Các bài trong tập này: 1
2
3 4
5 6
7 8
PHẦN II :
NÚI TỘI ÁC THỨ HAI CỦA CÔNG GIÁO:NHỮNG CUỘC THẬP ÁC CHINH MANG TÊN “THÁNH CHIẾN”
Theo đúng những lời dạy trong Kinh Thánh, Cuốn Từ Điển Bách Khoa
của Công Giáo (The Catholic Encyclopedia) định nghĩa các cuộc Thập
Ác Chinh là những cuộc chiến tranh để theo đuổi một lời nguyện, và
nhắm vào những kẻ không tin, nghĩa là, những người Hồi Giáo, người ngoại
giáo, dị giáo, và những kẻ bị tuyệt thông (lạc đạo hay rối đạo)
[Crusades: wars undertaken in pursuance of a vow, and directed against
infidels, i.e. against Mohammedans, pagans, heretics, or those under the
ban of excommunication.]
Thật vậy, tất cả nguồn gốc và những sắc thái của những cuộc Thập Ác
Chinh (Crusades) mà người Công giáo gọi là “thánh chiến” (Holy wars) do
Công giáo phát động, kéo dài nhiều thế kỷ, máu đổ thành sông, xương chất
thành núi, với hàng triệu sinh mạng già trẻ lớn bé vô tội, có thể thấy
rõ qua vài câu trích dẫn sau đây từ cuốn “Thánh Kinh” của Ki Tô Giáo:
PHẢI TUYỆT ĐỐI TUÂN HÀNH CÁC ĐIỀU RĂN, LUẬT LỆ CỦA THƯỢNG
ĐẾ... KHI ĐỨC CHÚA TRỜI DẪN CÁC NGƯƠI VÀO VÙNG ĐẤT MÀ CÁC NGƯƠI SẼ CHIẾM
HỮU..CÁC NGƯƠI PHẢI TẬN DIỆT HỌ, KHÔNG ĐƯỢC LẬP GIAO ƯỚC, KHÔNG ĐƯỢC
THƯƠNG XÓT... KHÔNG ĐƯỢC GẢ CON GÁI MÌNH CHO CON TRAI HỌ, HOẶC CƯỚI CON
GÁI HỌ CHO CON TRAI MÌNH VÌ HỌ SẼ DỤ CON CÁI CÁC NGƯƠI THỜ CÚNG CÁC THẦN
CỦA HỌ MÀ BỎ CHÚA HẰNG HỮU.. CÁC NGƯƠI PHẢI ĐỐI XỬ VỚI HỌ NHƯ SAU: PHẢI
PHÁ HỦY NHỮNG BÀN THỜ CỦA HỌ, PHẢI ĐẬP PHÁ NHỮNG CỘT TRỤ THIÊNG LIÊNG
CỦA HỌ, ĐẬP NÁT NHỮNG HÌNH TƯỢNG BẰNG GỖ, ĐỐT SẠCH CÁC TƯỢNG CHẠM CỦA
HỌ..
THƯỢNG ĐẾ (PHỤC TRUYỀN 6:17; 7:1-5)
LÚC KÉO QUÂN ĐẾN TẤN CÔNG MỘT THÀNH NÀO, NẾU THIÊN CHÚA CHO
CÁC NGƯƠI HẠ ĐƯỢC THÀNH ĐÓ, PHẢI GIẾT HẾT ĐÀN ÔNG TRONG THÀNH, NHƯNG BẮT
GIỮ ĐÀN BÀ, TRẺ CON, SÚC VẬT, VÀ CHIẾM GIỮ CÁC CHIẾN LỢI PHẨM...BÊN
TRONG LÃNH THỔ CHÚA BAN CHO, PHẢI DIỆT HẾT MỌI SINH VẬT. PHẢI TẬN DIỆT
DÂN HÊ-TÍT, A-MO, CA-NA-AN, PHÊ-RẾT, HÊ-VÍT VÀ GIÊ-BU NHƯ CHÚA ĐÃ TRUYỀN
DẠY. NHƯ VẬY HỌ KHÔNG CÒN SỐNG ĐỂ DỤ DỖ ĐỒNG BÀO HỌ LÀM TỘI ÁC, THỜ CÚNG
THẦN CỦA HỌ MÀ MANG TỘI VỚI CHÚA.
THƯỢNG ĐẾ (PHỤC TRUYỀN 20: 12-18)
HÃY MANG NHỮNG KẺ THÙ CỦA TA RA ĐÂY, NHỮNG NGƯỜI KHÔNG MUỐN
TA NGỰ TRỊ HỌ, VÀ GIẾT CHÚNG NGAY TRƯỚC MẶT TA.
GIÊ-SU (LƯU–CA: 19:27)
ĐỪNG TƯỞNG RẰNG TA XUỐNG TRẦN ĐỂ MANG LẠI HÒA BÌNH TRÊN TRÁI
ĐẤT. TA KHÔNG XUỐNG ĐÂY ĐỂ MANG LẠI HÒA BÌNH MÀ LÀ GƯƠM GIÁO. VÌ TA
XUỐNG ĐÂY ĐỂ LÀM CHO CON CHỐNG LẠI CHA, CON GÁI CHỐNG LẠI MẸ, CON DÂU
CHỐNG LẠI MẸ CHỒNG, VÀ KẺ THÙ CỦA CON NGƯỜI Ở NGAY TRONG NHÀ HẮN.
GIÊ-SU (MÃ-THI-Ơ: 10: 34-36)
Những câu trích dẫn ở trên, và nhiều câu khác cũng như nhiều chuyện
trong Thánh Kinh, đã là căn bản, không những chỉ cho sách lược truyền
đạo của Công giáo, điển hình là ở Việt Nam, cho những cuộc Thập Ác
Chinh, mà còn cho cả 7 núi tội ác của giáo hội Công giáo mà giáo hoàng
John Paul II cùng một số phụ tá cao cấp trong tòa Thánh, trong đó có
Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, về sau được phong Hồng Y, đã công khai
xưng thú với nhân loại ngày 12 tháng 3, 2000 tại thánh đường Phê-rô.
