Trong thiên niên kỷ
thứ nhất của giáo hội
Công giáo, sự giết chóc
những người lạc đạo
tương đối hiếm. Năm 385
tại Trier, Đức quốc, các
giám mục lên án tử hình
Priscillian và những
người theo Priscillian
vì tội nghi ngờ thuyết
Thiên Chúa Ba Ngôi và sự
sống lại của Giê-su
(Bishops put to death
Priscillian and his
followers for doubting
the Trinity and the
Resurrection). Năm 415,
tại Alexandria, Nữ khoa
học gia danh tiếng
Hypatia, giám đốc thư
viện Alexandria, bị các
linh mục và các đệ tử
của thánh Cyril đánh
chết vì những tư tưởng
khoa học của Hypatia
không phù hợp với Thánh
Kinh, tương tự như
trường hợp của giáo hội
Công giáo đối với
Galilei sau này. Tại
Constantinople vào
khoảng năm 550, Hoàng đế
Công giáo Justinian giết
rất nhiều người vì không
theo đúng giáo lý Công
giáo để áp đặt giáo lý
chính thống Công giáo
trên quần chúng.
Sang thiên niên kỷ
thứ hai, Hoàng đế Công
giáo Robert the Pious
thiêu sống 13 người “lạc
đạo” ở Orleans năm
1022. Năm 1051, trong
cộng đồng Công giáo ở
Goslar, Đức quốc, một số
người vì một niềm tin
nào đó, không chịu giết
gà (unwilling to kill
chickens), bị kết tội
“lạc đạo” và bị treo cổ
(hanged). Năm 1141, linh
mục Peter Alebard bị lên
án phải tù chung thân vì
ông ta đã liệt kê những
mâu thuẫn của giáo hội
Công giáo trong cuốn
sách nhan đề “Yes
and No”.
Giáo hội Công giáo
cũng còn giết nhiều tín
đồ Ki Tô khác không theo
đúng giáo luật của Công
giáo. Thí dụ trường hợp
Peter Waldo ở Lyon, một
tín đồ Công giáo thường
dân giảng đạo ngoài
đường phố. Giáo hội Công
giáo ra luật chỉ có linh
mục mới có quyền giảng
đạo. Do đó những người
theo Waldo, Waldensians,
đều bị coi như là lạc
đạo và bị tuyệt thông,
và trong cuộc Thập Ác
Chinh Albigense, những
người này cũng bị tàn
sát hoặc thiêu sống
trong vùng Savoy, Pháp
quốc. Một trường hợp
khác là nhà thần học
Pháp Almaric. Ông này
rao giảng là mọi người
đều có khả năng trở nên
thần thánh (all people
are potentially divine),
và những lễ tiết trong
giáo hội là không cần
thiết (church rites
aren’t needed). Sau khi
ông ta chết, xác ông ta
bị khai quật lên và đem
đi thiêu, những người
theo ông bị thiêu sống
(After his death, his
followers were burned
alive as heretics, and
his body was dug up and
burned).
Nhiều nhóm “lạc đạo”
khác cũng bị Công giáo
tiêu diệt. Giáo hoàng và
các Thánh trong Công
giáo chủ trương giết
người lạc đạo. Họ viện
dẫn Cựu Ước để biện minh
cho các cuộc tàn sát vì
Cựu Ước dạy rằng: Kẻ
nào phỉ báng tên Chúa
đều phải bị giết
(He who blasphemes the
name of the Lord shall
be put to death). Thánh
Thomas Aquinas tuyên bố:
“Nếu những kẻ bất
lương đáng tội chết, thì
những kẻ lạc đạo còn
đáng bị giết hơn nữa”
(St. Thomas Aquinas
declared: “If
malefactors are justly
doomed to death, much
more may heretics be
justly slain.”)
Nghiên cứu về các Tòa
Hình Án Xử Dị Giáo, tất
cả các nhà nghiên cứu
đều đồng ý, đó là một
trong nhiều vết nhơ
không sao gột sạch trong
lịch sử Giáo hội Công
giáo, tuy rằng có vài
nhà Thần học Công giáo
đã đưa ra vài lý luận để
bào chữa cho những hành
động tàn bạo của Giáo
hội, thí dụ như, đó là
hành động của những
người cuồng nhiệt tôn
giáo, tin rằng mình đã
làm theo ý Chúa, hoặc
các Tòa Hình Án Xử Dị
Giáo chỉ có mục đích cứu
vớt linh hồn những người
lạc đạo, lẽ dĩ nhiên,
cứu vớt bằng cách tra
tấn và thiêu sống họ.
Những lời bào chữa
như trên chỉ có mục đích
lạc dẫn đám tín đồ kém
hiểu biết, vì các chuyên
gia nghiên cứu về lịch
sử tôn giáo đã chứng
minh rằng, sự thiết lập
các Tòa Hình Án Xử Dị
Giáo giáo bắt nguồn từ
nhiều nguyên nhân thế
tục như: bảo vệ cấu trúc
quyền lực độc tài của
chế độ giáo hoàng, vơ
vét của cải, tài nguyên
v...v...
Thật vậy, trong cuốn
Những Tòa Hình Án Xử
Dị Giáo Tây Ba Nha
(The Spanish
Inquisition, Barnes &
Nobles Books, New York,
1994, p.18) Jean Plaidy
viết như sau:
"Đó là lời bào
chữa nghe có vẻ hợp lý,
nhưng chúng ta phải nhớ
rằng, chính sự sợ hãi
những người dị giáo đã
đưa đến sự thiết lập
những tòa hình án xử dị
giáo; và những nạn nhân phần
lớn là những người giầu
có, của cải của họ rất
đáng để tịch thu,
còn số ít là những người
nghèo không có của cải."
