Các bài trong tập này: 1
2
3 4
5 6
7 8
PHẦN
I :
NÚI TỘI
ÁC THỨ NHẤT CỦA
CÔNG GIÁO:
NGĂN
CHẬN SỰ TIẾN BỘ
TRÍ THỨC CỦA
NHÂN LOẠI.
“Giáo hội Công
giáo đã có những
tác động tàn phá
trên xã hội. Khi
Giáo hội nắm
được vai trò
lãnh đạo, hoạt
động trong những
ngành y khoa, kỹ
thuật, khoa học,
giáo dục, lịch
sử, nghệ thuật
và thương mại
đều sụp đổ. Âu
Châu đi vào
những Thời Đại
Hắc Ám. Tuy Giáo
hội vơ vét được
một tài sản to
lớn trong những
thế kỷ đó, hầu
hết những gì
định nghĩa cho
văn minh đã biến
mất.”
(Helen Ellerbe,
The Dark
Side of
Christian
History, p.
50: The
[Catholic]
Church had
devastating
impact upon
society. As the
Church assumed
leadership,
activity in the
fields of
medicine,
technology,
science,
education,
history, art and
commerce all but
collapsed. Europe
entered the Dark
Ages. Although
the Church
amassed immense
wealth during
these centuries,
most of what
defines
civilization
disappeared.)
Nhận định của
Helen Ellerbe
không sai nếu
chúng ta biết
đến chủ trương
của Giáo hội
Công Giáo qua
những hành động
ngăn chận sự
tiến bộ trí thức
của nhân loại
như:
- Giữ độc
quyền giáo
dục với
chính sách
làm cho nhân
dân ngu
muội, tối
tăm.
- Đốt sách
vở ghi chép
những kiến
thức cổ xưa
của nhân
loại.
- Ngụy tạo
và viết lại
lịch sử với
mục đích
chứng thực
đức tin của
Công Giáo.
- Hủy diệt
các nền văn
hóa phi
Ki-Tô.
Trước khi đi vào
chi tiết những
điểm trên, tưởng
chúng ta cũng
nên biết chút ít
về xuất xứ của
Công Giáo. Khởi
đầu, Công Giáo
chỉ là một hệ
phái trong nhiều
hệ phái theo
nhân vật Do Thái
mà họ gọi là
Giê-su Ki
Tô. Trong mấy
thế kỷ đầu, Công
Giáo càng ngày
càng có nhiều
tín đồ, không
phải vì những
giáo lý dạy về
luân lý đạo đức,
mà vì sự khao
khát một cuộc
sống tốt đẹp hơn
trong một đời
sau của tuyệt
đại đa số người
dân cơ cực thời
bấy giờ. Vào
thời điểm hạ bán
thế kỷ I, hầu
hết dân chúng
sống trong vùng
thống trị của đế
quốc La Mã là
những người
nghèo khổ, nô
lệ, ít học hay
vô học. Họ sống
trong tuyệt
vọng, không còn
có thể trông
ngóng được gì
trong cuộc sống
trên cõi đời của
họ. Có nhiều tôn
giáo phát triển
trong quần chúng
nhưng họ chỉ
muốn một tôn
giáo mang đến
cho họ sự an ủi
và hi vọng. Công
Giáo khai thác
sự khao khát này
và hứa hẹn cùng
họ một cuộc sống
tốt đẹp hơn trên
Thiên Đường sau
khi chết, nếu họ
tin vào Chúa Giê
su, theo giáo
thuyết của Thánh
Phao Lồ. Đây là
một niềm hi vọng
và an ủi lớn đối
với họ cũng như
của đa số tín đồ
Công Giáo ngày
nay đang sống ở
Phi Châu, Nam
Mỹ, Phi Luật Tân
và một vài vùng
ở Việt Nam
v...v..., nhất
là trong những
ốc đảo nghèo khổ
(Hobley, p. 17:
Most people in
the empire were
poor, enslaved
and
unhappy. Many
religions had
spread among
them but the
people wanted
one which gave
them comfort and
hope. Christianity
provided this
for it promised
its believers a
happy life in
heaven after
death. So
Christianity
grew.)
Các hệ phái khác
cùng theo Chúa
Giê su , nhưng
thường không có
đồng quan điểm
với những tín
điều, những sự
kiện lịch sử,
vai trò và khả
năng của Chúa
Giê su, thần
quyền của Giáo
Hoàng và hàng
Giáo phẩm Công
Giáo v..v... mà
Giáo hội Công
Giáo La Mã đưa
ra. Điển hình là
phái Tự Ngộ Ki
Tô (Gnostic
Christianity)
theo chủ thuyết
tự chứng, đạt
giải thoát qua
kiến thức và sự
hiểu biết sâu xa
về thực tại,
cùng kinh nghiệm
tu chứng bản
thân. Tên phái
này lấy từ gốc
Hi Lạp, Gnosis,
có nghĩa là kiến
thức (knowledge)
thâu thập được
do nội quán. Từ
thập niên 1980
tới nay đã có
nhiều công cuộc
khảo cứu về hệ
phái Tự Ngộ Ki
Tô.
Hệ phái Tự Ngộ
đã chê trách
"những người
(trong Công Giáo
) tự xưng là
Giám Mục và Trợ
Tế, làm như họ
đã được Thượng
đế ban quyền
cho..." và gọi
những người tự
xưng một cách
trơ tráo này là
"những con kênh
không có nước."
(The Christian
sect known as
the Gnostics
chided those who
"call themselves
bishops and also
deacons, as if
they had
received their
authority from
God..." and
called those who
made such
audacious claims
"waterless
canals."
, (Joseph L.
Daleiden, Ibid.,
trg. 52)).
