civilization disappeared.)
Nhận định của Helen Ellerbe không sai nếu chúng ta biết
đến chủ trương của Giáo hội Công Giáo qua những hành động ngăn chận sự tiến bộ
trí thức của nhân loại như:
- Giữ độc quyền giáo dục với chính sách làm cho nhân dân ngu muội, tối tăm.
- Đốt
sách vở ghi chép những kiến thức cổ xưa của nhân loại.
-
Ngụy tạo và viết lại lịch sử với mục đích chứng thực đức tin của Công Giáo.
- Hủy
diệt các nền văn hóa phi Ki-Tô.
Trước khi đi vào chi tiết những điểm trên, tưởng chúng ta
cũng nên biết chút ít về xuất xứ của Công Giáo. Khởi đầu, Công Giáo chỉ là một
hệ phái trong nhiều hệ phái theo nhân vật Do Thái mà họ gọi là Giê-su Ki Tô.
Trong mấy thế kỷ đầu, Công Giáo càng ngày càng có nhiều tín đồ, không phải vì
những giáo lý dạy về luân lý đạo đức, mà vì sự khao khát một cuộc sống tốt đẹp
hơn trong một đời sau của tuyệt đại đa số người dân cơ cực thời bấy giờ. Vào
thời điểm hạ bán thế kỷ I, hầu hết dân chúng sống trong vùng thống trị của đế
quốc La Mã là những người nghèo khổ, nô lệ, ít học hay vô học. Họ sống trong
tuyệt vọng, không còn có thể trông ngóng được gì trong cuộc sống trên cõi đời
của họ. Có nhiều tôn giáo phát triển trong quần chúng nhưng họ chỉ muốn một tôn
giáo mang đến cho họ sự an ủi và hi vọng. Công Giáo khai thác sự khao khát này
và hứa hẹn cùng họ một cuộc sống tốt đẹp hơn trên Thiên Đường sau khi chết, nếu
họ tin vào Chúa Giê su, theo giáo thuyết của Thánh Phao Lồ. Đây là một niềm hi
vọng và an ủi lớn đối với họ cũng như của đa số tín đồ Công Giáo ngày nay đang
sống ở Phi Châu, Nam Mỹ, Phi Luật Tân và một vài vùng ở Việt Nam v...v..., nhất
là trong những ốc đảo nghèo khổ (Hobley, p. 17: Most people in the empire were
poor, enslaved and unhappy. Many religions had spread among them but the people
wanted one which gave them comfort and hope. Christianity provided this for it
promised its believers a happy life in heaven after death. So Christianity
grew.)
Các hệ phái khác cùng theo Chúa Giê su , nhưng thường
không có đồng quan điểm với những tín điều, những sự kiện lịch sử, vai trò và
khả năng của Chúa Giê su, thần quyền của Giáo Hoàng và hàng Giáo phẩm Công Giáo
v..v... mà Giáo hội Công Giáo La Mã đưa ra. Điển hình là phái Tự Ngộ Ki Tô
(Gnostic Christianity) theo chủ thuyết tự chứng, đạt giải thoát qua kiến thức và
sự hiểu biết sâu xa về thực tại, cùng kinh nghiệm tu chứng bản thân. Tên phái
này lấy từ gốc Hi Lạp, Gnosis, có nghĩa là kiến thức (knowledge) thâu thập được
do nội quán. Từ thập niên 1980 tới nay đã có nhiều công cuộc khảo cứu về hệ
phái Tự Ngộ Ki Tô.
Hệ phái Tự Ngộ đã chê trách "những người (trong Công Giáo
) tự xưng là Giám Mục và Trợ Tế, làm như họ đã được Thượng đế ban quyền cho..."
và gọi những người tự xưng một cách trơ tráo này là "những con kênh không có
nước." (The Christian sect known as the Gnostics chided those who "call
themselves bishops and also deacons, as if they had received their authority
from God..." and called those who made such audacious claims "waterless canals."
, (Joseph L. Daleiden, Ibid., trg. 52)).
Nhưng hiển nhiên là chủ thuyết Tự Ngộ theo con đường vận
dụng sự hiểu biết không thích ứng đối với lớp dân chúng thấp kém, ít học, hay vô
học, cho nên hệ phái này không phát triển được sâu rộng trong quần chúng. Hệ
phái Tự Ngộ này bị giáo hội tự phong là chính thống Ki Tô (nghĩa là Công Giáo La
mã cho tới thế kỷ 16), kết án là lạc đạo hay dị giáo (heretic), vì không chịu
mù lòa tin bướng tin càn như những người Công Giáo. Và khi giáo hội Công
Giáo liên kết với, hoặc nắm được, quyền lực thế gian, thì tìm cách tiêu diệt hệ
phái này và tất cả những tín ngưỡng không thuận theo chủ trương làm cho dân
chúng ngu đần, tối tăm của Công Giáo.
Chủ thuyết của hệ phái Tự Ngộ Ki Tô đối nghịch với những
giáo lý ngụy tạo của Công Giáo và phủ nhận quyền lực của giới giáo sĩ cho nên
thật là dễ hiểu khi ta thấy Công Giáo La Mã Giáo đã phải tìm đủ mọi cách để tiêu
diệt hệ phái Ki Tô này. Có 3 lý do chính để Giáo hội Công Giáo thù ghét hệ
phái Tự Ngộ.
Thứ nhất, hệ phái Tự Ngộ chủ trương sự tự chứng là cứu
cánh chung cùng của con người. Biết rõ bản thân có nghĩa là biết rõ Thượng đế
vì "cái ngã và Thượng đế là một" . Vì con đường đi tới tự chứng căn bản là qua
phương pháp nội quán cho nên hệ phái Tự Ngộ không chấp nhận một niềm tin mù
quáng, điều kiện cần để được giải thoát, theo thuyết rao giảng bởi Thánh Phao
Lồ. Hệ phái Tự Ngộ cho rằng
"tin vào các bí tích là lối suy
nghĩ ngây thơ và ma thuật"
(Faith in the sacraments shows naive
and magical thinking) và cũng cho rằng
"ý tưởng về Chúa trở lại cõi trần là vô nghĩa" (They thought the idea of the Second Coming of Christ
was nonsense..). Những niềm tin này của phái Tự Ngộ là một sự đe dọa đối với
hàng Giáo phẩm Công giáo vì chúng trái ngược với những giáo lý mà hàng Giáo Phẩm
Công giáo đưa ra, và hoàn toàn phủ bác vai trò độc nhất nắm trong tay chân lý,
và giữ độc quyền ban phát ân sủng cho tín đồ, của hàng Giáo phẩm Công giáo.
Thứ nhì, theo Phúc Âm của Philip (The Gospel of Philip)
thì Chúa Giê-su chỉ là một người như mọi người thường. Trong Phúc Âm này
có đoạn mô tả tính người của Chúa như sau:
"Người luôn luôn đi bên Chúa là Mary Magdalene. Chúa
yêu thương nàng hơn tất cả các đệ tử khác và thường hôn môi nàng. Các đệ tử
khác lấy làm phật ý về việc này..."
(The companion of the Savior is Mary Magdalene. But
Christ loved her more than all the disciples and used to kiss her often on her
mouth. The rest of the disciples were offended...)
Một khi đã phủ nhận tư cách thần thánh của Giê su, hệ
phái Tự Ngộ phủ nhận luôn cả chuyện Đức Mẹ Đồng Trinh và chuyện Chúa sống lại
và bay lên trời, nghĩa là những tín lý căn bản của Công Giáo.
Thứ ba, hệ phái Tự Ngộ chủ trương con người thì bình đẳng
và thường mời giới phụ nữ giảng đạo với tư cách của một linh mục. Trái lại,
trong Công Giáo, theo những bức thư tông đồ của Thánh Phao Lồ thì phụ nữ bị liệt
xuống hạng thấp kém so với nam giới, và Giáo hội Công Giáo vẫn duy trì sự kỳ
thị này cho tới ngày nay. Giáo Hoàng John Paul II ra sắc lệnh khẳng định việc
cấm tấn phong phụ nữ làm linh mục, và Giáo hoàng đương nhiệm, Benedict XVI, vẫn
duy trì sắc lệnh này. Trong kinh Trí Tuệ của Đức Tin (Faith Wisdom) của phái Tự
Ngộ có ghi Mary Magdalene, người yêu của Chúa Giê-su, phàn nàn như sau:
"Phê-rô làm tôi ngần ngại, tôi sợ hắn, vì hắn ghét phái nữ" (The author of
the Gnostic text Faith Wisdom has Mary Magdalene complain, "Peter makes me
hesitate, I am afraid of him, because he hates the female race.")
Nói tóm lại, vì phủ nhận những chuyện hoang đường trong
Thánh Kinh như Đức Mẹ Đồng Trinh, vai trò thần thánh của Giê su, vai trò cứu rỗi
của Giê su, chuyện Giê su sống lại và bay lên trời, và nhất là phủ nhận quyền
lực thần thánh tự phong của hàng Giáo phẩm Công Giáo, bác bỏ một đức tin mù
quáng, và chủ trương con người bình đẳng, mà hệ phái Tự Ngộ bị Giáo hội Công
Giáo tiêu diệt.
Đúng như Helen Ellerbe đã nhận định ở trên, khi đại đế
Constantine trong thế kỷ 4 theo Ki Tô Giáo và lập Ki Tô Giáo làm quốc giáo thì
tôn giáo này nắm được địa vị và quyền hành tuyệt đối trên thế gian. Và từ đó
Công Giáo đã phát triển, và với một định chế độc tài về tư tưởng và tín ngưỡng,
giáo hội Công Giáo đã đưa Âu Châu vào trong những thời đại “hắc ám” (The Dark
Ages), kéo dài suốt 1000 năm, từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 15. Thời gian mười thế kỷ
này đã được các học giả, kể cả một số học giả Công Giáo, công nhận là "thời đại
Hắc Ám" (Dark Ages), đó chính là
"thời đại của sự man rợ và đen
tối trí thức" (The ages of barbarism and intellectual darkness; (Grolier
Electronic Publishing 1997)). Sở dĩ thời đại này có tên như vậy vì dựa vào
quyền lực thế gian, giáo hội Công giáo đã giữ độc quyền giáo dục quần chúng, áp
đặt sự ngu xuẩn, đen tối trí thức và bạo hành của giáo hội trên quần chúng ở Âu
Châu, như chúng ta sẽ thấy trong phần sau đây.
I. Về Văn Hóa:
Chủ
trương tiêu diệt tất cả những tín ngưỡng khác của Công Giáo giáo bắt đầu bằng
một chính sách man rợ và phản tiến hóa nhất của nhân loại: cấm mọi thảo luận
triết lý trong dân gian; đốt tất cả mọi sách vở, sử liệu, chứng tích lịch sử
liên hệ đến các tín ngưỡng khác và liên hệ đến những sự thật về KiTô giáo và
nhân vật Giê-Su; và thay thế vào đó cái ý hệ độc tôn "man rợ và đen tối trí
thức" của Công Giáo Giáo bằng những tư liệu ngụy tạo, những giáo điều dựa trên
quyền lực v...v...
Về sự kiện này, trong cuốn "Những dối trá và huyền
thoại của Thánh Kinh" ("Deceptions and Myths of the Bible", trg. 444)
LLoyd M. Graham đã viết như sau:
"Sự hủy
diệt mọi chứng tích về phái Tự Ngộ và những nguồn tài liệu về đa thần
là "việc làm đầu tiên" của KiTô giáo. Chính các nhà truyền giáo đã khởi sự, ở
Antioch, như được nói đến trong sách "Công Vụ các Sứ đồ" (Acts).. Do lệnh của
giáo hội Công Giáo La Mã, tất cả
kinh sách của những người ủng hộ phái Tự Ngộ đều bị đốt, cũng như 36 cuốn của
Porphyry (Porphyry là một triết gia (232-305) chủ trương triết lý là phương
tiện giải thoát và nhấn mạnh đến lối tu khổ hạnh để tinh khiết hóa con người;
TCN). Giáo hoàng Gregory VII đốt thư viện Apollo chứa đầy kiến thức cổ xưa.
Hoàng đế Theodosius đốt sạch 270000 tài liệu về học phái huyền bí vì những tài
liệu này chứa những căn bản giáo lý của ngũ Kinh.
Sự hủy
diệt văn hóa này vẫn tiếp tục sau khi những nhà lập giáo đã qua đời; những tín
đồ cuồng tín mà họ đào tạo ra tiếp tục công việc này: đoàn Thập tự quân đốt tất
cả sách vở mà họ có thể kiếm ra được, kể cả những cuộn nguyên bản Thánh thư Do
Thái. Năm 1233 những tác phẩm của Maimonides
(một
triết gia Do Thái xuất sắc, 1135-1204; TCN) bị đốt đi cùng với 12000 cuốn
của Kinh Talmud
(Thánh
kinh của Do Thái Giáo. TCN). Năm 1244, 18000
cuốn sách đủ mọi loại bị hủy. Theo Draper, Hồng Y Ximenes đã đốt 80000 bản văn
của Ả Rập ở công trường Granada. Ở Tân Thế Giới, toàn bộ kiến thức cổ xưa
bị những người KiTô Tây Ba Nha phá hủy cùng với đền đài chứa đựng những kiến
thức này.
