> NHỮNG ĐỨA CON HOANG

NGƯỜI VIỆT NAM & “ĐẠO GIÊ-SU”

Trần Chung Ngọc Nguyễn Mạnh Quang
hợp soạn

https://sachhiem.net/TCN/TCNtg/DAOGIESU/TCN_NMQ.php

đăng ngày 15 tháng 11, 2007

LTS: Đã đén lúc

PHẦN I

[ Người Viết: Trần Chung Ngọc]

…TRONG THỜI HIỆN ĐẠI, TÔN GIÁO CỦA NHIỀU NGƯỜI RẤT CÓ THỂ ĐƯỢC XẾP VÀO LOẠI “ĐẠO GIÊ-SU”

(Bishop JAMES A. PIKE: IN MODERN TIMES THE RELIGION OF MANY COULD WELL BE CATEGORIZED AS “JESUSISM”) [A Time For Christian Candor, p. 108]

Giám Mục James A. Pike, Trưởng Ban Tôn Giáo, Đại Học Columbia [Chairman of the Department of Religion, Columbia Universsity], nhận định như trên, dựa trên sự kiện là các tín đồ Ki Tô Giáo [Christians] thực sự chỉ là những tín đồ tôn thờ Giê-su như là một Thiên Chúa. Theo nghĩa trên, những người Ca-Tô Giáo hay Tin Lành đều có thể coi như là theo “đạo Giê-su”. Bài viết này là một khảo luận trí thức trong lãnh vực học thuật về một câu hỏi:

“NGƯỜI VIỆT NAM THEO ĐẠO GIÊ-SU LÀ VÌ CÁI GÌ?”

Trước hết tôi cần phải nói ngay rằng: Tôi đặt câu hỏi trên với tất cả sự nghiêm túc trong lãnh vực học thuật, một câu hỏi rất đứng đắn, có cơ sở, mà tôi nghĩ trong giai đoạn phát triển về mọi mặt của đất nước ngày nay, nhất là về mặt giáo dục, cần phải đặt trước người dân Việt, trước toàn thể dân Việt chứ không chỉ trước những tín đồ của “đạo Giê-su”. Tôi đặt vấn đề này trước những người chỉ cần có một trình độ hiểu biết thông thường, một đầu óc biết suy nghĩ, và có một sự lương thiện trí thức tối thiểu, nghĩa là phải chấp nhận sự thực, dù sự thực đó làm cho chúng ta đau lòng, chứ không phải là những người, vì đức tin của mình mà không chấp nhận sự thật trước những bằng chứng hiển nhiên, và tiếp tục nhận giả làm chân. Bài viết này, do đó, không ngoài mục đích trình bày những sự thực về đạo Giê-su qua các tài liệu từ cuốn Kinh Thánh, từ những tác phẩm nghiên cứu của các học giả ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki-Tô, từ lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam v.. v.., để tìm hiểu và giải đáp cho thắc mắc trong câu hỏi trên, chứ không có ý xúc phạm những người Việt theo đạo Giê-su. Nhưng tôi thực sự cũng mong muốn những bậc thức giả trong đạo Giê-su có thể giúp tôi bằng cách cho tôi một giải đáp trí thức cho câu hỏi trên.

Đây là một vấn nạn lớn cần phải khai sáng trong chiều hướng tiến bộ trí thức của nhân loại mà Việt Nam không có quyền tự đặt ra ngoài chiều hướng này, một chiều hướng có ảnh hưởng đến tương lai quốc gia, và nhất là một vấn nạn liên hệ đến tín ngưỡng của một tôn giáo lớn trên thế giới, và của 7% trên số hơn 80 triệu người dân Việt Nam, cho nên không phải chuyện có thể nói một cách vô trách nhiệm. Mặt khác, tôn giáo liên hệ tới mọi mặt sinh hoạt của xã hội cho nên chúng ta cần phải biết vị thế đúng của tôn giáo trong xã hội. Câu hỏi trên được đặt ra là vì, thứ nhất,, qua cuộc nghiên cứu về đạo Giê-su và về Giáo hội Ca-tô Rô-ma trong nhiều năm, tôi vẫn không thể nào hiểu nổi người Việt Nam theo đạo Giê-su là vì cái gì. Bài viết này sẽ chứng minh thắc mắc của tôi không phải là vô căn cứ. Và thứ nhì, lịch sử truyền đạo Giê-su vào Việt Nam đã là một vấn nạn cho xã hội Việt Nam và kéo dài cho tới ngày nay như thế nào, tôi chắc mọi người chúng ta đều đã biết. Phần II của Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang sẽ làm sáng tỏ thêm vấn nạn này.

Còn một điều khác tôi nghĩ cũng cần phải minh định. Tuy tôi là một Phật tử, nhưng chưa bao giờ tôi đứng trên lập trường tôn giáo của tôi hay dựa trên giáo lý Phật Giáo để viết về Ki Tô Giáo, vì tôi hiểu hơn ai hết, thứ nhất, Phật Pháp không tranh cãi với các pháp thế gian, và thứ nhì, một Phật tử đúng nghĩa là một Phật tử thì không bao giờ nên dựa vào tín ngưỡng của mình để mà phê phán một tín ngưỡng khác.. Cho nên, những bài viết thuộc loại nghiên cứu như thế này hoàn toàn không dính dáng gì tới Phật Giáo. Bài viết này thuần túy thuộc lãnh vực học thuật, nghiên cứu nghiêm chỉnh, do đó bản chất là phi phe phái, phi chính trị. Nhưng tôi cũng phải nói là tôi làm công việc này với tinh thần Phật Giáo, đó là: thấy việc nên làm có thể giúp ích được tha nhân thì cứ làm, đừng ngần ngại, nhưng làm mà không truy cầu bất cứ điều gì cho chính mình, và làm với ý tốt cho tha nhân. Ý tốt này nằm trong hai chữ “giải hoặc”, nghĩa là tháo gỡ những sự huyền hoặc ra khỏi đầu óc những người bị mê hoặc bởi những điều mà trong thời đại này đã không còn giá trị và chúng ta không có quyền để chúng trong đầu mà không hiểu tại sao lại để chúng trong đầu. Tháo gỡ bằng cách nào? Và làm sao có thể quyết đoán là người ta đã bị mê hoặc. Qua nghiên cứu nghiêm chỉnh và hiểu biết đúng sự việc. Bây giờ chúng ta hãy bắt đầu đi vào lãnh vực nghiên cứu để đi tới hiểu biết.

*

Đạo Giê-su, thường được gọi là Cơ-Đốc Giáo, Ki-Tô-Giáo, Thiên Chúa Giáo, nhưng có lẽ gọi là đạo Giê-su thì thích hợp nhất, vì là đạo giáo dân tôn thờ Giê-su như là một Thiên Chúa, và tin vào khả năng cứu chuộc của Giê-su mà nền thần học của đạo Giê-su đã đã cấy vào đầu óc tín đồ. Đạo Giê-su được truyền vào Việt Nam theo hai hệ phái: Ca-Tô Giáo Rô-ma (Công giáo) và Phản Thệ Giáo (Tin Lành). Ca-Tô Giáo Rô-ma đã xâm nhập Việt Nam từ thế kỷ 16, và Phản Thệ Giáo từ thế kỷ 20, rồi phát triển song song với sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Bài viết này, bỏ qua khía cạnh lịch sử, xã hội, và những thủ đoạn truyền đạo bất xứng, là một khảo luận trong lãnh vực học thuật về hai sự kiện sau đây, đưa đến tình trạng một số người Việt tin theo đạo Giê-su:

1. Ca-Tô Giáo Rô-ma truyền vào Việt Nam và dạy tín đồ tin rằng Giáo hội Ca-Tô của họ là do Chúa Giê-su thành lập, truyền lại cho Tông Đồ Phê-Rô làm Giáo Hoàng, và rồi các Giáo Hoàng kế tiếp là những thừa kế của Phê-rô, là đại diện của Chúa (Vicars of Christ) trên trần, và các giám mục, linh mục ở dưới đều là các “cha cũng như Chúa”, có quyền thay Chúa tha mọi tội cho họ qua lễ xưng tội, và nếu họ tin Chúa thì sau khi chết, đến ngày tận thế, Chúa sẽ làm cho phần hồn của họ nhập lại với phần xác, bất kể là chết đã bao lâu và chết như thế nào, và sẽ được bốc lên thiên đàng để sống đời đời bên Chúa của họ v..v.., còn nếu không tin sẽ bị Chúa đầy đọa xuống hỏa ngục để bị ngọn lửa vĩnh hằng thiêu đốt. Để có được một chỗ trên thiên đàng, họ phải tuyệt đối tuân phục Giáo hội, nghĩa là phải tuân phục mọi giáo lý và phải tin mọi tín lý của Giáo hội đưa ra, bất kể những giáo lý và tín lý này có phù hợp với Thánh Kinh không, vì Giáo hội đã nắm trong tay chiếc chìa khóa mở cửa thiên đàng, và có quyền thay Chúa để thưởng phạt tín đồ. Vì tin vào những điều truyền đạo như trên cho nên đến ngày nay, giáo hội Ca-Tô Rô-ma tại Việt Nam, từ trên xuống dưới, vẫn tiếp tục tuân phục vô điều kiện Vatican. Chúng ta nên để ý đến từ “Ca-tô Giáo Rô-ma” mà tôi dịch từ “Roman Catholicism”. Thật ra, đạo Ca-Tô Rô-ma có xuất xứ từ miền Trung Đông, về sau trở thành một hệ phái thuộc quyền Rô-ma, bởi vậy cho nên Giáo hoàng mới có danh hiệu là “Giám Mục Thành Rô-ma” (Bishop of Rome). Tiến sĩ Loraine Boettner trong cuốn “Roman Catholicism”, đã cho rằng hai từ “Roman” và “Catholicism” đi liền với nhau chẳng có nghĩa gì vì chúng mâu thuẫn với nhau. Thật vậy, người Việt dịch từ “Catholic” là Công Giáo, cho rằng từ Catholic có nghĩa là phổ quát (universal), chung cho tất cả mọi người, nhưng bỏ quên chữ Roman liên hệ tới một địa danh ở Ý: Rô-ma (Rome). Đây là một sự nhập nhằng cố ý, vì “Roman” và “Catholic” là hai từ rất mâu thuẫn đối với nhau. “Roman” có nghĩa rõ rệt là một “particular”, nghĩa là một cái gì chỉ thu hẹp trong một phạm vi liên hệ tới một địa danh, không có tính tổng quát hay phổ quát (not general or universal), trái ngược với từ “catholic” có nghĩa là phổ quát (universal). Do đó Ca-Tô Giáo Rô-ma (Roman Catholicism) thực ra chỉ có nghĩa là một hệ phái Ki Tô Giáo phổ quát trong phạm vi của đế quốc La Mã. [Tự điển “The American Heritage Dictionary” định nghĩa tĩnh từ “Roman” (viết hoa) như sau: 1. Of, pertaining to, derived from, or characteristic of Rome and its people, esp. ancient Rome. 2. Of, pertaining to, composed in, or characteristic of the Latin language. 3. of or pertaining to the Roman Catholic Church. 4. Of or designating and architectural style by great round arches and barrel vaults, concrete masory construction, and classical orders as decorative features. 5. roman (không viết hoa) Of, set, or printed in type characterized by upright letters.] Cho nên trên thực tế, Roman Cạtholicism chẳng có cái gì có thể gọi là phổ quát hay chung cho mọi người trên thế giới, và từ Công Giáo của người Việt, bỏ đi chữ Roman, chẳng qua chỉ là một cưỡng từ vô nghĩa. Và đạo Ca-Tô Rô-ma ở Việt Nam chẳng qua chỉ là đạo Ki-Tô ở Rô-ma được các thừa sai thực dân mở đường, và rồi theo gót thực dân Pháp, truyền tới Việt Nam. Cho nên chúng ta thường nói đến “Giáo hội Ca-Tô Rô-ma tại Việt Nam”, hay quen thuộc hơn, “Giáo Hội Công giáo La-mã tại Việt Nam”.Chúng ta cũng thấy trên Internet có trang nhà Việt Catholic (Vietcatholic). Nhưng ít người hiểu được rằng, Việt Catholic cũng mâu thuẫn và vô nghĩa như Roman Catholic. Đã là Việt (a particular) thì không thể là Catholic (Universal).

2. Tin Lành (được dịch từ hai tiếng “Phúc Âm” [Gospels] hay “Good News”) truyền vào Việt Nam, căn bản truyền giáo không khác Ca-Tô Giáo Rô-Ma về những chủ đề như “cứu rỗi”, “thiên đường” và “hỏa ngục”, nhưng không có cấu trúc toàn trị như Ca-Tô Giáo Rô-ma. Tin Lành ly khai từ Ca-Tô Giáo Rô-ma, sáng lập bởi Martin Luther ở Đức, phủ nhận cấu trúc quyền lực của chế độ Giáo hoàng, không công nhận Giáo hoàng là “đại diện của Chúa Giê-su”, vì vậy Ca-Tô Giáo gọi Tin Lành là Phản Thệ Giáo. Tin Lành tuyệt đối tin vào Thánh Kinh là lời của Thượng đế, không thể sai lầm, và truyền bá dưới chiêu bài là Chúa Giê-su yêu bạn “Jesus loves you”, là bậc toàn thiện v..v.., và theo Tin Lành, chỉ cần tin Chúa, không cần phải qua một tổ chức trung gian như Ca-Tô Giáo, thì sẽ được cứu rỗi, và nhất là, trong đời này sẽ được giàu sang như dân các nước tân tiến trên thế giới như Anh, Mỹ v..v…, để khuyến dụ lớp cùng đinh trong xã hội, trái ngược với lời tuyên truyền của các giáo hội: đạo Giê-su là đạo của người nghèo.

Ca-Tô Giáo Rô-Ma và Tin Lành đều dạy tín đồ phải thờ phụng (worship) Giê-su, làm tôi tớ, tỳ nữ, siêng năng hầu việc Chúa. Nếu chúng ta có đi qua vùng Hố Nai, Gia Kiệm thì sẽ thấy một tấm bảng đề “Dòng Tỳ Nữ Của Chúa Giê-su” ở trước một ngõ vào, có lẽ là ngõ vào một nữ tu viện. Việc Chúa ở đây nên hiểu không phải là những việc Chúa muốn, vì chẳng có ai biết Chúa muốn gì, mà là những việc mà các “bề trên” trong Ca-Tô Giáo Rô-Ma cũng như Tin Lành muốn tín đồ phải tin đó là ý Chúa. Khi xưa, Giáo Hoàng Urban II phát động cuộc Thập Ác Chinh thứ nhất vào năm 1096 để cướp lại Thánh Địa từ những kẻ không tin đạo (Hồi giáo). “Thiên Chúa muốn thế” (Deus Vult = God will it) là tiếng hô hào kêu gọi để tập hợp đoàn Thập Ác quân (crusaders) đi giết người cho Chúa.

Từ hai sự kiện trên, để tìm hiểu câu hỏi: “Người Việt Nam Theo Đạo Giê-su Là Vì Cái Gì?”, chúng ta không có cách nào khác là phải làm sáng tỏ những chủ đề sau đây:

I. Giáo hội Ca-Tô Rô-ma có đích thực là do Giê-su thành lập như Giáo hội Ca Tô dạy không?

II. Giê-su sinh ra đời để làm gì? Những giải thích Thần học có đúng sự thật không?

III. Sự truyền đạo của Ki Tô Giáo trên thế giới có phải là ý muốn của Giê-su không?

IV. Những sắc dân phi-DoThái có phải là đối tượng cứu chuộc của Giê-su không?

V. Đạo đức và trí tuệ của Giê-su.

VI. Thánh Kinh có phải là những lời mạc khải không thể sai lầm của Thượng đế không, và thực chất nội dung Thánh Kinh là gì?

Hai điểm cuối, Đạo Đức và Trí Tuệ của Giê-su Nội Dung Thánh Kinh rất quan trọng để chúng ta có thể có một quyết định không sai lầm, vì thường thường chúng ta chỉ kính ngưỡng, tôn thờ những bậc đạo cao đức trọng, trí tuệ siêu đẳng, mang nhiều phúc lợi đến cho nhân loại bằng những đóng góp thiết thực cho đời sống của người dân trong mọi xã hội, và con người thường dựa vào những điều giảng dạy trong Kinh điển tôn giáo để mà áp dụng vào đời sống hàng ngày.

Về nhân vật Giê-su, tất cả chúng ta biết về ông ta là ở trong Tân Ước: trong 4 Phúc Âm và trong Sách Khải Huyền. Như vậy, chúng ta không có cách nào hơn là tìm hiểu vấn đề ngay trong Tân ước để có thể đánh giá đúng mức những lời giảng dạy của Ca-Tô Giáo cũng như Tin Lành về Giê-su. Tất cả tùy thuộcở mức độ chính xác trong những lời giảng dạy của các giáo hội Ki-Tô. Đây là một điều rất quan trọng không thể không có (sine qua non) trong lãnh vực học thuật (scholarship). Trong thời đại ngày nay, sự tìm hiểu trí thức này là một điều cần thiết để mở mang dân trí, từ đó người dân có thể nhận thức đúng về tín ngưỡng của mình. Bài phân tích này không ngoài mục đích là hi vọng có thể tăng sự hiểu biết về đạo Giê-su cho người trong đạo cũng như người ngoài đạo, những người có đầu óc suy nghĩ hoặc chỉ cần có một mức hiểu biết tối thiểu. Sau đây, tôi sẽ đi vào vài điểm chính mà tôi đã đặt ở trên. Để cho được đầy đủ, bài viết này sẽ khá dài, vì phải trích dẫn nhiều từ Thánh Kinh, từ những kết quả nghiên cứu về Thánh Kinh và Giê-su ở Tây Phương, và từ những tài liệu tôi đã trình bày trong một số bài khác, vậy xin quý độc giả thông cảm và kiên nhẫn. Và cũng xin quý độc giả cần có một cuốn Thánh Kinh ngay trước mặt để kiểm chứng những phần tôi trích dẫn.

I. Giáo Hội Ca-Tô Rô-ma Có Phải là Do Chúa Giê-su Thành Lập Như Giáo Hội Ca Tô Dạy Không?

Như trên đã nói, Giáo hội Ca-Tô Rô-ma dạy tín đồ rằng: “Giáo hội Ca-Tô của họ là do Chúa Giê-su thành lập, truyền lại cho Tông Đồ Phê-Rô làm Giáo Hoàng, và rồi các Giáo Hoàng kế tiếp là những thừa kế của Phê-rô, là đại diện của Chúa (Vicars of Christ) trên trần v..v…” Giáo hội dựa vào một câu trong Tân ước, Matthew 16: 18-19: “…Ngươi là Phê-rô, và trên phiến đá này ta sẽ xây dựng giáo hội của ta, dầu các cửa hỏa ngục cũng không chống lại được, Ta sẽ giao cho ngươi những chìa khóa nước trời: sự gì con cầm buộc dưới đất, thì cũng cầm buộc trên trời, còn sự gì con tháo cởi dưới đất thì cũng tháo cởi trên trời…” (… you are Peter, and on this rock I will build my church, and the gates of Hades shall not prevail against it. And I will give you the keys of the kingdom of heaven, and whatever you bind on earth will be bound in heaven, and whatever you loose on earth will be losed in heaven.) để tự đóng vai trò thừa kế Giê-su trong giáo hội do chính Giê-su lập ra. Gần đây, trong bức thư gửi các tín đồ Ca-Tô ở Trung Quốc, Giáo Hoàng Benedict XVI cũng khẳng định vai trò này như sau: Tôi, trong tư cách Người Kế Vị Thánh Phêrô và là Mục Tử toàn thể Hội Thánh”. Nhưng sự thật có phải như vậy không?

Sự thật là, ngày nay các học giả nghiên cứu Thánh Kinh đều cho rằng giáo điều Chúa Giê-su thành lập giáo hội, Phê-rô làm giáo hoàng đầu tiên, và các giáo hoàng tiếp theo đều là kế vị của Phê-rô v..v.. như trên chỉ là những luận điệu thần học ngụy tạo của Giáo hội, và Giáo Hoàng cũng như các “bề trên” trong Giáo hội đã dùng nó để nhốt các tín đồ, vốn không bao giờ đọc Thánh Kinh, vào một ngục tù tâm linh, vì cái bánh vẽ trên nước trời nên các tín đồ phải tin tất cảnhững gì giáohội nói và được dạy phải tuyệt đối tuân phục các “bề trên” của họ, và các “bề trên” của họ cũng phải tuyệt đối tuân phục đại diện của Chúa trên trần, nghĩa là giáo hoàng. Hãy “quên mình trong vâng phục”, đó là lời dạy căn bản trong Ca Tô Giáo Rô-ma, và điều ngụy tạo trên đã tạo thành cấu trúc quyền lực của giáo hội.

Thật vậy, đối với các học giả nghiên cứu Thánh Kinh và đối với giới trí thức ở trong cũng như ở ngoài giáo hội thì câu trên ở trong Tân Ước rõ ràng là được thêm thắt sau này với mục đích thiết lập quyền lực tinh thần cũng như quyền lợi vật chất của giới lãnh đạo Ca-Tô trước đám đông tín đồ thấp kém ở dưới. Nghiên cứu kỹ Thánh Kinh, các chuyên gia đã vạch ra rằng câu trên hoàn toàn mâu thuẫn với nhiều đoạn trong Thánh Kinh, với tư tưởng của Giê-su, và nhất là không thích hợp với tư cách của Phê-rô. Chứng minh?

Đọc Thánh kinh, chúng ta thấy rõ là những người viết Tân Ước đều tin rằng Giê-su sẽ trở lại trần gian trong một tương lai rất gần, ngay trong thời điểm của Giê-su.Thí dụ những đoạn sau đây đều được trích từ Thánh Kinh: Cựu Ước Và Tân Ước, Hội Quốc Tế xuất bản, 1994; và Holy Bible: The New King James Version, American Bible Society, New York, 1982:

Matthew 16: 27-28: “Ta (Con của Người: Giê-su) sẽ trở lại với các thiên sứ trong vinh quang của Cha ta để thưởng phạt mỗi người tùy theo việc họ làm. Ta cho các con biết: một vài người đang đứng đây sẽ còn sống cho đến khi nhìn thấy ta vào trong Nước ta”. (For the Son of Man will come in the glory of His Father with His angels, and then He will reward each according to his works. Assuredly, I say to you, there are some standing here who shall not taste death till they see the Son of Man coming in his kingdom.)

Matthew 24:34: “Ta quả quyết, thời đại này chưa chấm dứt, các biến cố ấy đã xảy ra rồi” (Assuredly, I say to you, this generation will by no means pass away till all these things are fulfilled)

Mark 9: 1: Chúa bảo các môn đệ: “Ta cho các con biết, một vài người đang đứng đây sẽ còn sống cho đến khi nhìn thấy nước trời thiết lập với uy quyền vĩ đại (And He said to them, “Assuredly, I say to you that there are some standing here who will not taste death till they see the kingdom of God present with power.”)

Mark 13:30:Ta quả quyết, thế hệ này chưa qua đi thì các biến cố đó (các biến cố xung quanh ngày tận thế và sự trở lại của Giê-su. TCN) đã xảy ra rồi”. (Assuredly, I say to you, this generation will by no means pass away till all these things take place.)

Luke 21: 27, 32: “Bấy giờ nhân loại sẽ thấy ta giáng xuống trong mây trời với vinh quang và uy quyền tuyệt đối.. Ta quả quyết: thế hệ này chưa qua, các biến cố ấy đã xảy ra rồi”. (Then they will see the Son of Man coming in a cloud with power and great glory.. Assuredly, I say to you, this generation will by no means pass away till all these things are fulfilled.)

John 14: 3: Ta đi chuẩn bị chỗ ở cho các con. Khi chuẩn bị xong, ta sẽ trở lại đón các con về với ta để các con ở cùng ta mãi mãi.” (And if I go and prepare a place for you, I will come again and receive you to myself; that where I am, there you may be also).

Qua những đoạn trích dẫn ở trên từ Tân Ước, chúng ta hãy tự hỏi: Giê-su thành lập giáo hội và trao chức vụ giáo hoàng chăn dắt tín đồ cho Phê-rô để làm gì khi mà ông ta tin rằng ngày tận thế gần kề, ngay trong thời của ông, khi một số môn đồ của ông còn sống? Không những Giê-su tin như vậy, mà còn truyền cho các Tông Đồ đi rao giảng về một “Nước trời” sắp đến, như được viết rõ trong Tân Ước.

Như vậy, có phải là giáo hội đã thêm thắt câu “..ngươi là Phê-rô, và trên phiến đá này ta sẽ xây dựng giáo hội của ta…” vào trong Tân Ước để lừa dối tín đồ là giáo hội do chính Chúa Giê-su thành lập và các giáo hoàng đều là những người kế thừa Phê-rô? Chúng ta cũng nên biết rằng, 4 Phúc Âm trong Tân ước được viết trong khoảng từ 40 đến 80 năm sau khi Giê-su đã chết và mãi đến thế kỷ 4, 27 sách trong Tân ước bằng tiếng Hi Lạp mới được công nhận là chính thức thuộc Tân ước, và rồi được dịch ra tiếng Latin và sau cùng mới được dịch ra các thứ tiếng khác nhau. Việc thêm thắt, ngụy tạo những đoạn trong cuốn Tân Ước không phải là khó khăn gì. Nhưng thật ra, mánh mưu thêm thắt câu trên không chỉ tạo quyền lực cho Giáo hoàng mà còn cho toàn thể giới chăn chiên. Thật vậy, Giáo hội đã biến câu trên thành những quyền lực thế tục rất hoang đường và phi lý cho giới giáo sĩ. Thí dụ, trong nghi lễ phong chức linh mục, ông Giám mục đặt tay lên đầu vị tân linh mục và phán: “Hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần, chúng con tha tội cho ai thì họ được tha, cầm giữ ai thì họ bị cầm giữ. [Giáo Lý Công Giáo, Bản dịch của Hoài Chiên và Nguyễn Khắc Xuyên, trang 231]. Theo tinh thần câu ngụy tạo mà Chúa truyền cho Phê-rô thành lập giáo hội ở trên, điều này có nghĩa là các Linh mục nắm quyền muốn cho ai lên Thiên đường thì cho, và lẽ dĩ nhiên, trong Ca-Tô Giáo Rô-ma, tập đoàn chăn chiên, từ Giáo hoàng xuống tới các Linh mục, ai cũng đều nắm trong tay những chìa khóa của nước trời, nếu có cái gọi là nước trời. Hiển nhiên đây là chuyện hoang đường nhất trong những chuyện hoang đường, xét đến vấn đề đạo đức của một số không nhỏ thuộc giới chăn chiên, từ các giáo hoàng xuống tới các linh mục. Nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận là, chính điều này đã tạo nên một tâm cảnh sợ sệt, khúm núm, quỵ lụy “bề trên”, “quên mình trong vâng phục” trong đám tín đồ thấp kém, vì họ tin rằng các “bề trên” của họ thực sự nắm trong tay cái chìa khóa của nước trời, một nước chỉ hiện hữu trong nền thần học của giáo hội để khuyến dụ tín đồ.Thật ra thì, theo Giám Mục James A. Pike trong cuốn Một Thời Để Cho Sự Ngay Thẳng Của Ki Tô Giáo [A Time For Christian Candor], trang 109:

Cái nhìn về thế giới của Giê-su là cái nhìn của thời đại đó. Quan niệm về “Nước Trời” mà Giê-su thường nói đến đã được đưa vào đạo Do Thái từ 5 thế kỷ trước khi Giê-su sinh ra, do ảnh hưởng của Zoroaster [Jesus’ world-view was that of His time. The concept of the Kingdom of God which He stressed was that introduced into Judaism in the fifth century B.C., under Zoroastrian influence]

Điều này có nghĩa là, quan niệm về một “Nước Trời” không phải là của Giê-su mà là Giê-su chỉ lập lại một quan niệm cổ xưa của dân tộc Do Thái, một dân tộc có quá nhiều bất hạnh trong suốt giòng lịch sử cho nên luôn luôn khát vọng một quốc gia độc lập, tràn đầy sữa và mật như các Rabbi Do Thái đã từng hứa hẹn với dân Do Thái như vậy để an ủi những bất hạnh dân Do Thái đang gánh chịu, và dạy họ rằng hãy giữ vững niềm tin vào Thiên Chúa của họ thì một ngày nào đó Thiên Chúa sẽ đoái thương và cho họ được hưởng một cuộc sống trong “Nước Trời’ dưới sự cai quản của chính Thiên Chúa của họ. Đây là một niềm tin nguyên thủy, đặc thù của dân tộc Do Thái, không liên quan gì đến bất cứ dân tộc nào khác. Nhưng khi Ki Tô Giáo bành trướng trên thế giới thì họ đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về một “Nước Trời” chung cho mọi người, nhưng không ngoài điều kiện là phải tin vào Thiên Chúa và phải làm theo ý Chúa, thực sự chỉ là ý của giáo hội, vì chẳng có ai biết được ý Chúa là như thế nào.

Thứ nhì, đọc kỹ Thánh Kinh, chúng ta còn thấy, sau khi trao chìa khóa thiên đường cho Phê-rô (Matthew 16:19), chỉ 4 câu sau, Matthew 16: 23, Giê-su gọi Phê-rô là Satan: “Chúa quay lại và nói với Phê-rô: “Hãy đi ra đàng sau ta, Satan, ngươi là một sự xúc phạm đối với ta” (But he turned and said to Peter, “Get behind me, Satan! You are an offence to Me..”) Cũng vì sự mâu thuẫn và phi lý trong hai câu gần sát nhau trong Thánh kinh mà Lloyd Graham đã bình luận như sau:

Như vậy là giáo hội Ca-Tô được thành lập bởi Phê-rô, người mà, chỉ 4 câu sau trong Thánh Kinh, Chúa gọi là Satan. Vậy, nếu giáo hội Ca-Tô được thành lập bởi Phê-rô thì giáo hội đó đã được thành lập bởi Satan – một sự kiện mà chúng ta đã nghi ngờ từ lâu. (Xét đến lịch sử đẫm máu đầy tội ác của Ca-Tô Giáo mà giáo hoàng John Paul II và Tòa Thánh Vatican đã phải xưng thú 7 núi tội ác trước nhân loại và xin được tha thứ thì câu bình luận của Graham ở trên không phải là không có căn bản. TCN).

Câu chuyện về Phê-rô thậm vô nghĩa – một người chết như mọi người mà lại có quyền lực trên khắp nhân loại trong muôn đời muôn kiếp. Trong những vấn đề tôn giáo, tín đồ Ca-Tô thật là nhẹ dạ, cả tin, nhưng họ có thể nhẹ dạ đến mức tin rằng, trước khi có Ki Tô Giáo, những bậc thông thái như Pythagoras, Plato, Socrates…cần đến cái tên đánh cá Do Thái ngu đần này (Phê-rô) để đầy đọa hay cứu vớt linh hồn họ hay không? Nhất định là không, và chúng ta [ngày nay] cũng vậy.

(Graham, Lloyd, Deceptions & Myths of the Bible, The Citadel Press Book, New York, 1995, p.: 438: Thus the Catholic Church is founded on Peter whom, four verses later, Jesus openly calls Satan. Thus if the Catholic Church is founded on Peter, it is founded on Satan – a fact we have long expected. Peter’s story is the veriest nonsense – one mortal man endowed with the power over all humanity for all eternity. In things religious, Catholics are indeed credulous but can they be so credulous as to believe that pre-Christian sages like Pythagoras, Plato, Socrates…require this ignorant Jewish fisherman to bind and loose theirs souls? No, and neither are we.)

Đối với chúng ta, một câu hỏi tất nhiên cũng phải được đặt ra: người Việt Nam chúng ta, từ tổ tiên muôn đời đến chúng ta, có cần đến sự đầy đọa hay cứu vớt linh hồn từ cái tên đánh cá Do Thái Phê-rô, không những ngu đần mà còn hèn nhát, như được viết trong Tân Ước không? Và chúng ta có cần đến vai trò của người tự nhận là kế vị Phê-rô, và tại sao cần, khi mà vai trò Giáo hoàng đầu tiên của Ca-Tô Giáo Rô-ma, Phê-rô, rõ ràng chỉ là sự ngụy tạo thần học của Giáo hội?

Thứ ba, Thánh Kinh viết rõ, Phê-rô là mẫu người coi lời Chúa như không có, phản phúc và hèn nhát. Trước ngày Giê-su bị bắt, Giê-su bảo Phê-rô hãy thức cùng Giê-su để cầu nguyện cùng Giê-su, và Giê-su đi ra chỗ khác cầu nguyện. Tân Ước viễt rõ, Giê-su cũng sợ chết, không muốn chết nên cầu nguyện cùng Chúa Cha: “Cha ơi, nếu có thể đừng bắt con phải uống chén đắng này” [nghĩa là đừng bắt con phải chết] (Matthew 26: 38-39: “O My Father, if it is possible, let this cup pass from Me”), nhưng khi trở lại thì Phê-rô đã ngủ khì (Matthew 26: 40).. Khi Chúa bị bắt, vì sợ bị kết tội đồng lõa, Phê-rô đã ba lần chối Chúa, thề là không hề biết Chúa (Matthew 26: 70, 72, 74: Then he began to curse and swear, saying, “I do not know the Man!”). Khi Chúa bị đóng đinh trên thập giá thì Phê-rô trốn biệt. Một người tư cách như vậy mà Chúa lại chọn để thành lập giáo hội hay sao? Chúa không có môn đồ nào tốt hơn và hiểu biết hơn tên đánh cá Phê-rô hay sao?

Trước những bằng chứng không thể phủ bác như trên ở ngay trong Thánh Kinh, Joseph L. Daleiden, một học giả Ca-tô, trong cuốn Sự Mê Tín Cuối Cùng, trang 83, cho rằng “câu chuyện ủy quyền cho Phê-rô xây dựng giáo hội là một chuyện tiếu lâm” (On the face of it, I would take it as a joke) và trích dẫn lời của Albert Camus, cho rằng “Giê-su đã riễu cợt cái tên nghèo khổ, hèn nhát Phê-rô khi bảo Phê-rô là vững như phiến đá” (Camus pointed out, Jesus must have been making fun of of poor, cowardly Peter by referring to him as a rock of steadfastness.). Rồi Daleiden kết luận:

Do đó, chúng ta không lấy gì làm ngạc nhiên khi biết rằng nhiều học giả chuyên về Thánh Kinh tin rằng câu chuyện về Phê-rô, giống như nhiều chuyện khác trong Tân Ước, đã được người ta thêm thắt vào sau.

