|
Vài Lời Nói Đầu
Mấy hôm nay nhàn nên tôi ghé vào trang nhà
Tiếng Nói Giáo Dân để xem đồng bào Công Giáo của tôi viết
những gì. Thường thường thì thỉnh thoảng tôi chỉ ghé vào đọc chơi cho biết
chứ chẳng hơi đâu mà dính vào các chuyện nội bộ của Công Giáo. Nhưng có một
chuyện đã cũ rồi, từ đầu tháng 8, nay tôi mới biết. Đó là có một nhóm gồm
vài người nổi danh trong Công Giáo như Linh Mục Phan Văn Lợi , Luật sư Đoàn
Thanh Liêm, Nhà văn Hoàng Quý, và có cả “nhà bình luận” Lý Đại Nguyên
[chồng của Mai Tuyết An, người Phật tử đã từng tự chặt tay để phản đối chính
quyền Diệm đàn áp Phật Giáo], Thay mặt nhóm Chủ trương Hoà Đồng Tôn Giáo
và Dân Tộc, kêu gọi ĐÓNG GÓP SẢN PHẨM TRÍ TUỆ CHO TUYỂN TẬP SỐ 2 , và
trao phó cho “Nguyễn Anh Tuấn, một người từng dùi mài kinh sử về chính
trị học và tôn giáo hơn 20 năm qua, soạn thảo những đề nghị cho Tuyển tập số
2 mang chủ đề: Chính Trị và Tôn Giáo.”
Tò mò tôi muốn biết “Nguyễn Anh Tuấn,
một người từng dùi mài kinh sử về chính trị học và tôn giáo hơn 20 năm qua,
soạn thảo những đề nghị cho Tuyển tập số 2 mang chủ đề: Chính Trị và Tôn
Giáo.” đã đề nghị như thế nào, nên tôi đã kiên nhẫn đọc bản đề nghị
đó. Sau đó thấy ông Trần Vinh lên tiếng phê bình vài điểm trong bài của ông
Nguyễn Anh Tuấn. Rồi ông Nguyễn Anh Tuấn đáp lại bằng một bài khá dài để…
“tố Cộng” và “truyền đạo”. Cuối cùng có ông Chu Tấn lên tiếng phê bình cả
hai: Nguyễn Anh Tuấn và Trần Vinh. Gọi là phê bình cho vui chứ thực ra Chu
Tấn ca tụng ông Nguyễn Anh Tuấn hết lời và mạ lỵ, chụp mũ ông Trần Vinh khá
nặng nề. Đọc mấy bài của Nguyễn Anh Tuấn và Chu Tấn chúng ta thấy cái “sản
phẩm trí tuệ” của “xưởng chế tạo trí thức Công Giáo Việt Nam” [Vietnamese
Catholic Intellect Factory] có cái gì trục trặc trong đó (mượn lời của Hồng
Y Silvio Oddi phê bình Vatican chỉ là cái “xưởng chế tạo thánh” (A Saint
Factory). Và lẽ dĩ nhiên, nhóm Chủ trương Hoà Đồng Tôn Giáo và Dân Tộc
cũng là những “sản phẩm trí tuệ” từ cùng một cái xưởng như trên mà ra. Tại
sao? Vì trao phó trách nhiệm cho Nguyễn Anh Tuấn nhưng lại không đủ “trí
tuệ” để biết Nguyễn Anh Tuấn đã viết những gì trong đó, và cứ thế đưa lên
tiengnoigiaodan.net.
Sở dĩ tôi viết bài phê bình này là vì bản
“Đề Nghị…” của ông Nguyễn Anh Tuấn đề gửi cho: “Tầng lớp Sĩ phu, Trí
thức và Chuyên gia thuộc thế hệ trẻ trong và ngoài nước và độc giả bốn
phương” cho nên tôi nghĩ không chỉ dành riêng cho giáo dân. Hơn
nữa, một bản văn để gửi cho: “Tầng lớp Sĩ phu, Trí thức và Chuyên gia
thuộc thế hệ trẻ trong và ngoài nước và độc giả bốn phương” mà ông
Nguyễn Anh Tuấn lại viết bậy, rất bậy, như tôi sẽ chứng minh trong
phần phê bình sau đây. Vậy thì lấy tư cách là một “Sĩ Phu Bắc Hà” già [tôi
sinh ra ở Hà Nội], tôi xin có vài lời “đóng góp sản phẩm trí tuệ của một
người phi-Công giáo”, không phải cho tuyển tập 2, mà là để soi
sáng một số vấn đề tối tăm trong bản “Đề Nghị..”..
Tuyển tập 1 là về “Vụ
án Linh mục Nguyễn Văn Lý & Lương tâm CG”. Tôi đã viết về “Vụ Án Nguyễn
Văn Lý” trên giaodiemonline.com, vạch rõ nguyên nhân ông ta bị bịt miệng
không phải là vì ông ta cất lên những tiếng nói dân chủ, mà là vì coi thường
luật pháp, coi thường tòa án qua những thái độ côn đồ hung hăng, ngôn từ bất
xứng không thể chấp nhận trong bất cứ tòa án nào trên thế giới, kể cả tòa án
của Mỹ, cho nên không có gì để nói thêm ở đây.
Bài viết này của tôi không phải để tranh
luận hay đối thoại, mà nặng phần nhận xét có tính cách giáo dục về
bản “Đề Nghị..” của ông Nguyễn Anh Tuấn, cũng như về vài điểm chính trong
các bài của Nguyễn Anh Tuấn và Chu Tấn, để chỉnh lại những điều nhảm nhí
trong đó. Vì vậy tôi không tránh được việc phải dùng lại một số tài liệu cũ,
vậy xin các độc giả thông cảm. Do đó, bài viết này sẽ dài để cho các vấn đề
tương đối được đầy đủ, xin các độc giả kiên nhẫn.
I.- Về Bản “Đề Nghị…” Của Ông
Nguyễn Anh Tuấn.
Trước hết là một nhận xét tổng quát. Bản
“NHỮNG ĐỀ NGHỊ ĐÓNG GÓP SẢN PHẨM TRÍ TUỆ CHO TUYỂN TẬP SỐ 2…” mà chủ đề là:
Chính Trị và Tôn Giáo với mục đích Hòa Đồng Tôn Giáo Và Dân
Tộc của ông Nguyễn Anh Tuấn thực ra không phải là một bản “đề
nghị” về “chính trị và tôn giáo”, hay là về “hòa đồng tôn giáo và dân tộc”,
mà chỉ là một bản văn “chống Cộng cho Chúa rẻ tiền, và “truyền đạo” cũng rất
là rẻ tiền. Ông Nguyễn Anh Tuấn đã ngụy trang hai mục đích chính trên
đằng sau những danh từ khoa trương hoa mỹ như đại sự, cách mạng dân chủ, dân
tộc, đạo lý, đạo tâm v..v..., hơn nữa lại tỏ thái độ chia rẽ trầm trọng.
Ngoài ra trong bản văn, có những đoạn chứng tỏ văn phong của một tên “côn đồ
văn hóa” chứ chẳng phải là trí thức trí ngủ gì, lời lẽ còn tệ và vô giáo dục
hơn là lời lẽ của Nguyễn Văn Lý trong tòa [xin quý độc giả tìm đọc nguyên
bài trong trang nhà Tiếng Nói Giáo Dân, tôi không muốn trích dẫn
những đoạn này e làm bẩn mắt độc giả], và kiến thức về lịch sử, tôn giáo,
chính trị thì không thể gọi là kiến thức. Những điều nhận xét này sẽ được
chứng minh trong phần phê bình phân tích sau đây..
Bản “Đề Nghị…” của ông Nguyễn Anh Tuấn chỉ
là một bản, đúng như ông Trần Vinh đã nhận xét: hết sức thất nhân tâm,
độc đoán, làm dáng trí thức, không có tầm nhìn xuyên suốt lịch sử cổ kim và
xem ra có khuynh hướng xách động quá khích, trong đó ông Tuấn “làm
dáng trí thức”, khoe một số kiến thức của mình về lịch sử, tôn giáo, chính
trị, dân tộc v… v…, một loại kiến thức không thấu đáo, rất nhỏ hẹp, nhưng
lại có ý như dạy đời, ra ngoài lãnh vực “đề nghị”, đồng thời hô hào “Sĩ
phu, trí thức, và các chuyên gia” [sic] mở cuộc “Thánh Chiến” “Công Giáo
hữu thần” chống “Cộng sản vô thần”, làm như các “Sĩ phu, trí
thức, và các chuyên gia” đều là những tín đồ Công giáo trong thời Trung Cổ ở
Âu Châu. Tất cả những đoạn nói phớt qua về các tôn giáo khác, về
tinh thần dân tộc v..v.. chỉ là những hoa hòe hoa sói trang điểm cho cái ý
chính là: [Quote]“tất cả chúng ta sẽ tận dụng thời gian vô cùng quý
báu còn lại của đời mình, đặt trọn niềm tin vào Thượng Đế, vào Thiên Chúa,
hay vào Đấng Tạo Hóa, NGƯỜI đã tạo ra vũ trụ và tất cả con người.”
[End quote] để mở cuộc “thánh chiến chống Cộng”. Phải chăng đây là một đề
nghị “đóng góp sản phẩm trí tuệ” cho các sĩ phu, trí thức, giới
chuyên gia trẻ, hay chỉ là những lời bắt nguồn từ một tâm cảnh mù quáng tôn
giáo?
Cái tầm bậy ở đây là ông Tuấn không biết
rằng 80% dân Việt Nam theo Phật Giáo hay có ảnh hưởng của Phật Giáo không
hề tin rằng có một ông hay bà Thượng đế, Thiên Chúa hay Tạo Hóa nào đó đã
tạo ra vũ trụ và tất cả con người; và 93% người dân Việt Nam đều biết
rằng, cũng chính vì cái niềm tin vào Thượng đế, hay Thiên Chúa, hay Đấng
Tạo Hóa này mà người Công Giáo Việt Nam, trong lịch sử, đã trở thành phi-dân
tộc và phản bội dân tộc, ‘cõng rắn cắn gà nhà”, đưa nước Việt vào vòng đô hộ
của thực dân Pháp, để hưởng những quyền lợi tôn giáo riêng tư của mình.
Do đó tuyệt đại đa số người dân Việt làm sao mà nuốt nổi câu "tất cả
chúng ta …” ở trên, và tất nhiên không thể thuộc “hàng ngũ hữu thần” của
ông Tuấn để mà mở cuộc thánh chiến chống Cộng sản vô thần. Mang một niềm tin
thuộc loại không cần biết không cần hiểu của một thiểu số vào trong một bản
văn đề nghị đóng góp sản phẩm trí tuệ cho quốc gia đại sự trong thời đại này
là một điều không ai có thể chấp nhận. Xin đừng vơ những người theo đạo
Phật, đạo Khổng, đạo Lão vào hàng ngũ những người hữu thần vì Đức Phật, Đức
Khổng Tử, Lão Tử đều không phải là thần.
Các ông nên nhớ là các ông đang viết trên
một diễn đàn công cộng, và đối tượng của các ông là “Tầng lớp Sĩ phu,
Trí thức và Chuyên gia thuộc thế hệ trẻ trong và ngoài nước và độc giả bốn
phương” chứ không phải là các tín đồ ngu ngơ Công giáo trong nhà thờ
mà theo nhận định của H. L. Mencken “Là nơi mà các ông linh mục chưa
từng bao giờ ở thiên đường nhưng lại nói khoác lác về thiên đường cho những
người sẽ không bao giờ được lên đó.” [Church is a place in which
gentlemen who have never been to heaven brag about it to persons who will
never get there].
Còn nữa, theo ông Nguyễn Anh Tuấn thì
Thượng đế, Thiên Chúa, hay Đấng Tạo Hóa đều là NGƯỜI. Thượng đế của
Ki Tô giáo là NGƯỜI vì ông ta đã đi dạo trong vườn Eden, đi dạo trong trại
quân v..v.., nhưng đó chỉ là Thượng đế của Ki Tô Giáo trong Cựu Ước, không
thể là Đấng Tạo Hóa trừ phi ông đánh đồng Thượng đế của ông với quan niệm
rất khác biệt về Đấng Tạo Hóa của người dân Việt. Ông Tuấn có hiểu được
điều này không? Sản phẩm trí tuệ của một người từng dùi mài kinh
sử về chính trị học và tôn giáo hơn 20 năm qua của Công Giáo Việt
Nam chỉ có như vậy thôi hay sao. Thế mà cũng dám đứng ra, làm như là một
minh quân kêu gọi các sĩ phu, trí thức, chuyên gia v..v.. khắp 4 phương đóng
góp sản phẩm trí tuệ cho mục đích chống Cộng của mình. Rồi lại có ông Chu
Tấn, chắc là đồng đạo, đã hùa theo ông Nguyễn Anh Tuấn để mạt sát, mạ lỵ ông
Trần Vinh, người chỉ phê bình xây dựng vài điểm trong cái gọi là bản “Đề
Nghị..” của ông Nguyễn Anh Tuấn, tuy chỉ phê bình sơ sơ, nhưng không phải là
không có lý.
Trước hết, chúng ta hãy đọc đoạn sau đây
trong bản “Đề Nghị..” của ông Nguyễn Anh Tuấn:
Nguyễn Anh Tuấn: Để nối
tiếp con đường đấu tranh cho tự do dân chủ [của Linh mục Nguyễn Văn Lý
trong tòa, vì Tuyển tập 1 là về “Vụ án Linh mục Nguyễn Văn Lý & Lương tâm
CG”] , Tuyển tập số 2 sẽ tiếp tục ra đời trong những ngày tháng sắp tới –
không chỉ nuôi những ngọn lửa thiêng ái quốc cho cuộc THÁNH CHIẾN giữa
hàng ngũ hữu thần với những kẻ vô thần CS – mà Tuyển tập còn đặt ra
những mục tiêu chiến lược lâu dài trong sự nghiệp Cứu Quốc và Kiến Quốc cho
tương lai của dân tộc.
Vấn đề chính ở đây là ông Nguyễn Anh Tuấn
nói đến dân tộc thì đó là dân tộc nào. Khi xưa thì Công Giáo Việt Nam đã
tạo “sự nghiệp Cứu Quốc và Kiến Quốc” bằng cách đưa quốc gia Việt Nam vào
nền nô lệ của thực dân Pháp [một sự kiện lịch sử bất khả phủ bác]. Nhà trí
thức Lý Chánh Trung đã viết trong cuốn “Tôn Giáo Và Dân Tộc” là “khi
người Công giáo rửa tội thì đó là đã được tái sinh và trở thành công dân của
“đô thị Thiên Chúa” của thánh Augustine. Và nhà trí thức Công Giáo Nguyễn
Văn Lục cũng đã viết lên một sự thực: “Chỉ thấy cái nhan đề tờ báo
[Công Giáo và Dân Tộc] là có cái mùi khó ngửi và có cái gì gian trá
trong đó. Dân tộc ở chỗ nào?” Nhưng từ bao giờ mà những người có
trình độ và kiến thức như ông Nguyễn Anh Tuấn có thể đặt ra được những
mục tiêu chiến lược lâu dài trong sự nghiệp Cứu Quốc và Kiến Quốc cho tương
lai của dân tộc? trong khi các ông chỉ viết bậy bạ về hữu thần
và vô thần, về thánh kinh và lịch sử thế giới như tôi sẽ chứng minh trong
một phần sau.
Trước hết, tưởng chúng ta cũng nên biết là
ông Trần Vinh đã phê bình cách dùng từ “Thánh Chiến” và “vô thần” của ông
Nguyễn Anh Tuấn như thế nào:
1. Trần Vinh: Từ ‘thánh
chiến’: Từ này tự nó không có vấn đề, nhưng người ta không mấy khi xử
dụng, nhất là khi muốn tránh gây hiểu lầm và khi muốn quy lòng người về
một mối, chỉ vì nó gợi lại một lịch sử đáng buồn, đáng phải thống hối. Đó
là lịch sử của 7 cuộc thánh chiến thời Trung cổ do Âu Châu Công Giáo đánh
sang Trung Đông Hồi Giáo khởi đầu từ 1095 và chấm dứt vào năm 1291.