Sau khi đã
phá hủy mọi chứng tích, những nhà lập giáo KiTô đầu tiên đã có thể thay thế
những kiến thức cổ xưa này bằng những điều vô nghĩa của họ. Và để chứng minh
những điều vô nghĩa này, họ đã thay đổi lời lẽ và gài vào đó những câu không có
trong những nguyên bản... Về cùng một chủ đề này, Massey viết như sau: "Trong
bốn thế kỷ đầu, họ đã hủy bỏ những tài liệu quan trọng nhất về mọi sự hiểu biết
trung thực về nguồn gốc thực của sự mê tín trong KiTô giáo. Những huyền thoại
được viết và in ra như là lịch sử nhân loại, mọi tư tưởng khác đều bị dẹp bỏ hay
cưỡng bách phải chấp nhận sự gian dối"...
Theo giáo
lý của họ thì "máu của Chúa KiTô đã rửa sạch tội lỗi của thế giới," nhưng tội
lỗi vẫn còn với chúng ta ngày nay. Cái mà thực sự bị rửa sạch chính là sự lành
mạnh của thế giới. Với thời gian, giáo lý của họ đã làm tâm thức Tây phương mê
mẩn đến nỗi Agibard ở Lyons phải viết như sau: "Cái thế giới bất hạnh này nằm
dưới sự chuyên chế điên rồ, những điều mà người KiTô tin, thực ra là những điều
vô nghĩa đến độ từ xưa tới nay không ai có thể làm cho người ngoại đạo tin
được". Nếu độc giả không tin và muốn có một thí dụ thì chúng tôi xin cống
hiến một chuyện trong KiTô giáo về Thánh John trong phúc âm. Theo lịch sử các
Thánh thì John, khi đã rất già, làm cho hoàng đế Domitian giận. Để trừng phạt
John, Domitian sai người ném John vào một cái vạc chứa dầu và nhựa thông. Và
khi người ta châm lửa, dầu bắt đầu sôi thì đám đông ở ngoài nghe một
tiếng hát trong ngọn lửa. Khi vạc dầu sôi cạn hết thì John vẫn còn
sống và không hề hấn gì. Jerome, Eusebius, Tertullan, tất cả đều kể lại
cái phép lạ này và những điều hoang đường trong đó. Và nay, nếu những tín đồ
KiTô xuất sắc có thể tin được sự vô lý này thì họ có thể tin bất cứ cái gì, ngay
cả Thánh Kinh."
1
Trong cuốn “Cái Mặt Đen Tối Của Lịch Sử Ki Tô Giáo” (The Dark Side of
Christian History), Helen Ellerbe cũng viết, trang 46, 48:
Khi Giáo hội [Công Giáo] nắm thêm quyền lực, người Ki-Tô [Công Giáo]
đã đóng cửa các trung tâm giáo dục và đốt sách vở cũng như toàn thể các thư
viện. Giáo hội đốt một số rất lớn những tài liệu văn học. Năm 391, người Công
Giáo thiêu rụi một trong những thư viện lớn nhất hoàn cầu ở Alexandria. được
biết là chứa 700000 tác phẩm. Tất cả những sách của hệ phái Tự Ngộ, 36 cuốn của
Porphyry, những tác phẩm của 27 học phái huyền bí, và 270000 tài liệu cổ xưa thu
thập bởi Ptolemy Philadelphus đều bị đốt sạch. Giáo dục cho người ở ngoài Giáo
hội bị cấm. Những trung tâm giáo dục cổ xưa đều bị đóng cửa.
Giáo hội chống học văn phạm và tiếng La-Tinh. Giáo hoàng Gregory I chống học
văn phạm, ông ta còn lên án giáo dục nào không phải là giáo dục cho giới giáo sĩ
là điên rồ và xấu xa. Ông ta cấm tín đồ không được đọc Kinh Thánh, ra lệnh đốt
thư viện Palatine Apollo để những văn học thế tục không làm lãng trí tín đồ
trong việc chiêm ngưỡng thiên đường.
Sau nhiều năm các tín đồ Công giáo đi phá hủy sách vở và thư viện, Thánh John
Chrysostom, Giáo Phụ nổi tiếng của Giáo hội, hãnh diện tuyên bố, “Mọi dấu vết về
văn học và triết lý cổ của thời trước đã biến mất khỏi mặt trái đất.”
2
Sau
đây là một tài liệu khác về một số những hành động của giáo hội Công Giáo khi
giáo hội nắm được quyền lực thế gian (Joseph D. Daleiden, The Final
Superstition, trg. 60):
"Không có
một trích dẫn thống kê đơn thuần nào có thể nói lên vô lượng những sự ác ôn mà
giáo hội Công Giáo LaMã đã làm nhân
danh Thượng đế. Từ khi mà các triều đại giáo hoàng cấu kết quyền lực với chính
quyền trong thế kỷ 5 cho tới công cuộc Phục Hưng, cái áo vô minh và mê tín đã
phủ lên Âu Châu. Ánh sáng tự do đã tắt ngấm, Dân La Mã cổ xưa (không phải
là dân La Mã dưới quyền thống trị của Giáo hội Công Giáo. TCN) đã có những
thư viện chứa 500000 cuốn sách, thời kỳ từ năm 500 tới năm 1000 ở Âu Châu dưới
quyền lực KiTô không có một thư viện nào có được hơn 600 cuốn sách. Sự tiến bộ
khoa học, đặc biệt là về y học, hoàn toàn ngưng trệ. Văn hóa con người thoái
hóa đến mức tàn bạo.
Thật là mỉa
mai, chính những cuộc Thánh chiến chống dân Hồi giáo đã rọi một tia sáng trí
thức qua cái mờ tối của vô minh và mê tín. Không như những dân KiTô tìm cách
tiêu diệt mọi kiến thức không hợp với thần thuyết của họ, những người theo Hồi
giáo đã gìn giữ trí tuệ của dân Hi Lạp cổ xưa. Hơn nữa, họ đã có nhiều tiến bộ
đáng kể về toán học, triết học, và khoa học. Khi những thập tự quân của Giáo
hội Công Giáo La Mã trở về từ miền Đông họ đã mang về cùng với những chiến lợi
phẩm những hạt giống kiến thức mà sau này đưa đến công cuộc Phục Hưng. Song
song với hàng đống những đồ cướp đoạt được và những thánh tích giả mạo,
những thập tự quân cũng mang về theo nghệ thuật và văn học của cổ Hi Lạp. Những
tác phẩm của các triết gia Hi Lạp mà giáo hội Công Giáo La Mã đã dẹp đi
từ nhiều thế kỷ trước, nay lại xuất hiện. Một vài triết gia như Plato và
Aristotle được đưa vào trong giáo thuyết của giáo hội. Thật vậy, những tác phẩm
của Thomas Aquinas, đặc biệt là những chứng minh về sự hiện hữu của Thượng đế,
căn bản là của Aristotle được sửa lại thành mới. Nhưng quan trọng hơn là, về
sau này, triết lý nhân bản của Hi Lạp đã nảy nở trong đầu óc của những người đau
lòng mà nhận ra sự vô ích của những suy đoán thần học cùng sự xấu ác của những
tín điều mà giáo hoàng đưa ra. Kết quả là, chính cái nền tảng trí thức và độc
tài về đạo đức của Giáo hội bắt đầu lung lay." 3
Và Robert G. Ingersoll đã nhận định như sau (Ingersoll:
The Magnificent, Lewis, trg. 125):
"Khi Ki
Tô Giáo có được quyền lực thì tôn giáo này phá hủy mọi tượng thần mà nó có
thể đặt những bàn tay vô minh của nó lên trên. Nó hủy hoại và xóa bỏ mọi họa
phẩm, phá hủy mọi công sự đẹp đẽ, đốt sạch những tác phẩm Hi Lạp và La Tinh,
triệt tiêu mọi lịch sử, thơ phú, triết lý và thiêu rụi mọi thư viện mà nó có thể
đốt được. Kết quả là, màn đêm Trung Cổ đã phủ lên nhân loại. Nhưng vì tình cờ,
vì may mắn, vì bỏ sót, một vài tác phẩm đã thoát được sự ác liệt của cuồng nhiệt
tôn giáo, và những tác phẩm này trở thành cái nhân mà quả của nó là nền văn minh
của chúng ta ngày nay."
4
Những
tài liệu ở trên chứng tỏ Giáo hội Công Giáo, ngay từ đầu, đã theo đuổi chính
sách làm cho người dân ngu muội, tối tăm, để dễ bề kiểm soát đầu óc của đám tín
đồ thấp kém. Và chính sách này được kéo dài cho đến ngày nay. Giáo hoàng đương
nhiệm, Benedict XVI, nguyên là Hồng Y Thiết Giáp Ratzinger, đứng đầu Bộ Tín Lý
và Đức Tin của Công Giáo, đã cấm đoán hoặc cất chức những nhà thần học nổi tiếng
trên thế giới như Teilhart de Chardin, Edward Schillebeeckx, Hans Kung, Charles
E. Curran, Raymond Hunthausen, Uta Ranke-Heinemann v..v..., và nhất là những
nhà thần học trong phong trào Thần Học Giải Phóng, chủ trương phục vụ con người
thay vì phục vụ Thiên Chúa [thực ra là phục vụ Giáo hoàng], điển hình như
Leonardo Boff, Gustavo Gutíerez, Juan Luis Segundo v..v.. , cấm họ không được
viết sách hay dạy học trong những trường học Công Giáo, vì những người trên đã
có những ý kiến không phù hợp với những điều ngu dốt cũa “giáo hội dạy rằng…”,
và riêng trong cộng động giáo dân Việt Nam thì các Cha đều cấm đoán tín đồ đọc
những sách vở viết lên những sự thật lịch sử về giáo hội Công Giáo, đặc biệt là
những sách do Giao Điểm xuất bản, bằng những lời đe dọa thuộc thời bán khai đã
mất thời gian tính như dọa Chúa sẽ đọa đầy xuống hỏa ngục hay bị Giáo hội tuyệt
thông, không cho hiệp thông với Chúa để hưởng một cái bánh vẽ trên trời sau khi
chết. Ratzinger cấm thì cứ cấm, những nhà thần học nổi danh như Hans
Kung, Uta Ranke-Heinemann, Leonardo Boff v..v.. thản nhiên không coi sự cấm
đoán của Ratzinger vào đâu, vẫn tiếp tục dạy học và viết sách, vì trong thời đại
này, giáo hội không còn khả năng để đưa họ lên dàn hỏa nữa.
Đó là những gì Công Giáo đã làm với mục đích tiêu diệt
văn hóa của các tôn giáo, tín ngưỡng nào không phù hợp với những giáo điều và
niềm tin của Công Giáo. Nhưng, cũng như Tần Thủy Hoàng ở bên Trung Quốc,
không thể nào đốt hết được sách vở của thiên hạ, Giáo hội Công Giáo, dù đã
dùng mọi nỗ lực để hủy diệt những chứng tích lịch sử của các hệ phái Kitô khác
cũng không có cách nào thành công hoàn toàn. Do đó, vẫn có những tài liệu còn
sót lại, và ngày nay người ta đã tìm thấy nhiều tài liệu cổ xưa về sự thực của
KiTô giáo và con người thực của Giê-Su. Những tài liệu mới tìm thấy của phái Tự
Ngộ về Giê-su cho ta một cái nhìn khác hẳn về con người của Giê-su, một người
thường như mọi người khác, không có những đức tính thần thánh hay khả năng làm
phép lạ như những nhà lập giáo Công Giáo đã quảng bá.
Năm 1945, một người dân thường ở Ai Cập đã tình cờ đào
thấy ở Nag Hammadi, miền thượng Ai Cập, một cái chĩnh trong có chứa 52 bản kinh
văn của hệ phái Tự Ngộ. Nội dung các bản kinh văn này làm các nhà lãnh đạo Ki
Tô Giáo nói chung hoảng hốt và tìm cách ngăn chặn sự phổ biến những tài liệu
này. Cho tới hơn 30 năm sau các học giả mới có cơ hội tìm hiểu các bản kinh văn
này. Sở dĩ như vậy là vì, theo Elaine Pagels, giáo sư sử tại đại học Columbia,
Hoa Kỳ, tác giả tác phẩm nghiên cứu nổi tiếng Phúc Âm của phái Tự Ngộ (The
Gnostic Gospels,) những bản kinh văn này chứa nhiều thông tin về Ki Tô Giáo và
con người của Giê su đối ngược với những thuyết lý thần học của Ki Tô
Giáo nói chung, Công Giáo nói riêng:
Những bản
kinh văn này của hệ phái Tự Ngộ mô tả nhiều nhân vật và biến cố trong Tân
Ước, nhưng trên một quan điểm khác hẳn. Chúng chứng tỏ cho chúng ta thấy rằng,
giáo hội Ki Tô, ngay từ đầu đã bị phân hóa sâu rộng chứ không thống nhất như
chúng ta thường tin; rằng nhiều tín đồ của Chúa Ki Tô không đồng thuận về những
sự kiện trong đời sống của Giê su, về ý nghĩa những lời giảng dạy của Giê su,
hoặc về hình thức của giáo hội. Trong những bản kinh văn như Phúc Âm của Philip
và Phúc Âm của Thomas, Thomas được mô tả là em song sinh của Giê su, chúng ta
biết rằng một số tín đồ của hệ phái Tự Ngộ phủ nhận chuyện Giê su sống lại và bổ
nhiệm Phê-rô làm người kế vị; và nhiều tín đồ chất vấn về quyền hành của các
linh mục, tin rằng tư cách thần thánh là ở trong con người, con đường giải thoát
là con đường Tự Ngộ, và rằng, những bản kinh văn trên bắt buộc chúng ta phải xét
lại tận gốc quan điểm truyền thống về nguồn gốc và ý nghĩa của Ki Tô Giáo
5
Sau đây chúng ta sẽ đi vào thêm một số chi tiết về sự ngu
xuẩn của Giáo hội Công Giáo đã tác hại trên nhân loại như thế nào.