(Daleiden, Joseph, The Final Superstition: A Critical Evaluation of the Judeo-Christian Legacy, Prometheus Books, New York, 1994, p. 83: It is not surprising, therefore, to learn that many biblical scholars believe the evidence indicates that this reference to Peter, like many other New Testament passages, was inserted at a later date.)

Nhưng không phải chỉ có các học giả mới nhận ra sự phi lý trong câu chuyện về Phê-rô, mà chính những nhà Thần học nổi danh trong giáo hội Ca-Tô cũng phải thừa nhận rằng thuyết Chúa thành lập giáo hội và trao quyền cho Phê-rô chỉ là ngụy tạo.

Hans Kung, Giáo sư Thần học tại trường đại học nổi tiếng Tubingen ở Đức, cũng phải viết như sau:

Con người Giê-su lịch sử, tin chắc rằng ngày tận thế phải xảy ra ngay khi ông còn đang sống. Và vì sự sắp tới của Nước Trời này, không còn nghi ngờ gì nữa là ông ta không muốn lập ra một cộng đồng đặc biệt khác với nước Do Thái, với giáo lý, nghi thức thờ cúng, định chế, cơ quan chỉ đạo riêng của Do Thái. Tất cả những điều trên có nghĩa là khi còn sống Giê-su không bao giờ sáng lập một giáo hội nào. Ông ta không hề có ý tưởng thành lập và tổ chức một hoạt động tôn giáo đại qui mô như được tạo ra về sau. [Một tôn giáo như Ca-Tô Giáo Rô-ma ngày nay].

(Kung, Hans, Christ Sein (1976), p.338-339: The historical Jesus.. counted on the world’s coming to an end in his own lifetime. And for this coming of God’s kingdom he doubtless did not want to found a special community distinct from Israel, with its own creed, its own cult, its own constitution, its own office…All this means that in his own lifetime Jesus never found any church. He had no idea of founding and organizing a large-scale religious operation that would have to be created…)

Uta Ranke-Heinemann, nữ Giáo sư Thần học Công Giáo đầu tiên trong Giáo hội Ca-Tô, cũng viết:

Giáo hội đã biến Giê-su thành một dụng cụ tuyên truyền. Vì lý do này mà chúng ta tin vào mọi điều biện minh cho sự thành lập một giáo hội như được thêm thắt vào những lời Giê-su nói bởi những tác giả các phúc âm. Sự thêm thắt này gồm có điều Giê-su ca tụng Phê-rô như một phiến đá làm nền tảng để Giê-su xây dựng giáo hội của ông ta (Matt. 16:18), vì Giê-su không bao giờ có ý thành lập một giáo hội… Ở đây, không phải là Giê-su nói, mà là giáo hội ban khai muốn tạo cho mình một địa vị lãnh đạo và một khuôn mặt quyền lực vì sự tăng trưởng của cấu trúc lãnh đạo theo cấp bậc.

Trong chương 21, chương ngụy tạo trong phúc âm John – nghĩa là chương được thêm vào phúc âm chính sau này – ý tưởng về một vai phó đã được phát triển rõ ràng. Phê-rô trở thành kẻ chăn đàn chiên của Giê-su. Như là đại diện của Giê-su, người chăn chiên thực sự lúc đầu, hắn thay thế Giê-su trong nhiệm vụ này. Ngay sau đó, giáo hội nghĩ rằng điều quan trọng không phải là con người Phê-rô. Giáo hội quyết định rằng chức vụ của Phê-rô là nền tảng của Giáo hội, do chính Giê-su thiết lập vĩnh viễn. Với quan niệm này chúng ta có những giáo hoàng là kế thừa Phê-rô và là phụ tá của Giê-su, và chế độ giáo hoàng là nền tảng của giáo hội.

(Uta Ranke-Heinemann, Putting Away Childish Things, Harper-Collins., San Francisco, 1995, p. 217: The Church has turned Jesus into its propagandist. For this reason we take everything that presupposes or dicusses or promotes the existence of a Church as interpolation by the authors of the Gospels into Jesus’ original sayings. That includes Jesus’ hailing Peter as the rock on which he will build his church (Matt. 16:18), since Jesus never meant to found a church… It’s not Jesus who’s speaking here; it’s the early church, which was interested in having such a leadership position and authority figure because of its growing hierarchical structure.

In the inauthentic chapter 21 of John – that is, in a later addition to the actual gospel – the idea of a deputy is already clearly developed. Peter becomes the shepherd of the flock of Christ. He takes over the functions of Jesus, the former and actual shepherd, as his representative. Shortly afterward, the Church began to think that the important thing was not the person of Peter. The Church decided that the office Peter held was the bedrock foundation of the Church, and that Jesus established it permanently. With this concept we have the popes as Peter’s successors and Christ’s deputies, and the papacy as the foundation of the Church.)

Một nhận định chính xác về thực chất Giáo hội Ca Tô Rô Ma là của Linh Mục Joseph McCabe. Linh mục Joseph McCabe là một học giả nổi tiếng về bộ sử 8 cuốn: A Complete Outline of History. Bộ sử này được dùng trong các đại học Mỹ trong nhiều thập niên. Nhưng nổi tiếng hơn cả là một bộ sách Thế Lực Đen Quốc Tế “The Black International” (Chỉ Ca Tô Giáo Rô-ma) gồm gần 20 cuốn sách mỏng, viết về mọi mặt của Ca Tô Giáo Rô-ma , trong đó có những cuốn điển hình như sau:

#1: Tội Ác Sau Cùng (không phải là cuối cùng. TCN) Của Vatican: Thế Lực Đen Quốc Tế Đã Âm Mưu Chống Tự Do, Chủ Nghĩa Giải Phóng, và Dân Chủ Trên Thế Giới Như Thế nào?” (The Vatican’s Last Crime: How The Black International Joined The World-Plot Agaisnt Freedom, Liberalism, and Democracy);

#11: Cấu Trúc Toàn Trị Của Giáo Hội Rô-ma Với Một Fuehrer, Những Gauleiter, Tổ Chức Gestapo, Và Cơ Quan Kinh Tài (The Totalitarian Church of Rome: Its Fuehrer, Its Gauleiter, Its Gestapo, and Its Money-box) trong đó Linh mục McCabe đã so sánh Giáo Hoàng với Hitler mà người Đức Quốc Xã gọi là Fuehrer(lãnh tụ), trang 12: The Pope is an autocrat, a dictator, a Fuehrer in just the same sense as Hitler or Mussolini), so sánh Tổng Giám Mục, người cai quản một giáo phận, với Gauleiter, một quan chức lãnh đạo một vùng hay một miền dưới thời Đức Quốc Xã, Ibid., trang 18: Today in every country, the archbishops are the Gauleiter, the regional representatives of the Fuehrer, in the Nazi-Papal system, and their loyalty to the central caucus at Rome is easily secured today), so sánh Tổ Chức Linh Mục với tổ chức Gestapo của Đức Quốc Xã, Ibid., trang 20: The Roman Church has its Gestapo and other agents scattered over every country which it has conquered or hopes to conquer: quarter of a million priests, a vast army of monks and nuns, and an immense body of “technical experts” (journalists, teachers, writers, paid agents, organizers etc..; Each of these priests is, like the Gestapo men, a pocket edition of the head Dictator), ;

#13: La Mã Đặt Sự Phá Hoại Trên Văn Hóa: Giáo Hội Rô-ma, Nghèo Nhất Về Văn Hóa, Giầu Nhất Về Tội Ác(Rome Puts A Blight on Culture: The Roman Church The Poorest in Culture and Richest in Crime);

# 14: Giáo Hội Rô-ma, Kẻ Thù Của những Công Nhân: Rô-ma Là Đồng Minh Tất Nhiên Của Mọi Giới Bóc Lột (The Roman Church The Enemy Of The Workers: Rome Is The Natural Ally Of All Exploiters) v..v..

Nhưng tác phẩm dài nhất và đầy đủ về cấu trúc của chế độ Giáo hoàng, Thực chất giới Linh Mục, Học thuật Công Giáo (Catholic Scholarship), Các lễ tiết, bí tích mê tín trong Ca Tô Giáo Rô-ma v..v.. là cuốn Sự Thật Về Giáo Hội Ca Tô Rô-ma (The Truth About The Catholic Church, Girard, KS; Haldeman Julius, 1942). Cuốn sách này gồm có hai phần: Phần đầu nói về Lịch sử Giáo Hội Rô-ma (The History Of The Roman Church), và Phần hai nói về Giáo Hội Ngày Nay (The Church Today). Ngay chương đầu, Linh mục Joseph McCabe viết:

“Trong tất cả những chuyện giả tưởng vẫn còn được ẩn núp dưới cái dù dột nát “Chân lý Ca Tô Giáo”, truyền thuyết về chế độ giáo hoàng được thành lập bởi Chúa và hệ thống giáo hoàng thật đúng là lì lợm và có tính cách lãng mạn nhất. Chẳng có quyền lực thần thánh nào, mà chỉ là một chuỗi những ngụy tạo và cưỡng bách, những lừa đảo tôn giáo và tham vọng ngỗ ngược, phạm phải trong một thời đại cực kỳ ngu si, đã dựng lên quyền lực của giáo hoàng, hệ thống giáo sĩ và tín ngưỡng.

Từ “Giáo hội” chẳng có nghĩa gì trong thời của Giê-su và Phê-rô. Không có từ đó trong tiếng Aramic. Giê-su đã phải nói là “Giáo đường” [nơi tụ tập cầu nguyện của người Do Thái], và ông ta ghét những Giáo đường.”

(Of all the fictions which still shelter from the storm of modern criticism under the leaky umbrella of “Catholic Truth”, the legend of the divine foundation of the Papacy and the Papal system is quite the boldest and most romantic. No divine force, but a pitifully human series of forgeries and coercions, of pious frauds and truculent ambitions, perpetrated in an age of deep ignorance, built up the Papal power, hierarchy and creed…

The word “church” had no meaning at all in the days of Christ and Peter. There was no such word in Aramaic. Christ would have had to say “synagogue”; and he hated synagogues.)

Ngoài ra, chúng ta cũng nên biết, Hội Nghiên Cứu Về Giê-su (The Jesus Seminar) gồm nhiều học giả thuộc mọi hệ phái Ki-tô, sau nhiều năm nghiên cứu, cũng đưa ra cùng một kết luận, nghĩa là, Giê-su không hề có ý định thành lập giáo hội cũng như không hề ủy quyền cho Phê-rô xây dựng giáo hội. Tất cả chỉ là những điều giáo hội Ca Tô bịa đặt để tạo quyền lực cho giáo hội mà thôi.

Cũng vì những bằng chứng không thể chối cãi được ở ngay trong Thánh Kinh mà khi được hỏi rằng: “Giê-su có ý định thành lập một tôn giáo mới, tôn giáo mà ngày nay chúng ta gọi là Ki Tô Giáo, hay ít nhất là tạo ra một giáo hội Ki Tô tách biệt (ra khỏi Do Thái giáo. TCN) không?” (Did Jesus intend to found a new religion, the one we now call Christianity, or at least create a separate Christian church?), Linh mục John Dominic Crossan đã trả lời: “Câu trả lời cho câu hỏi đó là một chữ “KHÔNG” quyết định” (The answer to that is an emphatic NO).

Từ những bằng chứng nghiên cứu Thánh Kinh của các học giả trong thế giới Tây Phương và của cả những nhà Thần học nổi danh trong Ca-Tô Giáo Rô-ma, chúng ta thấy rõ sự ngụy tạo ra tín điều “Chúa chọn Phê-rô là người thừa kế” chẳng qua chỉ là mánh mưu của Giáo hội Ca-Tô để tạo quyền lực trên đám tín đồ đầu óc yếu kém, cả tin, và không bao giờ đọc hay không đủ khả năng đọc Thánh Kinh . Lịch sử đã chứng tỏ Giáo hội Ca-Tô triệt để khai thác sự ngu dốt của quần chúng và cho đến ngày nay, vẫn duy trì sách lược giam giữ tín đồ trong sự ngu dốt, trong một ngục tù tâm linh, không dám cho tín đồ biết về những sự thực về Kinh Thánh cũng như về Ca-Tô Giáo, tuy rằng những sự thật này đã được phổ biến rộng rãi trên thế giới.

Biết chắc là Giê-su đã bị đóng đinh trên thập giá, chết, và táng xác, nên không bao giờ có thể trở lại trần gian được nữa, Giáo hội mới bày đặt ra chuyện Chúa chọn Phê-rô để thành lập Giáo hội. Cả Chúa và Phê-rô cũng đã chết rồi, đâu còn có thể trở lại trần để mà cải chính hay bác bỏ giáo lý ngụy tạo của Giáo hội Ca-Tô. Nhưng mục đích của sự ngụy tạo này cũng không phải là để vinh danh Chúa hay Phê-rô mà thực ra chỉ dùng Chúa Giê-su và Phê-rô làm một bình phong thần học, một dụng cụ tuyên truyền, một bàn đạp để tạo nên thần quyền cho giáo hoàng và giáo hội. Giáo hội bày đặt ra chuyện Chúa chọn Phê-rô làm người kế vị để thiết lập giáo lý buộc các tín đồ phải tuyệt đối tin và tuân phục giáo hội thì mới được Chúa cứu rỗi. Theo sự diễn giảng của giáo hội thì Phê-rô là người tuyệt đối tin Chúa nên được Chúa chọn bất kể là Phê-rô ngu đần và hèn nhát như Thánh Kinh đã viết rõ. Sự bịa đặt này còn nhằm một mánh mưu khác, đó là dạy tín đồ chỉ cần đặt niềm tin vào Giê-su để được cứu rỗi, sự ngu dốt và vô đạo đức không phải là vấn đề, bởi vì chính Phê rô, bản chất là một tên ngu dốt và vô đạo đức, nhưng vì hết lòng tin Chúa nên vẫn được Chúa chọn. Bởi vậy chúng ta thấy không có tôn giáo nào mà giới giáo sĩ và các tín đồ lại có tỷ lệ ngu dốt và kém đạo đức như Ca-Tô Giáo Rô-ma. Và vì Phê-rô cũng đã chết rồi, cho nên quyền lực của Chúa nằm trong tay những người kế thừa Phê-rô, một chức vị tự phong của các giáo hoàng. Qua học thuật Ca-tô (Catholic scholarship), các tín đồ Ca Tô đều được nhồi sọ từ khi mới sinh ra đời tín điều hoang đường là “Giáo Hoàng là đại diện của Chúa” (Vicar of Christ), nắm trong tay những chìa khóa mở cửa thiên đường và có quyền “rút phép thông công” tín đồ, hoặc “giáo hội do Chúa Giê-su thành lập nên không thể sai lầm” v..v… Do đó điều kiện tiên quyết cho các tín đồ muốn được Chúa cứu rỗi là phải tuyệt đối “quên mình trong vâng phục” giáo hoàng, giáo hội. Điều bất hạnh cho nhân loại là ngày nay vẫn có hàng triệu người tin như vậy, không hề quan tâm đến những điều phi lý nằm trong những thủ đoạn thần học này.. Bởi vậy mà ngày nay, Giáo hoàng Benedict XVI vẫn thản nhiên tự nhận là Tôi, trong tư cách Người Kế Vị Thánh Phêrô và là Mục Tử toàn thể Hội Thánh” mà không chút ngượng ngùng trước thế giới.

Chúng ta thấy, chuyện Giê-su thành lập một giáo hội như giáo hội Ca-Tô Rô-ma ngày nay là một chuyện đã bị hầu hết những bậc thức giả ở trong cũng như ở ngoài giáo hội Ca-tô bác bỏ. Lẽ dĩ nhiên, không ai cấm ai không được tin vào một giáo hội thế tục do con người tạo ra và lừa dối tín đồ là do Chúa tạo ra. Đó là sự chọn lựa của họ và đó là niềm tin riêng tư của họ. Nhưng vì cái gì mà họ tự đặt mình trong sự lừa dối của một tổ chức thế tục nấp sau bình phong tôn giáo? Vì trên thực tế, nếu giáo hội Ca-Tô Rô-ma không phải là do Chúa thành lập, thì lẽ tất nhiên Chúa chẳng bao giờ can thiệp vào việc của một giáo hội không phải của Chúa. Điều này các tín đồ không bao giờ nghĩ đến.

Kết luận: Chúa Giê-su, nếu thực sự có một nhân vật được gọi là Chúa, thì Chúa cũng không hề có ở trong giáo hội Ca-tô Rô-ma này, và những người tin rằng có thể đến với Chúa qua ngả trung gian của giáo hội Ca-tô Rô-ma là những người sống với một ước muốn, một hi vọng không tưởng, không bao giờ có thể thành sự thật được.

Đây là một sự thật khá đau lòng đối với một số người đã từng đặt hết niềm tin vào một giáo hội với hi vọng có thể đến với Chúa qua trung gian của giáo hội. Nhưng dù đau lòng cách mấy, khi đối diện với một sự thật bất khả phủ bác, một số không ít người can đảm đã dứt khoát ra khỏi cái ngục tù tâm linh đã giam hãm mình trong nhiều năm. Và đây là một sự kiện.

Ngoài ra và hơn nữa, điều đáng nói ở đây là, ngoài sự vạch ra sự gian dối trên, các chuyên gia nghiên cứu Thánh Kinh còn chứng minh rằng: Giê-su, với những lời hứa hẹn hão huyền đầy tính chất tự tôn, tự cao, tự đại như trên, là người mắc bệnh tâm thần hoang tưởng, và thực tế đã cho các môn đệ ăn bánh vẽ vì ông ta đã ra đi và không hề trở lại. 2000 năm qua, những người tin là Giê-su có quyền phép “cứu rỗi” họ và cho họ lên thiên đường ở cùng ông đã dài cổ ra ngóng chờ “ngày trở lại” của Giê-su, nhưng năm này qua năm khác, thế hệ này qua thế hệ khác, thiên niên kỷ này qua thiên niên kỷ khác, Giê-su vẫn biệt tăm, tuy rằng trong thế giới Ki Tô có nhiều vị lãnh đạo tôn giáo đã nhiều lần tiên đoán ngày trở lại của Chúa Giê-su, nhưng không có lần nào trở thành hiện thực. Làm sao ông ta có thể trở về được khi ông ta đã bị đóng đinh trên thập giá, chết, và táng xác? Lời hứa hẹn vô trách nhiệm đầy tính cách lừa dối những kẻ nhẹ dạ như trên có giá trị gì khi những điều ông hứa không hề mảy may thực hiện được đã 2000 năm nay. Nhưng điều kỳ lạ là trên thế giới hiện nay vẫn có hàng triệu người tiếp tục tin tưởng và mong chờ ngày Giê-su trở lại trần, nếu bộ xương của Giê-su trong một tiểu quách mới tìm thấy ở Jerusalem có thể trở lại trần với nguyên vẹn hình người, hay hình Chúa..

Kết Luận Cho Mục I: Giáo hội Ca-Tô Rô-ma có phải là do Giê-su thành lập không? “Câu trả lời cho câu hỏi đó là một chữ “KHÔNG” quyết định” (The answer to that is an emphatic NO) [Linh Mục John Dominic Crossan].

Vậy thì, người Việt Nam theo Ca-Tô Giáo Rô-ma hay đạo Giê-su là vì cái gì?

II. Giê-su Sinh Ra Đời Để Làm Gì?

Giê-su sinh ra là một người Do Thái, bố (không biết là ai) và mẹ là người Do Thái, và theo lời khẳng định của Giê-su trong Tân Ước, Giê-su sinh ra chỉ để cứu người Do Thái mà thôi [Matthew 15:24]. Nhưng điều kỳ lạ là chính người Do Thái lại không tin Giê-su là cứu tinh của họ, và vì vậy trong suốt hai ngàn năm nay, mới đầu là giáo hội Ca-Tô-Rô-ma trong 1500 năm, và sau này, từ thế kỷ 16, thêm vào giáo hội Tin Lành, đã vu cho người Do Thái cái tội “giết Chúa”, và bách hại người Do Thái bất cứ khi nào có thể, đưa đến cao điểm là người Ca-Tô Hitler đã giết 6 triệu người Do Thái, lớn nhỏ, già trẻ. Nhưng tại sao người Do Thái lại không tin Giê-su? Tôi không muốn đi vào phần này vì khá dài. Nhưng tôi có thể giới thiệu một bài trên aish.com, bài: “Tại Sao Người Do Thái Lại Không Tin Giê-su?” (Why Don’t Jews Believe In Jesus?). Bài này đã giải đáp cặn kẽ câu hòi trên. Ở đây tôi chỉ liệt kê 7 lý do tại sao người Do Thái lại không tin Giê-su là cứu tinh của dân tộc Do Thái:

1) Giê-su không hoàn thành những lời tiên tri về một đấng cứu tinh.

2) Giê-su không là hiện thân những tư cách cá nhân của một đấng cứu tinh

3) [Trong Tân Ước] có những đoạn dịch sai để nói về Giê-su

4) Niềm tin của Do Thái là chỉ căn cứ trên sự mạc khải cho cả quốc gia (không chỉ cho một cá nhân)

5) Ki Tô Giáo mâu thuẫn với nền thần học Do Thái.

6) Do Thái không kỳ thị dân Gentile [Giê-su kỳ thị, dạy đệ tử không được giảng đạo ở xứ dân Gentile]

7) Điều kiện để đấng cứu tinh xuất hiện chưa đến.

a) Jesus did not fulfill the messianic prophecies

b) Jesus dis not embody the personal qualifications of messiah

c) Mistranlated verses “referring” to Jesus

d) Jewish belief is based solely on national revelation

e) Christianity contradicts Jewish theology

f) Jews and Gentiles

g) Not yet time for a Messiah

Vậy thực ra Giê-su sinh ra đời để làm gì? Theo Tập San Tin Mừng (Good News Magazine) thì:

Giê-su phải sinh ra đời vì tội (tổ tông) của nhân loại.

Giê-su phải sinh ra đời vì Thượng đế muốn bày tỏ đức tính của mình cho nhân loại.

Giê-su phải sinh ra đời để cất bỏ tội lỗi của nhân loại bằng một sự hi sinh hoàn mỹ.

Giê-su phải sinh ra đời để cho nhân loại có một đấng trung gian hòa giải

Giê-su phải sinh ra đời để đáp ứng lời hứa hẹn về hậu duệ của Abraham

Giê-su phải sinh ra đời để thay Thượng đế mang thánh linh đến cho nhân loại

Giê-su phải sinh ra đời để thay Thượng đế chuộc tội cho nhân loại.

[Jesus had to be born because of mankind’s sin.

Jesus had to be born because God wanted to reveal His own character to humanity.

Jesus had to be born to remove the sins of humankind through a perfect sacrifice.

Jesus had to be born for mankind to have a Mediator.

Jesus had to be born to provide the promised Seed of Abraham.

Jesus had to be born for God to make His Spirit available to all humankind.

Jesus had to be born for God to redeem mankind.]

Chúng ta thấy, tất cả những giải thích trên về sự sinh ra của Giê-su chỉ là những giải thích thần học dựa trên những huyền thoại trong Thánh Kinh, Cựu Ước cũng như Tân Ước, và giải thích cho những đầu óc thấp kém. Thử hỏi ngày nay, với những khám phá về vũ trụ nhân sinh, về thuyết Big Bang, về thuyết Tiến Hóa, mà chính Giáo hoàng John Paul II đã phải công nhận, có còn ai tin vào thuyết sáng tạo của Thượng đế, vào chuyện tội tổ tông v..v.. ngoài những người ít học và kém hiểu biết, đầu óc mù mịt sống trong những ốc đảo mê tín ngu dốt. Chứng minh?

Malachi Martin, giáo sư tại viện nghiên cứu Thánh Kinh của giáo hoàng tại Rô-ma dưới triều đại giáo hoàng John XXIII (Professor at the Pontifical Biblical Institute of Rome, served in the Vatican under Pope John XXIII), đã viết trong cuốn “Sự Suy Thoái Và Sụp Đổ của Giáo Hội Rô-Ma” (The Decline and Fall of the Roman Church) như sau, trang 230:

Giáo Hoàng John XXIII nói trong buổi khai mạc Công Đồng Vatican II ngày 11 tháng 10, 1962, rằng “những giáo lý và quan niệm sai lầm vẫn còn tồn tại nhiều, nhưng ngày nay con người đã tự ý loại bỏ chúng… Nhưng nếu Roncalli (John XXIII) không thấy là điều giảng dạy mới của mình dẫn tới đâu, thì hàng trăm nhà thần học và giám mục đã thấy. Trong những thập niên 1960-70, sau khi Roncalli chết, họ đã từ bỏ niềm tin về tội tổ tông, về quỷ Satan, và về nhiều giáo lý căn bản khác.

(Martin, Malachi, The Decline and Fall of the Roman Church, p. 230: Pope John XXIII told the opening session of his council on October 11, 1962, that “false doctrines and opinions still abound,” but that “today men spntaneously reject” them… But if Roncalli did not see where his new teaching was leading, hundreds of theologians and bishops did. In the sixties and the seventies after Roncalli’s death, they drew these conclusions and abandoned belief in original sin, in the Devil, and in many other fundamental doctrines.)

Tại sao các nhà thần học và giám mục lại từ bỏ thuyết thần học về tội tổ tông, về quỷ Satan và về nhiều giáo lý khác như “ơn cứu chuộc của Chúa”, “Chúa sống lại”, hay “Đức Mẹ đồng trinh” v..v..? Vì ngày nay, những thuyết này không còn phù hợp với trình độ hiểu biết tiến bộ của nhân loại, hơn nữa lại còn chứa những mâu thuẫn mà không nhà thần học nào có thể biện minh được.

Thật vậy, nhận rõ được tính chất hoang đường, vô hiệu, lỗi thời của “bí tích rửa tội”, của vai trò “chuộc tội” và “cứu rỗi” của Giê-su, nên trong cuốn Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Không Thì Chết (Why Christianity Must Change or Die), Giám mục John Shelby Spong đã dành riêng chương 6 để viết về đề tài Giê-su Như Là Đấng Cứu Thế: Một Hình Ảnh Cần Phải Dẹp Bỏ (Jesus as Rescuer: An Image That Has To Go). Trong chương này, Giám Mục Spong viết như sau, trang 98-99:

“Nhân loại chúng ta không sống trong tội lỗi. Chúng ta không sinh ra trong tội lỗi. Chúng ta không cần phải rửa sạch cái tì vết tội tổ tông trong lễ rửa tội. Chúng ta không phải là những tạo vật sa ngã, mất đi sự cứu rỗi nếu chúng ta không rửa tội. Do đó, một đấng cứu thế có nhiệm vụ khôi phục tình trạng trước khi sa ngã của chúng ta chỉ là một sự mê tín trước thời Darwin và một sự vô nghĩa sau thời Darwin.”

(We human beings do not live in sin. We are not born in sin. We do not need to have the stain of our original sin washed away in baptism. We are not fallen creatures who will lose salvation if we are not baptized… A savior who restores us to our prefallen status is therefore pre-Darwinian superstition and post-Darwinian nonsense.)

Và trong cuốn “Thiên Chúa Vẫn Sống: Từ Sợ Hãi Tôn Giáo Đến Tự Do Tâm Linh” (God Lives: From Religious Fear To Spiritual Freedom, Steven J. Nash Publishing, IL., 1993), trang 114, Linh mục James Kavanaugh cũng đưa ra nhận xét sau đây về tín điều “chuộc tội” trong Ca Tô Giáo:

“Đối với bất cứ người nào trong thế giới cổ xưa đứng trước Thiên Chúa như là một nạn nhân bất lực, tin rằng mình là một người có tội một cách vô vọng, coi Thiên Chúa như là một ông quan tòa giận dữ không thể tới gần được, cái chết có tính cách hi sinh của đức Ki Tô là một huyền thoại với đôi chút thực tế. Nhưng đối với con người hiện đại, nó chẳng còn ý nghĩa gì mấy trừ khi hắn đã bị làm cho sợ hãi và tẩy não một cách thích hợp từ khi mới sinh ra đời. Đối với hắn, hắn là một nạn nhân tuyệt đối thụ động của sắc luật của Thiên Chúa trong Thánh Kinh. Đối với tôi, đó là một huyền thoại “cứu rỗi” thuộc thời sơ khai miêu tả một người cha lấy cái chết của chính con mình để bớt đi cơn giận dữ. Đó là một chuyện ác độc không thể tưởng tượng được

Tôi chấp nhận sự kiện là đức Ki Tô đã chết, ngay cả chuyện ông ta bị đóng đinh trên thập giá. Nhưng tôi không thể chấp nhận huyền thoại cho rằng cái chết của ông ta là để chuộc tội cho tôi. Huyền thoại cứu rỗi như được viết trong Tân Ước chỉ là một lối diễn giải. Đó là một huyền thoại của thời sơ khai, bản chất của nó tương đương với nhiều huyền thoại cứu rỗi của nhiều dân tộc trong thời sơ khai ở khắp mọi nơi, nhưng nó lại độc ác một cách không tưởng hơn là hầu hết các huyền thoại khác. Nó phản ánh một thế giới mà con người có thể làm nguôi cơn giận của những thần sấm sét trong một cơn giông tố. Ngày nay, chó và mèo vẫn còn sợ sấm sét, nhưng con người thì ngồi yên trong nhà và hiểu rõ cái hiện tượng thiên nhiên đang xảy ra…

Tôi sẽ không chấp nhận cái huyền thoại về một Chúa Cha khắt khe đối xử với chính con của mình, Giêsu, bằng một công lý vô tình cảm, và đòi hỏi con mình phải chết trên thập giá cho những tội lỗi của tôi. Cái huyền thoại này cũng chẳng trở thành hấp dẫn hơn vì Chúa Cha đã làm cho con sống lại, đội mồ mà lên một cách vinh quang. Tôi không thể yêu mến một người cha như vậy hoặc phải biết ơn một người con như vậy trong một câu chuyện mượn từ một câu chuyện truyền tụng của nền thần học Do Thái cổ lỗ và thay đổi nó đi. Tôi không hề yêu cầu Giêsu phải chịu khổ thay cho tôi và ngay cả muốn ông ta làm như vậy…”

(To any man in the ancient world who stood before God as a helpless victim, who believed himself a hopeless sinner, who considered God an unapprochable and angry judge, the sacrificial death of Christ was a myth of some substance. But to modern man, it makes far less sense unless he has been suitably frightened and brainwashed from birth. To him, he is a voiceless victim of God’s decree in the Bible. To me, it is a primitive ‘salvation” myth which portrays an angry father appeased by the death of his own son. It is a tale of unbelievable cruelty…

I accept the fact that Jesus died, even that he was crucified. But I cannot accept the myth that his death was an atonement for my sins. The salvation myth as it appears in the New Testament is an interpretation. It is a primitive myth, in essence parallel to the salvation myths of primitive peoples everywhere, but it is more unbelievable and cruel than most myths. It rings of a world in which man could appease the gods of thunder during a storm. Now cats and dogs are frightened during storms; man stays inside and understands the natural phenomenon that is taking place…

I will not accept this mythical God-the-demanding-Father Who could treat His own son Jesus in unfeeling justice and demand his death on the cross to pay for my sins. Nor is the myth more appealing because He brought His son gloriously from the tomb. I cannot love such a Father or even be grateful for such a son in this borrowed and modified tale of archaic semitic theology. I did not ask him to suffer for me or even want him to..)

Sự từ bỏ những niềm tin về tội tổ tông, về quỷ Satan, và về nhiều giáo lý căn bản khác không đâu rõ hơn trong những thú nhận của Vatican trong vài thập niên qua. Thật vậy, từ năm 1981, tòa thánh Vatican đã mời một số chuyên gia đến để cố vấn cho tòa thánh về vũ trụ học. Cuối cuộc hội thảo, các chuyên gia được giáo hoàng John Paul II tiếp kiến. Ông ta nói với các khoa học gia là “cứ tự nhiên nghiên cứu sự tiến hóa của vũ trụ sau sự nổ lớn (big bang), nhưng không nên tìm hiểu về chính lúc nổ vì đó là lúc sáng tạo, do đó là tác phẩm của Thượng đế.” (Stephen Hawking, A Brief History of Time, p. 116: He told us that it was all right to study the evolution of the universe after the big bang, but we should not inquire into the big bang itself because that was the moment of Creation and therefore the work of God). Chúng ta nên để ý, Big Bang là hiện tượng nổ bùng của một dị điểm (singularity) vô cùng đặc, vô cùng nóng, nguồn gốc của vũ trụ ngày nay, và đã xảy ra cách đây khoảng 13.7 tỷ năm chứ không phải là chỉ có từ 6000-10000 năm do sự “sáng tạo” (sic) trong 6 ngày của Thượng đế Ki-tô giáo như được viết trong Kinh Thánh, được coi như những lời không thể sai lầm của Thượng đế. Và giáo hoàng nói câu trên chẳng qua chỉ để vớt vát phần nào mặt mũi của Thượng đế, Thượng đế của những khoảng trống (God of the Gaps), một mặt mũi đã không còn chỗ đứng trong thế giới tiến bộ trí thức và khoa học của nhân loại.

Rồi, trước những khám phá khoa học liên hệ đến thuyết Tiến Hóa bất khả phủ bác trong nhiều bộ môn của khoa học, năm 1996, Giáo hoàng John Paul II đã thú nhận trước thế giới là “thân xác con người có thể không phải là một sự sáng tạo tức thời của Thượng đế, mà là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần”. Ngài nói: “những kiến thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận thuyết tiến hóa hơn là một giả thuyết”. (Pope John Paul II has put the teaching authority of the Roman Catholic Church firmly behind the view that “the human body may not have been the immediate creation of God, but is the product of a gradual process of evolution.. The pope said that “fresh knowledge leads to recognition of the theory of evolution as more than just a hypothesis”).