Nhưng hiển nhiên
là chủ thuyết Tự
Ngộ theo con
đường vận dụng
sự hiểu biết
không thích ứng
đối với lớp dân
chúng thấp kém,
ít học, hay vô
học, cho nên hệ
phái này không
phát triển được
sâu rộng trong
quần chúng. Hệ
phái Tự Ngộ này
bị giáo hội tự
phong là chính
thống Ki Tô
(nghĩa là Công
Giáo La mã cho
tới thế kỷ 16),
kết án là lạc
đạo hay dị
giáo (heretic),
vì không chịu mù
lòa tin bướng
tin càn như
những người Công
Giáo. Và khi giáo hội Công
Giáo liên kết
với, hoặc nắm
được, quyền lực
thế gian, thì
tìm cách tiêu
diệt hệ phái này
và tất cả những
tín ngưỡng không
thuận theo chủ
trương làm cho
dân chúng ngu
đần, tối tăm của
Công Giáo.
Chủ thuyết của
hệ phái Tự Ngộ
Ki Tô đối nghịch
với những giáo
lý ngụy tạo của
Công Giáo và phủ
nhận quyền lực
của giới giáo sĩ
cho nên thật là
dễ hiểu khi ta
thấy Công Giáo
La Mã Giáo đã
phải tìm đủ mọi
cách để tiêu
diệt hệ phái Ki
Tô này. Có 3 lý
do chính để Giáo
hội Công
Giáo thù ghét hệ
phái Tự Ngộ.
Thứ nhất, hệ
phái Tự Ngộ chủ
trương sự tự
chứng là cứu
cánh chung cùng
của con
người. Biết rõ
bản thân có
nghĩa là biết rõ
Thượng đế vì
"cái ngã và
Thượng đế là
một" . Vì con
đường đi tới tự
chứng căn bản là
qua phương pháp
nội quán cho nên
hệ phái Tự Ngộ
không chấp nhận
một niềm tin mù
quáng, điều kiện
cần để được giải
thoát, theo
thuyết rao giảng
bởi Thánh Phao
Lồ. Hệ phái Tự
Ngộ cho rằng
"tin
vào các bí tích
là lối suy nghĩ
ngây thơ và ma
thuật"
(Faith in
the sacraments
shows naive and
magical
thinking) và
cũng cho rằng
"ý
tưởng về
Chúa trở
lại cõi trần là vô nghĩa" (They
thought the idea
of the Second
Coming of Christ
was
nonsense..). Những
niềm tin này của
phái Tự Ngộ là
một sự đe dọa
đối với hàng
Giáo phẩm Công
giáo vì chúng
trái ngược với
những giáo lý mà
hàng Giáo Phẩm
Công giáo đưa
ra, và hoàn toàn
phủ bác vai trò
độc nhất nắm
trong tay chân
lý, và giữ độc
quyền ban phát
ân sủng cho tín
đồ, của hàng
Giáo phẩm Công
giáo.
Thứ nhì, theo
Phúc Âm của
Philip (The
Gospel of
Philip) thì Chúa
Giê-su chỉ là
một người như
mọi người
thường. Trong
Phúc Âm này có
đoạn mô tả tính
người của Chúa
như sau:
"Người luôn
luôn đi bên Chúa
là Mary
Magdalene. Chúa
yêu thương nàng
hơn tất cả các
đệ tử khác và
thường hôn môi
nàng. Các đệ tử
khác lấy làm
phật ý về việc
này..."
(The companion
of the Savior is
Mary
Magdalene. But
Christ loved her
more than all
the disciples
and used to kiss
her often on her
mouth. The rest
of the disciples
were
offended...)
Một khi đã phủ
nhận tư cách
thần thánh của
Giê su, hệ phái
Tự Ngộ phủ nhận
luôn cả
chuyện Đức Mẹ
Đồng Trinh và
chuyện Chúa sống
lại và bay lên
trời, nghĩa là
những tín lý căn
bản của Công
Giáo.
Thứ ba, hệ phái
Tự Ngộ chủ
trương con người
thì bình đẳng và
thường mời giới
phụ nữ giảng đạo
với tư cách của
một linh
mục. Trái lại,
trong Công Giáo,
theo những bức
thư tông đồ của
Thánh Phao Lồ
thì phụ nữ bị
liệt xuống hạng
thấp kém so với
nam giới, và
Giáo hội Công
Giáo vẫn duy trì
sự kỳ thị này
cho tới ngày
nay. Giáo Hoàng
John Paul II ra
sắc lệnh khẳng
định việc cấm
tấn phong phụ nữ
làm linh mục, và
Giáo hoàng đương
nhiệm, Benedict
XVI, vẫn duy trì
sắc lệnh
này. Trong kinh
Trí Tuệ của Đức
Tin (Faith
Wisdom) của phái
Tự Ngộ, Mary
Magdalene, người
yêu của Chúa
Giê-su, phàn nàn
như sau: "Phê-rô làm tôi
ngần ngại, tôi
sợ hắn, vì hắn
ghét phái nữ"
(The author of
the Gnostic text
Faith Wisdom has
Mary Magdalene
complain, "Peter
makes me
hesitate, I am
afraid of him,
because he hates
the female
race.")
Nói tóm
lại, vì phủ nhận
những chuyện
hoang đường
trong Thánh Kinh
như Đức Mẹ Đồng
Trinh, vai trò
thần thánh của
Giê su, vai trò
cứu rỗi của Giê
su, chuyện Giê
su sống lại và
bay lên trời, và
nhất là phủ nhận
quyền lực thần
thánh tự phong
của hàng Giáo
phẩm Công Giáo,
bác bỏ một đức
tin mù quáng, và
chủ trương
con người bình
đẳng, mà hệ phái
Tự Ngộ bị Giáo
hội Công Giáo
tiêu diệt.
