Các bài trong tập này: 1
2
3 4
5 6
7 8
PHẦN V :
NÚI TỘI ÁC THỨ NĂM CỦA CÔNG GIÁO :
GÂY HẬN THÙ VÀ BÁCH HẠI NGƯỜI DO THÁI
Khi nói đến vấn đề bách hại người Do Thái,
thường chúng ta nghĩ
ngay đến lò “thiêu người
tập thể” (Holocaust) của
Đức Quốc Xã (Nazis).
Tuy nhiên, những lò
“thiêu người tập thể”
này chỉ là sự tiếp nối
và là giai đoạn cuối của
chính sách kỳ thị và
bách hại người Do Thái
của Ki Tô Giáo, mới đầu
là Ca Tô Giáo Rô-ma
(Công giáo) trong mấy
thế kỷ đầu, rồi sau đó,
từ thế kỷ 16, song hành
với Tin Lành. Chính
sách kỳ thị và bách hại
người Do Thái được thi
hành qua ba chủ trương:
cưỡng bức cải đạo;
cưỡng bức cải đạo không
được thì trục xuất; trục
xuất không được thì
giết. Vậy 6 triệu
sinh mạng Do Thái bị hủy
diệt bởi Đức Quốc Xã ở
Âu Châu trong Thế Chiến
thứ hai, xảy ra trong
các nước Ki Tô Giáo ở Âu
Châu như Đức, Pháp,
Ý, Ba Lan, Tiệp Khắc
v..v.., và vô số sinh
mạng Do Thái bị hủy diệt
bởi Ki Tô Giáo trong các
cuộc Thập Ác Chinh,
trong các Tòa Án Xử Dị
Giáo v..v.., tất cả đều
nằm trong giai đoạn cuối
của chính sách chống Do
Thái của Ki Tô Giáo.
Thật vậy,
học giả nổi tiếng Raul
Hillberg, chuyên gia
nghiên cứu về Holocaust,
đã viết trong cuốn
“Sự Tiêu Diệt Những
Người Do Thái Âu Châu”
(The Destruction of the
European Jews, Holmes &
Meier, New York, 1985),
pp 7f, như sau:
Từ thế
kỷ thứ 4 đã có ba chính
sách chống Do Thái:
cưỡng bức cải đạo, trục
xuất khỏi xứ, và hủy
diệt. Chính
sách thứ hai là chính
sách thay thế cho chính
sách thứ nhất khi chính
sách này không thành
công, và chính sách thứ
ba cũng là để thay thế
cho chính sách thứ hai…
Những nhà truyền giáo
Ki Tô Giáo đã chẳng từng
nói: Các ngươi không có
quyền sống giữa chúng
tôi như là người Do Thái
[nghĩa là phải cải
đạo thành tín đồ Ki Tô
và mất đi căn cước Do
Thái]. Các nhà
cai trị thế tục
[thường là ở dưới thần
quyền hay cai trị song
song với thần quyền]
tuyên bố: Các người
không có quyền sống cùng
với chúng tôi
[nghĩa là phải bị trục
xuất ra khỏi xứ, thí dụ,
theo đề nghị của Marin
Luther v..v..].
Sau cùng, Đức Quốc Xã ra
nghị định: Các người
không được quyền sống
[do đó thực hiện
“Giải pháp cuối cùng”
(Final solution), nghĩa
là tận diệt người Do
Thái]
Quá trình
này bắt đầu bằng toan
tính lùa người Do Thái
vào Ki Tô Giáo. Một sự
phát triển chính sách
được tiếp nối để cưỡng
bách trục xuất những nạn
nhân. Và cuối cùng là
lùa người Do Thái vào
chỗ chết. Như vậy,
Đức quốc xã
(Nazis) không dẹp
bỏ quá khứ
[chống Do Thái của Ki Tô
Giáo] mà được xây
dựng trên đó, không bắt
đầu sự phát triển chính
sách chống Do Thái mà là
hoàn tất chính sách đã
có.
[Since the
fourth century after
Christ there have been
three anti-Jewish
policies: forced
conversion, expulsion,
annihilation. The
second appeared as an
alternative to the
first, and the third
emerged as an
alternative to the
second… The missionaries
of Christianity had said
in effect: You have no
right to live among us
as Jews. The secular
rulers who followed
proclaimed: You have no
right to live among us.
The Nazis at last
decreed: You have no
right to live.
The process
began with the attempt
to drive the Jews into
Christianity. The
development was
continued in order to
force the victims into
exile. It was finished
when the Jews were
driven to the death.
The German Nazis, then,
did not discard the
past; they built upon
it. They did not begin
a development; they
completed it.]
John Cornwell,
một học giả Ca-Tô, viết
trong cuốn “Giáo
Hoàng Của Hitler”
(Hitler’s Pope):
“Vào
khoảng giữa năm 1997,
tôi ở trong tình trạng
bị một cú “sốc” về đạo
lý. Những tài liệu tôi
thu thập được không thể
dùng được để miễn trách
nhiệm [cho Giáo
hoàng Pius XII] mà là
một bản cáo trạng còn
gây tai tiếng hơn là bản
cáo trạng của Hoshhuth
[Rolf Hoshhuth là người
đã chỉ trích Pius XII.]
Bằng chứng thật là
mạnh mẽ. Lần đầu
tiên nó chứng tỏ
Pacelli [tên tục
của Pius XII]],
qua chính những lời của
ông ấy, là một người
chống Do Thái có môn
bài. Nó chứng tỏ
rằng ông ta đã giúp cho
Hitler lên cầm quyền
và cùng lúc phá ngầm khả
năng kháng chiến của Ca
Tô Giáo ở Đức. Nó
chứng tỏ rằng ông ta ngụ
ý phủ nhận và tầm thường
hóa những lò sát sinh
của Đức Quốc Xã dù rằng
ông ta đã biết rõ nội
vụ. Và tệ hơn cả, ông
ta là một người đạo đức
giả, vì sau khi đệ nhị
thế chiến chấm dứt ông
ta lại mang danh không
xứng đáng là người đã
công khai chống sự bạo
hành của Nazi.”
[qua guồng máy tuyên
truyền của Ca Tô Giáo Rô
ma].
(By the
middle of 1997, I was in
a state of moral shock.
The material I had
gathered amounted not to
an exoneration but to an
indictment more
scandalous than
Hochhuth's. The evidence
was explosive. It showed
for the first time that
Pacelli was patently,
and by the proof of his
own words, anti-Jewish.
It revealed that he had
helped Hitler to power
and at the same time
undermined potential
Catholic resistance in
Germany. It showed that
he had implicitly denied
and trivialized the
Holocaust, despite
having reliable
knowledge of its true
extent. And, worse, that
he was a hypocrite, for
after the war he had
retrospectively taken
undue credit for
speaking out boldly
against the Nazis’
persecution.)
Và Sam
Harris, trong cuốn sách
mới xuất bản, Thư Cho
Một Quốc Gia Ki Tô (Letter
To A Christian Nation,
Alfred A. Knopf, New
York, 2006), đã viết,
trang 41-42:
Hãy xét
đến những lò thiêu sống
tập thể của Đức Quốc
Xã: chủ nghĩa chống
Do Thái dựng lên những
trại tử thần của Nazi là
thừa hưởng trực tiếp
chính sách của Ki Tô
Giáo thời Trung Cổ.
Trong nhiều thế kỷ,
những người Âu Châu Ki
Tô đã coi những người Do
Thái như là những giống
người lạc đạo tệ mạt
nhất và gán cho sự hiện
diện của người Do Thái
trong đám tín đồ Ki Tô
là nguyên nhân của mọi
điều xấu xa trong xã
hội… Chính
Vatican đã thường
xuyên quy tội cho người
Do Thái giết Chúa trong
báo chí của Vatican cho
tới năm 1914.
Và cả hai giáo hội,
Ca-Tô cũng như Tin Lành,
đều có một thành tích ô
nhục đồng lõa trong
chính sách diệt chủng
dân Do Thái.
(Consider
the Holocaust: the
anti-semitism that built
the Nazi death camps was
a direct inheritance
from medieval
Christianity. For
centuries, Christian
Europeans had viewed the
Jews as the worst
species of heretics and
attributed every
societal ill to their
continued presence among
the faithful… The
Vatican itself
perpetuated the blood
libel in its newspapers
as late as 1914. And
both Catholic and
Protestant churches have
a shameful record of
complicity with the Nazi
genocide.)
Từ vài tài
liệu trên trong vô số
tài liệu về sự liên hệ
giữa chính sách chống Do
Thái của Ki Tô Giáo và
lò sát sinh của Đức Quốc
Xã, ngày nay không ai
còn có thể phủ nhận sự
liên hệ ô nhục giữa một
tôn giáo, Ki Tô Giáo, và
một chính quyền thế tục,
Đức Quốc Xã, đưa đến kết
quả là 6 triệu người Do
Thái đủ mọi lứa tuổi bị
giết một cách bừa bãi,
man rợ không kém những
vụ giết người bừa bãi
bởi những tòa án xử dị
giáo hay những cuộc săn
lùng phù thủy của Ca Tô
Giáo Rô-ma.
Nhưng ngày
nay, Giáo hoàng Benedict
XVI hầu như quên hết
lịch sử Ca Tô Giáo Rô
Ma. Trên trang nhà
“Tiếng Nói Giáo Dân”
có đăng Tâm Thư của ông
ta gửi, không biết gửi
cho ai, nhưng ngay dưới
câu “Giáo hoàng
Benedicto 16 mến gửi”
thì có hình của 15 vị
mặc áo đỏ hay áo chùng
thâm, ngực đeo “thánh
giá”, và mặt mũi không
trộn lẫn đi đâu được là
người Việt Nam.