Riêng trong sách vở Việt Nam, nhất là ở
hải ngoại, từ thánh chiến càng khoác thêm ‘mặc cảm tội lỗi’ hơn khi các tác
giả kình chống Công giáo (như Trần Chung Ngọc, Bùi Kha (Trần Văn Kha)
[Bùi Kha không phải là Trần Văn Kha. TCN], Lê Trọng Văn, Đỗ Mậu, Nguyễn
Đăng Lâm, Vũ Ngự Chiêu (Nguyên Vũ, Chính Đạo), Nguyễn Mạnh Quang, Chu Văn
Trình, Trần Qúy, Charlie Nguyễn…) đã dùng các cuộc thánh chiến thời Trung
cổ như một chứng cớ chứng minh tính hiếu chiến hiếu sát của Giáo Hội Công
Giáo để so sánh với tính từ bi và giải thoát của Phật Giáo trong lịch
sử thế giới và lịch sử Việt Nam). [Ông Trần Vinh viết sai, không có ai
trong nhóm trên muốn so sánh Công Giáo với Phật Giáo, tất cả chỉ là đưa ra
những sự thực lịch sử của Công Giáo, không giới hạn trong chủ đề thánh
chiến, trong chủ trương giải hoặc mà thôi. TCN] Thêm vào đó, sự ra đời
tác phẩm Đàng Sau Những Cuộc Thánh Chiến của Lữ Giang (Nguyễn Cần) đã
gây căm phẫn cho nhiều Phật tử, nhất là những người trong nhóm Giao Điểm và
thân hữu… [Không hẳn vậy, cuốn Đàng Sau Những Cuộc Thánh Chiến
của Lữ Giang chẳng gây căm phẫn cho ai, nhất là tôi, vì đó chỉ là một sản
phẩm hạng bét của một tín đồ nghiện đạo muốn dùng cái từ thánh chiến của
Công Giáo để chụp lên đầu Phật Giáo. TCN]
Cuộc thánh chiến jihad của người Hồi
giáo cực đoan hiện nay cũng tạo thêm ý nghĩa tiêu cực, rất bất lợi cho việc
xữ dụng từ ngữ này.
Vì thế xin qúy vị hãy hành văn cách nào
khác cho tế nhị hơn, không nên dùng từ ‘thánh chiến’ làm chi.”
Đây là những lời phê bình rất đứng đắn, có
cơ sở, nhưng chạm nọc Công Giáo, cho nên ông Nguyễn Anh Tuấn và Chu Tấn đã
hùa nhau trả đũa ông Trần Vinh, diễn giải quanh co từ “thánh chiến”, đồng
thời mạt sát và mạ lỵ ông Trần Vinh. Đây chính là sách lược cố hữu của “sản
phẩm trí tuệ công giáo Việt Nam”, khi không đủ lý luận để phản bác thì tìm
cách giải thích quanh co và tận dụng thủ đoạn ám sát cá nhân (character
assassination). Nhưng dù giải thích quanh co thế nào đi chăng nữa, hai ông
Nguyễn Anh Tuấn và Chu Tấn đều không thể thuyết phục người đọc, vì từ
“Thánh Chiến”, tiếng Mỹ là “Crusade” hay “Holy War”, có ý nghĩa tôn giáo,
bắt nguồn từ sự cuồng tín tôn giáo, chỉ có thể áp dụng cho Ki Tô Giáo hay
Hồi giáo như lịch sử đã chứng minh. “Thánh chiến” [Holy War] là từ
chỉ những cuộc “thập ác chinh” của Ki Tô Giáo ở Âu Châu trong ba thế kỷ
11-13, do các giáo hoàng phát động. Nếu muốn dùng từ Crusade thì
Crusade có một nghĩa khác ngoài nghĩa “thánh chiến”, đó là một phong trào
hay chiến dịch vận động để chống một cái gì mà người ta cho là xấu, thí dụ
như vận động chống phá thai, chống đồng giống luyến ái hay chống thuyết Tiến
Hóa v..v… Nhưng người ta không thể dùng từ “thánh chiến” để mô tả những
phong trào hay chiến dịch vận động này, vì từ “thánh chiến” liên kết với
những sự kiện lịch sử của Ki Tô Giáo, chứ không thể áp dụng cho bất cứ cuộc
tranh đấu nào khác. Nó có ý nghĩa tôn giáo rất rõ rệt. Hẳn chúng ta
còn nhớ, sau ngày 9-11 xẩy ra ở New York, Tổng Thống “Bush Con” đã dùng
từ “Crusade” và bị cả thế giới, kể cả báo chí Mỹ, phê bình lên án, và
sau đó ông ta phải rút lại, không bao giờ còn dùng đến từ này nữa. Trong
cuộc chiến ở Việt Nam, Hồng Y Spellman, khi sang thăm Việt Nam, cũng đã dùng
từ này (crusaders) để gọi binh sĩ Mỹ và khuyến khích họ hãy chống Cộng sản
cho Chúa [Xin đọc bài “Vài Nét Về Cụ Diệm” trên sachhiem.net]. Ông Trần
Vinh đã đề nghị ông Nguyễn Anh Tuấn nên dè dặt khi dùng từ “thánh chiến”
nhưng ông Tuấn và đồng đạo Chu Tấn không biết phục thiện, còn ngụy biện cãi
lấy được với lý luận: “thánh chiến” của tôi không phải là “thánh chiến” của
ông, chỉ là thiện chống ác, hay ánh sáng chống bóng tối v.. v... Kiểu ngụy
biện này không thuyết phục được ai vì không ai có thể lấy một từ đã quen
thuộc trên cả thế giới rồi định nghĩa nó theo ý mình. Mà thực ra “thánh
chiến” cũng chỉ là loại ngôn từ khoa trương huênh hoang vô lối tự phong nấp
sau chiêu bài “Ý Chúa” (God’s Will) chứ những cuộc “Thập Ác Chinh” của Công
Giáo thì có gì là thánh trong đó.
2. Trần Vinh: Trong bài viết
có những đoạn đề cập tới những người vô thần khiến độc giả hết sức kinh
ngạc. Chẳng hạn như: ‘Những ngưòi hữu thần tuyệt đối không thể nào hòa
hợp với những kẻ vô thần được” hoặc là ‘…những con người hữu
thần…chiến thắng vinh quang trước những kẻ vô thần bạc ác, tinh ma, bất nhân
như thú dữ’. Khẩu khí những đoạn văn này xem ra rất ‘hiếu chiến’, rất
trịch thượng và rất dễ xa nhau. Biện luận như thế là quý vị tự cô lập, muốn
đóng cửa, rút cầu, muốn làm phép trừ hơn là tính cộng, thì sao gọi là có chủ
trương đoàn kết, sát cánh để lo việc đại sự.
…Về lý thuyết, hễ là Cộng sản thì phải là
vô thần, nhưng không phải hễ là vô thần thì là Cộng Sản. Đối với một
số người có tín ngưỡng thì hoặc là vì óc tự cao tôn giáo hoặc là vì niềm tin
quá nhiệt thành cho nên đã có quan niệm coi thường những người vô thần.
Trên thực tế ở đâu càng tiến mau về khoa học kĩ thuật và kinh tế, càng bùng
nổ nhiều cuộc ‘cách mạng’ về tư tưởng và xã hội thì tôn giáo càng thu hẹp
dần hoặc là ‘đang rạn vỡ ra từng mảng’ (Josepth Ratzingger. Muối Cho
Đời. PTGDVNHN, 2006, tr.130). Đến nỗi Gíáo Hội sẽ phải ‘mặc lấy hình
thái Giáo hội của thiểu số’ (Sđd., tr. 230). Những trích dẫn này làm
chứng hàng ngũ những người đang rời xa tôn giáo ở các nước ‘tiên tiến’ ngày
một đông. Bây giờ họ trở thành đa số. Những người này, nếu không còn tin vào
tôn giáo, thì họ là, hay ‘rất có thể là’, vô thần.
Vấn đề đặt ra là, những người vô thần
có thể là những người tốt không, có tình nhân đạo không; về
phương diện quốc gia, họ có thể là những công dân tốt không, có lòng ái quốc
không? Ai dám nêu ra những câu hỏi ấy? Chỉ nguyên việc nêu ra những câu
hỏi ấy đã là một xúc phạm rồi, vì một sự thật hiển nhiên không cần phải
chứng minh là những người vô thần vẫn có đầy tình nhân đạo, vẫn có mọi đức
tính tốt, vẫn yêu nước như mọi người khác. Ngược lại kinh nghiệm và lịch
sử chứng tỏ có tín ngưỡng chưa bảo đảm cho lòng đạo đức, cho tình người và
cho hòa bình. Lịch sử chứng minh nhiều nhân vật tôn giáo đạo đời phạm tội
lỗi tầy trời, nhiều cuộc chiến tranh tàn khốc bắt nguồn từ tôn giáo. Như đã có đề cập trên đây, ngày nay thế giới đang chứng kiến và gánh
chịu một loại chiến tranh mới đầy bạo lực nhân danh niềm tin tôn giáo.
Và ông Trần Vinh kết luận:
Chỉ mới từ vài ý kiến kể trên, tôi có
cảm nghĩ bài viết Những Đề Nghị Đóng Góp là hết sức thất nhân
tâm, độc đoán, làm dáng trí thức, không có tầm nhìn xuyên suốt lịch sử cổ
kim và xem ra có khuynh hướng xách động quá khích. Bài viết
không có tầm cỡ của một tổ chức (?) có hoài bão to lớn ‘cứu quốc, kiến
quốc’. Xin quý vị xem xét lại.
Chúng ta thấy, ông Trần Vinh đã phê bình
rất xác đáng, tuy không đầy đủ, với lời lẽ rất nghiêm chỉnh, và qua mấy lời
phê bình này, chúng ta cũng đã có thể thấy trình độ và kiến thức cùng tâm
cảnh của “Nguyễn Anh Tuấn, một người [Trí Thức Công Giáo] từng
dùi mài kinh sử về chính trị học và tôn giáo hơn 20 năm qua”. Ông
Trần Vinh đã phê bình khá nhẹ nhàng, nhưng đối với tôi, sau khi đọc bản “Đề
Nghị..” của ông Nguyễn Anh Tuấn, tôi thấy ở đó toát ra một mùi khó ngửi
(mượn tạm từ của Nguyễn Văn Lục): đó là mùi cuồng tín tôn giáo [Giáo sư
Nguyễn Mạnh Quang đã định nghĩa “cuồng tín” là tổng hợp của ngu dốt, kiêu
căng và huênh hoang (hợm hĩnh) vô lối]. Chứng minh?
Ở Việt Nam, hàng ngũ hữu thần (thần
đây phải hiểu là “Thượng Đế, Thiên Chúa, hay Đấng Tạo Hóa, Người đã
tạo ra vũ trụ và tất cả con người” của ông Nguyễn Anh Tuấn, nói khác
đi chính là Thượng đế… của Công Giáo, chứ chẳng lẽ ông Tuấn muốn nói là thần
cây đa, thần bình vôi v..v..) chỉ chiếm có 7% dân số. 93% còn lại có thể
nói tất cả đều là “vô thần” theo nghĩa là hàng ngũ những người không tin là
có một "Thượng đế hay Thiên Chúa của Ki Tô Giáo" đã sáng tạo ra vũ trụ
và tất cả con người mà tất cả những bằng chứng trước mắt trong vũ trụ,
trong thế giới loài người, trong thế giới các sinh vật v..v.. đã chứng tỏ
rằng nếu có một sự sáng tạo như vậy thì tất cả chỉ là sản phẩm của một sự
“thiết kế ngu đần”. Ai, bất cứ ai, không đồng ý xin mời lên tiếng.
Như vậy, cuộc "Thánh Chiến giữa hàng
ngũ hữu thần với những kẻ vô thần CS" của ông Nguyễn Anh Tuấn et
al.. cũng chỉ là cuộc “thánh chiến” của “Công Giáo Việt Nam” chống “Cộng Sản
Việt Nam” mà thôi trong trường hợp tất cả những người Công Giáo Việt Nam đều
nghe theo “đề nghị” mở cuộc “thánh chiến” của ông Nguyễn Anh Tuấn. Và như
vậy, đúng như ông Trần Vinh đã nhận định, ông Nguyễn Anh Tuấn đã loại bỏ
tuyệt đại đa số trong những “Tầng lớp Sĩ phu, Trí thức và Chuyên gia
thuộc thế hệ trẻ trong và ngoài nước và độc giả bốn phương” phi-Công
Giáo. Vậy trong cuộc “thánh chiến chống Cộng” của ông Nguyễn Anh Tuấn chỉ
còn có Công Giáo, mà trong Công Giáo Việt Nam thì lại không có Sĩ
phu và Trí thức, hay nhiều nhất là chỉ có những trí thức
cỡ Nguyễn Anh Tuấn hay Chu Tấn, hay Nhóm Chủ Trương.. , vậy thì các ông lấy
cái gì để chống những kẻ vô thần, và bao giờ cuộc “thánh chiến” của Công
Giáo này thành công? Chắc phải chờ đến khi Giáo hoàng John Paul II sống lại
để “Cha đã tiên phong góp phần giải phóng quê hương Cha, và tiếp đến sẽ
là quê hương chúng con” [Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, Trang 11]
Như trên chúng ta đã biết, ông Nguyễn Anh
Tuấn đã được Nhóm Chủ trương Vận động Hòa đồng Tôn giáo & Dân tộc của Công
Giáo trao phó cho viết Bản “NHỮNG ĐỀ NGHỊ ĐÓNG GÓP SẢN PHẨM TRÍ TUỆ
CHO TUYỂN TẬP SỐ 2… ” mà chủ đề là: Chính Trị và Tôn Giáo. Sau đây tôi sẽ trích dẫn một số ý kiến trong bản văn trên và sẽ không phê
bình dài dòng vì không đáng để phê bình, chỉ kèm theo một vài nhận xét ngắn
ngủi, và xin để độc giả nhận định xem đó có phải là những đề nghị đóng
góp sản phẩm trí tuệ hay không, hay chỉ là những lưận điệu thiếu hiểu
biết và suy nghĩ chín chắn của một tín đồ Công Giáo cuồng tín chống Cộng cho
Chúa như chúng ta sẽ thấy trong nhiều đoạn của bản “Đề Nghị..”.
1- Nguyễn Anh Tuấn: cùng
nhau đưa ra những sản phẩm trí tuệ như những lưỡi gươm thiêng (the
Sword of Spirit ) của thời đại, để dành lấy chiến thắng tối hậu khi
phải quyết chiến với tà thần ngụy thuyết của hàng ngũ CS…
[Đọc toàn bài “Đề Nghị…” chúng ta thấy rõ
“lưỡi gươm thiêng” của ông Nguyễn Anh Tuấn là lấy tà thần ngụy thuyết của
Công giáo [Nếu những gì viết trong Cựu Ước là đúng thì Thần Jehovah trong đó
chỉ là một tà thần, và những tín lý của Công giáo về 7 bí tích, về Chúa sống
lại, khả năng cứu chuộc của Giê-su, đức mẹ đồng trinh, Chúa ba ngôi, giáo
hoàng là đại diện của Chúa trên trần v.. v… chỉ là những ngụy thuyết, theo
tổng hơp những kết quả nghiên cứu của các học giả Âu Mỹ về Thánh Kinh và
Công Giáo trong vòng 200 năm gần đây] để chống tà thần ngụy thuyết của Cộng
sản, nếu trong Cộng sản có tà thần, và thuyết Cộng sản là ngụy thuyết, điều
mà các học giả ngày nay, thí dụ như Linh mục Muray, đã bác bỏ [sẽ trích dẫn
tài liệu của Linh mục John Courtney Murray, một nhà Thần Học Công giáo rất
sáng danh thuộc hiệp hội Giê-Su (S.J. = Society of Jesus) về “Cộng Sản vô
thần” trong một phần sau]
2- Nguyễn Anh Tuấn: Nếu ánh
sáng và bóng tối không thể hòa hợp được với nhau, và nếu những con người
minh triết và phẩm hạnh cao quý không thể hòa hợp được với phường trộm
cắp và bất nhân, thì những người hữu thần tuyệt đối không thể nào hòa hợp
với những kẻ vô thần được.