II. Về Y Học:
Năm 540, bệnh dịch phát khởi ở Âu Châu làm chết khoảng
10000 người mỗi ngày. Dân chúng hoảng sợ, kéo vào nhà thờ, tin tưởng sẽ được
Chúa cứu cho khỏi chết. Giáo hội giảng cho con chiên rằng: “Bệnh dịch là một
thiên tai do Thượng đế [của Công Giáo] gây ra (an act of God) và
là sự trừng phạt của Thượng đế về tội quần chúng không theo luật của Thượng đế”
[thật ra chỉ là luật của những bộ óc giáo sĩ thuộc thời bán khai đặt ra]. Trước
sự bất lực của nền y học phôi thai thời bấy giờ để đối phó với bệnh dịch, Giáo
hội tuyên bố là y học của Hi Lạp và La Mã là của bọn dị giáo (heretics) và quyết
định Giáo hội phải nắm giữ và áp dụng nền y học của Giáo hội trên quần chúng.
Phương pháp chữa mọi bệnh của Giáo hội vào những thế kỷ 5 và 6 là “lể máu”
(bleeding) trên một số điểm trong số 22 điểm trên cơ thể con người. Giáo hội
dạy rằng lể để làm cho chảy máu có thể ngăn chận sự làm độc mất quân bình (toxic
imbalance) trong cơ thể, ngăn chận sự ham muốn tình dục, và hồi phục lòng yêu
đời. Cho đến thế kỷ 16, phương pháp chữa bệnh này của Giáo hội đã làm chết
nhiều chục ngàn người mỗi năm. Khi bệnh nhân chết vì chảy máu, Giáo hội giải
thích là vì không chịu lể máu sớm hơn hoặc làm máu chảy chưa đủ. Giáo hội còn
dạy tín đồ phải coi rẻ mọi khía cạnh về thể xác con người, do đó không khuyến
khích tín đồ về vấn đề giữ vệ sinh cá nhân hay tắm rửa. Kết quả là bệnh tật lan
tràn khắp nơi. Trong nhiều trăm năm, thành thị và làng mạc đều bị tàn phá bởi
các bệnh truyền nhiễm, kết quả sự ngu dốt của Giáo hội về y học, và áp đặt sự
ngu dốt đó trên quần chúng.
III. Về Khoa Học:
Chính sách đốt sách vở, văn học cổ, và đàn áp sự theo
đuổi trí thức của nhân loại, đúng như Joseph D. Daleiden đã nhận định ở trên là
“Sự tiến bộ khoa học, đặc biệt là về y học, hoàn toàn ngưng trệ. Văn hóa con
người thoái hóa đến mức tàn bạo.”
Thật vậy, ngay từ thế kỷ 6 Trước Tây Lịch (TTL) hay trước thời đại thông thường
ngày nay (B.C.E. =Before Common Era), Pythagore đã có ý tưởng là Trái đất quay
xung quanh mặt trời. Đến thế kỷ 3 Trước Tây Lịch, Aristarchus đã đưa ra thuyết
mặt trời làm trung tâm vũ trụ (heliocentric theory) và Eratosthene đã đo được
chu vi của trái đất. Đến thế kỷ 2 Trước Tây Lịch, Hipparchus đã biết đến Kinh
Tuyến và Vĩ Tuyến của Trái Đất và tính được độ xiên của quỷ đạo hình ellip của
Trái đất. Nhưng khi Giáo hội Công Giáo nắm được quyền thế trên thế gian, và như
chúng ta đã biết, đưa Âu Châu vào Thời Đại Tối Tăm 1000 năm, thì nhân loại phải
chờ đến thế kỷ 16 mới có được Copernicus lập lại thuyết trái đất quay xung quanh
mặt trời. Khi Galileo, trong thế kỷ 17, chứng thực thuyết trái đất quay xung
quanh mặt trời thì ông ta bị Tòa Án Đạo xử dị giáo bắt ông ta phải rút lại lập
luận và giam ông ta tại nhà cho đến khi chết. 359 năm sau, Tòa Thánh dưới triều
John Paul II mới công khai thú nhận là Giáo hội đã sai lầm trong vụ xử Galileo.
Trí tuệ các bậc Thánh trong giáo hội có thể biểu hiện điển hình trong lời phán
của Thánh Augustine, tác giả nền thần học căn bản của Công Giáo:
Không thể có người ở phía bên kia của trái đất, vì
trong những hậu duệ của Adam, không có sắc dân nào được ghi trong Thánh Kinh
(It is impossible there should be inhabitants on the opposite side of the earth,
since no such race is recorded by Scripture among the descendants of Adam.)
Lẽ dĩ nhiên, Việt Nam là một sắc dân ở phía bên kia của
trái đất, không liên hệ gì tới Adam ở trong Thánh Kinh của Ki Tô Giáo, cho nên
dù Adam có sa ngã theo thuyết hoang đường của Ki Tô Giáo, thì người Việt Nam
cũng chẳng liên quan gì đến cái tội tổ tông của người Do Thái, và do đó chẳng
cần gì đến sự cứu rỗi của một người Do Thái có tên là Giê-su. Những tín đồ Công
Giáo Việt Nam đã bị kéo vào một niềm tin lừa bịp của nền thần học Ki Tô Giáo.
Họ cũng nên biết rằng Giê-su đã coi nhưng người không phải là Do Thái là đồ chó,
chỉ xứng đáng ăn những mảnh bánh vụn rơi vãi trên mặt đất. Tôi khuyên họ hãy
đọc kỹ đoạn Matthew 15: 21-28 trong Tân ước.
Trên đây là tóm tắt núi tội ác thứ nhất của Công Giáo đối
với nhân loại. Sách lược tiêu diệt nền văn hóa của các tôn giáo hoặc tín ngưỡng
khác đã được các Giáo hội Ki Tô, đặc biệt là Công Giáo La Mã, tiếp tục thi hành
một cách tàn bạo khi Ki Tô Giáo liên kết với những lực lượng thực dân đi xâm
chiếm các nước ở Phi Châu, Châu Mỹ La Tinh, Á Đông và ngay cả ở Mỹ châu. Ki Tô
Giáo đã thành công trong sách lược này ở khắp nơi nhưng hoàn toàn thất bại ở Á
Đông, trừ nước Phi Luật Tân. Tại sao, vì khi văn hóa Ki-Tô đụng phải những nền
văn hóa cao hơn ở Á Đông như Phật Giáo, Khổng Giáo, Ấn Độ Giáo thì Ki Tô Giáo
không thể thành công, dù có liên kết với chế độ thực dân như ở Việt Nam. Chủ đề
này sẽ được khảo luận trong một bài khác.
______________________________________________
1.
The destruction of all evidence of Christianity's gnostic and pagan source was
"the first work." It was the evangelists themselves who started it, in Antioch,
as stated in Acts... By order of the Church the books of the Gnostic Basilides
were burned, likewise Porphyry's thirty-six volumes. Pope Gregory VII burned the
Apollo library filled with ancient lore. Emperor Theodosius had 27,000 schools
of the Mysteries paprus rolls burned because they, contained the doctrinal basis
of the Gospels.
Nor did the destruction end with the Founders; the
fanatics they made carried on the work: the Crusaders burned all the books they
could find, including original Hebrew scrolls. ln 1233 the works of Maimonides
were burned along with twelve thousand volumes of the Talmud. In
1244 eighteen thousand books of various kind were destroyed. According to
Draper, Cardinal Ximenes "delivered to the flames in the square of Granada
eighty thousand Arabic manuscripts." On finding similar lore in the
New World, the Spanish Christians destroyed it and the temples that
contained it.
All evidence of source destroyed, the Christian Fathers
coulld now substitute their own absurdities. And to substantiate them they
altered words and inserted verses that did not exist in the original
texts... On this same subject Massey wrote thus: "..They had almost reduced
the first four centuries to silence on all matters of the most vital importance
for any proper understanding of the true origins of the Christian superstition.
The mythos having been at last published as a human history, everything else was
suppressed or forced to support the fraud."
According to their teaching "the blood of Christ
washed away the sins of the world," still with us. What it actually washed away
was the sanity of the world. In due time its doctrines so bedeviled the Western
mind that Agobard of Lyons wrote thus "The wretched world lies now under the
tyranny of foolishness; things are believed by Christians of such absurdity as
no on ever could aforetime induce the heathen to believe." Should the skeptical
reader wish a sample, we offer another tale of Christian martyrdom, this time
about the precursor of the curse, lohn of the Gospels. According to the saints,
John, when very old, incurred the anger of the Emperor Domitian. To punish
him, the latter had this holy man thrown into a caldron of oil and resin. A
fire was lit, and when the liquid began to boil the jeering crowd heard a voice
singing in the flames - the Christian Shadrach, etc. When the caldron boiled
dry, there was John still alive and quite unharmed. Jerome, Eusebius,
Tertullian all relate this miracle and practically all hagiographies contain it.
And now if these eminent Christians could believe this absurdity, they could
believe anything even the Gospels.
2. As
the Church grew more powerful, Christians closed academies and burned books as
well as whole libraries. The Church burned enormous amounts of literature. In
391 Christians burned down one of the world’s greatest libraries in Alexandria,
daid to have housed 700000 rolls. All the books of the Gnostic Basilides,
Porphyry’s 36 volumes, papyrus rolls of 27 schools of the Mysteries, and 270000
ancient documents gathered by Ptolemy Philadelphus were burned. Ancient
academies of learning were closed. Education for anyone outside the Church came
to an end.
The
Church opposed the study of grammar and Latin. Pope Gregory I objected to
grammatical study. He also condemned education for all but the clergy as folly
and wickedness. He forbade laymen to read even the Bible. He had the library
of the Palatine Apollo burned “lest its secular literature distract the faithful
from the contemplation of heaven.
After Christians had spent years destroying books and libraries, St. John
Chrysostom, the preeminent Greek Father of the Church, proudly declared, “Every
trace of the old philosophy and literature of the ancient world had vanished
from the face of the earth.
3.
No mere recitation of statistics can convey
the immeasurable evil that the Roman Catholic Church dispensed in God's name.
From the time that the papacy cemented its power with the state in the
fifth century until the Renaissance, the cloak of ignorance and superstition
was draped over Europe. The light of freedom was extinguished. It is no longer
fashionable to call them the Dark Ages, but indeed they were. The
ancient Romans had libraries of 500,000 volumes, there was not a library of over
600 volumes in Christian Europe the period 500 to 1000. Scientific advance,
especially in medicine, came to a screeching halt. Human culture regressed to a
more brutal level.
Ironically, it was the initiation of the Crusades
against the Muslims that shed a ray of intellectual light through the gloom of
ignorance and primitive superstitions. Unlike the Christians who sought to
destroy all knowledge that contradicted their theology, the Muslims had
preserved the wisdom of the ancient Greeks. Moreover, they had made significant
advances in Mathematics, philosophy, and science. When the Crusaders returned
from the East they brought with their spoils of war the seeds of knowledge
which, eventually, gave birth to the Renaissance. Along with the pile of
plundered Eastern artifacts and phony relics, the Crusaders also brought back
the art and literature of ancient Greece. The writings of the Greek
philosophers, which the Church had suppressed centuries before, reappeared. Some
of the philosophers such as Plato and Aristotle were accornmodated in Church
doctrine. Indeed, the writings of Thomas Aquinas, especially his demonstrations
for the existence of God, were basically a rehash of Aristotle. But more
importantly in the long run, Greek humanistic philosophy found fertile ground in
the minds of those who were painfully aware of the futility of theological
speculation and the evil of papal dogmatism. As a result, the very foundation
of the Church's intellectual and moral despotism would begin to shake.
4. When Christianity came in power it destroyed every statue
it could lay its ignorant hands upon. It defaced and obliterated every
painting; it destroyed every beautiful building; it burned the manuscripts, both
Greek and Latin; it destroyed all the history, all the poetry, all the
philosophy it could find, and reduced to ashes every library that it could reach
with its torch. And the result was, that the night of the Middle Ages fell
upon the human race. But by accident, by chance, by oversight, a few of the
manuscripts escaped the fury of religious zeal; and these manuscripts became
the seed, the fruit of which is our civilization today.
5.
These gnostic writings describe many of the
people and events found in the New Testament, but from a strikingly different
perspective. They show us that the early church, far from the unified body
we have assumed it to be, was deeply split from the beginning; that many
followers of Christ were not in agreement on the facts of his life, the meanings
of his teachings, or the form the church should take. From such texts as the
Gospel of Philip and the Gospel of Thomas, in which the apostle appears as
Jesus' twin, we learn that some gnostic Christians denied that Christ returned
in the flesh and appointed Peter his successor; that many gnostics
challenged priestly authority and believe instead in the presence of the divine
within the human; that the way to salvation was through self-knowledge...how
these extraordinary texts compel us to reconsider profoundly the traditional
view of the origins and meanings of Christianity.