Tâm thư của
Giáo hoàng có những câu
như sau, với vài lời
bình luận của TCN:
Ngày nay
người ta nói nhiều về
vai trò ngôn sứ của giáo
hội. Từ ngữ đó đôi khi
bị lạm dụng. Đúng là
giáo hội không bao giờ
được phép chạy theo
thời. Giáo hội phải nói
lên cái xấu và cái nguy
của thời đại, phải nhắc
nhở lương tâm những kẻ
có quyền, cả những người
trí thức, và cả những kẻ
thờ ơ hẹp hòi trước
những nỗi thống khổ của
thời đại. [Vai trò
ngôn sứ của giáo hội đã
đưa nhân loại vào 1000
năm thường được biết là
“Thời đại hắc ám” (The
dark ages), hay thời đại
“man rợ trí thức” với
những cuộc thập tự
chinh, tòa hình án xử dị
giáo, thiêu sống phù
thủy v…v… Nhưng giáo
hoàng không coi đó là
cái xấu của thời đại mà
là sự vinh quang của
giáo hội, vì thời đại đó
là thời hoàng kim của
giáo hội. Do đó, trong
thời đại hắc ám đó,
chúng ta không thấy giáo
hội nói lên cái xấu và
cái nguy của thời đại.
Ở Croatia, trong kỳ đệ
nhị Thế Chiến, khi chính
quyền Ca-Tô Palevich
cưỡng bách người Chính
Thống Giáo cải đạo, giết
khoảng 700000 (7 trăm
ngàn) người Chính Thống
Giáo và Gypsies chúng ta
cũng không thấy giáo hội
nói lên cái xấu và cái
nguy của thời đại.. (Xin
đọc The Vatican’s
Holocaust của
Avro Manhattan). Tại
sao? Vì chính giáo hội
là cái xấu và cái nguy
của thời đại. Ai không
đồng ý xin mời lên
tiếng.]
Là Giám
mục tôi thấy có nhiệm vụ
phải làm chuyện đó. Lại
nữa tình trạng suy đồi
quá hiển nhiên: đức tin
mệt mỏi, ơn gọi tu trì
sút giảm, luân lý đạo
đức xuống cấp ngay cả
trong giới giáo sĩ, tình
trạng bạo lực càng gia
tăng… [Đây là một sự
kiện mà ai cũng biết.
Đức tin mệt mỏi vì những
con người có đầu óc
không còn có thể tin vào
những điều hoang đường,
mê tín, phi lý đã quá
lỗi thời. Ơn gọi tu trì
sút giảm vì con người
nhận thức được rằng
chẳng có cái gì gọi là
ơn kêu gọi cả, và những
người ngày nay đáp ứng
“ơn gọi tu trì” chẳng
qua là chỉ muốn có đời
sống như một tộc trưởng
của một bộ lạc như chính
Giáo hoàng đã than
phiền. Luân lý đạo
đức xuống cấp [không
phải chỉ bây giờ mới
xuống mà đã tệ mạt nhất
trong quá khứ: Xin đọc
bài “Đây! Những
“Đức Thánh Cha””
trên giaodiemonline.com
tháng 6/2007] từ vị
chủ chăn là chính Giáo
hoàng Benedict XVI, gần
đây nói ngược nói suôi ở
Brazil, và đã từng xuyên
tạc các tôn giáo khác
như Hồi Giáo và Phật
Giáo, cho đến những linh
mục cưỡng hiếp nữ tu
trên 23 quốc gia, và cho
tới nay, gần 5000 (năm
ngàn) linh mục đã bị
truy tố về tội loạn dâm,
cưỡng bức tình dục trẻ
em. Nhưng có vẻ như
Giáo hoàng cũng quên
rằng chính mình, khi còn
là Hồng Y Ratzinger, đã
ra văn thư bao che các
linh mục loạn dâm hay
sao, cho rằng những vụ
loạn dâm của các linh
mục phải được xử lý kín
trong nội bộ giáo hội,
nghĩa là một hình thức
xử lý nội bộ để bao che
các linh mục phạm tội,
để bảo vệ “danh dự”, nếu
có, của giáo hội. Tài
liệu của Jamie Doward
trên Internet ngày 24
tháng 4, 2005 viết trên
tờ Observer:
Giáo
hoàng cản trở cuộc điều
tra về các linh mục loạn
dâm. Bức thư
mật phanh phui ra chuyện
Ratzinger (nay là Giáo
hoàng Benedict XVI) ra
lệnh cho các giám mục
phải giữ kín những vụ tố
cáo linh mục loạn dâm.
Tối qua, Giáo hoàng
Benedict XVI phải đối
diện với lời lên án là
ông ta đã “cản trở công
lý” sau khi người ta
biết là ông ta đã ra
lệnh phải giữ kín những
vụ điều tra các linh mục
bị tố cáo là cưỡng bức
tình dục trẻ con.
Lệnh này viết trong môt
bức thư mật gửi tất cả
các giám mục vào tháng
5, 2001 mà tờ The
Observer lấy được. Bức
thư khẳng định giáo hội
có quyền điều tra kín và
bảo mật các bằng chứng
cho đến 10 năm sau các
nạn nhân của các linh
mục loạn dâm đến tuổi
trưởng thành. Bức thư
ký bởi Hồng Y Joseph
Ratzinger, được tuyển
chọn tuần qua để kế vị
John Paul II.
(Pope 'obstructed' sex abuse inquiry .
Confidential letter
reveals Ratzinger
ordered bishops to keep
allegations secret.
Pope Benedict XVI faced
claims last night he had
'obstructed justice'
after it emerged he
issued an order ensuring
the church's
investigations into
child sex abuse claims
be carried out in
secret. The order was
made in a confidential
letter, obtained by The
Observer, which was sent
to every Catholic bishop
in May 2001. It asserted
the church's right to
hold its inquiries
behind closed doors and
keep the evidence
confidential for up to
10 years after the
victims reached
adulthood. The
letter was signed by
Cardinal Joseph
Ratzinger, who was
elected as John Paul
II's successor last
week.)
Lời Chúa
trong Thánh Kinh và
những lời của các giáo
phụ vang lên trong đầu
tôi, kết án những mục tử
nào làm chó câm để tránh
bị phiền toái và vì thế
để cho nọc độc lan tràn.
[Nếu vậy thì Giáo hoàng
Pius XII và vô số những
Hồng Y, Tổng Giám mục,
giám mục, linh mục có
phải là chó câm trong
thời Hitler không?
Không những chỉ là chó
câm mà còn là những tên
đao phủ đích thân nhúng
tay vào những vụ tàn sát
người ngoại giáo như
Chính Thống và Gypsies ở
Croatia: Xin đọc “The
Vatican’s Holocaust” của
Avro Manhattan].
Im lặng
không phải là bổn phận
của người công dân, và
riêng tôi, tôi kinh sợ
một giám mục chỉ biết an
phận, chỉ lo làm sao để
tránh phiền phức, và lấp
liếm xung đột. [Đây
chính là sách lược của
giáo hội khi ở thế yếu ở
một nơi nào đó qua suốt
dòng lịch sử, đặc biệt
là trong thời đại của
Hitler]
Chúng ta
thấy rõ, khi không còn ở
vị thế quyền lực, nắm
quyền sinh sát trong
tay, và trước tình trạng
suy thoái khó có thể cứu
vãn thì giáo hội đóng
vai trò đạo đức. Nhưng
cái mửng này không lừa
bịp được ai. Cuộc công
du Brazil của Benedict
XVI cho thấy rõ ông ta
là một con người thiếu
đạo đức của một vị chủ
chăn: nói ngược rồi khi
bị chống đối, nói suôi
cho xong chuyện. Tôi
chẳng nên mất thì giờ
thêm với một con người
đạo đức giả và vô đạo
đức tôn giáo như
Benedict XVI. Các tín
đồ Ca Tô Giáo Rô-ma muốn
ca tụng “đức thánh cha”
của họ thế nào cũng
được, tôi không ngăn
cản, nhưng họ phải biết
được một điều: thời buổi
này không ai có thể lừa
bịp được con người mãi
mãi, đầu óc, trí tuệ của
con người đã tiến bộ,
không còn ở trạng thái
đầu óc của những con cừu
trong thời Trung Cổ như
trước.
Sau đây,
chúng ta sẽ đi sâu thêm
vào Núi Tội Ác Thứ
Năm của Ca-Tô Giáo
Rô-Ma: Bách hại người
Do Thái.
Nghiên cứu
lịch sử, chúng ta sẽ
thấy rằng, những
chính sách chống Do Thái
là những sản phẩm đặc
thù của Ca Tô
Giáo cũng như Tin Lành,
được chế tạo ra từ những
đầu óc thuộc loại cuồng
tín cùng cực hẹp hòi
thuộc thời bán khai của
một số Giáo hoàng như
Innocent III; của một số
“Thánh” Ca Tô như Paul
(Phao Lồ), John (Giăng)
trong Tân ước; của một
số “Thánh thượng phụ” Ca
Tô Giáo như Chrysostom,
Bernard, Augustine; và
của những nhà lập giáo
Tin Lành như Martin
Luther, John Calvin
v..v.. Cuồng tín hẹp
hòi vì chỉ dựa vào một
vài câu viết bậy trong
Tân ước mà vu cho người
Do Thái cái tội “giết
Chúa”, nếu Chúa toàn
năng, toàn trí của họ có
thể bị giết bởi người
thường.