Học giả Công giáo Joseph L. Daleiden đã tóm tắt lịch sử truyền bá đạo
Công giáo qua nhận định như sau trong cuốn The Final Superstition:
"Nói tóm lại, những bằng chứng tràn ngập cho thấy sự truyền bá Ki
Tô Giáo trong thế giới xưa và nay phần lớn dựa vào sự cưỡng bách, bạo
hành và đàn áp. Xuyên suốt lịch sử, từ những cuộc diệt trừ những người
dị giáo (hay lạc đạo) ngay từ thuở ban đầu của Giáo hội, cho tới những
cuộc Thập Ác Chinh, những tòa án đạo xử dị giáo, sự trấn áp những
nền văn hóa khác trên khắp thế giới, Ki Tô Giáo [Công giáo] đã
chứng tỏ những tiêu chuẩn có tính cách hủy diệt và chống loài người của
tôn giáo này." 1
Riêng về những cuộc Thập Ác Chinh, trước hết tưởng chúng ta cũng nên
biết vài nhận định tổng quát về những cuộc chiến tranh tôn giáo
(religious wars) đã được giáo hội khoác cho nhãn hiệu “thánh chiến”
(holy wars).
Trong cuốn Những Sự Khủng Khiếp Mang Nhãn Hiệu Thánh: Một Lịch Sử
Minh Họa Về Sự Chém Giết Và Điên Rồ Tôn Giáo (Holy Horrors: An
Illustrated History Of Religious Murder And Madness), tác giả James A.
Haught, Chủ Biên tờ Charleston Gazette, đã viết như sau, trang 14, 19:
“Khi tôn giáo (Công giáo) nắm
toàn quyền ở Âu Châu, nó đã tạo nên một thiên sử thi tắm máu của những
cuộc Thập Ác Chinh, những phòng tra tấn của Tòa Án Đạo xử dị giáo, tận
diệt hàng loạt những người “lạc đạo” hay “dị giáo”, hàng trăm cuộc tàn
sát người Do Thái, và 300 năm thiêu sống phù thủy.
“Thời Đại Của Đức Tin” là một thời đại chém giết mang
nhãn hiệu thánh. Khi tôn giáo
(Công Giáo) dần dần không còn kiểm soát được đời sống hàng ngày của
người dân nữa, quan niệm về nhân quyền và tự do cá nhân đã mọc rễ.
...Trong thực tế, những cuộc Thập Ác Chinh là một cơn ác
mộng thật ghê tởm với những cuộc tàn sát, hiếp dâm, cướp bóc, hỗn loạn –
trộn lẫn với niềm tin vào ảo thuật.” 2
Trong cuốn Các Cuộc Thập Ác Chinh (The Crusades), sử gia
Henry Treece viết trong phần mở đầu:
"Nhưng khi chúng ta đọc nhiều hơn về các cuộc Thập Ác Chinh thì cái hình ảnh (mà Giáo hội Công giáo đưa ra và ngày nay các
tác giả Công giáo Việt Nam nhắc lại như những con vẹt) trở thành nhơ
nhuốc; sự nghiên cứu (về các cuộc Thập Ác Chinh) khó mà có thể
đưa ra sự thực mà chúng ta đã từng hi vọng. Chúng ta thấy các cuộc Thập
Ác Chinh và các Thập ác quân khác với những điều chúng ta
thường tưởng tượng (theo như lời Giáo hội tuyên truyền), và rút
cuộc chúng ta phải đồng ý với đoạn tổng kết của bậc thầy chúng ta, Ngài
Steven Runcinan , trong cuốn Vương Quốc Nghĩa Trang: "Đức Tin
không có trí tuệ thì thật là nguy hiểm.. Trong tương quan ảnh hưởng và
hòa đồng giữa Đông và Tây liên tục và lâu dài, từ đó nền văn minh của
chúng ta đã phát triển, những cuộc Thập Ác Chinh là một thời kỳ bi thảm và hủy diệt.. Đã có
quá nhiều sự dũng cảm nhưng lại quá ít vinh dự, đã có quá nhiều lòng
sùng tín nhưng lại quá ít hiểu biết. Những lý tưởng cao đẹp đã bị nhơ
bẩn bởi sự độc ác và tham lam, hành động táo bạo và sự chịu đựng bắt nguồn từ lòng tin mù quáng và hẹp hòi tự cho mình là
đúng; và chính cuộc Thập Ác Chinh cũng không gì khác hơn là một
hành động kéo dài của sự bất khoan nhượng nhân danh Chúa”
3
Và trong cuốn Những Vị Thần Cuối Cùng Của Huyền Thoại: Gia-Vê và
Giê-su (Mythology’s Last Gods: Yahweh and Jesus) Tiến sĩ William
Harwood đã viết, trang 156:
“Triết lý của Phục Truyền Luật Lệ Ký, giết những
người tin vào các huyền thoại khác trừ huyền thoại của chính mình để bảo
vệ các tín đồ trước những đạo khác là một hành động của Thiên Chúa
và đáng tán thưởng, trong thời đại Trung Cổ đã được thực thi theo một
kết luận hợp lý bởi những tín đồ Ki Tô (Công Giáo), những người
trong vài thế kỷ, đã thẳng tay tàn sát từ 30 đến 50
triệu kẻ thù của Thiên Chúa trong những biến cố như Thập Ác Chinh, tòa
án đạo xử dị giáo, cuộc chiến 30 năm, và những trường hợp tàn bạo khác.”