Còn nữa, tháng 7 năm 1999, trước những khám phá xác tín nhất của khoa vũ trụ học, và trước những hiểu biết của con người ngày nay về cấu trúc của trái đất, Giáo Hoàng đã bắt buộc phải tuyên bố: “thiên đường không phải là một nơi trừu tượng mà cũng chẳng phải là một nơi cụ thể ở trên các tầng mây” (Heaven is neither an abstraction nor a physical place in the clouds), và “Hỏa ngục không phải là sự trừng phạt áp đặt từ bên ngoài bởi Thượng đế, mà là trạng thái hậu quả của những thái độ và hành động mà con người đã làm trong đời này” (Hell is not a punishment imposed externally by God, but the condition resulting from attitudes and actions which people adopt in this life).

Chấp nhận thuyết Big Bang, thuyết tiến hóa, chấp nhận con người không phải là do Thượng đế tạo ra tức thời mà chính là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần và lâu dài, thú nhận không làm gì có thiên đường (một cái bánh vẽ trên trời để dụ những người đầu óc mê mẩn, yếu kém), và hỏa ngục (một nơi để hù dọa những người không tin Chúa), Giáo hoàng đã chính thức bác bỏ thuyết “sáng tạo” của Ki Tô Giáo, phá tan huyền thoại về Adam và Eve là tổ tông loài người do Thượng đế tạo dựng từ đất sét, và kéo theo không làm gì có chuyện Adam và Eve sa ngã tạo thành tội tổ tông. Do đó, vai trò “chuộc tội” và “cứu rỗi” của Giê-su chỉ là những luận điệu thần học lừa dối của giới giáo sĩ Ki Tô Giáo khi xưa, được tiếp tục đưa ra không ngoài mục đích khai thác lòng mê tín của một số người, huyễn hoặc và khuyến dụ họ tin vào những điều không thực. Thật vậy, sự kiện là, Giáo hoàng đã bác bỏ đức tin quan trọng nhất trong Ki-tô giáo: Quyền năng “cứu chuộc”, “cứu rỗi” , “luận phạt” của Giê-su, do đó hi vọng của các tín đồ Ki-tô về một cuộc sống đời đời trên thiên đường cùng Giê-su chẳng qua chỉ là một ảo vọng, và sự luận phạt của Giê-su đối với những tín đồ đạo Giê-su không tin ông ta chẳng qua chỉ là một sự hù dọa đã không còn ý nghĩa.

Tôi tự hỏi, có bao nhiêu tín đồ Ki-tô, Ca-tô cũng như Tin Lành, biết đến những thay đổi trong nội bộ các giáo hội Ki-tô về căn bản tín ngưỡng trong Ki-tô Giáo, biết đến những sự kiện lịch sử này, và biết đến những quan niệm sai lầm bắt nguồn từ Kinh Thánh? Tôi nghĩ đa số chưa bao giờ nghe đến tên Copernicus hay Galileo, chưa bao giờ nghe đến những lời tuyên bố trước thế giới của giáo hoàng John Paul II. Tôi cũng nghĩ tuyệt đại đa số tín đồ Ki-tô chưa từng đọc đến Kinh Thánh và lẽ dĩ nhiên không có một kiến thức nào, dù là tối thiểu, về những tiến bộ của khoa học và đầu óc con người trên thế giới. Và lẽ dĩ nhiên, các tín đồ cũng chưa bao giờ được nghe các linh mục, mục sư cho biết những điều này trong nhà thờ, dù có thể chính họ cũng đã biết nhưng vẫn dấu kín trước đám tín đồ thấp kém ở dưới để giữ đức tin của tín đồ không bị chao đảo.

Thật vậy, Russell Shorto đã viết trong cuốn Sự Thật Của Phúc Âm (Gospel Truth) như sau:

Điều quan trọng nhất là, tác động của quan điểm khoa học ngày nay đã khiến cho các học giả, ngay cả những người được giáo hội Ca-Tô bảo thủ cho phép nghiên cứu, cũng phải đồng ý là phần lớn những điều chúng ta biết về Giê-su chỉ là huyền thoại… Các học giả đã biết rõ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Giê-su chẳng gì khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng – họ đã dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư. Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô bình thường.

(Most important, the impact of the scientific perspective is having now that even scholars working under a conservative Catholic imprimatur agree that much of what we know of Jesus is myth… Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger. So the only ones left in the dark are ordinary Christians.)

Nhưng có phải rằng Giê-su chẳng gì khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng” hay còn gì khác nữa? Nghiên cứu về sự sinh ra của Giê-su trong Tân Ước, nhiều học giả cho rằng, rất có thể những chuyện “giáng sinh” về Giêsu, sinh ra từ một trinh nữ trong Matthew và Luke đã được tạo ra để che đậy những phê bình phân tích về Ki Tô Giáo trong thế kỷ đầu: Giê-su là một đứa con hoang của Mary. Rải rác trong các Phúc Âm có những chi tiết chứng tỏ như vậy, nếu chúng ta biết đọc những bản văn này. Cũng vì vậy mà Giám Mục Spong, trong cuốn Sinh Ra Từ Một Người Đàn Bà: Một Giám Mục Nghĩ Lại Chuyện Sinh Ra Đời Của Giê-su (Born of a woman: A Bishop Rethinks The Birth of Jesus, Harper, SanFrancisco, 1992) đã đưa ra nhận xét, trang 41:

Giê-su đã được “ sinh ra từ một người đàn bà”. Nguồn gốc sinh ra đời của Giê-su cũng gây nhiều tai tiếng như cách ông ta chết. Ông ta (Giê-su) không là ai cả, một đứa trẻ ở Nazareth, chẳng có gì tốt đẹp có thể rút tỉa ra từ sự sinh ra đời này. Chẳng có ai biết cha ông ta là ai. Rất có thể ông ta là một đứa con hoang. Rải rác trong miền đất truyền thống Ki Tô lúc đầu (4 Phúc Âm), có những chi tiết chứng tỏ như vậy, giống như những thỏi mìn chưa kiếm ra và chưa nổ .

(But he was “born of a woman”… His origins were as scandalous as his means of death. He (Jesus) was a nobody, a child of Nazareth out of which nothing good was thought to come. No one seemed to know his father. He might well have been illegitimate. Hints of that are scattered like undetected and unexploded nuggets of dynamite in the landscape of the the early Christian tradition.)

Trước những sự thật khó ai có thể phủ bác như được viết trong Tân ước, có phải thật là tội nghiệp cho các tín đồ không, sống trong bóng tối, tin tưởng vào sự lừa dối vĩ đại của các “bề trên” về một huyền thoại xung quanh việc sinh ra đời của Giê-su?.

Sau đây, chúng ta sẽ nghiên cứu về vài sự kiện trong Tân Ước để có thể có một cái nhìn tổng quát hơn về nhân vật Giê-su trong lịch sử Do Thái.

Giê-su Nói Gì Về Sự “Sinh Ra” Của Minh?.

Trước hết, chúng ta hãy bỏ qua chuyện Giê-su “sinh ra” bằng cách nào, qua đường thụ thai sinh nở bình thường của một người mẹ, hay qua đường bất thường của một con Ma Thánh (Holy Ghost) trong nền thần học Ki Tô Giáo. Ai muốn tin sao cũng được. Các tín đồ Ki Tô Giáo nói chung được dạy Giê-su là con Thượng đế [God] xuống trần, chịu khổ nạn đóng đinh trên cây thập giá để chuộc cái tội tổ tông của nhân loại như được viết trong Cựu Ước, là người hòa giải giữa sự thịnh nộ của Cha ông ta như ông ta tự nhận, đối với loài người, và đối với cả súc vật nữa, cho nên con người nếu tin ông ta thì ông ta sẽ hóa giải những cơn thịnh nộ của Thượng đế đối với con người và do đó con người, bị thất sủng bởi cái tội tổ tông, sẽ được trở lại trong tình thương yêu của Thượng đế [sic] và sẽ được sống đời đời trên thiên đường, lẽ dĩ nhiên là sau khi chết. Nhưng chúng ta đã biết trong phần trên, những luận điệu thần học này nay đã không còn giá trị trong những xã hội văn minh, tân tiến, ít ra là trong giới những người hiểu biết.. Chúng ta hãy đọc vài lời do chính Giê-su nói về mục đích của ông ta sinh ra ở thế gian.

1. Trong Matthew 10: 34-36, Giê-su khẳng định:

Đừng tưởng rằng Ta xuống trần để mang lại hòa bình trên trái đất. Ta không xuống đây để mang lại hòa bình mà là gươm giáo. Vì Ta xuống đây để làm cho con chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng, và kẻ thù của con người ở ngay trong nhà hắn.

2. Và Luke 12: 51-53 cũng xác định lại khẳng định của Giê-su như sau:

Đừng tưởng Ta đến để đem hòa bình cho thế giới. Không, Ta đến để chia loài người làm hai. Từ đây, một nhà có năm người sẽ chia rẽ chống đối nhau: hai chống ba, và ba chống hai. Mâu thuẫn sẽ diễn ra giữa con trai với cha, con gái với mẹ, con dâu với mẹ chồng.

Thực ra, những lời nói trên của Giê-su, phản ánh những điều Giê-su đã đọc trong Cựu ước và lòng kỳ thị chủng tộc, ghét những người phi Do Thái, cho nên chỉ áp dụng cho vài dân tộc trong vùng Trung Đông ngày xưa mà thôi, nhưng đạo Giê-su đã bành trướng trên thế giới, và ảnh hưởng của nó đã biến những câu trên như là những lời tiên tri, không những cho vùng Trung Đông mà còn cho bất cứ nơi nào mà đạo Giê-su truyền tới. Nhận xét về những tác hại mà đạo Giê-su đã mang đến cho nhân loại trong vấn đề chia rẽ trong gia đình, quốc gia, và dân tộc, học giả Ca-Tô Joseph L. Daleiden đã đưa ra một nhận định về lời phán trên của Giê-su trong cuốn Sự Mê Tín Cuối Cùng (The Final Superstition), trang 177, như sau: “Thảm thay, đây là một trong vài hứa hẹn mà lịch sử chứng tỏ là Giê-su đã thành công hoàn thành.” [Tragically, this is one of the few promises that history shows Jesus was successful in fulfilling.]

Thật vậy, trong những lời của Giê-su trong Tân Ước thì chỉ có những điều trên là được ứng nghiệm, vì đi đến đâu, đạo Giê-su cũng đưa đến những cảnh chia rẽ, đối nghịch nhau, trong quốc gia, trong cộng đồng , và trong gia đình. Và những cảnh này xẩy ra vì giới truyền đạo đã thành công tạo nên một tâm cảnh cuồng tín trong đám tín đồ tân tòng mà tuyệt đại đa số là đám dân thấp kém, ít học hay vô học, tin vào những điều dã man trong Thánh Kinh mà họ được dạy là làm như vậy để vui lòng Chúa của họ..

Về đạo Giê-su truyền vào Việt Nam, Linh mục Lương Kim Định đã đưa ra nhận xét sau đây trong cuốn Cẩm Nang Triết Việt:

“Sự truyền đạo Thiên Chúa vào Việt Nam đã đưa đến sự chia khối dân tộc đang thống nhất thành hai phe Lương, Giáo làm cho sự liên lạc giữa đôi bên trở nên nhức nhối đầy e dè nghi kỵ. Đấy là một tai nạn lịch sử mà thời gian tuy có làm giảm đi nhưng xem ra không sao xóa sạch được.”

Và Nicole-Dominique Lê cũng viết trong cuốn Những Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Và Sự Xâm Nhập Vào Việt Nam (Les Missions Étrangères et la Pénétration Francaise au Vietnam) như sau:

“Các thừa sai đã phạm tội thúc đẩy giáo dân bất tuân luật lệ quốc gia. Từ bỏ những thờ phượng tôn giáo, những giá trị xã hội đã khiến cho họ sống ở ngoài lề của xã hội truyền thống. Nhưng nghiêm trọng hơn là, người ta trách cứ các giáo sĩ và giáo dân đã tạo nên sự phân chia quốc gia thành 2 khối tôn giáo đối nghịch nhau.”

(Les missionaires étaient coupables de pousser les Chrétiens à rejeter les lois de leur pays. Rejet des cultes religieux, des valeurs sociales qui les faisaient vivre en marge de la socíeté traditionnelle. Mais chose plus grave, on reprochait au prêtres et aux chrétiens la scission du pays en deux clans religieux opposés)

Như vậy, chúng ta thấy rằng, mục đích “giáng trần” của Giê-su, qua chính lời phán của Giê-su, đã ứng nghiệm trên khắp thế giới, ở bất cứ nơi nào mà đạo Giê-su lan đến, đặc biệt là ở Việt Nam.Vậy Giê-su có đáng để chúng ta ngưỡng mộ, tôn kính và thờ phụng không? Nói cách khác, người Việt chúng ta có nên theo đạo Giê-su không? Câu trả lời nằm trong câu hỏi.

Nhưng mục đích “giáng trần” của Giê-su không chỉ có vậy. Ông ta khẳng định trong Matthew 5: 17-18:

Các ngươi đừng tưởng ta đến để phá luật [của Cha ta] hoặc các lời tiên tri [trong Cựu Ước]; ta đến không phải để phá, mà để hoàn thành. Vì ta nói thật cùng các ngươi, cho đến khi trời đất không còn nữa, một chấm một nét cũng không được ra ngoài luật cho đến khi tất cả đều hoàn thành.

Những luật của Cha Giê-su trong Cựu Ước là những luật như thế nào? Có bao nhiêu tín đồ Ki Tô Giáo biết rằng trong Cựu Ước, Cha của Giê-su ta đã nhiều lần ra lệnh hay đích thân giết người tập thể (mass killing) vô số người vô tội: đàn ông, đàn bà, trẻ con, [con số lên đến hàng nhiều triệu] và hủy diệt nhà cửa, thị trấn, và các tôn giáo khác [How many Christians know that in the Old Testament, there are many examples of their God ordering or personally murdered innocent men, women, and children, along with the destruction of buildings, cities, and other religions?]. Đọc Cựu Ước chúng ta thấy Cha của Giê-su đã ra nhiều luật rất buồn cười và quái gở. Thí dụ như trong trại lính, quân sĩ đi cầu phải chôn phân vì “Ngài” không muốn nhìn thấy hay hít hà những đống phân đó khi Ngài đi dạo trong trại. Ngài chưa bao giờ tưởng tượng được là con người lại tiến bộ đến độ phát minh ra cái cầu tiêu máy, giật đến xòe một cái là xong chuyện. Ngài cũng còn kỳ thị nam nữ một cách quái gở như về phụ nữ sinh xong bao nhiêu ngày sau thì sạch, sinh con trai thì 7 ngày và phải thanh tẩy trong 33 ngày tiếp theo trước khi được bước vào nhà thờ, nhưng sinh con gái thì là 14 ngày và phải thanh tẩy trong 66 ngày v… v…. 66 ngày không được buớc vào nhà thờ thì mấy ông linh mục và mục sư hơi phiền, vì cái rỏ đưa ra để hứng tiền thiếu mất một phần. Nhưng cũng may là chẳng có ai buồn theo những luật này của Cha Giê-su mà Giê-su khẳng định không được thay đổi một chấm, một nét cho đến ngày tận thế.

Sau đây là vài luật điển hình của cha Giê-su:

Deuteronomy 12: 2-3: Phàm nơi nào những dân tộc, mà các người sẽ tước quyền, đã thờ các thần của chúng nó, hoặc trên núi cao, hoặc trên đồi, hoặc dưới bóng cây xanh, thì các ngươi phải phải hủy sạch đi. Và các ngươi phải phá hủy bàn thờ của chúng, triệt hạ những cây trụ thiêng liêng của chúng, và thiêu những pho tượng gỗ của chúng; các ngươi phải chặt những hình tượng đã được khắc lên của các thần và xóa bỏ tên các thần ở nơi đó.

(You shall utterly destroy all the places where the nations which you shall dispossess served their gods, on the high mountains and on the hills and under every green tree.

And you shall destroy their altars, break their sacred pillars, and burn their wooden images with fire; you shall cut down the carved images of their gods and destroy their names from that place)

Và thêm một luật nữa của Cha Giê-su ban cho Saul:

I Samuel 15:3: Bây giờ hãy tấn công Amalek, và hủy sạch tất cả mọi thứ mà chúng có, và giết sạch đừng chừa một ai. Hãy giết cả đàn ông, đàn bà, trẻ nít và trẻ sơ sinh, trâu cừu, lạc đà và lừa.

(Now go and attack Amalek, and utterly destroy all that they have, and do not spare them. But kill both man and woman, infant and nursing child, ox and sheep, camel and donkey.)

Numbers 25: 3-5: Và Israel theo thờ thần Baal (Bò con) của Peor; và cơn giận của Thiên Chúa nổi lên đối với Israel. Rồi Thiên Chúa bảo Moses, “hãy mang các tộc trưởng của Israel ra treo cổ trước mặt Ta, ở ngoài nắng, để Ta nguôi cơn giận đối với Israel. Và Moses ra lệnh cho các trưởng tộc: “Mọi người hãy đi giết những kẻ nào trong tộc mình theo thần Ball của Peor”

(So Israel was joined to Baal of Peor: and the anger of the LORD was aroused against Israel. Then the LORD said to Moses, 'Take all the leaders of the people and hang the offenders before the LORD, out in the sun, that the fierce anger of the LORD may turn away from Israel.” So Moses said to the judges of Israel, “Every one of you kill his men who were joined to Baal of Peor.”)

Chúng ta thấy, Israel là dân được Thiên Chúa chọn (chosen people), nhưng nếu có người dân nào theo thờ thần khác thì lệnh của Thiên Chúa là phải giết họ. Chẳng trách là con cái Chúa đã từng áp dụng luật lệ này khắp nơi bất cứ khi nào có thể. Nhưng ngày nay, sự tiến bộ trí thức của nhân loại đã tiến bộ nhiều, nên các giáo hội Ki Tô không còn có thể áp dụng những luật lệ ác ôn, tàn bạo, bất nhân của Thiên Chúa nữa. Ngày nay, con người muốn thờ thần nào thì thờ, muốn theo tôn giáo nào thì theo, ngoại trừ ở một số địa phương lạc hậu chậm tiến, và chính Thiên Chúa cũng bất lực trước sự kiện này. Nhưng khi xưa thì khác.

Thật vậy, với những luật lệnh ác ôn của Thiên Chúa như trên, cho nên chúng ta không lấy làm lạ khi thấy trong Thánh Kinh, chính Cha Giê-su đã tự mình ra tay thi hành luật của mình đặt ra qua hành động giết người tập thể. Thí dụ:

Cha Giê-su tự mình ra tay thi hành hình phạt đối với dân Ai Cập như sau chỉ vì chính ông ta đã làm cho trái tim của Pharaoh trai cứng không chịu thả dân Do Thái ra khỏi cảnh nô lệ:

Exodus 12: 29: Vả, khi giữa đêm, Chúa Cha [Cha của Giê-su] giết hại mọi đứa con đầu lòng ở trong xứ Ê-díp-tô, từ đứa con đầu lòng của Pharaoh đang ngồi trên ngai, cho đến đứa con đầu lòng của người bắt giam trong ngục tối, và hết thẩy con đầu lòng của súc vật.

(And it came to pass at midnight that the Lord struck all the firstborn of Pharaoh who sat on his throne to the firstborn of the captive who was in the dungeon, and all the firstborn of live stock)

Thế này là thế nào? Cha của Giê-su là bậc toàn năng, nghĩa là làm gì cũng được, nhưng phải chăng vì tính khát máu nên thay vì trổ tài đưa Moses và dân Israel ra khỏi Ai Cập, nếu muốn, lại đi giết hại mọi đứa con đầu lòng trong xứ Ai Cập, rồi trong cơn say máu lại giết thêm cả những con vật đầu lòng của súc vật nữa. Thế mà người ta vẫn ca tụng là “Thiên Chúa nhân từ”, “Thiên Chúa quá yêu thương thế gian” v..v.. Nhưng tại sao Ai Cập lại bắt dân Do Thái làm nô lệ? Theo nhà đại trí thức nghiện đạo Giê-su nặng là Đỗ Mạnh Tri viết trong cuốn “Ngón Tay Và Mặt Trăng” thì “Các Ông Vua Ai Cập hành hạ dân Do Thái nhưng các ông không biết rằng chính Thiên Chúa đã dùng các ông như phương tiện để giáo dục Dân Chúa”. Bắt “dân Chúa” làm nô lệ để giáo dục là phương tiện giáo dục đặc thù của Thiên Chúa, và Vatican đã áp dụng triệt để phương tiện giáo dục này. Chẳng vậy mà trong Ca-Tô Giáo Rô-ma, ngoại trừ giáo hoàng là đại diện của Chúa trên trần, còn toàn là nô lệ cả, trong đó có các tín đồ Việt Nam, vì họ đều là “Dân Chúa” cả. Nhưng thật ra họ đâu có phải là “dân Chúa” mà chỉ là “đàn chiên của Chúa”, mà cũng chẳng phải là “đàn chiên của Chúa”, chỉ là “đàn chiên“ của các “bề trên”, của những người chăn chiên trong giáo hội. Chuyện khó hiểu là giáo dục Dân Chúa xong rồi, Thiên Chúa lại ra tay thực hiện những hành động vô cùng tàn bạo ác ôn như trên đối với ông Vua Ai Cập và dân Ai Cập mà Thiên Chúa đã dùng để giáo dục dân Do Thái.. Phải chăng là để giáo dục dân Ai Cập? Hành động này của Thiên Chúa, người Việt Nam gọi là “ăn cháo đá bát”. Tôi thực sự mong rằng “Dân Chúa” ở Việt Nam không bao giờ phải gánh chịu một nền giáo dục của Thiên Chúa như vậy. Thật là tội nghiệp cho những đầu óc của những con chiên thuộc giới trí thức mà ngày nay còn coi chuyện Ai Cập bắt dân Do Thái làm nô lệ là một phương tiện giáo dục của Thiên Chúa...

Trong Thánh Kinh “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian” (John 3:16:) đã giết bao nhiêu người? Không ai biết rõ. Nhưng Steve Wells đã nghiên cứu xem giữa Thiên Chúa và Satan ở trong Thánh Kinh, ai giết người nhiều hơn. Và sau đây là kết quả: Thiên Chúa đã giết 2,270,365 [2 triệu, 2 trăm 70 ngàn, 365] người, và đây chỉ là một con số rất khiêm tốn, đếm được trong Kinh Thánh, còn những số người chết không được ghi trong nạn Hồng Thủy, trong những vụ hủy diệt thành Sodom và Gomorrah, và trong những thiên tai v..v.. thì không thể biết rõ được. Trong khi đó thì Satan chỉ giết có 10, mà một số trong đó đã được Thiên Chúa cho phép trong cuộc thách thức về gia đình Job. Thật vậy, ngày 9 tháng 8, 2006, Steve Wells đã viết trên Internet: In a previous post, I counted the number of people that were killed by God in the Bible. I came up with 2,270,365, which, of course, greatly underestimates God’s total death toll, since it only includes those killings for which specific numbers are given. No attempt was made to include the victims of Noah’s flood, Sodom and Gomorrah, or the many plagues, famines, fiery serpents, etc., with which the good book is filled. Still, 2 million is a respectable number even for world class killers. But how does this compare with Satan? How many did he kill in the Bible? Well I can only find ten, and even these he shares with God, since God allowed him to do it as a part of a bet. I’m talking about the seven sons and three daughters of Job.]

Đọc lịch sử Ca-Tô Giáo Rô-ma truyền vào Việt nam, chúng ta thấy các tín đồ Ca-Tô Việt Nam đã bị mê hoặc để thi hành luật trên của Cha Giê-su khi có cơ hội, luật mà Giê-su đã khẳng định là ông ta xuống trần để thi hành những luật của cha ông ta như trên mà không được thay đổi một chấm một nét. Chúng ta có vài tài liệu để chứng minh điều trên.

Ông Lý Chánh Trung, một nhà trí thức Ca Tô, trong cuốn Tôn Giáo và Dân Tộc nhận định rằng:

“Tuy nhiên lịch sử đã cho thấy rằng từ khi Giáo hội (Ca-Tô Rô-ma) đã trở thành quốc giáo thì cây gươm tinh thần của Thánh Phao-Lồ đã luôn luôn bị cám dỗ để biến thành cây gươm thép thực sự. Kể từ dạo ấy, mỗi khi hoàn cảnh cho phép, giáo hội đã không ngần ngại để dùng thế lực tiêu diệt các tôn giáo khác, đập phá các đền thờ “Tà Thần”, đốt sách vở ngoại đạo, và đốt luôn bọn người bị xem là “lạc đạo” nếu không chịu sửa sai.”

Trong cuốn The Vietnam Response to French Intervention, 1862-1874 của Mark W. McLeod, chúng ta có thể đọc được những đoạn sau đây:

Trang 45: khi nghe tin thành Saigon thất thủ, những tín đồ Ca-Tô Việt Nam ở miền Nam đã lợi dụng tình thế để khủng bố người “lương” hay “tốt” (nghĩa là, người phi- Ca-Tô) và đi làm “tay sai và mật thám cho Tây Dương “

(..upon hearing of the fall of Saigon citadel, the Vietnamese Catholics of the South were taking advantage of the situation in order to terrorize the “luong” or “good” (that is non-Catholics) people and to serve as “lackeys and spies for the Westerners)

Trang 114: Sự phân tích những hành động này cho thấy, trong những cuộc tấn công vào những cứ điểm của chính quyền Việt Nam, quân đội Pháp đã nhận được một mức độ hỗ trợ rất đáng kể từ những thừa sai và những tín đồ Ca Tô Việt Nam. Hơn nữa, những phương pháp mà các sĩ quan Pháp và những cộng tác viên Ca-Tô dùng tuyệt đối không thể coi là có đạo đức cao theo những tiêu chuẩn đương thời của ngay chính họ, vì những phái bộ truyền giáo Ca Tô đã dùng sức lao động(của tín đồ Ca Tô bản xứ; TCN), tài nguyên, và tin tức tình báo, đổi lấy hậu thuẫn của Pháp để thực hiện sự tàn sát liên miên người “lương”, mạo phạm những công trình xây dựng của Phật Giáo, thiêu hủy những làng mạc phi-Ca-Tô, và cướp bóc những thành phố của nhà Vua. Sự cộng tác với chủ nghĩa đế quốc Pháp của những tín đồ Ca Tô thường không được các sử gia nhận biết đầy đủ, nhưng đó chính là một yếu tố đáng kể góp phần thắng lợi cho Pháp ở Bắc Kỳ.”

[The analysis reveals that the French were far from alone in their attacks on the loci of Vietnamese authority because the invaders received a significant level of support from the missionaries and the Vietnamese Catholics. Moreover, the methods of the French officers and their Catholic collaborators could hardly be considered as evidence of a superior morality even by their own contemporary standards, for the Catholic Missions exchanged labor, resources, and information in return for French assistance in perpetuating summary executions, desecreations of Buddhist religious edifices, burning of non-Catholic villages, and pillaging of imperial citadels. This Catholic collaboration with French imperialism has not been adequately recognized by historians, but it was a significant contributing factor to the French success in Tonkin.]

Chúng ta nên để ý là giáo dân Việt Nam chỉ là một thiểu số, và những hành động man rợ phá hủy những công trình Phật Giáo chỉ có thể thực hiện được khi họ có cơ hội theo sau đoàn quân viễn chinh Pháp. Nếu Ca-Tô Giáo trở thành quốc giáo thì không hiểu các tín đồ Ca-Tô còn có thể có những hành động như thế nào để tàn sát liên miên người “lương”, mạo phạm những công trình xây dựng của Phật Giáo, thiêu hủy những làng mạc phi-Ca Tô để làm hài lòng Chúa của họ. Thời Ngô Đình Diệm ở Nam Việt Nam đã phần nào thực hiện những điều này, thường ở các vùng xa xôi, và cũng có giới hạn vì có tai mắt ngoại quốc.

Giáo hội Ca-Tô Rô-ma, một thời trong những bàn tay đẫm máu đã nắm những thanh gươm (để giết người) và những bó củi (để thiêu sống người) để thi hành những lệnh luật ác ôn phi tự do, dân chủ của Thượng đế của họ trên thế giới. Nhưng ngày nay, như John Remsburg đã viết trong cuốn “False Claims”, những thanh gươm và bó củi đã bị tước ra khỏi những bàn tay đẫm máu của Giáo hội Ca-Tô cho nên Giáo hội chỉ còn lại hai vũ khí là gây thù hận và xuyên tạc phỉ báng những người không đồng ý hay không tuân phục Giáo hội.

Kết Luận Cho Mục II: Các học giả đã biết rõ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Giê-su chẳng gì khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng – họ đã dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư.

Rất có thể Giê-su chỉ là một đứa con hoang, theo như nhận định của Giám Mục John Shelby Spong.

Khi chấp nhận thuyết Big Bang, thuyết Tiến Hóa và thú nhận không làm gì có thiên đường ở trên các tầng mây, cũng như không làm gì có hỏa ngục ở dưới lòng đất, Giáo hoàng John Paul II đã chính thức bác bỏ cái gọi là “tội tổ tông” đồng thời đã bác bỏ quyền năng “cứu chuộc”, “cứu rỗi” , “luận phạt” của Giê-su.

Vậy thì, người Việt Nam theo Ca-Tô Giáo Rô-ma hay đạo Giê-su là vì cái gì?

III. Về Nhiệm Vụ Truyền Giáo Của Đạo Giê-su Trên Thế giới.

Ki Tô Giáo cho rằng nhiệm vụ chính của các tín đồ là phải loan báo Tin Mừng Của Chúa trên khắp thế giới, nói khác đi là phải có nhiệm vụ truyền đạo. Vì vậy trong hơn 15 thế kỷ ở Âu Châu, Ca-Tô Giáo Rô-ma đã truyền đạo bằng những phương pháp tàn bạo nhất trong lịch sử nhân loại để cưỡng bách người dân phải theo Ca-tô Giáo. Và từ thế kỷ 16 thì các thừa sai đã làm tiên phong hoặc theo gót thực dân Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hòa Lan đi truyền đạo ở những vùng mà các thế lực thực dân Tây phương cưỡng chiếm bằng vủ lực. Thế kỷ 18, những người theo Thanh Giáo (một hệ phái Tin Lành) chạy trốn sự áp bức tôn giáo ở Âu Châu, nhưng khi đến Mỹ lại áp dụng chính sách diệt chủng dân Da Đỏ để truyền đạo. Vậy thực ra, sự truyền đạo Ki Tô trên thế giới không phải là để truyền bá văn minh hay đẩy mạnh những thăng tiến về vấn đề tâm linh hay trí tuệ của con người, mà hầu như ở khắp mọi nơi đều có cùng một chính sách cưỡng bức, mua chuộc, lừa dối v.. v.., đám tín đồ tân tòng kém hiểu biết, đưa họ vào trong vòng mê tín của một ngục tù tâm linh, để kiếm lợi vật chất và ngự trị trên đám tín đồ này. Điều này đã rất rõ ràng trong lịch sử nhân loại.

Thật vậy, chúng ta chỉ cần xét xem tuyệt đại đa số tín đồ Ca-Tô ngày nay thuộc giới nào trong xã hội khoan nói đến chuyện trong mấy thế kỷ trước. Chúng ta cũng xét xem những nhà truyền giáo Ca-Tô đã truyền đạo thành công ở lớp người nào trong quần chúng. Vài tài liệu sau đây hi vọng sẽ làm sáng tỏ vấn đề.

Về phương diện tín đồ, theo nhận xét của Malachi Martin, nguyên giáo sư tại Viện Nghiên Cứu Thánh Kinh ngay tại Vatican, trong cuốn The Keys of This Blood thì:

“Tự bao giờ, Ca Tô Giáo chỉ nảy nở trong đám dân chúng nghèo khổ và ít học.”

(Catholicism has always flourished only in poor population of low educational quality)

Cùng một ý tưởng, Adrian Pigott viết trong cuốn Freedom’s Foe – The Vatican:

“Họ (giáo dân) được nuôi nấng trong cái mà Tiến Sĩ Barnado gọi là “Bóng tối dày đặc của ý thức hệ La Mã”.. Thất học luôn luôn thịnh hành trong các nước theo Ca Tô Giáo Rô-ma- nhờ đó mà tập đoàn linh mục có thể nảy nở”

(They have been brought up in what Dr. Barnado called “The thick darkness of Romanism”.. Illiteracy is always prevalent in Romanist countries – to enable Priestcraft to flourish.)

Toàn Quyền Đông Dương J. L. de Lanessan, cách đây hơn 100 năm, trong cuốn Les Missions et leur Protectorat, trích dẫn bởi Patrick J. N. Tuck, cũng đưa ra một nhận xét như sau:

“Thật ra, trong hơn 2 thế kỷ mà các Hội Truyền Giáo Ca Tô hoạt động ở Trung Hoa và bán đảo Đông Dương, có lẽ họ không cải đạo được quá 10 học giả. Toàn thể giới cầm quyền có học của dân chúng đã tránh né sự truyền đạo của họ. Đại cương thì các nhà truyền giáo chỉ tuyển mộ được tín đồ trong những giai cấp thấp nhất, và phần lớn là những kẻ, vì lý do này hay lý do khác, đã bị xã hội An-Nam ruồng bỏ.”

(In fact during the two centuries and more that the Catholic Missions have been operating in China and the Indochinese peninsula they have probably not converted more than ten scholars in all. The entire educated and governing class of the population has evaded their proselytism. In general Catholic missionaries only recruit from among the lowest classes, and mainly among those who, for various reasons have been rejected by Annamese society.)

Và Nữ học giả Ca-Tô Joane H. Meehl, sau khi đã nhìn thấy rõ chủ đích và những việc làm của Giáo hội Ca-Tô từ thế kỷ 4 cho tới ngày nay, đã viết trong cuốn “Người Tín Đồ Ca-Tô Tỉnh Ngộ” (The Recovering Catholic, Prometheus Book, 1995, trang 288):

“Đạo Ca-Tô chỉ thịnh hành và phát triển trong đám người nghèo và ngu dốt. Nó chỉ bị khắc phục bằng giáo dục (mở mang dân trí. TCN) và đời sống kinh tế thoải mái.” (Catholicism thrives and grows among the poor and ignorant. It is overcome by education and economic well-being).