[Viết như trên ông Tuấn hàm ý là những
người hữu thần đều là những con người minh triết và phẩm hạnh cao quý
và những kẻ vô thần đều là phường trộm cắp và bất nhân..
Nhưng có thật như vậy không? Ông Tuấn đã đọc lịch sử các “đức thánh cha”
chưa, có trên giaodiemonline.com và sachhiem.net, và có đọc những thông tin
về mấy ngàn linh mục can tội “ấu dâm” không? Tất cả những con người đó đều
là “hữu thần” cả đó, và còn “hữu thần” nặng hơn ai hết. Phải chăng những sự
kiện đó phản ảnh “những con người hữu thần minh triết và phẩm hạnh cao
quý”? Ông Tuấn cũng không đọc lịch sử những người vô thần, và vô thần
đã có từ bao giờ. Cũng như ngày xưa, Abraham không kiếm ra nổi 10 người
công chính trong thành Sodom đưa đến kết quả là Thiên Chúa của ông Tuấn lấy
lửa từ trên trời làm vũ khí hủy diệt tập thể (weapon of mass destruction),
hủy diệt cả thành Sodom trừ gia đình ông Lot để rồi Thiên Chúa cho ông ấy
ngủ với cả 2 đứa con gái và sinh con cho ông ấy để ông Lot, người công chính
duy nhất của Thiên Chúa trong thành Sodom, vừa làm bố vừa làm ông nội,
tôi đố ông Tuấn kiếm ra được 10 người trong hàng ngũ hữu thần của ông, trong
đó có cả ông nữa, là những người minh triết và phẩm hạnh cao quý]
3- Nguyễn Anh Tuấn: Cả Cựu Ước
và Tân Ước, cũng như văn minh Phật giáo đều dặn rằng: “Hãy giữ
vững và đặt trọn niềm tin vào chân lý vĩnh cửu (eternal truth). Hãy nương
theo ánh sáng chỉ đường của các dòng kinh điển để sống, hành xử và bước đi.
Ngoài ra đừng tin vào ai cả.”
[Ông này chưa hề đọc Cựu ước và Tân Ước,
và cũng chẳng biết gì về lịch sử đạo Công Giáo, khoan nói đến Phật Giáo.
Nói thật mà nghe, nương theo ánh sáng chỉ đường của các dòng kinh điển trong
Cựu Ước và Tân ước thì có sống cũng như chết. Chính cái loại ánh sáng này
đã là nguồn gốc của các cuộc “thánh chiến”, thánh chiến thực sự chứ
không phải là thánh chiến dỏm của Nguyễn Anh Tuấn, và những tòa hình án
xử dị giáo, những cuộc săn lùng thiêu sống phù thủy v..v.. , nói tóm lại là
nguồn gốc của 7 núi tội ác mà Giáo hoàng John Paul II cùng vài Hồng Y, Tổng
Giám Mục trong đó có TGM Nguyễn Văn Thuận của Việt Nam, đã xưng thú cùng thế
giới ngày 12/3/200 ở “thánh đường” Phê-rô. Mặt khác, Phật Giáo không
dạy người ta phải mù quáng nương theo các dòng kinh điển khi chưa tự mình
chứng nghiệm những dòng đó cho bản thân.]
4- Nguyễn Anh Tuấn: Đó là
con đường duy nhất, độc đạo để những con người hữu thần đạt đến chiến thắng
vinh quang trước những kẻ vô thần, bạc ác, tinh ma và bất nhân, như
thú dữ đang đè nặng lên sinh mệnh quê hương VN thân yêu của chúng ta.
[Chính con đường này đã đưa các tín đồ Ki Tô
Giáo vào một ngục tù tâm linh mà Tây phương ngày nay đang dần dần loại bỏ]
5- Nguyễn Anh Tuấn: Những kẻ
vô thần đang tung hoành trong vương quốc của bóng tối, nhưng chúng rất sợ sự
thật và ánh sáng; và ở đâu có sự thật và ánh sáng, bóng tối sẽ bị xua đuổi.
Những người hữu thần phải thắp sáng lên được ngọn lửa tâm thức bừng sáng để
tất cả sự thật có thể hiện ra, nhất là những sự thật lịch sử.
[Nếu trong câu này mà ông Tuấn biết đến lịch
sử của Công Giáo và đổi “vô thần” thành “hữu thần”, và “hữu thần” thành “vô
thần”, thì đúng với lịch sử hơn. Samuel Butler đã chẳng từng nói: “Những
tín đồ Ki Tô Giáo không sợ tội lỗi, chỉ sợ sự thật” hay sao. Và Tiến sĩ
Barnado đã chẳng từng viết là các tín đồ Công Giáo đang sống trong cái
“Bóng tối dày đặc của Ý thức hệ La Mã” hay sao (In the thick darkness of
Romanism). Ông Tuấn có muốn biết những sự thật lịch sử về Công Giáo không?
Hãy chịu khó vào đọc giaodiemonline.com hay sachhiem.net]
6- Nguyễn Anh Tuấn: Tất cả
các chính giáo chân chính đều nhắm vào việc nuôi dưỡng và phát huy cái Thiên
Luật mà Thượng Đế đã viết xuống tâm con người.
[Không phải đâu là không phải đâu, chỉ
có tà giáo mới nuôi dưỡng và phát huy cái Thiên Luật [ông Tuấn ghi là God’s
law] ác ôn của Thượng đế như được viết trong Cựu Ước. Còn chính giáo thì
không bao giờ muốn biết đến Thượng đế, khoan nói đến Thiên luật của Thượng
đế]
7- Nguyễn Anh Tuấn: Thiện
căn sẽ làm cho tình yêu thương giữa người và người hồi sinh phục hoạt và đó
cũng là con đường đưa con người về lại với minh triết và sức mạnh tinh thần,
để từ đó đem lại chiến thắng vinh quang cho cuộc Thánh Chiến thực sự với
những kẻ vô thần, vô đạo và vô minh đang dầy xéo lên dân tộc và quê hương.
[Toàn là thánh chiến với thánh chiến. John
Remsburg đã viết: Ngày nay Công Giáo không còn giết hại được nữa, vì thanh
gươm (để giết người) và bó củi (để thiêu sống người) đã bị tước ra khỏi
những bàn tay đẫm máu của Giáo hội Công giáo rồi]
8- Nguyễn Anh Tuấn: Từ một
thế kỷ nay những người được coi hay tự nhận là trí thức hay sĩ phu đã chóa
mắt vì văn minh khoa học vật chất của Tây Phương, nên chẳng còn ai tin vào
đạo lý và sôi kinh nấu sử nữa. Họ háo hấc, hăm hở, cuồng nhiệt quay qua Tây
phương để tìm kiếm học hỏi. Nhưng các giá trị tự do dân chủ cao quý và
những giá trị sâu thẳm của toàn bộ văn minh tinh thần là Cựu Ước và Tân Ước,
hay cuộc Cải Cách Tôn giáo (reformation) của khối Cơ Đốc giáo, thì không có
ai để mắt tới.
[Đúng là ông Nguyễn Anh Tuấn là người nghiện
đạo nặng vì bị tẩy não nhồi sọ từ nhỏ và chắc chắn là chưa bao giờ sờ tới
Cựu Ước và Tân Ước. Ông kiếm ở đâu ra trong Cựu Ước hay Tân Ước “các
giá trị tự do dân chủ cao quý và những giá trị sâu thẳm của toàn bộ văn minh
tinh thần” Trong Cựu Ước thì Thiên Chúa ra luật tàn sát phá hủy bàn
thờ, hình tượng của các thần khác. Trong Tân Ước thì Chúa Con Giê-su đòi
mang những người không tin ông ta ra giết ngay trước mặt ông ta, và nguyền
rủa những người không tin ông ta là đồ rắn rết và dọa sẽ đầy họ xuống hỏa
ngục để cho ngọn lửa vĩnh hằng thiêu đốt. Vậy cái gì là tự do dân chủ? Cái
gì là giá trị sâu thẳm của toàn bộ văn minh tinh thần ở trong Cựu Ước và Tân
Ước? Ông Tuấn cũng chẳng biết quái gì về cuộc Cải Cách Tôn Giáo đưa đến
sự thù hận tàn sát lẫn nhau giữa Công Giáo và Tin Lành qua bao thế kỷ]
9- Nguyễn Anh Tuấn: Con
người khi bị câu thúc, xiềng xích và nô lệ xác thân và con người khi bị câu
thúc, xiềng xích và nô lệ trí tuệ và tâm hồn, cái nào nguy hiểm và đem khổ
đau hơn cái nào?
Đến giờ này mà những người VN theo CS
vẫn chưa kịp nhận ra sự thực kinh hoàng này – đó là thực dân Tây phương đã
câu thúc, xích hóa và nô lệ thân xác người dân Việt, nhưng tội lỗi của thực
dân Pháp đem so sánh với HCM và đảng CSVN thì chẳng thấm vào đâu, bởi vì
câu thúc, xích hóa và nô lệ tâm hồn và trí tuệ mới chính là tội lỗi lớn lao
nhất của CS đối với người dân Việt.
[Ai cũng biết là những người Công Giáo Việt
Nam bị câu thúc, xiềng xích và nô lệ hóa tâm hồn và trí tuệ ở trong một cái
ngục tù tâm linh của một tổ chức thế tục có một cấu trúc thần quyền toàn trị
[theocracy] là đạo Công Giáo. HCM và đảng CSVN đã không có chọn lựa, ở
trong hoàn cảnh phải dùng chủ thuyết Cộng Sản để giành lại độc lập và thống
nhất cho nước nhà, thoát khỏi ách thực dân và thế lực tay sai Công Giáo đã
đè nặng trên đầu người dân gần một thế kỷ. Nhưng đó chỉ là một giai đoạn
cần thiết của lịch sử. Ngày nay, Việt Nam có cái gì là Cộng Sản, ông chỉ
tôi coi? Xin nhớ, độc tài chính trị, tham nhũng v.. v.. đều không phải là
Cộng sản, mà đó là phó sản của nền kinh tế thị trường của Tư Bản. Cả nước
Việt Nam chỉ có 2 triệu người là đảng viên đảng Cộng Sản, và không phải tất
cả đều là Cộng sản trong suy tư, trong hành động để câu thúc, xiềng xích, nô
lệ hóa trí tuệ người dân. Ngày nay, dù có muốn họ cũng không thể làm như
vậy, vì họ không có khả năng để thực hiện. Cái thời đại đó, trong một hoàn
cảnh lịch sử đặc biệt của Việt Nam, đã qua lâu rồi. Trong khi đó thì
Vatican đã thành công trong sự câu thúc, xiềng xích, nô lệ hóa tâm hồn trí
tuệ các giáo dân, nhất là giáo dân Việt Nam, vào giáo điều tuyệt đối phải
tuân phục Vatican vì một cái bánh vẽ trên trời và vẫn còn tiếp tục câu thúc,
xiềng xích, nô lệ hóa tâm hồn trí tuệ các giáo dân Việt Nam. Cứ vào đọc các
trang nhà tiengnoigiaodan.net hay vietcatholic.com là thấy đầy rẫy những tâm
cảnh khúm núm, qụy lụy nhắm mắt nhắm mũi khen nhắng nhít mọi lời của “đức
thánh cha” trong khi đạo đức tôn giáo của “đức thánh cha” là một dấu hỏi
lớn. [Có cần tôi phải chứng minh hay không?] Đó là sự khác biệt giữa
Công Giáo và Cộng Sản]
10- Nguyễn Anh Tuấn: Khi mà
Thượng Đế đã phán: “Ngươi không được giết người” (Ten Commandments). Tất cả
những trang sử của nhân loại vẫn còn đây. Đế quốc Babylon, đế quốc Assyria,
đế quốc Syria, đế quốc Ba Tư, đế quốc Ai Cập, đế quốc La Mã, đế quốc Hy Lạp
cổ xưa và sau nay là đế quốc Đức, đế quốc Nga và các đế quốc thực dân Tây
phương. Sự thật lịch sử cho thấy suốt bao ngàn năm, tội lỗi của tất cả các
đế quốc đem cộng lại trên toàn thế giới cũng còn thua xa tội lỗi của hàng
ngũ Quốc tế CS đối với con người, kể cả về mức độ tàn ác và con số nạn nhân
vô tội bị giết bởi đế quốc CS.
[Ông Nguyễn Anh Tuấn có biết là Công Giáo đã
giết bao nhiêu người, tra tấn bao nhiêu người bằng những hình cụ tra tấn
khủng khiếp nhất thế giới, đã thiêu sống bao nhiêu người v..v.. trong các
cuộc “thập ác chinh”, các tòa án xử dị giáo, các cuộc săn lùng và thiêu sống
phù thủy, các cuộc bách hại người Do Thái và ngoại đạo không? Trong những
bài viết của các tác giả Tây Phương về những tội ác của Cộng Sản, tôi chỉ
thấy họ viết về Stalin và Mao chứ không hề viết về Hồ Chí Minh, và con số
nạn nhân của Cộng Sản so với con số nạn nhân của Ki Tô Giáo thì còn thua xa.
Ngay trong Thánh Kinh của Ki Tô Giáo người ta đã nghiên cứu xem giữa Thượng
đế và Satan, ai giết người nhiều hơn. Và sau đây là kết quả: Thượng đế
đã giết 2,270,365 [2 triệu, 2 trăm 70 ngàn, 365] người, và đây chỉ là
một con số khiêm tốn, trong khi Satan chỉ giết có 10, mà một số đã được
Thượng đế cho phép trong cuộc thách thức về gia đình Job. Thật vậy, ngày 9
tháng 8, 2006, Steve Wells đã viết trên Internet: “In
a previous post, I counted the number of people that were killed by God
in the Bible. I came up with 2,270,365, which, of course, greatly
underestimates God's total death toll, since it only includes those killings
for which specific numbers are given. No attempt was made to include the
victims of Noah's flood, Sodom and Gomorrah, or the many plagues,
famines, fiery serpents, etc., with which the good book is filled.
Still, 2 million is a respectable number even for world class killers.
But how does this compare with Satan? How many did he kill in the Bible?
Well I can only find ten, and even these he shares with God, since God
allowed him to do it as a part of a bet. I'm talking about the seven sons
and three daughters of Job.”]
11- Nguyễn Anh Tuấn: Tôn giáo
và đạo lý khác nhau như thế nào? Hoa Kỳ tách tôn giáo ra khỏi chính trị
(Tu chính án số 1) để bảo đảm quyền tự do tôn giáo và tính cách độc lập
của quyền hành chính trị. Nhưng Hoa Kỳ không tách đạo lý của Cựu
Ước và Tân Ước ra khỏi đời sống chính trị quốc gia và xã hội. Bởi vì tách
đạo lý ra khỏi quốc gia thì lấy gì để có đạo đức chính trị và đạo đức xã
hội?