4
Vậy, rõ ràng là những tội ác của Công giáo La Mã bắt nguồn từ Thánh
Kinh. Nhưng những luật lệ độc ác của Chúa Cha (Thần Gia-vê) cũng như
Chúa Con (Giê-su) trong Thánh Kinh không không đủ, vì giáo dân chẳng có
mấy người đọc thánh kinh, nhất là tuyệt đại đa số giáo dân trong thời
Trung Cổ thuộc loại ngu dốt, vô học, mà còn phải cộng thêm với chính
sách nhồi sọ mê hoặc của giáo hội về chủ trương độc thần, về những huyền
thoại như tội tổ tông, vai trò cứu thế của Giê-su, giáo hoàng là đại
diện của Chúa trên trần, huyền thoại về miền đất Thánh v..v.. đưa đến sự
cuồng tín, tin nhảm tin nhí của đám tín đồ thấp kém, Công Giáo mới có
thể phát động được những cuộc Thập Ác Chinh trong thời Trung Cổ, cũng
như phạm những núi tội ác khác trong suốt dòng lịch sử gần 2000
năm. Chứng minh?
Trước hết, tại sao các Thập Ác quân (crusaders) lại bỏ nhà bỏ cửa, bỏ
vợ con, bỏ ruộng đất, vườn tược để đi thiêu thân trong các cuộc thánh
chiến, đối diện với những cuộc hành trình gian khổ, bệnh tật, đói khát
v..v..? Chúng ta có thể đọc vài giải thích sau đây.
Trong cuốn Sử Lược (The Outline of History, Vol. 2,
Garden City Books, New York, 1956), sử gia H. G. Wells viết như sau,
trang 540:
“Trong thời đại ngu si đã có một sự sẵn sàng kỳ
lạ tin rằng giới linh mục Công Giáo là thông thái và thánh thiện. Tương
đối giới linh mục khá hơn và khôn ngoan hơn trong thời đó [đối với
quần chúng, nhưng ngày nay thì khác, giới linh mục là giới kém hiểu biết
nhất trong những giới trí thức].
Khởi đầu của các cuộc Thập Ác Chinh cho ta hình ảnh của toàn thể
Âu Châu bị bão hòa bởi một Ki Tô Giáo [ý nói tập thể giáo dân Công
giáo] ngây thơ, sẵn sàng tin cậy và đơn giản tuân theo sự chỉ đạo
của giáo hoàng.” 5
Trong cuốn Năm Thế Kỷ Của Các Cuộc Thánh Chiến: Những Cuộc Thập
Ác Chinh (Five Centuries of Holy Wars: The Crusades, Malcolm
Billings, Sterling Publishing Co., Inc., New York, 1996), Jonathan
Riley-Smith viết trong Lời Mở Đầu, trang 12:
“Tại sao họ (thập ác quân) ra đi? Họ sống trong một xã
hội rất khác với xã hội của chúng ta. Đó là một xã hội của những tín đồ
mà đức tin của họ đã được củng cố bởi một quan điểm về thiên nhiên và vũ
trụ mà ngày nay chúng ta biết là sai nhưng ít nhất cũng phù hợp với kinh
nghiệm của họ.
Những hành động độc ác tồi tệ của họ – sự bạo hành những người Do
Thái không tự vệ trong cuộc “tàn sát tập thể đầu tiên” [Trong cuộc
Thập Ác Chinh đầu tiên (1096-1099), như chúng ta sẽ thấy, sự tàn sát tập
thể những cộng đồng Do Thái trên đường tiến quân của những đoàn Thập Ác
quân Công Giáo, ngày nay được coi như là “the First Holocaust”. TCN]
– đã phạm bởi những người mà đầu óc của họ đã bị điều kiện hóa bởi ý
niệm trả thù. Họ được giáo hội (Công Giáo) dạy
là chiến đấu chống những người không tin đạo là biểu thị lòng yêu Thiên
Chúa một cách quá sai lầm đến độ cuộc Thập Ác Chinh đối với họ là một
hành động trả thù chống những người mà họ lên án là làm “ô danh Chúa Ki
Tô”. 6
Trong cuốn Sự Mê Tín Cuối Cùng: Một Phê Bình Đánh Giá Di Sản Do
Thái – Ki Tô (The Final Superstition: A Critical Evaluation of the
Judeo-Christian Legacy, Prometheus Books, New York, 1994), Joseph L.
Daleiden, một học giả Công Giáo, viết, trang 54:
“Cuộc Thập Ác Chinh thứ nhất được phát động bởi Giáo
hoàng Urban II. Ông ta quạt những ngọn lửa thù hận chính đáng [vào
đám tín đồ] bằng cách ban phép toàn xá – hoàn toàn tha thứ mọi hình
phạt của Chúa vì những tội trong quá khứ – cho bất cứ người nào đi giết
người cho danh dự và vinh quang lớn hơn của Thiên chúa. Nói cách khác,
nếu Thập Ác quân bị giết, anh ta được bảo đảm là sẽ lên thiên đường ngay
lập tức.” 7
Và sử gia Will Durant cũng viết trong bộ sử đồ sộ Câu Chuyện Về
Nền Văn Minh (The Story of Civilization, quyển IV) về Thời Đại
Của Đức Tin (The Age of Faith), trang 588, về những thành phần tham
gia cuộc thánh chiến:
“Một “ơn toàn xá” xóa bỏ mọi hình phạt vì tội lỗi đã được ban cho
những Thập Ác quân chết trận. Các nông nô được phép rời bỏ ruộng đất mà
họ bắt buộc phải lao động trong đó; các công dân được miễn thuế; những
kẻ nợ nần được hoãn trả tiền lời; các tù nhân được phóng thích, và các
tử tội được đổi thành khổ sai ở Palestine, do quyền lực của giáo hoàng
đã được suy diễn một cách trắng trợn. Nhiều ngàn kẻ du thử du thực tham
gia cuộc trường chinh thiêng liêng.” 8
Sống trong thời đại mê tín, hấp dẫn bởi những hứa hẹn hoang đường,
không đủ đầu óc để biết đâu là sự thật, những đạo binh Thập Ác, như
chúng ta đã biết, không phải là những giáo dân đi “hành hương thánh
địa” (sic), hoặc là những “giáo dân Âu Châu sốt sắng, đạo đức
sau những năm tháng thấm nhuần tin mừng” (sic) như vài tác giả Công
giáo Việt Nam đã viết láo [xin đọc bài của Ngô triệu Lịch], mà hầu hết
là những đoàn quân ô hợp gồm những nông dân ngây thơ cuồng tín, những
nông nô (serfs) được giải phóng để đi giết người cho Chúa, cùng với
những kẻ thành tích bất hảo như các tội phạm (criminals), ăn trộm ăn cắp
(thieves), du thử du thực ăn bám xã hội (vagrants) v..v... Vì vậy các
đạo binh Thập Ác mới phạm phải những tội ác vô tiền khoáng hậu trong
lịch sử loài người. Lẽ dĩ nhiên, những đạo binh thập ác này bao giờ cũng
có những cấp chỉ huy là Giám mục (bishops), Linh mục (priests), Hiệp Sĩ
thời đại (knights), và những nhà quý phái (noble men), hầu hết không có
kinh nghiệm quân sự.