3.2. NÚI TỘI ÁC THỨ HAI CỦA
CÔNG GIÁO:
NHỮNG CUỘC THẬP ÁC CHINH MANG
TÊN “THÁNH CHIẾN”
Theo đúng những lời dạy trong Kinh Thánh, Cuốn Từ Điển Bách Khoa của
Công Giáo (The Catholic Encyclopedia) định nghĩa các cuộc Thập Ác Chinh là
những cuộc chiến tranh để theo đuổi một lời nguyện, và nhắm vào những kẻ
không tin, nghĩa là, những người Hồi Giáo, người ngoại giáo, dị giáo, và những
kẻ bị tuyệt thông (lạc đạo hay rối đạo) [Crusades: wars undertaken in pursuance of a vow, and
directed against infidels, i.e. against Mohammedans, pagans, heretics, or those
under the ban of excommunication.]
Thật vậy, tất cả nguồn gốc và những sắc thái của những cuộc Thập Ác Chinh
(Crusades) mà người Công giáo gọi là “thánh chiến” (Holy wars) do Công giáo phát
động, kéo dài nhiều thế kỷ, máu đổ thành sông, xương chất thành núi, với hàng
triệu sinh mạng già trẻ lớn bé vô tội, có thể thấy rõ qua vài câu trích dẫn sau
đây từ cuốn “Thánh Kinh” của Ki Tô Giáo:
PHẢI TUYỆT ĐỐI TUÂN HÀNH CÁC ĐIỀU
RĂN, LUẬT LỆ CỦA THƯỢNG ĐẾ... KHI ĐỨC CHÚA TRỜI DẪN CÁC NGƯƠI VÀO VÙNG ĐẤT MÀ
CÁC NGƯƠI SẼ CHIẾM HỮU..CÁC NGƯƠI PHẢI TẬN DIỆT HỌ, KHÔNG ĐƯỢC LẬP GIAO ƯỚC,
KHÔNG ĐƯỢC THƯƠNG XÓT... KHÔNG ĐƯỢC GẢ CON GÁI MÌNH CHO CON TRAI HỌ, HOẶC CƯỚI
CON GÁI HỌ CHO CON TRAI MÌNH VÌ HỌ SẼ DỤ CON CÁI CÁC NGƯƠI THỜ CÚNG CÁC THẦN CỦA
HỌ MÀ BỎ CHÚA HẰNG HỮU.. CÁC NGƯƠI PHẢI ĐỐI XỬ VỚI HỌ NHƯ SAU: PHẢI PHÁ HỦY
NHỮNG BÀN THỜ CỦA HỌ, PHẢI ĐẬP PHÁ NHỮNG CỘT TRỤ THIÊNG LIÊNG CỦA HỌ, ĐẬP NÁT
NHỮNG HÌNH TƯỢNG BẰNG GỖ, ĐỐT SẠCH CÁC TƯỢNG CHẠM CỦA HỌ..
THƯỢNG ĐẾ (PHỤC TRUYỀN 6:17; 7:1-5)
LÚC KÉO QUÂN ĐẾN TẤN CÔNG MỘT THÀNH
NÀO, NẾU THIÊN CHÚA CHO CÁC NGƯƠI HẠ ĐƯỢC THÀNH ĐÓ, PHẢI GIẾT HẾT ĐÀN ÔNG TRONG
THÀNH, NHƯNG BẮT GIỮ ĐÀN BÀ, TRẺ CON, SÚC VẬT, VÀ CHIẾM GIỮ CÁC CHIẾN LỢI
PHẨM...BÊN TRONG LÃNH THỔ CHÚA BAN CHO, PHẢI DIỆT HẾT MỌI SINH VẬT. PHẢI TẬN
DIỆT DÂN HÊ-TÍT, A-MO, CA-NA-AN, PHÊ-RẾT, HÊ-VÍT VÀ GIÊ-BU NHƯ CHÚA ĐÃ TRUYỀN
DẠY. NHƯ VẬY HỌ KHÔNG CÒN SỐNG ĐỂ DỤ DỖ ĐỒNG BÀO HỌ LÀM TỘI ÁC, THỜ CÚNG THẦN
CỦA HỌ MÀ MANG TỘI VỚI CHÚA.
THƯỢNG ĐẾ (PHỤC TRUYỀN 20: 12-18)
HÃY MANG NHỮNG KẺ THÙ CỦA TA RA
ĐÂY, NHỮNG NGƯỜI KHÔNG MUỐN TA NGỰ TRỊ HỌ, VÀ GIẾT CHÚNG NGAY TRƯỚC MẶT TA.
GIÊ-SU (LƯU–CA: 19:27)
ĐỪNG TƯỞNG RẰNG TA XUỐNG TRẦN ĐỂ
MANG LẠI HÒA BÌNH TRÊN TRÁI ĐẤT. TA KHÔNG XUỐNG ĐÂY ĐỂ MANG LẠI HÒA BÌNH MÀ LÀ
GƯƠM GIÁO. VÌ TA XUỐNG ĐÂY ĐỂ LÀM CHO CON CHỐNG LẠI CHA, CON GÁI CHỐNG LẠI MẸ,
CON DÂU CHỐNG LẠI MẸ CHỒNG, VÀ KẺ THÙ CỦA CON NGƯỜI Ở NGAY TRONG NHÀ HẮN.
GIÊ-SU (MÃ-THI-Ơ: 10: 34-36)
Những câu trích dẫn ở trên, và nhiều câu khác cũng như nhiều chuyện
trong Thánh Kinh, đã là căn bản, không những chỉ cho sách lược truyền đạo của
Công giáo, điển hình là ở Việt Nam, cho những cuộc Thập Ác Chinh, mà còn cho cả
7 núi tội ác của giáo hội Công giáo mà giáo hoàng John Paul II cùng một số phụ
tá cao cấp trong tòa Thánh, trong đó có Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, về sau
được phong Hồng Y, đã công khai xưng thú với nhân loại ngày 12 tháng 3, 2000 tại
thánh đường Phê-rô.
Học
giả Công giáo Joseph L. Daleiden đã tóm tắt lịch sử truyền bá đạo Công giáo qua
nhận định như sau trong cuốn The Final Superstition:
"Nói tóm lại, những bằng chứng tràn ngập cho thấy sự
truyền bá Ki Tô Giáo trong thế giới xưa và nay phần lớn dựa vào sự cưỡng bách,
bạo hành và đàn áp. Xuyên suốt lịch sử, từ những cuộc diệt trừ những người dị
giáo (hay lạc đạo) ngay từ thuở ban đầu của Giáo hội, cho tới những cuộc Thập Ác
Chinh, những tòa án đạo xử dị giáo, sự trấn áp những nền văn hóa khác trên
khắp thế giới, Ki Tô Giáo [Công giáo] đã chứng tỏ những tiêu chuẩn có
tính cách hủy diệt và chống loài người của tôn giáo này." 1
Riêng về những cuộc Thập Ác Chinh, trước hết tưởng
chúng ta cũng nên biết vài nhận định tổng quát về những cuộc chiến tranh tôn
giáo (religious wars) đã được giáo hội khoác cho nhãn hiệu “thánh chiến” (holy
wars).
Trong cuốn Những Sự Khủng Khiếp Mang Nhãn Hiệu Thánh: Một Lịch Sử Minh Họa Về
Sự Chém Giết Và Điên Rồ Tôn Giáo (Holy Horrors: An Illustrated History Of
Religious Murder And Madness), tác giả James A. Haught, Chủ Biên tờ Charleston
Gazette, đã viết như sau, trang 14, 19:
“Khi tôn giáo (Công giáo)
nắm toàn quyền ở Âu Châu, nó đã tạo
nên một thiên sử thi tắm máu của những cuộc Thập Ác Chinh, những phòng tra tấn
của Tòa Án Đạo xử dị giáo, tận diệt hàng loạt những người “lạc đạo” hay “dị
giáo”, hàng trăm cuộc tàn sát người Do Thái, và 300 năm thiêu sống phù thủy.
“Thời Đại Của Đức Tin” là một thời đại chém giết mang nhãn hiệu thánh. Khi tôn giáo (Công Giáo) dần dần không còn kiểm soát được đời
sống hàng ngày của người dân nữa, quan niệm về nhân quyền và tự do cá nhân đã
mọc rễ.
...Trong thực tế, những cuộc Thập Ác Chinh là một cơn ác
mộng thật ghê tởm với những cuộc tàn sát, hiếp dâm, cướp bóc, hỗn loạn – trộn
lẫn với niềm tin vào ảo thuật.”
2
Trong cuốn Các Cuộc Thập Ác Chinh (The
Crusades), sử gia Henry Treece viết trong phần mở đầu:
"Nhưng khi chúng ta đọc nhiều hơn về
các cuộc Thập Ác Chinh thì cái hình ảnh (mà Giáo hội Công giáo đưa ra
và ngày nay các tác giả Công giáo Việt Nam nhắc lại như những con vẹt) trở
thành nhơ nhuốc; sự nghiên cứu (về các cuộc Thập Ác Chinh) khó mà có thể
đưa ra sự thực mà chúng ta đã từng hi vọng. Chúng ta thấy các cuộc Thập Ác
Chinh và các Thập ác quân khác với những điều chúng ta thường tưởng tượng
(theo như lời Giáo hội tuyên truyền), và rút cuộc chúng ta phải đồng ý
với đoạn tổng kết của bậc thầy chúng ta, Ngài Steven Runcinan , trong cuốn
Vương Quốc Nghĩa Trang: "Đức Tin không có trí tuệ thì thật là nguy hiểm..
Trong tương quan ảnh hưởng và hòa đồng giữa Đông và Tây liên tục và lâu dài, từ
đó nền văn minh của chúng ta đã phát triển, những cuộc Thập Ác Chinh là
một thời kỳ bi thảm và hủy diệt.. Đã có quá nhiều sự dũng cảm nhưng lại quá ít
vinh dự, đã có quá nhiều lòng sùng tín nhưng lại quá ít hiểu biết. Những lý
tưởng cao đẹp đã bị nhơ bẩn bởi sự độc ác và tham lam, hành động táo bạo và sự
chịu đựng bắt nguồn từ lòng tin mù quáng và
hẹp hòi tự cho mình là đúng; và chính cuộc Thập Ác Chinh cũng không gì
khác hơn là một hành động kéo dài của sự bất khoan nhượng nhân danh Chúa”
3
Và trong cuốn Những Vị Thần Cuối Cùng Của Huyền
Thoại: Gia-Vê và Giê-su (Mythology’s Last Gods: Yahweh and Jesus) Tiến sĩ
William Harwood đã viết, trang 156:
“Triết lý của Phục Truyền Luật Lệ Ký,
giết những
người tin vào các huyền thoại khác trừ huyền thoại của chính mình để bảo vệ các
tín đồ trước những đạo khác là một hành động của Thiên Chúa và đáng tán thưởng,
trong thời đại Trung Cổ đã được thực thi theo một kết luận hợp lý bởi những tín
đồ Ki Tô
(Công Giáo), những người trong vài thế kỷ, đã thẳng tay tàn sát từ 30 đến 50
triệu kẻ thù của Thiên Chúa trong những biến cố như Thập Ác Chinh, tòa án đạo xử
dị giáo, cuộc chiến 30 năm, và những trường hợp tàn bạo khác.”
4
Vậy, rõ ràng là những tội ác của Công giáo La Mã bắt
nguồn từ Thánh Kinh. Nhưng những luật lệ độc ác của Chúa Cha (Thần Gia-vê) cũng
như Chúa Con (Giê-su) trong Thánh Kinh không không đủ, vì giáo dân chẳng có mấy
người đọc thánh kinh, nhất là tuyệt đại đa số giáo dân trong thời Trung Cổ thuộc
loại thấp kém, vô học, mà còn phải cộng thêm với chính sách nhồi sọ mê hoặc của
giáo hội về chủ trương độc thần, về những huyền thoại như tội tổ tông, vai trò
cứu thế của Giê-su, giáo hoàng là đại diện của Chúa trên trần, huyền thoại về
miền đất Thánh v..v.. đưa đến sự cuồng tín, tin nhảm tin nhí của đám tín đồ thấp
kém, Công Giáo mới có thể phát động được những cuộc Thập Ác Chinh trong thời
Trung Cổ, cũng như phạm những núi tội ác khác trong suốt dòng lịch sử gần 2000
năm. Chứng minh?
Trước hết, tại sao các Thập Ác quân (crusaders) lại bỏ
nhà bỏ cửa, bỏ vợ con, bỏ ruộng đất, vườn tược để đi thiêu thân trong các cuộc
thánh chiến, đối diện với những cuộc hành trình gian khổ, bệnh tật, đói khát
v..v..? Chúng ta có thể đọc vài giải thích sau đây.
Trong cuốn Sử Lược (The Outline of History,
Vol. 2, Garden City Books, New York, 1956), sử gia H. G. Wells viết như sau,
trang 540:
“Trong thời đại ngu si đã có một sự sẵn
sàng kỳ lạ tin rằng giới linh mục Công Giáo là thông thái và thánh thiện. Tương đối giới linh mục khá hơn và khôn ngoan hơn trong thời đó
[đối với
quần chúng, nhưng ngày nay thì khác, giới linh mục là giới kém hiểu biết nhất
trong những giới trí thức].
Khởi đầu của các cuộc Thập Ác Chinh cho ta hình ảnh của
toàn thể Âu Châu bị bão hòa bởi một Ki Tô Giáo
[ý nói tập thể giáo dân Công giáo] ngây thơ, sẵn sàng tin cậy và đơn
giản tuân theo sự chỉ đạo của giáo hoàng.” 5
Trong cuốn Năm Thế Kỷ Của Các Cuộc Thánh Chiến: Những
Cuộc Thập Ác Chinh (Five
Centuries of Holy Wars: The Crusades, Malcolm Billings, Sterling Publishing Co.,
Inc., New York, 1996), Jonathan Riley-Smith viết trong Lời Mở Đầu, trang 12:
“Tại sao họ
(thập ác quân)
ra đi? Họ sống trong một xã hội rất khác với xã hội của chúng ta. Đó là một xã
hội của những tín đồ mà đức tin của họ đã được củng cố bởi một quan điểm về
thiên nhiên và vũ trụ mà ngày nay chúng ta biết là sai nhưng ít nhất cũng phù
hợp với kinh nghiệm của họ.