Đúng như Helen
Ellerbe đã nhận
định ở trên, khi
đại đế
Constantine
trong thế kỷ 4
theo Ki Tô Giáo
và lập Ki Tô
Giáo làm quốc
giáo thì tôn
giáo này nắm
được địa vị và
quyền hành tuyệt
đối trên thế
gian. Và từ đó
Công Giáo đã
phát triển, và
với một định chế
độc tài về tư
tưởng và tín
ngưỡng, giáo hội
Công Giáo đã đưa
Âu Châu vào
trong những thời
đại “hắc ám”
(The Dark
Ages), kéo dài
suốt 1000 năm,
từ thế kỷ 5 đến
thế kỷ 15. Thời
gian mười thế kỷ
này đã được các
học giả, kể cả
một số học giả
Công Giáo, công
nhận là "thời
đại Hắc Ám"
(Dark Ages), đó
chính là "thời đại
của sự man rợ và
đen tối trí
thức" (The
ages of
barbarism and
intellectual
darkness;
(Grolier
Electronic
Publishing
1997)). Sở dĩ
thời đại này có
tên như vậy vì
dựa vào quyền
lực thế gian,
giáo hội Công
giáo đã giữ độc
quyền giáo dục
quần chúng, áp
đặt sự ngu xuẩn,
đen tối trí thức
và bạo hành của
giáo hội trên
quần chúng ở Âu
Châu, như chúng
ta sẽ thấy trong
phần sau đây.
I. Về
Văn Hóa:
Chủ trương tiêu
diệt tất cả
những tín ngưỡng
khác của Công
Giáo giáo bắt
đầu bằng một
chính sách man
rợ và phản tiến
hóa nhất của
nhân loại: cấm
mọi thảo luận
triết lý trong
dân gian; đốt
tất cả mọi sách
vở, sử liệu,
chứng tích lịch
sử liên hệ đến
các tín ngưỡng
khác và liên hệ
đến những sự
thật về KiTô
giáo và nhân vật
Giê-Su; và thay
thế vào đó cái ý
hệ độc tôn "man
rợ và đen tối
trí thức" của
Công Giáo Giáo
bằng những tư
liệu ngụy tạo,
những giáo điều
dựa trên quyền
lực v...v...
Về sự kiện này,
trong cuốn "Những dối trá
và huyền thoại
của Thánh Kinh" ("Deceptions
and Myths of the
Bible", trg.
444) LLoyd M.
Graham đã viết
như sau:
"Sự
hủy diệt mọi chứng tích về
phái Tự Ngộ và
những nguồn tài
liệu về đa thần
là "việc làm đầu
tiên" của KiTô
giáo. Chính các
nhà truyền giáo
đã khởi sự, ở
Antioch, như
được nói đến
trong sách "Công
Vụ các Sứ đồ"
(Acts).. Do lệnh
của giáo hội
Công Giáo La Mã, tất
cả kinh sách của
những người ủng
hộ phái Tự Ngộ
đều bị đốt, cũng
như 36 cuốn của
Porphyry
(Porphyry là một
triết gia
(232-305) chủ
trương triết lý
là phương tiện
giải thoát và
nhấn mạnh đến
lối tu khổ hạnh
để tinh khiết
hóa con người;
TCN). Giáo
hoàng Gregory
VII đốt thư viện
Apollo chứa đầy
kiến thức cổ
xưa. Hoàng đế
Theodosius đốt
sạch 270000 tài
liệu về học phái
huyền bí vì
những tài liệu
này chứa những
căn bản giáo lý
của ngũ Kinh.
Sự hủy diệt
văn hóa này vẫn
tiếp tục sau khi
những nhà lập
giáo đã qua đời;
những tín đồ
cuồng tín mà họ
đào tạo ra tiếp
tục công việc
này: đoàn Thập
tự quân đốt tất
cả sách vở mà họ
có thể kiếm ra
được, kể cả
những cuộn
nguyên bản Thánh
thư Do Thái. Năm
1233 những tác
phẩm của
Maimonides
(một triết gia Do
Thái xuất sắc,
1135-1204; TCN) bị
đốt đi cùng
với 12000 cuốn
của Kinh Talmud
(Thánh kinh
của Do Thái
Giáo. TCN). Năm
1244, 18000 cuốn
sách đủ mọi loại
bị hủy. Theo
Draper, Hồng Y
Ximenes đã đốt
80000 bản văn
của Ả Rập ở công
trường Granada.
Ở Tân Thế
Giới, toàn bộ
kiến thức cổ xưa
bị những người
KiTô Tây Ba Nha
phá hủy cùng với
đền đài chứa
đựng những kiến
thức này.
Sau khi đã
phá hủy mọi
chứng
tích, những nhà
lập giáo KiTô
đầu tiên đã có
thể thay thế
những kiến thức
cổ xưa này bằng
những điều vô
nghĩa của họ. Và
để chứng minh
những điều vô
nghĩa này, họ đã
thay đổi lời lẽ
và gài vào đó
những câu không
có trong những
nguyên bản... Về
cùng một chủ đề
này, Massey viết
như sau:
"Trong bốn thế
kỷ đầu, họ đã
hủy bỏ những tài
liệu quan trọng
nhất về mọi sự
hiểu biết trung
thực về nguồn
gốc thực của sự
mê tín trong
KiTô
giáo. Những huyền
thoại được viết
và in ra như là
lịch sử nhân
loại, mọi tư
tưởng khác đều
bị dẹp bỏ hay
cưỡng bách phải
chấp nhận sự
gian dối"...