Thật vậy, chúng ta hãy đọc vài đoạn tóm tắt các cuộc Thập Ác Chinh
trong cuốn Những Sự Khủng Khiếp Mang Nhãn Hiệu Thánh: Một Lịch Sử
Minh Họa Về Sự Chém Giết Và Điên Rồ Tôn Giáo (Holy Horrors: An
Illustrated History of Religious Murder and Madness của James A.
Haught), trang 19-27:
Giáo Hoàng Urban II phát động cuộc Thập Ác Chinh thứ nhất vào năm
1096 để cướp lại Thánh Địa từ những kẻ không tin đạo (Hồi giáo). “Thiên
Chúa muốn thế” (Deus Vult = God will it) là tiếng kêu gọi để tập hợp
đoàn Thập Ác quân (crusaders) [Chúng ta thấy sự bịp bợm
trắng trợn của Giáo hoàng Urban II đối với đám tín đồ ngu dốt. Theo Công
giáo, một trong những thuộc tính của Thiên Chúa là không ai có thể hiểu
được (uncomprehensible) nhưng những tham vọng thế tục của giới giáo sĩ
Công Giáo, từ Giáo hoàng trở xuống cho đến các linh mục, luôn luôn được
diễn giải đó là “Ý Chúa” và các tín đồ ngu dốt cứ nhắm mắt mà tin và
phạm đủ mọi tội ác. Người Công Giáo gọi crusaders là những “thánh giá
binh” vì họ được dạy rằng, cái giá hình chữ thập mà người La Mã dùng để
đóng đinh những tội phạm như ăn trộm, ăn cướp v..v..., một hình phạt
thuộc loại man rợ nhất của người La Mã cổ xưa, đã trở thành cái “thánh
giá” vì Giê-su của họ bị đóng đinh trên đó (cùng lúc với 2 tên ăn
trộm). Charlie Nguyễn, một người Công giáo tỉnh ngộ đã phê bình: Nếu
Giê-su bị treo cổ thì cái thòng lọng treo cổ Giê-su sẽ trở thành cái
“thánh thòng lọng”. Qua những hành động của các “thánh giá binh” trong
các cuộc Thập Ác Chinh mà chúng ta đọc sau đây, danh từ chính xác phải
là “Thập Ác quân”. TCN]. Khắp Âu Châu, những đám
người cuồng tín lúc nhúc trong những
đoàn quân hỗn tạp ô hợp dẫn đầu bởi
các linh mục có uy tín lôi cuốn quần chúng. Nhiều chục ngàn người theo một linh mục dơ dáy,
Peter the Hermit, người đã trưng ra một lá thư mà ông
ta nói là Thiên Chúa đã viết cho ông ta và được Giê-su trao tận tay cho
ông ta [Thiên Chúa là một sản phẩm tưởng tượng của con
người, còn Jesus thì đã chết từ ngàn năm trước, thế mà sự bịp bợm của
Peter the Hermit vẫn có người tin và đi theo ông ta để giết người]
chứng nhận vai trò lãnh đạo của ông ta. Nhiều ngàn người khác theo linh
mục Walter the Penniless.
Trong thung lũng sông Rhine ở Đức, một cánh Thập Ác quân đi theo
một con ngỗng mà họ tin rằng chính là hiện thân của Thánh Linh để hướng
dẫn họ. Cánh quân này hợp với cánh quân của Emich ở Leisingen, một lãnh
tụ tuyên bố rằng một dấu Thập Ác đã hiện ra trên ngực ông ta như là một
thánh dấu (holy sign) của một phép lạ. Emich quyết định là,
trước khi đi trên 3200 cây số để giết những kẻ thù của Thiên Chúa ở vùng
đất thánh, bổn phận tôn giáo của Thập Ác quân là phải
giết “những kẻ không tin đạo trong giữa chúng ta”:
những người Do Thái ở Mainz, Worms, và ở các thị trấn Đức khác. Đoàn
Thập Ác quân tràn qua những cộng đồng Do Thái, chém giết và thiêu sống
nhiều ngàn đàn ông, đàn bà, trẻ con không thể tự vệ. Nhiều
người Do Thái, trong những khu đã dựng lên chướng ngại vật để ngăn chận
đoàn Thập Ác quân, đã phải nuốt nước mắt giết con cái của mình rồi tự tử
trước khi đoàn Thập Ác quân ô hợp tràn vào.