Những hành động độc ác tồi tệ của họ – sự bạo hành
những người Do Thái không tự vệ trong cuộc “tàn sát tập thể đầu tiên”
[Trong
cuộc Thập Ác Chinh đầu tiên (1096-1099), như chúng ta sẽ thấy, sự tàn sát tập
thể những cộng đồng Do Thái trên đường tiến quân của những đoàn Thập Ác quân
Công Giáo, ngày nay được coi như là “the First Holocaust”. TCN] – đã phạm bởi
những người mà đầu óc của họ đã bị điều kiện hóa bởi ý niệm trả thù. Họ được giáo hội
(Công Giáo) dạy là chiến đấu chống những người không
tin đạo là biểu thị lòng yêu Thiên Chúa một cách quá sai lầm đến độ cuộc Thập Ác
Chinh đối với họ là một hành động trả thù chống những người mà họ lên án là làm
“ô danh Chúa Ki Tô”. 6
Trong cuốn Sự Mê Tín Cuối Cùng:
Một Phê Bình Đánh Giá Di Sản Do Thái – Ki Tô (The Final Superstition: A
Critical Evaluation of the Judeo-Christian Legacy, Prometheus Books, New York,
1994), Joseph L. Daleiden, một học giả Công Giáo, viết, trang 54:
“Cuộc Thập Ác Chinh thứ nhất được phát
động bởi Giáo hoàng Urban II. Ông ta quạt những ngọn lửa thù hận chính đáng
[vào đám tín đồ] bằng cách ban phép
toàn xá – hoàn toàn tha thứ mọi hình phạt của Chúa vì những tội trong quá khứ –
cho bất cứ người nào đi giết người cho danh dự và vinh quang lớn hơn của Thiên
chúa. Nói cách khác, nếu Thập Ác quân bị giết, anh ta được bảo đảm là sẽ lên
thiên đường ngay lập tức.” 7
Và sử gia Will Durant cũng viết trong
bộ sử đồ sộ Câu Chuyện Về Nền Văn Minh (The Story of Civilization, quyển
IV) về Thời Đại Của Đức Tin (The Age of Faith), trang 588, về những thành
phần tham gia cuộc thánh chiến:
“Một “ơn toàn xá” xóa bỏ mọi hình phạt vì tội lỗi đã
được ban cho những Thập Ác quân chết trận. Các nông nô được phép rời bỏ ruộng
đất mà họ bắt buộc phải lao động trong đó; các công dân được miễn thuế; những
kẻ nợ nần được hoãn trả tiền lời; các tù nhân được phóng thích, và các tử tội
được đổi thành khổ sai ở Palestine, do quyền lực của giáo hoàng đã được suy diễn
một cách trắng trợn. Nhiều ngàn kẻ du thử du thực tham gia cuộc trường chinh
thiêng liêng.” 8
Sống trong thời đại mê tín, hấp dẫn bởi những hứa hẹn
hoang đường, không đủ đầu óc để biết đâu là sự thật, những đạo binh Thập Ác, như
chúng ta đã biết, không phải là những giáo dân đi “hành hương thánh địa”
(sic), hoặc là những “giáo dân Âu Châu sốt sắng, đạo đức sau những năm tháng
thấm nhuần tin mừng” (sic) như vài tác giả Công giáo Việt Nam đã viết láo
[xin đọc bài của Ngô triệu Lịch], mà hầu hết là những đoàn quân ô hợp gồm những
nông dân ngây thơ cuồng tín, những nông nô (serfs) được giải phóng để đi giết
người cho Chúa, cùng với những kẻ thành tích bất hảo như các tội phạm
(criminals), ăn trộm ăn cắp (thieves), du thử du thực ăn bám xã hội (vagrants)
v..v... Vì vậy các đạo binh Thập Ác mới phạm phải những tội ác vô tiền khoáng
hậu trong lịch sử loài người. Lẽ dĩ nhiên, những đạo binh thập ác này bao giờ
cũng có những cấp chỉ huy là Giám mục (bishops), Linh mục (priests), Hiệp Sĩ
thời đại (knights), và những nhà quý phái (noble men), hầu hết không có kinh
nghiệm quân sự.
Thật vậy, chúng ta hãy đọc vài đoạn tóm tắt các cuộc
Thập Ác Chinh trong cuốn Những Sự Khủng Khiếp Mang Nhãn Hiệu Thánh: Một Lịch Sử Minh Họa Về Sự Chém Giết
Và Điên Rồ Tôn Giáo (Holy Horrors: An Illustrated History of Religious
Murder and Madness của James A. Haught), trang 19-27:
Giáo Hoàng Urban II phát động cuộc Thập Ác Chinh thứ
nhất vào năm 1096 để cướp lại Thánh Địa từ những kẻ không tin đạo (Hồi giáo).
“Thiên Chúa muốn thế” (Deus Vult = God will it) là tiếng kêu gọi để tập hợp đoàn
Thập Ác quân (crusaders) [Chúng ta thấy sự bịp bợm trắng trợn của
Giáo hoàng Urban II đối với đám tín đồ thấp kém vôhọc ở dưới. Theo Công giáo,
một trong những thuộc tính của Thiên Chúa là không ai có thể hiểu được
(uncomprehensible) nhưng những tham vọng thế tục của giới giáo sĩ Công Giáo, từ
Giáo hoàng trở xuống cho đến các linh mục, luôn luôn được diễn giải đó là “Ý
Chúa” và các tín đồ ngu dốt cứ nhắm mắt mà tin và phạm đủ mọi tội ác. Người
Công Giáo gọi crusaders là những “thánh giá binh” vì họ được dạy rằng, cái giá
hình chữ thập mà người La Mã dùng để đóng đinh những tội phạm như ăn trộm, ăn
cướp v..v..., một hình phạt thuộc loại man rợ nhất của người La Mã cổ xưa, đã
trở thành cái “thánh giá” vì Giê-su của họ bị đóng đinh trên đó (cùng lúc với 2
tên ăn trộm). Charlie Nguyễn, một người Công giáo tỉnh ngộ đã phê bình: Nếu
Giê-su bị treo cổ thì cái thòng lọng treo cổ Giê-su sẽ trở thành cái “thánh
thòng lọng”. Qua những hành động của các “thánh giá binh” trong các cuộc Thập
Ác Chinh mà chúng ta đọc sau đây, danh từ chính xác phải là “Thập Ác quân”. TCN].
Khắp Âu Châu, những đám người cuồng tín lúc nhúc trong những đoàn quân hỗn tạp ô
hợp dẫn đầu bởi các linh mục có uy tín lôi cuốn quần chúng. Nhiều chục ngàn
người theo một linh mục dơ dáy, Peter the Hermit, người đã trưng ra một lá thư
mà ông ta nói là Thiên Chúa đã viết cho ông ta và được Giê-su trao tận tay cho
ông ta [Thiên Chúa là một sản phẩm tưởng tượng của con người, còn Jesus thì
đã chết từ ngàn năm trước, thế mà sự bịp bợm của Peter the Hermit vẫn có người
tin và đi theo ông ta để giết người] chứng nhận vai trò lãnh đạo của ông
ta. Nhiều ngàn người khác theo linh mục Walter the Penniless.
Trong thung lũng sông Rhine ở Đức, một cánh Thập Ác
quân đi theo một con ngỗng mà họ tin rằng chính là hiện thân của Thánh Linh để
hướng dẫn họ. Cánh quân này hợp với cánh quân của Emich ở Leisingen, một lãnh
tụ tuyên bố rằng một dấu Thập Ác đã hiện ra trên ngực ông ta như là một thánh
dấu
(holy sign) của một phép lạ. Emich quyết định là,
trước khi đi trên 3200 cây số để giết những kẻ thù của Thiên Chúa ở vùng đất
thánh, bổn phận tôn giáo của Thập Ác quân là phải giết “những kẻ không tin đạo
trong giữa chúng ta”: những người Do Thái ở Mainz, Worms, và ở các thị trấn Đức
khác. Đoàn Thập Ác quân tràn qua những cộng đồng Do Thái, chém giết và thiêu
sống nhiều ngàn đàn ông, đàn bà, trẻ con không thể tự vệ. Nhiều người Do Thái,
trong những khu đã dựng lên chướng ngại vật để ngăn chận đoàn Thập Ác quân, đã
phải nuốt nước mắt giết con cái của mình rồi tự tử trước khi đoàn Thập Ác quân ô
hợp tràn vào.
Những đoàn quân khác dẫn đầu bởi các linh mục Volkmar và
Gottschalk cũng tàn sát tương tự những người Do Thái ở Prague và Regensburg ở
Bavaria. Thỉnh thoảng, trong giờ phút cuối cùng, dưới ngọn gươm, các nạn nhân
được cho một cơ hội sống sót bằng cách cải đạo vào Ki Tô Giáo.
Nhiều đoàn Thập Ác quân khác đi qua những xứ Ki Tô như
Hung Gia Lợi
(Hungary),
Nam Tư (Yugoslavia) và Bulgaria. Họ cướp bóc lương thực trong các vùng
quê, gây nên những cuộc đánh nhau với dân và quân lính địa phương. Trong một
cuộc đụng chạm, đoàn quân của Peter the Hermit đã giết 4000 dân Ki Tô ở Zemun,
Yugoslavia, và thiêu rụi Belgrade gần đó. Nhiều ngàn Thập Ác quân đã chết trong
những trận đánh hỗn loạn ở Bulgaria. Sau cùng, chỉ còn có một phần của những
đoàn quân ô hợp là tới được đất Thổ (Turkey) của Hồi giáo, ở đó sau bị
những đoàn quân Hồi giáo tàn sát gần hết.
Sau đó, những đoàn hiệp sĩ Ki Tô chuyên nghiệp đã được
tổ chức để tham gia cuộc Thập Ác Chinh. Các giám mục đi theo đoàn hiệp sĩ để
ban phúc lành cho những hành động ác ôn của họ. Những đoàn
quân chuyên nghiệp này chặt đầu người Hồi giáo và đeo những đầu lâu như là chiến
lợi phẩm. Sau một trận thắng ờ bờ bể Syria gần Antioch, Thập Ác quân mang về
trại 500 đầu lâu. 300 đầu lâu được bêu trên các cọc để khủng bố tinh thần quân
Hồi đang giữ thành Antioch. Những linh mục ghi sử ghi rằng một “Thập Ác quân
giám mục” gọi những đầu lâu khủng khiếp đó là một cảnh ngoạn mục hoan hỉ cho dân
Chúa. Trong thành Antioch, quân Hồi, để trả đũa, cũng chặt đầu các tín đồ Ki Tô
rồi bêu hướng ra ngoài thành. Sau cùng Thập Ác quân đã tiến vào Antioch ngày 3
tháng 6, 1098, và giết mọi dân chúng trong đó.
Rồi một đoàn quân Hồi giáo tiến đến vây lại thành
Antioch. Thập Ác quân trong thành thiếu lương thực, gần chết đói, và linh mục
Peter Bartholomew tuyên bố rằng một thánh đã hiện ra trước ông ta trong một viễn
tượng và tiết lộ cho ông ta biết là cây giáo đâm lên cạnh sườn Giê-su khi Giê-su
bị đóng đinh được chôn ở dưới một nhà thờ trong Antioch. Cây Thánh Giáo
(Holy
Lance) được đào lên và là một thánh tích khích động sự cuồng nhiệt của Thập
Ác quân. Họ xông ra ngoài thành trong một cuộc chém giết cuồng tín khiến cho
quân Hồi phải bỏ trại mà chạy, để lại vợ đàng sau. Nhà ghi sử Fulcher ở
Chartres hãnh diện ghi rằng: “Khi thấy những người đàn bà ở trong trại Hồi, Thập
Ác quân Pháp không làm điều gì ác ngoài việc dùng giáo mác đâm xuyên vào bụng
họ”.
Tiến vào Jerusalem, Thập Ác quân thanh tẩy cái thành
thánh này bằng cách giết hầu như mọi người dân trong đó. Người Do Thái trốn
trong giáo đường bị thiêu sống cùng với giáo đường. Thây người chất thành đống
ngoài đường phố. Nhà ghi sử Raymond ở Aguilers ghi rằng:
“Thật là những cảnh kỳ diệu. Rất nhiều người Hồi bị
chặt đầu... Nhiều người khác bị dùng làm bia bắn tên hay bị ép phải nhảy từ
những chòi cao xuống; nhiều người khác bị tra tấn trong nhiều ngày, rồi thiêu
sống. Ngoài đường phố có hàng đống những đầu lâu, tay và chân. Trong đền
Solomon (đền thờ Thiên Chúa do Solomon dựng lên) ngựa lội trong máu ngập đến
khuỷu chân, không phải, đến giây buộc yên ngựa. Thật đúng là một sự phán xét
công bằng và tuyệt vời của Thiên Chúa, rằng chỗ này phải ngập đầy máu của những
kẻ không tin Thiên Chúa. Trong hai thế kỷ sau đó, Hồi giáo chiếm lại nhiều
phần trong Thánh Địa, đưa đến 7 cuộc Thập Ác Chinh khác của Ca Tô Giáo. Hầu hết
những cuộc chinh chiến của Ca Tô Giáo này bắt đầu bằng sự tàn sát những người
Do Thái ở Âu Châu.