Theo giáo lý
của họ thì "máu
của Chúa KiTô đã
rửa sạch tội lỗi
của thế
giới," nhưng tội
lỗi vẫn còn với
chúng ta ngày
nay. Cái mà thực
sự bị rửa sạch
chính là sự lành
mạnh của thế
giới. Với thời
gian, giáo lý
của họ đã làm
tâm thức Tây
phương mê mẩn
đến nỗi Agibard
ở Lyons phải
viết như sau:
"Cái thế
giới bất hạnh
này nằm dưới sự
chuyên chế điên
rồ, những điều
mà người KiTô
tin, thực ra là
những điều vô
nghĩa đến độ từ
xưa tới nay
không ai có thể
làm cho người
ngoại đạo tin
được". Nếu
độc giả không
tin và muốn có
một thí dụ thì
chúng tôi xin cống hiến một chuyện
trong KiTô giáo
về Thánh John
trong phúc
âm. Theo lịch sử
các Thánh thì
John, khi đã rất
già, làm cho
hoàng đế
Domitian
giận. Để trừng
phạt John,
Domitian sai
người ném John
vào một cái vạc
chứa dầu và nhựa
thông. Và khi
người ta châm
lửa, dầu bắt đầu
sôi thì đám
đông ở
ngoài nghe một
tiếng hát trong
ngọn lửa. Khi
vạc
dầu sôi cạn hết thì
John vẫn còn sống và không hề
hấn gì. Jerome,
Eusebius,
Tertullan, tất
cả đều kể lại
cái phép lạ này
và những điều
hoang đường
trong đó. Và
nay, nếu những
tín đồ KiTô xuất
sắc có thể tin
được sự vô lý
này thì họ có
thể tin bất cứ
cái gì, ngay cả
Thánh Kinh."
1
Trong cuốn “Cái Mặt Đen Tối
Của Lịch Sử Ki
Tô Giáo”
(The Dark Side
of Christian
History), Helen
Ellerbe cũng
viết, trang 46,
48:
Khi Giáo hội
[Công Giáo]
nắm thêm quyền
lực, người Ki-Tô
[Công Giáo]
đã đóng cửa các
trung tâm giáo
dục và đốt sách
vở cũng như toàn
thể các thư
viện. Giáo hội
đốt một số rất
lớn những tài
liệu văn
học. Năm 391,
người Công Giáo
thiêu rụi một
trong những thư
viện lớn nhất
hoàn cầu ở
Alexandria. được
biết là chứa
700000 tác
phẩm. Tất cả
những sách của
hệ phái Tự Ngộ,
36 cuốn của
Porphyry, những
tác phẩm của 27
học phái huyền
bí, và 270000
tài liệu cổ xưa
thu thập bởi
Ptolemy
Philadelphus đều
bị đốt
sạch. Giáo dục
cho người ở
ngoài Giáo hội
bị cấm. Những
trung tâm giáo
dục cổ xưa đều
bị đóng cửa.
Giáo hội
chống học văn
phạm và tiếng
La-Tinh. Giáo
hoàng Gregory I
chống học văn
phạm, ông ta còn
lên án giáo dục
nào không phải
là giáo dục cho
giới giáo sĩ là
điên rồ và xấu
xa. Ông ta cấm
tín đồ không
được đọc Kinh
Thánh, ra lệnh
đốt thư viện
Palatine Apollo
để nhữngvăn học
thế tục không
làm lãng trí tín
đồ trong việc
chiêm ngưỡng
thiên đường.
Sau nhiều
năm các tín đồ
Công giáo đi phá
hủy sách vở và
thư viện, Thánh
John Chrysostom,
Giáo Phụ nổi
tiếng của Giáo
hội, hãnh diện
tuyên bố, “Mọi
dấu vết về văn
học và triết lý
cổ của thời
trước đã biến
mất khỏi mặt
trái đất.”
2
Sau đây là một
tài liệu khác về
một số những
hành động của
giáo hội Công
Giáo khi giáo
hội nắm được
quyền lực thế
gian (Joseph D.
Daleiden, The
Final
Superstition,
trg. 60):
"Không có
một trích dẫn
thống kê đơn
thuần nào có thể
nói lên vô lượng
những sự ác ôn
mà giáo hội Công
Giáo LaMã đã làm nhân
danh Thượng
đế. Từ khi mà
các triều đại
giáo hoàng cấu
kết quyền lực
với chính quyền
trong thế kỷ 5
cho tới công
cuộc Phục Hưng,
cái áo vô minh
và mê tín đã phủ
lên Âu Châu.
Ánh
sáng tự do đã
tắt ngấm, Dân
La Mã cổ xưa
(không phải
là dân La Mã
dưới quyền thống
trị của Giáo hội
Công Giáo. TCN)
đã có những thư
viện chứa 500000
cuốn sách, thời
kỳ từ năm 500
tới năm 1000 ở
Âu Châu dưới
quyền lực KiTô
không có một thư
viện nào có được
hơn 600 cuốn
sách.
Sự
tiến bộ khoa
học, đặc biệt là
về y học, hoàn
toàn ngưng
trệ. Văn hóa con
người thoái hóa
đến mức tàn bạo.
Thật là mỉa
mai, chính những
cuộc Thánh chiến
chống dân Hồi
giáo đã rọi một
tia sáng trí
thức qua cái mờ
tối của vô minh
và mê tín. Không
như những dân
KiTô tìm cách
tiêu diệt mọi
kiến thức không
hợp với thần
thuyết của họ,
những người theo
Hồi giáo đã gìn
giữ trí tuệ của
dân Hi Lạp cổ
xưa. Hơn nữa, họ
đã có nhiều tiến
bộ đáng kể về
toán học, triết
học, và khoa
học. Khi những
thập tự quân của
Giáo hội Công
Giáo La
Mã trở về từ
miền Đông họ đã
mang về cùng với
những chiến lợi
phẩm những hạt
giống kiến thức
mà sau này đưa
đến công cuộc
Phục Hưng. Song
song với hàng
đống những đồ
cướp đoạt được và những thánh
tích giả
mạo, những thập
tự quân cũng
mang về theo
nghệ thuật và
văn học của cổ
Hi Lạp. Những
tác phẩm của các
triết gia Hi Lạp
mà giáo hội Công
Giáo La
Mã đã dẹp đi từ
nhiều thế kỷ
trước, nay lại
xuất hiện. Một
vài triết gia
như Plato và
Aristotle được
đưa vào trong
giáo thuyết của
giáo hội. Thật
vậy, những tác
phẩm của Thomas
Aquinas, đặc
biệt là những
chứng minh về sự
hiện hữu của
Thượng đế, căn
bản là của
Aristotle được
sửa lại thành
mới.