Những đoàn quân khác dẫn đầu bởi các linh mục Volkmar và
Gottschalk cũng tàn sát tương tự những người Do Thái ở Prague và
Regensburg ở Bavaria. Thỉnh thoảng, trong giờ phút cuối cùng, dưới ngọn
gươm, các nạn nhân được cho một cơ hội sống sót bằng cách cải đạo vào Ki
Tô Giáo.
Nhiều đoàn Thập Ác quân khác đi qua những xứ Ki Tô như Hung Gia
Lợi (Hungary), Nam Tư (Yugoslavia) và Bulgaria. Họ cướp bóc lương thực trong các vùng quê,
gây nên những cuộc đánh nhau với dân và quân lính địa phương. Trong một
cuộc đụng chạm, đoàn quân của Peter the Hermit đã giết 4000 dân Ki Tô ở
Zemun, Yugoslavia, và thiêu rụi Belgrade gần đó. Nhiều ngàn Thập Ác quân
đã chết trong những trận đánh hỗn loạn ở Bulgaria. Sau cùng, chỉ còn có
một phần của những đoàn quân ô hợp là tới được đất Thổ (Turkey)
của Hồi giáo, ở đó sau bị những đoàn quân Hồi giáo tàn sát gần hết.
Sau đó, những đoàn hiệp sĩ Ki Tô chuyên nghiệp đã được tổ chức để
tham gia cuộc Thập Ác Chinh. Các giám mục đi theo đoàn
hiệp sĩ để ban phúc lành cho những hành động ác ôn của họ. Những đoàn quân chuyên nghiệp này chặt đầu người Hồi giáo và
đeo những đầu lâu như là chiến lợi phẩm. Sau một trận
thắng ờ bờ bể Syria gần Antioch, Thập Ác quân mang về trại 500 đầu
lâu. 300 đầu lâu được bêu trên các cọc để khủng bố tinh thần quân Hồi
đang giữ thành Antioch. Những linh mục ghi sử ghi rằng
một “Thập Ác quân giám mục” gọi những đầu lâu khủng khiếp đó là một cảnh
ngoạn mục hoan hỉ cho dân Chúa. Trong thành Antioch,
quân Hồi, để trả đũa, cũng chặt đầu các tín đồ Ki Tô rồi bêu hướng ra
ngoài thành. Sau cùng Thập Ác quân đã tiến vào Antioch ngày 3 tháng 6,
1098, và giết mọi dân chúng trong đó.
Rồi một đoàn quân Hồi giáo tiến đến vây lại thành Antioch. Thập
Ác quân trong thành thiếu lương thực, gần chết đói, và linh mục Peter
Bartholomew tuyên bố rằng một thánh đã hiện ra trước ông ta trong một
viễn tượng và tiết lộ cho ông ta biết là cây giáo đâm lên cạnh sườn
Giê-su khi Giê-su bị đóng đinh được chôn ở dưới một nhà thờ trong
Antioch. Cây Thánh Giáo (Holy Lance) được đào lên và là một
thánh tích khích động sự cuồng nhiệt của Thập Ác quân. Họ xông ra ngoài
thành trong một cuộc chém giết cuồng tín khiến cho quân Hồi phải bỏ trại
mà chạy, để lại vợ đàng sau. Nhà ghi sử Fulcher ở Chartres hãnh diện ghi
rằng: “Khi thấy những người đàn bà ở trong trại Hồi, Thập Ác quân Pháp
không làm điều gì ác ngoài việc dùng giáo mác đâm xuyên vào bụng họ”.
Tiến vào Jerusalem, Thập Ác quân thanh tẩy cái thành thánh này
bằng cách giết hầu như mọi người dân trong đó. Người Do Thái trốn trong
giáo đường bị thiêu sống cùng với giáo đường. Thây người chất thành đống
ngoài đường phố. Nhà ghi sử Raymond ở Aguilers ghi rằng:
“Thật là những cảnh kỳ diệu. Rất nhiều người Hồi bị chặt đầu...
Nhiều người khác bị dùng làm bia bắn tên hay bị ép phải nhảy từ những
chòi cao xuống; nhiều người khác bị tra tấn trong nhiều ngày, rồi thiêu
sống. Ngoài đường phố có hàng đống những đầu lâu, tay và chân. Trong đền Solomon (đền thờ Thiên Chúa do
Solomon dựng lên) ngựa lội trong máu ngập đến khuỷu
chân, không phải, đến giây buộc yên ngựa. Thật đúng là một sự phán xét
công bằng và tuyệt vời của Thiên Chúa, rằng chỗ này phải ngập đầy máu
của những kẻ không tin Thiên Chúa. Trong hai thế kỷ
sau đó, Hồi giáo chiếm lại nhiều phần trong Thánh Địa, đưa đến 7 cuộc
Thập Ác Chinh khác của Ca Tô Giáo. Hầu hết những cuộc chinh chiến của Ca
Tô Giáo này bắt đầu bằng sự tàn sát những người Do Thái ở Âu Châu.
Trong cuộc Thập Ác Chinh thứ ba, sau khi Richard the Lion-Hearted
chiếm thành Acre (ở phía Tây Bắc Jerusalem. TCN) năm 1191, ông ta ra
lệnh mang 3000 người dân trong thành, trong đó có nhiều đàn bà và trẻ
em, ra giết ở ngoài thành. Các thây người được mổ banh bụng để tìm kiếm
những châu báu có thể đã được nuốt đi. Các giám mục ngâm nga các bài
kinh cầu nguyện tạ ơn Chúa. Nhà ghi sử Ambroise viết:
“Mọi người đều bị giết. Vì đây là ân huệ của đấng sáng tạo”. Thánh
Bernard ở Clairvaux đã chẳng nói khi phát động cuộc Thập Ác Chinh thứ
hai: “Người Ki Tô thích thú trong cái chết của người
ngoại đạo, vì như vậy Chúa Ki Tô đã được vinh danh”.