[Thứ nhất, Hoa Kỳ tách
riêng Tôn Giáo và Chính Quyền là vì những nhà lập quốc Hoa Kỳ đã có những
kinh nghiệm về sự tệ hại của Tôn Giáo khi xen vào Chính Quyền ở Âu Châu nên
muốn tránh cho người dân Mỹ lâm vào cảnh đó. Điều này chúng ta thấy rõ
trong tư tưởng của Tổng Thống Thứ Nhất của Hoa Kỳ là George Washington. Tu
chính án bảo đảm quyền tự do tôn giáo và không tôn giáo. Ông Nguyễn Anh
Tuấn có thể cho độc giả biết đạo lý của Cựu Ước và Tân Ước là như thế nào
không? Có phải là những tiêu chuẩn đạo đức chính trị và đạo đức xã hội
để cho cả thế giới phải theo hay không? Đạo đức chính trị và đạo
đức xã hội của Mỹ, theo ông Tuấn, là dựa trên đạo lý của Cựu Ước và
Tân Ước. Nhưng thực tế là, Mỹ đứng đầu thế giới về quân sự và kinh
tế, nhưng về đạo đức chính trị và đạo đức xã hội thì là một
dấu hỏi lớn. Chắc ông Tuấn không tin. Vậy để tôi trích dẫn vài thống kê
của chính Mỹ cho ông thấy:
Mỹ là một nước hữu thần hạng nhất trong thế
giới ngày nay, vì có tới khoảng 60% Tin Lành, và khoảng 20% Công giáo.
Nhưng những tội ác như linh mục loạn dâm, đĩ điếm, cần sa, ma túy, gian manh
lừa đảo, giết người, băng đảng xã hội đen v..v.. đều chiếm giải quán quân
trên thế giới. Sau đây là vài con số thống kê của Mỹ:
- Thống kê năm 2000: 14 triệu người tuổi từ
12 trở lên dùng ma túy (6.3% dân số).
- Năm 2001: 15.980 vụ giết người, 90.491
vụ hiếp dâm. Cứ 2 phút lại có một người bị hiếp (tài liệu của
bộ Tư Pháp)
- Trên 1 triệu gái mãi dâm hành nghề
trên đường phố, nhà tắm hơi (sauna), phòng tẩm quất
(massage parlor) và qua điện thoại, trong đó có 300.000 vị
thành niên. Thành phố New York tốn $43 triệu mỗi năm để kiểm soát các
vấn đề liên quan đến mãi dâm.
- 14.000.000 người nghiện rượu. [Tỷ
lệ số Linh mục nghiện rượu không phải là nhỏ]
- Có 2.200.000 tù nhân Mỹ đang ngồi tù.
Cả thế giới có 9.000.000 người đang ngồi tù, Mỹ chiếm 22% trong khi tỷ lệ
dân số của Mỹ trên thế giới chỉ có 5%.
- Ở Trung Quốc [xứ vô thần] thì
cứ trong 100.000 người có 111 người ngồi tù, ở Mỹ [xứ hữu thần] là
686 người, gấp hơn 6 lần trong khi dân số Mỹ chỉ bằng 24% dân số Trung Quốc.
- 50% các cặp vợ chồng do Chúa kết hợp
đi đến ly dị.
- Từ 4% đến 10% dân chúng đồng giống
luyến ái. [Tỷ lệ số Linh mục đồng giống luyến ái không phải là
nhỏ]
- Tới nay đã có 4392 linh mục Công Giáo
bị truy tố về tội cưỡng dâm trẻ em phụ tế và nữ tín đồ, chưa kể số Mục sư
Tin Lành..
Những con số thống kê của chính Mỹ ở trên
nói lên phần nào sự kiện là, theo ông Nguyễn Anh Tuấn, vì Hoa Kỳ không
tách đạo lý của Cựu Ước và Tân Ước ra khỏi đời sống chính trị quốc gia và xã
hội. Nếu tách ra hay không biết đến đạo lý của Cựu Ước và Tân Ước
như nhiều nước khác trên thế giới trong đó có Việt Nam, thì chắc đạo đức xã
hội của Mỹ đã khá hơn nhiều. Về đạo đức chính trị của Mỹ thì khuyên ông
Tuấn et al.. hãy đọc Noam Chomsky. Đó là chính trị “cường quyền thắng công
lý”. Tôi không có thì giờ đi vào vấn đề này.]
Đọc bài “Đề Nghị …” của ông Nguyễn Anh
Tuấn chúng ta chẳng thấy một đề nghị nào thiết thực, chỉ toàn là giảng đạo
láo lếu, láo lếu vì chẳng biết gì về đạo và lịch sử đạo. Chủ đề là “Tôn
Giáo và Chính Trị” nhưng tôn giáo chỉ toàn tán láo những chuyện đâu đâu và
nói về Thiên Chúa Giáo theo một niềm tin không cần biết không cần hiểu. Bây
giờ tôi xin sang đến bài trả lời ông Trần Vinh của ông Nguyễn Anh Tuấn.
Thay vì khai triển chủ đề “tôn giáo và chính trị” mà ông Tuấn kêu gọi bà con
lối xóm đóng góp sản phẩm trí tuệ tương tự như của ông Tuấn thì ông Tuấn lại
quảng cáo cho tôn giáo và chính trị của Mỹ, đồng thời giảng đạo về cái gọi
là “Chúa Cứu Thế” của ông ấy:
12-Nguyễn Anh Tuấn: Bài học
lớn nhất mà các người cha khai sinh ra quốc gia Hoa Kỳ vĩ đại này (The
Founding Fathers) để lại cho hậu thế là – Dù tất cả họ đứng trong vị trí nào
trong xã hội: Các tu sĩ, các nhà truyền giáo, các mục sư, các nhà thần học,
tầng lớp trí thức, các lãnh tụ các tiểu bang đã gặp nhau tại Philadelphia từ
1787 và tuyên bố rằng: “We the people of United of America” – Chúng tôi
người dân Hoa Kỳ, đứng ra thành lập quốc gia khi bản hiến pháp vừa được phê
chuẩn chấp nhận. Đây là những công dân khả kính nhất trong lịch sử phát
triển dân chủ thế giới…
Hiện nay quê hương và dân tộc Viêt Nam
đang trông chờ những công dân như thế, và 84 triệu công dân Việt Nam trong
và ngoài nước cần lắng nghe các công dân vĩ đại của Hoa Kỳ nói về tôn giáo
và chính trị để rút tỉa những kinh nghiệm lớn lao của lịch sử cho vai trò
công dân của một quốc gia.
[Chúng ta có thể tưởng tượng được không,
một “trí thức Công Giáo” như Nguyễn Anh Tuấn lại có thể viết tầm bậy như
trên không? Không những tầm bậy mà còn ngu và xấc láo với cả tổ quốc của
hắn nữa. Việt Nam đã lập quốc từ trên 4 ngàn năm, có một nền văn hóa cao
hơn văn hóa Mỹ nhiều, có một lịch sử chống ngoại xâm oai hùng nhất thế giới,
và nền dân chủ đã có từ cả mấy ngàn năm [chế độ làng, xã, Hội Nghị Diên Hồng
v..v..], vậy mà Việt Nam, đã có Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, lại phải trông chờ
và lắng nghe những công dân Hoa Kỳ mới lập quốc vài trăm năm nay hay sao?
Dốt đặc về lịch sử Việt Nam, văn hóa Việt Nam, vọng ngoại một cách mù quáng,
vậy mà cũng có thể viết lên được, quả thật là không còn biết liêm sỉ là
gì.]
13- Nguyễn Anh Tuấn: …Thay
vì xử dụng bạo lực toàn diện và triệt để để làm cho máu đổ thịt rơi, các
nhà cách mạng Hoa Kỳ vào năm 1776 đã xử dụng luật pháp có nội dung đạo đức
vĩnh cửu và cuốn Thánh Kinh của Cựu Ước và Tân Ước, để hướng dẫn con
người sống trong tự do, bình đẳng và tình yêu thương giữa người và người.
Và các nhà cách mạng ấy đã tạo ra nước Mỹ hơn 200 năm qua, một nước Mỹ
đã hoàn thành một giấc mơ mà cả nhân loại mơ ước từ bao ngàn năm qua.
[Ông Tuấn có biết đến chính sách diệt chủng
người dân da đỏ, cũng như chính sách kỳ thị da đen và phụ nữ của Mỹ ở ngay
trên đất Mỹ là như thế nào không. Đến bao giờ người da đen mới được quyền
ngang hàng với người da trắng ở nơi công cộng và trên xe bus? Đến bao giờ
người phụ nữ Mỹ mới có quyền bỏ phiếu trên đất Mỹ. Hãy tìm hiểu một chút về
lịch sử nước Mỹ đi, đừng có vọng Mỹ quá lố, viết tầm bậy mà người ta cười
cho. Hiến Pháp Mỹ nói gì về tôn giáo? Không hề nhắc đến Thiên Chúa của Ki
Tô Gáo.
Sau khi ca tụng Mỹ mà không hiểu gì về Mỹ,
lại coi Mỹ như là khuôn vàng thước ngọc về dân chủ (sic), ông Nguyễn Anh
Tuấn bèn giới thiệu giá trị của cuốn Thánh Kinh qua vài trích dẫn nhưng
không ghi xuất xứ và chẳng biết ông ấy nhặt ở đâu ra, và có nghiên cứu xem
có đúng như sự thực không? Thí dụ:
14- Nguyễn Anh Tuấn:
“Tôi tin cuốn Thánh Kinh là một quà tặng vô giá mà Thiên Chúa hay Thượng Đế
chưa từng ban cho con người. Tất cả những gì tốt đẹp nhất, cao cả nhất và lý
tưởng nhất đều là những lời của các Đấng Cứu Thế muốn trao dồi với chúng ta
trong cuốn sách vậy” (TT Abraham Lincoln)
“Không thể nào cai trị quốc gia này hay thế
giới này mà không có Thiên Chúa và không có cuốn Thánh Kinh này được”.
(George Washington)
“Thánh Kinh là một cuốn sách xứng đáng hơn
tất cả những cuốn sách đã in trên trần gian này.” (Patrick Henry)
“Thánh Kinh là bến đỗ của tất cả quyền tự
do.” (The US Grant)
“Thánh Kinh đã từng là tuyên ngôn Tự Do
(Magna Carta) của những con người nghèo khó, những con người bị áp chế phũ
phàng. Nhân loại chưa biết đứng vào chỗ đứng đó, nơi tự do tuôn trào ra sự
sống” (Thomas Huxley)
“Không thể nào có thể nô lệ hóa con người
hay xã hội. Nếu đó là những người đã đọc Thánh Kinh. Những nguyên tắc của
Thánh Kinh là một nền móng vững chắc cho tự do của con người.” (Horace
Greeley)
“Với cuốn sách này, thưa với ngài – là đá
mà trên đó mỗi chúng ta xây nên các nền Cộng Hòa của chúng ta.” (TT Andrew
Jackson)
Người Công Giáo, nhất là Công Giáo Việt
Nam, chẳng bao giờ đọc đến Thánh Kinh, mà lại cứ thích ca tụng Thánh Kinh.
Tôi đã viết nhiều về cuốn Thánh Kinh của Ki Tô Giáo nên nay chẳng buồn nhắc
lại làm chi. Trang nhà sachhiem.net mới đưa lên cuốn “Công Giáo Chính Sử”
của tôi, trong đó có nguyên một Chương viết về Thánh Kinh. Quý vị nào tò mò
muốn biết, xin vào đó mà đọc.
Hiện nay, các nhà bảo thủ Ki Tô Giáo ở Mỹ
thường bịa ra những lời mà họ cho là của những nhà lập quốc Hoa Kỳ (phony
founding fathers quotes) để chứng minh các nhà lập quốc Hoa Kỳ là những
người sùng tín Thiên Chúa Giáo và nước Mỹ là một quốc gia Ki Tô theo hiến
pháp. Nhưng tài liệu về những văn kiện lập quốc và chủ trương tách rời tôn
giáo và chính quyền đã nói lên tất cả sự thật. Muốn biết “Our founding
fathers” nghĩ thế nào về Thánh Kinh và Ki Tô Giáo, chúng ta chỉ cần vào
Yahoo hay Google đánh mấy chữ “The Founding Fathers and Chrisianity” là nó
hiện ra cả trăm lời phê phán về Ki Tô Giáo của các nhà lập quốc Hoa Kỳ.
Những trích dẫn về cuốn Thánh Kinh của Ki Tô Giáo như trên là của những
người không phải là các nhà lập quốc Hoa Kỳ và không biết có phải là đúng sự
thật không. Thomas Huxley là một khoa học gia ủng hộ tuyệt đối thuyết Tiến
Hóa của Darwin. Chúng ta cũng nên biết trong bản Hiến Pháp của Hoa Kỳ,
không có chỗ nào nói đến Thiên Chúa của Ki Tô Giáo hay Giê-su, cho nên có
người đã gọi đó là một “Hiến Pháp vô thần” [Godless Constitution]. Để cho
vấn đề được rõ ràng hơn, chúng ta hãy điểm qua những tư tưởng về Thiên Chúa
Giáo của những nhà lập quốc [founding fathers] Hoa Kỳ: 4 Tổng Thống đầu tiên
của Hoa Kỳ: George Washington, John Adams, Thomas Jefferson, và James
Madison.
George Washington:
“Những cuộc tranh cãi tôn giáo thường
tạo nên nhiều sự thù hận gay gắt không thể hòa hợp được hơn là bất cứ từ
nguyên nhân nào khác. Trong tất cả những hận thù đã từng hiện hữu trong
nhân loại, những hận thù gây ra bởi sự khác biệt về tình cảm trong tôn giáo
có vẻ như là thâm căn cố đế và đau buồn nhất, và cần phải coi thường nhất.
Tôi hi vọng rằng, với chính sách khai sáng và tự do, dấu chỉ của thời đại
này, ít nhất là đã hòa hợp mọi hệ phái Ki Tô đến độ rằng chúng ta không bao
giờ còn thấy những cuộc tranh cãi tôn giáo đến tận cái hố sâu làm nguy hại
đến hòa bình trong xã hội.” [Đây chính là phản ảnh những kinh nghiệm về
tôn giáo tại Âu Châu]
(Religious controversies are always
productive of more acrimony and irreconcilable hatreds than those which
spring from any other cause. Of all the animosities which have existed
among mankind, those which are caused by the difference of sentiments in
religion appear to be the most inveterate and distressing, and ought most to
be depreciated. I was in hopes that the enlightened and liberal policy,
which has marked the present age, would at least have reconciled Christians
of every denomination so far that we should never again see the religious
disputes carried to such a pitch as to endanger the peace of society.) [
Letter to Edward Newenham, 1792]
“Trong toàn bộ văn thư giao dịch của
Washington, không có chỗ nào nói đến Giê-su”
(There is no mention of Jesus Christ
anywhere in his extensive correspondence.) [Dallas: Southern Methodist
University Press, 1963, pp. 14-15]
“Không có ai hăng say hơn chính tôi để
thiết lập những hàng rào hữu hiệu chống những sự khủng khiếp của sự bạo
ngược chuyên chế tinh thần, và chống mọi hình thức bạo hành của tôn giáo.”
(No one would be more zealous than myself
to establish effectual barriers against the horrors of spiritual tyranny,
and every species of religious persecution.” [George Washington,
letter to the United Baptist Churches of Virginia])
John Adams:
“Giáo lý về tư cách thần thánh của
Giê-su được tạo ra để che đậy cho sự vô nghĩa.”
(The doctrine of the divinity of Jesus is made a convenient cover for
absurdity.)
“Chính trong chính quyền của Adam mà
Thượng Viện đã thông qua Hiệp Ước về Hòa Bình và Thân Hữu trong đó đã ghi rõ
trong điều khoản XI rằng: “Chính phủ của Hoa Kỳ không được coi như là lập
trên nền tảng Ki Tô Giáo trong bất cứ ý nghĩa nào.”
