|
Toàn tập: 1 2
(tiếp theo kỳ trước)
iểm qua vài mặt
trí thức
Việt Nam
phản
chiến mà
ông
Nguyễn
Văn Lục
nêu tên,
ngoài
Cao Huy
Thuần,
chúng ta
thấy
Nguyễn
Ngọc
Giao ,
Hà Dương
Tường
v..v.. Họ
có phải
là trí
thức
không,
hay chỉ
là “sinh
viên
phản
chiến”? Họ
đều xuất
thân từ
những
đại học
lớn ở
Pháp, ra
trường
từ giữa
thập
niên
1960. Thí
dụ như
Hà Dương
Tường,
xuất
thân từ
Trường
Bách
Khoa Kỹ
Thuật
[École
Polytechnique]
của
Pháp,
một
trường
kỹ thuật
nổi
tiếng
vào bậc
nhất
trên thế
giới mà
không
phải ai
cũng có
thể thi
đậu vào
đó học.
Sinh
viên
trường
đó chưa
ra
trường
các hãng
đã tranh
nhau mời
làm việc
rồi. Ngoài
ra, Hà
Dương
Tường
còn có
thêm
bằng
Tiến Sĩ
về
Toán. Đời
sống của
họ rất
chừng
mực,
không xa
xỉ, ăn
chơi. Nhưng
chỉ vì
họ phản
chiến và
có tinh
thần
quốc gia
nên
không đủ
tầm vóc
để được
gọi là
trí
thức. Vậy
thế nào
mới là
trí
thức? Viết
bậy như
ông Lục
mới là
trí
thức? Hay
làm nô
lệ cho
Vatican
mới là
trí
thức?
Tôi thực
sự hết
muốn phê
bình
loạt bài
“Trí
Thức Là
Người
Phải
Biết
Ngượng”
của ông
Nguyễn
Văn Lục,
vì càng
đọc tôi
càng
thấy
ngượng,
ngượng
thay cho
một
người
không
biết
ngượng. Vậy
thì tôi
xin cắt
ngắn bài
phê bình
này. Phải
cắt ngắn
vì càng
đọc càng
thấy ông
Lục “Viết
nhào
nháo,
cũng vì
không
biết
”ngượng“”,
đúng như
“Độc
Hành Cầu
Bại” ở
Belgium
đã phê
bình ở
trên.
Cũng
có thể
chứng
minh cái
“không
biết
ngượng”
của ông
Lục như
sau. Trong
bài, ông
Lục viết
lăng
nhăng về
một số
vấn đề
và dùng
chính
bài viết
của mình
trên Hợp
Lưu để
xác định
thẩm
quyền
những ý
kiến của
ông. Nhưng
mà nói
thật,
ông viết
rất kém,
kém một
cách
thảm
hại, chỉ
vì ông ở
trong
một định
chế tôn
giáo,
tin theo
những
lời
giảng
rất
thiếu
thông
minh của
các “bề
trên”,
dựa trên
loại đạo
đức vô
đạo đức
của Công
Giáo. Chứng
minh?
Ông
Lục
viết:
Xin
trích
dẫn một
vài đoạn
của
chính
người
viết bài
này
[nghĩa
là
Nguyễn
Văn Lục]:
Thuốc
ngừa
thai: đó
là công
trình
khám phá
của thế
kỷ thứ
20, trở
thành
biểu
tượng
của tự
do và
giải
phóng
tình
dục.
Hình như
mọi
chuyện
đều có
thể, mọi
chuyện
đều được
phép.