Trước khi
trích dẫn những “lời nói
kỳ thị, nguyền rủa” của
các vị trên về người Do
Thái, chúng ta hãy điểm
qua một số ý kiến của
các học giả về sự liên
hệ giữa chính sách chống
Do Thái của Ki Tô Giáo
và những lò “thiêu người
tập thể” của Đức Quốc
Xã.
Trước hết
chúng ta hãy đọc vài
đoạn trong cuốn “Một
Mặt Đen Tối Của Lịch Sử:
Chính Sách Chống Do Thái
Qua Các Thời Đại” (A
Dark Side of History:
Antisemitism Through The
Ages, Anti-Defamation
League, 2000) của Jerome
A. Chanes, đã viết như
sau:
Tác giả
Ca Tô Giáo Rô-ma (Roman
Catholicism) có tên
tuổi, Malcolm Hay, đã
viết cho Jules Isaac
cách đây 40 năm như sau:
“Auschwitz
(Nơi thiêu người tập thể
kinh khủng nhất của Đức
Quốc Xã) không thể
nào thực hiện được nếu
không có những lời nói
láo độc địa mà các Giáo
hội Ki Tô đã làm nhiễm
độc các dân tộc Ki Tô
trong ít nhất là 1600
năm” [Trg. 11]
Không quá
40 năm trước đây, nghiên
cứu những chủ đề và
những tài liệu về chống
Do Thái của Ki Tô Giáo
thường bị coi là điều
cấm kỵ. Trong những năm
gần đây, những nghiên
cứu về Holocaust, do
tinh thần thảo luận cởi
mở trong các giáo hội Ki
Tô, đã phanh phui ra
vai trò cốt yếu của Giáo
hội trong chính sách bạo
hành những người Do Thái
sống trong những xứ Ki
Tô. [Trg. 29]
(The
distinguished Roman
Catholic author Malcolm
Hay wrote to Jules Isaac
40 years ago that
“Auschwitz would have
been impossible had it
not been for the
poisonous lies with
which the churches have
infected Christian
populations for at least
1600 years.”)
No more
than 40 years ago, the
subjects of Christian
antisemitism and the
Christian sources of
antisemitism were
generally considered
taboo.
In recent
years, research on the
Holocaust, together with
a growing tolerance for
discussion within the
churches, has revealed
the crucial role played
by the Church in the
persecution of Jews in
Christendom.)
Thái
độ của Luther chẳng bao
lâu trở thành chống Do
Thái một cách hiển
nhiên. Năm
1542, Luther phát tán
một tờ truyền đơn,
“Về người Do Thái và
nhưng lời nói láo của
họ”, tiếp theo là
một tiểu luận khác trong
đó ông ta chỉ trích gắt
gao bằng loại ngôn từ
không kém độc địa như
những lời đã đã từng đưa
ra đối với người Do Thái
từ trước hoặc sau đó.
Luther, [ông
tổ của giáo phái Tin
Lành] với lời lẽ
vừa châm biếm vừa tục
tĩu, nhắc lại
mọi luận điệu lên án Do
Thái từ trước, với những
điều chúng ta đã quen
thuộc: Người Do Thái là
những kẻ bỏ thuốc độc
[vào giếng nước];
nhũng kẻ cho vay nặng
lãi; những ký sinh trùng
trong xã hội Ki-Tô; song
hành với Satan; những kẻ
bị đầy đọa xuống hỏa
ngục. Trong những bản
văn của Luther, một hình
ảnh cũ được đưa ra: Do
Thái là những kẻ
”chống-Chúa.”
Luther không để cho
những độc giả của ông ta
tự tưởng tượng ra những
điều ông ta quan niệm về
một chương trình đối xử
với người Do Thái. Ông
ta vạch rõ: cần phải đốt
sập những giáo đường Do
Thái, tịch thu sách vở
Do Thái, cưỡng bách
người Do Thái phải lao
động chân tay cực nhọc,
tốt hơn nữa, cần phải
trục xuất người Do Thái
ra khỏi những đất đai
của họ.
(p.105:
Luther’s attitude toward
the Jews became one that
before too long was
blatantly antisemitic.
In 1542, Luther
published a tract,
Concerning the Jews and
Their Lies, soon
followed by another
essay, which excoriated
the Jews in Language
that equaled in
virulence anything
uttered against them
before or since.
Luther, in language both
sarcastic and
scatological, renewed
all the old charges of
the past, perpetuating
patterns with which we
have become familiar
during the course of
these talks: Jews are
poisoners; Jews are
usurers; Jews are
parasites on Christian
society; Jews consort
with Satan himself; Jews
are doomed to Hell. In
Luther’s writings a new
locution of an old image
of the Jew emerged: the
Jew as “Anti-Christ”
Luther did
not leave to his
readers’ imagination
what he conceived as the
appropriate agenda to
deal with the Jews. He
was quite explicit:
their synagogues should
be burned, their books
seized; they should be
forced into
back-breaking manual
labor; better still,
they should be expelled
from their territories.)
Theo sử
gia Lucy Dawidowics,
“Người ta có thể dễ dàng
kéo một đường chống Do
Thái thẳng từ Martin
Luther tới Adolf
Hitler”. Cả Luther
và Hitler đều bị ám ảnh
bởi một vũ trụ quỷ sứ mà
người Do Thái sống trong
đó. Khi chúng ta
duyệt lịch sử chống Do
Thái trong thế kỷ 20 ở
Tây Âu, chúng ta nhận ra
rằng có một chuỗi xích
quan niệm và triết lý
nối sự Cải Cách của Ki
Tô Giáo và sự nổi giậy
của chủ nghĩa Hitler.
(p 151:
According to historian
Lucy Dawidowics, “A line
of antisemitism descent
from Martin Luther to
Adolf Hitler is easy to
draw” Both Luther and
Hitler were obsessed by
a demonologized universe
inhabited by Jews. As
we trace the history of
antisemitism to 20th
century Western Europe,
we note that there is a
direct conceptual and
philosophical chain
connecting the Christian
Reformation and the rise
of Hitlerism.)
Tiến sĩ
Michael L. Brown, Khoa
Trưởng Trường Cao Cấp
về Thần học tại
Gaithersburg,
Maryland, USA, trong
cuốn "Bàn tay của
chúng ta dính nhơ đầy
máu" (Our Hands
are Stained With Blood,
Messiah Biblical
Institute, MD, 1992, p.
7) viết với nhiều chi
tiết về chương trình đối
xử với người Do Thái của
Martin Luther như sau:
"Thứ
nhất, phải đốt sạch
những giáo đường Do
Thái... Thứ nhì, nhà
cửa của họ cũng phải
thiêu hủy...Thứ ba, họ
không được giữ những
cuốn kinh cầu nguyện và
Thánh kinh Do Thái.
Thứ tư, phải cấm
những giáo sĩ của họ
giảng đạo nếu không sẽ
bị xử tội chết... Thứ
năm, những quyền lợi về
giấy thông hành và du
hành của những người Do
Thái phải tuyệt đối
cấm. Thứ sáu, họ phải
ngưng lấy lãi khi cho
vay tiền...Thứ bảy, hãy
cấp cho thanh thiếu niên
nam nữ Do Thái những cái
đập lúa, búa dìu, cuốc,
thuổng để chúng kiếm
ăn bằng mồ hôi trên mũi
chúng.. Chúng ta phải
trục xuất bọn nhãi ranh
lười biếng trên ra khỏi
hệ thống của chúng ta.
Như vậy là đuổi chúng
cút đi chỗ khác.
Nói tóm
lại, các ông hoàng và
nhà quý phái thân yêu mà
có người Do Thái trong
các xứ của mình, nếu lời
khuyên này của tôi không
hợp với các người, thì
các người hãy tìm một
cách tốt hơn để quý vị
và tôi không còn phải
mang cái gánh nặng không
thể chịu đựng được nữa
của những kẻ gian ác –
người Do Thái"
(First,
their synagogues should
be set on fire..
Secondly, their homes
should likewise be
broken down and
destroyed...Thirdly,
they should be deprived
of their prayer-books
and Talmuds...Fourthly,
their rabbis must be
forbidden under threat
of death to teach any
more...Fiftly, passport
and traveling privileges
should be absolutely
forbidden to the
Jews...Sixthly, they
ought to be stopped from
usury (charging interest
on loans)...Seventhly,
let the young and strong
Jews and Jewesses be
given the flail, the ax,
the hoe, the spade...and
let them earn their
bread by the sweat of
their noses...We ought
to drive the rascally
lazy bones out of our
system.. Therefore away
with them
To sum up,
dear princes and nobles
who have Jews in your
domains, if this advice
of mine đoes not suit
you, then find a better
one so that you and we
may all be free of this
insufferable devilish
burden – the Jews)
Trong một
đoạn khác, tiến sĩ Brown
viết, trang 7:
"Ki Tô
Giáo không tạo ra sự hủy
diệt tập thể dân Do Thái
[của Đức Quốc Xã],
nhưng Ki Tô Giáo đã
làm cho sự hủy diệt trên
thành hình. Không
có sự chống Do Thái của
Ki Tô giáo, người ta
không thể quan niệm nổi
một chính sách hủy diệt
như vậy. Hitler và
những đảng viên quốc xã
đã tìm thấy trong pháp
chế chống Do Thái của
Công giáo trong thời
Trung Cổ một mẫu mực
hành dộng cho chính họ,
và họ in lại những văn
kiện chống Do Thái độc
địa của Martin Luther.