(It was during Adam's administration that
the Senate ratified the Treaty of Peace and Friendship, which states in
Article XI that "the government of the United States of America is not in
any sense founded on the Christian religion.) Treaty of Tripoli, Article
11, signed by President Adams and ratified unanimously by the Senate in
1797
Thomas Jefferson:
“Tôi đã xem xét tất cả những tôn giáo thuộc loại mê tín trên thế giới và tôi không thấy trong Ki Tô Giáo đặc biệt mê tín của chúng ta một sắc thái cứu độ nào. Tất cả đều giống nhau, xây dựng trên những truyền kỳ và huyền thoại. Nhiều triệu người vô tội, nam, nữ, và trẻ con, từ khi có Ki Tô Giáo, đã bị thiêu sống, tra tấn, phạt vạ, và cầm tù. Hiệu quả của sự cưỡng ép này là gì? Làm cho nửa thế giới thành những kẻ điên rồ và nửa kia là những tên đạo đức giả, ủng hộ sự gian dối và sai lầm trên khắp thế giới.” (I have examined all the known superstitions of the world and I do not find in our particular superstition of Christianity one redeeming feature. They are all alike founded on fables and mythology. Millions of innocent men, women, and children, since the introduction of Christianity, have been burnt, tortured, fined, and imprisoned. What has been the effect of this coercion? To make one half the world fools and the other half hypocrites; to support roguery and error all over the earth.) “Ki Tô Giáo đã trở thành một hệ thống đồi trụy nhất chưa từng soi trên con người..” (Christianity...(has become) the most perverted system that ever shone on man... ) “Có ngày khi mà sự sinh ra huyền hoặc
của Giê-su, bởi một đấng tối cao là cha, và ở trong dạ con của một trinh nữ,
sẽ được xếp đồng hạng với huyền thoại sinh ra Minerva trong óc của
Jupiter..”
(The day will come when the mystical
generation of Jesus, by the supreme being as his father in the womb of a
virgin, will be classed with the fable of the generation of Minerva in the
brain of Jupiter.) [Thomas Jefferson (letter to J. Adams April 11,1823)]
James Madison: “Trong 15 thế kỷ sự thiết lập chính
thức của Ki Tô Giáo đã được thử thách. Những hoa trái của nó là gì?
Nhiều hay ít, ở khắp nơi, sự kiêu hãnh và lười biếng của giới giáo sĩ, sự
ngu dốt, quỵ lụy khúm núm của giới tín đồ; sự mê tín, cuồng tín và bạo hành
trong cả hai giới.”
(During almost fifteen centuries has the
legal establishment of Christianity been on trial. What have been its
fruits? More or less, in all places, pride and indolence in the clergy;
ignorance and servility in laity; in both, superstition, bigotry, and
persecution.) [James Madison, “Memorial and Remonstrance Against
Religious Assessments”, Section 7]
Abraham Lincoln:
“Cuốn Thánh Kinh không phải là cuốn sách
(mà tôi ưa chuộng), Ki Tô Giáo không phải là niềm tin của tôi.”
(The Bible is not my book, nor Christianity my profession.) [quoted by
Joseph Lewis]
“Khi những kẻ ngu dốt [Tin Lành]
nắm quyền, thì bản Tuyên Ngôn Độc Lập sẽ viết rằng: “Mọi người sinh ra đều
bình đẳng, trừ người da đen, người ngoại quốc, và tín đồ Ca-Tô.” Nếu là như
vậy thì tôi muốn di cư đến một nước nào đó mà người ta không giả bộ là tôn
trọng tự do – đến Nga chẳng hạn, mà ở đó sự độc tài là thuần khiết, không
đạo đức giả.”
(When the Know-Nothings get control, it
[the Declaration of Independence] will read: "All men are created equal
except negroes, foreigners and Catholics." When it comes to this I should
prefer emigrating to some country where they make no pretense of loving
liberty -- to Russia, for instance, where despotism can be taken pure, and
without the base alloy of hypocrisy.) [Abraham Lincoln, letter to
Joshua F Speed, August 24, 1855, from Albert J Menendez and Edd Doerr,
The Great Quotations on Religious Freedom]
Thomas Paine:
“Mỗi khi chúng ta đọc những chuyện tục
tĩu, những chuyện bại hoại về nhục nhục, những cuộc tra tấn và hành quyết
độc ác, những cuộc trả thù không nguôi, những chuyện chứa trong hơn nửa cuốn
Thánh Kinh, thì chúng ta phải gọi đó là những lời của một con quỷ thay vì là
lời của Thượng đế. Cuốn Thánh Kinh là lịch sử của sự độc ác đã được dùng để
bạo hành và đồi bại hóa nhân loại.”
"Whenever we read the obscene stories, the
voluptuous debaucheries, the cruel and torturous executions, the unrelenting
vindictiveness, with which more than half of the Bible is filled, it would
be more consistent that we call it the word of a demon than the word of
God. It is a history of wickedness that has served to corrupt and brutalize
mankind.
“Tân Ước dạy chúng ta điều gì? Dạy
chúng ta tin là Đấng Toàn Năng Toàn Trí phạm tội lăng nhăng bại hoại với một
người đàn bà đã hứa hôn; và niềm tin vào sự lăng nhăng bại hoại đó được gọi
là đức tin.”
"What is it the New Testament teaches us?
To believe that the Almighty committed debauchery with a woman engaged to be
married; and the belief of this debauchery is called faith."
Trên đây chỉ là vài trích dẫn điển hình của
các nhà lập quốc Hoa Kỳ nổi tiếng nhất. Vấn nạn lớn nhất của những người
Công Giáo như Nguyễn Anh Tuấn là chỉ tin vào vài điều vụn vặt trong Kinh
Thánh, hay những gì họ được bề trên nói về Thánh Kinh, mà không tự mình tìm
hiểu xem thật ra Kinh Thánh đã viết những gì.. Lẽ dĩ nhiên, họ chưa bao
biết ai là những người viết Kinh Thánh, chưa bao giờ đọc những tác phẩm
nghiên cứu về Kinh Thánh, phân tích Kinh Thánh từng câu từng chữ, và tuyệt
đối không bao giờ để ý đến tính cách nhất quán, một tính cách không thể
không có trong một cuốn sách có thể gọi là có phần nào giá trị. Tính cách
nhất quán này không hề có trong Kinh Thánh. Do đó, bất kể là họ tin như thế
nào, cuốn Kinh Thánh cũng chỉ là một sản phẩm hạ đẳng của thời bán khai vì
chứa rất nhiều điều độc ác, vô đạo đức, phi luân lý, phản khoa học, phi
lôgic, hoang đường v..v.. Chứng minh?
Chỉ cần mở cuốn Kinh Thánh ra và đọc với
một đầu óc chưa bị nhiễm độc Ki-tô [nghĩa là chưa bị nhồi sọ bởi Ki Tô
Giáo], chúng ta thấy ngay tất cả những điều trên đều nằm trong cuốn gọi là
Kinh Thánh. Nếu ngại công tìm kiếm những điều trên, có đầy trong Kinh thánh,
tôi xin giới thiệu một số tác phẩm trong đó các tác giả đã trích dẫn sẵn
những câu, những đoạn trong Kinh Thánh mà lẽ dĩ nhiên các tín đồ Ki Tô Giáo
không bao giờ được nghe giảng trong nhà thờ và không bao giờ có thể tin được
là đã được viết trong Kinh Thánh:
- “The X-Rated Bible: An Irreverent
Survey of Sex in the Scripture” của Ben Edward Akerley: cuốn sách dày
hơn 400 trang, liệt kê những chuyện tình dục dâm ô, loạn luân trong Kinh
Thánh.
- “All The Obscenities in the Bible”
của Kasmar Gene: cuốn sách dày hơn 500 trang, liệt kê tất cả những chuyện
tục tĩu, tàn bạo, giết người, loạn luân v..v.. (Human sacrifice, murder and
violence, hatred, sex, incest, child cruelty etc..) trong Kinh Thánh.
- “The Bible Handbook” của W. P. Ball,
G.W.Foote, John Bowden, Richard M. Smith et...: Liệt kê những mâu thuẫn
(contradictions), vô nghĩa (absurdities), bạo tàn (atrocities) v..v.. trong
Kinh Thánh.
- “The Born Again Skeptic’s Guide to the
Bible” của Ruth Hurmence Green: Bình luận những chuyện tàn bạo, dâm ô,
kỳ thị phái nữ trong Kinh Thánh.
- “One Hundred Contradictions in the
Bible” của Marshall J. Gauvin: Liệt kê 100 điều mâu thuẫn trong Kinh
Thánh.
- “The Bible Unmasked” của Joseph
Lewis: Lột mặt nạ Kinh Thánh, đưa ra những sai lầm trong Kinh Thánh.
- “Christianity Cross-Examined” của
William Floyd: Phân tích từng quyển một trong Kinh Thánh.
- “Christianity and Incest” của Annie
Imbens & Ineke Jonker: Viết về Ki Tô Giáo và vấn đề loạn luân, những sự
kiện về loạn luân và kỳ thị phái nữ bắt nguồn từ Kinh Thánh.
Lẽ dĩ nhiên, những tín đồ Công Giáo Việt
Nam không bao giờ biết đến những tác phẩm nghiên cứu Kinh Thánh về những
khía cạnh này, họ không được quyền đọc vì các “bề trên” đã cấm họ đọc, đọc
là mang tội với Chúa, cho nên họ không biết rằng ngay từ đầu thế kỷ 20, giới
lãnh đạo Ki Tô Giáo ở Mỹ đã hoang mang lo sợ vì phải đối diện với hai thực
tế.
Thứ nhất, “Các học giả Âu Châu đã phân
tích Kinh Thánh kỹ hơn bao giờ hết, và kết luận của họ là: Thánh Kinh không
phải là cuốn sách do Thượng đế mạc khải mà viết ra, như các Ki Tô hữu đã
tin, do đó không thể sai lầm. Thật ra, đó là, một hợp tuyển lộn xộn những
huyền thoại cổ xưa, truyền thuyết, lịch sử, luật lệ, triết lý, bài giảng
đạo, thi ca, chuyện giả tưởng, và một số ngụy tạo rất hiển nhiên.”
(European scholars were scrutinizing the Bible more closely than ever
before. They had concluded that it (the Bible) was not, as Christians had
long believed, a book dictated by God and therefore infallibly true. It
was, instead, a disorderly anthology of ancient myths, legends, history,
law, philosophy, sermons, poems, fiction, and some outright forgeries.).
Thứ nhì, chính là những tư tưởng trong
thuyết Tiến Hóa của Charles Darwin mà càng ngày càng được kiểm chứng chính
xác trong nhiều bộ môn khoa học, kể cả những bộ môn chưa có trong thời của
Darwin, đã bác bỏ hoàn toàn những huyền thoại về sáng tạo cũng như về vai
trò cứu rỗi của Giê-su bắt nguồn từ huyền thoại đó.
Đó là những hiểu biết của thời đại, nhưng
chẳng có ai ngăn cản các ông tin vào thuyết sáng tạo hay tin vào vai trò cứu
thế của Giê-su. Nhưng sự thật là sự thật, và trước tất cả những bằng chứng
rất hiển nhiên, tôi xin hỏi ông Tuấn: Cuốn Thánh Kinh của Ki Tô Giáo có một
giá trị nào đối với hơn 80 triệu người Việt Nam? Và những giá trị đó nằm ở
đâu trong Thánh Kinh, có nhất quán không hay đầy mâu thuẫn, và cuốn Thánh
Kinh đó có nên dùng để làm nền tảng đạo đức và chính trị cho Việt Nam hay
không? Phải chăng ông muốn đưa nước Việt Nam trở lại thời man rợ trí thức
của một dân tộc nhỏ nhoi ở vùng Trung Đông?
15- Nguyễn Anh Tuấn: Khi có
ai ngồi sôi kinh nấu sử, người đó sẽ kinh ngạc nhận ra rằng lịch sử nhân
loại từ 6000 năm qua, kể thừ thời Ađam, rồi Hồng Thuỷ, rồi sau đó là các đế
quốc, nhân loại chưa bao giờ thấy một bi lịch hãi hùng và vĩ đại như thứ bi
kịch CS ...
Lịch sử nhân loại không bắt đầu từ 6000 năm
trước mà có thể là cả triệu năm, hay ít ra cũng là vài trăm ngàn năm. Những
chuyện về Adam và Hồng Thủy chỉ là những chuyện hoang đường trong Cựu Ước
như tuyệt đại đa số các học giả nghiên cứu Thánh Kinh và lịch sử nhân loại
đã khẳng định. Không ai cấm ông tin vào những chuyện đó, nhưng trong một
bản văn như bản “Đề Nghị..” thì không nên đưa vào những niềm tin vô căn cứ
mà hầu như cả thế giới ngày nay đã bác bỏ. Cái bi kịch CS chỉ mới kéo dài
chưa đầy 100 năm. Còn cái bi kịch sủa Công Giáo nói riêng, Ki Tô Giáo nói
chung, thì đã kéo dài ít ra là trên 16 thế kỷ. Ông không đọc lịch sử về các
cuộc thánh chiến, các tòa án xử dị giáo, các cuộc săn lùng phù thủy, các
cuộc chinh phục nước nhỏ, các cuộc tàn sát dân địa phương, dân da đỏ v..v..
và không thấy những hình cụ tra tấn khủng khiếp của Công Giáo, khoảng 40
cái, hiện được trưng bày ở San Francisco và Amsterdam, ông chỉ biết đến cái
ác của Cộng Sản mà không biết rằng cái ác của CS đối với nhân loại không
đáng là học trò về những cái ác của Công Giáo. Hiện nay CS lép vế nên tha
hồ các ông tố Cộng, nhưng các ông chưa bao giờ thử sờ lên gáy xem xa hay
gần.
16- Nguyễn Anh Tuấn:
Giá trị của Tôn Giáo là đưa cuộc sống của con người đến với đạo lý, đến với
chân lý và đến sự sống sâu thẳm và thiêng liêng như Đấng Cứu Thế đã phán với
con người. Còn Chính Trị thì có trách nhiệm đem đạo lý, đem chân lý và đem
sự sống đến cho đời sống chính trị, xã hội, văn hoá và kinh tế của quốc gia.
Đó là tất cả những giá trị mà những con người thời đại và thế hệ này cần làm
sang tỏ.
Những sáo ngữ của ông Tuấn như trên về Đấng
Cứu Thế của ông ấy thật là vô giá trị đối với những người đã đọc kỹ Tân ước
và đã biết về những tác phẩm nghiên cứu về Giê-su trong vòng 200 năm nay của
các học giả Tây phương. Ngay cả Giám mục John Shelby Spong cũng đã đề nghị
phải dẹp bỏ vai trò Cứu Thế của Giê-su, vì chính bản thân Giê-su cũng chẳng
có đạo lý gì, như được viết rõ trong Tân Ước, khoan nói đến chuyện chân lý.
Giê-su không phán với con người, chỉ phán với một số nhỏ ở vùng đất Do Thái
khi xưa. Và như nhiều học giả đã phanh phui, tất cả những điều Giê-su phán
đều là đi cóp nhặt của dân gian, chẳng có cái gì là đặc thù của ông ta cả.
Tại sao các ông không chịu khó mở Tân Ước ra mà đọc cho kỹ, chỉ cứ nhắc lại
như con vẹt những điều vô nghĩa đã nhồi vào óc mình.
Trong 12 vấn nạn ông Tuấn đặt ra dưới dạng
những câu hỏi chẳng qua chỉ là cái nhìn xã hội Việt Nam qua một lăng kính
nhỏ hẹp và chủ quan, không phản ánh sự thật. Tại sao ông cho rằng có sự
trầm luân của dân tộc Việt, trầm luân theo nghĩa nào? Việt Nam thật sự có
quốc nạn và quốc nhục hay không? Tùy theo quan điểm, tham nhũng mà nước nào
cũng có, tùy theo mức độ, có thể coi là một quốc nạn trong khi đó chỉ là sự
suy thoái đạo đức của một số người có quyền trước cơn sốt của kinh tế thị
trường và bả vật chất. Còn quốc nhục? Thế nào là quốc nhục? Một quốc gia
đã từng làm cho cả thế giới kính nể trong 2 cuộc chiến ở Đông Dương thì đó
là một niềm vinh hạnh lớn lao. Những tệ đoan trong xã hội mà ở đâu cũng có,
nhất là Mỹ, không thể gọi là quốc nhục, và chẳng có ai quy trách những tệ
đoan đó cho chính quyền. Các ông biết đó, nước Mỹ giật giải quán quân về
các tội ác trong xã hội, nhưng có ai bảo đó là lỗi của chính quyền. Những
căn bệnh trầm kha của xã hội Việt Nam là gì? Sao không vạch rõ ra cho mọi
người góp ý? Nguồn gốc của đói nghèo và lạc hậu? Đó là cái nhìn của ai?