(Trích
Phụ nữ
và vấn
đề tình
dục,
Nguyễn
Văn Lục,
Hợp Lưu
số 85,
tháng
10-11,
2005)
Giáo
hội Công
giáo cấm
giáo dân
dùng
thuốc
ngừa
thai vì
con
chiên
càng đẻ
nhiều
bao
nhiêu
thì giáo
hội càng
có nhiều
tín đồ
bấy
nhiêu và
càng thu
vào được
nhiều
lợi
nhuận
bấy
nhiêu. Mặt
khác,
Vatican
cấm con
chiên
dùng
thuốc
ngừa
thai
nhưng
vẫn đầu
tư vào
dịch vụ
sản xuất
thuốc
ngừa
thai. Đó
là loại
đạo đức
không
chỉ là
“đạo đức
giả” mà
còn là
“vô đạo
đức” của
Vatican. Nhưng
ông Lục
không
biết
chuyện
này,
theo
đúng tâm
cảnh
“Tòa
Thánh có
đánh r…
cũng
khen
thơm”
nên viết
bậy bạ
về thuốc
ngừa
thai.
Thuốc
ngừa
thai
không
phải là
biểu
tượng
(sic)
của tự
do mà là
để ngăn
chận nạn
nhân mãn
trên thế
giới. Thuốc
ngừa
thai có
một khía
cạnh đạo
đức
trong
đó, ngừa
thai tốt
hơn là
có thai
rồi đi
phá
thai. Thuốc
ngừa
thai
không
phải để
“giải
phóng
tình
dục”,
tình dục
là khía
cạnh
sinh lý
tự nhiên
của con
người,
và thuốc
ngừa
thai là
để ngăn
chận
tình dục
khỏi đưa
đến
những
hậu quả
tai hại
nếu
không
kiểm
soát. Tất
cả thế
giới đều
lo nạn
nhân mãn
trên thế
giới. Chỉ
có Công
giáo là
vẫn
khuyến
khích
con
chiên đẻ
cho
nhiều,
không
nuôi
được thì
ráng
chịu,
chứ toán
học của
Tòa
Thánh
chỉ biết
đến dấu
cộng (vơ
vào cho
nhiều)
và không
bao giờ
biết đến
dấu trừ
(chi ra
để cứu
giúp con
chiên
trong
các nước
nghèo
khổ) dù
rằng tài
sản của
Vatican
đã lên
đến cả
ngàn tỷ
đô-la và
các “bề
trên” ở
Vatican
sống
trong
nhung
lụa. Tôi
muốn ông
Lục và
các tín
đồ Công
giáo
Việt Nam
đọc tài
liệu sau
đây để
hiểu thế
nào là
ảnh
hưởng
của
chính
sách cấm
dùng
thuốc
ngừa
thai của
Công
Giáo.
Trong
những
chương
trình
phát
thanh
đặc sắc
nhất ở
Columbus,
Ohio,
đài CBN
và TV,
(Greatest
Hits
from
Ohio, AA
Press,
Austin,
Texas,
1991, p.
182),
Frank R.
Zindler
bình
luận về
John
Paul II
như sau:
"100 năm
sau, ai
là người
mà thế
giới cho
là ác
nhất
trong
thế kỷ
20? Chắc
các bạn
cho rằng
đó là
Adolf
Hitler. Có
thể,
nhưng
không
hẳn
vậy. Tôi
nghi
rằng nếu
nền văn
minh này
còn tồn
tại 100
năm nữa
thì các
sử gia
khi đó
sẽ đưa
ra những
bằng
chứng
bất khả
phủ
bác là
John
Paul
II là
con
người ác
nhất
trong
thời đại
của
chúng
ta. Điều
chắc là,
hình ảnh
của
Hitler
sẽ không
sáng sủa
hơn chút
nào qua
dòng
thời
gian. Người
ta sẽ
nhớ tới
y như là
một
người đã
giết
chết
nhiều
triệu
người vô
tội. Nhưng
những
tội ác
của y sẽ
trở
thành mờ
nhạt bên
cạnh
danh
sách
những
tội lỗi
của John
Paul II.
Trong
khi
Hitler
phạm tội
dự tính
diệt
chủng
đối với
một nhóm
người
đặc biệt
(Do
Thái.