1
Nhưng tại sao Giáo
hội Công giáo lại sợ
những người dị giáo? Lý
do chính là để bảo vệ
quyền lực của Giáo hội
trước những tư tưởng
khai phóng, khao khát tự
do của những người mà
Giáo hội gọi là "lạc
đạo". Quyền lực của Giáo
hội nằm trong những giáo
điều mà giáo hội đưa ra
để nắm giữ cả phần hồn
lẫn phần xác của đám tín
đồ kém hiểu biết. Nếu
những giáo điều này trở
thành phi lý trước những
tư tưởng khai phóng, tự
do v..v.. thì giáo hội
sẽ mất đi quyền lực. Gần
đây, tuy sợ hãi trước sự
bành trướng một cách hòa
bình của Phật Giáo và
Hồi Giáo trên khắp thế
giới, nhưng vì Giáo hội
Công giáo không còn
quyền lực của thời Trung
Cổ ở Âu Châu để tra tấn
và thiêu sống những
người "dị giáo" nữa, nên
Giáo Hoàng John Paul II
đã viết cuốn Bước
Qua ngưỡng Cửa Hi Vọng
trong đó Giáo hoàng
xuyên tạc và hạ thấp
Phật Giáo cũng như vài
tôn giáo khác. Hành động
này đã bị cả thế giới
(trừ đám tín đồ có đầu
óc thời Trung Cổ) lên án
và đại diện của Tòa
Thánh đã phải xin lỗi
Phật Giáo. Nhưng hành
động này cũng chứng tỏ
một sự sợ hãi và thiếu
tự tin của Giáo hội Công
giáo La Mã, không còn
khả năng thuyết phục
nhân loại bằng những
giáo lý hoang đường, nên
phải dùng đến hạ sách là
xuyên tạc và hạ thấp các
tôn giáo khác. Những
ngôn từ thiếu văn hóa
của John Paul II phê
bình các nhà truyền giáo
Tin Lành ở Nam Mỹ là
"Những con chó sói đói
mồi" và của Hồng Y
Ratzinger, nay đã là
Giáo hoàng, nguyên là
phụ tá thân cận nhất của
John Paul II và là người
đứng đầu Cơ Quan Truyền
Bá Đức Tin, biến thể của
Cơ Quan Chỉ Đạo các Tòa
Hình Án xử dị giáo, cũng
phê bình Phật Giáo là
một tôn giáo thuộc loại
Tự Thỏa Dâm (Auto
Eroticism), chứng tỏ sự
sợ hãi nói trên nhưng
cũng đồng thời cho chúng
ta thấy thực chất vô đạo
đức tôn giáo của những
người cầm đầu Giáo Hội
Công giáo La Mã ngày
nay. Buồn thay, những
người Công giáo Việt Nam
vẫn gọi những kẻ vô đạo
đức tôn giáo như trên là
“Đức Thánh Cha”.
Sự sợ hãi những tư
tưởng khai phóng của
Giáo hội Công giáo
được học giả Công
giáo Joseph D.
Daleiden phân tích như
sau trong cuốn Sự Mê
Tín Cuối Cùng: Một Sự
Định Giá Phê Bình Về Di
Sản Do Thái-Ki Tô
(The Final
Superstition, A Critical
Evaluation of the
Judeo-Christian Legacy,
Prometheus Books, 1994),
trg. 61:
"Với sự tăng
trưởng về kiến thức và
về ý thức phán đoán,
lòng khao khát có thêm
tự do là điều không thể
tránh được. Cả hai chế
độ Giáo Hoàng và chế độ
quân chủ ở Âu Châu đều
nhận biết sự đe dọa trầm
trọng này. Cho
nên chúng ta không lạ gì
khi hai chế độ trên đã
mở một cuộc chiến toàn
diện để tiêu diệt những
người tranh đấu cho sự
giải phóng nhân loại ra
khỏi những sự cùm kẹp
song sinh của Vua chúa
và Giáo hoàng. Đó là mục
đích thực sự của những
tòa hình án xử dị
giáo." 2
Trên đây chỉ là vài
nét đại cương về nguyên
nhân thiết lập các Tòa
Hình Án Xử Dị Giáo của
Giáo hội Công giáo La
Mã. Thực chất của những
Tòa Hình Án Xử Dị Giáo
này ra sao, chúng ta hãy
nghe lời mô tả của một
nhà Thần học Ki Tô Giáo,
Mục sư Ernie Bringas,
trong cuốn Theo Đúng
Sách Viết: Những Thảm
Họa Trong Quá Khứ Và
Hiện Tại Bởi Quyền Lực
Thánh Kinh (Going
By The Book: Past and
Present Tragedies of
Biblical Authority,
Hampton Roads Pub. Co.,
1996), trg 37, và đây
chỉ là một phần nhỏ sự
thực về bản chất của
những tòa hình án xử dị
giáo:
"Những người bị
kết án là dị giáo
trước hết bị bắt giữ và
cô lập với thế giới bên
ngoài. Họ được coi là có
tội ngay từ lúc khởi
đầu, và bắt các tội nhân
thú nhận tội lỗi được
coi như là nhiệm vụ mà
Thượng đế trao cho phán
quan. Người ta tin rằng,
chỉ có cách này linh hồn
bị cáo mới được cứu vớt
khỏi nanh vuốt của
quỷ. Bị cáo phải dựa vào
chính khả năng của mình,
không được phép có luật
sư biện hộ.
Ngược lại, cơ
quan truy tố được phép
đưa ra bất cứ số nhân
chứng nào, gồm cả thân
nhân của bị cáo. Những lời
chứng và nghe đồn của
ngay cả những nhân chứng
không đáng tin cậy nhất,
gồm cả trẻ con, đều được
nhận như là những bằng
chứng xác định sự phạm
tội. Bị
cáo không được phép chất
vấn các nhân chứng hoặc
cũng không biết họ là
ai. Tuy nhiên, bị cáo
được quyền tự biện.
Không lấy gì làm
ngạc nhiên,
tra tấn là phương pháp
nhanh nhất và hữu hiệu
nhất để ép nạn nhân thú
tội. Mới
đầu, bị cáo được kéo vào
phòng tra tấn và chỉ cho
xem những hình cụ dùng
để tra tấn. Nếu họ không
nhận cái tội mà người ta
gán cho họ, họ sẽ bị tra
tấn từ từ với cường độ
tra tấn tăng dần. Những phiên tra tấn này
thường kéo dài từ hai
tới bốn tiếng đồng hồ,
thân thể các nạn nhân bị
xâm phạm và phá hủy.
Thường thì những
hình cụ tra tấn dùng
trong các cuộc tra hỏi
này trước hết được rảy
nước Thánh (nước đã được
một linh mục làm
phúc). Trong những hình
cụ tra tấn có:
CÁI KẸP NGÓN
TAY. Ngón tay của bị cáo
bị đặt trong
cái kẹp có đinh
vít. Đinh vít được quay để
kẹp chặt ngón tay dần
dần cho tới khi máu phọt
ra và xương ngón tay bị
nghiền nát.
ĐÔI ỦNG SẮT. Cái
hình cụ hữu hiệu này
dùng để nghiền nát xương
ống chân.