Trong cuộc Thập Ác Chinh thứ tư, các đoàn Thập Ác quân đã cướp
sạch các thị trấn Ki Tô Constantinople và Zara. Cuộc Thập Ác Chinh của
trẻ con năm 1212 là một thảm cảnh căn cứ trên niềm tin là Thiên Chúa sẽ
ban sức mạnh cho những đứa trẻ ngây thơ để chiến thắng quân Hồi. Hầu hết
bọn trẻ bỏ mình mà không tới được Thánh Địa.
Sau cùng, mọi sự chấm dứt năm 1291 khi Hồi giáo chiếm lại những
căn cứ cuối cùng của Ki Tô Giáo, Acre, và giết sạch những người Ki Tô
trong đó để trả thù vụ Richard tàn sát người Hồi trước đó một thế
kỷ. Thánh Địa lại nằm trong tay của Hồi Giáo. Hai thế kỷ giết chóc và
tàn phá vô ích, chẳng được cái gì.
9
Về những thánh tích (holy relics) trong Công Giáo, như cây giáo đâm
vào cạnh sườn Giê-su, tác giả James A. Haught có bình luận như sau,
trang 24-25, chứng tỏ Công Giáo là tôn giáo mê tín bậc nhất trong thiên
hạ, và các vị lãnh đạo Công giáo đã khai thác sự mê tín của đám tín đồ
tới mức nào. Xin nhắc là, đi kiếm “thánh tích” ở vùng Thánh Địa là một
động cơ khích động tín đồ tham gia vào các sự chém giết trong các cuộc
Thập Ác Chinh:
Cái cây Thánh Giáo (Holy Lance) có đúng là thật hay không hay chỉ
là ngụy tạo không được các linh mục ghi sử quan tâm. Giáo hội Ki Tô bị
ám ảnh bởi việc kiếm ra và thờ phụng các “thánh tích”. Những mảnh của
cây thập giá mà Giê-su bị đóng đinh trên đó, những mảnh thân thể các
thánh (pieces of saints’ bodies), những giọt nước mắt còn ướt của Giê-su
(still-wet tears shed by Jesus), những mảnh từ cái mũ gai Giê-su đội,
những quần áo lót của Mary (Mary’s undergarments) – đó là những vật được
gìn giữ trong các hộp châu báu trong mọi nhà thờ lớn. Một ông vua Saxony
hãnh diện có được 17000 thánh tích, kể cả một cành trong bụi cây cháy
của Moses và một cái lông cánh của thiên thần Gabriel. Nhà thờ
Canterbury trưng bày một miếng đất sét còn lại sau khi Thiên Chúa dùng
nó để nặn ra Adam (Canterbury Cathedral displayed part of the clay left
over after God fashioned Adam.) Sử gia Charles Mackay nói rằng các nhà
thờ Tây Ban Nha có 6 hay 7 cái xương đùi của Mary đồng trinh (six or
seven thighbones of the Virgin Mary), và các nhà thờ khác có những móng
chân của thánh Peter có thể chứa đầy một cái bị. Voltaire ghi rằng có 6
miếng da qui đầu cắt ra khi Giê-su làm lễ cắt bì; về sau các nhà nghiên
cứu đếm được 15 (Voltaire noted that 6 sacred foreskins were snipped
from Jesus at his circumcision; later researchers counted fifteen)
10
Trên đây chỉ là sự mô tả sơ lược những cuộc Thập Ác Chinh của Công
giáo La Mã. Qua sự mô tả này, chúng ta hẳn đã thấy tất cả những sự tàn
bạo và những điều cực kỳ mê tín trong tôn giáo đó. Vậy mà các tác giả
Công giáo Việt Nam đã mô tả những cuộc Thập Ác Chinh như là những cuộc
“hành hương thánh địa” (sic) của những “giáo dân Âu Châu
sốt sắng, đạo đức sau những năm tháng thấm nhuần tin mừng”
(sic). Hiển nhiên là đầu óc của họ thuộc loại hết thuốc chữa. Vấn đề là,
trong thời buổi này, tại sao họ vẫn còn hi vọng lừa dối độc giả bằng
những luận điệu bẻ cong sự thật. Có lẽ mục đích của họ không phải để cho
đại chúng đọc mà chỉ để giữ tín đồ trong vòng ngu dốt, mê tín và cuồng
tín. Đây chính là sách sách lược của giáo hội Công giáo toàn cầu từ xưa
tới nay.
Thật vậy, chúng ta hãy đọc một đoạn trong bài NGƯỜI CÔNG GIÁO ĐÃ NÓI
GÌ VỀ NHỮNG CUỘC THÁNH CHIẾN của tác giả Ngô Triệu Lịch, nói về những
luận điệu bẻ queo sự thật của Giáo hội Công giáo dạy đám tín đồ ngu dốt
mà một số con vẹt trí thức Công Giáo Việt Nam nhắc lại về các cuộc gọi
là “Thánh chiến”:
Bài viết này không phải là một “khảo cứu lịch sử” về các cuộc
thánh chiến, do Giáo hội Rôma phát động. Nhưng thông qua “lịch sử thánh
chiến”, người viết muốn đưa ra những nhận định của mình, về quan điểm
của một số tác giả Công giáo người Việt, khi họ đề cập đến “thánh chiến”
mà người viết đã có dịp đọc qua trên các sách, báo, tạp chí, hoặc các
website Công giáo…
Đại để, các tác giả Công giáo khi đề cập đến “thánh chiến”, họ
đều có chung những nhận định mang tính hộ giáo, dù họ thừa nhận có những
sai lầm nhất định trong các đợt phát động thánh chiến của giáo hội, nhưng tất cả đều vận dụng những quan điểm thần học cũ kỹ,
lạc hậu, như: “ý chúa”, “sự quan phòng”, “chúa thánh thần dẫn dắt”… để
biện minh cho những sai lầm ấy. Tâm lý tự ti, mặc cảm, là điều dễ thấy
trong các lập luận. Ngụy biện, gượng ép, đổ lỗi cho
hoàn cảnh lịch sử, cho sự hiếu chiến của Hồi giáo, cho những tham vọng
chính trị của vua chúa các nước châu Âu, ngụy biện những cuộc thánh
chiến do “mẹ giáo hội” phát động chỉ là sự tự vệ… Từ
đó, hướng độc giả vào một cái nhìn “cảm thông”, vẽ ra chân dung của một
Urban II “thánh thiện, dũng cảm và khôn ngoan”, một đoàn người hành
hương “sốt sắng, đạo đức, thấm nhuần Tin Mừng”… Tội ác tày trời của đế
quốc Vatican dưới ngòi bút của họ biến thành con số không…Và đặc biệt,
họ say sưa ca ngợi “chúa quan phòng”, bắt “chúa” của họ phải “quan
phòng” đến cả những tội ác mà giáo hội Công giáo La Mã đã gây ra cho
nhân loại…
Để biện hộ cho sự hiếu chiến của “mẹ giáo hội” của họ, các tác giả Công giáo người Việt đã lập luận bát nháo, bất
chấp sự tròng tréo, mâu thuẫn trong cùng một sự kiện.