Chúng ta nên biết chính
sách hủy diệt tập thể
này chỉ được gây ra bởi
một nước lớn ở Âu châu
trong đó số tín đồ Công
giáo và Tin Lành xấp xỉ
bằng nhau. Cả hai tôn
giáo trên đều chứa đầy
sự thù hận người Do
Thái.
Trong gần
2000 năm, thế giới Ki Tô
đã tàn nhẫn làm mất nhân
tính của người Do Thái
khiến cho chính sách hủy
diệt tập thể, kết quả
chung cùng của sự làm
mất nhân tính này, có
thể thành tựu.
Trong
những năm dài, đen tối
của thời Trung Cổ, người
Do Thái thường được phép
chọn: rửa tội hoặc bị
trục xuất, rửa tội hoặc
bị tra tấn, rửa tội hoặc
là chết"
(Christianity did
not create the
Holocaust; indeed Nazism
was anti-Christian, but
it made it possible.
Without Christian
antisemitism, the
Holocaust would have
been
inconceivable...Hitler
and the Nazis found in
medieval Catholic
anti-Jewish
legislation a model
for their own, and they
read and reprinted
Martin Luther's
virulently antisemitic
writings. It is
instructive that the
Holocaust was unleashed
by the only major
country in Europe
having approximately
equal numbers of
Catholics and
Protestants. Both
traditions were
saturated with
Jew-hatred.
For nearly
2000 years, the
Christian world
relentlessly dehumanized
the Jew, enabling the
Holocaust, the ultimate
consequence of this
dehumanization, to take
place.
During the
long, dark years of the
Middle Ages, Jews were
frequently given the
option of baptism or
expulsion, baptism or
torture, baptism or
death )
Một tài liệu
khác trên Internet cho
chúng ta biết thêm chi
tiết về con người của
Martin Luther đối với
người Do Thái:
“Đây là
một phần những gì Luther
viết vào năm 1543. Nên
để ý là có vẻ như
Adolf Hitler đã dùng
chúng như là sự chỉ đạo
tổng quát để áp dụng
giai đoạn đầu tiên trong
“giải pháp cuối cùng”
đối với người Do Thái:
“Hãy để
tôi cho các người những
lời khuyên chân thật của
tôi;
Thứ nhất,
hãy đốt sạch mọi giáo
đường hay trường học của
chúng và chôn vùi chúng
dưới lòng đất những gì
không thể đốt được, để
cho không ai có thể thấy
được một viên đá hay một
mảnh than cháy dở.
Phải thực hành điều này
để vinh danh Chúa của
chúng ta và cho tập thể
người Ki Tô.
Thứ nhì,
hãy phá hủy triệt hạ nhà
của chúng.
Thứ ba,
phải cướp đi mọi kinh
cầu nguyện, và kinh
Talmud mà những điều
viết trong đó có những
lời nói láo, nguyền rủa,
phỉ báng và thờ thần
tượng.
Thứ tư,
phải cấm không cho những
thầy tu Do Thái giảng
đạo nếu không sẽ bị hành
quyết và chặt chân tay.
Thứ năm,
phải cấm tuyệt không cho
chúng du hành tự do trên
các trục giao thông. Vì
chúng không có nhiệm vụ
gì ở các vùng quê, vì
chúng không phải là
những lãnh chúa, viên
chức chính quyền, thương
gia v..v.. Hãy bắt
chúng ở yên trong nhà
[Nhà nào ?? Sau khi
đã phá hủy và triệt hạ
nhà của người Do Thái
trong “lời khuyên” thứ
hai]
Thứ sáu,
phải cấm chúng hành nghề
cho vay lãi, và phải
tịch thu mọi tiền bạc,
vàng bạc quý giá của
chúng, giữ riêng nơi an
toàn [ai giữ riêng
ngoài giáo hội Ki Tô??
Đây chỉ là hành động
cướp cạn của giáo hội]
Thứ bảy,
hãy cấp cho thanh
thiếu niên nam nữ Do
Thái những cái đập lúa,
búa dìu, cuốc, thuổng
để chúng kiếm sống bằng
mồ hôi trên lông mày
chúng.”
( Here in
part is what Luther
wrote in C.E. 1543. Note
that Adolf Hitler seemed
to use it as a general
guide for implementing
the earlier phase of his
"final solution" against
the Jews:
Let me give
you my honest advice:
First, to
set fire to their
synagogues or schools
and to bury and cover
with dirt whatever will
not burn, so that no man
will ever again see a
stone or cinder of them.
This is to be done in
honor of our LORD and of
Christendom.
Second, I
advise that their houses
also be razed and
destroyed.
Third, I
advise that all their
prayer books and
Talmudic writings, in
which such idolatry,
lies, cursing, and
blasphemy are taught, be
taken from them.
Fourth, I
advise that their rabbis
be forbidden to teach
henceforth on pain of
loss of life and limb.
Fifth, I
advise that safe conduct
on the highways be
abolished completely for
the Jews. For they have
no business in the
countryside, since they
are not lords,
officials, tradesmen, or
the like. Let them stay
at home.
Sixth, I
advise that usury be
prohibited to them, and
that all cash and
treasure of silver and
gold be taken from them,
and put aside for safe
keeping.
Seventh, I
recommend putting a
flail, an ax, a hoe, a
spade, a distaff, or a
spindle into the hand of
young, strong Jews and
Jewesses and letting
them earn their bread in
the sweat of their
brow.)
Linh mục
David R. Mason, Giáo sư
về tôn giáo, đại học
John Carroll ở
Cleveland, Ohio, viết ,
trang 27: (Anti-Semitism,
Mark McKain, Editor,
Green Haven Press, MI
2005)
Không
còn nghi ngờ gì là lò
thiêu sống tập thể người
Do Thái trong những thập
niên 1930 vá 1940 ít
nhất cũng là một phần
kết quả trực tiếp của
2000 năm người Ki-Tô
chống Do Thái. Hơn nữa,
sự lương thiện trí thức
đòi hỏi rằng căn nguyên
của những lời phỉ báng
chống Do Thái của Ki Tô
Giáo thì nằm trong chính
cuốn Tân Ước, đặc biệt
là những Phúc Âm..
(There can
be little doubt that the
Holocaust of the Jews in
the 1930’s and 1940’s
is, at least partially
the direct result of
2000 years of Christian
anti-Judaism. Moreover,
honesty demands that the
root of much Christian
anti-Jewish slander be
located in the New
Testament itself,
especially the Gospels…)
Và học giả
Eliezer Berkovits, viết
trong cuốn “Đạo Do
Thái Trong Thời Kỳ Hậu
Ki Tô” (Judaism in
the Post-Christian Era),
về “sự phá sản đạo
đức của nền văn minh Ki
Tô Giáo và sự phá sản
Tâm Linh của Ki Tô Giáo”
(The moral bankrupcy of
Christian civilization
and the spiritual
bankrupcy of Christian
religion) như sau, trang
287:
“Sau
19 thế kỷ của Ki Tô
Giáo, sự hủy diệt 6
triệu người Do Thái,
trong đó có một triệu
rưỡi là trẻ con, được
thi hành với máu lạnh
ngay trong lòng của Ki
Tô giáo ở Âu Châu , được
khuyến khích bởi sự im
lặng tội lỗi của hầu như
toàn thể thế giới Ki Tô
Giáo, gồm cả một “Đức
Thánh Cha” không thể sai
lầm ở La Mã, đó chính là
kết quả tất nhiên của sự
phá sản. Có một đường
thẳng kéo dài từ hành
động áp bức đầu tiên đối
với người Do Thái và đạo
Do Thái vào thế kỷ 4 cho
đến các lò “giết người
tập thể” trong thế kỷ
20.”
(After 19
centuries of
Christianity, the
extermination of 6
million Jews, among them
one-and-a-half million
children, carried out in
cold blood in the very
heart of Christian
Europe, encouraged by
the criminal silence of
virtually all
Christendom, including
that of an infallible
Holy Father in Rome, was
the natural culmination
of this bankrupcy. A
straight line leads from
the first act of
oppression against Jews
and Judaism in the
fourth century to the
holocaust in the
twentieth.)
Chính sách
diệt chủng Do Thái của
Ki Tô Giáo là một sự
kiện bất khả phủ bác.
Chính Giáo Hoàng John
Paul II cũng đã thú nhận
núi tội ác này của Ca Tô
giáo. Đúng vậy, năm
2000, Giáo Hoàng John
Paul II đến thăm viếng
Do Thái, bày tỏ lòng tôn
kính đối với những nạn
nhân Holocaust của Đức
quốc Xã, và để lại giữa
những tảng đá cổ của bức
tường phía Tây Jerusalem
lời cầu nguyện sau đây:
“Thiên
Chúa của cha chúng tôi,
Ngài đã chọn Abraham và
những hậu duệ của ông ta
để mang tên Ngài tới
những quốc gia: chúng
con vô cùng sầu thảm về
những hành động của
những người trong dòng
lịch sử đã làm cho con
cái của Ngài đau đớn, và
xin Ngài tha thứ , chúng
con ước mong sẽ dấn thân
trong cuộc tạo tình anh
em chân thật với dân tộc
mà Ngài đã giao ước.”
(Pope John
Paul II visits Israel.
He pays tribute to the
victims of the
Holocaust, and he leaves
the following prayer
between the ancient
stones of the Western
Wall in Jerusalem:
“God of our
fathers, you chose
Abraham and his
descendants to bring
your Name to the
Nations: we are deeply
saddened by the behavior
of those who in the
course of history have
caused these children of
yours to suffer, and
asking your forgiveness,
we wish to commit
ourselves to genuine
brotherhood with the
people of the
Covenant.”)