Và những gì là bế tắc của lịch sử cần khai thông. Chỉ viết vu vơ như vậy
thì có ích gì? Muốn nâng cao dân trí? Có cách nào hơn là cho người dân
biết rõ về lịch sử thế giới, kể cả lịch sử các tôn giáo? Tại sao Công Giáo
không muốn các thông tin về lịch sử Công Giáo được phổ biến tại Việt Nam..
Tại sao Công Giáo lại sợ sự thật? Mấy ông ngồi ở nước ngoài, tưởng tượng xã
hội Việt Nam qua cái tâm hận thù, cho rằng cái gì ở Việt Nam cũng xấu, cho
rằng hơn 80 triệu người dân đang sống trong đói khổ, dưới sự kìm kẹp của
CS. Các ông không về mà quan sát xem người dân ngày nay sống như thế nào,
đất nước đã thay đổi ra sao, và tại sao mấy ông Giám mục, Linh mục lại có
thể tự do xuất ngoại để thực hiện “mục vụ xin tiền”.
Tôi nghĩ phê bình giáo dục như trên kể ra
cũng đã tạm đủ vì tôi không muốn phí thêm thì giờ để phê bình một bản văn
quá thấp kém về hiểu biết.
Về ông Chu Tấn cũng chẳng có gì khá hơn, chẳng
qua chỉ lập lại một số lý luận để trả đũa ông Trần Vinh, kèm theo vào đó vài
câu mạt sát mạ lỵ và chụp mũ ông Trần Vinh, thí dụ như:
- Toàn bài viết hoàn toàn lạc đề, sai lầm
từ đầu tới cuối. Không những lạc đề, hiểu sai, mà tác giả còn mắc bệnh chủ
quan suy diễn theo ý mình, tác giả dửng dưng với thực tại đau khổ
của 82 triệu đồng bào trong nước và còn có ý bao che cho tội ác của
CSVN.
- Cuối cùng đến phần kết luận tác giả lại
phạm vào lỗi rất nặng là đưa ra những khẳng quyết vô bằng để từ đó đi đến
thái độ chê bai miệt thị, kết tội ông Nguyễn Anh Tuấn một cách bất công .
Tác giả không ngửng lại tại đây mà còn đi đến hậu ý hoàn toàn phủ nhận chủ
đề Tôn Giáo và Chính trị, hoài nghi khinh bỉ luôn cả nhóm chủ trương vận
động Hoà Đồng Tôn Giáo và Dân Tộc, chỉ vì cái tiểu tâm tiểu trí, tỵ hiềm tôn
giáo, đồng thời bộc lộ rõ cái bản tâm xấu xa ác độc của mình.
- Ông TV phóng bút viết bửa như vây có
phải ông đã “Đem bụng tiểu nhân để đo lòng người quân tử” hay không?
- Rõ ràng là TV tỏ ra có biệt tài “Tráo
bài ba lá” để đánh lừa bạn đọc. TV đã “treo dầu dê” rồi bán thịt
chó- có- tẩm- chất- độc- Made in Viet Nam CS hay made in China thì liều
lượng độc dược cũng không kém gì nhau.
Những đoạn văn trên cho chúng ta thấy Chu
Tấn thuộc hạng người nào, có đáng để ai quan tâm hay không? Ngoài ra, để
bênh vực ông Tuấn, ông Chu Tấn còn gom vào hàng ngũ những người hữu thần sau
đây, có đáng để chúng ta phê bình hay không:
2- Tin Tưởng vào Thiêng liêng, Tôn giáo, nhưng
không theo chủ trương Thần Quyền (tín đố Phật Giáo)
3- Tin tưởng vào Thiêng liêng, Đạo Tự Nhiên,
không chủ trương tôn giáo có tổ chức (Lão giáo, Krishnamurti.)
4- Tin tưởng vào thiêng liêng là Lý Thái Cực
hay Thiên Lý (Kinh Dịch và Đạo Khổng-Phần Hình Nhi Thượng)
II.- Một Bài Học Giáo Khoa Nho Nhỏ Cho
Nguyễn Anh Tuấn Và Chu Tấn Về Marx, Vô
Thần Và Hữu Thần:
Sau cùng, vì ông Nguyễn Anh Tuấn có phê
bình về Marx và chê ông Trần Vinh là chẳng hiểu rõ được hữu thần và vô
thần là gì, trong khi chính ông Tuấn và ông Chu Tấn cũng chẳng hiểu thế
nào là hữu thần hay vô thần. Vậy thì, sau đây là một bài học sơ đẳng nhất
về Marx, về hữu thần, và vô thần.
Trước hết, trong bản “Đề Nghị …” của ông
Nguyễn Anh Tuấn tôi kiếm được 2 chỗ ông ấy viết về CS vô thần: những kẻ
vô thần CS, chủ nghĩa CS vô thần. Còn 6 chỗ khác, ông ấy viết
trống không, không có chữ CS: những kẻ vô thần hoặc bọn người vô
thần, trong đó có 3 chỗ kèm theo những cụm từ như: phi và ngụy dân
tộc, vô đạo và vô minh đang dầy xéo lên dân tộc và quê hương,
đã mất hết ý thức đạo đức và tình người. Ông Chu Tấn bênh vực ông
Nguyễn Anh Tuấn và giải thích, những cụm từ này ám chỉ CS. Nhưng có thật
là CS đúng như ông Nguyễn Anh Tuấn viết như trên không? Có điều chắc là
Công Giáo đã từng nổi tiếng là “hễ đã phi dân tộc thì thể nào cũng phản
bội dân tộc” và lịch sử Việt Nam đã chứng minh như vậy. Và phải chăng
chỉ có CS là đã mất hết ý thức đạo đức và tình người? Vơ đũa cả nắm
như vậy thì có một giá trị trí thức nào không?
1. Về Marx:
Nguyễn Anh Tuấn:
Marx không phải là người cha khai sinh ra chủ nghĩa Duy Vật vô thần. Ông
ta chỉ là một tên học trò khờ khạo, và đã quá dễ tin vào các triết gia
và tư tưởng của thời Phục hưng và thời Ánh Sáng, cũng như cách mạng Pháp mà
thôi.
Đây là lời lẽ của một con ếch ngồi dưới
đáy giếng, mà lại là đáy giếng của cái xưởng chế tạo ra những trí thức Công
Giáo như Nguyễn Anh Tuấn. Thật vậy:
Vị trí của Marx trong số những tư tưởng gia
vĩ đại của thế giới là như thế nào?. 1. “Theo kết quả thăm dò ý kiến
thính giả đài BBC Radio 4 trong tháng 7, 2005 thì, trong số 20 tư tưởng gia
được biết đến, kính trọng, và có ảnh hưởng nhiều nhất, Marx lại được coi như
là một triết gia vĩ đại nhất của mọi thời đại”??. [BBC Press
Release: 13-7-2005: Out of a shortlist of twenty of the best known, most
respected and influential philosophical thinkers, nominated by the
In Our Time audience, Karl Marx has been voted the
Greatest Philosopher of all time by BBC Radio 4 listeners.] Theo bảng
kết quả thì David Hume, một nhà nhân bản, xếp hạng 2, Nietzshe hạng 4, Kant
hạng 6, và thánh Aquinas của Ki-tô Giáo hạng 7. 2. “Kết quả chọn vĩ nhân
của Đức Quốc, với con số tham dự trên 5 triệu người, Karl Marx đứng hàng thứ
3 trong 100 ứng viên, Albert Einstein đứng hàng thứ 10 (
www.unserebesten.zdf.de).
Lạ nhỉ, cả thế giới trí thức này mù và ngu cả hay sao mà không
nhìn và đánh giá Marx như nhà trí thức Công giáo Nguyễn Anh Tuấn, một
người từng dùi mài kinh sử về chính trị học và tôn giáo hơn 20 năm qua,
nhưng chỉ có thể thu thập được một kiến thức nửa mùa, dỏm, ăn đong?
Mặt khác, khi Marx đưa ra nhận định “Tôn
giáo là thuốc phiện của quần chúng” thì Marx đã nói lên một sự kiện.
Người ta thường hiểu lầm và thường xuyên tạc lời nói trên của Marx, cho rằng
Marx muốn nói đến mọi tôn giáo trên thế giới. Thực ra, Marx chỉ muốn nói đến
Ki Tô Giáo, một tôn giáo mà Marx đã biết rõ vì Marx sinh ra trong truyền
thống tôn giáo này. Thật vậy, chúng ta cần biết đến định nghĩa về tôn
giáo của Tây phương. Theo tự điển The American Heritage Dictinonary của Mỹ
thì định nghĩa của Tôn Giáo là: “Niềm tin và sự kính ngưỡng vào một
quyền năng siêu nhiên được biết như là một đấng sáng tạo và cai quản vũ trụ”
(Religion = Belief in and reverence for a supernatural power recongnized as
the creator and governor of the universe). Lẽ dĩ nhiên, các tôn giáo Đông
phương như Phật Giáo, Lão Giáo, Khổng Giáo đều không nằm trong định nghĩa
này. Mặt khác, không có bằng chứng nào chứng tỏ Marx đã nghiên cứu hay hiểu
biết về các tôn giáo Đông phương trên. Chúng ta sẽ làm sáng tỏ vấn đế này
trong một phần sau, khi nói về tác phẩm nghiên cứu của Linh Mục Murray.
2. Về “Hữu Thần”, “Vô Thần”
và Đặc Biệt Về “Hữu Thần Việt Nam” và “Vô Thần Việt Nam”:
Giữa thế kỷ 18, nhà Đại Văn Hào Pháp
Voltaire đã nhận định: “vô thần là thói xấu của một số ít những người
thông minh” (Atheism is the vice of a few intelligent people) để đối
chiếu với số đông những người “hữu thần” ngu dốt tin nhảm tin nhí vào một
thần trong thời đó ở Âu Châu, tuyệt đại đa số là tín đồ Ki-Tô Giáo.
Nhưng có vẻ như đám người ngu dốt này,
không chỉ giới hạn ở Âu Châu, không tiến bộ được chút nào trải qua đã vài
thế kỷ, cho nên chúng ta vẫn thấy họ dùng những từ như “Cộng sản vô thần”
tràn ngập trên Internet, hàm ý “vô thần” là một cái gì xấu xa, vì không chịu
tin nhảm tin nhí vào vào thần của họ. Thật là tội nghiệp, họ có biết đâu
“vô thần” là biểu hiện của tự hào, của danh dự, của sự tiến bộ trí thức,
và “vô thần” đã có trong suốt giòng lịch sử của nhân loại, trong khi Cộng
Sản mới chỉ thành hình vào đầu thế kỷ 20. Tại sao họ lại kém hiểu biết và mù
quáng đến độ như vậy? Vì họ đã bị những tôn giáo độc thần làm tê liệt
đầu óc, khiến cho họ suốt đời phải bám víu vào một vị thần tưởng tượng do
tôn giáo đó bày đặt ra, như bám víu vào một cặp nạng để lê lết trên
trường đời. Họ được dạy vô thần là chống thần của họ, cho nên với bất
cứ giá nào, họ phải chống những người “vô thần” để duy trì cặp nạng của họ,
do đó trước đây đã có một linh mục Việt Nam hãnh diện khoe rằng cây thập
giá, tượng trưng cho thần của họ, đã thắng AK 47 của Cộng Sản, không biết
rằng như vậy, thần của họ chỉ tương đương với một khẩu súng tiểu liên..
Kết hợp Vô Thần với Cộng Sản là một thủ
đoạn tuyên truyền xuyên tạc xảo quyệt mà Ki Tô Giáo nói chung, đặc biệt là
Công Giáo La Mã, dùng để gây hận thù tôn giáo, mê hoặc đám tín đồ thấp kém
mê tín và cuồng tín, trong sách lược chống Cộng trước đây, và được các tín
đồ ngu ngơ tiếp tục thi hành ngày nay ở một vài ốc đảo. Tại sao Công giáo
lại chống Cộng một cách điên cuồng bất kể thủ đoạn như vậy? Thật là dễ
hiểu, vì lý thuyết của Marx đã vạch trần bộ mặt thật của Ki Tô Giáo, kết quả
là đưa Ki Tô Giáo vào con đường suy thoái không có cách nào cứu vãn. Hiện
tượng này thật là rõ rệt, không những chỉ ở Âu Châu, cái nôi của Ki Tô Giáo,
mà còn ở khắp nơi trên thế giới, kể cả Bắc Mỹ. Học giả Công giáo Joseph L.
Daleiden đã viết trong cuốn Sự Mê Tín Cuối Cùng (The Final
Superstition, Prometheus Books, New York, 1994): “Căn nguyên sự thù ghét
của giáo hội Công giáo đối với Cộng Sản là giáo hội ý thức được rằng Cộng
Sản, về ảnh hưởng, là một địch thủ tôn giáo.” (The root of the
(Catholic) Church’s antipathy toward Communism is its realization that
Communism is, in effect, a rival religion).
Theo định nghĩa, Vô thần có nghĩa là
không tin, từ chối, không chấp nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa (Atheism
= Disbelief in or denial of the existence of God). Thiên Chúa ở đây phải
hiểu là Thiên Chúa của Ki Tô Giáo. Vô thần không có nghĩa là chống Thiên
Chúa, vì chống một cái không hiện hữu là một chuyện vô ích. Nói cho đúng
ra, Vô Thần, nếu có chống, là chống sự mê tín của con người vào một Thiên
Chúa do chính con người bày đặt ra.
Do đó, bất cứ người nào có đôi chút kiến thức cũng phải hiểu rằng:
CS là một hệ thống chính trị xã hội – kinh tế (Communism is a
socio-economic political system) trong khi Vô Thần là một lập trường đối
với các thần giáo, đặc biệt là tôn giáo Tây phương [Ki Tô Giáo] (Atheism
is a position taken in respect to religion, especially Western religion.),
và Vô Thần đã có từ trên 2000 năm nay, trong khi Cộng sản mới chỉ ra đời
cách đây trên 100 năm.
Vô Thần là kết quả tiến bộ trí thức của con
người, như Frank E. Tate đã tuyên bố như sau:
“Suốt cuộc đời tôi, tôi đã tiến bộ từ
một người sùng tín đến một người theo thuyết “bất khả tri” và bây giờ là
một người vô thần. Tôi dùng từ “tiến bộ” vì tôi tin rằng đó thực sự
là một sự tiến bộ, tiến từ sự chấp nhận mù quáng vào một huyền thoại phi lý
đã lỗi thời đến sự nghi ngờ và sau cùng đến sự từ bỏ và không còn tin nữa.
Chính cái huyền thoại đó – cuốn Thánh
kinh Do Thái – Ki Tô – là một cuốn ghi chép kinh hoàng về những cuộc đổ máu,
dâm dật, và cuồng tín không đếm xỉa gì đến đời sống và sự an sinh của những
người nào không bày tỏ niềm tin mù quáng của mình vào những giới luật được
trình bày qua những lời lẽ mâu thuẫn và không thể nào xảy ra được”
(During my lifetime I have progressed from
being a “believer,” to being an agnostic and now an atheist. I use the word
“progress” because I believe it to be true progress to go from blind
acceptance of an outdated illogical mythology to doubt and finally to denial
and disbelief...
The myth itself – the Judeo-Christian Bible
– is a shocking account of bloodshed, lust, and bigoted disregard for the
lives and well-being of all peoples who do not profess a blind belief in the
precepts presented in such impossible and contradictory terms.)
Sau đây chúng ta hãy tìm hiểu “vô thần” có
từ bao giờ và những người vô thần trên thế giới là ai? Trước hết là Đức
Phật, Đức Khổng Tử, Lão Tử ở Đông Phương trong thế kỷ 6 trước thường lịch.