Nhưng quan trọng
hơn là, về sau
này, triết lý
nhân bản của Hi
Lạp đã nảy nở
trong đầu óc của
những người đau
lòng mà nhận ra
sự vô ích của
những suy đoán
thần học cùng sự
xấu ác của những
tín điều mà giáo
hoàng đưa ra.
Kết
quả là, chính
cái nền tảng trí
thức và độc tài
về đạo đức của
Giáo hội bắt đầu
lung lay."
3
Và Robert G.
Ingersoll đã
nhận định như
sau (Ingersoll:
The Magnificent,
Lewis, trg.
125):
"Khi Ki Tô Giáo có được
quyền lực thì
tôn giáo này phá
hủy mọi tượng
thần mà nó có
thể đặt những
bàn tay vô minh
của nó lên
trên. Nó hủy
hoại và xóa bỏ
mọi họa phẩm,
phá hủy mọi công
sự đẹp đẽ, đốt
sạch những tác
phẩm Hi Lạp và
La Tinh, triệt
tiêu mọi lịch
sử, thơ phú,
triết lý và
thiêu rụi mọi
thư viện mà nó
có thể đốt
được. Kết quả
là, màn đêm
Trung Cổ đã phủ
lên nhân
loại. Nhưng vì
tình cờ, vì may
mắn, vì bỏ sót,
một vài tác phẩm
đã thoát được sự
ác liệt của
cuồng nhiệt tôn
giáo, và những
tác phẩm này trở
thành cái nhân
mà quả của nó là
nền văn minh của
chúng ta ngày
nay."
4
Những tài liệu ở
trên chứng tỏ
Giáo hội Công
Giáo, ngay từ
đầu, đã theo
đuổi chính sách
làm cho người
dân ngu muội,
tối tăm, để dễ
bề kiểm soát đầu
óc của đám tín
đồ thấp kém. Và
chính sách này
được kéo dài cho
đến ngày
nay. Giáo hoàng
đương nhiệm,
Benedict XVI,
nguyên là Hồng Y
Thiết Giáp
Ratzinger, đứng
đầu Bộ Tín Lý và
Đức Tin của Công
Giáo, đã cấm
đoán hoặc cất
chức những nhà
thần học nổi
tiếng trên thế
giới như
Teilhart de
Chardin, Edward
Schillebeeckx,
Hans Kung,
Charles E.
Curran, Raymond
Hunthausen, Uta
Ranke-Heinemann
v..v..., và nhất
là những nhà
thần học trong
phong trào Thần
Học Giải Phóng,
chủ trương phục
vụ con người
thay vì phục vụ
Thiên Chúa [thực
ra là phục vụ
Giáo hoàng],
điển hình
như Leonardo
Boff, Gustavo
Gutíerez, Juan
Luis Segundo
v..v.. , cấm họ
không được viết
sách hay dạy học
trong những
trường học Công
Giáo, vì những
người trên đã có
những ý kiến
không phù hợp
với những điều
ngu dốt cũa
“giáo hội dạy
rằng…”, và riêng
trong cộng động
giáo dân Việt
Nam thì các Cha
đều cấm đoán tín
đồ đọc những
sách vở viết lên
những sự thật
lịch sử về giáo
hội Công Giáo,
đặc biệt là
những sách do
Giao Điểm xuất
bản, bằng những
lời đe dọa thuộc
thời bán khai đã
mất thời gian
tính như dọa
Chúa sẽ đọa đầy
xuống hỏa ngục
hay bị Giáo hội
tuyệt thông,
không cho hiệp
thông với Chúa
để hưởng một cái
bánh vẽ trên
trời sau khi
chết. Ratzinger
cấm thì cứ cấm,
những nhà thần
học nổi danh
như Hans Kung,
Uta
Ranke-Heinemann, Leonardo
Boff v..v.. thản
nhiên không coi
sự cấm đoán của
Ratzinger vào
đâu, vẫn tiếp
tục dạy học và
viết sách, vì
trong thời đại
này, giáo hội
không còn khả
năng để đưa họ
lên dàn hỏa
nữa.
Đó là những gì
Công Giáo đã làm
với mục đích
tiêu diệt văn
hóa của các tôn
giáo, tín ngưỡng
nào không phù
hợp với những
giáo điều và
niềm tin của
Công
Giáo. Nhưng,
cũng như Tần
Thủy Hoàng ở
bên Trung Quốc,
không thể nào
đốt hết
được sách vở
của thiên
hạ, Giáo hội
Công Giáo, dù đã
dùng mọi nỗ lực
để hủy diệt
những chứng tích
lịch sử của các
hệ phái Kitô
khác cũng không
có cách nào
thành công hoàn
toàn. Do đó, vẫn
có những tài
liệu còn sót
lại, và ngày nay
người ta đã tìm
thấy nhiều tài
liệu cổ xưa về
sự thực của KiTô
giáo và con
người thực của
Giê-Su. Những
tài liệu mới tìm
thấy của phái Tự
Ngộ về Giê-su
cho ta một cái
nhìn khác hẳn về
con người của
Giê-su, một
người thường như
mọi người khác,
không có những
đức tính thần
thánh hay khả
năng làm phép lạ
như những nhà
lập giáo Công
Giáo đã quảng
bá.