TCN),
John
Paul II
sẽ bị
kết tội
dự tính
diệt
chủng
đối với
toàn thể
nhân
loại.
100 năm
sau, ít
nhất là
một tỷ
nguời sẽ
sống
trong
những
cơn hấp
hối kéo
dài và
chết
chóc vì
John
Paul II
chống
đối sự
kiểm
soát
sinh đẻ,
phương
pháp
diệt
trùng để
khỏi
sinh
sản, và
phá
thai.
Người ta
sẽ nhớ
rằng
John
Paul II
đã đi
tới
những
vùng
đang
chết đói
ở Phi
Châu và
Nam Mỹ
và
khuyến
khích
dân
chúng ở
đây gia
tăng
sinh sản
những
đứa trẻ
vô tội
xấu số
không
tránh
khỏi
chết đói
về sau.
Người ta
sẽ nhớ
rằng
John
Paul II
là người
làm tăng
sự nghèo
khổ của
con
người
hơn bất
cứ ai
khác
trong
lịch sử
văn
minh..
Giáo hội
Công
giáo La
Mã đã
giết
trên 11
triệu
người
trong
thời đại
của
những
tòa án
xử dị
giáo,
nhưng
John
Paul II
sẽ giết
hại
nhiều
hơn thế
trong
cuộc
sống của
Ngài. Cái
chủ
thuyết
diệt
chủng mà
Ngài
phát
động sẽ
còn tiếp
tục giết
những
người vô
tội trên
trái đất
này dài
dài
trong
tương
lai."
(A
hundred
years
from
now, who
will be
remembered
as the
most
evil man
of the
twentieth
century? Adolf
Hitler,
you
say? Perhaps,
but not
likely. I
suspect
that if
there is
any
civilization
surviving
on this
plundered
planet a
century
hence,
its
historians
will
point
with
irrefutable
evidence
to Pope
John
Paul II
as the
most
evil man
of our
times. To
be sure,
Hitler's
image is
not
likely
to
improve
any with
age. He
will
always
be
remembered
as a man
who
brought
about
the
deaths
of
several
millions
of
innocent
people. But
his
crimes
will
pale
beside
the list
of sins
ascribed
to John
Paul II.
Whereas
Hitler
was
guilty
of
premeditated
genocide
against
particular
groups
of
humans,
John
Paul II
will be
charged
with
premeditatation
of
genocide
against
the
human
race
itself.
By a
hundred
years
from
now, at
least a
billion
people
will
have
suffered
extended
agony
and
death
because
of John
Paul
II's
opposition
to birth
control,
sterilization,
and
abortion.
It
will be
remembered
that the
pope
went to
the
starving
in
Africa
and
South
America
and
encouraged
them to
increase
manyfold
the
number
of
unfortunate
innocents
who
would
have to
starve
later
on.
John
Paul II
will be
remembered
as the
man who
increased
human
misery
more
than
anyone
in the
history
of
civilization.
The
Roman
Catholic
church
killed
over 11
million
people
in the
course
of the
Inquisition,
but John
Paul II
will
murder
more
than
that in
his own
lifetime. The
juggernaut
of
genocide
which he
has set
in
motion
will
continue
to crush
and kill
the
innocent
of this
earth
far into
the
future.)