CÁI GIÁ CĂNG. Nạn
nhân bị căng trên một
khung hình tam giác,
chân tay bị buộc chặt để
không cử động được. Cổ
tay và cổ chân bị cột
vào một cái đinh vít
căng. Khi vặn đinh vít,
chân tay nạn nhân bị
căng ra một cách vô cùng
đau đớn cho tới khi cổ
tay và cổ chân bị kéo ra
khỏi những khớp xương
tương ứng.
(Mục sư Bringas còn
tả thêm 2 hình cụ tra
tấn nữa nhưng vì quá độc
ác nên tôi không muốn
dịch. Hai hình cụ đó là:
CÁI GIÁ CĂNG THẲNG ĐỨNG
(The Vertical Rack) và
HÌNH CỤ TRA TẤN BẰNG
NƯỚC (Water
Torture). Tuy nhiên,
trong phần trích dẫn
bằng tiếng Anh ở cuối
bài tôi xin để nguyên
lời mô tả những hình cụ
này để độc giả tham
khảo. TCN).
...Những phương
pháp độc ác và tàn nhẫn
dùng để trừng phạt những
người bị kết án là dị
giáo chứng tỏ chiều sâu
của sự rồ dại và lạc dẫn
sự say mê tôn giáo gây
ra bởi những người tự
cho là làm theo ý
Chúa."
3
Chúng ta nên để ý
rằng, trên đây nhà Thần
học Ki Tô Ernie Bringas
chỉ mô tả 5 hình cụ
thường dùng để tra tấn
những người dị giáo
trong số hơn 40 hình cụ,
được phát minh bởi những
người con Chúa thường
được rao giảng là Chúa
dạy phải thương yêu kẻ
thù, trong đó có những
hình cụ tra tấn một cách
tàn ác và dã man hơn
những hình cụ mô tả ở
trên. Độc giả nào tò
mò muốn thấy
tận mắt một số những
hình cụ này thì tôi xin
mời họ hãy đến thăm một
bảo tàng viện có tên là
"Medieval Dungeon" ở
trên đường Jefferson,
khu Fisherman Warf,
thành phố San Francisco,
Cali. Trong bảo tàng
viện này có trưng bày
hơn 40 hình cụ mà các
tòa hình án dùng để tra
tấn những người bị tố
cáo là dị giáo. Ở ngoài
cửa bảo tàng viện có đề:
"Trưng bày hơn 40
hình cụ man rợ để tra
tấn và hủy diệt con
người trong thời đại
Trung Cổ ở Âu Châu. Đằng
sau những cánh cửa này
là sự khủng khiếp thực
sự của thời đại Trung Cổ
ở Âu Châu. Những ngày
đen tối nhất của cái quá
khứ nhơ nhớp của họ."
(More than 40
barbaric exhibitions of
torture and annhiliation
from European Medieval
days. Beyond these doors
lies the true horror of
the European Medieval
days. The darkest days
of its sordid past.)
Ngoài ra, Linh Mục
Joseph Dunn cũng viết
trong cuốn Đám Tín
Đồ Công giáo Chúng Tôi
(The Rest of Us
Catholics, Templegate
Publishers, 1994), trg.
184, như sau:
"Có một cuộc
triển lãm thường xuyên
những hình cụ tra tấn
tại Amsterdam - Đã
một lần tôi đặc biệt tới
xem cuộc triển lãm
này. Tôi nghĩ rằng mọi
cá nhân mới tuyển mộ cho
Cơ Quan Truyền Bá Đức
Tin (hay Văn Phòng
Thánh, Holy Office,
Nguyên là cơ quan chỉ
đạo các tòa hình án.
TCN) của Hồng Y
Ratzinger đều phải đến
xem cuộc triển lãm này
và viết một bài nghiên
cứu về nó.
Đây là những hình
cụ tra tấn của những tòa
hình án xử dị giáo mà
Văn Phòng Thánh là cơ
quan thừa kế. Có những
hình cụ nghiền nát đầu,
nghiền nát ngón tay, giá
thang để căng người,
phanh ngực, chẻ đầu gối,
hình cụ giống quả lê và
làm nó nở ra dần dần sau
khi đâm vào miệng, hậu
môn, âm hộ, khuôn người
bằng sắt, những cái chĩa
dành cho dị giáo, và
những con nhện Tây Ba
Nha -
kèm theo những bản khắc
và tài liệu chỉ cách
những hình cụ này đã
được xử dụng như thế
nào."
4
Đọc về những tòa hình
án xử dị giáo tôi không
tài nào hiểu nổi những
hành động dã man, tồi
tệ, và phản lại chính
tín ngưỡng của mình, của
những tín đồ Công
giáo. Thí dụ: một trong
những hình cụ tra tấn
được tìm thấy trong nhà
tù của Tòa Án Xử Dị Giáo
tại vùng Toledo có một
bức tượng giống
hình Mary Đồng Trinh.
Phía trước có nhiều đinh
và dao sắc. Những đòn
bẩy được vận dụng để cho
hai tay bức tượng xiết
chặt nạn nhân dần dần
trong khi những đinh và
dao sắc xuyên qua thân
thể. (Plaidy.,
143: One of the
instruments of torture,
which was discovered in
the prison of the
Inquisition in Toledo by
the invading French, was
a statue built to
resemble the Virgin
Mary. The front of the
statue was covered with
sharp nails and
knives. Levers were
pulled, and the arms of
the statue would embrace
its victim who would be
crushed tighter and
tighter, while the
knives and nails pierced
the naked flesh.). Trong
cuốn “Unzipped: The
Popes Bare All”, Tiến sĩ
Arthur Frederick Ide mô
tả hình cụ tra tấn mang
hình Mary như sau, trang
45, theo tài liệu của
Linh Mục Joseph McCabe
trong cuốn Lịch Sử Tra
Tấn (Austin, 1980): “Một
con đường đi thẳng tới
Jesus hơn [để hiệp
thông với Chúa] có
thể kiếm thấy trong hình
cụ “Bà Đồng Trinh Bằng
Sắt” của những Tòa Hình
Án Xử Dị Giáo. Bà ta
khoác một bộ áo choàng
bằng gỗ và sắt, khi mở
ra thì có những hàng mũi
nhọn trông như những
răng của cái bừa, dài
khoảng 20cm. Nạn nhân
đứng trên một cánh cửa ở
trên một hố nước sâu,
khi hai cánh của hình cụ
mở ra và các mũi nhọn
rút ra khỏi thân người
thì cái xác sẽ rơi xuống
nước ở hố sâu. NHững mũi
nhọn được xếp đặt cẩn
thận để sao cho hai cái
xuyên vào hai mắt nạn
nhân, những cái khác thì
xuyên qua ngực và bụng.” (A
more direct route to
Jesus was found in the
“Iron Virgin” of the
Inquisition. She wore a
cloak of wood and iron
which when opened
revealed an interior
lined with spikes shaped
like harrow teeth.. The
figure stood above a
trapdoor opening into a
moat so that when the
doors were opened and
the spikes pulled out of
the corpse, it would
drop into the water
below. The spikes were
carefully placed so that
two of them would enter
the eyes, others into
the chest, and still
others into the
abdomen.)