Nhưng giáo dục và đời sống kinh tế thoải mái chưa chắc đã khắc phục nổi những gì đã ăn sâu vào đầu óc tín đồ, cha truyền con nối trong nhiều đời. Bởi vậy chúng ta thấy, ngày nay có một số tín đồ Ca-Tô Việt Nam, vì sự tiến bộ trí thức của nhân loại, nên cũng trở thành những người gọi là trí thức theo nghĩa cũng có những hiểu biết cập nhật ngoài đời, nhưng về vấn đề tôn giáo, vẫn không thoát ra khỏi được cái ngục tù tâm linh cha truyền con nối đã khắc sâu vào tâm khảm họ. Đọc những gì họ viết, từ các “bề trên” cho tới những bậc khoa bảng trong đám tín đồ, về tôn giáo của họ, về các “đức thánh cha” của họ v.. v.., chúng ta thấy rõ như vậy.

Ngày nay, những nghiên cứu sâu rộng về Thánh Kinh của các học giả Tây phương trong vòng 200 năm gần đây đã chứng tỏ là nhiệm vụ truyền đạo, rao giảng Tin Mừng (sic) trên thế giới không có căn bản trong Thánh Kinh. Bởi vì Giê-su không bao giờ có ý định thành lập một giáo hội phổ quát như đã chứng minh trong phần trên, và nhất là Giê-su không có ý định giảng đạo của ông ta cho bất cứ sắc dân nào ngoài dân Do Thái. Điều này thật là rõ ràng trong Thánh Kinh. Vậy nhiệm vụ truyền đạo của Ki Tô Giáo từ đâu mà ra?

Giáo hội dựa vào câu trong Thánh Kinh, Matthew 28: 19, 20, cho là lời của Giê-su dạy các môn đồ:

“Hãy đi đến mọi quốc gia để làm cho họ thành tín đồ của ta, làm lễ rửa tội họ nhân danh Cha, Con và Thánh Thần, dạy cho họ biết phải vâng giữ mọi điều răn ta dạy các ngươi; và ta sẽ ở với các ngươi cho đến ngày tận cùng của thời đại”

(Go therefore and make disciples of all the nations, baptizing them in the name of the Father and of the Son and of the Holy Spirit, teaching them to observe all things that I have commanded you; and lo, I am with you always, even to the end of the age.) để viện cớ thi hành sách lược truyền đạo bằng bạo lực và cưỡng bách trên khắp thế giới.

Trước hết, chúng ta nên biết rằng câu trong Thánh Kinh trên không phải là câu Giê-su nói khi còn sống mà là khi đã chết rồi, và theo lý luận của nền Thần học Ca-Tô, đã sống lại sau ba ngày ba đêm (nhưng thực ra chỉ có hơn một ngày và 2 đêm : từ 3 giờ chiều thứ Sáu đến sáng sớm Chủ Nhật), và hiện ra trước các tông đồ, ra lệnh cho họ đi khắp thế giới truyền đạo, nếu chúng ta có thể tin được chuyện “sống lại” đầy tính cách hoang đường này. Ngày nay, ngoài đám tín đồ thấp kém, không còn ai, ở trong cũng như ở ngoài giáo hội, tin vào chuyện “sống lại” của một xác chết. Các nhà Thần học đã tìm cách giải thích khác đi sự “sống lại” (resurrection) của Giê-su và gọi đó là sự sống lại của tinh thần (spiritual resurrection).

Thứ đến, tất cả các chuyên gia nghiên cứu Thánh Kinh ngày nay đã cho rằng câu mà giáo hội đặt vào miệng Giê-su sau khi ông ta đã nằm yên dưới mồ là do chính giáo hội thêm thắt vào Thánh Kinh sau này để thực hiện âm mưu bành trướng đạo với mục đích chính yếu là tạo quyền lực trên đám dân ngu dốt và vơ vét của cải thế gian. Chúng ta chỉ cần nhìn vào tâm cảnh nô lệ Vatican của các tín đồ và tài sản của giáo hội trên khắp thế giới là thấy ngay nhận định như trên của các học giả không phải là vô căn cứ. Mặt khác lời dạy ở trên khi Giê-su đã chết hoàn toàn mâu thuẫn với những lời ông dạy tông đồ đi truyền đạo khi ông ta còn sống.

Ngoài ra, trong phần phân tích bằng chứng ngụy tạo ra chuyện Giê-su thành lập giáo hội và trao quyền lại cho Phê-rô ở trên, chúng ta đã thấy rõ, Thánh Kinh viết rằng Giê-su tin rằng ngày tận thế sắp tới, sẽ xảy ra ngay trong thời đại của ông, vậy bảo các tông đồ đi truyền đạo trên thế giới để làm gì? Như trên đã nói, trong Thánh Kinh có nhiều điều trái ngược hẳn với tinh thần của câu giáo hội ngụy tạo, đặt vào miệng Giê-su khi ông ta đã chết. Chứng minh?

Thứ nhất, tín đồ Ki Tô Giáo nói chung tin rằng Thánh Kinh là những lời mạc khải không thể sai lầm của Chúa, Chúa Cha cũng như Chúa Con. Thánh Kinh viết rằng trái đất phẳng và dẹt, đứng yên một chỗ, ở trên có một vòm trời bằng đồng thau v..v.. Vậy, ngay cả Chúa Cha cũng không biết là quả đất tròn và cho đến thế kỷ thứ 4, Thánh Augustine, bậc Thánh của Ca-Tô Giáo được coi là ông tổ của nền Thần học Đức Tin Ca-Tô, có trí tuệ siêu việt v..v.. cũng còn không quan niệm nổi một trái đất có hình cầu qua lời phát biểu: “Không thể nào có chuyện có người ở phía bên kia của trái đất, vì Thánh Kinh không ghi lại bất cứ một giống người nào như vậy trong các hậu duệ của Adam” (It is impossible there should be inhabitants on the opposite side of the earth, since no such race is recorded by Scripture among the descendants of Adam). Vậy, trước đó gần 400 năm, Chúa Con (Giê-su) bảo các tông đồ đi đến “mọi quốc gia” thì đó là những quốc gia nào? Hiển nhiên đó không phải là những quốc gia ở phía bên kia của một trái đất hình cầu, mà chỉ là những quốc gia giới hạn trong tầm nhìn của Giê-su, nghĩa là không ra ngoài những quốc gia trong miền Trung Đông. Điều này thật là rõ ràng khi chúng ta đọc nhận định sau đây của giáo sư thần học Uta Ranke-Heinemann:

Giê-su không hề có ý định thành lập một “giáo hội”, nhất lại là một “giáo hội phổ quát” trên khắp thế giới. Về một thí dụ chân thực về quan điểm của Giê-su, chúng ta hãy xét đoạn văn trong Thánh Kinh, Matthew 10: 5-6, nội dung đối ngược hẳn với nhiệm vụ truyền giáo trên thế giới: Mười hai tông đồ Giê-su phái đi để truyền đạo với lời dặn dò: “Không được đi đến nơi nào có dân Gentiles, và không được vào thành phố nào của dân Samaritan, mà chỉ đi đến những con dân Do Thái bị lạc” (nghĩa là chỉ đi rao truyền đạo Chúa trong dân Do Thái mà thôi. Và câu tiếp theo trong Thánh Kinh, Matthew 10:7“Trong khi đi hãy rao truyền tin Nước Trời đã gần đến rồi”.). Hai đoạn khác là trong Matthew 15:24: “Ta được phái xuống trần chỉ để cứu đàn chiên Do Thái bị lạc mà thôi”, Matthew 10: 23: “Ta bảo đảm với các ngươi, các ngươi chưa đi hết các thành phố của Do Thái thì Con của Người (nghĩa là Ta: Giê-su) đã đến rồi”.

Chính Giê-su – và ngày nay mọi nhà thần học đều biết vậy – tin rằng Nước Chúa sắp tới. Điều này đối ngược với nhiệm vụ truyền bá đạo một cách đại qui mô trên thế giới.

[Uta Ranke-Heinemann, Ibid., p. 215: Jesus has no intention of founding a “church” and certainly not a “church universal.” For an authentic example of Jesus’ view, consider Matt 10:5-6, which expresses the exact opposite of a universal commission: “These twelve Jesus sent out, charging them, “Go nowhere among the Gentiles, and enter no town of the Samaritans, but go rather to the lost sheep of the house of Israel.” Two further authentic passages are Matt 15:24, “I was sent only to the lost sheep of the house of Israel,” and Matt. 10:23, “You will not have gone through all the towns of Israel, before the Son of Man comes.” …Jesus himself – and all theologians have by now acknowleged this – believed that the Kingdom of God would be coming soon. But that is the opposite of a world mission in the grand style.]

Chúng ta cũng đã biết, trong Tân Ước, cả 4 Phúc Âm: Matthew 16: 27-28, 24:34; Mark 9:1, 13:30; Luke 21:27, 32; và John 14:3, đều viết rõ là Giê-su tin rằng Ngày Tận Thế đã sắp tới, và ông ta sẽ trở lại ngay khi một số tông đồ của ông còn sống, vậy ông ta không có lý do gì để mà sau khi chết lại nhỏm giậy truyền cho các tông đồ phải đi truyền đạo của ông ta trên khắp thế giới, tới nay đã 2000 năm rồi. Cho nên, sự bành trướng trên thế giới của đạo Giê-su chẳng qua chỉ là sự bành trướng của những tổ chức tôn giáo thế tục, dùng nhân vật Giê-su để huyễn hoặc đầu óc của con người, tạo thế lực và của cải vật chất như lịch sử đã chứng tỏ. Giáo hội lừa dối tín đồ, dạy họ phải đi truyền đạo, một nhiệm vụ cao quý để loan báo Tin Mừng của Chúa, hứa hẹn với họ một cái bánh vẽ trên trời, và tín đồ, vì không đọc Thánh Kinh, và vì một niềm tin không cần biết không cần hiểu, nên nhắm mắt đi truyền đạo với tất cả những thủ đoạn bất lương mà lịch sử đã ghi rõ, mà không hề biết rằng đó chỉ là sách lược bành trướng của giáo hội trên thế giới, trái ngược hẳn với những gì Giê-su nói trong Thánh Kinh.

Kết Luận Cho Mục III: Giê-su dạy các tông đồ chỉ được đi truyền đạo của ông về một “Nước trời” sắp đến trong những bộ lạc Do Thái. Vậy giáo hội dựa vào một câu Giê-su nói sau khi đã chết để đi truyền đạo trên thế giới thật ra chỉ là thực hiện âm mưu bành trướng đạo với mục đích chính yếu là tạo quyền lực trên đám dân ngu dốt và vơ vét của cải thế gian.

Vậy thì, người Việt Nam theo Ca-Tô Giáo Rô-ma hay đạo Giê-su là vì cái gì?

IV. Những Người Không Phải Là Dân Do Thái Có Được Giê-su Cứu Rỗi Không?

Trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, xuất bản năm 1995, trang 76, để trả lời câu hỏi “Tại sao nhân loại cần cứu rỗi?”, giáo hoàng John Paul II đã trích dẫn một câu trong Phúc Âm John làm luận điểm giải thích, “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban Con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.”. Câu trên không phải là lời giải thích cho câu hỏi “Tại sao nhân loại cần đến sự cứu rỗi?” mà là một khẳng định về đức tin Ca-Tô gồm có hai mặt: 1) huyễn hoặc những người nhẹ dạ cả tin, mê mẩn về một sự sống đời đời, sau khi chết, ở trên một thiên đường giả tưởng, bằng cách tin vào một nhân vật đầy tính chất huyền thoại do nền thần học Ki Tô Giáo tạo dựng lên; và 2) hù dọa những người đầu óc yếu kém về một sự luận phạt phi lý và hoang đường.

Điều này thật là rõ ràng khi về sau, tháng 7, 1999, chúng ta thấy Giáo Hoàng John Paul II, trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại, đã phải thú nhận là “không làm gì có thiên đường trên các tầng mây”Hỏa ngục không phải là sự trừng phạt áp đặt từ bên ngoài bởi Thượng đế” (Hell is not a punishment imposed externally by God).

Phủ nhận sự hiện hữu của một thiên đường trên trời và một hỏa ngục trong lòng đất, giáo hoàng cũng đã phủ nhận luôn sự cứu rỗi và luận phạt của Chúa, một sự hứa hẹn thuộc một đời sau do đó không ai có thể kiểm chứng, và một sự đe dọa cùng loại, hoang đường, mà giáo hội vẫn tiếp tục dùng cho tới ngày nay để nhốt tín đồ vào trong vòng mê tín. Đa số tín đồ Ca-Tô không biết đến sự phủ nhận thiên đường và hỏa ngục của giáo hoàng. Những thuộc hạ của giáo hoàng giải thích: che dấu sự thực là điều cần thiết để giữ đức tin của tín đồ, để cho niềm tin của họ khỏi bị chao đảo. Người ngoài giáo hội thì cho đó là hành động bất lương trí thức (intellectual dishonesty), vì giáo hội đã biết là không làm gì có thiên đường hay hỏa ngục, mà vẫn dụ tín đồ bằng cái bánh vẽ cứu rỗi, và hù dọa họ bằng một hỏa ngục giả tưởng.

Nhưng chính cái câu mà Giáo hoàng John Paul II trích dẫn trong Tân Ước ở trên đã làm cho Giáo hoàng lộ bộ mặt lừa dối tín đồ bằng một điều huyễn hoặc được thêm thắt vào trong Tân ước về sau để khuyến dụ đám tín đồ đầu óc thấp kém, vì câu đó không có một giá trị thiết thực nào. Bình luận câu John 3:16 ở trên, học giả Lloyd Graham cho rằng “Chưa bao giờ có nhiều ngụy biện có tính cách dạy đời được buộc chung với nhau trong một câu ngắn ngủi như trên” (No greater number of didactic fallacies were ever strung together in one short sentence) vì Thiên Chúa không hề thương yêu thế gian, Thiên Chúa không ban cho thế gian bất cứ cái gì; ông ta không có “người Con duy nhất”, lòng tin không cứu được một ai, và không có cái gì gọi là cuộc sống đời đời. (God does not love the world; God does not give the world anything; he has no “only begotten Son”, belief will not save anyone, and there is no such thing as everlasting life)

Thật vậy, phân tích câu trong Phúc Âm John mà giáo hoàng John Paul II viện dẫn ở trên chúng ta thấy ngay câu đó hoàn toàn vô nghĩa và phi lý. Thật vậy, trừ phi chúng ta chỉ biết cầm cuốn Thánh Kinh, không hề đọc, và nhắm mắt cầu nguyện. Nếu chúng ta mở mắt ra nhìn những cảnh khổ, cảnh bất công, cảnh con nít mới sinh ra đã bị khuyết tật hay chỉ là một quái thai v..v.. ở khắp nơi trên thế gian, kể cả trong các nước mà đa số dân chúng là tín đồ Ki Tô Giáo, thí dụ ở bên Anh có một gia đình Ca-Tô sinh ra một quái thai, hai thân dính liền nhau nhưng chỉ có một trái tim, thì không có cách nào chúng ta có thể chấp nhận luận điệu thần học của Giáo hoàng John Paul II: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian..” Chúng ta nên biết, theo niềm tin trong Ca-Tô giáo thì Thiên Chúa gồm những thuộc tính “toàn nhân”, nghĩa là vô cùng nhân từ, và “toàn năng”, nghĩa là làm gì cũng được. Hơn nữa, một Thiên Chúa mà chỉ thương yêu những người tin mình thì thực chất chỉ là một ngụy Chúa, không xứng đáng để cho con người tin, đừng nói đến kính trọng và thờ phụng. Sự hiện hữu của những cảnh khổ, những chiến tranh tôn giáo, những sự xấu ác ở trên đời là một nghịch lý mà từ xưa đến nay các nhà thần học Ki Tô Giáo không sao giải thích nổi để biện minh cho một Thiên Chúa Toàn Năng “ quá thương yêu thế gian”. Lối giải thích nghe suôi tai đối với những tín đồ đầu óc mê muội nhưng lại có tính cách mạ lỵ đối với tư duy con người trong thế giới văn minh tiến bộ như ngày nay là: “đầu óc con người không hiểu được những ý định hay việc làm của Thiên Chúa”.

Câu John 3: 16 ở trên: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban Con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.”, và câu tiếp theo, John 3: 18: “Người nào không tin vào Giê-su thì đã bị đầy đọa rồi, vì người đó không tin vào đứa con duy nhất của Thượng đếtheo tôi, là những câu vô nghĩa và bậy bạ nhất trong Tân Ước vì những câu này chỉ có thể áp dụng cho những người sinh sau Giê-su mà thôi. Lẽ dĩ nhiên chỉ có những người sinh sau Giê-su mới có thể biết đến Giê-su và tin Giê-su để không bị luận phạt và có cuộc sống đời đời, lẽ dĩ nhiên sau khi chết. Như được viết rõ trong Tân Ước, ngay cả bố mẹ Giê-su là Joseph và Maria, cùng các em trai em gái Giê-su cũng không tin Giê-su là đấng cứu thế, trái lại còn cho là Giê-su đầu óc bất bình thường (out of his mind), cho nên chắc chắn là họ đều bị Giê-su luận phạt và đày đọa xuống hỏa ngục vĩnh viễn? Lịch sử loài người đâu chỉ bắt đầu từ khi Giê-su 30 tuổi. Ấy thế mà vẫn có vô số người tin vào những cái câu nhảm nhí này.

Điều hiển nhiên là, trước khi Giê-su sinh ra đời thì nhân loại đã trải qua bao nhiêu thế hệ trong nhiều ngàn năm, trong đó có các thế hệ của tổ tiên, ông bà Giê-su. Ai biết đến Giê-su? Ai tin Giê-su? Vậy tất cả cũng đều bị Giê-su luận phạt hay sao? Trước năm 1533, người Việt Nam không ai nghe và biết đến tên Giê-su, hiển nhiên không ai có thể tin Giê-su, vậy tất cả dân tộc Việt Nam trong mấy ngàn năm trước năm 1533 cũng bị luận phạt hay sao? Những người Việt Nam tân tòng Ca Tô Giáo có nghĩ đến các điều hoàn toàn vô nghĩa như trên hay không? Cái tín điều phi thực tế, phi nhân tính, phi lôgic như vậy mà giáo hoàng nêu lên được trong thời đại này thì kể cũng lạ. Điều lạ hơn nữa là các tín đồ vẫn còn tin theo cái tín lý quái gở đó với một tâm cảnh vô cùng ích kỷ, chỉ nghĩ đến đời sống đời đời sau khi chết của riêng mình, mà không hề nghĩ đến bản chất ác độc, phi lý, phản khoa học, hoang đường, bất khả áp dụng, của sự luận phạt của Giê-su. Không những chỉ ích kỷ mà họ còn để lộ một tinh thần yếu kém, sợ sệt thần linh trong thời đại tiến bộ của khoa học kỹ thuật ngày nay mà quan niệm thần linh khi xưa đã không còn chỗ đứng. Trong thời đại mà các thần bình vôi, thần cây đa, thần hà bá v..v.. đã không còn ý nghĩa, tại sao họ vẫn còn có thể tin vào một “Thiên Chúa” của người Do Thái cách đây 2000 năm mà bản chất cũng không khác gì những “Thiên Chúa” trong dân gian trên khắp thế giới? Vậy thì chúng ta hãy bắt sang câu hỏi:

Những sắc dân phi-DoThái có phải là đối tượng cứu chuộc của Giê-su không?

Việt Nam hiển nhiên không phải là Do Thái, câu này nghe có vẻ ngớ ngẩn nhưng thực ra lại rất quan trọng, vì vấn đề chính tôi muốn đặt ra cho đồng bào Việt Nam của tôi là: Người Việt Nam có hi vọng được Giê-su cứu chuộc hay cứu rỗi không? Câu trả lời của riêng tôi là một chữ “KHÔNG” quyết định. Tại sao? Tại vì Tân Ước đã khẳng định như vậy. Chứng minh?

Đọc Tân Ước, chúng ta thấy là Giê-Su sẽ chỉ cứu dân Do Thái ra khỏi tội lỗi (Matthew 1: 21: for He will save His people from their sins) và sẽ ngự trị trên dân Do Thái đời đời mà thôi (Luke 1: 33: And He will reign over the house of Jacob for ever). Ngoài ra chúng ta cũng còn thấy là Giê-su rất ghét những người không phải là Do Thái (Matthew 15: 21-28). Và Thánh Paul khẳng định, theo lời mạc khải của Thiên Chúa: Hebrew 13: 8: “Giê-su Ki Tô luôn luôn như vậy, ngày hôm qua, ngày hôm nay và cho tới mãi mãi.” (Jesus Christ is the same yesterday, today, and forever).Điều này có nghĩa là nhiệm vụ xuống trần, chủ trương chỉ cứu chuộc người Do Thái mà thôi v.. v.., và thái độ bộc lộ ghét người phi-Do Thái của Giê-su, không bao giờ thay đổi.Vậy thì những sắc dân phi – Do Thái, trong đó có Việt Nam, mong cái gì ở Giê-su? Tôi không hiểu các trí thức theo Ca-Tô Rô-ma Giáo ở Việt Nam có biết đến những điều này hay không. Cho nên tôi thật thương hại những người không phải là dân Do Thái mà cứ sống trong ảo vọng, mơ tưởng rằng sẽ được Giê-Su cứu rỗi và cho mình một cuộc sống đời đời trên Thiên Đường trước nhan thánh Chúa, một luận điệu bịp bợm của Giáo hội như trong sự phân tích câu John 3: 16 trong Tân ước ở trên.

Câu chuyện sau đây trong Tân Ước sẽ chứng tỏ rằng sự ước mơ của những tín đồ Việt Nam theo Ki Tô Giáo để được Giê-su cứu rỗi đích thực là một ảo vọng. Chúng ta hãy đọc và đọc kỹ đoạn sau đây trong Tân Ước, Matthew 15: 21-28:

“Thế rồi Giê-Su đi tới vùng Tyre và Sidon. Và có một người đàn bà người Canaan đến từ vùng đó và kêu với Giê-Su “Hãy thương tôi, Chúa ơi, Con của David. Con gái tôi đang bị quỷ ám nặng.” Nhưng Người không thèm trả lời bà ta một tiếng. Và các đệ tử của Giê-Su tới và yêu cầu Giê-Su: “Hãy đưổi bà ta đi, vì bà ta cứ kêu cứu cùng chúng ta.” Nhưng Giê-Su trả lời: “Ta được phái xuống đây chỉ để cứu dân Do Thái mà thôi.” Rồi người đàn bà kia tới và thờ phượng Giê-Su và nói: “Chúa ơi, hãy giúp tôi.” Nhưng Người trả lời: “Lấy bánh của con dân Do Thái mà ném cho mấy con chó nhỏ [nghĩa là những người phi- Do Thái] ăn thì thật là chẳng tốt tí nào.” Và người đàn bà kia nói: “Đúng vậy, Chúa ơi, nhưng dù là những con chó nhỏ thì chúng cũng được ăn những mảnh bánh vụn rơi vãi từ trên bàn của chủ chúng xuống chứ.” Rồi Giê-Su trả lời: “Ô, Bà Già! Lòng tin của bà thật là lớn lao! Thôi tôi cũng chiều theo ý bà.” Và con gái bà ta hết bị quỷ ám ngay từ gìờ phút đó.”

(When Jesus went out from there and departed to the region of Tyre and Sidon. And behold, a woman of Canaan came from that region and cried out to Him, saying, “Have mercy on me, O Lord, Son of David! My daughter is severely demon-possessed.” But He answered not a word. And His disciples came and urged Him, saying, “Send her away, for she cries out after us.”. But He answered and said, “I was not sent except to the lost sheep of the House of Israel.” Then she came and worshipped Him saying, “Lord, Help me!” But He answered and said, “ It is not good to take the children’s bread and throw it to the little dogs.” And she said, “True, Lord, yet even the little dogs eat the crumbs which fall from their masters’ table.” Then Jesus answered and said to her, “O woman, great is your faith! Let it be to you as you desire.” And her daughter was healed from that very hour.)

Tôi xin để cho các độc giả tùy ý nhận định về tư cách, đạo đức và lòng vị tha của Giê-Su trong câu chuyện trên. Tôi không hiểu các đồng bào theo đạo Giê-su của tôi nghĩ thế nào khi đọc đoạn trên trong Thánh Kinh, rất có thể lòng tin của họ mãnh liệt và tự coi mình thấp hèn như bà già trong chuyện, cho nên vẫn tin rằng nếu mình hết lòng tin thì Giê-su sẽ đoái thương và cứu rỗi phần hồn sau khi chết, dù Giê-Su cũng đã chết như mình sẽ chết.

Đọc Thánh Kinh tôi nhận thấy tin theo Chúa kể cũng khá mất nhân vị: khi thì bị mắng là Satan (Phê rô), khi thì bị mắng là chó, nếu không phải là người Do Thái, khi thì bị mắng là đồ điên và mù, khi thì bị rủa là đồ rắn độc, bị đày đọa hỏa ngục v..v.. nếu chẳng may không chịu tin ông ta là con của Thượng đế. Hình ảnh của một Chúa nhân từ, được quảng cáo là “Jesus loves you” đầy trên đường phố ở Mỹ, quả thật không phù hợp với những ngôn từ Chúa nói trong Thánh Kinh.

Về chuyện Giê-su gọi người phi-Do Thái là chó ở trên, Tiến Sĩ Madalyn O’Hair bình luận như sau:

Trừ khi anh là người Do Thái, chẳng ai muốn anh trong tôn giáo này [Đạo Giê-su]. Đối với người nào thực sự “thực tâm cảm thấy Giê-Su là đấng cứu thế của họ” tôi xin giới thiệu một nhà phân-tâm học.

(Unless you are a Jew, you are not wanted in this religion. For someone who really “truly feels in his heart that Jesus is his Savior” I would recommend a psychiatrist.)

Và, Frederick Heese Eaton bình luận như sau trong cuốn Scandalous Saints, trang 214:

Giê-Su thường nhắc nhở đệ tử là phải thương yêu nhau, và thương yêu ngay cả kẻ thù (John 13:35; Matthew 5:44) Nhưng khi một người đàn bà không phải là người Do Thái tới nhờ Giê-Su chữa lành bệnh cho con gái, thì Giê-Su lại bảo bà ta rằng, “Không thể lấy bánh của con dân Do Thái vứt cho chó ăn.” (Matthew 15:26) Nói một cách khác, ông nói, “Người phi Do Thái là đồ chó. Tại sao ta lại phải làm bất cứ gì cho ngươi?” Anh cảm thấy thế nào khi Jesus gọi anh là chó? Gọi người phi Do-Thái là đồ chó không phải là sự biểu thị của lòng thương yêu. Giê-Su thật là hỗn hào, kiêu căng và tự phụ khi gọi người đàn bà kia là chó. Vậy trong vấn đề thực hành, Thánh Giê-Su chẳng có chút gì là Thánh cả. Những sự kiện [trong Tân ước] cho thấy Giê-Su thực sự ghét những người phi Do-Thái.

[Frederick Heese Eaton, Scandalous Saints, p. 214: Jesus repeatedly admonished his disciples to love one another, and even to love their enemies. (John 13:35; Matthew 5:44) Yet when a non-Jewish woman begged him to heal her daughter, Jesus told her, “It is not fit to take the children (of Israel’s) bread and to cast it to dogs.” (Matthew 15:26) In other words he said, “You non-Jews are dogs. Why should I do anything for you?” How would you like to have Jesus call you a dog? Calling people dog who were not Jews is hardly an expression of love. Jesus was insolent, arrogant and conceited in calling this woman a dog. So in actual practice, Jesus the Saint was not so saintly after all. The facts show that Jesus actually hated those who were not Jews.]

Người Việt Nam không phải là người Do Thái, ai cũng biết vậy, nhưng vẫn cần phải nhắc lại ở đây. Tuy nhiên chẳng có ai cấm người Việt nam tin rằng mình sẽ được Giê-su cứu chuộc như cứu chuộc người Do Thái, dù mình không phải là người Do Thái. Nhưng chẳng có ai nghĩ đến chuyện là chính người Do Thái lại không tin Giê-su là đấng cứu tinh của họ và do đó đã từ chối không chấp nhận vai trò cứu chuộc của Giê-su như chúng ta đã biết trong một đoạn trên.

Kết Luận Cho Mục IV: Tân Ước viết rất rõ: Giê-su sinh ra chỉ để cứu dân tộc Do Thái mà thôi và còn thậm ghét nhưng người phi-Do Thái: Matthew 1: 21; Matthew 15: 21-28; Matthew 15:26.

Vậy thì, người Việt Nam theo Ca-Tô Giáo Rô-ma hay đạo Giê-su là vì cái gì?

V. Trí Tuệ Và Đạo Đức Của Giê-su

Trước hết, có lẽ chúng ta cần phải trích dẫn nhận định về Giê-su của Bertrand Russell, một thiên tài toán học và triết lý, đã được giải thưởng Nobel năm 1950:

Xét về trí tuệ hay đức hạnh tôi không thể nào cho rằng Đức Ki-Tô cũng cao cả như vài người khác được biết trong lịch sử. Tôi nghĩ rằng, về trí tuệ hay đức hạnh, tôi phải đặt Đức Phật và Socrates lên trên Đức KiTô.”

(I cannot myself feel that either in the matter of wisdom or in the matter of virtue Christ stands as high as some other people known to history – I think I should put Buddha and Socrates above him in those respects.)

Nhận định như trên, Bertrand Russell quả đã đánh giá quá cao Giê-su khi so sánh với Socrates và Đức Phật, vì nghiên cứu kỹ về hai thuộc tính của Giê-su: trí tuệ và đạo đức, chúng ta thấy Giê-su không có gì có thể so sánh với Socrates và Đức Phật.Tại sao? Vì trí tuệ của Giê-su không thể gọi là trí tuệ, và đạo đức của Giê-su cũng không thể gọi là đạo đức. Chứng minh?

Trước hết là về trí tuệ. Trí tuệ phản ánh trong những lời giảng dạy hay giáo lý của Giê-su. Vậy thì, Giê-su giảng dạy những gì? Nhận định sau đây của Joseph L. Daleiden, một học giả Ca-Tô, trong cuốn The Final Superstition, trg. 174, về cái gọi là giáo pháp của Giê-su có thể giúp chúng ta nhìn rõ vấn đề một cách tổng quát:

Có rất ít, nếu có, điều sáng tác độc đáo trong giáo pháp mà người ta cho là của Giêsu. Giống như chính huyền thoại về Giêsu, những quan điểm mà Giêsu diễn đạt chỉ là một mớ hổ lốn những ngụ ngôn và luân lý mà chúng ta có thể thấy trong những đạo cổ xưa của Ai Cập, Babylon, Ba Tư, Hi Lạp, Phật, Khổng, Ấn Độ… Một điều rõ ràng: Ki Tô Giáo, một tôn giáo sinh sau đẻ muộn trong lịch sử các tôn giáo, chỉ cóp nhặt (đạo văn) những quan điểm, ý kiến của Do Thái Giáo và các tôn giáo gọi là dân gian. Trong cuốn “Nguồn Gốc Luân Lý Trong các Phúc Âm”, Joseph McCabe (Một Linh Mục Ca Tô. TCN) đã trích dẫn những quan điểm luân lý trong Phúc Âm mà người ta cho là của Giêsu song song với những quan điểm luân lý tương đương và y hệt của các tác giả Do Thái và dân gian.

[Daleiden, Joseph L., The Final Superstition, p. 174: There is very little, if anything, that is original in the teaching attributed to Jesus. Like the myth of Jesus itself, the sentiments he expresses are a hodgepodge of aphorisms and moral convictions that can be found in the ancient Egyptian, Babylonian, Persian, Greek, Buddhist, Confucian, and Hindu religions… But one thing is certain: Christianity, a late-comer in the history of religion, merely plagiarized sentiments from Judaism and the so called pagan religions. In his book Sources of Morality in the Gospels, Joseph McCabe quoted the moral views attributed to Jesus in the gospels and in parallel columns gave exact moral equivalents from Jewish and pagan writers.]

Thật vậy, đọc Thánh Kinh và với một chút kiến thức về triết học và tôn giáo, chúng ta có thể thấy rõ là nhận định của Daleiden không phải là sai. Và chúng ta nên nhớ, Joseph L. Daleiden chỉ nói về những điều mà người ta cho là có ý nghĩa phần nào về đạo đức và luân lý, chứ không kể đến những điều vô đạo đức và phi luân lý của Giê-su trong Tân ước như tôi sẽ chứng minh trong một phần sau.

Trong cuốn sách có tên là Một Thời Để Cho Sự Ngay Thẳng Của Ki Tô Giáo [A Time For Christian Candor], Giám Mục Pike đã thảo luận về các niềm tin của tín đồ đối với Giê-su, và chứng minh rằng Giê-su chỉ là một người thường, trang 108, như sau: “Cuốn Tân Ước thật là rõ ràng. Thật vậy, những sự kiện (trong Tân Ước. TCN) tự bao giờ vẫn luôn luôn rõ ràng cho bất cứ ai nhìn thấy chúng. Giê-su sinh ra ở một địa phương đặc biệt, vào một thời điểm đặc biệt. Mẹ và các em ông ta không cho rằng ông ta có một nhiệm vụ nào khác với nhiệm vụ của một con người.” (The new Testament is clear enough. Indeed, the facts have always been clear enough for any man to behold. Jesus was born in a particuliar place at a particular time. His mother and brothers did not understand that He had more than a human role to perform.), và Giê-su có những giới hạn về hiểu biết, trang 109, “Giê-su có một đầu óc giới hạn – điều này cũng đúng cho mọi người. Thí dụ, giống như các thầy tu Do Thái cùng thời, Giê-su cho rằng David đã viết tất cả bộ Thi Thiên cho nên ông ta đã viện dẫn thi thiên số 110 mà ông ta cho là của Vua David (thực ra là bài thơ này được viết sau thời của David), khi tranh luận với người dân Pharisees. Và ông ta nghĩ, cũng như mọi người trong thời đó, là ngày tận thế đã sắp đến. [He had a limited mind – as is true of every man. For example, like his fellow rabbis He thought that David wrote all the Psalms and hence He quotes as of Davidic authorship Psalm 110 (which in fact is of later date) in an argument with the Pharisees. And He thought, in accord with the apocalyptic temper of his day, that the end of the world is near]. Ngoài ra chúng ta cũng còn biết, Giê-su tin rằng Ngũ Kinh (trong Cựu Ước) là do Moses viết, nhưng tất cả các học giả nghiên cứu Thánh Kinh ngày nay đã chứng minh rằng Ngũ Kinh được viết trong nhiều thời kỳ khác nhau, bởi nhiều môn phái khác nhau, và sau khi Moses đã chết.