Trong cuộc Thập Ác Chinh thứ ba, sau khi Richard the
Lion-Hearted chiếm thành Acre (ở phía Tây Bắc Jerusalem. TCN) năm 1191, ông ta
ra lệnh mang 3000 người dân trong thành, trong đó có nhiều đàn bà và trẻ em, ra
giết ở ngoài thành. Các thây người được mổ banh bụng để tìm kiếm những châu báu
có thể đã được nuốt đi. Các giám mục ngâm nga các bài kinh cầu nguyện tạ ơn
Chúa. Nhà ghi sử Ambroise viết: “Mọi người đều bị giết. Vì đây là ân huệ của
đấng sáng tạo”. Thánh Bernard ở Clairvaux đã chẳng nói khi phát động cuộc Thập
Ác Chinh thứ hai: “Người Ki Tô thích thú trong cái chết của người ngoại đạo, vì
như vậy Chúa Ki Tô đã được vinh danh”.
Trong cuộc Thập Ác Chinh thứ tư, các đoàn Thập Ác
quân đã cướp sạch các thị trấn Ki Tô Constantinople và Zara. Cuộc Thập Ác Chinh
của trẻ con năm 1212 là một thảm cảnh căn cứ trên niềm tin là Thiên Chúa sẽ ban
sức mạnh cho những đứa trẻ ngây thơ để chiến thắng quân Hồi. Hầu hết bọn trẻ bỏ
mình mà không tới được Thánh Địa.
Sau cùng, mọi sự chấm dứt năm 1291 khi Hồi giáo chiếm lại
những căn cứ cuối cùng của Ki Tô Giáo, Acre, và giết sạch những người Ki Tô
trong đó để trả thù vụ Richard tàn sát người Hồi trước đó một thế kỷ. Thánh Địa
lại nằm trong tay của Hồi Giáo. Hai thế kỷ giết chóc và tàn phá vô ích, chẳng
được cái gì.
9
Về những thánh tích (holy relics) trong Công Giáo, như
cây giáo đâm vào cạnh sườn Giê-su, tác giả James A. Haught có bình luận như sau,
trang 24-25, chứng tỏ Công Giáo là tôn giáo mê tín bậc nhất trong thiên hạ, và
các vị lãnh đạo Công giáo đã khai thác sự mê tín của đám tín đồ tới mức nào.
Xin nhắc là, đi kiếm “thánh tích” ở vùng Thánh Địa là một động cơ khích động tín
đồ tham gia vào các sự chém giết trong các cuộc Thập Ác Chinh:
Cái cây Thánh Giáo (Holy Lance) có
đúng là thật hay không hay chỉ là ngụy tạo không được các linh mục ghi sử quan
tâm. Giáo hội Ki Tô bị ám ảnh bởi việc kiếm ra và thờ phụng các “thánh tích”.
Những mảnh của cây thập giá mà Giê-su bị đóng đinh trên đó, những mảnh thân thể
các thánh (pieces of saints’ bodies), những giọt nước mắt còn ướt của Giê-su
(still-wet tears shed by Jesus), những mảnh từ cái mũ gai Giê-su đội, những quần
áo lót của Mary (Mary’s undergarments) – đó là những vật được gìn giữ trong các
hộp châu báu trong mọi nhà thờ lớn. Một ông vua Saxony hãnh diện có được 17000
thánh tích, kể cả một cành trong bụi cây cháy của Moses và một cái lông cánh của
thiên thần Gabriel. Nhà thờ Canterbury trưng bày một miếng đất sét còn lại sau
khi Thiên Chúa dùng nó để nặn ra Adam (Canterbury Cathedral displayed part of
the clay left over after God fashioned Adam.) Sử gia Charles Mackay nói rằng
các nhà thờ Tây Ban Nha có 6 hay 7 cái xương đùi của Mary đồng trinh (six or
seven thighbones of the Virgin Mary), và các nhà thờ khác có những móng chân của
thánh Peter có thể chứa đầy một cái bị. Voltaire ghi rằng có 6 miếng da qui đầu
cắt ra khi Giê-su làm lễ cắt bì; về sau các nhà nghiên cứu đếm được 15 (Voltaire
noted that 6 sacred foreskins were snipped from Jesus at his circumcision; later
researchers counted fifteen)
10
Trên đây chỉ là sự mô tả sơ lược những cuộc Thập Ác
Chinh của Công giáo La Mã. Qua sự mô tả này, chúng ta hẳn đã thấy tất cả những
sự tàn bạo và những điều cực kỳ mê tín trong tôn giáo đó. Vậy mà các tác giả
Công giáo Việt Nam đã mô tả những cuộc Thập Ác Chinh như là những cuộc “hành
hương thánh địa” (sic) của những “giáo dân Âu Châu sốt sắng, đạo đức sau
những năm tháng thấm nhuần tin mừng” (sic). Hiển nhiên là đầu óc của họ
thuộc loại hết thuốc chữa. Vấn đề là, trong thời buổi này, tại sao họ vẫn còn
hi vọng lừa dối độc giả bằng những luận điệu bẻ cong sự thật. Có lẽ mục đích
của họ không phải để cho đại chúng đọc mà chỉ để giữ tín đồ trong vòng ngu dốt,
mê tín và cuồng tín. Đây chính là sách sách lược của giáo hội Công giáo toàn
cầu từ xưa tới nay.
Thật vậy, chúng ta hãy đọc một đoạn trong bài NGƯỜI CÔNG GIÁO ĐÃ NÓI GÌ VỀ NHỮNG
CUỘC THÁNH CHIẾN của tác giả Ngô Triệu Lịch, nói về những luận điệu bẻ queo sự
thật của Giáo hội Công giáo dạy đám tín đồ mà một số con vẹt trí thức Công Giáo
Việt Nam nhắc lại về các cuộc gọi là “Thánh chiến”:
Bài viết này không phải là một
“khảo cứu lịch sử” về các cuộc thánh chiến, do Giáo hội Rôma phát động. Nhưng
thông qua “lịch sử thánh chiến”, người viết muốn đưa ra những nhận định của
mình, về quan điểm của một số tác giả Công giáo người Việt, khi họ đề cập đến
“thánh chiến” mà người viết
đã có dịp đọc qua trên các sách, báo, tạp chí, hoặc các website Công giáo…
Đại để, các tác giả Công giáo
khi đề cập đến “thánh chiến”, họ đều có chung những nhận định mang tính hộ giáo,
dù họ thừa nhận có những sai lầm nhất định trong các đợt phát động thánh chiến
của giáo hội, nhưng tất cả đều vận dụng những
quan điểm thần học cũ kỹ, lạc hậu, như: “ý chúa”, “sự quan phòng”, “chúa thánh
thần dẫn dắt”… để biện minh cho những sai lầm ấy. Tâm lý tự ti, mặc cảm, là điều
dễ thấy trong các lập luận. Ngụy biện, gượng ép, đổ lỗi cho
hoàn cảnh lịch sử, cho sự hiếu chiến của Hồi giáo, cho những tham vọng chính trị
của vua chúa các nước châu Âu, ngụy biện những cuộc thánh chiến do “mẹ giáo hội”
phát động chỉ là sự tự vệ… Từ đó, hướng độc giả vào một cái
nhìn “cảm thông”, vẽ ra chân dung của một Urban II “thánh thiện, dũng cảm và
khôn ngoan”, một đoàn người hành hương “sốt sắng, đạo đức, thấm nhuần Tin Mừng”…
Tội ác tày trời của đế quốc Vatican dưới ngòi bút của họ biến thành con số
không…Và đặc biệt, họ say sưa ca ngợi “chúa quan phòng”, bắt “chúa” của họ phải
“quan phòng” đến cả những tội ác mà giáo hội Công giáo La Mã đã gây ra cho nhân
loại…
Để biện hộ cho sự hiếu chiến của
“mẹ giáo hội” của họ, các tác giả Công giáo người Việt
đã lập luận bát nháo, bất chấp sự tròng tréo, mâu thuẫn trong cùng một sự kiện. Ví dụ: Linh mục Phạm Đức Trị viết
: “Có thể
nói Ðức Urban II chỉ có ý mời gọi những binh lính đã từng cầm võ khí, và đã có
kinh nghiệm gia nhập Ðạo Binh Thánh giá mà thôi, vì ngài có ý thiết lập một đội
binh tinh nhuệ cho một cuộc thánh chiến. Nhưng không ngờ tiếng nói của ngài đã
làm ảnh hưởng tới một Âu châu sốt sắng, đạo đức sau những tháng năm được thấm
nhuần Tin Mừng.” (Lm. F.X. Phạm Ðức Trị, OMI. Giáo Hội Thời Ðạo Binh Thánh Giá,
CD-rom vietcatholic 2001). Trong khi đó, lập luận của tác giả Đình Vượng hoàn
toàn ngược lại: “Lời kêu gọi của Giáo hoàng Urbani II không nhằm vào các vua
chúa phương tây, mà nhằm vào lòng quảng đại của người tín hữu. Sau lời kêu gọi
của Giáo hoàng, tu sĩ Pierre L’Ermite và hiệp sĩ Adémar de Monteil chẳng biết
gì về quân sự lại đứng ra tập hợp quần chúng thành những đoàn quân, kéo về
Constantinople. Người Bazance hốt hoảng và Giáo hoàng Urbain đã không trù liệu
một đoàn thập tự chinh ô hợp đã bị người Hồi tàn sát gấn hết ở Tiểu Á ” (Đình
Vượng, Quan hệ Vatican và Giáo hội Công giáo, tr 269).
So sách hai trích dẫn của hai tác giả nêu trên, ta thấy, theo Lm Phạm Đức
Trị, Giáo hoàng Urban II chỉ triệu tập những binh lính tinh nhuệ gia nhập đạo
binh thánh giá, chứ không hề kêu gọi quần chúng tham gia. Những ông già, bà cả,
trẻ con, tự nguyện tham gia thánh chiến, chẳng qua vì họ quá “sốt sắng, đạo đức
sau những tháng năm được thấm nhuần Tin Mừng…”, chứ Giáo hoàng không hề kêu gọi
họ. Ngược lại, tác giả Đình Vượng khẳng định: “Lời kêu gọi của Giáo hoàng Urbani
II không nhằm vào các vua chúa phương tây, mà nhằm vào lòng quảng đại của người
tín hữu”. Vì thế, Pierre L’Ermite và Adémar de Monteil là những người vốn mù tịt
về quân sự, được giao trọng trách mang đoàn quân thập tự ô hợp đến Tiểu Á để cho
quân Hồi giáo “nướng” sạch!... Cùng một sự kiện lịch sử, nhưng cả hai tác giả
Công giáo này có hai lập luận mâu thuẫn, đối nghịch nhau. Tuy vậy, cả hai đều
gặp nhau ở cùng một điểm: chạy tội cho “mẹ giáo hội” vốn đang rất sốt ruột vì
quân Hồi chiếm giữ đất thánh Jêrusalem! Và cũng vì tín đồ rất “đạo đức, sốt
sắng, thấm nhuần Tin Mừng !?” đang khao khát hành hương đất thánh…
Sự kiện Giáo hoàng Urban II triệu tập công đồng Clermont kêu gọi "tái chiếm
Jêrusalem, cứu đất thánh” là một vết nhơ khó tẩy của đế quốc Vatican. Dù muốn
biện hộ thế nào thì cuộc chiến do Urban II phát động vẫn là một tội ác. Urban
II đã lợi dụng lòng tin mù quáng của đám tín đồ cuồng tín, hứa "ban ơn toàn xá"
để bảo đảm “phần rỗi linh hồn” cho họ, đẩy họ vào cuộc chiến không cân sức với
đội quân tinh nhuệ Hồi giáo. Ðiều trớ trêu là những người tham gia thánh chiến
vì ham mê "ơn toàn xá" của Giáo hoàng mà gia nhập chứ họ chưa hề qua một lớp
huấn luyện quân sự nào. Kết quả là nhiều người trong đoàn quân ô hợp, vô kỷ luật
và cuồng tín "lên thiên đàng thẳng cẳng" nhờ ơn toàn xá của Giáo hoàng!.. Phịa
chuyện “tìm thấy chiếc mác đồng đâm cạnh sườn Chúa Giêsu dưới bàn thờ đền thánh
Phêrô” để kích động sự cuồng tín của tín đồ, đẩy họ vào chỗ chết, dẫu có biện hộ
thế nào, vẫn cứ là một tội ác.
Chúng ta thấy, trong 2000 năm nay, Giáo hội Công Giáo
đã áp dụng triệt để chủ thuyết hắc ám, nghĩa là chủ truơng làm cho tín đồ trở
thành ngu muội, tối tăm, với tâm cảnh nô lệ, hoàn toàn tuân phục giáo hội và bắt
buộc phải tin rồi lập lại bất cứ luận điệu nào của giáo hội giải thích về bất cứ
một vấn đề nào đó, bất kể là luận điệu đó hoàn toàn sai với sự thực.