Trong một số sách đã
xuất bản, chúng ta cũng
có thể thấy những hình
ảnh của những hình cụ
tra tấn này, kèm theo
lời mô tả cách tra tấn..
Độc giả có thể đọc vài
cuốn điển hình, thí dụ
như cuốn Những Tòa
Hình Án Tây-Ban-Nha
(The Spanish
Inquisition) của Jean
Plaidy, hoặc cuốn Vạch
Trần Các Giáo Hoàng: Một
Khảo Cứu Bộc trực về Vấn
Đề Tình Dục và Đồi Bại
Trong Vatican
(Unzipped: The Popes
Bare All, A Frank Study
of Sex & Corruption in
the Vatican) của
Arthur Frederick Ide, và nhất là tập sử
nổi tiếng Lịch Sử
Những Tòa Hình Án Trong
Thời Trung Cổ (The
History of the
Inquisition in the
Middle Ages) của Henry
Charles Lea, nếu muốn
biết nhiều hơn về những
sự dã man tàn bạo của
Giáo hội Công giáo La
Mã.
Sau đây chúng ta hãy
đọc vài tài liệu mô tả
phần nào chi tiết về
những hành động man rợ,
độc ác không thể tưởng
tượng được của các con
cái Chúa. Đầu tiên là
tài liệu trong cuốn "Các
Đại Diện của Chúa KiTô:
Mặt Đen Tối Của Triều
Chính Giáo Hoàng
(Vicars of Christ: The
Dark Side of the
Papacy,Crown Publishers,
1988, trg. 162-166)
của Giám Mục Công giáo
Peter de Rosa:
"Khủng bố thực sự
bắt đầu với Gregory IX,
lên ngôi giáo hoàng năm
1227.
Hai năm sau, tại
Công Đồng Toulouse ở
Languedoc, Gregory ra
sắc lệnh giải giao những
người "dị giáo" cho
chính quyền dân sự trừng
phạt. Ông nói: "Bổn phận
của mọi tín đồ GiaTô là
phải truy tố những kẻ dị
giáo".
Năm 1232 giáo
hoàng đã đi đến một
quyết định: Ông ra chiếu
chỉ thành lập Tòa Án xử
Dị Giáo. Những Giám mục
thì quá lơ là, thực ra
là, họ thiếu thì giờ và
khả năng để hoàn thành
công việc một cách chu
đáo. Những người dị
giáo, nghĩa là những
người chống bất cứ lời
tuyên bố nào của giáo
hoàng, đều phải giải
giao cho chính quyền dân
sự thiêu sống (sau
khi bị Tòa Hình Án tra
tấn, thẩm vấn và kết
tội; TCN). Nếu họ
sám hối họ sẽ bị tù
chung thân. Chưa có giáo
hoàng nào dương lên ngọn
đuốc khủng bố với sự
thích thú hơn.
Tháng 4, 1233,
giáo hoàng chỉ chọn
những quan tòa hình án
trong dòng Đa Minh
(Dominic)
và chẳng bao lâu các
linh mục dòng này vinh
dự được sự chọn lựa đó.
Ngày 27 tháng 7, 1233,
là ngày giáo hoàng phê
chuẩn bằng bút đỏ: hai
phán quan của tòa hình
án làm việc toàn thời
gian được bổ nhiệm -
Peter Seila và Wìliam
Arnald. Hai ông này là
hai người đầu tiên của
một đoàn dài những công
tố viên của nhân loại,
làm việc một cách thanh
thản và không hề thắc
mắc. Khi bức màn hình án
được kéo lên, năm 1239,
2 năm trước khi Gregory
chết, linh mục dòng Đa
Minh Robert le Bougre đi
tới Champagne để điều
tra một giám mục tên là
Moranis. Ông giám mục
này bị kết tội là để cho
những người dị giáo sống
và lan ra trong giáo
phận của mình. Ngày 29
tháng 5, le Bougre đưa
180 người, kể cả ông
giám mục, lên giàn hỏa
thiêu sống.
Đây là sự
trở lại thời man rợ.
Lịch sử không ủng
hộ quan điểm cho rằng
giáo hội Công giáo luôn
luôn đứng đầu về vấn đề
nhân quyền. Trong thế kỷ
13, giáo hội vẫn còn đưa
ra giáo điều như thuở
ban đầu: dị giáo không
có một nhân quyền nào.
Họ có thể bị tra tấn
không chút đắn đo, ngại
ngùng. Giống như những
kẻ phản bội quốc gia, họ
tự đặt mình ra ngoài sự
thương xót của luật
pháp. Họ phải chết.
Trải qua 3 thế kỷ
không có một giáo hoàng
nào chống đối cái giáo
điều man rợ trên. Do đó,
giáo điều này đã trở
thành một phần thường
trực trong giáo lý Công
giáo. Dựa vào đó, quyền
năng của tòa hình án đã
lên tới mức chưa từng
thấy. Kết quả là sự đàn
áp toàn diện những người
không hề có được một sự
bảo vệ nào trước những
sự buộc tội hoặc chỉ bị
nghi ngờ là dị giáo.
Tòa hình án được
phép làm bất điều
gì. Những phán quan của
tòa hình án dòng Đa
Minh, được giáo hoàng bổ
nhiệm, họ không ở dưới
quyền bất cứ một ai
ngoài Thượng đế và giáo
hoàng. Họ đứng ngoài
vòng xét xử của các giám
mục và luật dân
sự. Trong những quốc gia
thuộc quyền giáo hoàng
họ chính là luật lệ, vừa
đóng vai công tố viên
vừa đóng vai quan tòa xử
án. Nguyên lý chỉ đạo
của họ là: "Thà giết oan 100
người vô tội còn hơn là
để cho một kẻ dị giáo
được tự do."