Ông
Nguyễn
Văn Lục
đã phạm
phải một
lỗi lầm
nặng,
không
chuyên
ngiệp
(unprofessional)
trong
nghề
viết
lách. Không
có ai
viết ra
một ý
kiến rồi
lại
trích
dẫn
chính
những ý
kiến của
mình
trong
một bài
viết
khác để
làm hậu
thuẫn. Sự
trích
dẫn này
chỉ có
thể được
khi đó
là một
tài liệu
mình đã
dùng
trong
bài mà
mình
trích
dẫn. Ngoài
ra, ông
Lục cũng
còn
trích
dẫn
những ý
kiến của
những
nhân vật
ít người
biết đến
qua
những
câu
chuyện
riêng tư
của họ
với bạn
bè, hoặc
qua một
cuốn hồi
ký. Thí
dụ những
câu như:
“Như Võ
Long
Triều đã
nói với
những
người
bạn của
ông là
Đức,
Tri,
Phúc….”,
“Sau
này, Đức
có nói
một câu
với Võ
Long
Triều”,
“Trích
hồi ký
Võ Long
Triều”,
“Theo
Trần
Trung
Việt”,
“Theo
hồi ký
của Kỹ
sư Võ
Long
Triều”,
“Cũng
theo Võ
Long
Triều”,
“Võ Long
Triều
trong
hồi ký
cũng có
nhắc đến
truyện
này…” loanh
quanh
chỉ có
vài tên
nghèo
nàn, và
tuyệt
đối
không có
giá trị
thuyết
phục đối
với
người
đọc, vì
độc giả
không có
lý do
nào để
quan tâm
đến hay
tin
những
lời ông
Triều
nói với
bạn bè,
hay tin
vào
những
điều ông
Võ Long
Triều
viết
trong
hồi ký,
một khi
chưa có
cách nào
kiểm
chứng. Nghệ
thuật
viết bài
cho ra
hồn đâu
có phải
là dễ.
Trong
Phần 3
của loạt
bài, ông
Nguyễn
Văn Lục
chủ tâm
phê bình
tiêu cực
cuộc Hội
Thảo
2005 ở
Đà Nẵng
có một
số trí
thức hải
ngoại về
tham dự,
nhưng
tôi có
cảm
tưởng là
ông chưa
bao giờ
được dự
một cuộc
hội thảo
trí thức
nào cho
nên viết
ra những
nhận xét
rất nhảm
nhí
chứng tỏ
trình độ
hiểu
biết của
ông quả
thật là
tệ.
Ông
Lục
viết:
Hội thảo
Đà Nẵng
dù chỉ
của một
nhóm trí
thức
trên
dưới
30
chục
người
trong số
hàng
chục
ngàn trí
thức Hải
Ngoại.
Nó sẽ
chẳng
cần ai
nói đến,
vì dù
sao, nó
cũng
biểu tỏ
thiện
chí muốn
đóng góp
điều gì
của
những vị
ấy.
Nhưmg vì
được tổ
chức ở
VN nên
có thể
cần được
nói
đến.
Thế
này là
thế
nào? Có
lẽ ông
Lục có ý
hạ thấp
cuộc hội
thảo, dè
bỉu là
chỉ có
trên
dưới
30
người ở
hải
ngoại về
tham dự
hội
thảo,
chứ 30
chục,
nghĩa là
300 thì
quá
nhiều
đi. Phải
chăng
ông muốn
ám chỉ
chỉ có
trên
dưới 30
người
thiên
Cộng về
tham dự
còn hàng
chục
ngàn trí
thức hải
ngoại
không
thèm
tham
dự. Nhưng
ông viết
kém quá
đi. Cái
kém của
ông Lục
là ở câu
“trong
số hàng
chục
ngàn trí
thức Hải
Ngoại”.
Mỗi lần
có cuộc
hội thảo
của
người
Việt ở
đâu là
hàng
chục
ngàn trí
thức hải
ngoại
cũng
phải
cùng
tham dự
mới gọi
là hội
thảo hay
sao? hay
nói khác
hơn,
nghĩa là
hàng
chục
ngàn trí
thức hải
ngoại
đều phải
là những
chuyên
gia về
những
chủ đề
trong
cuộc hội
thảo??. Nói
cho
đúng,
một cuộc
hội thảo
chuyên
đề mà có
30 trí
thức hải
ngoại về
tham dự
thì kể
cũng là
khá
nhiều
rồi. Điều
rõ ràng
là ông
Lục phát
dị ứng
(allergy)
với Việt
Nam, cho
nên ông
viết một
câu hết
sức vô
nghĩa và
ngớ
ngẩn:
Nó
[cuộc
hội
thảo]
sẽ
chẳng
cần ai
nói đến,
vì dù
sao, nó
cũng
biểu tỏ
thiện
chí muốn
đóng góp
điều gì
của
những vị
ấy.