Ví dụ: Linh mục Phạm Đức Trị viết :
“Có thể nói Ðức Urban II chỉ có ý mời gọi những binh lính đã từng cầm võ
khí, và đã có kinh nghiệm gia nhập Ðạo Binh Thánh giá mà thôi, vì ngài
có ý thiết lập một đội binh tinh nhuệ cho một cuộc thánh chiến. Nhưng
không ngờ tiếng nói của ngài đã làm ảnh hưởng tới một Âu châu sốt sắng,
đạo đức sau những tháng năm được thấm nhuần Tin Mừng.” (Lm. F.X. Phạm
Ðức Trị, OMI. Giáo Hội Thời Ðạo Binh Thánh Giá, CD-rom vietcatholic
2001). Trong khi đó, lập luận của tác giả Đình Vượng
hoàn toàn ngược lại: “Lời kêu gọi của Giáo hoàng Urbani II không nhằm
vào các vua chúa phương tây, mà nhằm vào lòng quảng đại của người tín
hữu. Sau lời kêu gọi của Giáo hoàng, tu sĩ Pierre L’Ermite và hiệp
sĩ Adémar de Monteil chẳng biết gì về quân sự lại đứng ra tập hợp quần
chúng thành những đoàn quân, kéo về Constantinople. Người Bazance hốt
hoảng và Giáo hoàng Urbain đã không trù liệu một đoàn thập tự chinh ô
hợp đã bị người Hồi tàn sát gấn hết ở Tiểu Á ” (Đình Vượng, Quan hệ
Vatican và Giáo hội Công giáo, tr 269).
So sách hai trích dẫn của hai tác giả nêu trên, ta thấy, theo Lm
Phạm Đức Trị, Giáo hoàng Urban II chỉ triệu tập những binh lính tinh
nhuệ gia nhập đạo binh thánh giá, chứ không hề kêu gọi quần chúng tham
gia. Những ông già, bà cả, trẻ con, tự nguyện tham gia thánh chiến,
chẳng qua vì họ quá “sốt sắng, đạo đức sau những tháng năm được thấm
nhuần Tin Mừng…”, chứ Giáo hoàng không hề kêu gọi họ. Ngược lại, tác giả
Đình Vượng khẳng định: “Lời kêu gọi của Giáo hoàng Urbani II không nhằm
vào các vua chúa phương tây, mà nhằm vào lòng quảng đại của người tín
hữu”. Vì thế, Pierre L’Ermite và Adémar de Monteil là những người vốn mù
tịt về quân sự, được giao trọng trách mang đoàn quân thập tự ô hợp đến
Tiểu Á để cho quân Hồi giáo “nướng” sạch!... Cùng một sự kiện lịch sử,
nhưng cả hai tác giả Công giáo này có hai lập luận mâu thuẫn, đối nghịch
nhau. Tuy vậy, cả hai đều gặp nhau ở cùng một điểm: chạy tội cho “mẹ
giáo hội” vốn đang rất sốt ruột vì quân Hồi chiếm giữ đất thánh
Jêrusalem! Và cũng vì tín đồ rất “đạo đức, sốt sắng,
thấm nhuần Tin Mừng !?” đang khao khát hành hương đất thánh…
Sự kiện Giáo hoàng Urban II triệu tập công đồng Clermont
kêu gọi "tái chiếm Jêrusalem, cứu đất thánh” là một vết nhơ khó tẩy của
đế quốc Vatican. Dù muốn biện hộ thế nào thì cuộc
chiến do Urban II phát động vẫn là một tội ác. Urban
II đã lợi dụng lòng tin mù quáng của đám tín đồ cuồng tín, hứa "ban ơn
toàn xá" để bảo đảm “phần rỗi linh hồn” cho họ, đẩy họ vào cuộc
chiến không cân sức với đội quân tinh nhuệ Hồi giáo.
Ðiều trớ trêu là những người tham gia thánh chiến vì ham mê "ơn toàn xá"
của Giáo hoàng mà gia nhập chứ họ chưa hề qua một lớp huấn luyện quân sự
nào. Kết quả là nhiều người trong đoàn quân ô hợp, vô kỷ luật và cuồng
tín "lên thiên đàng thẳng cẳng" nhờ ơn toàn xá của Giáo hoàng!.. Phịa
chuyện “tìm thấy chiếc mác đồng đâm cạnh sườn Chúa Giêsu dưới bàn thờ
đền thánh Phêrô” để kích động sự cuồng tín của tín đồ, đẩy họ vào chỗ
chết, dẫu có biện hộ thế nào, vẫn cứ là một tội ác.