Những
người trong dòng lịch sử
mà giáo hoàng nói
đến là những người nào?
Giáo hoàng không nói rõ
nhưng ai cũng biết đó
chính là những người Ki
Tô Giáo, Ca-Tô Giáo cũng
như Tin Lành. Chúng ta
hẳn còn nhớ, ngày 12
tháng 3 năm 2000, Giáo
Hoàng John Paul II cùng
một số Hồng Y và Tổng
Giám Mục đã xưng thú 7
núi tội ác của Ca-Tô
Giáo Rô-ma đối với nhân
loại tại Vatican, và
một trong 7 núi tội ác
này là vu khống cho
người Do Thái cái tội
giết Chúa và bách hại
người Do Thái trong
nhiều thế kỷ.
Lời cầu
nguyện trên chứng tỏ là
Ca Tô Giáo thờ cùng một
Thiên Chúa với người Do
Thái. Suốt 2 ngàn năm
lịch sử, Ca Tô Giáo đã
gây ra hết tội ác này
đến tội ác khác đối với
nhân loại. Bất cứ khi
nào cần, hoặc khi không
còn có thể che dấu tội
ác của Giáo hội trước
những tác phẩm nghiên
cứu của các học giả ở
trong cũng như ở ngoài
giáo hội, thì Giáo hội
lại diễn xuất màn kịch
ăn năn hối cải, và xin
được Thiên Chúa tha thứ
chứ không phải là xin
được các nạn nhân của
Giáo hội tha thứ, và
lương tâm giáo hội lại
yên ổn để tiếp tục làm
tội ác, bất kể là thực
ra có Thiên Chúa hay
không và nếu có thì
Thiên chúa có chịu tha
tội cho giáo hội hay
không.
Nhưng ngày
nay, đối với giới trí
thức và hiểu biết, thì
vấn đề xin Thiên Chúa
tha thứ cho Giáo hội đã
trở thành vô nghĩa mà
thực chất chỉ là hành
động che dấu tội ác
(cover-ups). Bởi vậy,
Lloyd Graham đã viết
trong cuốn “Những Dối
Trá Và Huyền Thoại Của
Thánh Kinh”
(Deceptions and Myths of
the Bible), trang 425,
như sau: “Con
người! Hãy tha thứ cho
Thiên chúa, vì hắn ta
không biết là mình đã
làm gì
[dựa theo một câu của
Giê-su trước khi chết
trên cây thập giá].
Tất cả sự sống đã
chứng tỏ sự kiện thê
thảm này, do đó, vấn đề
không phải là Thiên Chúa
có tha thứ tội lỗi của
con người không? mà là
con người có thể tha thứ
cho sự độc ác của Thiên
chúa không?
(Man! forgive God, for
he knows not what he
does. All life attests
this tragic fact, and so
the question is not,
will God forgive man for
his sins? but can man
forgive God for his
cruelty?) Và ngày
nay, vấn đề đặt ra không
phải là Thiên chúa có
tha thứ cho Giáo hội hay
không, mà là những nạn
nhân của Giáo hội trong
suốt 2000 năm nay có
chịu tha thứ cho Thiên
Chúa của Giáo hội hay
không, vì tất cả những
gì Giáo hội làm đều nhân
danh Thiên Chúa và áp
dụng những điều Thiên
Chúa đã dạy trong Thánh
Kinh, đặc biệt là coi
người Do Thái như là tập
đoàn kẻ thù đã “giết
Chúa”.
Phân tích
vấn đề, chúng ta thấy,
Giê-su, cùng với bà mẹ
Mary, 12 tông đồ, và 3
trong 4 tác giả của 4
phúc âm, đều là người Do
Thái. Vậy tại sao Ki Tô
Giáo lại reo rắc hận thù
và bách hại người Do
Thái trong gần 2000 năm
nay. Vấn đề chính là
dân Do Thái không tin
Giê-su là Chúa Cứu Thế,
chỉ coi Giê-su như là
một nhà tiên tri Do Thái
như mọi nhà tiên tri
khác. Điều này trái
với tín ngưỡng của Ca Tô
Giáo, chủ trương đưa con
người vào trong vòng mê
tín, thờ phụng thần linh
mà họ gọi là Chúa.
Chúng ta đã biết, Ca Tô
Giáo tự nhận là “Tông
truyền” cho nên bất cứ
niềm tin nào khác với Ca
Tô Giáo đều phải diệt
bỏ. Trong thời Trung
Cổ, Giáo hội Công Giáo
đã phát động những cuộc
Thập Ác Chinh, không
những để diệt những
người Hồi Giáo, Do Thái
Giáo, mà con tiêu diệt
cả những tín đồ Ki Tô
Giáo nào không phải là
Ca Tô Giáo chính thống,
thí dụ như dân Cathars ở
Languedoc, Pháp, chẳng
hạn..
Để khuyến
khích và nuôi dưỡng sự
thù hận của tín đồ Ki Tô
đối với dân Do Thái,
Giáo hội Ca Tô, bắt đầu
từ Thánh Phaolồ (Paul),
vu khống cho dân Do Thái
cái tội “giết Chúa”.
Nhưng Giáo hội cố tình
quên rằng, Giê su là
người Do Thái, bố mẹ Giê
su là người Do Thái, tổ
tiên Giê su là người Do
Thái, 12 tông đồ đầu
tiên của Giê su cũng là
người Do Thái, và Giê su
chịu ảnh hưởng rất nhiều
của Do Thái Giáo, qua
cuốn Cựu Ước. Tuy có
thể người đóng đinh
Giê-su lên thập giá là
người Do Thái, nhưng
người kết tội tử hình
Giê su là Pilate, toàn
quyền La Mã, vậy những
người đóng đinh Chúa
trên thập giá chỉ là
những người thi hành một
bản án, cũng như các đao
phủ khi xưa chém đầu tội
nhân bị kết án tử hình.
Ngoài ra,
Giáo hội luôn luôn dạy
rằng: "Chúa là con
một của Thượng đế, giáng
trần để làm nhiệm vụ
chuộc tội cho nhân loại
trước sự đầy ải thù hằn
của Thượng đế, tình
nguyện chết trên thập
giá, dùng máu mình để
"rửa sạch tội lỗi của
con người"”, vậy
những người đóng đinh
Giê-su trên thập giá, dù
họ thực sự là người Do
Thái, thì đó chẳng qua
họ chỉ làm theo sở
nguyện của chính Chúa
Giê su, đáng lẽ phải
được tuyên dương công
trạng vì đã giúp Chúa
hoàn thành nhiệm vụ
chuộc tội, chứ sao
lại bị kết tội là giết
Chúa. Kết tội
người Do Thái giết Chúa
là thừa nhận Giê su
không phải là Chúa con,
quyền phép vô biên, và
phủ nhận luôn việc ý
nghĩa của việc Chúa
giáng trần, ý nghĩa của
việc tình nguyện chịu
đóng đinh trên thập giá
v...v... Nhưng theo
những chuyện không thể
tin được trong Tân ước
thì Giê-su đâu có chết,
vì chưa đầy 3 ngày sau
ông ta đã sống giậy và
40 ngày sau đó bay lên
trời. Vậy thì thực ra
Giê-su chết hay không
chết? Nếu không chết
thì ai là người “giết
Chúa”? Và cái
màn bị đóng đinh trên
cây thập giá chỉ là một
màn bịp bợm về cái gọi
là “chịu khổ nạn để
chuộc tội cho thế gian”.
Những sự mâu thuẫn cùng
cực trong sách lược
chống Do Thái của Giáo
hội Ca Tô như trên và
những mâu thuẫn hiển
nhiên trong nền thần học
của Ki Tô Giáo không hề
làm bận tâm các tìn đồ,
và họ thản nhiên hành
hạ, tàn sát người Do
Thái theo sách lược của
Giáo hội, và tiếp tục
thù ghét người Do Thái
cho tới ngày nay, khi họ
không còn quyền lực để
cưỡng bức người Do Thái
phải cải đạo, trục xuất
lưu đầy, hoặc thiêu sống
người Do Thái như họ đã
làm trong quá khứ.
Đọc về những
cung cách đối xử với dân
Do Thái của Giáo hội Ca
Tô Rô-ma nói riêng, của
Ki Tô Giáo nói chung,
tôi thấy thật là tội
nghiệp cho dân Do Thái
và tội nghiệp luôn cho
đám tín đồ Ki Tô, đầu óc
mù mịt, nhắm mắt theo
sách lược chống Do Thái
của Ki Tô Giáo, để cho
những bàn tay của mình
dính đầy máu của những
người Do Thái vô tội mà
không hề biết đến những
mâu thuẫn cùng cực trong
sách lược này.
Sau đây tôi
sẽ đi vào một số chi
tiết của những biện pháp
mà một số Giáo hoàng,
những vị đại diện của
Chúa trên trần, và một
số chức sắc cao cấp
trong hàng Giáo phẩm
Ca Tô và Tin Lành đã
dùng để đối phó với dân
Do Thái.