Họ hoạt động một
cách độc đoán và trong
vòng bí mật. Bất cứ
người nào hiện diện
trong cuộc tra hỏi - nạn
nhân, thư ký, người tra
tấn - mà tiết lộ thì sẽ
bị lên án mà chỉ có giáo
hoàng mới có thể tha
cho. Những quan tòa hình
án, giống như giáo
hoàng, được hiểu rằng
không thể phạm một lỗi
lầm nào và không thể làm
sai...
Tra tấn được dùng
thả dàn. Mới một trăm
năm trước đây, người ta
trưng bầy trong cái nhà
ở góc đường của giáo
hoàng cuốn Sổ Đen dùng
làm chỉ đạo cho những
quan tòa hình án. Cuốn
sổ có đánh số trang này
thuộc trách nhiệm của
Phán Quan Trưởng Tòa
hình án. Cái tên phổ
thông của nó là Cuốn Sổ
của Thần Chết. Sau đây
là một phần được trích
dẫn từ đó:
"Hoặc bị cáo thú
tội và như vậy là có tội
theo sự thú tội của
chính hắn, hoặc hắn
không thú tội nhưng vẫn
là có tội dựa theo chứng
cớ của các nhân
chứng. Nếu một người
nhận tất các tội đã gán
cho hắn, đương nhiên hắn
hoàn toàn có
tội; nhưng nếu hắn chỉ
thú có một phần các tội
trạng, hắn vẫn phải bị
coi như là phạm tất cả
các tội, vì phần mà hắn
đã thú tội chứng tỏ rằng
hắn có khả năng phạm tất
cả các điểm khác trong
bản cáo trạng...
Sự tra tấn thân
xác đã chứng tỏ đó là
phương cách có ích và
hữu hiệu đưa tới sự sám
hối tinh thần. Cho nên,
sự chọn lựa một hình cụ
tra tấn thích hợp nhất
là trách nhiệm của quan
tòa hình án, ông ta sẽ
quyết định dựa trên tuổi
tác, phái nam hay nữ, và
sự cường tráng thân thể
của tội nhân. Nếu, trong
trường hợp đã dùng đủ
mọi cách mà con người
xấu số kia vẫn không
chịu nhận tội, phải coi
hắn như là một nạn nhân
của quỷ; và, như vậy,
không
được hưởng sự thương xót
từ các kẻ tôi tớ của
Thượng đế (các linh mục xử
án), hoặc sự thương hại
hay khoan hồng nào của
giáo hội Mẹ Thánh thiện.
Hắn là đứa con của sự
đày đọa. Hãy để cho hắn
chết rục cùng với những
kẻ đã bị đày đọa vĩnh
viễn xuống hỏa ngục."
Thật khó mà có
thể kiếm được một văn
kiện nào mà trái với
những nguyên tắc công lý
tự nhiên như vậy. Theo
cuốn Sổ Đen, một đứa con
phải phản bội cha mẹ,
một bà mẹ phải phản bội
đứa con. Không làm như
vậy là một "tội lỗi đối
với Tòa Án Thánh" và
đáng bị tuyệt thông,
nghĩa là, không được
hưởng các bí tích và,
nếu không có tu chính
án, không được lên thiên
đàng.
Những ông Tòa
hình án chưa bao giờ
thua một vụ nào. Sử liệu
cho thấy không có một vụ
phán quyết nào được xem
là vô tội. Ngay cả trong
trường hợp rất
hiếm mà phán quyết của
tòa hình án là Không Đủ
Bằng Cớ, thì cũng không
ai được công nhận là vô
tội. Nếu bị cáo thực sự
không có tội dị giáo
cũng không thành vấn
đề. Các ông tòa hình án
tin rằng may ra chỉ có
một trong trăm ngàn linh
hồn thoát được sự đọa
đày mà thôi."
5
Trên đây, Peter de
Rosa chỉ nói là các quan
án đạo, thường là linh
mục, được quyền tra tấn
thả dàn, nhưng không mô
tả những cảnh tra tấn đó
như thế nào. Chúng ta có
thể thấy thêm một chút
ánh sáng về khía cạnh
này qua một đoạn trong
cuốn Những Sự Khủng
Khiếp Mang Nhãn Hiệu
Thánh, Một Lịch Sử Minh
Họa Về Sự Điên Rồ Sát
Nhân Tôn Giáo (Holy
Horrors, An Illustrated
History of Religious
Murder and Madness,
Prometheus Books, 1990)
của James A. Haught,
trang 61-68. Tôi thành
thực khuyên những người
yếu tim không nên đọc
đoạn mô tả những cách
tra tấn này của giáo hội
Công giáo thánh thiện:
Những nỗ lực để
tiêu diệt những kẻ lạc
đạo đã đưa đến sự thành
lập những Tòa Án Xử Dị
Giáo Mang Nhãn Hiệu
Thánh (Holy
Inquisition), một trong
những hành động khủng
khiếp siêu việt của nhân
loại. Vào đầu thế kỷ 13,
các giám mục địa phương
được quyền kiếm ra, xử
án và trừng phạt những
kẻ lạc đạo. Khi các giám
mục không tỏ ra là hữu
hiệu cho lắm, các quan
án đạo của giáo hoàng,
thường là các linh mục
dòng Đa Minh
(Dominician), được phái
từ La Mã đi khắp nơi để
thực hiện cuộc tẩy trừ.
Năm 1252, Giáo
hoàng Innocent IV cho
phép tra tấn, và những
phòng xử án đạo trở
thành những nơi khủng
bố. Những người bị tố
cáo là lạc đạo bị bắt và
giam trong phòng tối,
không được phép có gia
đình vào thăm, không
được quyền biết tên
những người đã tố cáo
họ. Nếu họ không nhận
tội ngay, những cảnh độc
ác không thể thốt lên
lời bắt đầu xẩy ra. Nhà
sử học Thụy Sĩ Walter
Nigg kể lại:
“Cái kẹp ngón tay
thường là hình cụ được
xử dụng đầu tiên: Các
ngón tay bị kẹp giữa
những cái kẹp và rồi
được vặn xiết lại cho
đến khi các ngón tay bị
tóe máu ra và cương bị
nghiền nát. Kẻ bị tố cáo
có thể bị đặt ngồi trên
một chiếc ghế sắt mà mặt
ghế là những đinh sắt
nhọn chổng lên và các
đinh này có thể được
nung nóng đỏ lên từ phía
dưới. Có hình cụ được
gọi là đôi ủng (boots)
dùng để nghiền nát xương
ống chân. Một hình cụ
tra tấn khác được ưa
dùng là làm trật các
khớp xương của kẻ lạc
đạo trên những giá căng,
hay là buộc chân tay,
đeo đá nặng vào
người, rồi dùng bánh xe
quay, kéo lên hạ
xuống. Để cho những kẻ
tra tấn khỏi bị phiền vì
những tiếng kêu la, nạn
nhân thường bị nhét giẻ
vào miệng. Những cuộc
tra tấn kéo dài 3, 4
tiếng đồng hồ là
thường. Trong những cuộc
tra tấn, các hình cụ
thường được rẩy nước
thánh.”