Khi chúng ta nói đến những điều giảng dạy của Giê-su thì chúng ta đã giả định rằng Giê-su có đầy đủ tư cách của một ông Thầy, đã để lại cho hậu thế một giáo lý nhất quán và phổ quát. Nhưng chúng ta không thể tìm thấy những thuộc tính này trong Ki Tô Giáo, vì với một tôn giáo thuộc loại “cứu rỗi” thì vấn đề không phải là những tiêu chuẩn đạo đức hay những triết lý về nhân sinh mà tất cả chỉ tùy thuộc vào lòng tin vào Giê-su chứ không liên quan gì đến những điều giảng dạy, nếu có, của Giê-su, và tất nhiên không mấy liên quan gì đến nhiệm vụ cứu chuộc hay cứu rỗi của Giê-su.

Để hiểu rõ vấn đề hơn, và để chúng ta có một khái niệm về vai trò của Giê-su trong một tôn giáo “cứu rỗi” như Ca-Tô giáo, tôi xin trích dẫn vài đoạn sau đây của Tiến Sĩ George Dennis O’Brien, Giáo sư Triết, Viện Trưởng Viện Đại Học Rochester, trong cuốn “Thần Ki-Tô Và Đường Xe Lửa ở New Haven. Và Tại Sao Cả Hai Đều Chẳng Mấy Thành Công”. Trong cuốn sách này, giáo sư O’brien đã phân tích cho chúng ta thấy rõ sự khác biệt giữa một tôn giáo thuộc loại “cứu rỗi” và một tôn giáo “giác ngộ” như Phật Giáo, trg. 101-108:

Một tôn giáo “giác ngộ” tăng tiến trí tuệ tâm linh hoặc đạo đức của chúng ta bằng một giáo pháp nào đó. Một tôn giáo “cứu rỗi” cải đổi đời sống của chúng ta bằng cách dẫn chúng ta sống đời sống của chúng ta trong một người khác. [Chúa ở cùng ta]

…Khi bậc Thầy xuất chúng qua đời, giáo pháp của ông ta có thể tiếp tục sống.. Ông ta có thể có một giáo pháp như Tám Thánh Đạo (Bát Chánh Đạo. TCN) khiến cho cái trí tuệ chuyên biệt của ông ta tồn tại vĩnh viễn. Ngay cả khi bậc Thầy không để lại một giáo pháp nào mà chỉ là mẫu mực của một trí tuệ tìm tòi và lý tưởng về tính Thiện, như Socrates, cái gương sáng của ông Thầy tồn tại và làm tiêu chỉ cố gắng cho những đệ tử sau này. Tất cả những phương tiện trên để tiếp nối “đời sống của Sư Phụ” đều có ý thức cao và được áp dụng rộng rãi… Nhưng cái khung truyện đó không phải là chủ trương của Tân Ước. Không phải là giáo pháp của ông Thầy tồn tại, mà là chính “ông Thầy”. Mà dù như vậy đi chăng nữa thì cũng không có “ông Thầy” mà chỉ có “ông cứu thế”. Vì cách duy nhất để có một tôn giáo cứu rỗi là qua sự xâm nhập vào đời sống của tôi của một người có ý nghĩa lạ lùng khác, cái “người khác” này thật là cần thiết để cho câu chuyện có thể tiếp tục. Không có sự “sống lại” thì không thể có chuyện để mà kể.

Do đó, tôn giáo cứu rỗi tùy thuộc ở “cải đổi”, “sống lại”, “thay đổi tận gốc rễ” trên căn bản một đời sống sống với một người khác.

Trong một tôn giáo cứu rỗi, ta không thể đạt được một trình độ tâm linh cao bằng cách học hỏi về một chân lý nào đó, một sự kiện nào đó, một con người nào đó. Tất cả những điều trên đều có tính cách giáo dục và cao quý, nhưng đó không thuộc một truyện phim thuộc loại cứu rỗi. Trong câu chuyện về tội lỗi và cứu rỗi, con người tới một trạng thái mới bằng cách sống với một người khác.

Giêsu có hội đủ những tiêu chuẩn của những bậc Thầy xuất chúng về tâm linh không? Không đâu. Cái tiêu chỉ của sự siêu quần về tâm linh là con người phải là một bậc Thầy xuất chúng về tỉnh thức, về trí tuệ tâm linh, hoặc một tâm bình lặng. Giêsu không phải là một ông Thầy, mà là một ông cứu thế.

Chúng ta hãy coi một bậc Thầy xuất chúng. Socrates là một thí dụ tốt. Socrates là một đại sư về tỉnh thức tâm linh. Ông ta cho rằng ông không biết gì cả, chỉ đặt cho học trò vài câu hỏi có tính cách mưu mẹo, thách đố. Socrates muốn chắc rằng học trò bám vào chân lý chứ không bám vào Socrates.

Đức Phật là một thí dụ về một bậc Thầy “tôn giáo” xuất chúng cũng có cùng giáo pháp tự chứng như Socrates.

Đức Phật không phải là một đấng cứu rỗi, Người là Đấng Giác Ngộ. Người đã chứng được những chân lý về nhân sinh, và Người đã đưa ra Tám Thánh Đạo để hướng dẫn con người đạt tới cùng sự giác ngộ như Người và do đó thoát khỏi khổ đau..

Tương phản với những bậc Thầy xuất chúng kể trên, chúng ta phải nói rằng Giêsu hiển nhiên hiểu lầm về vai trò của một giáo pháp. Giêsu không có học trò (hay đệ tử) mà chỉ có môn đồ (hay tông đồ). Và điều này không phải là ngẫu nhiên. Giêsu nói: “Kẻ nào “tin vào” Ta thì sẽ được sống đời đời.” Không phải là tin vào giáo pháp của ta mà tin vào chính TA. Cái mà Giêsu “biết” không phải là sự giác ngộ, Giêsu chỉ biết Chúa Cha: “Chỉ có con mới biết Cha”, “Kẻ nào biết TA sẽ biết Cha”, “Chỉ có thể đến với Cha ta qua TA”.

Bất cứ Ki-Tô Giáo có thể là cái gì khác, có vẻ như là ở ngoài mặt rõ ràng đó là một tôn giáo thuyết giáo về sự cứu rỗi và một đấng cứu rỗi. Trước khi chúng ta cảm thấy chán ngấy với ý tưởng này, điều quan trọng là chúng ta phải nhớ rằng hầu hết những chủ lực tinh thần lớn khác, không những là không thuyết giáo về sự cứu rỗi mà trong vài trường hợp, còn thực sự khinh ghét ý tưởng này. Hồi Giáo là một trường hợp điển hình… Người theo Hồi Giáo thấy rằng cái khái niệm Ki-Tô về một đấng cứu rỗi đã làm hạ phẩm giá của cả đấng cứu rỗi lẫn người được cứu rỗi.

Để sống đạo hạnh và tiến tới Giác Ngộ, con người cần những bậc Thầy chứ không cần tới các đấng cứu rỗi. Sự khác biệt thật là quan trọng. Xét về toàn diện, những tôn giáo đạo đức hay giác ngộ thì hợp với xu hướng của người Mỹ ngày nay hơn. Những tôn giáo này có hai lợi thế rõ rệt so với những tôn giáo dựa theo Thánh Kinh. Trước hết là những tôn giáo này có vẻ như là những con đường tâm linh tự lực Điều này hợp với tinh thần độc lập và tự tin của người Mỹ. Tuy rằng các bậc Thầy xuất chúng rất là đáng quý trong các tôn giáo này, nhưng họ cũng có thể được để qua một bên, và con người có thể tự học lấy. Người ta không thể tự cứu rỗi trong tôn giáo dựa vào Thánh Kinh. Lợi thế thứ nhì của các tôn giáo giác ngộ và đạo đức là những tôn giáo này có thể dẹp bỏ phần lớn cái mưu toan thần học. Nếu thực sự có các Thần – và trong Phật Giáo có vẻ như là không hề có – thì vai trò của các Thần là những bậc Thầy hữu ích (nhưng có thể bỏ qua), hoặc là những lý tưởng hay những nhân vật gương mẫu. Chân lý nằm trong giáo pháp chứ không nằm trong ông “Thầy – Cứu rỗi.”

[O’Brien, George Dennis, God and The New Haven Railway. And Why Neither One Is Doing Very Well, pp. 101-108: A religion of enlightenment improves our spiritual wisdom or our moral behavior by some teaching. A salvational religion converts our life by leading us to live our lives in another.

…When the great teacher dies, his teaching may well live on…He may have a teaching like the Noble Eightfold Path, which perpetuates his special wisdom. Even if the teacher leaves no teaching but only the example of an inquisitive mind and the ideal of the Good, like Socrates, the example of the teacher remains to be emulated by later students. All of those means of continuing “the life of the teacher” are eminently sensible and as broadly practiced as the planet is covered with talkers. But that scenario is not the New Testament line. It isn’t the teacher’s teaching that lives on, it is the “teacher”. But if that how it is, it is no “teacher” but “savior”. Since the only way to have a salvational religion is through the intrusion in my life of a strangely significant other, this “other” is indispensable for the ongoing story. Without “resurrection” the story cannot be told.

…Salvational religion depends, then, on “conversion”, “resurrection”, “radical change” on the basis of a life lived with another.

…In a salvational religion, one does not spiritual 10 by learning about some truth, fact, or person. All that is teacherly and noble, but it is not part of a salvational scenario. In a sin and salvation story, one comes to a new state by living with another.

…Does Jesus conform to the pattern of the great spiritual masters? He does not. The norm for spiritual masterhood is that one be a great teacher of enlightenment, spiritual wisdom, or the tranquil mind. Jesus is not a teacher, he is a savior.

Consider a great teacher. Socrates is a good example. Socrates is a master of spiritual enlightenment…He claims to know nothing; he only asks a few tricky questions…Socrates wants to make sure that the pupil is attached to the truth, not to Socrates.

Buddha is an examplar of a great “religious” teacher under the same Socratic self discipline.

Buddha is not a savior, He is the Enlightened One. He has seen the truths of human life, and he offers the Noble Eightfold Path as a guide to similar enlightenment and release from suffering..

In contrast to these great teachers, one would have to say that Jesus evidently misunderstands how teaching is played out. Jesus doesn’t have students, he has disciples. And not accidentally. Jesus says, “he who believes in ME shall never die.” Not who believes in my teaching, but who believes in ME. What Jesus “knows” is not enlightenment; he knows the Father. “Only the Son knows the Father. He who knows ME knows the Father. Only through ME can one come to the Father.

Whatever else Christianity may be, it seems on its face clearly to be a religion which preaches salvation and a savior. Before one becomes instantly bored with that idea, it is important to note that most other significanr spiritual contenders not only don’t preach salvation, in some cases they positively dislike it. Islam is a case in point. Muslims find the Christian notion of a savior demeaning both to the saver and the saved.

…For enlightenment and morality one needs teachers, not saviors. The distinction is crucial. On the whole, religions of morality or enlightenment are much more palatable to contemporary American taste. They have two distinct advantages over the Biblical tradition. In the first place they appear to be do-it-yourself spiritualities. This conforms to an American taste for independence and self-reliance. Although great teachers are valuable in these traditions, they are also dispensable, and one can be self-taught. One cannot be self-saved in the Biblical story. The second advantage of religions of enlightenment and morality is that they can dispense of most theological machinery. If there are Gods at all – and in Buddhism there appear to be none – then their role is either as helpful (but dispensable) teachers or as ideals and examplars. The truth is in the teaching, not in the teacher-savior.]

Qua vài tài liệu trên, chúng ta đã thấy về nhân vật Giê-su, trí tuệ là một cái gì không đáng để bàn tới vì, ngoài vài điều cóp nhặt từ các truyền thống Do Thái và dân gian, tất cả cái gọi là giáo pháp của Giê-su, đã được một số học giả nghiên cứu, nhận định rõ ràng. Sau đây là hai thí dụ điển hình:

a) “Tất cả những điều Giê-su nói, giáo lý, bài giảng đều đưa tới một đơn từ: “Ta””

(William Hirsch: All his sayings, his teachings, his sermons culminated in a single word: “I”)

b) Tất cả những điều rao giảng của Giê-su có thể nhận ra rõ ràng. Chúng nằm trong hai câu có ý nghĩa y hệt nhau: “Hãy thống hối, và tin vào Phúc Âm” hoặc, ở một nơi khác “Hãy thống hối, vì Nước Thiên Đàng sắp tới”

(Hermann Samuel Reimarus: What belongs to the preaching of Jesus is clearly recognized. It is contained in two phrases of identical meaning, “Repent, and believe the Gospel,” or, as it is put elsewhere, “Repent, for the Kingdom of Heaven is at hand”).

Đó là về mặt trí tuệ. Thế còn về đạo đức thì sao? Chúng ta hãy bỏ qua những chuyện như Giê-su hỗn hào với cha mẹ, gọi Phê-rô là Satan, gọi một người đàn bà không thuộc dân Do Thái là chó, và nguyền rủa những người không tin Giê-su là đồ rắn rết v..v.. và dọa sẽ đầy đọa họ xuống hỏa ngục để cho ngọn lửa vĩnh hằng của ông ta thiêu đốt. Trong Tân Ước còn có vài chuyện chứng tỏ hơn gì hết cái gọi là đạo đức của Giê-su.

1. Chuyện Giê-su đuổi quỷ, Matthew 8: 28 – 34:

Có hai người bị quỷ ám gặp Chúa Giê-su và quỷ trong hai người đó van nài Chúa Giê-su đuổi chúng ra và cho nhập vào một bày heo. Chúa phán “đi ra”, chúng liền nhập vào bầy heo và cả bầy heo (độ 2000 con, theo Mark 5: 13) rông tuốt xuống biển chết chìm hết. Trẻ con chăn heo chạy về làng kể chuyện lại cho dân làng nghe, cả làng kéo ra khỏi làng gặp Chúa Giê-su và… xin Ngài (có nghĩa là đuổi) hãy đi ra khỏi vùng đất của họ.

Chúng ta hãy tự hỏi, 2000 con heo có tội tình gì mà Chúa Giê-su “lòng lành vô cùng” của các tín đồ Ki Tô Giáo lại phù phép làm cho 2 con quỷ nhập vào cả đàn, rồi bắt chúng nhào xuống sông chết chìm hết? Như vậy có phải là Giê-su là người không có lòng nhân, vô cớ tự nhiên đang tâm giết cả một đàn heo vô tội một cách tàn nhẫn. Mà đàn heo cũng lại là những sản phẩm của chính Chúa Cha “sáng tạo” ra, vì theo niềm tin Ki Tô thì mọi thứ trên đời này đều là do Chúa Cha tạo ra cả. Bởi vậy dân làng mới coi Giê-su như là một tên phù thủy, một kẻ đáng chê trách, đã vô cớ hủy đi một nguồn lợi của dân làng, làm cho họ tự nhiên mất đi cả một đàn heo tới 2000 con, cho nên họ kéo ra ngoài làng, chặn đuổi Giê-su đi nơi khác, không dám để cho Giê-su vào làng.

2. Chuyện Giê-su nguyền rủa cây sung. Matthiew 21, 18-21:

Ông Đỗ Mạnh Tri, một trí thức nghiện đạo Giê-su, kể chuyện này trong cuốn Ngón Tay Và Mặt Trăng như sau:

Sáng sớm, khi trở vào thành, Ngài cảm thấy đói. Trông thấy cây vả bên đường. Người lại gần nhưng không tìm được gì cả, chỉ thấy lá thôi. Nên Người nói: “Từ nay, không bao giờ mày có trái nữa!” Cây vả chết khô ngay lập tức. Thấy vậy, các môn đệ ngạc nhiên nói: “Sao cây vả lại chết ngay lập tức như thế?” Đức Giêsu trả lời: “Thầy bảo thật anh em. nếu anh em tin và không chút nghi nan, thì chẳng những anh em làm được điều thầy làm cho cây vả, mà hơn nữa, anh em có thể bảo núi này: Dời chỗ đi, nhào xuống biển! thì sự việc sẽ xảy ra như thế.”

Rồi ông Tri bình luận và chê triết gia và nhà toán học nổi tiếng hoàn cầu trong thế kỷ 20, Bertrand Russell, là không biết đọc Thánh Kinh như sau:

“Chẳng cần phải là nhà Kinh Thánh học ta cũng biết rằng đây là một lối giảng dạy bằng dụ ngôn, bằng tác động. (…) Đọc dụ ngôn mà không biết uyển chuyển đôi chút, thật sự đáng tiếc nơi một con người đặt nặng vấn đề ngôn ngữ như B. Russell.”

Ông Đỗ Mạnh Tri đã thiếu lương thiện trí thức, trích dẫn thiếu sót Thánh Kinh, bỏ đi đoạn trên nói về đầu đuôi câu chuyện dẫn đến chuyện cây sung. Đoạn trên đó như sau:

“Thế rồi, khi Giêsu và các môn đồ tới Jerusalem, và tới làng Bethphage ở gần núi Olives, Giêsu sai hai môn đồ đi trước vào làng…..

…Giêsu đi thẳng vào đền thờ, đuổi hết những người mua bán ra ngoài, lật đổ bàn của những kẻ đổi tiền, và ghế của những kẻ bán chim bồ câu….

Rồi Giêsu bỏ họ, ra khỏi Jerusalem, về trọ tại làng Bethphage đêm ấy.”

Và chuyện cây sung bắt đầu: Sáng hôm sau, trên đường trở vào thành phố, Ngài thấy đói bụng….

Chúng ta thấy ngay rằng, thật ra, chỉ những người đã bị nhồi sọ một chiều từ khi còn nhỏ, hoặc có đầu mà không có óc, mới có thể cho câu chuyện cây sung ở trên là “một lối giảng dạy bằng dụ ngôn”. Một dụ ngôn thường là một câu chuyện về những nhân vật không dính dáng gì tới người đang kể chuyện hay những người đang nghe, và có tính cách giáo dục, luân lý. Ở đây, Matthew kể chuyện về một nhân vật Giê-su có thật, mới chết trước khi Matthew viết Phúc Âm Matthew khoảng 3, 40 năm, và câu chuyện có đầu có đuôi hẳn hoi. Mặt khác, ông Đỗ Mạnh Tri cũng không cho độc giả biết cái mà ông Tri cho là dụ ngôn của Chúa trong chuyện nguyền rủa cây sung dạy về cái gì? Luân lý, đạo đức, cách xử thế đối với chúng sinh? Tất cả đều không phải. Câu chuyện về cây sung chẳng phải là một “dụ ngôn” mà đã nói rõ một điều: ai có lòng tin vào Thiên Chúa thì có thể làm được như Giêsu, nghĩa là có thể nguyền rủa cho một cái cây chết héo queo ngay lập tức, ngoài ra còn có khả năng bảo núi chuyển là núi tự động bò xuống biển? Hay nói cách khác, ai tin vào Giê-su thì có thể làm được bất cứ cái gì mà mình muốn. Bởi vì câu cuối trong câu chuyện này, Matthiew 21: 22, Giê-su phán rằng: “Trong khi cầu nguyện, các ngươi lấy đức tin xin bất kỳ việc gì, thảy đều được cả.”

Chỉ có điều, trong 2000 năm nay, người tin Giêsu thì rất nhiều, trong đó có các giáo hoàng tự xưng là đại diện của Giê-su trên trần (Vicars of Christ), và tất nhiên có cả triệu giáo dân khác, nhưng nhân loại chưa thấy ai làm được những chuyện này. Vậy phải chăng những lời của Giê-su trong “dụ ngôn” về cây sung chẳng qua chỉ là những lời hứa hẹn hoang đường, vô trách nhiệm, và chỉ có những người không đội trời chung với lý trí, với suy luận v..v.. mới có thể tin vào những lời hứa hão của Giê-su. Hoặc là chẳng có ai có đức tin như Giê-su muốn cả vì những lời cầu nguyện của tín đồ chẳng bao giờ thành sự thực. Nếu thành sự thực thì thế giới ngày nay không có đạo nào khác ngoài Ca-Tô Giáo Rô-ma.

Về chuyện Chúa nguyền rủa cây sung ở trên, các chuyên gia phân tích Thánh Kinh kết luận rằng: hành động của Giê-su trong câu chuyện về cây sung (hay cây vả) chứng tỏ Giê-su đã vấp phải 4 sai lầm về kiến thức cũng như về đạo đức cùng một lúc:

- Không biết là trong mùa đó cây sung không thể có trái, nghĩa là thiếu kiến thức về mùa màng, cây cỏ.

- Hủy diệt vô lý vĩnh viễn một cây ra trái ăn được.

- Dễ nổi nóng, nổi quạu khi bị phật ý.

- Lừa dối các môn đồ bằng những lời hứa hẹn hoang đường: chỉ cần có lòng tin là có thể

thay đổi tình trạng vật chất thiên nhiên bằng lời nguyền rủa hay ra lệnh.

Nhưng vấn đề chính trong chuyện cây sung là, một chi tiết trong đó đã đương nhiên bác bỏ khả năng làm phép lạ của Giê-su như đi trên sóng, biến 1 ổ bánh mì thành 100 ổ bánh mì, biến nước thành rượu v..v.. Ngài là Thiên Chúa mà sáng ra Ngài lại đói như người thường. Tại sao Ngài lại không biến cục đá ngoài đường thành bánh mì để Ngài ăn cho đỡ đói mà lại hi vọng vào vài quả sung lúc trái mùa? Để rồi Ngài phải nổi quạu và nguyền rủa cây sung một cách phi lý? Ấy thế mà các tín đồ có đầu nhưng không có óc vẫn tin rằng Ngài quả là Thiên Chúa “lòng lành vô cùng” và có khả năng làm nhiều phép lạ.

Như chúng ta đã thấy, nhiều bằng chứng ngay trong Tân Ước chứng tỏ Giê-su có đầy dẫy những sai lầm và có một kiến thức rất giới hạn, tính tình dễ nổi nóng một cách bất thường v..v.. Vậy chúng ta có thể chấp nhận những lời tự tôn của Giê-su như “Ta là con đường, là sự thật, là sự sống” hay “Ta là ánh sáng của thế gian” v..v.. được hay không? Ánh sáng gì của thế gian? Ánh sáng soi sáng trí tuệ và đạo đức con người? Tuyệt đối không phải. Đó là ánh sáng, thật ra là sự tối tăm, của một đức tin mù quáng, không cần biết, không cần hiểu. Lịch sử thế gian cho thấy, vì tin vào “ánh sáng thế gian” của Giê-su, Ca-Tô giáo Rô-Ma đã chìm đắm trong bóng tối dày đặc của 2000 năm đầy tội ác và vẫn còn đang tiếp tục mưu toan lùa nhân loại vào cảnh tối tăm nô lệ cho một định chế thế tục độc tài tham lam vô độ mang danh nghĩa tôn giáo.

Thánh Kinh có đầy những chuyện chứng tỏ nhân cách và đạo đức thấp kém của Giê-su như trên, nhưng trên khắp thế giới, các tín đồ vẫn được dạy là “Chúa toàn hảo”, “Tình Yêu của Chúa” bao trùm thế gian v..v.. nên phải “Kính Chúa” và hãy hãnh diện là “đầy tớ hầu hạ Chúa”, “thờ phụng Chúa”. Nhưng Giám Mục John Shelby Spong thì lại nghĩ khác, vì sự lương thiện trí thức không cho phép ông ta tin nhảm nhí. Do đó, về chuyện đuổi qủy và nguyền rủa cây sung ở trên, ông đã viết:

Chúng ta có thấy hấp dẫn đối với một Chúa phải giết cả một bày heo để đuổi một con quỷ ra khỏi thân người hay không? Chúng ta có nên khâm phục và kính trọng người mà chúng ta gọi là Chúa đã nguyền rủa một cây sung khi nó không ra trái lúc trái mùa không?…

Cuốn Thánh Kinh đã làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị. Nó đưa đến cho tôi một Thiên Chúa mà tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng.

(John Shelby Spong, Rescuing The Bible From Fundamentalism, pp. 21,24: Are we drawn to a Lord who would destroy a herd of pigs in order to exorcise a demon? Are we impressed when the one we call Lord curses a fig tree because it did not bear fruit out of season?…

A literal Bible presents me with far more problems than assets. It offers me a God I cannot respect, much less worship.)

Ngoài ra, Giám mục John Shelby Spong, sau khi nghiên cứu Tân ước, đã đưa ra thêm một nhận định khác về Giê-su như sau:

Có những đoạn trong bốn Phúc Âm mô tả Giê-su ở Nazareth như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả.

(There are passages in the Gospels that portray Jesus of Nazareth as narrow-minded, vindictive, and even hypocritical).

Và Jim Walker cũng viết trên Internet trong bài Chúng Ta Có Nên Kính Ngưỡng Giê-su Không? (Should We Admire Jesus?):

Giê-su trong Thánh Kinh có xứng đáng với vinh dự mà người ta đã ban cho ông ta hay không? Bất hạnh thay, những người giảng đạo, mục sư, và giáo sĩ đã giảng cho chúng ta những câu chuyện với thành kiến một phía, nhấn mạnh và thổi phồng những điều mà họ thấy là tích cực và dẹp bỏ hoặc bỏ qua những điều tiêu cực. Nền học thuật về Thánh Kinh trong trăm năm nay không được những người thường biết đến. Trong khi đó thì, chúng ta thấy những mục sư và nhà truyền đạo trên TV chính trị đã khẳng định những điều vô nghĩa trong Thánh Kinh mà không bị ai đặt vấn đề trách nhiệm của họ. Tuy trên 90% gia đình ở Mỹ có một cuốn Thánh Kinh, thường là không đọc đến, hoặc nhiều nhất là làm nhẹ bớt hoặc lược bỏ khi muốn nói về Thánh Kinh.

Nhiều tín đồ Ki-Tô-giáo không hề biết đến là nhiều đoạn trong các Phúc Âm trong Tân Ước, Giê-su được mô tả như là một con người đầy hận thù, xấu xa, bất khoan dung, và đạo đức giả.

[Does the Biblical Jesus merit the honor bestowed upon him? Unfortunately, preachers, ministers, and clergymen have given us biased, one-sided stories, emphasizing and inflating what they see as positive while subverting or ignoring the negative. Biblical scholarship of the last hundred years has not reached the common man. Instead, we see political ministers and televangelists making absurd biblical claims without anyone calling them accountable. Although over 90 percent of households in America own a Bible, it usually goes unread, or at best sanitized or bowdlerized to what people want it to say.

Unbeknownst to many Christians, many times the Gospels of the New Testament portray Jesus as vengeful, demeaning, intolerant, and hypocritical.]

Chúng ta cần ghi nhận một điều: những kết quả nghiên cứu như trên về Giê-su đều do các vị có chức vụ trong các giáo hội Ki Tô hoặc các học giả trong các xã hội Ki Tô Giáo, không phải của người ngoại đạo, cho nên chúng ta khó có thể nghi ngờ thành ý và sự lương thiện của họ trong lãnh vực học thuật.

Kết Luận Cho Mục V: Từ những bằng chứng trong Tân Ước ở trên, xét về đức hạnh và trí tuệ, Giê-su không có gì đáng để cho con người tôn thờ, kính ngưỡng.

Vậy thì, người Việt Nam theo Ca-Tô Giáo Rô-ma hay đạo Giê-su là vì cái gì?

VI. Thánh Kinh Ki Tô Giáo Viết Những Gì?

Cuối cùng là vấn đề thẩm quyền của cuốn Thánh Kinh, nghĩa là cuốn Thánh Kinh có phải là những lời mạc khải không thể sai lầm của Thiên Chúa hay không, và nội dung cuốn Thánh Kinh ra sao, ngoài những câu vụn vặt mà các tín đồ thường hay trích dẫn làm hậu thuẫn cho niềm tin của mình.

Ngày nay, những ai còn nói chuyện mạc khải, hay thẩm quyền của Thánh Kinh, thật ra chỉ là những người còn sống trong bóng tối, lạc hậu ít ra là vài thế kỷ. Bởi vì, thực tế là, Thánh Kinh có phải là do Thiên Chúa mạc khải hay không thì trong Thánh Kinh, những chuyện loạn luân vẫn là loạn luân, độc ác vẫn là độc ác, giết người vẫn là giết người, phi lý phản khoa học vẫn là phi lý và phản khoa học v..v… Và trong Thánh Kinh, chúng ta phải thành thực mà công nhận rằng, không thiếu gì những chuyện thuộc những loại này. Thật vậy, tất cả những chuyện thuộc các loại sau đây chiếm hơn nửa cuốn Kinh Thánh: bạo hành giết người (Violence & Murder), giết người hàng loạt (Mass Killing), loạn luân (Incest), ăn thịt người (Human Cannibalism), độc ác đối với trẻ con (Child cruelty), tục tĩu quá mức (Scatology), trần truồng (Nakedness), đĩ điếm (Harlotry), hiếp dâm (Rape), thù hận tôn giáo và chủng tộc (Religious & Ethnic Hatred), nô lệ (Slavery), say rượu (Drunkeness) v..v.. [Xin đọc cuốn Tất Cả Những Chuyện Tục Tĩu Trong Kinh Thánh (All The Obscenities In The Bible) của Gene Kamar], chưa kể là những lời “mạc khải” của Thiên Chúa về vũ trụ, nhân sinh, đã chứng tỏ là hoàn toàn sai lầm trước những sự kiện khoa học bất khả phủ bác ngày nay.

Chắc có độc giả, nhất là những tín đồ Ki Tô, những người chưa từng đọc Thánh Kinh, không thể tin được như vậy. Xin hãy mở cuốn Thánh Kinh ra và đọc với một đầu óc chưa bị nhiễm độc, đọc từ đầu đến cuối, đừng bỏ sót phần nào. Đọc xong sẽ thấy rằng tất cả những chuyện không nên đọc như trên đều nằm trong Thánh Kinh. Nếu ngại công tìm kiếm những điều trên, có đầy trong Thánh Kinh, tôi xin giới thiệu một số tác phẩm trong đó các tác giả đã trích dẫn sẵn những câu, những đoạn trong Thánh Kinh mà lẽ dĩ nhiên các tín đồ Ki Tô Giáo không bao giờ được nghe giảng trong nhà thờ:

- “Cuốn Thánh Kinh Thuộc Loại Dâm Ô: Một Nghiên Cứu Bất Kính Về Tình Dục Trong Thánh Kinh” [The X-Rated Bible: An Irreverent Survey of Sex in the Scripture, AA Press, Austin, Texas, 1989] của Ben Edward Akerley: cuốn sách dày hơn 400 trang, liệt kê những chuyện tình dục dâm ô, loạn luân trong Thánh Kinh.

- “Tất Cả Những Chuyện Tục Tĩu Trong Thánh Kinh” [All The Obscenities in the Bible, Kas-mark Pub., MN, 1995] của Kasmar Gene: cuốn sách dày hơn 500 trang, liệt kê tất cả những chuyện tục tĩu, tàn bạo, giết người, loạn luân v..v.. (Human sacrifice, murder and violence, hatred, sex, incest, child cruelty etc..) trong Thánh Kinh.

- “Sách Chỉ Nam Về Thánh Kinh” [The Bible Handbook, AA Press, Ausrin, Texas, 1986] của W. P. Ball, G.W.Foote, John Bowden, Richard M. Smith …: Liệt kê những mâu thuẫn (contradictions), vô nghĩa (absurdities), bạo tàn (atrocities) v..v.. trong Thánh Kinh.

- “Sách Hướng Dẫn Đọc Thánh Kinh Của Người Tái Sinh Nhưng Hoài Nghi” [The Born Again Skeptic’s Guide To The Bible, Freedom From Religion Foundation, Wisconsin, 1979] của Bà Ruth Hurmence Green: Bình luận những chuyện tàn bạo, dâm ô, kỳ thị phái nữ trong Thánh Kinh.

- “Một Trăm Điều Mâu Thuẫn Trong Thánh Kinh” [One Hundred Contradictions in the Bible, The Truth Seeker Company, New York, 1922] của Marshall J. Gauvin: Liệt kê 100 điều mâu thuẫn trong Thánh Kinh.

- “Lột mặt nạ Thánh Kinh” [The Bible Unmasked, The Frethought Press Association, New York, 1941] của Joseph Lewis: đưa ra những sai lầm trong Thánh Kinh.

- “Thẩm Vấn Ki Tô Giáo” [Christianity Cross-Examined, Arbitrator Press, New York, 1941] của William Floyd: Phân tích từng quyển một trong Thánh Kinh.

- “Ki Tô Giáo Và Loạn Luân” [Christianity and Incest, Fortress Press, MN, 1992] của Annie Imbens & Ineke Jonker: Viết về Ki Tô Giáo và vấn đề loạn luân, những sự kiện về loạn luân và kỳ thị phái nữ bắt nguồn từ Thánh Kinh.

Xin nhớ rằng, những cuốn sách khảo cứu về Thánh Kinh như trên mà tác giả đều là những người sống trong quốc gia phần lớn theo đạo Giê-su, Mỹ, đã được phổ biến rộng rãi trên đất Mỹ, và Ca-Tô Giáo cũng như Tin Lành, dù có nhiều quyền thế và tiền bạc, cũng không có cách nào dẹp bỏ những cuốn sách trên, hay đối thoại để phản bác, vì tất cả đều là sự thật. Vì thế nên Khoa học gia Ira Cardiff đã đưa ra một nhận xét rất chính xác như sau:

Hầu như không có ai thực sự đọc cuốn Thánh kinh. Cá nhân mà tôi nói đến ở trên (một tín đồ thông thường) chắc chắn là có một cuốn Thánh kinh, có thể là cuốn sách duy nhất mà họ có, nhưng họ không bao giờ đọc nó – đừng nói là đọc cả cuốn.