Chính sách
chống Do Thái của Ki Tô
Giáo, đặc biệt là Ca Tô
Giáo Rô-ma, suốt 2000
năm nay được Mục Sư
Ernie Bringas tóm tắt
trong 7 trang sách
trong cuốn Going By
The Book: Past and
Present Tragedies of
Biblical Authority,
Hampton Roads Pub. Co.,
VA, 1996, sau đây là vài
đoạn trích dẫn:
"Điều
rõ ràng là nhiều sự bạo
tàn đối với người Do
Thái trong 2000 năm qua
có thể tìm thấy trong
những hạt giống nghi ngờ
và bất tín gieo trong
Tân Ước. Ngay từ
thời đầu của Ki Tô
Giáo, các tín đồ đã
coi người Do Thái như là
những đứa con ương ngạnh
của Thượng đế và là kẻ
thù của Giê-su.
Những cảm nghĩ chống Do
Thái này ta có thể thấy
rõ ràng trong quyển
"Công Vụ các Sứ Đồ"
trong đó người Do Thái
bị gọi bằng những danh
từ "cứng cổ," "phản
bội," và "dân giết
người". Cái luận
điệu này đã được nhấn
mạnh trong bức thư tông
đồ đầu tiên của Phao-lồ
gửi cho dân
Thessalonians trong đó
ông đổ cho người Do
Thái cái tội giết Chúa.
Phúc âm
Matthew mô tả người Do
Thái đã thốt ra một lời
nguyền rủa trên chính
dân tộc của họ: "Hãy đòi
máu Chúa trên chúng tôi
và con cái chúng tôi".
Tuy rằng ngày nay hầu
hết các học giả đều cho
câu trên là do sự ngụy
tạo của tác giả phúc âm
Matthew, qua nhiều thế
kỷ, câu trên đã được
dùng làm cái cớ và biện
minh cho sự giết chóc
người Do Thái.
Có lẽ
luận điệu chống Do Thái
mạnh nhất là ở trong
phúc âm của John. Thật
khôi hài là trong phúc
âm này, mà nhiều tín đồ
Ki Tô gọi là "phúc âm
của tình thương yêu",
lại có những câu phỉ
báng và nguyền rủa người
Do Thái... Chỉ là vấn đề
thời gian cho đến khi
những lời trên và những
lời khác làm giảm giá
trị của Thánh kinh được
làm nhiên liệu cho những
ngọn lửa của đức tin mù
quáng. Người Do Thái
đã trở thành mục tiêu
của nền thần học méo mó
dựa trên sự ngu tối,
thiên kiến, và uy quyền
tràn ngập kết hợp với
những điều viết trong
Thánh kinh.
...Ngay
từ buổi sơ khai, các tín
đồ Ki Tô coi người Do
Thái như là "những kẻ
giết Chúa" và là kẻ thù
của Ki Tô Giáo.
Những thái độ độc
địa này lan nhanh từ
cộng đồng Ki Tô sang mọi
khu vực của xã hội, và
đưa đến sự bách hại
người Do Thái, đặc biệt
là sau khi Ki Tô Giáo
trở thành tôn giáo của
Rô-ma [Công giáo
Rô-ma] dưới thời
Constantine ở thế kỷ thứ
tư.
Hàng
giáo phẩm Ca Tô giáo
khuyến khích các hoàng
đế La Mã đối đãi khắc
nghiệt với người Do Thái.
Dân thường không được
theo đạo Do Thái và đời
sống của người Do Thái
bị nhiều hạn chế.
Những người Do Thái và
Ca Tô giáo lấy nhau bị
xử tội chết. Hoàng
đế La Mã Theodosius II
cấm người Do Thái không
được giữ những chức vụ
trong chính quyền hoặc
xây những giáo đường.
Hoàng đế Justinian
còn đi xa hơn: kết án
người Do Thái là dị giáo
và ra lệnh tịch thu các
giáo đường Do Thái để
làm nhà thờ Ca Tô.
Justinian cũng còn
hợp pháp hóa những hành
động của những giám mục
và linh mục Ca-Tô cướp
phá và thiêu hủy các
giáo đường Do Thái.
Những đạo
luật chống Do Thái ở Tây
Ba Nha còn khắc nghiệt
hơn. Năm 694, công
đồng thứ bảy ở Toledo
tuyên cáo mọi người Do
Thái là nô lệ, và ra
lệnh tịch thu tài sản
của họ. Công
đồng cũng ra sắc lệnh là
khi các em nhỏ Do Thái
lên bảy tuổi thì phải
tách chúng ra khỏi gia
đình để cho hàng giáo
phẩm Ca Tô giáo
dạy dỗ chúng và khi
lớn lên chúng phải kết
hôn với người Ca Tô.
Sử gia
nổi tiếng Solomon
Grayzel ước tính có
10000 Do Thái bị giết ở
Trung Âu trong cuộc đệ
nhất thánh chiến. Sự
tàn sát tập thể kéo dài
và ghê rợn, những nạn
nhân người Hồi giáo và
Do Thái giáo - nam, nữ
và trẻ con - đã gia
tăng khi
Jerusalem thất thủ.
Nhiều người Do Thái bị
thiêu sống ngay trong
giáo đường của họ.
Năm
1215, dưới triều đại của
Giáo hoàng Innocent III,
sắc lệnh được ban bố quy
định mọi người Do Thái,
nam trên 13 tuổi, nữ
trên 11 tuổi, đều phải
mang một mảnh băng màu
vàng ở đằng trước và
đàng sau áo của họ. Cái
"huy hiệu" này được coi
như một dấu hiệu của sự
ô nhục, tượng trưng cho
sự chia rẽ thù nghịch
giữa người Ca Tô giáo và
những kẻ được gọi là
giết Chúa.
... Sự
bách hại dân Do Thái này
đã được tiếp tục suốt
trong thời Trung Cổ.
Ngày 4 tháng 6, 1391,
phó chủ giáo ở Ecija xúi
giục một cuộc nổi giậy ở
Seville, Tây Ba Nha, với
kết quả là có 4000 người
Do Thái bị giết. Cùng
mùa hè năm đó, từ thị
trấn này qua thị trấn
khác ở khắp châu Âu,
người Do Thái bị thiêu
sống trong nhà hoặc giáo
đường của họ. Số người
chết lên tới 50000.
Ngay
từ lúc đầu, đạo Tin Lành
cũng chống Do Thái như
là đạo Ca Tô.
Martin Luther, sáng
lập viên và lãnh tụ của
cuộc cải cách Tin Lành
(1517) cũng mãnh liệt
bách hại người Do Thái.
Điều này đã đưa chúng ta
tới một kỷ nguyên chống
Do Thái kinh khủng nhất
mà thế giới đã thấy.
Sự tàn sát tập thể nhiều
triệu người Do Thái bởi
những lực lượng Đức quốc
xã trong kỳ đệ nhị Thế
Chiến là kết quả của
nhiều yếu tố xã hội,
chính trị, văn hóa, tâm
lý, và tôn giáo. Tuy
nhiên, Ki Tô giáo phải
gánh một phần trách
nhiệm.
Adolf
Hitler là một tín đồ Ca
Tô. Hắn chưa bao
giờ bỏ Giáo hội, và cũng
chưa bao giờ bị tuyệt
thông. Trong cuộc
thảo luận với Giám mục
Berning ở Osnabruk vào
tháng 4 , 1933,
Hitler ghi nhận: "Đối
với dân Do Thái, tôi chỉ
thi hành cùng một
chính sách mà Giáo hội
Ca Tô đã theo trong 1500
năm." Hitler cho
rằng mình đã theo sự chỉ
đạo của Giáo hội, đặt kế
hoạch thực hiện những gì
mà những tín đồ Ca Tô đã
làm trong suốt dòng lịch
sử, giết người Do Thái.
Không còn
nghi ngờ gì nữa là sự
chống Do Thái của Đức
quốc xã là dẫn xuất từ,
ít ra là một phần, chính
sách chống Do Thái của
Ki Tô giáo, nền tảng của
chính sách này do Giáo
hội Ca Tô đặt ra và
những điều mà Luther chủ
trương sau này. Cùng
nhau, lòng tin mù quáng
của Ki Tô Giáo và ý niệm
quốc gia của Đức đã gây
nên sự điên rồ giết hại
6 triệu người Do Thái."
(It is no
secret that many
atrocities committed
against the Jews over
the past 2000 years can
be traced to the seeds
of suspicion and
distrust sown in the
NT. Since the very
beginning of
Christianity, believers
have regarded the Jew as
the wayward children of
God and the enemies of
Jesus. These
anti-Jewish sentiments
are clearly reflected in
the Book of Acts. Jews
are variously called
"stiff-necked,"
"betrayers," and
"murderous people" (Acts
7: 51-53). This theme
is reinforced in Paul's
first letter to the
Thessalonians (2:15-16)
in which he blames the
Jews for the death of
Jesus...The Book of
Mathew (27:25) describes
the Jew as pronouncing a
curse upon themselves:
"His blood be on us
and our children!"
Although this statement
is now considered by
most scholars to have
been fabricated by the
author of Mathew,
throughout the centuries
it served to excuse and
justify the killing of
Jews.
Perhaps the
strongest anti-Jewish
emotion is registered in
the Gospel of John. It
is ironic that here, in
what many Christians
call the "love book,"
are statements vilifying
and damning the
Jews...It was only a
matter of time until
these and other
derogatory biblical
sentiments fueled the
fires of bigotry. The
Jews became the targets
of distorted theology
based on ignorance,
bias, and the
overwhelming authority
associated with biblical
writing.
...Early on,
Christians looked upon
the Jews as "Christ
killers" and enemies of
Christianity. The
venomous attitudes
spread quickly from the
Christian community to
every sector of
society, and eventually
led to the vicious
persecution of Jews,
especially after
Christianity became the
official religion of
Rome under Constantine
in the fourth century.