Nhưng vì
được tổ
chức ở
VN nên
có thể
cần được
nói đến.
Câu
thứ nhất
vô
nghĩa,
phần
trước
chửi
phần
sau. Còn
câu thứ
hai lại
càng vô
nghĩa
hơn nữa,
vì điều
cần thảo
luận là
các chủ
đề trình
bày
trong
cuộc hội
thảo chứ
không
phải là
địa điểm
tổ chức
hội
thảo. Mà
Việt Nam
thì
sao. Việt
Nam là
một quốc
gia độc
lập, có
chủ
quyền,
có hơn
84 triệu
dân, có
một
chính
quyền cả
thế giới
công
nhận (dù
rằng có
thể ông
Lục và
đồng
loại
CCCB hay
CCCC
không
công
nhận)
trong đó
có Mỹ và
Canada.
Vậy tổ
chức ở
Việt Nam
thì cũng
như tổ
chức ở
các nước
khác, có
gì là lạ
đâu. Nếu
tôi
không
lầm thì
nhóm trí
thức này
đã từng
tổ chức
nhiều
cuộc hội
thảo
trước
đây,
thường
vào mùa
hè hàng
năm, với
các chủ
đề khác
nhau và
ở các
nơi khác
nhau
như: New
York
City
(1998,
Vấn
Đề Tranh
Chấp
Biển
Đông);
Liège
(1999,
Việt
Nam:
Định Chế
Xã Hội
Và Phát
Triển);
New York
City
(2000,
Việt
Nam Và
Vấn Đề
Toàn Cầu
Hóa); Aix-en-Provence
(2001,
Việt
Nam: Các
Vấn Đề
Văn Hoá
Xã Hội
Trong
Giai
Đoạn
HộiNhập); Maine
(2002,
Toàn
Cầu Hóa
Và Các
Vấn Đề
Con
Người
Việt Nam);
Munich
(2003,
Việt
Nam: Sau
11 Tháng
9);
), New
York
City
(2004,
Các
Yếu Tố
Thúc Đẩy
Và Phát
Triển);
Đà Nẵng
(2005,
Tiếp
Tục Đổi
Mới Kinh
Tế Và Xã
Hội Để
Phát
Triển);
và
Berkeley,
California
(2006,
Dân
Chủ Và
Phát
Triển)
Ai là
người có
thể phủ
nhận
thiện
chí đóng
góp trí
thức của
họ cho
đất
nước? Những
đóng góp
trí thức
này phải
nói là
rất cần
thiết
trong
giai
đoạn mà
Việt Nam
phải dò
từng
bước
trên con
đường
phát
triển,
cải
thiện và
tiến bộ,
đồng
thời
phải đối
diện với
những sự
đánh phá
từ những
kẻ vô
trí như
ông Lục.
Chúng
ta hãy
đọc một
câu để
lộ bản
chất của
ông Lục
như sau:
Cho dù
không ở
Đà Nẵng
hay ở xó
góc nào
thì bàn
tay lông
lá cộng
sản vẫn
dính
vào?
Đó là
văn
phong
của một
trí thức
biết
ngượng
hay
sao? Văn
phong
này rất
quen
thuộc
trên
những
diễn đàn
thông
tin hải
ngoại,
văn
phong
của bọn
CCCB, hay
CCCC. Vấn
đề tổ
chức đã
rõ ràng:
“Hội
thảo Hè
2005 do
VAPEC
(Vietnam
Asian-Pacific
Economic
Center),
The
Vietnamese
Heritage
Institute,
và
Đại học
Đà Nẵng
đồng hỗ
trợ. Chi
phí cá
nhân (đi
lại, ăn
ở) hoàn
toàn do
cá nhân
người
tham dự
trách
nhiệm.” Ông
Lục sợ
Cộng Sản
đến nỗi
rét run
lên,
nhìn đâu
cũng
thấy
Cộng Sản
và ra
công
chống
Cộng ở
nơi
không có
Cộng. Đó
là tâm
trạng
chung
của
những
người
Việt
chống
Cộng hải
ngoại.