Những nạn nhân
không chỉ bắt buộc phải
nhận tội mình là kẻ lạc
đạo, mà còn phải tố cáo
vợ con, bạn hữu của mình
cũng lạc đạo như mình,
do đó những người này
cũng phải trải qua cùng
một cảnh như mình. Những
người ít tội là những
người nhận tội ngay và
chịu hình phạt nhẹ
hơn. Những người tội
nặng hơn mà sám hối thì
sẽ bị tù chung thân và
tài sản bị tịch
thu. Những kẻ cứng đầu
hơn được mang đi thiêu
sống trong một cuộc lễ
diễn hành được gọi là
“auto-da fé” (hành động
của đức tin). Một sắc
lệnh của Giáo hoàng năm
1231 quy định thiêu sống
là hình phạt tiêu
chuẩn. Sự hành hình được
thi hành bởi các viên
chức dân sự, không phải
là linh mục, để bảo tồn
sự thánh thiện của giáo
hội [Trong các cuộc
thiêu sống, các linh mục
thường đứng giơ cây thập
ác trước mặt nạn nhân,
một biểu tượng cứu vớt
linh hồn lạc đạo của nạn
nhân].
Một số quan án
đạo giết người như vạt
cỏ. Robert le Bourge đưa
183 người lên dàn hỏa
trong một tuần
lễ. Bernard Gui kết tội
930 người – tịch thu tài
sản của tất cả 930 người
– cho 307 người vào tù,
và thiêu sống 42. Conrad
of Marburg thiêu sống
mọi người nào cho mình
là vô tội.
Theo lịch sử, các
cuộc hình án xử dị giáo
được chia làm ba đợt: sự
tiêu diệt những kẻ lạc
đạo trong thời Trung Cổ,
những tòa hình án xử dị
giáo Tây Ban Nha vào thế
kỷ 15, và những tòa án
xử dị giáo của La Mã,
bắt đầu sau cuộc cải
cách [trong đó Tin Lành
cũng nhúng tay vào]
Ở Tây Ban Nha,
nhiều ngàn người Do Thái
đã cải đạo sang Ki Tô
Giáo để tránh tử hình
trong những cuộc tàn sát
của người Ki Tô
Giáo. Một số người Hồi
Giáo cũng vậy. Thuy
nhiên, họ vẫn bị nghi
ngờ là không được thành
thật khi cải đạo và vẫn
bí mật theo đạo cũ. Năm
1487, Giáo hoàng cho
phép Vua Frenidand và
Hoàng hậu Isabelle làm
sống lại những tòa hình
án xử dị giáo để săn
lùng những người “Do
Thái bí mật” và những
người “Hồi Giáo bí mật”
[Những người bị nghi ngờ
là không thành thật cải
đạo sang Ki Tô
Giáo]. Linh mục dòng Đa
Minh Tomas de Torquemada
được chỉ định là Tổng
Phán Quan, và hắn ta trở
thành biểu tượng của sự
độc ác tôn giáo. Hàng
ngàn nạn nhân kêu la bị
tra tấn, và ít nhất là
2000 người bị thiêu
sống.
Thời kỳ xử dị
giáo của La Mã bắt đầu
năm 1542 khi Giáo hoàng
Paul III muốn tiêu diệt
tận gốc những ảnh hưởng
của Tin Lành ở Ý. Dưới
triều đại Paul IV, những
tòa án xử dị giáo là một
triều đại khủng bố, giết
nhiều người “lạc đạo”
chỉ vì nghi ngờ. Trong
số những nạn nhân có cả
nhà khoa học-triết gia
Giordano Bruno, người
tin theo thuyết các hành
tinh quay xung quanh mặt
trời của Copernicus. Ông
ta bị thiêu sống ở La Mã
vào năm 1600.
Những tòa án xử
dị giáo làm tàn lụi
nhiều quốc gia trong
nhiều thế kỷ. Ở Bồ Đào
Nha, tài liệu ghi lại là
184 người bị thiêu
sống. Những tòa án xử dị
giáo được những chiến
thắng quân Tây Ban Nha
mang tới các thuộc địa
Mỹ Châu, để trừng phạt
những thổ dân theo những
tôn giáo của họ. Có 879
cuộc xử án những người
lạc đạo ở Mexico vào
cuối thế kỷ 16..
Lord Acton, một
tín đồ Công giáo, viết
vào cuối thế kỷ 19:
“Nguyên tắc của Những
Tòa Hình Án Xử Dị Giáo
là giết người.. Những
giáo hoàng không chỉ là
những tên sát nhân có
hạng, mà còn cho sự giết
người là một căn bản hợp
pháp của Giáo hội Ki Tô
và là một điều kiện của
sự cứu rỗi.” 6
Cuối cùng trong bài
này, vì tôi không thể
đưa ra tất cả những tài
liệu, là thêm một tài
liệu về các Tòa Hình Án
Xử Dị Giáo của Helen
Ellerbe trong cuốn
Cái Mặt Đen Tối Của Lịch
Sử Ki Tô Giáo (The
Dark Side of Christian
History, Morningstar &
Lark, 1995, Chapter
VI, pp. 76-92):
Chưa từng có nỗ
lực có tổ chức của một
tôn giáo để kiểm soát
con người và giam giữ
tâm linh của họ như là
những tòa hình án của Ki
Tô Giáo. Được phát triển
từ trong khuôn khổ hợp
pháp của chính giáo hội,
những tòa hình án xử dị
giáo toan tính khủng bố
con người để bắt họ vào
trong vòng tuân phục
giáo hội. Như quan án
đạo (Inquisitor)
Francisco Pena phát biểu
năm 1578: “Chúng ta phải
nhớ rằng mục đích chính
của các cuộc xử án và
hành hình không phải là
để cứu vớt linh hồn của
kẻ bị cáo buộc mà để cho
sự tốt lành công cộng và
reo rắc sự sợ hãi cho
những kẻ khác.” Những
Tòa Án Xử Dị Giáo đã lấy
đi vô số mạng người ở Âu
Châu và trên thế giới
khi nó theo gót những
giáo sĩ thừa sai đi
truyền đạo. Cùng với sự
tàn bạo của những tòa án
xử dị giáo, những giáo
sĩ cũng đem sự biện minh
tôn giáo (như được viết
trong Thánh Kinh) để
thực hành chế độ nô lệ.