The
Christian clergy
encouraged Roman
emperors to deal harshly
with the Jews. Pagans
were forbidden to
convert to Judaism and
many restrictions were
placed on Jewish life.
Marriages between Jews
and Christians were
punished by death. The
Roman Emperor Theodosius
II (A.D 408-450) forbade
Jews to hold public
office or to build
synagogues. The Emperor
Justinian (A.D 483-565)
went further: He
condemned the Jews as
heretics and ordered
their synagogues to be
confiscated by the state
and trasformed into
churches.
Justinian
also legalized the
pillaging and burning of
synagogues by Christian
bishops and monks.
The
anti-Jewish laws set
down in Spain were even
harsher. In 694 the
seventh Council of
Toledo declared all
Jews to be slaves,
and ordered their
property and possession
confiscated. The
Council also decreed
that Jewish children
were to be taken from
their parents at age
seven to be raised by
the clergy and later
married to Christians.
...Noted
historian Solomon
Grayzel estimates that
10,000 Jews were slain
in Central Europe during
the First Crusade. The
prolonged and hideous
massacre of Moslems and
Jews - men, women and
children -when Jerusalem
fell added to the number
of victims. Many Jews
were burned to death in
their synagogues.
In 1215,
during the reign of Pope
Innocent III, it was
decreed that all Jewish
males older than
thirteen and Jewish
females older than
eleven must wear a
yellow patch on the
front and back of their
garnments. This "badge"
was regarded as a mark
of shame, symbolizing
the continuing hostile
division between
Christians and the
so-called murderers of
Christ.
...This
murderous persecution of
Jews continued
throughout the Middle
Ages. On June 4, 1391,
the Archdeacon of Ecija
incited a riot in
Seville, Sapin, which
resulted in the killing
of 4000 Jews. The same
summer, in city after
city across Europe, Jews
were burned out of their
homes and synanogues.
The number of Jewish
deaths is placed at
50.000.
From its
beginning, Protestantism
was as anti-Semitic as
Catholicism. Martin
Luther, founder and
leader of the Protestant
Reformation (1517)
persecuted the Jews
vehemently..
This brings
us to what is perhaps
the most appalling
epoch of anti-Semitism
the world has
witnessed. The mass
extermination of
millions of Jews by the
Nazi forces during World
War II was the result of
many social, political,
cultural, psychological,
and religious factors.
Christianity, however,
must bear partial
liability.
Adolf Hitler
was a Catholic. He
never left the Church,
nor was he
excommunicated. In his
discussion with Bishop
Berning of Osnabruk in
April 1933, Hitler
remarked: "As for the
Jews, I am carry on with
the same policy which
the Catholic Church has
adopted for 1500
years." Hitler claimed
to be following the
Church's lead, planning
to do what Christians
had done throughout
history - namely, murder
Jews.
There was no
doubt that Nazi
anti-Semitism was
derived, at least in
part, from Christian
anti-Semitism, which
grew out of the
foundation laid by the
Catholic Church and the
later teaching of
Luther. The Nazi credo
was equally a part of
German nationalism.
Together, Christian
bigotry and German
nationalism spawned the
insanity that murdered
6.000.000 Jews.)
Ki Tô Giáo
đã làm mất nhân tính của
người Do Thái như thế
nào? Chúng ta hãy đọc
lời mô tả giáo đường Do
Thái sau đây của chính
"Thánh" John Chrysostom
trong thế kỷ 4, người
được coi là một trong
những “Thượng phụ” lập
giáo vĩ đại nhất của Ca
Tô Giáo (Saint John
Chrysostom, 4th century,
one of the greatest of
the "Church Fathers",
Brown, Ibid., p. 10):
"Cái
Giáo đường Do Thái còn
tệ hơn là một ổ
điếm...là sào huyệt của
những tên vô lại và là
nơi vãng lai của loài dã
thú...là đền đài của quỷ
dữ hiến thân cho sự sùng
bái hình tượng...là nơi
trú ẩn của quân cướp và
kẻ trụy lạc. Đó là nơi
hội họp của những kẻ
phạm tội...nơi hội họp
của những kẻ giết
Chúa... một nơi tệ hơn
là một tiệm rượu, là sào
huyệt của những tên trộm
cắp, là một nhà chứa,
nơi trú ngụ của những kẻ
phạm tội, nơi trú ẩn của
quỷ."
(The
synanogue is worse than
a brothel...it is the
den of scoundrels and
the repair of wild
beasts... the temple of
demons devoted to
idolatrous cults...the
refuge of brigands and
debauchees, and the
cavern of devils. It is
a criminal assembly of
Jews...a place of
meeting for the
assassins of Christ..a
house worse than a
drinking shop.. a den of
thieves; a house of ill
fame, a dwelling of
iniquity, the refuge of
devils...)
Đó là
ngôn từ của một vị
“thánh” Ca Tô, một nhà
lập giáo vĩ đại của Ca
Tô giáo. Không biết có
phải do truyền thống Ca
Tô giáo hay không mà
trước đây Giáo hoàng
John Paul II đã dùng
những ngôn từ thiếu văn
hóa để phê bình những
nhà truyền giáo Tin Lành
ở Nam Mỹ, và Hồng Y
Ratzinger, nay là giáo
hoàng Benedict XVI,
cũng dùng những ngôn từ
khá hạ cấp và thiếu giáo
dục để phê bình Phật
Giáo như chúng ta đã
biết.
Nhưng không
phải chỉ có “thánh” John
Chrysostom là có loại
ngôn từ đặc biệt như
trên. Chúng ta hãy đọc
vài lời “thánh phán”
khác của Ca Tô Giáo
Rô-ma.
“Thánh”
Bernard coi toàn thể dân
tộc Do Thái là “súc vật
ngu đần và còn tệ hơn cả
súc vật nữa”, “một loại
thông minh thô thiển,
ngu đần” vì chúng không
chịu theo Chúa.
[Với kiến thức của nhân
loại ngày nay về vũ trụ
học, sinh học, xã hội
học, tôn giáo học v..v..
thì lời mô tả này để
dành cho những người
theo Chúa thì có lẽ đúng
hơn]
(Brown,
Ibid., p. 12: St.
Bernard charged the
whole Jewish people with
“a stupidity bestial and
more than bestial,” an
“intelligence coarse,
dense, and as it were
bovine” because they did
not follow the Lord..
“Thánh”
Augustine, nhà thần học
vĩ đại nhất của Ca Tô
Giáo, nói trong một bài
giảng đạo:
Người Do
Thái bắt giữ ông ta
(Giê-su), nhục mạ ông
ta, trói ông ta, đội mũ
gai cho ông ta, phỉ nhổ
làm nhục ông ta, quất
roi lên người ông ta,
treo ông ta trên cây,
đâm ông ta bằng một cây
giáo… Người Do Thái đã
giết ông ta.”
Trong một
bài giảng khác,
Augustine gán cho người
Do Thái tội “cố ý mù
quáng không biết đến
Thánh Kinh”, “thiếu
hiểu biết” và “những kẻ
ghét chân lý”
(Brown,
Ibid.: Augustine, the
great theologian, says
in a sermon: "The Jews
hold him, the Jews
insult him, the Jews
bind him, crown him with
thorns, dishonor him
with spitting, scourge
him, hang him upon the
tree, pierce him with a
spear...The Jews killed
him."
In another
sermon he characterized
the Jews as "willfully
blind to Holy
Scripture," "lacking in
understanding" and
"haters of truth." )
Những lời
“thánh phán” như trên
chứng tỏ những “thánh
Ca-Tô” đó bản chất chỉ
là những kẻ cuồng tín
ngu đần của thời bán
khai. Đó là những người
mà Ca Tô Giáo ca tụng là
“Thượng phụ lập giáo”
của Ca Tô Giáo (Church
fathers). Ngày nay
chúng ta biết rằng, “vô
thần”, “không tin vào
Thiên Chúa”, “không tin
vào Thánh Kinh”, “không
chịu theo Chúa” chính là
một biểu hiện của danh
dự, của sự thông minh (a
badge of honor, of
intelligence). Sự suy
thoái của Ki Tô Giáo
trên khắp thế giới, song
song với sự tiến bộ trí
thức của nhân loại, hơn
gì hết đã chứng tỏ điều
này.
Về những lời
“thánh phán” như trên và
về vấn đề Ca Tô giáo
bách hại dân Do Thái,
Bác Sĩ Nguyễn Văn Thọ,
một người theo Ca Tô
giáo khoảng 30 năm lúc
thiếu thời, trong một
bài viết vô cùng giá trị
đối với các tín đồ Ca Tô
giáo để họ hiểu
rõ đạo của mình với nhan
đề "Ít Nhiều Nhận
Định về Thiên Chúa Giáo"
đăng trong cuốn Tại
Sao Không Theo Đạo Chúa,
Tuyển Tập I, trg.
41-42, đã viết một cách
châm biếm như sau:
"Cái thắc
mắc khác của tôi, là
một giáo hội đầy ơn
Chúa, đầy chân lý và
tình thương như vậy, khi
thực sự đã cai trị Âu
châu, lại làm cho Âu
châu run sợ vì tàn ác.
Linh mục
Edward A. Synam, tác giả
quyển The Popes and
The Jews in the Middle
Ages cũng đã phải
thành khẩn công nhận
rằng: khi Âu châu
được đặt dưới quyền
thống trị của các giáo
hoàng thời Trung Cổ đã
không biết chuyện bình
đẳng và công bằng, luật
pháp thì dã man từ ý
hướng đến hình phạt, và
đã chĩa mũi dùi vào dân
chúng Do Thái tội
nghiệp.