Chúng ta thấy, trong 2000 năm nay, Giáo hội Công Giáo đã áp dụng
triệt để chủ thuyết hắc ám, nghĩa là chủ truơng làm cho tín đồ trở thành
ngu muội, tối tăm, với tâm cảnh nô lệ, hoàn toàn tuân phục giáo hội và
bắt buộc phải tin rồi lập lại bất cứ luận điệu nào của giáo hội giải
thích về bất cứ một vấn đề nào đó, bất kể là luận điệu đó hoàn toàn sai
với sự thực.
Những cuộc Thập Ác Chinh của Công giáo kéo dài trong bao nhiêu
năm? Tất cả các học giả đều đồng ý là cuộc Thập Ác Chinh đầu tiên khởi
sự năm 1096. Nhưng những cuộc Thập Ác Chinh chấm dứt năm nào thì có
nhiều công cuộc nghiên cứu đưa ra những năm khác nhau. Trước đây người
ta thường cho rằng các cuộc Thập Ác Chinh chấm dứt vào năm 1396 hoặc
chậm nhất là năm 1444. Các đây 50 năm, sử gia Steven Runciman viết Thập
Ác Chinh chấm dứt năm 1464. Và rồi có những cuộc nghiên cứu khác đưa ra
những niên kỷ như 1560 và 1571. Cuối cùng là năm 1798. Sinh viên ngày
nay phải đối diện với 700 năm Thập Ác Chinh song song với lịch sử của
toàn thể Âu Châu, từ Greenland đến Hi Lạp, từ Tây Ban Nha đến Nga, cùng
với Tây Á, Bắc Phi và Châu Mỹ La Tinh, tùy theo các học giả định nghĩa
Thập Ác Chinh như thế nào.
Tuy nhiên, thường thì trong lịch sử Công giáo, người ta chỉ kể có 8
(hoặc 9, tùy theo quan niệm) cuộc Thập Ác Chinh chính (nhà trí thức Công
giáo Võ Đức Hạnh đã gọi cuộc xâm lược Việt Nam của các giáo sĩ thừa sai
Công giáo, sát cánh với thực dân Pháp, là "cuộc Thập Ác Chinh thứ 9").
Có học giả còn cho rằng Công giáo vẫn tiếp tục tung ra những cuộc Thập
Ác Chinh, và một vài luận điệu thần học của nhóm Ki Tô hiếu chiến trong
thế kỷ 20 đã dập theo khuôn của giáo hoàng Urban II và thánh Bernard
(Much of the world of the crusaders is still in evidence. Some of the
theology of the 20th century “militant” Christianity, now
prevalent in Africa, Asia and South America, might well have come from
the lips of Pope Urban II or St. Bernard of Clairvaux), dưới một hình
thức khác với các cuộc Thập Ác Chinh trong thời Trung Cổ.
Gần đây, có nhiều dư luận cho rằng cuộc xâm chiếm Iraq của Mỹ có hình
thức một cuộc Thập Ác Chinh của Ki Tô Giáo chống Hồi giáo. Tổng thống
Bush đã dùng danh từ “Thập Ác Chinh ” (crusade) sau vụ 11 tháng 9,
2000. Và tổng thống Bush cũng quyết định gạt Âu Châu ra ngoài, chỉ trao
khế ước xây dựng lại Iraq cho những tổ chức Mỹ, coi đó như là phần
thưởng cho những người ủng hộ chiến tranh (Chicago Tribune, Dec.12,
2003: President Bush says war’s backers should be rewarded).
Đại cương thì các cuộc Thập Ác Chinh trong thời Trung Cổ là
do các giáo hoàng phát động hoặc cổ võ, khuyến khích và chấp thuận, và
kết quả là những cuộc tàn sát tập thể người Do Thái, Hồi Giáo, và cả
những người Ki Tô Giáo không cùng đức tin với Công Giáo, không đồng
thuận và không chấp nhận quyền lực của giáo hoàng, vừa để tiêu diệt
những người khác đạo, vừa để giành lại vùng Thánh Địa Jerusalem mà
người Công giáo tin là thuộc về họ theo lời hứa của Chúa, và nhất là để
cướp bóc vơ vét của cải thế gian.
Trong bài này, hiển nhiên tôi không thể viết đầy đủ về các cuộc Thập
Ác Chinh của Công giáo, mà chỉ có thể đưa ra những nét chính của vài
cuộc thánh chiến quan trọng nhất. Có ba cuộc Thập Ác Chinh phản ánh
trung thực nhất sự tàn bạo của Công giáo La Mã và ảnh hưởng mê hoặc của
Công giáo lên đầu óc con người, từ già tới trẻ: đó là cuộc Thập Ác Chinh
đầu tiên (The First Crusade) với chủ đích chính là giành lại thánh địa
Jerusalem và ngôi mộ Giê-su; cuộc Thập Ác Chinh Albigense (The
Albigensian Crusade) để tận diệt những người Ki Tô không có cùng niềm
tin với người công giáo; và cuộc Thập Ác Chinh của những đứa trẻ (The
children’s Crusade) mà nguyên nhân là sự ngu dốt và cả tin của những đầu
óc ngây thơ vào những điều hoang đường trong thánh kinh mà chúng được
nghe giảng dạy.. Chúng ta đã biết sơ lược về cuộc Thập Ác Chinh thứ nhất
và vài cuộc Thập Ác Chinh sau đó qua sự mô tả ở trên của James A.
Haught. Sau đây tôi sẽ trình bày sơ lược về cuộc Thập Ác Chinh Albigense
và cuộc Thập Ác Chinh của những đứa trẻ để chúng ta thấy rõ sự tàn bạo
và mê tín của Công Giáo lên đến mức nào. Những phần viết sau đây được
lấy từ những nguồn tài liệu khác nhau.
(Xem tiếp phần II.2)
Các bài tôn giáo cùng tác giả
|