Cái tinh thần bất
phục trong thời Trung Cổ
có vẻ như đã làm cho sự
đòi hỏi tuyệt đối tuân
phục của giáo hội trở
nên trầm trọng. Cái hiểu
về Thiên Chúa của Giáo
hội là cái hiểu duy
nhất. Không làm gì có
chuyện bàn cãi hay tranh
luận. Như quan án đạo
Bernard Gui nói, tín đồ
Công giáo không có tranh
luận với những kẻ bất
tín, “mà chỉ cần dùng
gươm đâm vào bụng chúng
cho thật sâu.” Trong một
thời mà con người nẩy nở
tâm linh, giáo hội khăng
khăng cho rằng giáo hội
là con đường duy nhất mà
con người được phép biết
về Thiên Chúa. Giáo
hoàng Innocent III tuyên
bố rằng: “bất cứ người
nào mà toan tính có một
quan điểm riêng về Thiên
Chúa mà không đúng theo
những tín điều của giáo
hội đều phải bị thiêu
sống mà không được
thương sót.”..
Giáo hội xử dụng
giáo luật của chính mình
để hình thành một cơ
quan có thể cưỡng bức
con người phải tuân theo
quyền lực của giáo
hội. Năm 1231 giáo hoàng
Gregory IX thiếtlập một
tòa án riêng biệt, độc
lập đối với những giám
mục hay các cấp cao
hơn. Những viên chức của
tòa án, những quan án
đạo, chỉ chịu trách
nhiệm trước giáo hoàng.
Luật xử dị giáo của giáo
hội thay thế luật truyền
thống thường dùng; “vô
tội cho đến khi chứng
thực là có tội” bằng
luật “có tội cho đến khi
chứng thực là vô
tội.” Tuy rằng bề ngoài
có vẻ như là một cuộc xử
án, phương thức xử dị
giáo khiến cho người bị
nghi ngờ lạc đạo không
có cách nào có thể chứng
minh mình vô tội; phương
thức xử án trên đưa đến
kết quả cuộc là kết tội
ngay cả những người chỉ
mới là nghi ngờ lạc
đạo. Người bị cáo buộc
không có uyền được tham
vấn. Không có chi tiết
nào được đưa ra về thời
gian và nơi chốn phạm
những tội lạc đạo, hoặc
những loại lạc đạo nào
đã bị nghi ngờ là phạm
phải.
Quan Án Đạo (The
Inquisitor) chủ tọa
phương thức xử dị giáo
như cả hai: vừa là công
tố viên vừa là quan tòa
tuyên án… Một quan án
đạo được tuyển chọn căn
cứ trên sự nồng nhiệt
truy tố lạc đạo của ông
ta. Ông ta và những phụ
tá, những liên lạc viên
và mật thám, được quyền
mang vũ khí. Và năm
1245, giáo hoàng cho
phép các quan án đạo
được tha tội cho những
phụ tá của mình trước
bất cứ những hành động
bạo lực nào. Điều này
khiến cho những tòa án
xử dị giáo, vốn đã không
chịu dưới quyền của nền
pháp luật thế tục, cũng
còn không chịu trách
nhiệm ngay cả trước
những tòa án của giới
giáo sĩ..
Những quan án đạo
trở nên rất giầu có. Họ
nhận hối lộ và tiền hụi
hàng năm mà những người
giầu có phải trả để
tránh bị tố cáo là lạc
đạo. Tòa án xử dị giáo
tịch thu tài sản của
nhữngngười bị cho là lạc
đạo. Vì các nạn nhân
không có cách nào để
chứng tỏ mình vô tội
trước tòa nên các quan
án đạo không cần chờ đến
khi định tội rồi mới
tịch thu tài sản của nạn
nhân. Không như luật của
La Mã để ra một phần tài
sản cho người thừa kế
của người có tội, giáo
luật của tòa án xử dị
giáo không để lại chút
nào. Giáo hoàng Innocent
III đã giải thích là
chính Thiên Chúa đã
trừng phạt con cái vì
tội lỗi của cha mẹ. Cho
nên, trừ khi con cái
đứng ra ngay để tố cáo
cha mẹ, chúng không được
thừa hưởng chút
nào. Những quan án đạo
lên án ngay cả những
người lạc đạo đã chết,
đôi khi cả tới 70 năm
sau khi chết. Chúng khai
quật và hỏa thiêu xương
cốt của người mà chúng
cho là lạc đạo và rồi
tịch thu mọi tài sản của
những người thừa kế..
Những tòa án xử
dị giáo thật tàn nhẫn
đối với các nạn nhân của
họ. Cùng một người vừa
là công tố viên (người
kết tội) vừa là quan tòa
(người định tội) quyết
định án tội. Năm 1244
Công đồng ở Narbonne ra
lệnh rằng khi định tội
những người lạc đạo,
phải kết tội luôn người
chồng hay người vợ của
nạn nhân, hoặc cha mẹ
của đứa con, và không có
bản án nào được giảm vì
đau ốm hay tuổi tác.
Tuy Giáo hội đã
bắt đầu giết những người
lạc đạo vào cuối thế kỷ
4 và sau đó ở Orléan vào
năm 1022, lệnh của giáo
hoàng năm 1231 quy định
những người lạc đạo phải
bị thiêu sống. Thiêu
sống con người tránh
được đổ máu [nhưng khi
tra tấn nạn nhân thì tha
hồ làm đổ máu] Câu trong
Phúc Âm Giăng (John)
được hiểu để trừng phạt
nạn nhân bằng cách thiêu
sống: “Nếu một người
không tin vào Ta, nó sẽ
bị dẹp đi như một cành
cây, để khô héo; và các
người sẽ thu thập nó,
ném vào ngọn lửa, và
chúng bị đốt cháy”(John
15: 16).