Cùng thời với 3 nhân vật vĩ đại của nhân loại trên, chúng ta thấy Simonides,
một thi sĩ Hi Lạp. Rồi sau đó là Empedocles, Aristotle, triết gia Hi Lạp;
Demosthenes, nhà hùng biện thành Athenes; Epicurus, triết gia Hi Lạp;
Lucretius, triết gia La Mã; Statius, Thi sĩ La Mã. Tất cả những nhân vật
có tên trong lịch sử trên đều sinh ra trước Giê-su, không biết đến Giê-su,
và tất nhiên không tin Giê-su. Nhưng theo Tân Ước thì họ đều đáng bị
đầy hỏa ngục, vì chính Giáo hoàng John Paul II, trong cuốn Bước Qua
Ngưỡng Cửa Hy Vọng, đã trích dẫn một câu trong Phúc Âm: John 3:16, để
trả lời câu hỏi “Tại sao nhân loại cần đến sự cứu rỗi của Giê-su?”:
“Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban con một duy nhất của Ngài để
những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt nhưng có cuộc sống đời đời.”
Và trong câu tiếp theo, John 3: 18, chúng ta có thể đọc: “Người nào
không tin vào Giê-su thì đã bị đầy đọa rồi, vì người đó không tin vào đứa
con duy nhất của Thượng đế.” Đây là những câu mà theo tôi, ngu xuẩn và
bậy bạ nhất trong Tân Ước vì những câu này chỉ có thể áp dụng cho những
người sinh sau Giê-su mà thôi. Ai không đồng ý xin mời lên tiếng. Lịch sử
loài người đâu chỉ bắt đầu từ khi Giê-su 30 tuổi. Ấy thế mà vẫn có vô số
người tin vào những cái câu nhảm nhí này.
Bây giờ chúng ta hãy kể vài nhân vật “hữu
thần” nổi danh trên thế giới. Hiển nhiên các giáo hoàng, hồng y, tổng giám
mục, linh mục là những người “hữu thần” bậc nhất. Mở danh sách các giáo
hoàng ra chúng ta thấy có bao nhiêu giáo hoàng nổi tiếng trên thế giới,
thuộc loại “lưu danh muôn thuở” hay “lưu xú vạn niên”.? Lloyd M. Graham đã
viết trong cuốn Những Dối Trá và Huyền Thoại Của Thánh Kinh
(Deceptions and Myths of the Bible): “Đối với hàng triệu linh hồn bị lạc
dẫn...một ngàn năm tội ác và đồi bại (của giáo hội Công giáo) được
làm nhẹ đi qua lời giải thích hời hợt là “chỉ có vài giáo hoàng xấu”. Nếu
những người giải thích như vậy mà lương thiện, họ phải thừa nhận rằng thật
ra chỉ có vài giáo hoàng tốt” (For millions of misguided souls..., a
thousand years of crime and corruption are glossed over with the statement,
“There were a few bad popes.” Were their informers honest they would admid
there were a few good). Sau đây là một thí dụ điển hình: Edward Gibbon
(1737-1794), một Sử gia người Anh đã viết: “Những tội nghiêm trọng nhất
đã bị dẹp bỏ, Người đại diện của Chúa Ki Tô (Giáo hoàng John XXIII,
1414) chỉ bị kết tội là ăn cướp, sát nhân, hãm hiếp, giao hợp đồng giống,
và loạn luân (The most serious charges were suppressed; the Vicar of
Christ (Pope John XXIII, 1414) was accused only of piracy, murder, rape,
sodomy, and incest.) Một số chi tiết về các giáo hoàng đồi bại này đã được
trình bày trong bài “Đây! Các Đức Thánh Cha” của Trần Chung Ngọc trên
giaodiemonline.com và sachhiem.net. Ngoài ra chúng ta còn phải kể Hitler,
Mussolini, Franco, Pétain, MacCarthy, Von Papen, Himmler, Goebbels, Palevich
v..v.., tất cả đều là những người “hữu thần”. Nhưng tội ác của họ đối với
nhân loại ra sao? Công Giáo “hữu thần”, nhưng Công Giáo đã gây nên bao
nhiêu thảm trạng cho nhân loại?
Riêng về Việt Nam thì những ai là “vô thần” theo nghĩa không biết đến,
không tin, không công nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa của Ki Tô Giáo? Hai
Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Quốc sư Vạn Hạnh, Lý Thường Kiệt, Trần
Bình Trọng, Lý Thái Tổ, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Lê Lợi, Nguyễn Huệ,
Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Phan Đình Phùng, Đinh Công Tráng, Hồ Chí
Minh v...v... Những bậc tiền nhân này đã làm gì cho nước Việt nếu không
phải là có công đánh đuổi xâm lăng, bảo toàn chủ quyền, nền độc lập quốc
gia, hoặc làm rạng danh nền văn hóa Việt Nam? Còn những kẻ “hữu thần” là
ai? Pétrus Ký, Nguyễn Trường Tộ, Paulus Của, Trần Bá Lộc, Nguyễn Thân, Trần
Lục, Ngô Đình Khả, Nguyễn Bá Tòng, Lê Hữu Từ v..v.. Họ là ai? Toàn là Việt
gian bán nước, theo giặc chống lại tổ quốc, hoặc cuồng tín, nô lệ Vatican
như Ngô Đình Diệm?
Ai có thể phủ nhận
hay biện minh cho sự kiện bán nước của Công Giáo qua văn kiện có tính cách
khẳng định sau đây của chính Giám mục Puginier, được trích dẫn trong cuốn
Catholicisme et Sociétes Asiatiques của Alain Forrest và Yoshiharu
Tsuboi:
"Giám Mục Puginier viết rằng: "Không có các thừa sai và giáo dân
Ki Tô Giáo thì người Pháp cũng giống như những con cua đã bị bẻ gẫy hết
càng. Thí dụ như vậy, tuy tầm thường mộc mạc nhưng không kém phần chính
xác và mạnh mẽ. Thật vậy, không có các thừa sai và giáo dân Ki Tô Giáo,
người Pháp sẽ bị bao vây bởi toàn là kẻ thù; họ sẽ không thể tin cậy vào một
ai; họ sẽ chỉ nhận được những tin tức tình báo sai lầm, cung cấp với ác
ý để phá hoại tình thế của họ; họ sẽ bị đẩy vào tình trạng không thể hoạt
động được gì và sẽ phải hứng chịu những thảm họa thực sự một cách nhanh
chóng. Địa vị của họ ở đây sẽ không giữ nổi được nữa, và họ sẽ bị buộc
phải rời khỏi xứ, nơi đây quyền lợi và ngay cả sự hiện diện của họ sẽ bị
nguy hại."
(Sans les missionnaires et les chrétiens, écrit Mgr. Puginier, les
Francais seraient comme les crabes auxquels on aurait cassé toutes les
pattes. La comparaison, pour être triviale, ne manque pas de justesse et de
force. En effet, sans les missionnnaires et les chrétiens, les Francais se
verraient entourés d'ennemis; ils ne pouraient se fier à personne; ils ne
recevraient que de faux renseignements, méchamment donnés pour compromettre
leur situation; ils se trouveraient donc réduits à l'impossibilité d'agir et
seraient rapidement exposés à des vrais désastres. Leur position ici ne
serait plus tenable, et ils ne verraient forcés de quitter un pays où leurs
intérêts et leur existence même serait compromis.)
Ai có thể phủ nhận hay biện minh cho hành động bán nước của linh
mục Trần Lục, người dẫn 5000 giáo dân đi tiếp tay, hỗ trợ quân đội Pháp để
hạ trung tâm kháng chiến Ba Đình của Đinh Công Tráng?
Ai có thể phủ nhận hay biện minh cho sự kiện là giám mục Lê Hữu Từ
đã theo lệnh chống Cộng của giáo hoàng Pius XII, nhận vũ khí của Pháp khi
Pháp trở lại Việt Nam, tổ chức những “khu tự trị” (sic) Phát Diệm, Bùi Chu
để giết dân ngoại đạo vô tội, đi cướp phá các làng “lương”” dưới chiêu bài
chống Cộng sản Vô Thần.
Vậy thì giữa “vô thần” cứu nước và làm
rạng danh nước, và “hữu thần” nô lệ ngoại bang, phản bội quốc gia, người
dân Việt nên chọn thứ nào? 93% dân Việt đã chọn “vô thần”, còn 7% chọn “hữu
thần”. Viết như trên không có nghĩa là tất cả 7% người dân Việt theo Công
giáo đều là những người bán nước, phản bội quốc gia. Phần lớn họ là nạn
nhân của một nền thần học ru ngủ xảo quyệt, không đủ trí tuệ để nhận ra bộ
mặt thật của tôn giáo họ, ham hố một sự “cứu rỗi” không tưởng, tin theo luận
điệu bịp bợm của giáo hội như giáo hoàng là đại diện của Chúa trên trần,
“Cha cũng như Chúa” có quyền tha tội hay cầm giữ tội của họ v..v.., cho nên
đã nhắm mắt theo lệnh của những linh mục đầy tớ của Vatican mà không ý thức
được những hành động phản quốc của mình. Họ đáng thương hơn là đáng trách.
Nhưng chính điều này đã chứng tỏ rằng “hữu thần” hoàn toàn không có gì có
thể gọi là đạo đức hơn hay tốt đẹp hơn “vô thần” nếu không muốn nói là còn
kém xa.
Và tới đây chúng ta đã có thể trả lời cho
câu hỏi của ông Nguyễn Anh Tuấn về công cuộc giải phóng đất nước của Cộng
Sản: ”Chúng tôi có công giải phóng đất nước.” Giải phóng ư? Giải phóng
cái gì? Nếu không biết Cộng sản giải phóng cái gì thì đừng nên đặt câu
hỏi. Trong khi một đống tài liệu trên đã chứng tỏ Công Giáo đã tiếp tay
mang ách thực dân đô hộ tròng trên đầu trên cổ người dân Việt Nam gần 100
năm để thủ lợi tôn giáo riêng thì Cộng Sản đã có công cất bỏ được cái ách đó
cho người Việt Nam. Đó không gọi là giải phóng thì là cái gì. Người Công
Giáo không chấp nhận đó là giải phóng đất nước vì họ không muốn được giải
phóng khỏi một thần quyền đang dè nặng trên đầu họ, đó là quyền của họ.
Nhưng đối với tuyệt đại đa số người dân Việt Nam thì đó là thêm một trang sử
oai hùng chống ngoại xâm của đất nước. Vầy thì, Ai công? Ai tội? Chỉ đáng
buồn là Cộng sản không thể giải phóng những con người Công Giáo ra khỏi ách
nô lệ Vatican, chuyện này chỉ có người Công Giáo tự làm được mà thôi, nếu họ
muốn, như hàng triệu người trên thế giới đã làm.
Những người Ki Tô Giáo thường được tẩy não,
nhồi sọ từ nhỏ là những người không tin vào Thiên Chúa của họ là “vô thần”,
và vô thần có nghĩa là vô đạo đức của Ki Tô Giáo, nếu Ki Tô Giáo có cái
thực sự gọi là đạo đức, và do đó có thể làm tất cả những điều ác vì
không còn sợ Thiên Chúa của họ, nếu thực sự có một Thiên Chúa. Nhưng
nếu chúng ta đọc lịch sử giới hữu thần và so với giới vô thần, chúng ta sẽ
thấy rằng đạo đức của giới hữu thần thực sự thua xa đạo đức của giới vô
thần. Lịch sử Ki Tô Giáo đã chứng tỏ như vậy. Tại sao? Bởi vì Ki Tô Giáo
tin vào cuốn Thánh Kinh của họ, và trong Thánh Kinh, những điều luân lý đạo
đức chỉ chiếm một phần rất nhỏ so với những phần vô đạo đức, phi luân.
Đối với giới “Chống Cộng Cho Chúa” [CCCC]
thì hai chữ “vô thần” hầu như bao giờ cũng đi liền với hai chữ “Cộng sản”
trong những bản văn chống Cộng ở hải ngoại, và ngay cả ở trong nước, trong
khi họ thực sự không hiểu thế nào là “Cộng sản vô thần”, nghĩa là không hiểu
“vô thần” của Cộng Sản là như thế nào..
Thực tế lịch sử là, như chúng ta đã biết,
đã có thời hầu hết các nước theo Ki Tô Giáo “hữu thần” ở Âu Châu đều chịu
ảnh hưởng không ít thì nhiều của “Cộng Sản vô thần”: Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung
Gia Lợi, Ý, Nam Tư , Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Bỉ, Đan Mạch, một
phần nước Đức, và ngay cả trưởng nữ của giáo hội Công giáo: nước Pháp.
Ki Tô Giáo thường chụp mũ Cộng sản lên đầu
tất cả những ai lên tiếng chỉ trích, chống đối, hay bất đồng ý kiến với tôn
giáo của họ. Chúng ta hãy đọc một đoạn trong bài thuyết trình của Emmett F.
Fields trong Nhà Thờ Thomas Jefferson Unitarian ở Louisville, Kentucky, ngày
19 tháng 10, 1980:
Những người Ki-Tô luôn luôn dùng Cộng
sản như là một cái đòn để vùi đập mọi sự chống đối tôn giáo, quyền lực và
những mưu đồ của họ. Bất cứ người nào không đồng ý với họ, vô thần hay
không, đều bị tố cáo là Cộng sản. [Điều này thật rõ ràng nhất
trong những trang nhà chống Cộng rẻ tiền của người Việt hải ngoại] Ki
Tô Giáo hàm ý là có một sự liên hệ không thể tách rời giữa sự độc tài về
chính trị - kinh tế của Cộng sản, và sự tự do ra khỏi sự độc tài của tôn
giáo gọi là chủ nghĩa vô thần. Ki Tô Giáo cố tình không biết đến là chủ
nghĩa vô thần thì lâu đời hơn là Ki Tô Giáo và Cộng sản gộp lại với nhau.
(Christians are constantly using Communism
as a club to beat down all opposition to their religion, their power and
their schemes. Anyone who disagrees with them, Atheist or not, is denounced
as being a "Communist." Religion implies that there is an inseparable
connection between the political-economic dictatorship called Communism, and
the freedom from religion called Atheism. Religion chooses to ignore the
fact that Atheism is older than Communism and Christianity put together.)
Có thể những người thờ thần, hay thờ Chúa
cũng vậy, muốn biết là một người vô thần có những cảm nghĩ gì? Tôi xin mượn
vài tư tưởng của Robert G. Ingersoll. Ingersoll là một nhà tư tưởng tự do
nổi tiếng nhất của Mỹ. Tên ông ta có trong lịch sử, trong tự điển. Những tư
tưởng của ông đều có trong các thư viện lớn. Tượng đài tưởng niệm ghi công
ông khai phóng đầu óc giới trẻ được xây ở Peoria, bang Illinois. Ingersoll
phát biểu như sau về cảm nghĩ của một người vô thần. Tôi chỉ xin nêu ra vài
tư tưởng trong đó:
“Khi tôi tin chắc rằng Vũ trụ là thiên
nhiên – và rằng những thánh ma, thiên chúa chỉ là những huyền thoại,
thì những cảm nghĩ, nhận thức, và niềm hân hoan về sự tự do, giải thoát đã
xâm nhập vào đầu óc tôi, vào linh hồn tôi, và vào từng giọt máu trong người
tôi. Những bức tường của cái nhà tù của tôi [Ki Tô Giáo] đã
sụp đổ, ngục tù tăm tối đã được tràn ngập ánh sáng, và tất cả những then
cửa, chấn song, gông cùm đã trở thành cát bụi. Tôi không còn
là một tôi tớ hèn mọn, một người hầu, hay một nô lệ nữa (Người Ki Tô
Giáo vẫn thường tự nhận là tôi tớ, tỳ nữ hèn hạ, hầu việc Chúa v..v.. )
Tôi đã tự do:
- tự do suy tư, phát biểu tư tưởng
- tự do sống theo ý tưởng của tôi
- tự do tận dụng mọi khả năng, mọi giác
quan của tôi
- tự do tìm hiểu
- tự do vứt bỏ mọi tín điều ngu đần và
độc ác, mọi sách “mạc khải” mà những người dã man đã tạo ra chúng và mọi
truyền thuyết man rợ của quá khứ
- tự do thoát khỏi những giáo hoàng và
linh mục
- tự do thoát khỏi những sai lầm được
thánh hóa và những lời nói láo mang tính thánh
- tự do thoát khỏi sự sợ hãi về một sự đau
đớn vĩnh hằng (đày hỏa ngục)
- tự do thoát khỏi những ma, quỉ và
thiên chúa.”