Cuối
cùng,
tôi có
cảm
tưởng là
ông Lục
chưa
từng
được
tham dự
một cuộc
hội thảo
chuyên
đề trí
thức
nào, cho
nên ông
không
biết gì
về cách
tổ chức
một cuộc
hội
thảo, và
tiếp tục
viết
bậy. Viết
bậy như
thế nào?
Số là
những
người
tham dự
được
UBND
thành
phố Đà
Nẵng, cơ
quan hỗ
trợ hội
thảo
VAPEC,
và Đại
Học Đà
Nẵng
khoản
đãi vài
bữa ăn
trưa và
tối. Đây
là
chuyện
rất
thường
tình. Hội
thảo tổ
chức ở
Đà Nẵng,
mang
nhiều
lợi
nhuận
kinh tế
đến cho
thành
phố. Cơ
quan hỗ
trợ hội
thảo
VAPEC và
Đại Học
Đà Nẵng
khoản
đãi
trong
vấn đề
giao
tiếp và
hiếu
khách
đối với
một số
người đã
tự túc
đến đóng
góp ý
kiến cho
cuộc hội
thảo. Vậy
mà ông
Lục coi
đó như
là hối
lộ hay
mua
chuộc và
viết:
Mỗi bữa
ăn là
một món
nợ đấy.
Người
nào đã
trót ăn
là tự
gánh vào
thân
mình một
món nợ
phải
trả.
Tiền máy
bay gần
2000
đồng,
tiền
Hotel
cũng 7,
80 chục
đô
la/một
ngày tự
mình bỏ
túi ra
trả. Có
đáng gì
4 bữa ăn
khoảng
40 chục
đồng?
Nhưng
chính
câu sau
cùng của
ông đã
nói lên
cái tâm
địa lắt
léo của
ông
Lục. Thật
vậy, như
ông Lục
viết,
người ta
đã bỏ ra
Tiền
máy bay
gần 2000
đồng,
tiền
Hotel
cũng 7,
80 chục
đô
la/một
ngày tự
mình bỏ
túi ra
trả,
Vậy
mà có
thể nói
là người
ta ham
mấy bữa
ăn đáng
giá vài
chục
đồng để
mà mang
trên
người
một món
nợ hay
sao? Tôi
nghĩ đầu
óc ông
Lục chắc
thiếu
nhiều
chất xám
rồi. Viết
như vậy
mà cũng
viết lên
được thì
thật là
tài.
Còn
nữa,
chúng ta
hãy nghe
ông Lục
viết về
bà Tôn
Nữ Thị
Ninh:
Chúng ta
đừng
quên
rằng,
tất cả
những
người
thuộc
chính
quyền
như bà
Tôn Nữ
Thị Ninh
v.v… đều
được
chính
quyền
trả các
chi phí
di
chuyển
Hotel và
tiền bỏ
túi nữa.
Đó là
một cuộc
phô diễn
Dân chủ
chẳng
tốn kém
là bao.
Tại
sao phải
đừng
quên vì
đây là
chuyện
đương
nhiên,
ai cũng
biết,
trừ ông
Lục. Người
ta
thường
bảo “Làm
đầy tớ
người
khôn còn
hơn làm
Thầy
người
ngu”,
nhưng
tôi tính
vốn dại,
nên cứ
ngu ngơ
đi làm
Thầy một
chuyến.