Nếu một người thông minh đọc cả cuốn Thánh kinh với một óc phê phán thì chắc chắn họ sẽ vứt bỏ nó đi.”

(Virtually no one really reads the Bible. The above mentioned individual doubtless has a Bible, perhaps the only book he owns, but he never reads it – much less reads all of it.

If an intelligent man should critically read it all, he would certainly reject it.)

Nhưng rõ ràng hơn cả là những đoạn sau đây của Jack Bays viết trong cuốn Hình Bóng Của Quỷ (The Shadow Of The Demon), trg. 6-7, về những điều độc ác phi lý trong Thánh Kinh, những điều đã làm nguồn cảm hứng cho những hành động của Giáo hội Ca Tô sau này:

“Theo Thánh Kinh, hơn 99% những sự trừng phạt của Chúa Cha là đổ lên đầu những người vô tội – những người không hề dính líu gì tới những trường hợp để Chúa phải trừng phạt.

Vì Adam ăn một trái táo mà cả nhân loại bị đày đọa: “Vì sự xúc phạm của một người, cả nhân loại bị kết án và luận phạt” (Rom: 5:18). Những tư tưởng như vậy là từ đầu óc của một người man rợ không hề có một mảy may ý niệm nào về công lý.

Chúng ta được biết Thần Ki Tô mang 10 tai họa đến cho dân Ai Cập vì tim của Vua Ai Cập (Pharaoh) trai cứng (nghĩa là tàn nhẫn. TCN). Những người dân này không liên quan gì tới việc Pharaoh có trái tim trai cứng. Tuy vậy, gia súc của họ bị chết hết, mùa màng hư hại, vườn tược suy sụp, nhà cửa đổ nát, và tất cả những đứa con sinh đầu lòng đều bị giết. Nếu là lỗi của Pharaoh thì chỉ mình Pharaoh phải gánh chịu tai họa mà thôi. Và chúng ta cũng biết, chính Thiên Chúa đã làm cho trái tim của Pharaoh trai cứng.

Theo Thánh Kinh, Thiên Chúa đã dạy dân mà Ngài đặc biệt chọn (Do Thái) làm tội ác và giúp dân này thực hiện những tội ác. Thiên Chúa giúp Jacob lừa dối cậu của hắn ta (Gen: 30: 27-43), và Thiên Chúa dạy dân ngài chọn (Do Thái) đi lừa dối dân Ai Cập trong một cuộc lừa đảo lớn nhất trong lịch sử (Exo: 11: 2-4). Dân Ai Cập không trả công đủ cho dân Do Thái (đang làm nô lệ ở Ai Cập. TCN), cho nên, bài học luân lý vĩ đại của Thiên Chúa là: nếu chủ ngươi không trả công xứng đáng cho ngươi thì ngươi hãy ăn cắp của chủ để bù vào sự thiệt hại này.

Những chuyện này trong Thánh Kinh chứng tỏ những người viết Thánh Kinh có đầu óc của những dân man rợ, không có một ý niệm nào về công bằng và bác ái. Trong những cuộc chiến tranh chiếm đất phát động bởi “dân được Thiên Chúa chọn”, lệnh truyền ra là phải giết sạch mọi người, già hay trẻ. Ít ra là trẻ thơ không có tội tình gì và tội lỗi duy nhất của những người lớn tuổi là họ có đất đai và con gái mà những kẻ man dại, liều lĩnh, muốn chiếm hữu. Những nạn nhân này cũng là người có tín ngưỡng khác, và sự khoan nhượng tín ngưỡng của người khác là điều mà Thiên Chúa quyết định cấm, theo như Thánh Kinh. Dân “thánh Chúa” được lệnh phải tiêu diệt tất cả những ai không cùng tín ngưỡng. Thánh Kinh dạy chúng ta là phải giết ngay cả con trai, con gái, cha, mẹ chúng ta nếu những người này không theo tôn giáo của chúng ta. (Phục Truyền 13: 6-10).”

(More than 99% of all the punishment meted out by God, according to the Bible, was upon innocent people – people not even accused of having anything to do with the incidents that brought on the punishment.

Because Adam ate a certain apple all mankind is doomed: “By the offense of one, judment came upon all men to condemnation” (Rom: 5:18). Such thoughts came from the mind of a savage who never had the slightest conception of justice.

We are told that God brought the ten scourges upon the Egyptians because Pharaoh’s heart was hardened. These people had nothing to do with the hardening of Pharaoh’s heart. Yet their stock was killed, their crops ruined, their orchards destroyed, their buildings broken down, and their first born killed. If it was Pharaoh’s fault then he alone should have suffered. As the story goes it was God who hardened his heart..

According to the Bible, God taught his chosen people crime and aided them in it. He helped Jacob cheat his uncle (Gen: 30: 27-43), and he taught and helped his chosen people defraud the Egyptians in the largest con game in history (Exo: 11: 2-4). The Egyptians did not pay the Israelites enough, so the great moral lesson seems to be that if your boss does not pay you enough you are supposed to steal from him to make up for it.

These stories show that the Bible writers had the minds of barbarians with no conception of mercy or justice. In the wars of conquest waged by the “chosen people of God”, the command was for slaughter of old and young. At least the children were innocent of anything wrong and the only sin for which adults were being punished was that they had lands and young daughters that these wild, ruthless barbarians wanted. The victims had different religious ideas, too, and religious tolerance was positively forbidden by God according to the Bible. The “holy people” were to exterminate all who had a different religion. The Bible commands that son, daughter, father or mother be killed if they differ with us in religion. (Deut: 13: 6-10)).

Với nội dung cuốn Thánh Kinh như trên, chúng ta không lấy gì làm lạ khi gần đây, ở Hồng Kông đang có phong trào đòi Ủy Ban Đạo Đức Hồng Kông phải xếp lại Kinh Thánh của Ki Tô Giáo vào loại sách tục tĩu, khiêu dâm, tàn bạo, loạn luân, và Kinh Thánh phải bọc kỹ và bên ngoài phải khuyến cáo độc giả về nội dung, và không được bán cho trẻ em dưới 18 tuổi. [https://news.yahoo.com: More than 800 Hong Kong residents have called on authorities to reclassify the Bible as “indecent” due to its sexual and violent content.. The complaints said the holy book “made one tremble” given its sexual and violent content, including rape and incest. If the Bible is similarly classified as “indecent” by authorities, only those over 18 could buy the holy book and it would need to be sealed in a wrapper with a statutory warning notice.]

Nhà Nước Việt Nam cũng nên theo gương Hồng Kông để ra điều luật về sự truyền bá công khai cuốn Thánh Kinh, công bố rộng rãi trong quần chúng, đó không phải là vi phạm tự do tín ngưỡng, mà là nội dung cuốn Thánh Kinh không thích hợp với nền văn hóa của Việt Nam. Nếu cần, có thể tổ chức một cuộc “trưng cầu dân ý” để quyết định về đạo luật này sau khi bố cáo cho quần chúng biết đại cương về nội dung cuốn Thánh Kinh.

Trước những sự thực về cuốn Thánh Kinh, và trước những sự tiến bộ của khoa học trong việc tìm hiểu vũ trụ và nhân sinh, con người trong thời đại này không còn thể nào tiếp tục tin vào những điều hoang đường, phi lý và không thể đọc được trong Thánh Kinh và trong những giáo lý của Ca Tô Giáo Rô-ma nữa. Điều này phản ánh sự suy thoái trầm trọng của Ki Tô Giáo đang xẩy ra ở phương trời Âu Châu, cái nôi của Ca-Tô Giáo Rô-ma và Tin Lành trước đây. Tuy nhiên, điều đáng nói là, không phải là các giáo hội con không biết đến những sự kiện này, mà vì những quyền lợi thế tục về quyền lực cũng như về kinh tế, các giáo hội con ở các địa phương kém phát triển vẫn tiếp tục lùa đám giáo dân thấp kém vào những ốc đảo ngu dốt (từ của linh mục Trần Tam Tĩnh), bưng bít và dấu kín mọi tiến bộ của con người. Tín đồ Ca Tô quả là những người đáng thương chứ không đáng trách. Họ bị nhào nặn từ nhỏ để tin vào những điều không còn giá trị gì trong thế giới tiến bộ vì chúng cực kỳ phi lý, phản khoa học, chỉ phù hợp với đầu óc của những tín đồ Âu châu trong thời Trung Cổ. Bởi vậy, ở Việt Nam chúng ta còn thấy xuất hiện những tấm bảng đề “Dòng Tỳ Nữ Của Chúa Giê-su”; “Kính mừng Tông đồ Phê-rô”, hay “Chúa Giê-su Chết Thay Cho Tôi” v.. v.. phản ánh một niềm tin không cần biết, không cần hiểu như ông Giáo sư theo đạo Giê-su Đỗ Mạnh Tri đã viết không chút ngượng ngùng trong cuốn “Ngón Tay Và Mặt Trăng” trước đây. Cho nên, theo tôi, mọi người chúng ta cần phải nỗ lực giải hoặc cho họ, giúp họ theo kịp đà tiến bộ của nhân loại, giúp họ biết rõ sự thật về bản chất của tôn giáo họ, để từ đó họ có thể tự mình giải thoát ra khỏi mớ xiềng xích tâm linh vô hình. Trong thế giới Tây phương, không thiếu gì những bậc lãnh đạo Ca Tô, từ những nhà Thần học, các hồng y, giám mục, linh mục, cho đến các học giả trí thức v..v.. đã làm công việc này. Và viết bài này, tôi cũng không đi ra ngoài mục đích trên, một hành động mà theo tôi, trong thời đại này, vì sự tiến bộ của quốc gia trên mọi mặt, chúng ta không thể tự cho phép lơ là trước những vấn đề trọng đại của đất nước.

Nhưng tại sao trên thế giới ngày nay vẫn có hàng triệu người, không phải là Do Thái, thờ phụng Giê-su, tin vào sự cứu chuộc của Giê-su? Nguyên nhân chính là Ki-tô Giáo đã ngự trị ở Âu Châu với thế quyền và thần quyền tuyệt đối ở Âu Châu trên ngàn năm, từ thế kỷ 4 đến thế kỷ 16, đã áp dụng chính sách khủng bố, tra tấn, thiêu sống người ngoại đạo cũng như lạc đạo (không tin những gì giáo hội Ca-tô muốn con người phải tin) để cưỡng bách mọi người phải theo đạo, và sau này, từ thế kỷ 18, đã làm tiên phong hay đồng hành với các thế lực thực dân Âu Châu đi xâm chiếm và “mang tin lành” [thật ra là “tin dữ”(bad news), theo giáo sư David Voas trong cuốn The Bad News Bible : The New Testament] đến các quốc gia nhỏ bé, kém phát triển, đặc biệt là ở Nam Mỹ, Phi Châu và Á Châu. Ở những nơi đây, Ki Tô Giáo tập trung sự truyền đạo trong những cộng đồng nghèo khổ, thấp kém, ít học hay vô học. Điều này thật rõ ở khắp nơi, kể cả ở Việt Nam. Đây là những môi trường thích hợp nhất để mê hoặc đầu óc những con người cùng đinh trong xã hội vào trong vòng mê tín, dị đoan.

Trong những cộng đồng nghèo khổ, thấp kém, ít học hay vô học này, lòng “tin Chúa” của các tân tòng đạo Giê-su là tin theo những lời giảng của các linh mục, mục sư trong các nhà thờ về Giê-su qua những đoạn chọn lọc một chiều rất kỹ trong Tân ước để chỉ đưa ra một khía cạnh về con người của Giê-su mà họ tôn lên làm Chúa. Vì không đọc Thánh Kinh, và phần lớn vì kém hiểu biết nên tuyệt đại đa số tín đồ không có khả năng để biết là những điều họ nghe giảng trong nhà thờ, hay những đoạn trích dẫn vụn vặt trong Thánh Kinh nhiều khi rất mâu thuẫn với những đoạn khác trong Thánh Kinh, không nhất quán, và thường không đúng với những sự thực về Giê-su như được viết rõ trong Thánh Kinh. Vả chăng lòng cả tin hầu như tiềm ẩn trong mọi con người, cho nên họ rất dễ tin vào những điều hứa hẹn về một thiên đường của giới truyền đạo nhất là khi họ được nhồi sọ để mà tin, không cần biết, không cần hiểu. Họ không có khả năng để nhận biết Giê-su có xứng đáng để cho họ kính ngưỡng hay không. Hơn nữa, vì đầu óc yếu kém nên họ sợ hãi trước sự hù dọa về sự đầy đọa trong hỏa ngục nếu không chịu tin những lời các nhà truyền giáo giảng dạy. Và cũng vì đầu óc yếu kém nên họ đi theo con đường dễ dãi, chỉ cần tin là có thể lên được thiên đường như họ được hứa hẹn. Và nhất là, họ không biết đến những sự thật trong thế giới tiến bộ ngày nay mà chính Giáo hoàng cũng như nhiều bậc lãnh đạo trong Ca Tô Giáo Rô Ma cũng như Tin Lành đã phải chính thức thú nhận trước quần chúng là: Chẳng làm gì có thiên đường cũng như chẳng làm gì có hỏa ngục. Đã không có thiên đường thì họ hi vọng ở cái gì? và đã không có hỏa ngục thì họ còn sợ hãi ở cái gì? Nhưng điều đáng buồn là, họ vẫn hi vọng, vẫn sợ hãi, và kết quả là vẫn cần một cặp nạng.

Ở Á Châu sự truyền đạo của Ki Tô Giáo chỉ thành công ở Phi Luật Tân vì nước này đã bị Tây Ban Nha xâm chiếm và áp dụng chính sách khủng bố, diệt trừ mọi nền văn hóa bản địa. Nhưng khi gặp phải các nền văn hóa cao hơn và thuần nhất như ở Trung Hoa, Nhật Bản, thì Ki Tô Giáo hoàn toàn thất bại. Cho tới ngày nay, ở Trung Quốc chưa tới 1% người theo đạo, và ở Nhật Bản, dù Nhật đã thất trận trong Đệ Nhị Thê Chiến và Ki Tô Giáo được tự do truyền đạo ở đó, số người theo đạo cũng chưa lên tới 2%. Riêng ở Việt Nam, sự truyền đạo của Ca Tô Giáo Rô Ma thành công phần nào, chiếm được khoảng 7% dân số, phần lớn là do sách lược truyền đạo vào những cộng đồng nghèo khổ, thấp kém, ít học hay vô học trong xã hội Việt Nam ngày xưa, và bành trướng được về sau, từ hậu bán thế kỷ 19, vì đã có công làm tay sai, hỗ trợ cuộc xâm chiếm Việt Nam bằng quân sự của thực dân Pháp.. Đây là những sự kiện lịch sử không ai có thể chối cãi, nếu chúng ta đã đọc những nhận định và tài liệu của Giám mục Puginier, Toàn Quyền De Lanessan, và Linh mục Trần Tam Tĩnh v..v.. Về những tài liệu này, xin đọc CHƯƠNG VIII: XUNG QUANH VẤN ĐỀ THIÊN CHÚA GIÁO VÀO VIỆT NAM trong cuốn Công Giáo Chính Sử Của Trần Chung Ngọc trên https://sachhiem.net:

https://sachhiem.net/TCN/TCNtg/CGchinhsu/CGCS8.php

Nhưng sự thất bại của Ca-Tô Giáo Rô-ma ở Việt Nam, dù được thực dân Pháp nâng đỡ trong thời kỳ đô hộ, và trong 9 năm cầm quyền ở miền Nam của Ngô Đình Diệm với chính sách độc tài Ca-Tô giáo, là trong mấy trăm năm, từ 1533, khi thừa sai đầu tiên xâm nhập Việt Nam để truyền đạo, tỷ lệ trên dân số của Ca-Tô Giáo Rô-ma tại Việt Nam không tăng được, dù có tất cả những lợi thế trong xã hội, cũng chỉ quanh quẩn ở mức 5-7%. Điều này chứng tỏ văn hóa Việt Nam không thích hợp với văn hóa Ca-Tô Giáo Rô-ma, nếu chúng ta cho rằng Ca-Tô Giáo Rô-ma có một cái gì gọi là văn hóa. Chúng ta cần phải coi đây như là nhờ hống phúc của tổ tiên. Và, vì không ai có thể đi ngược lại sự tiến bộ trí thức của nhân loại, cho nên tôi tin rằng, trước sau gì rồi đạo Giê-su cũng phải suy thoái ở Việt Nam cũng như đã đang suy thoái trầm trọng ở Âu Châu. Bởi vì con người không thể tiếp tục tin vào những điều không thể tin được. Đây là một quá trình tiến hóa tự nhiên của nhân loại.

Chúng ta thấy rằng, những huyền thoại về Giê-su được giáo hội bịa đặt và đưa ra rõ ràng là để khai thác tính tình nhạy cảm và khuynh hướng cả tin, mê tín của con người ngay từ khi còn nhỏ. Chúng ta cũng không thể phủ nhận là, trong các giáo hội Ki Tô có rất nhiều người thông minh, hiểu nhiều. Nhưng thay vì dùng cái thông minh của mình để khai sáng cho đám tín đồ thấp kém, dẫn dắt họ trên con đường mở mang trí tuệ, thì họ lại cố vận dụng trí óc của mình để nghĩ ra những lý luận thần học hoang đường, để nhồi sọ tín đồ từ khi còn nhỏ tuổi, huyễn hoặc những tín đồ thấp kém và nhốt tín đồ vào trong vòng mê tín, song song với những thủ đoạn nhơ bẩn, lừa dối, cùng phát minh ra những dụng cụ tra tấn dã man, tàn bạo nhất trong lịch sử loài người để chiêu dụ, cưỡng ép những người ngoại đạo phải tin theo những điều mà họ cho là “chân lý mạc khải”, không thể sai lầm. Đó là khổ nạn của thế giới ngày nay, nhất là thế giới của những quốc gia kém phát triển, nghèo khó, dân trí chưa mở mang. Người dân chất phác đâu có đủ khả năng để hiểu những lý luận thần học ngụy biện. Họ đặt tất cả lòng tin vào những bậc lãnh đạo Ki Tô Giáo mà họ yên trí đó là những người có ăn học, thông thái, lương thiện, thành thật. Họ có biết đâu, vì tin vào vài hứa hẹn huyền hoặc mà họ không đủ lý trí để suy luận và đánh giá, nên họ đã bị lùa vào trong một định chế tôn giáo toàn trị mà mục đích chính chỉ để duy trì quyền lợi vật chất và tinh thần của một số nhỏ. Và tệ hơn nữa, vì ở trong định chế tôn giáo toàn trị với tâm cảnh “quên mình trong vâng phục” nên họ trở thành phi-dân tộc và khó tránh khỏi phản dân tộc. Đây là những kinh nghiệm lịch sử khá đau lòng.

Với mục đích làm sáng tỏ hơn những điều tôi viết trong phần trên, tôi nghĩ trích dẫn thêm một số tài liệu thời đại về Thánh Kinh, về Giê-su của các bậc thức giả trong thế giới Tây Phương không phải là vô ích.

Trong một phần trên, chúng ta đã biết là Giám Mục James A. Pike coi Giê-su không gì khác hơn một người thường và có một kiến thức giới hạn. Học giả Colin Wilson còn đi xa hơn nữa, sau khi nghiên cứu về nhiều nhân vật tự xưng là Đấng Cứu Thế trong lịch sử cổ xưa của loài người, ông ta đã viết một cuốn sách với nhan đề: Những Đấng Cứu Thế Lừa Đảo: Những Chuyện Về Những Đấng Cứu Thế Tự Phong (Rogue Messiahs: Tales of Self-Proclaimed Saviors) trong đó có chương nói về Giê-su. Sau đây là vài đoạn ngắn, trang 18-25:

Đấng Cứu Thế duy nhất trong thời kỳ đó mà ngày nay người ta còn nhớ đến, tên là Joshua, được biết nhiều hơn dưới tên Hi Lạp, Giê-su… Ông ta đọc Cựu Ước và tin rằng ngày tận thế sẽ đến ngay trong thời đại của những người sống cùng thời với ông ta; khi đó sẽ có chiến tranh, nạn đói, động đất, và người chết sẽ được làm cho sống lại. Mặt Trời sẽ trở nên tối tăm và Mặt Trăng sẽ đỏ ngầu như máu, và các ngôi sao sẽ từ trên trời rơi rụng xuống. [Như được viết trong sách Khải Huyền. TCN]

Thông điệp làm cho chúng ta nhớ tới Giê-su – hãy yêu người láng giềng và làm cho người ta những điều mà mình muốn người ta làm cho mình – đã là một phần trong truyền thống Do Thái. Hơn 1000 năm bị áp bức – người Do Thái đã bị nô lệ hóa bởi Vua Ai Cập từ 1250 năm trước thời đại thông thường này – đã tạo nên cho người dân một tâm cảnh hòa bình và tuân phục ý Chúa; do đó khi Giê-su dạy hãy yêu kẻ thù là ông ta chỉ nhắc lại điều Moses dạy…

Một trong những niềm tin căn bản của Do Thái là những sự đau khổ của người Do Thái bắt nguồn từ tội lỗi của ông tổ Adam của họ. Phao-Lồ rao truyền rằng cái “tội tổ tông” này đã được hóa giải bởi cái chết của Giê-su trên thập giá, cho nên người nào trở thành tín đồ Ki-Tô thì nay cái tội tổ tông họ mang trên người đã được cứu chuộc. [Đây chỉ là một luận điệu thần học ấu trĩ của thời bán khai, vì nếu quả thật cái chết của Giê-su trên thập giá có thể chuộc được tội thì đó là chuộc cái “tội tổ tông” cho cả dân Do Thái (Giới trí thức trong thời đại này coi chuyện “tội tổ tông” là chuyện hoang đường nhất trong những chuyện hoang đường, không những tầm bậy mà còn nói lên cái tâm địa tàn nhẫn độc ác và phủ nhận trách nhiệm của chính Thiên Chúa), chứ không phải chỉ chuộc tội cho những người Do Thái nào trở thành tín đồ Ki Tô.]

Đến năm 100 của thời đại thông thường này, mọi người đều thấy rõ là lời tiên tri của Giê-su sẽ không thực hiện được. Nhưng khi đó thì Ki Tô Giáo đã lan rộng cho nên đó không thành vấn đề. Sự mong đợi ngày tận thế nay được hoãn lại một thiên niên kỷ, tới năm 1000 – và từ ngữ “thiên niên kỷ” trở thành đồng nghĩa với “Ngày Phán Xét”. Ki Tô Giáo đạt được chiến thắng lớn năm 313 khi hoàng đế Constantine – một tên ngông cuồng ngu xuẩn khát máu và sa đọa như nhiều hoàng đế La Mã – tuyên dương Ki Tô Giáo là tôn giáo chính thức của đế quốc La Mã…

Làm sao mà những “Đấng Cứu Thế” này lại hấp dẫn như vậy. Thứ nhất, họ đều là những người có năng khướu thuyết giảng. Nhưng không phải chỉ có vậy. Chúng ta đã biết, Giáo hội Ki Tô, mới đầu là một tổ chức nghèo nàn và bị bạo hành, nhiều người lãnh đạo bị ném cho những con sư tử ăn thịt, đột nhiên trở thành tôn giáo chính thức của La Mã năm 313, dưới triều hoàng đế Constantine.

Khi có được quyền lực rồi, những tín đồ Ki Tô bắt đầu xử sự ngay một cách tệ hại hơn kẻ thù của họ rất nhiều: phá hủy những đền đài của dân gian, thiêu sống những kẻ ngoại đạo, và cãi vã với nhau. Thực chất là, Giáo hội đã trở thành một tổ chức siêu độc tài. Và dân nghèo, được lệnh phải đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật, rên xiết dưới gánh nặng thuế má, và bắt buộc phải trả lệ phí để cho tội lỗi của họ được tha thứ, càng ngày càng trở nên bất mãn với những lãnh đạo tinh thần của họ. Nhưng họ không thể làm gì được; Giáo hội đã đặt họ vào trong gọng kìm sắt như là Đức Quốc Xã (Nazis) ở Đức hoặc Cọng Sản dưới thời Stalin ở Nga.

[Wilson, Colin, Rogue Messiahs: Tales of Self-Proclaimed Saviors, pp. 18-25: The only messiah of that period who is remembered today was called Joshua, better known by the Greek form of his name, Jesus… Study of the scriptures had led him to believe the world would end within the lifetime of people then alive; there would be wars, famines, and earthquakes, and the dead would be brought back to life. The sun would be turned to darkness and the moon to blood, and the stars would fall from the sky.

The message by which we remember Jesus – love one’s neighbor and do to others as you’d have them do unto you – was already a part of the Jewish tradition. More than a thousand years of oppression – the Jews had been enslaved by the pharaoh Rameses II as long ago as 1250 B.C. – had developed a spirit of pacifism and submission to the will of God; so Jesus’s injunction to love your enemy was merely a restatement of the Mosaic teaching…

…One of the most fundamental beliefs of Judaism was that the sufferings of the Jews were caused by the sin of their forefather Adam. Paul announced that this “original sin” had been canceled out by the death of Jesus on the cross, so that anyone who became a Christian was now redeemed…

Before 100 A.D. it was clear to everyone that Jesus’ prophecy was not going to be fulfilled. But by that time, Christianity had became widespread that this made no difference. The expectation of the end of the world was now transferred to the Millennium itself – the year 1000 A.D. – and the word Millennium became a synonym for the Day of Judgement. Christianity achieved its greatest triumph so far on 313 A.D. when the Emperor Constantine – as blodthirsty and vicious a maniac as many of the Roman emperors – declared it the official religion of the empire…

How did these “messiahs” become so powerful? To begin with, all of them had the gift of preaching. But it was more than that. As we have seen, the Christian Church, which began as as poor and persecuted organization whose leaders were thrown to the lions, suddenly became the official religion of Rome in 313 A.D., under the Emperor Constantine.

As soon as they gained power, the Christians began to behave far worse than their enemies, destroying pagan temples, burning heretics, and squabbling among themselves. In effect, the Church became the supreme dictator. And the poor, ordered to go to church every Sunday, groaning under heavy taxes, and forced to pay to have their sins forgiven, became increasingly disenchanted with their spiritual masters. But there was nothing they could do; the Church exerted the same iron grip as the Nazis in Germany or the Communists in Stalin’s Russia.]

Tuyệt đại đa số các tín đồ Ki-Tô Giáo không biết đến lịch sử tàn bạo của các giáo hội Ki Tô, không biết đến những thủ đoạn “trí thức” nhằm nhốt tín đồ vào trong vòng mê tín tối tăm của giới chăn chiên, không biết đến những sự thay đổi trong não trạng của các cấp lãnh đạo tôn giáo, và nhất là không biết đến những thú nhận sai lầm thần học của giáo hội trước những sự kiện bất khả phủ bác của khoa học và thực tế ở ngoài đời. Do đó, đức tin của họ vẫn thuộc đức tin của thời Trung Cổ, tin vào những chuyện không thể tin được trong thời đại mới. Theo Robert W. Funk, chủ tịch Hội Nghiên Cứu Nhân Vật Giê-su (President of the Jesus Seminar), một Hội Nghiên Cứu Thánh Kinh và nhân vật Giê-su gồm hàng trăm học giả, chuyên gia, ở trong các giáo hội Ki Tô, thì “thời đại mới” (New age) có nghĩa quan trọng nhất là sự chấm dứt của thời đại Ki Tô (The “new age” refers first and foremost to the end of the Christianized era). Trong cuốn Honest to Jesus, trang 297, ông viết: “Định nghĩa “thời đại mới” như trên, tôi không bảo rằng Ki Tô Giáo đã hết thời; tôi chỉ cho rằng Tây phương được Ki-Tô hóa và kỹ nghệ hóa không còn giữ vai trò chỉ đạo trò chơi duy nhất trên trái đất” (I am not thereby claiming that Christianity has come to an end; I am only proposing that the Christianized, industrialized West can no longer pretend to sponsor the only game on the planet…)

Ông viết tiếp, trang 298:

…Ở Tây phương, cái biểu tượng của vũ trụ cổ xưa đang trên đà suy thoái. Chắc chắn là, nó còn lay lắt, dưới một dạng thức yếu kém, trong nhiều ốc đảo, nơi đây một hoạt động của đoàn quân hậu vệ [giới chăn chiên] được tung ra để chống lại ảnh hưởng của những đầu óc hiện đại có tác dụng soi mòn và phá hoại của những chất a-cít. Những ai còn bám víu vào những quan niệm cổ xưa càng ngày càng thấy khó khăn hơn trong việc làm cho những câu trong Thánh Kinh như “ông ta bay lên trời” có ý nghĩa.Những sự hấp dẫn về một Thiên Chúa mà ta xác nhận, về thiên đường và hỏa ngục, về một đấng cứu chuộc thần thánh, về Chúa Ki-Tô như là trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và nhân loại, đã bắt đầu mất đi tác dụng và thường là rơi vào những cặp tai không còn ai muốn nghe.

(.. in the West, the old symbolic universe is on the decline. It lingers on, to be sure, in weakened form, in many pockets where a rearguard action is being waged against the erosive and corrosive acids of the modern mind. Those who cling to the old are having increasing difficulties in assigning meaning to such biblical statements as “he ascended into heaven”. Appeals to an endorsing God, to heaven and hell, to a divine redeemer, to Christ as the sole mediator between God and humankind, have begun to lose their bite and more frequently fall on unhearing ears.)

Tuy rằng về phương diện trí thức và hiểu biết, tôi nghĩ không có lý do gì chính đáng để người Việt Nam theo đạo Giê-su, nhưng về phương diện tín ngưỡng thuộc vấn đề tâm linh, tôi không thể nói được điều gì. Do đó tôi tuyệt đối không ngăn cản, không phản đối bất cứ người Việt Nam nào muốn theo đạo Giê-su. Đó là quyền tự do tuyệt đối của họ. Để cho vấn đề được đầy đủ, tôi nghĩ cũng nên duyệt qua vài lý luận quen thuộc biện minh cho việc theo đạo Giê-su của một số người Việt Nam theo đạo.

Người theo đạo Giê-su cho rằng “Đạo nào cũng tốt, cũmg dạy con người làm lành, tránh ác”, vậy thì họ đâu có vấn đề gì khi theo đạo Giê-su. Họ cũng tin rằng, một khi gia nhập đạo Giê-su là họ được ở trong một “Hội Thánh”, do đó đương nhiên là họ ở một vị thế cao hơn, thánh thiện hơn, những người ngoại đạo. Họ được các “bề trên” dạy như vậy. Họ cũng được dạy để tin rằng, Kinh Thánh là những lời mạc khải của Thiên Chúa, và vì đã là những lời mạc khải của Thiên Chúa thì không thể sai lầm. Vì vậy chúng ta thường thấy những người Ki-Tô Giáo hay trích dẫn một vài câu trong Kinh Thánh mà họ cho là những “chân lý mạc khải” để bảo đảm niềm tin của mình chứ không phải để thuyết phục người đối thoại.. Chúng ta hãy thử phân tích những chủ đề trên để xem đâu là sự thực.

Dạy con người “làm lành tránh ác” không phải là giáo lý đặc thù của bất cứ một tôn giáo nào, mà là một điều rất phổ quát trong dân gian, trong tôn giáo cũng như ngoài tôn giáo. Bố mẹ nào mà chẳng dạy con cái “làm lành tránh ác”. Nhưng nếu trong một tôn giáo, ngoài những điều dạy “làm lành tránh ác” lại có những điều dạy “làm ác” thì chúng ta tính sao? Vấn đề đặt ra với đạo Giê-su là có phải đạo này chỉ dạy con người làm lành tránh ác, hay ngoài ra, còn cái gì khác nữa không. Để nhìn một cách đứng đắn vào bất cứ một tôn giáo nào, chúng ta không thể chỉ lượm lặt ra vài điều thuộc loại “làm lành tránh ác” ở trong đó, mà phải nhìn vào toàn bộ tôn giáo đó: a) tư cách giáo chủ; b) cốt tủy giáo lý; và c) nhất là những hành xử của tín đồ trong xã hội, trong cộng đồng thế giới, bởi vì những hành xử của tín đồ thường bắt nguồn từ niềm tin vào giáo lý.

1. Tư Cách Giáo Chủ: Trong phần khảo luận Mục V ở trên, chúng ta đã xét đến Trí Tuệ Và Đạo Đức Của Giê-su, Giê-su, theo Ca-Tô Giáo Rô-ma, là Giáo chủ của Ca-Tô Giáo Rô-ma. Dựa trên những điều viết trong Tân Ước và những tác phẩm nghiên cứu về Giê-su của các học giả và các bậc lãnh đạo trong Ki Tô Giáo, chúng ta đã đi tới kết luận: “Trí tuệ và đạo đức của Giê-su không có gì đáng để chúng ta kính ngưỡng, khoan nói đến chuyện đáng để cho chúng ta tôn thờ là Thiên Chúa” [Xin đọc lại Mục V ở trên].

2. Cốt Tủy Giáo Lý Và Thực Chất “Hội Thánh” Ki Tô Giáo: Chúng ta đã biết, Giê-su không hề có một giáo lý nào mà tất cả những quan điểm mà Giêsu diễn đạt chỉ là một mớ hổ lốn những điều mà chúng ta có thể thấy trong những đạo cổ xưa của Ai Cập, Babylon, Ba Tư, Hi Lạp, Phật, Khổng, Ấn Độ… như học giả Ca Tô Joseph L. Daleiden đã nghiên cứu và khẳng định. Tôi cũng đã chứng minh là Giê-su chỉ có cái Ta như Giáo sư George Dennis O’Brien đã nhận định dựa trên những điều viết trong Tân ước. Tuy nhiên, về phương diện giáo lý thì ai cũng biết giáo lý bắt nguồn từ kinh điển của mỗi tôn giáo. Ki-Tô Giáo thì có cuốn Thánh Kinh gồm Cựu Ước và Tân Ước. Nhưng trước khi đi vào nội dung cuốn Thánh Kinh, chúng ta hãy đi thêm vào chủ đề này với nhiều chi tiết để cho vấn đề được rõ ràng hơn.