Năm 1945, một
người dân thường
ở Ai Cập đã tình
cờ đào thấy ở
Nag Hammadi,
miền thượng Ai
Cập, một cái
chĩnh trong có
chứa 52 bản kinh
văn của hệ phái
Tự Ngộ. Nội dung
các bản kinh văn
này làm các nhà
lãnh đạo Ki Tô
Giáo nói chung
hoảng hốt và tìm
cách ngăn chặn
sự phổ biến
những tài liệu
này. Cho tới hơn
30 năm sau các
học giả mới có
cơ hội tìm hiểu
các bản kinh văn
này. Sở dĩ như
vậy là vì, theo
Elaine Pagels,
giáo sư sử tại
đại học
Columbia, Hoa
Kỳ, tác giả tác
phẩm nghiên cứu
nổi tiếng Phúc
Âm của phái Tự
Ngộ (The Gnostic
Gospels,) những
bản kinh văn này
chứa nhiều thông
tin về Ki Tô
Giáo và
con người của Giê
su đối ngược với
những thuyết lý
thần học của Ki
Tô Giáo nói
chung, Công Giáo
nói riêng:
"Những bản
kinh văn này của
hệ phái Tự Ngộ
mô tả nhiều
nhân vật và biến
cố trong Tân
Ước, nhưng trên
một quan điểm
khác hẳn. Chúng
chứng tỏ cho
chúng ta thấy
rằng, giáo hội
Ki Tô, ngay từ
đầu đã bị phân
hóa sâu rộng chứ
không thống nhất
như chúng ta
thường tin; rằng
nhiều tín đồ của
Chúa Ki Tô không
đồng thuận về
những sự kiện
trong đời sống
của Giê su, về ý
nghĩa những lời
giảng dạy của
Giê su, hoặc về
hình thức của
giáo hội. Trong
những bản kinh
văn như Phúc Âm
của Philip và
Phúc Âm của
Thomas, Thomas
được mô tả là em
song sinh của
Giê su, chúng ta
biết rằng một số
tín đồ của
hệ
phái Tự Ngộ phủ
nhận chuyện Giê
su sống lại và
bổ nhiệm Phê-rô
làm người kế vị;
và nhiều tín đồ
chất vấn về
quyền hành của
các linh mục,
tin rằng tư cách
thần thánh là ở
trong con người,
con đường giải
thoát là con
đường Tự Ngộ, và
rằng, những bản
kinh văn trên
bắt buộc chúng
ta phải xét lại
tận gốc quan
điểm truyền
thống về nguồn
gốc và ý nghĩa
của Ki Tô Giáo."
5
Sau đây chúng ta
sẽ đi vào thêm
một số chi tiết
về sự ngu xuẩn
của Giáo hội
Công Giáo đã tác
hại trên nhân
loại như thế
nào.
II.
Về Y
Học: Năm
540, bện dịch
phát khởi ở Âu
Châu làm chết
khoảng 10000
người mỗi
ngày. Dân chúng
hoảng sợ, kéo
vào nhà thờ, tin
tưởng sẽ được
Chúa cứu cho
khỏi chết. Giáo
hội giảng cho
con chiên rằng:
“Bệnh dịch là
một thiên tai do
Thượng đế
[của Công Giáo]
gây
ra
(an act of God)
và
là sự trừng phạt
của Thượng đế về
tội quần chúng
không theo luật
của Thượng đế”
[thật ra chỉ là
luật của những
bộ óc giáo sĩ
thuộc thời bán
khai đặt
ra]. Trước sự
bất lực của nền
y học phôi thai
thời bấy giờ để
đối phó với bệnh
dịch, Giáo hội
tuyên bố là y
học của Hi Lạp
và La Mã là của
bọn dị giáo
(heretics) và
quyết định Giáo
hội phải nắm giữ
và áp dụng nền y
học của Giáo hội
trên quần
chúng. Phương
pháp chữa mọi
bệnh của Giáo
hội vào những
thế kỷ 5 và 6 là
“lể máu”
(bleeding) trên
một số điểm
trong số 22 điểm
trên cơ thể con
người. Giáo hội
dạy rằng lể để
làm cho chảy máu
có thể ngăn chận
sự làm độc mất
quân bình (toxic
imbalance) trong
cơ thể, ngăn
chận sự ham muốn
tình dục, và hồi
phục lòng yêu
đời. Cho đến thế
kỷ 16, phương
pháp chữa bệnh
này của Giáo hội
đã làm chết
nhiều chục ngàn
người mỗi
năm. Khi bệnh
nhân chết vì
chảy máu, Giáo
hội giải thích
là vì không chịu
lể máu sớm hơn
hoặc làm máu
chảy chưa
đủ. Giáo hội còn
dạy tín đồ phải
coi rẻ mọi khía
cạnh về thể xác
con người, do đó
không khuyến
khích tín đồ về
vấn đề giữ vệ
sinh cá nhân hay
tắm rửa. Kết quả
là bệnh tật lan
tràn khắp
nơi. Trong nhiều
trăm năm, thành
thị và làng mạc
đều bị tàn phá
bởi các bệnh
truyền nhiễm,
kết quả sự ngu
dốt của Giáo hội
về y học, và áp
đặt sự ngu dốt
đó trên quần
chúng.
-
Về Khoa
Học:
Chính sách đốt
sách vở, văn học
cổ, và đàn áp sự
theo đuổi trí
thức của nhân
loại, đúng như
Joseph D.
Daleiden đã nhận
định ở trên là
“Sự
tiến bộ khoa
học, đặc biệt là
về y học, hoàn
toàn ngưng
trệ. Văn hóa con
người thoái hóa
đến mức tàn
bạo.”