Tôi lại
càng thêm phục
Giáo hoàng Innocent III
vì đã coi dân tộc Do
Thái ngang hàng với
"BÒ", với "SÚC VẬT",
và ngài còn cho thế là
lịch sự tử tế, vì theo
Ngài, tiên tri Isaiah đã
coi dân Do Thái thua bò,
thua giống vật nữa.
Nếu
Nostradamus, Marx,
Einstein (các vị này
đều là gốc Do Thái)
mà đọc được những lời
của Giáo hoàng Innocent
III, chắc phải khiếp
vía, vì không biết Ngài
thông minh đến mức nào,
mà dám coi người Do Thái
như bò, như súc vật.
Khi đã
coi rẻ Do Thái đến như
vậy, đã coi đạo Do Thái
tầm thường đến như vậy,
thì tịch thu các sách
Talmud - thánh thư của
Do Thái giáo - chất lên
nhiều xe, đem ra đốt
giữa thành phố Paris năm
1242, theo lệnh của
vua thánh Louis và
được sự chúc phúc tán
đồng của Giáo hoàng
Gregory IX là một chuyện
rất tầm thường đối với
Công Giáo, vì những
"thánh thư Do Thái" đồi
bại như vậy, giữ nó làm
cái gì.
Có một
điều khó hiểu là những
thế kỷ từ 11 đến 15 huy
hoàng như vậy, đối với
người Do Thái lại là 4
thế kỷ kinh hoàng.
Chẳng những thế ngay
người Âu châu cũng đã vô
ơn, đã đầy thiên kiến
khi đánh giá những thế
kỷ Trung Cổ (476-1453)
đầy ánh sáng Thiên Chúa
và Phúc Âm ấy là "Thời
đại Hắc Ám"
(The Dark Ages).
Nhưng khi phong trào
khảo cứu lại nền văn
minh Hi Lạp nảy sinh ra,
họ đã dám gọi đó là
"Thời kỳ Phục Sinh"
(Renaissance, thế kỷ
14-16); và khi phong
trào đề cao lý trí con
người được khởi xướng,
họ lại dám gọi đó là
"thời Kỳ Phát Quang"
(Enlightenment, thế kỷ
18). Thực
là ngạo mạn, nhảm nhí vô
cùng."
Các Giáo
hoàng, Thánh Ca Tô coi
người Do Thái tệ mạt như
vậy, nhưng sự thực thì
sao? Ai cũng biết Do
Thái là một dân tộc
thông minh, có nhiều cá
nhân xuất sắc trong mọi
lãnh vực, và nhất là có
tài làm ra tiền. Nền tư
bản của Mỹ ít ra là một
phần nằm trong tay người
Do Thái. Vì là một
dân tộc thông minh nên
người Do Thái không thể
chấp nhận Giê-su, con
của một anh thợ mộc, đầu
óc và kiến thức không có
gì đặc biệt, tư cách kém
cỏi, theo như nhận định
của triết gia Bertrand
Russell, làm Chúa cứu
thế của dân tộc họ.
Đây là lý do chính làm
Ca Tô thù ghét người Do
Thái, vu cho người Do
Thái cái tội giết Chúa
để có cớ kích động sự
thù hận trong đám giáo
dân ngu tối, cuồng tín,
hồ hởi bách hại người
Do Thái để "vinh danh
Thiên Chúa trên Trời".
Sau đệ nhị
thế chiến với chính sách
diệt chủng Do Thái của
Đức Quốc Xã với sự im
lặng đồng lõa của Ki Tô
Giáo, chính Giáo Hoàng
John XXIII đã đưa ra lời
cầu nguyện sau đây cho
giáo hội công giáo hoàn
vũ:
“Dấu ấn
của Cain đã đóng lên
trán của chúng ta. Qua
nhiều thế kỷ, người anh
em Abel của chúng ta đã
nằm trên vũng máu mà
chúng ta rút ra, và tràn
nước mắt mà chúng ta đã
gây ra vì đã quên đi
tình yêu thương của
Người. Xin Chúa hãy
tha thứ cho chúng tôi về
lời nguyền rủa mà chúng
tôi đã gán cho những
người Do Thái. Hãy
tha thứ cho chúng tôi vì
đã đóng đinh Ngài trên
thập giá lần thứ hai
trong thân thịt của họ.
Vì chúng tôi không
biết là chúng tôi đã làm
gì.” (Thánh Kinh
viết, vì sự bất công của
Thượng đế nên Cain ghen
tị và giết em ruột của
mình là Abel. TCN)
(Peter de
Rosa, Vicars of
Christ: The Dark Side Of
The Papacy, p. 6:
The mark of Cain is
stamped upon our
foreheads. Across the
centuries, our brother
Abel has lain in blood
which we drew, and shed
tears we caused by
forgetting Thy love.
Forgive us, Lord, for
the curse we falsely
attributed to their name
as Jews. Forgive us for
crucifying Thee a second
time in their flesh.
For we knew not what we
did.)
Nhiều người
Ca Tô cho rằng “Đức
Thánh Cha” của họ rất
chân thành thú nhận tội
ác của Ca Tô giáo trong
vấn đề bách hại người Do
Thái. Nhưng thực ra thì
không phải là “Vì
chúng tôi không biết là
chúng tôi đã làm gì.”
mà là “chúng
tôi” đã biết rất rõ là
“chúng tôi” đã làm gì.
“Chúng tôi” đã theo
sát lời dạy của Chúa
Jésus Christ trong Tân
Ước, Luke 19:27:
“Hãy mang những kẻ
thù của Ta ra đây, những
người không muốn Ta ngự
trị trên chúng
(nghĩa là những người
không muốn trở thành tôi
tớ hèn hạ của Chúa),
và giết chúng ngay
trước mặt ta.”
Mặt khác, gây tội ác với
người Do Thái thì phải
thành tâm xưng tội và tạ
tội với người Do Thái,
chứ không thể xin Chúa
tha tội. Chúa ở đâu
mà tha tội. Mang
một cái hình bóng tưởng
tượng ra để chạy tội thế
gian là một điều không
ai có thể chấp nhận ngày
nay. Mấy ông mục sư,
linh mục đi hiếp dâm con
nít vẫn phải vào tù ngồi
để đền tội, bất kể là
Chúa có tha tội cho họ
hay không.
Sau đệ nhị
Thế Chiến, cả hai giáo
hội Ca Tô và Tin Lành,
với mặc cảm tội lỗi, đã
tỏ ra hòa hoãn hơn đối
với dân Do Thái. Hai
tôn giáo này cũng tỏ ra,
ít nhất là ở ngoài mặt,
bớt kỳ thị hơn đối với
những tôn giáo phi Ki
Tô. Chính sách bách hại
người Do Thái của Ca Tô
và Tin Lành, đưa đến sự
tàn sát có tính cách
diệt chủng 6 triệu người
Do Thái trong những trại
tập trung của Đức quốc
xã, đã làm cho cả thế
giới bất bình lên án.
Trước sự tiến bộ trí
thức của nhân loại, Giáo
hội Ca Tô không còn chọn
lựa nào khác, vì quyền
lực thế tục đã mất không
còn khả năng bách hại
những người ngoại đạo
bằng những hành động bất
nhân tàn ác, là phải đưa
ra chiêu bài hòa hợp tôn
giáo trên đầu môi chót
lưỡi qua Công Đồng
Vatican II. Nhưng trên
thực tế, Ca-Tô Giáo
Rô-ma vẫn cho rằng chỉ
có một con đường duy
nhất đưa đến sự “cứu
rỗi” của Giê-su là đi
qua ngả trung gian
Vatican. Và cũng vì
vậy, trong hơn 40 năm
nay, chiêu bài hòa hợp
tôn giáo của Vatican vẫn
chỉ có trên mặt văn tự,
vì không có hệ phái Ki
Tô nào khác chịu hòa hợp
với một định chế tôn
giáo gian dối, chuyên
nói ngược nói suôi.
Những tôn giáo phi Ki Tô
còn dè dặt hơn nữa, vì
những kinh nghiệm lịch
sử cho thấy rõ rằng, hòa
hợp tôn giáo với Ca Tô
Giáo Rô-ma là đánh đu
với tinh.
Tài Liệu
Tham Khảo:
- Bringas, Ernie,
Going By The Book:
Past and Present
Tragedies of Biblical
Authority, Hampton
Roads Pub. Co., VA, 1996
- Cornwell, John,
Hitler’s Pope,
Vanity Fair, 1999
- Goldhagen,
Daniel Jonah, A Moral
Reckoning: The Role of
the Catholic Church in
the Holocaust and its
Unfulfilled Duty of
Repair, , Alfred A.
Knopf, NY, 2002
- McKain, Mark,
Anti-Semitism,
Greenhaven Press, MI,
2005.
- Phayer,
Michael, The Catholic
Church and the Holocaust,
1930-1965, Indiana
University Press, IN.,
2000.
- Rausch, David
A., A Legacy of
Hatred: Why
Christians Must Not
Forget The Holocaust,
Moody Press, Chicago,
1984.
- Rubenstein,
Richard L. & Roth, John
K., Approaches To
Auschwitz: The
Holocaust and its
Legacy, John Knox
Press, Georgia, 1987.
- Waite, Robert
G.L., Hitler and Nazi
Germany, Holt,
Rinehart & Winston,
Inc., NY , 1969
- Wills, Gary,
Why I Am A Catholic,
Houghton Mifflin
Company, NY, 2002
- Các tài liệu
trên Internet.
Các bài tôn giáo cùng tác giả
|