Cốt tủy giáo lý của Ki Tô Giáo nằm ở đâu, nếu không phải là ở trong cuốn Thánh Kinh? Nhưng đọc Thánh Kinhchúng ta thấy trong đó điều cốt yếu không phải là dạy tín đồ làm lành tránh ác như một số giáo dân thường đưa ra luận điệu “tôn giáo nào cũng tốt, cũng dạy người ta làm lànhtránh ác”. Thật vậy, cả Ca-Tô giáo cũng như Tin Lành đều dạy tín đồ là họ được Chúa “chọn” không phải vì đã làm lành tránh ác, mà sự lựa chọn này tùy thuộc hứng của Thiên Chúa, muốn ban ân sủng cho ai thì cho. Trong cuốn “Chứng Nhân Hi Vọng”, Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận đã viết: “Chúng ta không được lựa chọn vì công trạng của mình, nhưng chỉ vì lòng từ bi (sic) của Chúa.” Và trong cuốn “Protestantism and Repression”,mục sư Tin Lành Rubem Alves viết, trang 34, làTin Lành cấy vào đầu tân tòng mặc cảm tội lỗi, và để có thể vào trong cộng đồng Tin Lành, người tân tòng phải tin rằng mình sinh ra trong tội lỗi, và vì cái bản chất tội lỗi đó con người không thể làm điều gì tốt (Believe that you were born in sin, and that by nature you are incapable of doing good.). Để thoát ra khỏi cái bản chất tội lỗi đó, con người chỉ có một cách: chấp nhận Giê-su Ki-Tô là đấng cứu chuộc duy nhất và đầy đủ(Accepting Christ as the sole and sufficient savior). Cái công thức này không khuyến khích làm thiện mà chỉ cần đầu phục Giê-su Ki-Tô (The formula calls not for doing good but for surrendering to Christ). Thật vậy, rất mực đạo đức còn thường được coi là một chướng ngại trong sự cải đạo (Indeed moral excellence is often considered an obstacle to conversion). Chúng ta thấy rõ, “làm lành tránh ác” không phải là giáo lý căn bản của Ca-tô Giáo Rô-ma cũng như của Tin Lành.

Hơn nữa, Tân Ước đã viết rất rõ: Điều kiện cần và đủ để được Chúa chọn là phải tin Chúa, nếu không tin thì dù làm lành tránh ác cách mấy đi chăng nữa thì cũng bị Chúa đầy xuống hỏa ngục để bị thiêu đốt bởi ngọn lửa vĩnh hằng. Trong thời Trung Cổ, những thập ác quân, vì tin Chúa và nghe lệnh của giáo hoàng làm theo “Ý Chúa”, đi tàn sát những người Hồi Giáo, Do Thái Giáo và Ki-Tô lạc đạo, nghĩa là những người không tin theo giáo lý Ca-Tô, không thần phục Ca-Tô Giáo, cho nên được được giáo hoàng giải mọi tội lỗi và cấp vé cho lên thiên đường sau khi chết. Vậy thì “làm lành tránh ác” có giá trị nào trong Ca-Tô Giáo Rô–ma?

Theo định nghĩa tôn giáo (Religion) của Tây phương trong Tự Điển thì đó là một “Niềm tin và tôn kính vào một quyền lực siêu nhiên được biết là đấng sáng tạo và cai quản vũ trụ” (Belief in and reverence for a supernatural power recognized as the creator and governor of the universe); hoặc “thái độ tâm linh và tình cảm của một người chấp nhận sự hiện hữu của một quyền lực siêu nhân” (The spiritual or emotional attitude of one who recognizes the existence of a superhuman power). Ki Tô Giáo là tôn giáo đúng như định nghĩa này. Một tôn giáo thường có ba mục đích chính. “Thứ nhất, tôn giáo là để dạy và khuyến khích đạo đức cho con người.” (First, religion is there to teach and encourage morality.) “Thứ nhì, tôn giáo hiện hữu như là một gia đình thứ hai để hỗ trợ cho nhóm người có cùng đức tin trong cách sống lành thiện” (Second, it exists as a extra familiar support group of people with similar, or at least compatible, beliefs in how to live life correctly.) Và “Thứ ba, tôn giáo giúp chúng ta khai sáng tâm linh” (Third, it helps us achieve spiritual enlightenment.)

Ki Tô Giáo không những không thực hiện ba mục đích trên mà còn làm trái lại. Thật vậy, Lịch sử đẫm máu của Ca-Tô Giáo Rô-ma cũng như của Tin Lành đã chứng tỏ hơn gì hết các tôn giáo này, thay vì dạy và khuyến khích đạo đức con người, đã khuyến khích con người làm những việc đại ác như đi giết người cho Chúa trong những cuộc Thập Ác Chinh, thiết lập những Tòa Án Xử Dị Giáo để tra tấn, giết chóc và cướp của của các nạn nhân, cùng phát động những chiến dịch săn lùng phù thủy thiêu sống vô số người vô tội, thiêu sống luôn cả khoa học gia Bruno, nạn nhân của sự ngu xuẩn của Giáo hội Ca Tô Rô-ma về vũ trụ học, nhưng lại nắm quyền sinh sát trong tay. Tất cả những việc đại gian, đại ác như trên đều được thực hiện nhân danh đức tin vào một Thiên Chúa của Do Thái mà nền thần học Ki Tô Giáo đôn lên làm Thiên Chúa của cả loài người. Thứ đến, một tôn giáo mà các con chiên phải tuyệt đối tuân phục các “bề trên” và được dạy để mà tin không cần biết, không cần hiểu, có nghĩa là một tôn giáo trong đó lý trí trở nên thừa thãi, thì không thể gọi là một tôn giáo giúp tín đồ khai sáng tâm linh.

Một tôn giáo như vậy mà vẫn tự nhận là một “hội thánh”, và các tín đồ cũng vẫn tin như vậy. Theo giáo hội Ca-Tô Rô-ma dạy thì một đứa con nít mới sinh ra được một tuần, bị bố mẹ vác đi “rửa cái tội không hề có” [theo Giám mục John Shelby Spong] của nó là đứa bé đương nhiên ở trong “hội thánh” rồi. Các giáo hội Ki Tô Giáo tự nhận là các “hội thánh” tuy rằng trên thực tế đều là các “hội phàm”, rất phàm, phàm hơn cả phàm tục, xét đến lịch sử, cấu trúc, và những hoạt động rất thế tục của chính các giáo hội và những bậc lãnh đạo trong giáo hội.

Thật vậy, ngày Chủ Nhật 12 tháng 3, 2000, một tuần lễ trước ngày đi hành hương nơi “Thánh địa” Jerusalem, trong một cuộc “Thánh lễ” công cộng tại “Thánh đường” Phê-rô, trước nhiều chục ngàn con chiên, người Chủ Chiên, Đức “Thánh cha” Gion Pôn Hai (John Paul II), đại diện cho “hội Thánh” Gia Tô gồm gần một tỷ tín đồ, trong đó có khoảng 5 triệu tín đồ Việt Nam, đã chính thức “xưng thú 7 núi tội ác” đối với nhân loại của Ca Tô Giáo Rô ma, một tôn giáo tự nhận là “thiên khải”, “duy nhất”, “thánh thiện”, “mầu nhiệm”, “tông truyền”, “vương quốc của Thiên Chúa”, “cao quý”, “ánh sáng của nhân loại”, “hiền thê của Chúa Giê-su” v…v…, và xin thế giới tha thứ cho những hành động phi Thánh phi phàm, đặc thù Ca Tô, của những con cái giáo hội Ca Tô “thánh thiện”. Những hành động này, qua gần 20 thế kỷ, đã đưa đến những thảm họa to lớn cho nhân loại như Thánh Chiến, Tòa Hình Án xử Dị Giáo, kỳ thị phái nữ, xâm lăng văn hóa, ý muốn thống trị và thái độ thù nghịch đối với những tôn giáo khác, bách hại dân Do Thái, gây chia rẽ trong cộng đồng Ki Tô, liên kết với những thế lực thực dân, phát xít v…v… như đã được nhắc tới hết sức đại cương trong những lời xưng thú 7 núi tội ác của Ca Tô Giáo Rô ma (Công Giáo). Xin đọc chi tiết những núi tội ác của Ca Tô Giáo Rô-ma đối với nhân loại trong:

https://sachhiem.net/TCN/TCNtg/CGchinhsu/CGCS3.php

Dù giáo hội có giải thích hành động xưng thú tội lỗi của giáo hoàng như thế nào đi chăng nữa, là hành động can đảm hay theo đúng tinh thần tự kiểm ăn năn thống hối của Ca Tô Giáo, là để thanh tẩy ký ức hay để tiến tới sự hòa hợp tôn giáo v…v…, các tín đồ Ca Tô vẫn không thể nào giải đáp được thỏa đáng những câu hỏi như:

Tại sao một giáo hội do chính Chúa thành lập, thường tự xưng là “thánh thiện”, “duy nhất”, “tông truyền”, là “ánh sáng của nhân loại”, quán quân về “công bằng và bác ái”, được “thánh linh hướng dẫn” v…v… lại có thể phạm những tội ác vô tiền khoáng hậu trong suốt 2000 năm nay đối với nhân loại như vậy?

Chúng ta không thể không đặt ra một câu hỏi: “Giáo lý của mỗi tôn giáo là để làm gì, nếu không phải là để cho tín đồ theo đó mà ăn ở hay tu tập. Nhưng tại sao, lịch sử đạo Giê-su lại là một lịch sử ô nhục đẫm máu nhất trên thế gian, mang trên bờ vai trên dưới 200 triệu sinh mạng vô tội gồm già trẻ lớn bé? Người Tây phương vẫn tự nhận là văn minh tiến bộ nhất, mang Ki Tô Giáo đi khắp thế giới, đặc biệt là Á Châu, để Ki Tô hóa những dân tộc mọi rợ theo các đạo dân gian. Nhưng họ giải thích làm sao cho sự kiện là chính Ki Tô Giáo lại là tôn giáo duy nhất trên thế gian đã phạm quá nhiều tội ác đối với nhân loại. “

Những câu hỏi này sẽ luôn luôn ám ảnh những tín đồ Ca Tô có đầu óc, còn đôi chút lương tri và óc suy luận. Vì một tôn giáo mà gây ra nhiều tội đại ác như tra tấn, tù đầy, thiêu sống v..v.., giết hại hàng trăm triệu sinh mạng vô tội, gồm cả đàn bà và trẻ con, bất cứ vì lý do nào, thì không thể được coi là một tôn giáo nữa. Đó chẳng qua chỉ là một tổ chức núp sau bình phong tôn giáo để duy trì những quyền lực thế tục. Lương tâm trí thức của họ bắt họ phải trực diện với sự thực này. Phải chăng họ đã bị lừa dối từ bao thế kỷ nay bởi một cái bánh vẽ trên trời mà không cần đếm xỉa gì tới vấn đề đạo đức, luân lý? Phải chăng họ đã bị nhào nặn từ nhỏ để có một tâm cảnh vô cùng ích kỷ, chỉ ham hố một sự “cứu rỗi” tưởng tượng cho riêng mình mà không cần biết đến cái cộng đồng tôn giáo của mình ra sao? Phải chăng họ đã bị nhồi sọ từ nhỏ đến độ chỉ còn có thể tin một cách mù quáng, không còn khả năng suy nghĩ để tìm ra lẽ thật? v..v..

3. Tín Đồ Đạo Giê-su Đã Thực Hành Giáo Lý Trong Thánh Kinh Như Thế Nào?

Trườc hết, chúng ta hãy đọc một đoạn của Robert G. Ingersoll xem Ca-tô giáo đã thực hành giáo lý của họ như thế nào. Trong cuốn “Ingersoll: The Magnificent” do Joseph Lewis xuất bản, Robert G. Ingersoll, một nhà tư tưởng tự do nổi tiếng nhất của Mỹ vào cuối thế kỷ 19, đã viết, trang 119:

Nhân danh chúa Ki Tô, hàng triệu nam nữ đã bị tù đầy, tra tấn và giết hại, hàng triệu người đã bị làm nô lệ. Nhân danh hắn những tư tưởng gia, khảo cứu gia, bị coi như là những kẻ tội phạm, và những tín đồ theo hắn đã làm đổ máu của những người thông thái, giỏi nhất. Nhân danh hắn, sự tiến bộ của nhiều quốc gia bị chặn đứng cả ngàn năm. Trong Phúc Âm của hắn chúng ta thấy cái tín lý về sự đau khổ vĩnh viễn (đày hỏa ngục. TCN), và những lời của hắn đã thêm vào sự chết sự kinh khủng vô tận. Phúc Âm [Tin mừng] của hắn chất đầy thế giới với thù hận và trả thù, coi sự lương thiện trí thức như một tội ác, hạnh phúc trên cõi đời là con đường dẫn xuống địa ngục, tố cáo tình yêu thương như là thấp hèn và như súc vật, thánh hóa sự nhẹ dạ cả tin, tôn vinh sự mù quáng và tiêu diệt tự do của con người. Nhân loại sẽ tốt hơn nhiều nếu cuốn Tân Ước chưa từng được viết ra – chúa Ki Tô theo quan niệm thần học chưa từng được sinh ra.”

(In Christ name millions of men and women have been imprisoned, tortured and killed. In his name millions and millions have been enslaved. In his name the thinkers, the investigators, have been branded criminals, and his followers have shed the blood of the wisest and the best. In his name the progress of many nations was stayed for a thousand years. In his gospel was found the dogma of eternal pain, and his words added an infinite horror to death. His gospel filled the world with hatred and revenge, made intellectual honesty a crime,, made happiness here the road to hell, denounced love as base and bestial, canonized credulity, crowned bigotry and destroyed the liberty of man. It would be far better had the New Testament never been written – far better had the theological Christ never lived.)

Về phương diện thực hành giáo lý thì chúng ta đã biết lịch sử của CaTô Giáo Rô-ma đã mang tới bao nhiêu bất hạnh cho nhân loại qua 1000 năm của thời kỳ đen tối (Dark Ages) ở Âu Châu với 9 cuộc Thánh Chiến, 400 năm của các tòa án xử dị giáo, những cuộc săn lùng phù thủy v..v.. và song hành với các thế lực thực dân ở Âu Châu đi xâm chiếm các dân tộc ở Phi Châu, Châu Mỹ La Tinh, Nam Mỹ, Á Châu để truyền đạo với những sách lược như dựa vào quyền thế vua chúa, dựa vào những thế lực thực dân hay dùng bả vật chất để cưỡng ép những người ngoại đạo phải vào đạo, cùng phá hủy chùa chiền, miếu mạo của những người dân bản xứ. Cái lịch sử ô nhục đầy máu và nước mắt này đã được giáo hoàng chính thức cáo thú cùng thế giới một cách đại cương vào ngày 12 tháng 3 năm 2000 tại tòa thánh Vatican. Cả thế giới đều biết trừ những tín đồ sống trong bóng tối nên vẫn tin rằng giáo hội Ca-tô Rô-ma là một hội thánh “thánh thiện”.

Lịch sử cận đại Việt Nam đã chứng tỏ Ca-Tô Giáo Rô-ma ở Việt Nam, qua những hành động vì một tín ngưỡng mù quáng, đã là một tập thể “vừa phi dân tộc, vừa phản dân tộc”. Đây là một sự kiện bất khả phủ bác như đã được chứng minh qua một số tài liệu ở phần trên. Phi dân tộc ở đây chúng ta cần hiểu là không tương hợp với truyền thống dân tộc, và phản dân tộc là theo lệnh ngoại bang hay hỗ trợ ngoại bang bằng những hành động phản bội quốc gia, có phương hại đến chủ quyền của dân tộc, hoặc đặt quyền lợi dân tộc sau quyền lợi tín ngưỡng riêng tư. Nhưng chúng ta cần phải hiểu rằng, đa số tín đồ Ca-Tô Việt Nam không biết là mình ở trong một tập thể như vậy. Vì cấu trúc quyền hành trong Ca-Tô Giáo nên những tín đồ thấp kém được dạy là phải tuyệt đối vâng phục các “bề trên” nếu họ muốn được một vé lên thiên đường sau khi chết, và vì thuộc tầng lớp thấp kém trong xã hội nên không ý thức được việc mình làm là những hành động phản bội quốc gia, gây tổn hại đến nền độc lập và chủ quyền của quốc gia. Cho nên, trách nhiệm tạo ra một tập thể “vừa phi dân tộc, vừa phản dân tộc” như trên là trách nhiệm của “giới chăn chiên”, nghĩa là của tập đoàn giám mục, linh mục v..v.., trách nhiệm tiếp tục lùa những người thiếu hiểu biết vào trong một ngục tù tâm linh.

Đây là một sự kiện lịch sử không ai có thể chối cãi. Cũng vì vậy mà Charlie Nguyễn, một trí thức Ca Tô Giáo Rô-ma đã viết trong bài “VẤN ĐỀ TRÁCH NHIỆM của HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC” như sau:

Nhưng sự thật lịch sử xưa và nay đều chứng minh rằng tập thể Công Giáo Việt Nam chỉ là một bầy cừu hèn hạ luôn nép mình dưới cái gậy chỉ huy độc đoán và cực kỳ nham hiểm của Vatican. Vì cuồng tín, họ đã tự biến mình thành một tập thể Việt gian luôn luôn có hành động đi ngược lại quyền lợi của dân tộc. Trách nhiệm hàng đầu thuộc về cái gọi là Hội Đồng Giám Mục. Xét cho cùng, mọi hành vi xuẩn động phản quốc của tập thể Công Giáo là do hậu quả của những bài kinh cầu xin Chúa cho làm súc vật: "Xin Chúa hãy lùa tôi vào một đoàn cùng các con chiên Chúa." NK 721). "Vì công nghiệp Đức Mẹ chuyển cầu, xin cho cả dân Đông Dương (Indochine Francaise) thảy nên một ràn cùng một kẻ chăn" (NK 170-172). Thiên Chúa là đấng thiêng liêng chẳng thấy đâu, cho nên đoàn chiên gọi là của Chúa trong thực tế chỉ là một bầy cừu khờ dại của Vatican!.

Trong thời đại này, nếu còn có đôi chút lương thiện trí thức, các tín đồ đạo Giê-su cần phải chấp nhận những sự kiện lịch sử về tôn giáo của mình như trên, và nhận thức được rằng những sự kiện lịch sử đó, dù muốn dù không, cũng đã tạo thành những vết nhơ không sao tẩy xóa được trên khuôn mặt của một tôn giáo tự nhận là thiên khải, thánh thiện, tông truyền mà những tín đồ trong đó tin rằng mình đang ở trong một “hội Thánh”. Dù muốn dù không các tín đồ cũng bị ràng buộc vào một giáo hội, về vật chất cũng như về tinh thần. Và đó là trách nhiệm tập thể. Không ai có thể nói rằng, lịch sử đẫm máu của giáo hội chẳng liên quan gì đến tôi, đó chỉ là sự sai lầm của một số cá nhân trong giáo hội.

Một cá nhân theo một tôn giáo nào đó có thể vì bản tính, cho nên đã có những hành động ác, vô đạo đức v.. v.. . Nhưng một tôn giáo, đúng nghĩa là một tôn giáo, như một tập thể, thì không thể có những chủ trương tàn ác, phi luân, vô đạo đức v..v.. trong kinh điển, giáo lý của mình. Những tôn giáo Đông phương như Phật Giáo, Khổng Giáo, Lão Giáo, tuy không phải là những tôn giáo theo đúng định nghĩa tôn giáo của Tây Phương, đều chủ trương hòa bình, nâng cao phẩm giá, thắng tiến trí tuệ của con người. Phật Giáo có “thiên kinh, vạn quyển”, nhưng chúng ta không thể tìm thấy trong đó bất cứ một lời lẽ độc ác nào, tất cả đều là “khuyến thiện, trừng ác” và đề ra những phương pháp tu tập với mục đích phát triển trí tuệ, khai sáng tâm linh, đưa con người đạt tới một cảnh giới cao hơn. Do đó, lịch sử truyền bá Đạo Phật trong hơn 25 thế kỷ không hề cưỡng bách bất cứ ai phải theo đạo Phật, không hề làm đổ một giọt máu vì truyền đạo, không hề có ý đồ xâm lăng văn hóa, và không hề khuyến khích con người đi vào một niềm tin mù quáng, không cần biết, không cần hiểu.

Nhưng đối với Ca-Tô Giáo Rô-ma thì có khác. Chúng ta hãy đọc đoạn sau đây của Tiến sĩ Loraine Boettner trong cuốn “Roman Catholicism”, trang 27:

Giáo hội Ca-Tô Rô-ma tự khoác lên mình từ “thánh”, nhưng thật ra qua các thời đại và trong quyền lực của giáo hội Rô-ma, sự kiện là giáo hội đã phạm phải những tội ác khủng khiếp nhất, thực hành nhân danh tôn giáo, gồm có giết người, cướp bóc, bạo hành đủ mọi hình thức, hối lộ, gian xảo, lừa dối, và hầu hết mọi tội ác mà con người biết đến. Những tội ác như vậy không phải là chỉ do những giáo dân của giáo hội gây ra, mà là do các giáo hoàng, hồng y, giám mục, và linh mục, mà như sự nghiên cứu về lịch sử của giáo hội sẽ chứng tỏ, không còn chối cãi gì được nữa, họ đều là những kẻ ác.

John Calvin đã từng gọi giáo hội Rô-ma là con điếm điên dại thay vì là hiền thê của Chúa, vì mức tiêu chuẩn đạo đức quá thấp mà các linh mục của giáo hội hành xử và dung dưỡng.

[Loraine Boettner, Roman Catholicism, p. 27: The Roman Catholic Church applies to herself the term “holy”, but the fact is that through the ages and in he official capacity the Roman Church has been guilty of the most atrocious crimes, practiced in the name of religion, including murder, robbery, persecution of all kinds, bribery, fraud, deception, and practically every other crime known to man. Such crimes have been practiced not merely by church members, but by popes, cardinals, bishops, and priests who, as a study of church history will show, undeniably were evil men…

John Calvin called the church of Rome in his day a foul harlot rather than the spouse of Christ, because of the low moral standard practiced and tolerated by her priests.]

Cho nên, các tín đồ Ca-Tô muốn tôn vinh quyền năng của Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần, và Giáo hoàng thế nào thì tôn vinh, nhưng họ không bao giờ có thể xóa bỏ được những sự thực lịch sử về Ca Tô Giáo, những sự thực đã làm cho cả thế giới phải ghê sợ, và đã bị phanh phui đến mức độ giáo hội không thể làm gì khác là đưa giáo hoàng ra xưng tội cùng thế giới loài người về những tội ác của Giáo hội Ca Tô để xoa dịu dư luận thế giới. Những tội lỗi của Ca Tô Giáo đối với nhân loại, qua lời xưng thú tội lỗi của giáo hoàng, sẽ ám ảnh lương tri của người Ca Tô suốt đời, không phải vì họ phải chịu trách nhiệm về những việc làm của giáo hội trong quá khứ, mà vì dù muốn dù không, họ cũng thuộc một đoàn thể có một lịch sử quá đen tối, trái ngược với những lời tuyên truyền giả dối đã tạo thành niềm tin của họ. Từ nay, họ không còn có thể tự đề cao mà không ngượng miệng những điều họ được nhồi vào đầu óc từ khi còn nhỏ, ví dụ như Ca Tô Giáo là một tôn giáo thánh thiện, duy nhất thiên khải, văn minh, tiến bộ, cao quý hơn tất cả các tôn giáo khác, hoặc như, người trong đạo là những người lành thiện, đạo đức hơn tất cả những người “ngoại đạo” v…v… Thế giới đã thấy rõ từ lâu, tất cả những lời tự tôn, tự ca tụng, tự tôn vinh v..v.. của Giáo hội Ca Tô chỉ là những lời tuyên truyền huênh hoang giả dối cho đám tín đồ thấp kém, trái hẳn với bản chất mê tín, hoang đường, thấp kém, tàn ác v..v.. của giáo hội Ca Tô.

Có những sự kiện ngay trước mắt mà các tín đồ đạo Giê-su ở Việt Nam không bao giờ biết đến, vì không bao giờ được các “bề trên” nói đến, và vì không có phương tiện và khả năng để tìm hiểu. Hiện nay, Âu Châu, trước là thành trì của Ca Tô giáo Rô Ma, nay hầu hết theo Tin Lành. Nước Pháp, trước là “trưởng nữ” của giáo hội Ca Tô Rô Ma mẹ với 94% dân chúng được rửa tội theo Ca-Tô giáo, chỉ có 2% là thường đi lễ nhà nhờ ngày chủ nhật. Cũng trong thế kỷ 16, Giáo hội Ca Tô Rô Ma tại Anh quốc đã tách ra thành Anh Giáo, không công nhận quyền hạn của Giáo Hoàng cũng như không theo các giáo điều của Tòa Thánh Vatican đưa ra. Điển hình là gần đây Giáo hội Anh đã tấn phong chức linh mục cho phái nữ bất kể sự phản đối của John Paul II. Ngoài ra, từ thế kỷ 16, sau cuộc cải cách của Martin Luther, nhiều quốc gia Ca Tô ở châu Âu như Na-Uy, Thụy-Điển, Ích-Lan, Đan Mạch, Phần-Lan, Anh Quốc, Tô-Cách-Lan và Thụy-Sĩ [Norway, Sweden, Iceland, Denmark, Finland, England, Scotland and Switzerland..] cũng chống chế độ Giáo hoàng và bỏ đạo Ca Tô Rô Ma.

Hơn nữa, số Linh Mục và tín đồ CaTô bỏ đạo càng ngày càng nhiều trên khắp thế giới, điển hình là hiện nay ở châu Mỹ La Tinh, số tín đồ bỏ đạo để theo Tin Lành lên tới 8000 người mỗi ngày, làm cho Giáo Hoàng John Paul II lo sợ, không tự kiềm chế được, phải thốt ra những lời chỉ trích các nhà truyền giáo Tin Lành là “những con chó sói đói mồi, gây bất hòa chia rẽ trong cộng đồng Ca Tô của chúng ta” (John Paul denounces the Protestants as “ravenous wolves..causing discord and division in our (catholic) communities” Newsweek, Feb. 12, 1996). Câu này nay đã đi vào lịch sử cùng với vô lượng những lời tuyên bố cùng hành động phi đạo đức tôn giáo của các Giáo Hoàng trong lịch sử Ca Tô Giáo Rô Ma.

Hiện nay hơn 70% tín đồ Ca-Tô Giáo Rô-ma thuộc các nước Phi Châu, Nam Mỹ , Phi Luật Tân ở Á Châu, và một số ốc đảo ở Việt Nam. Vài nhận xét sau đây cho chúng ta thấy rõ vấn đề.

Philip Jenkins, trong cuốn nghiên cứu về những phong trào chống Ca Tô Giáo Rô ma trên thế giới, đã viết về một thủ đoạn dạy giáo dân trong cuốn Giáo lý của Ca-Tô Giáo Rô-ma như sau [Philip Jenkins, Baltimore Catechism, Question 514-15; http//bible.crosswalk.com/]:

Đối với giới ưu tú trong xã hội, đạo Ca-Tô hiển nhiên là tôn giáo của kẻ ngu dốt và cuồng tín, những khối dân dơ dáy thấy rõ ở Boston và New York. Cho đến thế kỷ 20, chính người Ca Tô cũng không thể phủ nhận là số người nghèo khổ chiếm đa số trong Giáo hội Ca Tô Mỹ. Trong sách Giáo Lý xuất bản ở Baltimore, giáo dân Ca Tô được dạy để trả lời nhận định là “có quá nhiều người nghèo và ngu dốt trong Giáo hội Ca-Tô”. Giáo dân được dạy là chấp nhận sự kiện căn bản trên, nhưng diễn giảng nó thành một đức tính. Giáo dân phải lý luận như sau: “Bảo rằng có nhiều người nghèo và ngu dốt trong Giáo hội Ca Tô là khẳng định đó là Giáo hội của Chúa Ki Tô; vì Chúa luôn luôn dạy người nghèo và ngu dốt, và chỉ thị cho Giáo hội phải tiếp tục công việc dạy dỗ người nghèo và ngu dốt.”

(For the social elite, Catholicism was evidently the religion of the ignorant and fanatical, the unwashed masses who were visibly annexing cities such as Boston and New York. Well into the 20th century, Catholics themselves could scarcely deny that the very poor were overrepresented in the American Church. In the Baltimore Catechism, ordinary Catholics are taught to answer the statement that “there are too many poor and ignorant people in the Catholic Church.” In response, Catholics were told to concede the basic fact, but to make virtue of it. They should go on to argue that “to say there are many poor and ignorant in the Catholic Church is to declare that it is Christ’s Church; for He always taught the poor and ignorant and instructed His Church to continue the work.”)

Điều hiển nhiên là người nghèo và ngu dốt thì không có mấy người có đủ đầu óc sáng suốt, đủ hiểu biết để mà phân biệt chân giả, cho nên rất dễ bị đưa vào vòng mê tín và cuồng tín. Giáo Hội Ca Tô Rô-ma vẫn hãnh diện về số giáo dân đông đảo của mình, gần một tỷ người. Và đây là một thành công nhất của Giáo hội. Còn thực chất của giáo dân ra sao không phải là điều giáo hội quan tâm. Ngu dân dễ trị vốn là tiêu chuẩn hành đạo từ xưa của tập đoàn chỉ đạo Ca Tô giáo Rô-ma ở khắp nơi trên thế giới, kể cả ở Việt Nam, ngồi ở trên cai trị đám giáo dân ở dưới. Tập đoàn ở Vatican đâu có nghèo khổ và ngu dốt. Tài sản của Vatican lên tới cả ngàn tỷ đô-la, và tập đoàn ở Vatican rất thông minh trong những thủ đoạn để lùa người dân ngu dốt vào cái thòng lọng của Vatican. Tiền ở đâu mà Giáo hội Ca-Tô Rô-ma ở Mỹ có để trả tiền bồi thường cho các nạn nhân tình dục của các “Cha cũng như Chúa”, nay đã lên tới trên 2 tỷ đô-la. Ai dám phủ nhận điều này xin lên tiếng.

Cùng một ý tưởng, Bruce Bawer viết trong cuốn Stealing Jesus, Three Rivers Press, New York, 1998, p. 164:

Trong thế kỷ 19, những người thuộc giai cấp cao, có học, và nhiều người thuộc mọi giai cấp, đã hàng loạt thôi không dự các lễ ở nhà thờ, để lại đàng sau một Giáo hội gồm hầu hết những kẻ ít học. Để xoa dịu tình cảm mê tín của những người còn lại này, Vatican đưa vào thêm những giáo lý mới về Mary đồng trinh, nghĩa là giáo lý về Thụ Thai Vô Nhiễm (1854) và Thăng Thiên của Mary (1950). Cả hai ý tưởng này – đối với một tín hữu có đầu óc thì thật là vô nghĩa – không có căn cứ trên phúc âm mà chỉ là lòng mộ đạo dân gian.

(During the 19th century, members of the educated upper classes, and men of all classes, ceased attending service in droves, leaving behind a church composed mostly of the under-educated. To appease these members’ sentimental superstitions, the Vatican added new doctrines about the Virgin Mary, namely the Immaculate Conception (1854) and the Assumption (1950). Both ideas – “which, to a thingking believer, were meaningless – had their basis not in scripture but in folk piety.)

Khi trí tuệ nhân loại chưa mở mang thì những giáo lý và “tín lý” (dogma) mà Giáo hội đưa ra đều được tín đồ tin theo, không bàn cãi. Nhưng tiến hóa là một định luật của vũ trụ trong đó có con người, cho nên, với trình độ hiểu biết của con người ngày nay, những niềm tin mù quáng vào những điều vô căn cứ, hoang đường, phi lôgic, phản lý trí, phản khoa học v..v.. trong Ca Tô Giáo Rô Ma không còn chỗ đứng nữa, ít ra là trong giới có học, trí thức và khoa học, ở trong cũng như ở ngoài giáo hội. Trong những xã hội Âu Mỹ, số người đi lễ nhà thờ giảm sút một cách rõ rệt. Điều này chứng tỏ quần chúng không còn sợ hãi sự hù dọa của Giáo hội về một trọng tội nếu không đi lễ nhà thờ mỗi tuần, không còn thấy hấp dẫn trước những lời giảng đạo tẻ nhạt đã lỗi thời của các Linh mục mà nhiều khi sự hiểu biết về tôn giáo còn kém giáo dân, ít ra là đối với những tín đồ có một trình độ hiểu biết nào đó. Hiện tượng nhà thờ vắng khách ở Âu Châu là một sự kiện không ai có thể phủ nhận. Trong khi đó, tại những nước chậm tiến như Phi Châu, Nam Mỹ, Mễ Tây Cơ, Phi Luật Tân và một số ốc đảo ở Việt Nam cũng như trong những cộng đồng đông đảo người Việt di cư, trình độ dân trí còn thấp, cho nên tín đồ Ca Tô Giáo vẫn còn đi lễ nhà thờ đông đảo và tin vào những cái gọi là “bí tích” mà Giáo hội dạy các tín đồ là do Chúa đặt ra, nhưng thực ra chỉ là Giáo hội đặt ra để tạo quyền lực tự ban cho giới chăn chiên trong việc kiểm soát và nắm giữ đầu óc tín đồ. Tuy nhiên, ngày nay có nhiều dấu hiệu cho thấy các quốc gia Phi Châu, Nam Mỹ và ngay cả trong những ốc đảo Ca Tô ở Việt Nam, con người đã bắt đầu thức tỉnh, song song với sự mở mang dân trí trong những quốc gia này. Người Ca Tô Việt Nam cần phải biết rõ nhiều hơn nữa về chính tôn giáo của mình để có thể thấy rằng, lệ thuộc Vatican, dù là về tâm linh là chuyện phi lý, không có cơ sở trong Thánh Kinh, khoan kể như vậy là tự đặt mình ra khỏi cộng đồng dân tộc, vì Vatican, như một quốc gia, là một ngoại bang, và như một tôn giáo, chỉ là một giáo hội ngụy tạo mượn danh Giê-su, đã có một lịch sử đẫm máu hàng triệu người vô tội và một lịch sử không mấy tốt đẹp khi truyền vào Việt Nam, biến các tín đồ Ca Tô Việt Nam thành tập đoàn những kẻ phản bội quốc gia, và gây nên sự bất hòa giữa Lương và Giáo mà theo Linh Mục Lương Kim Định, xem ra không sao xóa sạch được. Ngày nay, người Ca Tô Việt Nam có khuynh hướng trở về với Dân Tộc, ít nhất là theo sự tuyên truyền của Giáo hội Ca Tô, nhưng nếu còn lệ thuộc Vatican, còn không chịu chấp nhận những sự thực lịch sử, thì con đường này khó có thể thực hiện với thành tâm. Đây là một vấn nạn mà người Ca Tô Việt Nam nên để tâm suy nghĩ kỹ.