Thật vậy, ngay
từ thế kỷ 6
Trước Tây Lịch
(TTL) hay trước
thời đại thông
thường ngày nay
(B.C.E. =Before
Common Era),
Pythagore đã có
ý tưởng là Trái
đất quay xung
quanh mặt
trời. Đến thế kỷ
3 Trước Tây
Lịch,
Aristarchus đã
đưa ra thuyết
mặt trời làm
trung tâm vũ trụ
(heliocentric
theory) và
Eratosthene đã
đo được chu vi
của trái
đất. Đến thế kỷ
2 Trước Tây
Lịch, Hipparchus
đã biết đến Kinh
Tuyến và Vĩ
Tuyến của Trái
Đất và tính được
độ xiên của quỷ
đạo hình ellip
của Trái
đất. Nhưng khi
Giáo hội Công
Giáo nắm được
quyền thế trên
thế gian, và như
chúng ta đã
biết, đưa Âu
Châu vào Thời
Đại Tối Tăm 1000
năm, thì nhân
loại phải chờ
đến thế kỷ 16
mới có được
Copernicus lập
lại thuyết trái
đất quay xung
quanh mặt
trời. Khi
Galileo, trong
thế kỷ 17, chứng
thực thuyết trái
đất quay xung
quanh mặt trời
thì ông ta bị
Tòa Án Đạo xử dị
giáo bắt ông ta
phải rút lại lập
luận và giam ông
ta tại nhà cho
đến khi
chết. 359 năm
sau, Tòa Thánh
dưới triều John
Paul II mới công
khai thú nhận là
Giáo hội đã sai
lầm trong vụ xử
Galileo. Trí tuệ
các bậc Thánh
trong giáo hội
có thể biểu hiện
điển hình trong
lời phán của
Thánh Augustine,
tác giả nền thần
học căn bản của
Công Giáo:
Không thể có
người ở phía bên
kia của trái
đất, vì trong
những hậu duệ
của Adam, không
có sắc dân nào
được ghi trong
Thánh Kinh
(It is
impossible there
should be
inhabitants on
the opposite
side of the
earth, since no
such race is
recorded by
Scripture among
the descendants
of Adam.)
Lẽ dĩ nhiên,
Việt Nam là một
sắc dân ở phía
bên kia của trái
đất, không liên
hệ gì tới Adam ở
trong Thánh Kinh
của Ki Tô Giáo,
cho nên dù Adam
có sa ngã theo
thuyết hoang
đường của Ki Tô
Giáo, thì người
Việt Nam cũng
chẳng liên quan
gì đến cái tội
tổ tông của
người Do Thái,
và do đó chẳng
cần gì đến sự
cứu rỗi của một
người Do Thái có
tên là
Giê-su. Những
tín đồ Công Giáo
Việt Nam đã bị
kéo vào một niềm
tin lừa bịp của
nền thần học Ki
Tô Giáo. Họ cũng
nên biết rằng
Giê-su đã coi
nhưng người
không phải là Do
Thái là đồ chó,
chỉ xứng đáng ăn
những mảnh bánh
vụn rơi vãi trên
mặt đất. Tôi
khuyên họ hãy
đọc kỹ đoạn
Matthew 15:
21-28 trong Tân
ước.
Trên đây là tóm
tắt núi tội ác
thứ nhất của
Công Giáo đối
với nhân loại.
Sách lược tiêu
diệt nền văn hóa
của các tôn giáo
hoặc tín ngưỡng
khác đã được các
Giáo hội Ki Tô,
đặc biệt là Công
Giáo La Mã, tiếp
tục thi hành một
cách tàn bạo khi
Ki Tô Giáo liên
kết với những
lực lượng thực
dân đi xâm chiếm
các nước ở Phi
Châu, Châu Mỹ La
Tinh, Á Đông và
ngay cả ở Mỹ
châu. Ki Tô Giáo
đã thành công
trong sách lược
này ở khắp nơi
nhưng hoàn toàn
thất bại ở Á
Đông, trừ nước
Phi Luật
Tân. Tại sao, vì
khi văn hóa
Ki-Tô đụng phải
những nền văn
hóa cao hơn ở Á
Đông như Phật
Giáo, Khổng
Giáo, Ấn Độ Giáo
thì Ki Tô Giáo
không thể thành
công, dù có liên
kết với chế độ
thực dân như ở
Việt Nam. Chủ đề
này sẽ được khảo
luận trong một
bài khác.
1. The
destruction of
all evidence of
Christianity's
gnostic and
pagan source was
"the first
work." It was
the evangelists
themselves who
started it, in
Antioch, as
stated in
Acts... By order
of the Church
the books of the
Gnostic
Basilides were
burned, likewise
Porphyry's
thirty-six
volumes. Pope
Gregory VII
burned the
Apollo library
filled with
ancient lore.
Emperor
Theodosius had
27,000 schools
of the Mysteries
paprus rolls
burned because
they, contained
the doctrinal
basis of the
Gospels.
Nor did the
destruction end
with the
Founders; the
fanatics they
made carried on
the work: the
Crusaders burned
all the books
they could
find, including original
Hebrew scrolls. ln 1233 the
works of
Maimonides were
burned along with twelve thousand volumes of the
Talmud. In 1244
eighteen thousand books of
various kind
were destroyed.
According to
Draper, Cardinal
Ximenes
"delivered to
the flames in
the square of
Granada eighty thousand Arabic manuscripts." On
finding similar lore in the New World, the Spanish
Christians
destroyed it and
the temples that
contained it.
All evidence of
source
destroyed, the
Christian
Fathers coulld
now substitute
their own
absurdities. And
to substantiate
them they
altered words
and inserted
verses
that did not exist in the original texts... On this
same subject
Massey wrote
thus: "..They
had almost
reduced the
first four
centuries to
silence on all
matters of the
most vital
importance for
any proper
understanding of
the true origins
of the Christian
superstition.
The mythos
having been at
last published
as a human
history,
everything else
was suppressed
or forced to
support the
fraud."
According to
their teaching
"the blood of
Christ washed
away the sins of
the world,"
still with us.