Những cuộc Thập Ác Chinh của Công giáo kéo dài trong bao
nhiêu năm? Tất cả các học giả đều đồng ý là cuộc Thập Ác Chinh đầu tiên khởi sự
năm 1096. Nhưng những cuộc Thập Ác Chinh chấm dứt năm nào thì có nhiều công
cuộc nghiên cứu đưa ra những năm khác nhau. Trước đây người ta thường cho rằng
các cuộc Thập Ác Chinh chấm dứt vào năm 1396 hoặc chậm nhất là năm 1444. Các
đây 50 năm, sử gia Steven Runciman viết Thập Ác Chinh chấm dứt năm 1464. Và rồi
có những cuộc nghiên cứu khác đưa ra những niên kỷ như 1560 và 1571. Cuối cùng
là năm 1798. Sinh viên ngày nay phải đối diện với 700 năm Thập Ác Chinh song
song với lịch sử của toàn thể Âu Châu, từ Greenland đến Hi Lạp, từ Tây Ban Nha
đến Nga, cùng với Tây Á, Bắc Phi và Châu Mỹ La Tinh, tùy theo các học giả định
nghĩa Thập Ác Chinh như thế nào.
Tuy nhiên, thường thì trong lịch sử Công giáo, người ta
chỉ kể có 8 (hoặc 9, tùy theo quan niệm) cuộc Thập Ác Chinh chính (nhà trí thức
Công giáo Võ Đức Hạnh đã gọi cuộc xâm lược Việt Nam của các giáo sĩ thừa sai
Công giáo, sát cánh với thực dân Pháp, là "cuộc Thập Ác Chinh thứ 9"). Có học
giả còn cho rằng Công giáo vẫn tiếp tục tung ra những cuộc Thập Ác Chinh, và một
vài luận điệu thần học của nhóm Ki Tô hiếu chiến trong thế kỷ 20 đã dập theo
khuôn của giáo hoàng Urban II và thánh Bernard (Much of the world of the
crusaders is still in evidence. Some of the theology of the 20th
century “militant” Christianity, now prevalent in Africa, Asia and South
America, might well have come from the lips of Pope Urban II or St. Bernard of
Clairvaux), dưới một hình thức khác với các cuộc Thập Ác Chinh trong thời Trung
Cổ.
Gần đây, có nhiều dư luận cho rằng cuộc xâm chiếm Iraq
của Mỹ có hình thức một cuộc Thập Ác Chinh của Ki Tô Giáo chống Hồi giáo. Tổng
thống Bush đã dùng danh từ “Thập Ác Chinh ” (crusade) sau vụ 11 tháng 9, 2000.
Và tổng thống Bush cũng quyết định gạt Âu Châu ra ngoài, chỉ trao khế ước xây
dựng lại Iraq cho những tổ chức Mỹ, coi đó như là phần thưởng cho những người
ủng hộ chiến tranh (Chicago Tribune, Dec.12, 2003: President Bush says war’s
backers should be rewarded).
Đại cương thì các cuộc Thập Ác Chinh trong thời Trung
Cổ là do các giáo hoàng phát động hoặc cổ võ, khuyến khích và chấp thuận, và
kết quả là những cuộc tàn sát tập thể người Do Thái, Hồi Giáo, và cả những người
Ki Tô Giáo không cùng đức tin với Công Giáo, không đồng thuận và không chấp nhận
quyền lực của giáo hoàng, vừa để tiêu diệt những người khác đạo, vừa để giành
lại vùng Thánh Địa Jerusalem mà người Công giáo tin là thuộc về họ theo lời hứa
của Chúa, và nhất là để cướp bóc vơ vét của cải thế gian.
Ở đây, hiển nhiên tôi không thể viết đầy đủ về các
cuộc Thập Ác Chinh của Công giáo, mà chỉ có thể đưa ra những nét chính của vài
cuộc thánh chiến quan trọng nhất. Có ba cuộc Thập Ác Chinh phản ánh trung thực
nhất sự tàn bạo của Công giáo La Mã và ảnh hưởng mê hoặc của Công giáo lên đầu
óc con người, từ già tới trẻ: đó là cuộc Thập Ác Chinh đầu tiên (The First
Crusade) với chủ đích chính là giành lại thánh địa Jerusalem và ngôi mộ Giê-su;
cuộc Thập Ác Chinh Albigense (The Albigensian Crusade) để tận diệt những người
Ki Tô không có cùng niềm tin với người công giáo; và cuộc Thập Ác Chinh của
những đứa trẻ (The children’s Crusade) mà nguyên nhân là sự ngu dốt và cả tin
của những đầu óc ngây thơ vào những điều hoang đường trong thánh kinh mà chúng
được nghe giảng dạy.. Chúng ta đã biết sơ lược về cuộc Thập Ác Chinh thứ nhất
và vài cuộc Thập Ác Chinh sau đó qua sự mô tả ở trên của James A. Haught. Sau
đây tôi sẽ trình bày sơ lược về cuộc Thập Ác Chinh Albigense và cuộc Thập Ác
Chinh của những đứa trẻ để chúng ta thấy rõ sự tàn bạo và mê tín của Công Giáo
lên đến mức nào. Những phần viết sau đây được lấy từ những nguồn tài liệu khác
nhau.
Cuộc Thập Ác Chinh
Albigense.-
Công giáo giết người theo Hồi Giáo trong các cuộc Thập
Ác Chinh. Công giáo cũng giết những người Do Thái trong những cuộc tàn sát vô
tiền khoáng hậu. Nhưng không phải tất cả chỉ có thế. Công giáo cũng còn xuống
tay giết những người Ki Tô Giáo mà họ cho là lạc đạo hay dị giáo (heretics),
nghĩa là những người không chịu tin theo những tín lý nhảm nhí của Công Giáo.
Cuộc tàn sát những người “lạc đạo” dã man, tàn nhẫn và ghê tởm nhất của giáo hội
Công giáo là cuộc Thập Ác Chinh Albigense, phát động bởi giáo hoàng Innocent
III năm 1208.
Giáo phái Ki Tô Albigense tương tự như đạo Cao Đài của
Việt Nam. Giáo phái này tin vào giáo thuyết của một nhà cải cách Ba Tư, Mani,
người bị đóng đinh trên thập giá năm 277. Đầu óc cởi mở của Mani chấp nhận tất
cả những nhà lập giáo lớn – Moses, Zoroaster, Đức Phật và Giê-su. Ngoài ra,
Giáo phái này còn lên án sự giàu sang và phi luân của giới giáo sĩ Công giáo
(denounced the riches and immorality of the clergy), cho nên giáo hoàng Innocent
III đã phát động một cuộc “Thập Ác Chinh” chống giáo phái này, cho phép các thập
ác quân được cướp bóc, hãm hiếp và giết bọn người xấu số này (The Pope preached
a “crusade” against them, so giving complete licence to any wandering scoundrel
to rob, rape and kill these unfortunates).
Sau đây là sơ lược diễn tiến của cuộc Thập Ác Chinh
Albigense, được kể trong cuốn Máu Thánh, Chén Thánh ("Holy Blood, Holy
Grail", Michael Baigent, Richard Leigh, and Henry Lincoln, trg. 49-50):
"Năm 1209, một đoàn quân khoảng 30 ngàn người, gồm các
kỵ sĩ và bộ binh, như 1 cơn gió lốc từ miền Bắc Âu Châu tràn xuống Languedoc -
vùng chân núi phía Đông Bắc của dãy núi Pyrenees, ngày nay là miền Nam nước
Pháp. Trong cuộc chiến tranh này, toàn vùng bị tàn phá, mùa màng phá hoại, các
thành phố và thị trấn thành bình địa, cả 1 dân tộc bị chém giết. Cuộc tiêu diệt
này rộng lớn và khủng khiếp đến độ ta có thể coi đó như là trường hợp đầu tiên
của chính sách "diệt chủng" trong lịch sử Âu Châu hiện đại. Thí dụ, chỉ nguyên
trong thành phố Béziers, ít nhất là có 15 ngàn người: đàn ông, đàn bà, trẻ con
bị tàn sát, nhiều người bị giết ngay chính trong cung Thánh của nhà thờ. Khi
một sĩ quan hỏi vị đại diện của Giáo Hoàng: 'làm sao phân biệt được ai là tín đồ
và ai là tà đạo?' thì câu trả lời là: "Giết hết đi. Thiên Chúa sẽ nhận biết ai
là tín đồ của Người." Sau đó, chính vị đại diện trên hãnh diện báo cáo với giáo
hoàng Innocent III ở La Mã là: "Không một ai, bất kể thân phận, tuổi tác, hay
trai gái, được sống sót."
Sau Béziers, đoàn quân xâm lăng tràn qua toàn vùng
Languedoc. Các vùng như Perpignan, Narbonne, Carcassonne, Toulouse lần lượt rơi
vào tay đoàn quân này. Và bất cứ nơi nào đoàn quân đi qua cũng để lại dấu vết
của cảnh tàn sát, máu đổ, chết chóc. Cuộc chiến này, kéo dài trong 40 năm, ngày
nay được biết dưới tên "Cuộc Thập Ác Chinh Albigense." Đây là cuộc Thập Ác
Chinh theo đúng nghĩa của nó. Chính giáo hoàng đã huy động cuộc Thập Ác Chinh
này. Đoàn Thập ác quân, mang dấu thập ác trên quân phục, như những Thập ác quân
ở Palestine trước đó. Phần thưởng cho họ cũng giống như phần thưởng cho những
Thập ác quân trong vùng đất Thánh: được tha mọi tội lỗi, được giải tội, được
bảo đảm một chỗ trên Thiên Đàng, và được làm chủ tất cả những tài vật có thể
chiếm đoạt được."
11
Với lịch sử tàn bạo giết người Ki Tô không cùng niềm
tin với người Công giáo của Giáo hội Công giáo ngay từ đầu, chúng ta không lấy
gì làm lạ khi thấy Công giáo đã ra tay tàn sát những người Tin Lành trong thế kỷ
17, 18 và còn kéo dài cho đến ngày nay tại một vài vùng địa dư, điển hình là ở
Bắc Ái Nhĩ Lan. Tuy nhiên, ngày nay giáo hội Công giáo đã mất đi quyền lực thế
tục nên ít còn khả năng giết người “lạc đạo” cũng như người “ngoại đạo”. Nhưng
lịch sử rất có thể tái diễn bất cứ ở nơi nào mà Công giáo nắm được quyền lực thế
gian. Những cuộc giết người khác đạo của Công giáo trong thời cận đại, điển
hình là Palevich ở Croatia đã giết 700000 người Chính Thống (Orthodox) và
Hippies ở Croatia, Ngô Đình Diệm giết hoặc cưỡng bách nhiều ngàn Phật tử và
người ngoài đạo cải đạo ở Nam Việt Nam là những kinh nghiệm để cho chúng ta luôn
luôn phải đề phòng khi người Công giáo nắm được địa vị thế quyền. Avro
Manhattan, tác giả cuốn Vatican’s Holocaust, cũng đã báo động trong cuốn
sách nổi tiếng trên của ông:
“Những đoan quyết (về đức tin) căn bản của Công Giáo
chưa bao giờ thay đổi chút nào. Cho đến nay, cũng như tự bao giờ, sự chấp chặt
của giáo hội Công giáo vào tính cách duy nhất của mình vẫn còn chắc như đá hoa
cương. Cũng chính vì sự chấp chặt này mà đã xảy ra những tòa án xử dị giáo,
Croatia và chế độ độc tài Công giáo ở (Nam) Việt Nam.
Nếu quá khứ là một dấu hiệu về sự thành hình những việc
có thể xảy ra trong tương lai, thì khi nắm được cơ hội và trong một bối cảnh
chính trị thích hợp, những tòa án xử dị giáo mới, những Cratia mới và Việt Nam
mới sẽ lại được tạo ra hoài hoài. Khi nào, ở đâu, và như thế nào, chỉ có tương
lai mới trả lời được.”
12
Trong thời Trung Cổ, giáo hội Công giáo ở vị thế quyền
lực thế gian tuyệt đối. Giáo hoàng đứng trên vua chúa, giáo dục quần chúng nằm
trong tay giáo hội. Nền giáo dục Công giáo, hay nói cho đúng hơn, chính sách
nhồi sọ của giáo hội trên những đầu óc còn non dại đã khiến cho lớp trẻ mê mẩn
về những điều giáo hội dạy về Công Giáo, về Thánh Kinh, tuyệt đối tin vào những
điều mê tín hoang đường. Thí dụ điển hình về chính sách nhồi sọ của giáo hội
Công giáo đã đầu độc đầu óc lớp trẻ, đưa đến cuộc Thập Ác Chinh của những
đứa trẻ vị thành niên như chúng ta sẽ thấy sau đây.
Cuộc Thập Ác Chinh Của Những Đứa Trẻ.-
Sau đây là lời tường thuật cuộc Thánh chiến của những
đưa trẻ vị thành niên trong cuốn Các cuộc Thập Ác Chinh (The Crusades by
Henry Treece, trg. 182-185). Thực ra đây không phải là một cuộc Thập Ác Chinh
theo đúng nghĩa của nó mà chỉ là một thảm trạng bắt nguồn từ một niềm tin
tôn giáo sai lầm, mang tinh thần Thập Ác Chinh, của những trẻ vị thành niên bị
đầu độc tư tưởng bởi những huyền thoại trong Thánh kinh.
"Năm 1212 một sự việc vô tiền khoáng hậu trong lịch
sử thế giới đã xảy ra: trẻ em Pháp và Đức đã tổ chức một cuộc Thập Ác Chinh,
không được sửa soạn kỹ càng, không có vũ khí và không có gì giúp chúng ngoài
sự ngay thẳng ngây thơ của chúng.