(When I became convinced that the Universe
is natural – that all the ghosts and gods are myths, there entered into my
brain, into my soul, into every drop of my blood, the sense, the feeling,
the joy of freedom. The walls of my prison crumbled and fell, the dungeon
was flooded with light and all the bolts, and bars, and manacles became
dust. I was no longer a servant, a serf, or a slave...I was free
- free to think, to express my thoughts
- free to live to my own ideal
- free to use all my faculties, all my senses
- free to investigate
- free to reject all ignorant and cruel
creeds, all the “inspired” books that savages have produced, and all the
barbarous legends of the past
- free from popes and priests
- free from sanctified mistakes and holy lies
- free from the fear of eternal pain
- free from devils, ghosts and gods)
Nhìn vào thế giới ngày nay, ngoại trừ những
ốc đảo tối tăm, hầu hết những nơi văn minh tiến bộ đều từ bỏ niềm tin vào sự
hiện hữu của một Thiên Chúa sáng tạo ra muôn loài. Thiên Chúa trong các xã
hội văn minh tiến bộ ngày nay chỉ có một giá trị ước lệ, truyền thống, và
con người trong những xã hội này thực sự đang sống những cuộc sống như là
không có Thiên Chúa, không sợ Thiên Chúa, không tin là Thiên Chúa có thể can
dự vào bất cứ khía cạnh nào của đời sống con người, và điều hiển nhiên nhất
là không có ai theo những luật của Thiên Chúa [của Ki Tô Giáo]. Hội Đồng
Giám Mục Âu Châu đã phải đau lòng tuyên bố: Âu Châu ngày nay sống như là
không có Thiên Chúa. Và Giáo hoàng Benedict XVI cũng đã nhiều lần than
phiền như vậy và còn thêm vào câu: không cần biết đến sự sứu rỗi của
Giê-su. Tại sao? Vì từ lâu, Thiên Chúa đã trở thành “Thiên Chúa của
những khoảng trống” (God of the Gaps), nghĩa là trong toàn bộ kiến thức của
con người, nếu có gì chưa giải thích được, thì người Ki Tô Giáo vội vàng
nhét Thiên Chúa của họ vào trong khoảng trống đó. Nhưng với sự tiến bộ trí
thức của nhân loại, với những khám phá của khoa học hiện đại, các khoảng
trống trên càng ngày càng được thu hẹp lại, và ngày nay cái khoảng trống mà
Thiên Chúa nằm trong đó bị thu nhỏ hẹp lại đến độ chính Thiên Chúa cũng
không thể cựa quậy được ở trong đó được..
Sau đây chúng ta hãy tìm hiểu thế nào là “vô
thần”, vô thần có từ bao giờ và những người vô thần trên thế giới là ai?
Chúng ta hãy đọc một đoạn đặc sắc trong bài thuyết trình của Emmett F.
Fields, Ibid. Trong bài thuyết trình này, tác giả chủ yếu nói về Ki Tô Giáo
nhưng khi thì dùng từ “tôn giáo” (religion) khi thì dùng từ Ki Tô Giáo
(Christianity). Đọc phần tiếng Anh chúng ta thấy rõ như vậy. Cho nên tôi đã
thay một số từ “tôn giáo” bằng Ki Tô Giáo để cho dễ hiểu:
Bước đầu tiên trong việc tìm hiểu vô
thần là phải loại bỏ những lời nói láo và tuyên truyền mà Ki Tô giáo truyền
bá để chống vô thần. Vô thần không chỉ là kiến thức về sự
không hiện hữu của các thần mà còn hơn nữa, là kiến thức về sự sai lầm hay
gian xảo của Ki Tô giáo. Vô thần là một thái độ, một khung trí tuệ
nhìn thế giới một cách khách quan, không sợ hãi, luôn luôn tìm hiểu mọi sự
việc như là một phần của thiên nhiên. Có thể nói rằng vô thần có một
giáo lý là phải đặt nghi vấn và một tín lý là phải nghi ngờ. Đó là trí
tuệ con người trong môi trường thiên nhiên, không có gì là quá thánh
thiện để không được tìm hiểu, không có gì là quá thiêng liêng để không được
đặt nghi vấn. Cuốn Thánh Kinh của người vô thần, có thể nói như vậy, chỉ
có một từ: “HÃY SUY NGHĨ”. Vô thần là sự giải thoát hoàn toàn của đầu
óc con người khỏi những xiềng xích của sợ hãi và mê tín.
Vô thần tuyệt đối không có gì tiêu
cực; sự thật không bao giờ có thể là tiêu cực. Vô thần đòi hỏi chứng
minh, hay ít nhất là những bằng chứng hợp lý, và chỉ bác bỏ những gì không
đáp ứng được sự đòi hỏi của sự hiểu biết thông thường. Trong suốt lịch sử,
mọi tiến bộ trong xã hội có được là từ sự nghi ngờ và loại bỏ những ý
tưởng, những tập quán, và những niềm tin cũ kỹ [vì không còn đúng].
Cái cây kiến thức nhân loại chết khi nó đang mọc lớn, với những cành lá mới
mọc từ những phần đang chết, và thay thế những phần này với những niềm tin
chân thật và tốt đẹp hơn. Nhà Thần học là một con cú, đậu trên một cành
cây đã chết của cái cây kiến thức nhân loại, và rúc lên cùng những tiếng rúc
cũ kỹ đã từng rúc lên trong nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhưng hắn chưa
bao giờ phát ra một tiếng kêu rúc nào cho sự tiến bộ.
Về đạo đức, Vô thần ở ghế thượng
phong trên Ki Tô giáo. Sự thất bại lớn của đạo đức Ki Tô giáo bắt
nguồn từ ảo tưởng của họ về một đạo đức đứng trên đúng hay sai [vì là
đạo đức của Thiên Chúa]. Đầu óc của người theo Ki Tô giáo đã biết là tra
tấn và giết người là sai lầm, bạo hành và thù hận là sai lầm, cưỡng bức
người khác vào đạo là sai lầm. Ki Tô giáo đã biết những điều đó là sai lầm,
nhưng đầu óc của những người theo Ki Tô giáo trở nên tồi tệ vì cái ảo tưởng
về một nền “đạo đức cao hơn”, và vì cái ảo tưởng này mà lịch sử nhân loại
ngập máu những người vô tội. Nhân danh “thiên chúa” và một nền “đạo đức cao
hơn” của họ, những người Ki Tô Giáo đã tiến hành những cuộc thánh chiến để
tiêu diệt, đã cướp bóc, tra tấn và tàn sát những người không thể đồng ý với
họ, hoặc chưa tùng nghe đến tôn giáo của họ. Nhân danh nền “đạo đức cao hơn”
này, những người Ki Tô Giáo đã thù hận, săn lùng, bạo hành, và thiêu sống
người “lạc đạo”, người “vô tín”, và người “vô thần”.
Và ngày nay, như đã từ bao giờ, khi tín
đồ Ki Tô giáo làm những việc mà ngay hắn cũng biết là sai lầm và vô luân,
nhưng cái ảo tưởng của hắn về một “quyền năng cao hơn” [của Thiên chúa]
và một nền “đạo đức cao hơn” [của Ki Tô giáo] cho phép hắn trình diễn
vài lễ tiết, xưng tội, hay cầu nguyện thì kỳ lạ thay, ngay lập tức, “tất cả
tội lỗi của hắn đều được xóa bỏ”, và hắn lại không còn có thắc mắc gì về
lương tâm hay hối hận.
Những ảo tưởng điên rồ như vậy không làm
cho đầu óc người vô thần thoải mái. Người vô thần biết rằng không có đạo đức
nào đứng trên đúng và sai, và con người không thoát ra khỏi được sự cắn rứt
của lương tâm và hối hận. Giết người là giết người, ăn cướp là ăn cướp, thù
hận và bạo hành là những tội ác chống nhân loại. Về đạo đức, lịch sử cho
chúng ta thấy, làm người vô thần thì tốt hơn là làm người Ki-Tô.
Ki Tô giáo cho rằng sự vô đạo đức nẩy
ra là vì thiếu vắng Ki Tô giáo, nhưng những sự kiện đã chứng tỏ ngược lại.
Ki Tô Giáo chưa bao giờ mạnh như bây giờ, họ có nhà thờ trong mọi cộng đồng,
độc quyền chiếm giờ trên đài phát thanh và đài truyền hình để tuyên truyền
cho Ki Tô giáo, và họ đã cưỡng nhét Ki Tô giáo của họ vào chính quyền, luật
pháp và trường học của chúng ta. Họ đã làm những việc chống với Hiến Pháp
của Mỹ, và chống những quyền căn bản và thiêng liêng nhất của mọi người Mỹ
khác. Họ đã len lỏi vào nhưng nơi họ không được vào, những nơi không có việc
của họ, bịt miệng mọi chống đối, mọi quan điểm khác, bỏ thuốc độc vào cái
giếng hiểu biết của chúng ta và làm nguy hại đến những gốc rễ của quốc gia
chúng ta.
Ki Tô giáo ngày nay mạnh như vậy, nhưng
chúng ta không đạt được một mức đạo đức nào đáng kể trong quốc gia này.
Không ở đâu khác cho thấy sự thất bại về đạo đức Ki-tô giáo rõ rệt như ở Mỹ.
Trong cùng một thời gian mà Ki Tô giáo trở nên mạnh hơn và giầu có hơn,
trong 30 năm qua, vấn nạn dùng các loại ma túy đã trở thành một vấn nạn xấu
xa của quốc gia, số tội ác tăng gia nhanh chóng, tỷ lệ ly dị tăng vọt, và
trong thời gian này quốc gia của chúng ta bị lôi cuốn vào nhiều cuộc chiến
tranh và xung đột thế giới hơn bao giờ hết trong lịch sử. Ngay bây
giờ chúng ta có những tỷ lệ dùng ma túy, phạm tội ác, ly dị cao nhất cùng
với “tỷ lệ theo Ki Tô giáo” cao nhất chưa từng có trong lịch sử quốc gia
này. Ki Tô Giáo có thể nói gì về những sự kiện này và làm sao để chữa
chạy chúng. Họ bảo chúng ta là chúng ta cần nhiều đến Ki Tô giáo hơn và
cương quyết áp đặt Ki Tô giáo lên chúng ta. Ki Tô Giáo cảm thấy quá mạnh
ngày nay và họ đang đi vào chính trị để cưỡng đặt nền đạo đức thất bại
của họ trên mọi người Mỹ qua sự Độc Tài của Ki Tô Giáo và một Thời Đại Tăm
Tối mới.
Một khi thái độ vô thần đã đạt được,
và đầu óc đã thoát khỏi những sự sợ hãi và niềm tin trong Ki Tô giáo đã được
cấy vào chúng ta từ khi còn nhỏ; và một khi chúng ta có thể nhìn vào tôn
giáo một cách khách quan không thiên vị, thật hiển nhiên là Ki Tô giáo có
tất cả những đặc tính của một dạng tâm linh điên rồ. Tùy theo mức
độ, người sùng tín Ki Tô giáo phải chấp nhận, và tin, vào một thế giới
khác; một thế giới siêu nhiên hay khác thường, một thế giới có đầy những
nhân vật tưởng tượng gọi là thiên chúa, quỷ, thánh v..v.. Người ta nói
với những tạo vật tưởng tượng này, xin xỏ ân huệ, sự hướng dẫn, những “dấu
hiệu”, hoặc phép lạ, và rồi hoặc quy trách hoặc tạ ơn những biến cố thiên
nhiên sau đó xảy ra. Nếu không phải là khoác bộ áo tôn giáo thì những niềm
tin và những hành động như vậy phải coi là của một người điên, cần phải vào
nhà thương điên để chữa trị.
Sự nghiên cứu lịch sử sẽ biện minh
thêm cho thuyết Ki Tô giáo là một dạng tâm linh điên rồ. Không có một đầu óc
lành mạnh nào lại có thể gây ra những cuộc chiến tranh tôn giáo đẫm máu,
những cuộc thập ác chinh mà những người bị chinh phục, đàn ông, đàn bà, trẻ
con, và ngay cả con nít đều bị giết chỉ vì họ là những người “không tin” hay
“lạc đạo”. Những tù ngục tối tăm và những phòng tra tấn của những tòa án
thánh xử dị giáo không thể nào bị cai quản bởi những đầu óc lành mạnh. Và
phải là loại đầu óc điên rồ, đầu óc Ki Tô giáo, mới trói người phụ nữ vào
cột, rồi chất củi thiêu sống vì cái tội không thể nào có là phù thủy. Không
có người nào tỉnh táo có thể đọc những chuyện khủng khiếp, hiếp dâm và giết
người trong một cuốn sách man rợ mà người ta gọi cuốn sách đó là “Lời của
Thiên Chúa”. Và huyền thoại về Giê-su, về một thiên chúa phải xuống làm
người và bị giết trước khi có thể tha thứ tội lỗi cho nhân loại, là chuyện
điên rồ nhất trong những chuyện điên rồ.
Ngày nay, Ki Tô Giáo cố tình không biết
đến, hay giấu kín và phủ nhận cái lịch sử đẫm máu của mình và tự tôn là nền
tảng đạo đức của chúng ta, và là nền tảng ngay cả nền văn minh của chúng ta.
Ki Tô Giáo tự cho rằng là nguồn hi vọng duy nhất của chúng ta trong tương
lai. Nhìn vào lịch sử Ki Tô Giáo, những điều tự nhận như vậy, bản chất chỉ
là những lời nói điên dại.
(The first step, then, in understanding
Atheism is to disregard all the lies and propaganda that religion has spread
against it. Atheism is more than just the knowledge that gods do not exist,
and that religion is either a mistake or a fraud. Atheism is an attitude, a
frame of mind that looks at the world objectively, fearlessly, always trying
to understand all things as a part of nature. It could be said that Atheism
has a doctrine to question and a dogma to doubt. It is the human mind in its
natural environment, nothing is too holy to be investigated, nor too sacred
to be questioned. The Atheist Bible, it could be said, has but one word:
"THINK." Atheism is the complete emancipation of the human mind from the
chains and fears of superstition.
There is absolutely nothing negative about
Atheism; truth can never be negative. The Atheist demands proof, or at least
reasonable evidence, and simply rejects whatever does not meet the basic
requirements of common sense. Throughout history all progress in society has
come from doubting and rejecting old ideas, old customs, and old beliefs.
The tree of human knowledge dies as it grows, with new growth growing out of
the dead and dying parts, and replacing it with better and truer beliefs.
The Theologian is an owl, sitting on an old dead branch in the tree of human
knowledge, and hooting the same old hoots that have been hooted for hundreds
and thousands of years, but he has never given a hoot for progress.
Morally speaking, Atheism has a great
advantage over religion. The great failure of religious morality comes from
their illusion of a morality above right and wrong. The religious mind has
always known it is wrong to murder and torture, wrong to persecute and hate,
wrong to force its beliefs upon others. Religion has always known these
things are wrong, but the religious mind suffers from the illusion of a
"higher morality," and because of that illusion all history runs deep with
innocent blood. In the name of their "god" and a "higher morality,"
Christians have waged holy wars of extermination, have plundered, tortured
and murdered those who could not agree with their religion, or who had never
even heard of it. In the name of this "higher morality" Christians have
ha |