Cái sắc thái ác
độc nhất của hệ thống xử
dị giáo là những cách
dùng để bắt buộc nạn
nhân phải thú tội: phòng
tra tấn. Tra tấn là hành
động hợp pháp của Giáo
hội từ năm 1252 khi được
giáo hoàng Innocent IV
cho phép và kéo dài cho
tới năm 1917 khi văn
kiện Codex Juris
Canonici (giáo luật về
cách xử xét) được thi
hành. Innocent IV cho
phép sự xét xử được kéo
dài vô hạn để lấy lời
thú tội, cho các quan án
đạo tất cả thời gian họ
muốn để tra tấn người bị
kết tội. Năm 1262 những
quan án đạo và phụ tá
của họ được quyền tha
tội cho nhau vì những
tội ác làm đổ máu của
họ. Họ chỉ cần giải
thích là người bị tra
tấn chết là vì đã bị quỷ
bẻ gãy cổ.
Do đó, được phép
của chính giáo hoàng,
những quan án đạo tha hồ
nghĩ ra những cách độc
ác và kinh khủng nhất
[để tra tấn kẻ lạc
đạo]. Mặc những bộ áo
chùng thâm và phủ vải
đen trên đầu, các quan
án đạo có thể lấy lời
thú tội của bất cứ
ai. Họ phát minh ra mọi
hình cụ có thể tưởng
tượng ra được để gây đau
đớn cho nạn nhân bằng
cách từ từ làm trận
những khớp xương tr6n
người hoặc làm tứ chi
tước khỏi thân thể con
người. Trên nhiều hình
cụ này được khắc câu
“Chỉ Cho Sự Vinh Quang
Của Thiên Chúa”. Giá
căng người, bánh xe kéo
người lên xuống, tra tấn
bằng nước là những hình
cụ thông dụng nhất. Nạn
nhân bị thoa mỡ lên
người và từ từ nướng
sống. Những lò sát sinh
để giết người, biểu
tượng ô nhục của Đức
Quốc Xã trong thế kỷ 20,
đã được những tòa án xử
dị giáo xử dụng trước
hết ở Đông Âu. Nạn nhân
bị ném xuống hố sâu có
đầy rắn độc và rồi bị
chôn sống. Một cảnh tra
tấn ghê rợn là lật úp
một cái đĩa chứa đầy
chuột trên bụng trần của
nạn nhân. Lửa được đốt
từ phía trên làm cho
những con chuột hỏang sợ
tìm cách chui rúc vào
bụng nạn nhân.
Sự bạo hành nằm
trong niềm tin về một
đấng siêu đẳng duy nhất
đã đi theo những nhà
phiêu lưu và các nhà
truyền giáo trên khắp
thế giới. Khi Columbus
tới Mỹ năm 1492, hắn ta
tưởng lầm đó là Ấn Độ và
gọi các thổ dân là
“người Ấn”
(Indians). Chính vì mục
đích của hắn, chủ trương
cải đạo các thổ dân vào
“Đức Tin Thánh” của
chúng ta (our Holy
Faith) đã đưa đến sự nô
lệ hóa và xuất cảng
nhiều ngàn thổ dân Mỹ đi
làm nô lệ. Cách đối xử
có tính cách diệt chủng
như vậy không phải là
vấn đề vì các thổ dân Mỹ
đã được cho cơ hội để
sống cuộc sống đời đời
trong Ki Tô Giáo.
Những tòa án xử
dị giáo mau chóng theo
gót nhửng nhà phiêu lưu
và truyền giáo này. Vào
khoảng 1570 những tòa
hình án xử dị giáo đã
thiết lập những tòa độc
lập ở Peru và Mexico với
mục đích “giải phóng
quốc gia đã bị ô nhiễm
bởi những người Do Thái
và kẻ dị giáo”. Những
thổ dân không chịu cải
đạo vào Ki Tô Giáo đều
bị thiêu sống giống như
những kẻ lạc đạo. NHững
Tòa Hình Án Xử Dị Giáo
lan sang đến cả Goa, Ấn
Độ, ở đ1o vào cuối thế
kỷ 16, đầu thế kỷ 17, ít
nhất là 3800 bị giết.
Dù không có những
tòa án xử dị giáo ở địa
phương, cung cách truyền
giáo minh họa rõ ràng
niềm tin vào một Thiên
Chúa siêu đẳng duy
nhất. Nếu hình ảnh của
một Thiên Chúa thờ phụng
ở một quốc gia nào mà
không phải là Thiên Chúa
của Ki Tô Giáo, thì đó
không phải là Thiên
Chúa. Những nhà truyền
giáo Bồ Đào Nha ở Viễn
Đông đã phá hủy chùa
chiền, bắt buộc các học
giả phải dấu đi nhưng
kinh sách của tôn giáo
họ, và dẹp bỏ những tục
lệ cổ truyền.
Những nhà truyền
giáo Ki Tô Giáo thường
dự phần vào việc khai
thác bóc lột đất đai ở
ngoại quốc một cách vô
lương tâm. Nhiều người
trở thành nhà truyền
giáo để trở thành giầu
có nhanh chóng rồi trở
về Âu Châu sống với
những lợi nhuận từ những
sự khai thác này. Ở Mễ
Tây Cơ, những giáo sĩ
dòng Đa Minh, dòng
Augustine, dòng Tên được
biết là sở hữu chủ của
“những đàn cừu lớn nhất,
những vườn mía tốt nhất,
những địa ốc tốt nhất” [Ở
Việt Nam, Nhà Chung cũng
chiếm hữu nhiều đất đai
và cơ sở kinh doanh
nhất, theo Linh Mục Trần
Tam Tĩnh trong cuốn
“Thập Giá và Lưỡi
Gươm”]. Đặc biệt là
ở Nam Mỹ, Giáo hội hỗ
trợ việc nô lệ hóa các
thổ dân và cướp đoạt đất
đai của thổ dân.
[Chúng ta hẳn câu nói
thời danh của tổng giám
mục Desmond Tutu, người
đã đoạt giải Nobel về
Hòa Bình năm 1984: “Chúng
tôi có đất đai và họ tới
với cuốn Thánh Kinh của
họ. Chúng tôi tin họ,
cầm cuốn Thánh Kinh trên
tay, nhắm mắt cầu
nguyện. Khi chúng tôi mở
mắt ra thì chúng tôi có
cuốn Thánh Kinh và họ có
tất cả đất đai của chúng
tôi.” (We have our
lands and they came with
their Bible. We believed
in them and we pray with
the Bible in our hands
and our eyes
closed. When we open our
eyes, we have the Bible
and they have our lands] Một
sắc lệnh của giáo hoàng
vào năm 1493 cho phép
người Ki Tô được khai
chiến với bất cứ dân tộc
nào ở Nam Mỹ từ chối
không theo Ki Tô Giáo…