What it actually
washed away was
the sanity of
the world. In
due time its
doctrines so
bedeviled the
Western mind
that Agobard of
Lyons wrote thus
"The wretched
world lies now
under the
tyranny of
foolishness;
things are
believed by
Christians of
such absurdity
as no on ever
could aforetime
induce the
heathen to
believe." Should
the skeptical
reader wish a
sample, we offer
another tale of
Christian
martyrdom, this
time about the
precursor of the
curse, lohn of
the
Gospels. According
to the saints,
John, when very
old, incurred
the anger of the
Emperor
Domitian. To punish him, the
latter had this
holy man thrown
into a caldron
of oil and
resin. A fire
was lit, and
when the liquid
began to boil
the jeering
crowd heard a
voice singing in
the flames - the
Christian
Shadrach, etc.
When the caldron
boiled dry,
there was John
still alive and
quite
unharmed. Jerome,
Eusebius,
Tertullian all
relate this
miracle and
practically all
hagiographies
contain it. And
now if these
eminent
Christians could
believe this
absurdity, they
could believe
anything even
the Gospels.
2. As
the Church grew
more powerful,
Christians
closed academies
and burned books
as well as whole
libraries. The
Church burned
enormous amounts
of
literature. In
391 Christians
burned down one
of the world’s
greatest
libraries in
Alexandria, daid
to have housed
700000
rolls. All the
books of the
Gnostic
Basilides,
Porphyry’s 36
volumes, papyrus
rolls of 27
schools of the
Mysteries, and
270000 ancient
documents
gathered by
Ptolemy
Philadelphus
were
burned. Ancient
academies of
learning were
closed. Education
for anyone
outside the
Church came to
an end.
The Church
opposed the
study of grammar
and Latin. Pope
Gregory I
objected to
grammatical
study. He also
condemned
education for
all but the
clergy as folly
and
wickedness. He
forbade laymen
to read even the
Bible. He had
the library of
the Palatine
Apollo burned
“lest its
secular
literature
distract the
faithful from
the
contemplation of
heaven.
After
Christians had
spent years
destroying books
and libraries,
St. John
Chrysostom, the
preeminent Greek
Father of the
Church, proudly
declared, “Every
trace of the old
philosophy and
literature of
the ancient
world had
vanished from
the face of the
earth.
3. No
mere recitation
of statistics
can convey the
immeasurable
evil that the
Roman Catholic
Church dispensed
in God's
name. From the
time that the
papacy
cemented its
power with
the state in the fifth century
until the
Renaissance, the
cloak of
ignorance and
superstition was
draped over
Europe. The
light of freedom
was
extinguished. It
is no longer
fashionable to
call them the Dark Ages, but indeed they were.
The ancient
Romans had
libraries of
500,000 volumes,
there was not a
library of over
600 volumes in
Christian Europe
the period 500
to
1000. Scientific
advance,
especially in
medicine, came
to a screeching
halt. Human
culture
regressed to a
more brutal
level.
Ironically, it
was the
initiation of
the Crusades
against the
Muslims that
shed a ray
of intellectual
light through
the gloom of
ignorance and
primitive
superstitions.
Unlike the
Christians who
sought to
destroy all
knowledge that
contradicted
their theology,
the Muslims had
preserved the
wisdom of the
ancient Greeks.
Moreover, they
had made
significant
advances in
Mathematics,
philosophy, and
science. When
the Crusaders
returned from
the East they
brought with
their spoils of
war the seeds of
knowledge which,
eventually, gave
birth to the
Renaissance.
Along with the
pile of
plundered
Eastern
artifacts and
phony relics,
the Crusaders
also brought
back the art and
literature of
ancient Greece.
The writings of
the Greek
philosophers,
which the Church
had suppressed
centuries
before,
reappeared. Some
of the
philosophers
such as Plato
and Aristotle
were
accornmodated in
Church doctrine.
Indeed, the
writings of
Thomas Aquinas,
especially his
demonstrations
for the
existence of
God, were
basically a
rehash of
Aristotle. But
more importantly
in the long run,
Greek humanistic
philosophy found
fertile ground
in the minds of
those who were
painfully aware
of the futility
of theological
speculation and
the evil of
papal dogmatism.
As a result, the
very foundation
of the Church's
intellectual and
moral despotism
would begin to
shake.
4.
When
Christianity
came in power it
destroyed every
statue it could
lay its ignorant
hands upon. It
defaced and
obliterated
every painting;
it destroyed
every beautiful
building; it
burned the
manuscripts,
both Greek and
Latin; it
destroyed all
the history, all
the poetry, all
the philosophy
it could find,
and reduced to
ashes every
library that it
could reach with
its torch. And
the result
was, that the night of the
Middle Ages fell
upon the human
race. But by
accident, by
chance, by
oversight, a few
of
the manuscripts escaped
the fury of
religious zeal;
and these
manuscripts
became the seed,
the fruit of
which is our
civilization
today.
5.
These gnostic
writings
describe many of
the people and
events found in
the New
Testament, but
from a
strikingly
different
perspective. They show us
that the early
church, far from
the unified body
we have assumed
it to be, was
deeply split
from the
beginning; that
many followers
of Christ were
not in agreement
on the facts of
his life, the
meanings of his
teachings, or
the form the
church should
take. From such
texts as the
Gospel of Philip
and the Gospel
of Thomas, in
which the
apostle appears
as Jesus' twin,
we learn that
some gnostic
Christians
denied that
Christ returned
in the
flesh and appointed Peter his successor; that many
gnostics
challenged
priestly
authority and
believe instead
in the presence
of the divine
within the
human; that the
way to salvation
was through
self-knowledge...how
these
extraordinary
texts compel us
to reconsider
profoundly the
traditional view
of the origins
and meanings of
Christianity.
Các bài tôn giáo cùng tác giả
|