Vua Pháp là Philip, đang ở St. Denis, thì một em bé
trai chăn cừu 12 tuổi, tên là Stephen ở vùng Cloyes, gần Orleans, đến yết kiến
ngài với một lá thư mà em nói rằng do chính Chúa Ki tô gửi cho em, bảo em tổ
chức một cuộc Thập Ác Chinh tiến vào Jerusalem.. Vua Pháp ra lệnh cho em nhỏ
trở về nhà cha em, nhưng Stephen đang ở trong sự say mê điên cuồng tôn giáo.
Hắn dám bất tuân ngay cả lệnh vua, tuyên bố rằng, trong một kiến giác (vision)
(ngày nay chúng ta gọi là ảo giác (delusion)), Chúa KiTô đã hứa là biển sẽ khô
cạn để cho Stephen và tất cả những ai theo hắn có thể an toàn đi trên biển
như đi trên bộ tới Jerusalem. giống như câu chuyện hoang đường ngày xưa (trong
Thánh Kinh): Hồng Hải đã mở ra cho Moses, con người chăn cừu kia.
Một vài giáo sĩ thất kinh về cái sự phỉ báng của đứa
trẻ - nhưng, kỳ thay, Giáo hoàng Innocent III tuyên cáo là "chính những đứa trẻ
đặt chúng ta vào sự ô nhục" (một lời khuyến khích có ý nói là lòng tin của những
đứa trẻ mãnh liệt hơn của chúng ta), và, chắc hẳn Stephen có một khả năng thuyết
phục làm cho người ta ngỡ ngàng trước một người còn quá trẻ và vô học như
Stephen. Trẻ em từ nhiều vùng trong nước Pháp tụm lại quanh Stephen, mang theo
cờ xí trên có dấu cờ hiệu của Vua. Đến tháng 6, 1212, ở nơi họp, Vendôme, có
tới 30,000 đứa trẻ tập họp lại để bắt đầu cuộc tiến quân lâm ly tới vùng đất
Thánh, không có bản đồ và không có ngay cả lương thực. Họ sắp sửa dự phần trong
cái mà ta chỉ có thể gọi là một niềm tin thống thiết.
Chúng ta không thể biết được có bao nhiêu em lẩn tránh
được sự ngăn cấm của bố mẹ: có thể các bậc cha mẹ, nghe lời tán thán của giáo
hoàng, sợ không dám tranh đua với sự chấp thuận của giáo hoàng, có thể họ không
có mấy quyền trong những địa hạt mà chính họ đã đi theo Boniface và Dandolo
(2 tư lệnh trong cuộc Thập Ác Chinh thứ 4; TCN); và có thể vì cái khả năng quyến
rũ của Stephen đã khiến cho đám trẻ trai gái này trở thành điếc trước mọi lời
khiển trách. Dù sao thì, đám trẻ này đã lên đường mùa hè năm đó, có nhiều người
lớn thuộc loại ăn bám nhập bọn, kể cả những linh mục bị lôi cuốn bởi cái sự
ngây ngất truyền nhiễm này, và đi qua những vùng Tours, Lyons xuống tới
Marseilles, dọc đường kiếm ăn ở nơi nào có thể kiếm được.
Nhưng mùa hè năm 1212 nóng một cách bất thường, mùa
màng chưa gặt, thực phẩm và nước uống hiếm hoi vì hạn hán. Nhiều em chết ở dọc
đường trong khi một số khác tìm đường quay trở về quê. Sau cùng, khi số còn lại
tới được Marseilles thì chúng bị thất vọng lớn vì thấy biển không khô cạn như
đứa trẻ chăn cừu Stephen đã hứa để chúng đi tới vùng đất Thánh.
Sau vài ngày sống cực khổ ở hải cảng này, chúng được
hai người lái buôn vô lương tâm đến tiếp xúc. Hai người này, tên là Hugh the
Iron và William the Pig đề nghị chở đoàn trẻ này tới Palestine bằng 7 chiếc tàu,
hoàn toàn miễn phí.
Stephen vui vẻ nhận lời, coi đó như là cánh tay của
Thiên Chúa cứu vớt chúng một cách huyền nhiệm. Những tàu này ra khơi nhưng đi
xuống phía Nam chứ không đi tới vùng đất Thánh. Nơi tới là hải cảng Bougie của
dân Saracen, nơi đây tất cả các đứa trẻ Pháp này đều bị bán đi làm nô lệ.
...Người ta cho rằng trong số 30000 trẻ em phát xuất từ
Vendôme, chỉ có một người duy nhất, một linh mục trẻ, trở về được nước Pháp, sau
18 năm bị làm nô lệ."
Cái cơn sốt Thập Ác Chinh này lan tới các trẻ em Đức.
Chúng bị kích động bởi lời thuyết giảng của một em trai tên là Nicholas.
Nicholas cũng nói với chúng về biển cả sẽ mở ra để chúng có thể an toàn bước qua
tới Jerusalem. "Quân đội" của Nicholas ước lượng khoảng 20000 đứa trẻ và những
kẻ ăn bám, tốt và xấu. Cái đoàn trẻ tả tơi này vất vả đi qua dãy núi Alps và,
hao hụt một cách đáng buồn bởi chết chóc và đào ngũ, sau cùng cũng tới được
Genoa. Ở đây chúng bị một ông thống đốc, vì không muốn dung dưỡng một đám trẻ
lộn xộn đói khát và bệnh tật, đuổi đi không cho vào thành. Thế rồi, như những
sinh vật trong giấc mộng chết chóc, chúng lê lết xuống phía Nam, những viễn
tượng về sự giải thoát Thánh địa đã bị quên đi trong đói khát và hấp hối.
Giáo hoàng Innocent III đã nói:."Chính những đứa trẻ đã
đặt chúng ta vào vòng ô nhục". Ngài đã nói đúng như thực, dù có thể trong một
nghĩa khác với ý định của ngài. Sự ô nhục thuộc chính giáo hoàng vì đã không
ngăn cấm sự phí phạm độc ác này; thuộc các bậc cha mẹ vì đã để cho con cái ra
đi; và thuộc các nông dân vì đã từ chối không cho bọn trẻ ăn, ở, hoặc thuộc
những người chấp chứa chúng chỉ để kiếm lời trên sức lao động nô lệ của chúng.
Người ta ước tính trong số 20000 trẻ em dự cuộc hành trình để cứu những nước
KiTô, không quá 2000 được trở về nhà. Kể ra chúng còn tốt số hơn là những đứa
trẻ Pháp."
13
Có lẽ tôi cũng nên ghi thêm ở đây là, Joseph
L. Daleiden, Ibid., trg. 55, có một nhận định như sau về những cuộc Thập Ác
Chinh:
"Càng suy nghĩ về vấn đề này tôi càng thấy cả 9 cuộc
Thập Ác Chinh đều là những cuộc Thập Ác Chinh của trẻ con. Tất cả những
người lính nông dân chất phác đó đều ngu tối như đám trẻ, mù quáng tuân theo sự
cổ võ của các giáo hoàng để đi giết những người dân Ả Rập đang bảo vệ đất đai
của họ." 14
Đó là những sắc thái và đặc tính của những cuộc Thập Ác
Chinh, và Thập Ác Chinh là sản phẩm đặc thù của Công Giáo La Mã ở Âu
Châu, khi các giáo hoàng ở vị thế nắm quyền thế gian, dùng quyền hành và khai
thác lòng mê tín dị đoan của các tín đồ, gây ra những cuộc tàn sát khủng
khiếp, xương chất thành núi, máu chảy thành sông, để chiếm đất, giành dân.
Tưởng chúng ta cũng nên biết thêm vài chi tiết về những
sự kiện xung quanh các cuộc Thập Ác Chinh. Tháng 4, 1095, một trận mưa thiên
thạch lớn rơi xuống Âu Châu. Giám mục Gislebert ở Lisieux diễn giải đó là dấu
hiệu của Thiên Chúa kêu gọi một cuộc Thập Ác Chinh chiếm lại Thánh Địa ở
miền Đông. Đến tháng 11 năm 1095, giáo hoàng Urban II triệu tập một công đồng ở
Clermont, Auvergne, để phát động cuộc Thập Ác Chinh thứ nhất. Trong một
bài diễn văn nẩy lửa, giáo hoàng nói: “Ngày tận thế đã gần kề. Ngày cáo
chung của tên Chống Chúa (Antichrist = Satan) cũng sắp tới. Tuy nhiên, nếu hắn
tới, hắn sẽ không thấy một tín đồ Ki Tô nào ở Thánh Địa (đang ở trong tay Hồi
giáo), vì ngày nay không còn ai ở đó để mà chống hắn.” Rồi giáo hoàng đưa
ra nhiều hứa hẹn với đám giáo dân thấp kém như ban “ơn toàn xá” và cho vé lên
thiên đường nếu chết trận, hứa sẽ săn sóc gìn giữ của cải của các chiến binh để
lại hậu phương, điều mà giáo hoàng không hề giữ lời, được giữ những tài vật
chiếm đoạt được, và nhất là được quyền cướp những thánh tích trong các mộ thánh
tử đạo (Pope Urban gave sanction to a repetition of such an act of
relic-gathering, of expiation by the robbery of martyr-tombs). Điều này rất hấp
dẫn đối với dân Âu Châu vì họ đang sống trong một thời đại mà bất cứ cái gì còn
lại của các “thánh”, hay đã được các “thánh” sờ tới, đều được tin là có những
năng lực siêu nhiên. (It was an age in which the remains of “holy” people, or
things touched by “saints”, were believed to be imbued with supernatural
power). Jerusalem không những chỉ là miền đất mà các “thánh” đã đi qua đi lại,
mà chính Giê-su, hiện thân của Thiên Chúa, cũng đã từng đi trên miền đất đó,
chết đi và sống lại ở đó. Đối với những giáo dân và những kẻ đi thâu thập
“thánh tích” cho những nhà thờ, giáo xứ để thờ phụng, thì không còn gì hấp dẫn
hơn là Jerusalem. Vì ở đó có ngọn “thánh giáo” (holy lance) đã đâm lên cạnh
sườn Giê-su, có cây “thánh giá” mà Giê-su bị đóng đinh trên đó, có xá lị của
John the Baptist, thân thể của Thánh George, những mảnh đá trong mồ Chúa, và
ngay cả nước sông Jordan mà Giê-su, con Thiên Chúa, đã được rửa tội trên đó.
[Người Công giáo thời đó tin rằng nước sông Jordan mà Giê-su rửa tội trên đó
không có chảy đi đâu hết, vẫn còn nguyên vị ở chỗ cũ. TCN]. Hơn nữa, trong thế
kỷ 11, vì để tự cứu linh hồn, họ có thể ăn cắp bất cứ cái gì để tránh bị thiêu
đốt bởi ngọn lửa dưới hỏa ngục mà các linh mục đã bảo họ là đã liếm mỗi bước
chân của họ (To save his soul, the man of 11th-century Europe would
have stolen anything to avoid the hot flames of Hell which, the priests had told
him, licked his legs at every step). Trong nhiều tháng tiếp theo, giáo hoàng
đích thân cổ động và ra lệnh cho các giám mục, linh mục trong các giáo xứ địa
phương ở Âu Châu cũng phải cổ động cho cuộc Thập Ác Chinh này. Giáo dân
khắp nơi reo hò cuồng nhiệt: “Thiên Chúa muốn thế” (Deus Vult = God wills
it). Rất nhiều kẻ trộm cướp, sát nhân được thoát khỏi vòng lao lý với điều kiện
là chuộc tội bằng cách làm đổ máu dân ngoại đạo (Many thieves and murderers who
escaped block and gallows only on condition that they redeemed themselves by
spilling heathen blood).
Trên
đây chỉ là vài nét về những cuộc Thập Ác Chinh của Công Giáo La Mã. Trước những sự thật lịch
sử đen tối, bạo tàn của giáo hội Công Giáo mà chính giáo hoàng John Paul II ngày
nay và tòa thánh Vatican đã thú nhận, tôi xin đặt một câu hỏi cho các tín đồ
Công giáo Việt Nam: Có thật là quý vị đang ở trong một “hội thánh” hay không?
Và quý vị có tin rằng cái lịch sử đẫm máu của “hội thánh” Công giáo kéo dài suốt
2000 năm hoàn toàn không dính líu gì đến niềm tin của quý vị không? Muốn trả
lời câu hỏi này, quý vị cần biết rõ:
Thật ra, những cuộc Thập Ác Chinh của Công giáo
không chỉ có mục đích giết dân Ả Rập mà còn giết những người Do Thái và giết
luôn cả những người Ki Tô giáo khác không có cùng quan niệm tôn giáo với Công
giáo, như chúng ta đã thấy trong cuộc Thập Ác Chinh Albigense mô tả ở
trên. Các cuộc Thập Ác Chinh của Công giáo đã nhận chìm Âu Châu trong
vòng chiến tranh tàn sát suốt hai thế kỷ 11 và 12, dài gần 200 năm.
Nhưng, ngoài sách lược tiêu diệt văn hóa nhân loại và các
cuộc Thập Ác Chinh, lịch sử Công giáo La Mã còn một vết nhơ vĩ đại khác, đó là
những Tòa Án xử những người Dị Giáo (khác đạo) hay những người mà Giáo hội kết
tội là lạc đạo, nghĩa là không công nhận quyền lực của Giáo hoàng và của hàng
giáo phẩm, những người Do Thái và cả những người theo Ki Tô Giáo nhưng
không cùng tín ngưỡng với Công Giáo. Những tòa án xử dị giáo này kéo dài hơn
500 năm và đã |