Bà
Tôn Nữ
Thị Ninh
là Đại
Sứ của
Nhà
Nước, là
thành
viên
trong
Quốc Hội
Lập Pháp
của Việt
Nam. Vậy
ngoài
công
việc tư,
bất cứ
Bà đi
đâu, làm
việc gì
vì công
vụ,
đương
nhiên
Nhà Nước
phải đài
thọ mọi
chi phí:
di
chuyển,
ăn uống,
và tiền
tiêu
hàng
ngày. Đây
là một
cái
“norm”
của mọi
cơ quan
nhà
nước,
mọi tổ
chức,
mọi hãng
sản
xuất,
đại học
v..v..
đối với
nhân
viên các
cấp của
mình.
Cái
chuyện
sơ đẳng
như vậy
mà ông
Lục cũng
không
biết
đến. Ông
Lục
chống
Cộng đến
độ này
thì Cộng
nào cũng
phải phì
cười vì
cái dốt
của ông.
Trong
phần 3,
ông Lục
có ý bài
bác cuộc
hội thảo
2005 ở
Đà Nẵng,
một cuộc
Hội Thảo
với đề
tài tổng
quát:
“Tiếp
Tục Đổi
Mới Kinh
Tế Và Xã
Hội Để
Phát
triển”,
một đề
tài rất
quan
trọng về
những
vấn đề
quan
thiết
của quốc
gia hiện
nay và
gồm có
ba cụm
đề tài
chính:
Thứ nhất
là những
yếu tố
kinh
tế: Đánh
giá
nhiều
mặt của
phát
triển
kinh tế:
vấn đề
phân
tích các
cơ chế
hành
chính,
quản lý
và luật
pháp nào
đang còn
kìm hãm
phát
triển,
vấn đề
nâng cao
chất
lượng
phát
triển,
vấn đề
tạo
hướng
phát
triển
nhằm
tăng số
lao động
có việc
làm.
Thứ hai
là những
yếu tố
xã hội
và văn
hoá, đặc
biệt là
việc cải
cách
giáo dục
đại học
ở Việt
Nam
và vai
trò của
xã hội
dân sự.
Thứ ba
là
những
yếu tố
quốc tế,
chính
trị lẫn
kinh tế,
chẳng
hạn như
việc gia
nhập
WTO,
tranh
chấp
Biển
Đông,
chính
sách của
Mỹ...
Nhưng
chủ đích
của ông
Nguyễn
Văn Lục
không
phải là
quan tâm
đến
những
vấn đề
xây dựng
quốc gia
mà ông
viết
loạt bài
“Trí
Thức
Phải Là
Người
Biết
Ngượng”
chỉ để
“đánh”
Cao Huy
Thuần,
và những
trí thức
hải
ngoại
“phản
chiến”
khi xưa
tham gia
hội
thảo. Nhưng
có điều
ông Lục
không
nhận ra,
nhưng
mọi
người
khác đều
nhận ra,
là: So
với các
Giáo sư
Đại Học
ở Pháp,
Đức như
Cao Huy
Thuần
[Giáo sư
émérite
Đại
Học
Picardie
(Pháp),
Giám đốc
Trung
tâm
Nghiên
cứu Liên
hiệp Âu
Châu
(Centre
de
Recherche
Universitaire
sur la
Construction
Européenne,
viết tắt
:
CRUCE)],
Thái Kim
Lan
(Giáo sư
Ludwig
Maximilian
Universität,
München),
Nguyễn
Ngọc
Giao
(Giáo sư
Đại Học
Denis
Diderot
(Paris
VII)), Hà
Dương
Tường
(Giáo sư
Đại Học
Công
Nghệ
Compiègne,
Pháp)
v…v…thì
ông Lục
chỉ là
một anh
học trò
thuộc
lớp dưới
xa với
một kiến
thức khó
có thể
gọi là
kiến
thức. Bài
“Trí
Thức
Phải Là
Người
Biết
Ngượng”
của ổng
thật đã
chứng tỏ
như vậy.
TCN.
Các bài đối thoại cùng tác giả
|