Đến đây, bài viết này kể ra cũng đã dài nhưng không thể gọi là đầy đủ. Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang cho rằng muốn viết tạm đủ về Ca-Tô Giáo Rô-ma, chúng ta cần ít ra là một cuốn sách trên 4000 trang, một cuốn sách mà giáo sư đang thực hiện. Chúng ta hãy đón coi tác phẩm đồ sộ này. Vì cuốn Thánh Kinh là cuốn mà Ki Tô Giáo nói chung dựa vào đó, nói đúng ra là dựa vào một phần rất nhỏ trong đó, để truyền đạo. Cho nên tôi muốn đưa ra hai tài liệu có thể nói là khá tổng quát về cuốn Thánh Kinh của Ki Tô Giáo.

Trước hết là nhận xét tổng quát sau đây của một học giả Ca Tô về cuốn Thánh Kinh:

Trong cuốn “Những vị Thần cuối cùng của Huyền Thoại: GiaVê và Giêsu” (“Mythology’s Last Gods: Yahweh and Jesus”, p. 16), Tiến sĩ William Harwood, một tín đồ CaTô đã tỉnh ngộ và bỏ được một niềm tin sai lầm sau khi nghiên cứu lịch sử các tôn giáo trong đế quốc La Mã và khám phá ra rằng “bí tích” ăn thịt uống máu Chúa (Eucharist) mà ông đã tin và thọ hưởng cái bí tích rùng rợn này hàng tuần và trong nhiều năm, đã có từ 3000 năm trước khi Giêsu ra đời, và rằng các Thần hay Thượng Đế (Gods) chỉ là những sản phẩm tưởng tượng của con người (Dr. Harwood..discovered that the “god-eating” ritual in which he participated weekly as a believing Christian had existed three thousand years before Jesus’ birth. Not for three years, however, could he fully abandon the disproved beliefs to which he had been emotionally committed, and acknowledge that gods are as imaginary as fairies), đã viết:

“Người ta đã khám phá ra rằng, từng quyển một trong Thánh Kinh đều chứa những sai lầm về sự kiện, những phỏng đoán không chính xác, những kỹ thuật làm hợp lý hóa, những điều tiên tri về những sự việc đã xảy ra, ghép với những điều tiên tri về tương lai đã được chứng tỏ là không chính xác, và không còn sai lầm gì nữa là chứa những lời nói láo cố ý. Nếu sự khám phá này được phổ biến tới đại chúng thì cái huyền thoại Do Thái – KiTô đã bị quật nhào bởi một cơn gió lốc khó có hi vọng phục hồi. [Quần chúng càng ngày càng biết nhiều hơn về sự kiện này. TCN]

Trước nguy cơ bị loại bỏ này, Giáo Hoàng đương thời (John Paul II) bổ nhiệm một số sử gia của chính ông ta để khảo sát những kết luận về Thánh Kinh của những sử gia thế tục và tìm ra trong những bằng chứng của họ những sơ hở mà Giáo Hoàng tin rằng thể nào cũng phải có. Kết quả là những sử gia của Giáo Hoàng cũng phải xác nhận là cuốn Thánh Kinh của Ki Tô Giáo thực ra chỉ là một ảo tưởng sai sự thực. Họ phúc trình kết quả lên Giáo Hoàng, và khi Ngài lập tức dẹp bỏ cái phúc trình này đi thì họ không còn là tín đồ CaTô nữa. Rồi Giáo Hoàng ra lệnh cho bộ máy tuyên truyền của Ngài phát minh ra một phương pháp luận khác để đánh đổ phương pháp của những sử gia trên, một phương pháp luận được tạo ra với mục đích rõ rệt là phải đi đến kết luận là cuốn Thánh Kinh của Do Thái – KiTô không phải là một tác phẩm hoang đường, không cần để ý đến chuyện phải xuyên tạc những bằng chứng đến cỡ nào để đi tới mục đích trên. Cái phương pháp luận đó là “Thần học”…

Đó là quyền lực của chính trị Thần quyền của thế giới mà, mặc dù đã có hàng ngàn tác phẩm nghiên cứu và bài khảo cứu phủ bác toàn bộ Thánh Kinh Do Thái – KiTô, cho tới ngày nay, 90% dân chúng trong những xã hội mà tôn giáo chính là KiTô Giáo không hề biết đến sự hiện hữu của những bằng chứng bất khả phủ bác là quyển Thánh Kinh chỉ là một tác phẩm giả tưởng.”

(One by one the various books of the bible were discovered to contain errors of fact; inaccurate guesses; rationalizations; prophecies ex-post-facto, usually combined with prophecies of the future that proved inaccurate; and unmistakable, deliberate lies. Had this discovery been allowed to reach general public, Judeo-Christian mythology would have suffered a blow from which it could not have hoped to recover.

Facing elimination, the current Pope appointed his own historians to examine the secular historians’ conclusions and find the flaw in their evidence that he believed must be there. The outcome was that the Papal historians confirmed that their bible really was falsifiable fantasy. They presented the Pope with their reports and, when he promptly suppressed them, they all ceased to be Catholics. So the Pope ordered his propaganda machine to invent an alternative methodology to combat that of the historians, a methodology created for the specific purpose of reaching the conclusion that the Judeo-Christian bible is nonfiction, no matter how severely the evidence had to be distorted in order to achieve that objective. That methodology was ‘theology’..

…Such was the power of the world’s theocracies that, despite the publication of thousands of scholarly books and articles refuting every part of the Judeo-Christian bible, to this day the existence of unchallengeable proof that the bible is a work of fiction is unknown to ninety percent of the population of Christian-dominated societies.)

Thứ đến là bài “Những Lời Châu Ngọc về Thánh Kinh” (Gems Concerning the Holy Bible) của Robert G. Ingersoll trong cuốn “Ingersoll: Con Người Kỳ Diệu” (Ingersoll, the Magnificient), biên tập bởi Joseph Lewis, trg. 59-85. Qua bài này, chúng ta sẽ thấy thực chất cuốn Thánh Kinh của Ki Tô Giáo là như thế nào, và hi vọng mọi tín đồ của đạo Giê-su sẽ nhận thức được “chân giá trị” của một cuốn sách mà họ tin đó là những lời mạc khải không thể sai lầm của Thiên Chúa, và nhất là ảnh hưởng tác hại của cuốn Thánh Kinh trên nhân loại. Xin quý độc giả ghi nhận, tất cả những gì Ingersoll viết đều dựa trên nội dung Thánh Kinh và lịch sử Ki Tô Giáo. Cũng như những bài tôi đã dịch về các chủ đề liên hệ đến Ki Tô Giáo, để tránh bài dịch quá dài, tôi đã lược bớt một số đoạn thuộc triết lý cá nhân của Ingersoll mà tôi cho là đã đi xa đầu đề của bài viết, tuy trong những đoạn này có những tư tưởng rất hay của Ingersoll về nhân chủ và nhân bản. Xin mời quý độc giả thưởng thức một bài viết ở cuối thế kỷ 19 của một danh nhân Hoa Kỳ: Đại Tá Robert G. Ingersoll, một chính trị gia, một luật sư, một diễn giả, một nhà hùng biện, và nhất là, một nhà tư tưởng tự do (Freethinker) lỗi lạc của Mỹ vào cuối thế kỷ 19. Ông có tên trong lịch sử Hoa Kỳ, trong Tự Điển, trong Bách Khoa Tự Điển, trong Tự Điển điện tử (CD-ROM, Grolier Electronic Publishing, 1997) và những tác phẩm của ông có trong mọi thư viện ở Hoa Kỳ. Tượng đài ghi công ông hiện nay còn ở Peoria, tiểu bang Illinois. Sau đây là những lời đanh thép của ông về cuốn Thánh Kinh, có thể coi như là một bản án trong tài hùng biện của một luật sư.

Một người nào đó phải nói lên sự thực về cuốn Thánh Kinh. Những nhà giảng đạo [trong nước Mỹ. TCN] không dám vì họ sẽ bị đuổi khỏi các bục giảng. Những giáo sư đại học không dám, vì họ sẽ mất đi đồng lương. Các chính trị gia không dám. Họ sẽ bị đánh bại. Các chủ biên không dám. Họ sẽ mất độc giả. Các thương gia không dám, vì họ có thể mất khách hàng. Ngay cả những công chức thường cũng không dám, vì họ có thể bị đuổi. Vậy thì tôi nghĩ chính tôi sẽ phải làm việc này. [Xin nhắc lại, Ingersoll viết bài này vào cuối thế kỷ 19]

Có nhiều triệu người [do nền thần học ngụy tạo của các giáo hội Ki Tô] tin rằng Thánh Kinh là lời mặc khải của Thiên Chúa – nhiều triệu người nghĩ rằng cuốn sách này là cây gậy dẫn đường, là nguồn cố vấn và an ủi; rằng nó chứa đầy hòa bình trong hiện tại, hi vọng trong tương lai – nhiều triệu người tin rằng đó là suối nguồn của luật pháp, công lý và tình thương, và nhờ có những giáo lý thông thái và lành tốt mà thế giới có được tự do, thịnh vượng, và văn minh – nhiều triệu người tưởng tượng rằng cuốn sách này là sự mặc khải từ trí tuệ và lòng thương yêu của Thiên Chúa đến với tâm thức con người – nhiều triệu người coi cuốn sách này như là ngọn đuốc chinh phục được sự tối tăm của chết chóc, và tỏa ánh sáng trên một thế giới khác – một thế giới không có nước mắt.

Họ quên đi cái sự ngu tối và man rợ, sự thù ghét tự do, sự tàn sát tôn giáo ở trong Thánh Kinh; họ nhớ tới Thiên đường, nhưng quên đi những ngục tù tăm tối và sự đau khổ vĩnh viễn ở dưới hỏa ngục.

Họ quên rằng cuốn sách này giam hãm đầu óc con người và làm cho lòng người đồi bại. Họ quên rằng cuốn sách này là kẻ thù của tự do trí thức.

Các linh mục, mục sư phân vân là làm sao tôi lại có thể tồi tệ đến độ công kích cuốn Thánh kinh.

Tôi sẽ nói cho họ biết:

Cuốn sách này, cuốn Thánh Kinh, đã truy tố cho đến chết những người thông thái nhất và tốt nhất. Cuốn sách này đã chặn đứng sự tiến bộ của loài người. Cuốn sách này đã đầu độc những nguồn kiến thức và lạc dẫn năng lực của con người.

Cuốn sách này là kẻ thù của tự do, là cột chống của chế độ nô lệ. Cuốn sách này đã gieo những hạt giống thù hận trong gia đình và quốc gia, nhúm ngọn lửa chiến tranh, và làm cho thế giới nghèo khổ. Cuốn sách này là công sự của hôn quân bạo chúa – là chủ nhân của các nô lệ phụ nữ và trẻ em. Cuốn sách này đã làm đồi bại nghị viện và triều chính. Cuốn sách này đã biến các trường đại học [Ki Tô Giáo] thành thầy dạy của sự sai trái và kẻ thù ghét khoa học. Cuốn sách này chất đầy những nước theo KiTô giáo với những tông phái thù hận, độc ác, ngu tối, chém giết lẫn nhau. Cuốn sách này dạy con người giết đồng loại vì tôn giáo. Cuốn sách này đã lập nên Tòa Hình Án xử dị giáo, phát minh ra những hình cụ tra tấn, thiết lập những ngục tù tối tăm trong đó người lương thiện và nhân từ mai một dần; rèn những chuỗi xích trở thành rỉ xét trong da thịt họ, dựng lên những đoạn đầu đài để chặt đầu họ. Cuốn sách này đã xếp những đống củi dưới chân của người lành. Cuốn sách này đã trục lý trí ra khỏi đầu óc của nhiều triệu người và đưa những kẻ khùng vào đầy nhà thương điên.

Cuốn sách này đã gây nên cảnh cha mẹ làm đổ máu những trẻ sơ sinh. Cuốn sách này đã là trường bán đấu giá trên đó người mẹ nô lệ đứng nhìn đứa con nhỏ phải bị chia lìa khi bà được bán đi. Cuốn sách này chứa đầy thuyền kẻ buôn nô lệ và làm da thịt con người thành món hàng hóa. Cuốn sách này đã nhúm lửa thiêu sống những “mụ phù thủy” và những “thầy pháp”. Cuốn sách này chứa đầy tối tăm với những quỷ và ma [Satan và Holy Ghost], và thân thể con người với những ác quỷ [demons]. Cuốn sách này đã làm ô nhiễm đầu óc con người với giáo điều ô nhục về hình phạt đầy đọa vĩnh viễn [của Giê-su]. Cuốn sách này coi sự cả tin như là đức tính cao nhất, và sự tìm tòi hiểu biết như là tội ác lớn nhất. Cuốn sách này đã đặt kẻ ngu dốt và những vị Thánh nhơ bẩn lên trên triết gia và người nhân đức. Cuốn sách này dạy con người coi thường những niềm vui của đời sống này, để có thể sung sướng ở đời sau – bỏ phí thế giới này vì thế giới sau.

Tôi công kích cuốn sách này vì nó là kẻ thù của sự tự do của con người – là sự cản trở lớn nhất của sự tiến bộ của con người.

Tôi xin hỏi các linh mục, mục sư một câu: làm sao mà các ông có thể tồi tệ đến mức bào chữa cho cuốn sách này.

Cuốn Thánh Kinh đã là thành trì chống đỡ của hầu hết các tội ác.

Ngang qua cuốn Thánh kinh mở là thanh gươm (để giết người) và bó củi (để thiêu sống người).

Chúng ta hãy thoát ra khỏi sự tàn bạo của một cuốn sách, ra khỏi sự nô lệ của sự ngu tối cùng cực, của cái không khí quý tộc thống trị [của các giáo sĩ].

Một trong những việc đầu tiên mà tôi (Ingersoll) muốn làm là giải phóng giới giáo sĩ. Tôi là bạn tốt của họ, và mặc dù tất cả những gì họ có thể nói về tôi, tôi sẽ giúp họ một đại sự lâu dài. Trên cổ họ là những vết hằn của cái cổ áo linh mục, và sau lưng họ là những vết roi. Họ không được phép đọc và tự mình suy nghĩ. Họ được dạy như những con vẹt, và những người giỏi nhất là những người có thể nhắc lại đúng những câu mà họ được dạy. Họ ngồi như những con cú vọ [Người Việt Nam dùng danh từ “quạ đen” (corbeau noir)] trên một cành cây khô của cái cây hiểu biết và phát ra những tiếng cú kêu giống y như những tiếng cú kêu đã kêu trong 1800 năm nay. (They sit like owls upon some dead limb of the tree of knowledge, and hoot the same old hoots that have been hooted for eighteen hundred years). [Những luận điệu thần học cũ kỹ, hoang đường đã lỗi thời. TCN]

Có một ông bác sĩ giải phẫu đến thăm một người tàn tật đáng thương và đề nghị giúp anh ta trong khả năng của ông ta. Ông bác sĩ bắt đầu phân tích về bản chất và nguồn gốc chứng tật của người kia, về những loại thuốc có thể giúp anh ta, về sự lợi ích của tập luyện, của không khí trong lành và ánh sáng, và nhiều điều khác có thể giúp chữa lành được chứng tật của người kia. Tất cả những hành động này đều do thiện ý của một bác sĩ có những kiến thức chính xác. Nhưng người kia hoảng sợ và kêu lên, “Tôi xin ông, đừng lấy đi cặp nạng của tôi. Đó là cái tôi phải tựa vào, nếu không thì tôi sẽ khốn khổ.” Ông bác sĩ giải phẫu nói: “Tôi không có lấy đi cặp nạng của anh, tôi sẽ chữa lành cho anh, và rồi tự anh sẽ vứt bỏ cái cặp nạng ấy đi.” [Đây chính là chủ trương của Ingersoll đối với giới giáo sĩ Ki Tô Giáo vào cuối thế kỷ 19, và ngày nay, TCN cũng chỉ đi theo con đường này để giúp các đồng bào đáng thương vứt đi những cặp nạng không cần thiết của họ].

Lấy cái gì để thay thế cho một sự trừng phạt vĩnh viễn? Chỉ cần chứng tỏ là sự trừng phạt đó không hề có. Một người có bệnh tật muốn gì? Sức khỏe.

Bất kể sự kiện là những người ngoại đạo trong mọi thời đại đã chiến đấu cho nhân quyền, và đã là những người ủng hộ tự do và công lý, nhưng chúng tôi thường xuyên bị giáo hội Ki Tô cáo buộc là chỉ biết phá đổ mà không biết xây dựng.

Tôi không chống con người. Tôi chống những giáo lý mà tôi cho là sai lầm. Không cần thiết phải chống con người – chúng ta hãy chống sự sai lầm.. Chúng ta hãy làm hết sức để cung cấp sự hiểu biết, giáo dục, vì sự lợi ích của đồng bào chúng ta.

Những người tin vào Thánh Kinh ồn ào tố cáo những cái mà họ gọi là văn phẩm phi luân của thế giới. Nhưng thật ra thì ít có cuốn sách nào đã được xuất bản mà chứa những sự dơ dáy về luân lý đạo đức nhiều hơn là những lời mạc khải của Thiên Chúa. Những chuyện trong Thánh Kinh không loé lên một điểm thông minh dí dỏm nào. Chúng không bao giờ lên quá được mức buồn tẻ về những chi tiết của những thói xấu ngu đần. Tôi là người không muốn làm nhơ những trang giấy của tôi với những câu trích dẫn từ Thánh Kinh. (I cannot afford to soil my pages with extracts from them); và tất cả những đoạn đó trong Thánh Kinh, tôi để cho giới giáo sĩ xem xét, bình luận và giải thích. Các ông giáo sĩ đó có thể kiếm ra cách nào đó để lấy mật ong ra từ những bông hoa đó.

Cuốn Thánh Kinh không phải là cuốn sách để cho già cũng như trẻ đáng đọc. Nó chứa những trang sách mà không một ông mục sư nào ở Mỹ dám đọc trước cộng đồng dân Chúa bất kể là phần thưởng dành cho ông ta là cái gì. Có những chương mà không một người cha nào muốn đọc cho con nghe. Có những câu chuyện không thể kể; và sẽ có ngày cả nhân loại sẽ phân vân là sao mà một cuốn sách như vậy lại có thể gọi là được Thiên Chúa mạc khải.

Chúng ta thường xuyên được bảo rằng Thánh Kinh là nền tảng của sự khiêm tốn và đạo đức; trong khi thật ra thì những trang sách trong đó chẳng có gì là khiêm tốn và đạo đức [Xin dọc những lời tự nhận rất huênh hoang và những lời vô đạo đức của Giê-su trong Tân Ước. TCN], mà nếu một mục sư đọc chúng trên bục giảng thì ngay lập tức ông ta sẽ bị tố cáo là đồ khốn nạn dơ dáy (unclean wretch). Mọi phụ nữ sẽ bước ngay ra khỏi nhà thờ, và nếu nam giới có ở lại thì chỉ với mục đích là nghiêm khắc trừng phạt ông mục sư đó (chastising that minister).

Có phải tốt hơn là hãy coi Thánh Kinh như là được viết bởi những người man rợ trong một thời đại man rợ, thô thiển không? Có phải đúng hơn là có những tên Do Thái ngu đần nào đó đã viết lên những lời tầm thường đó. Những Ki Tô hữu bảo tôi rằng chính Thiên Chúa là tác giả của những điều đê tiện và ngu xuẩn(vile and stupid) này.

Sự kiện là, những điều hay trong một cuốn sách không chứng minh được là cuốn sách đó đã được Thiên Chúa mạc khải, nhưng những điều xấu xa và sai lầm trong đó đích thực đã chứng minh rằng đó không phải là một cuốn sách đã được mạc khải.

Vấn đề thực sự không phải là cuốn Thánh Kinh có được mạc khải hay không, mà là nó có đúng hay không. Nếu nó đúng, nó không cần phải được mạc khải. Nếu nó đúng thì không có gì khác biệt là nó đã được viết bởi một người hay một ông thần; và nếu nó không đúng thì không thể bảo nó là do sự mạc khải của thần mà viết lên. Một bản cửu chương (multiplication table) thì cũng có ích, cũng đúng như là một thần đã xếp đặt những con số trong đó. Nếu Thánh Kinh thực sự đúng, không cần phải đề cao nó là do sự mạc khải của thần.

Thật ra thì, chân lý không cần phải được mạc khải. Không có gì phải cần đến sự mạc khải trừ sự giả mạo hay sai lầm [nghĩa là muốn sự giả mạo trở thành chân thật, sự sai lầm trở thành đúng bằng cách khoác cho nó bộ áo “do Thiên Chúa mạc khải”. TCN]. Ở đâu mà sự thật chấm dứt, ở đâu mà xác suất (probability) ngưng lại, thì ở đó sự mạc khải bắt đầu. Một sự kiện không bao giờ đi cùng với một phép lạ. Chân lý không bao giờ cần đến sự trợ giúp của phép lạ.

Sự mạc khải của cuốn Thánh Kinh tùy thuộc sự cả tin của người đọc. Đã có một thời, những điều viết trong đó về địa chất, về thiên văn, lịch sử thiên nhiên, đều được cho là do sự mạc khải của thần và do đó không thể sai lầm; thời đại đó đã qua. Đã có một thời, những quan niệm về luân lý đạo đức trong đó đã làm hài lòng những con người nắm quyền thống trị tư tưởng của nhân loại; thời đại đó đã qua.

Có một người thông minh nào trên thế giới ngày nay còn có thể tin được câu chuyện vườn Eden? Nếu bạn thấy người nào còn tin như vậy, hãy gõ lên trán anh ta, bạn sẽ nghe thấy một tiếng vang [vì đầu óc hắn ta rỗng tuếch. TCN]. Có một người thông minh nào mà ngày nay còn có thể tin là Thiên Chúa đã tạo ra người đàn ông từ đất sét, và người đàn bà từ một cái xương sườn, rồi đặt hai người vào trong một cái vườn, và đặt một cái cây ở giữa vườn? Không có chỗ nào ngoài cái vườn để đặt cái cây đó hay sao, nếu ông ta không muốn cho họ ăn trái cây trên cây đó? Có còn người nào ngày nay còn có thể tin vào chuyện con rắn (xúi Adam và Eve ăn trái cấm)? Tôi thật thương hại bất cứ ai, trong thế kỷ 19 này, còn tin vào những chuyện trẻ con như vậy.

Tại sao Adam và Eve bất tuân điều cấm của Thiên Chúa? Tại sao họ bị cám dỗ? Bởi ai? Bởi quỷ (hiện thân thành con rắn). Ai tạo ra quỷ? Thiên Chúa. Ông ta tạo ra quỷ để làm gì? Tại sao ông ta không nói cho Adam và Eve biết về con rắn? Tại sao ông ta không canh chừng con quỷ mà lại đi canh chừng Adam và Eve? Tại sao ông ta không gây ra nạn hồng thủy trước, và dìm chết con quỷ, trước khi ông ta tạo ra Adam và Eve?

Vậy mà, những người tự cho là mình thông minh – giáo sư đại học và viện trưởng các học viện [Ki Tô ở Mỹ trong thế kỷ 19] danh tiếng – đã dạy trẻ con và lớp trẻ rằng chuyện vườn Eden là một sự kiện lịch sử tuyệt đối. Cái ông Thiên Chúa này của họ, đứng chờ xung quanh cái vườn Eden – biết rằng cái gì sẽ xảy ra – đã tạo nên Adam và Eve với mục đích duy nhất là điều xảy ra sẽ phải xảy ra, rồi sao nữa? Bắt tất cả chúng ta phải chịu trách nhiệm, và chúng ta không hề có mặt ở đó. Adam và Eve là đại diện của những người chưa được sinh ra. Trước khi tôi bị ràng buộc vào một đại diện, tôi muốn có cơ hội để bỏ phiếu chọn anh ta hay không? Và nếu tôi ở đó (vườn Eden), và biết mọi trường hợp đã xảy ra, tôi đã bỏ phiếu “không chấp nhận”. Tuy vậy, trách nhiệm vẫn về phần tôi.

Chúng ta được Thánh Kinh và Giáo hội dạy, vì sự “sa ngã” này của Adam và Eve, “tội lỗi và cái chết đã đi vào nhân loại”. Theo như vậy thì, ngay sau khi Adam và Eve ăn trái cấm, Thiên Chúa bắt đầu bày đặt ra những phương pháp để tiêu diệt sự sống của các con cái của ông ta. Ông ta đã “sáng tạo” ra mọi bệnh tật – nóng sốt, ho hắng và cảm cúm – tất cả những sự đau đớn cho thể xác và sự truyền nhiễm của bệnh dịch hạch, bệnh sốt rét và những vi khuẩn, để cho khi thở chúng ta hít vào những tên sát nhân mà chúng ta không thể nhìn thấy; và, sợ rằng có người sống thọ, Thiên Chúa phát minh ra động đất và núi lửa, bão tố và sấm sét; và các vi sinh vật tràn ngập vào tim óc, quá nhỏ đến nỗi mắt không nhìn thấy được.. Tất cả chỉ vì Adam và Eve không nghe lời ông ta.

Với lòng tốt vô tận (infinite goodness), Thiên Chúa phát minh ra bệnh nhức xương và đau khớp xương, chứng khó tiêu (dyspepsia), ung thư và chứng đau thần kinh, và vẫn còn tiếp tục phát minh ra những chứng bệnh mới. Như vậy cũng chưa đủ, ông ta còn làm cho các bà mẹ phải đau đớn (khi sinh đẻ), và qua lòng thương yêu của ông ta, sự chết sẽ đến với mọi người. Ông ta nguyền rủa cả thế giớ. (He cursed the world). Nhưng tất cả những cái này chỉ là bước mở đầu cho sự trả thù của một ông Thiên Chúa chí thiện (Good God). Quý vị có thể nói đến một cách không rõ ràng, nhưng không bao giờ có thể quan niệm nổi những sự khủng khiếp vô cùng tận của cái giáo lý gọi là “Sự sa ngã của con người”. (the infinite horrors of the doctrine called “The fall of man”).

Theo Thánh Kinh thì Thiên Chúa đã chọn lựa dân tộc Do Thái để loan báo một sự kiện vĩ đại: rằng ông ta là ông Thần duy nhất trên thế gian. Để đạt được mục đích này, ông ta hiện ra nhiều lần trước mặt Môi-se (Moses) – từ trên mây xuống núi Sinai, trong bụi cây bốc lửa, và làm hàng ngàn phép lạ để giáo dục và giữ dân Do Thái. Ông ta rẽ nước biển ngay trước mắt họ. Ông ta làm cho bánh rơi từ trên trời xuống để nuôi họ. Ông ta làm cho nước phọt ra từ tảng đá để cho họ uống cho đỡ khát. Những kẻ thù của ông ta đều bị tiêu diệt một cách rất lạ lùng; và trong 40 năm, cái ông Thiên Chúa này đích thân cai trị dân Do Thái. Tuy nhiên, sau tất cả những phép lạ này, một số người trong dân của ông ta lại vẫn cứ tin vào các Thần Cây, Thần Đá hơn là tin vào ông ta.

Cái ông Thiên Chúa này, với tất cả quyền năng và sự sáng suốt, lại không thể thuyết phục được một số dân du mục man rợ rằng ông ta thì mạnh hơn là các hình tượng của dân Ai Cập. Ông Thiên Chúa này không muốn cho dân Do Thái của ông ta có đầu óc suy tư và óc tìm hiểu. Đối với những người có đầu óc, sự trừng phạt là tử hình. Ở đâu mà ông Thiên Chúa này trị vì, sự tự do trí thức không được biết đến. Ông ta chỉ trông cậy vào bạo lực; đòi hỏi sự thờ phụng ông ta bằng gươm giáo và ngọn lửa thiêu đốt; ông ta xử sự như một điệp viên (spy), một phán quan của tòa án xử dị giáo (inquisitor), một quan tòa (judge), và một đao phủ (executioner).

Khi tôi đọc lịch sử của dân tộc Do Thái, từ nô lệ đến chết chóc, với những bạo chúa v..v.., tôi phải thú nhận là tôi thật thương xót họ. Họ bị gian lận, lừa dối và đối đãi rất tệ hại. Cái ông Thiên Chúa của họ rất dễ nổi nóng, vô lý, tàn ác, hận thù và bất lương. (Their God was quick-tempered, unreasonable, cruel, revengeful and dishonest). Ông ta luôn luôn hứa hẹn nhưng không bao giờ giữ lời. Ông ta phí thì giờ về những chi tiết nhỏ nhặt, trẻ con, và phóng đại những việc ông ta làm. Tôi không thể quan niệm được một cá tính nào đáng ghét hơn là cá tính của cái ông Thiên Chúa của người Do Thái. Ông ta long trọng hứa với dân Do Thái là mang họ ra khỏi Ai Cập đến một nơi tràn đầy sữa và mật ong.

Ông ta làm cho họ tin tưởng rằng trong tương lai gần, mọi khổ nạn của họ sẽ qua đi, và họ sẽ trở về vùng đất Canaan với vợ con, quên đi những sự cực khổ ở Ai Cập. Sau khi hứa hẹn đi, hứa hẹn lại (again and again) với đám dân du mục Do Thái khốn khổ là ông ta sẽ dẫn họ đến vùng đất hứa tràn đầy thực phẩm và vui sướng, cái ông Thiên Chúa này, quên hết mọi điều hứa hẹn của mình, và nói với đám dân khốn khổ đang ở dưới quyền ông ta: “Súc vật của các ngươi sẽ cùng các ngươi đi vào vùng sa mạc hoang dại và con cái các ngươi sẽ lang thang cho đến khi súc vật của các ngươi chết hết”. Lời nguyền rủa trên là kết luận của mọi vấn đề. Trong vùng sa mạc của thần chết và tối tăm, tất cả những lời hứa hẹn của Thiên Chúa đều phai nhạt. Trong sự cực khổ và thất vọng của đám dân du mục, tất cả những hi vọng về tự do và định cư đều biến mất [cho đến năm 1947. TCN]. Hàng triệu dân Chúa bỏ thây trong sa mạc, và mỗi xác chết là một nhân chứng của sự bất lương của Thiên Chúa (each corpse certified to the dishonesty of God). Những điều quá độc ác và vô tâm như vậy thật đã ra ngoài mọi ý niệm về công lý của tôi.

Khi chúng ta nghĩ tới những người Do Thái khốn nạn, sợ hãi, giết nhau, bị giết chóc, rắn cắn, bệnh truyền nhiễm, lừa dối, lột hết của cải…chúng ta phải cám ơn trời đất là chúng ta đã không phải là dân tộc được Thiên Chúa chọn lựa (how thankful we should be that we are not the chosen people of God) [Việt Nam ta, trừ một số mất gốc, nhờ hồng phúc tổ tiên, cho nên không rơi vào số phận của những kẻ nô lệ tin tưởng và thờ phụng Thiên Chúa, một vị Thần độc ác ngoài sức tưởng tượng của con người tiến bộ ngày nay. TCN]. So sánh với Thiên Chúa (Jehovah), Pharaoh (vua Ai Cập) là kẻ nhân từ, và cách hành xử độc đoán của Ai Cập là sự giải thoát cho những người phải chịu đựng ý tưởng về tự do của Thiên Chúa.

Đọc Ngũ Kinh, tôi cảm thấy vô cùng phẫn nộ, ghê sợ và đầy sự thương hại. Không có gì đáng buồn thảm hơn là lịch sử của một dân tộc du mục thiếu ăn, lang thang trong sa mạc, làm mồi cho đói khát, bệnh tật. Cực kỳ ngu đần và mê tín, bị thống trị bởi sự lừa dối, đạo đức giả, họ là trò chơi của giới giáo sĩ. Thiên Chúa là kẻ thù lớn nhất của họ, và họ chỉ có một người bạn, đó là cái chết. Chúng ta không thể nào quan niệm nổi một sinh vật nào quá chừng đê tiện, đáng ghét, và kiêu căng hơn là Thiên Chúa của người Do Thái. (It is impossible to conceive a more thoroughly despicable, hateful, and arrogant being, than the Jewish God) [Thảm thay, đây cũng lại là chính Thiên Chúa mà những người Ki Tô Giáo Việt Nam, Ca Tô cũng như Tin Lành thờ phụng. TCN] Trong những huyền thoại của dân gian, không có Thần nào như hắn ta. Chỉ có hắn là chưa từng bị đau khổ cùng cực về thể xác cũng như tinh thần, chưa từng chảy nước mắt. Hắn chỉ thích thú với máu đổ và sự đau đớn của con người. Tình cảm con người không nghĩa lý gì đối với hắn. Hắn ta không biết gì là tình yêu thương, ca nhạc, hạnh phúc. Là một người bạn giả dối, một quan tòa bất công, một kẻ khoác lác (a braggart), đạo đức giả, độc đoán, hận thù, ghen tuông, ưa trả thù, hứa hão, ưa nguyền rủa, ngu đần, đồng bóng, đồi bại và ghê tởm (infamous and hideous)đó là Thiên Chúa trong Ngũ Kinh. [Chúng ta không nên lấy làm lạ khi thấy trong Tân Ước, Thiên Chúa Con, alias Giê-su, cũng có không ít cùng những đặc tính được mô tả ở trên. Cũng giả dối, khoác lác, đạo đức giả, độc đoán, ác độc, hận thù, ưa trả thù, hứa hão, ưa nguyền rủa, ngu đần v..v.. Việc chứng minh rất dễ dàng. Chỉ cần mở cuốn Tân Ước ra là thấy ngay. Tôi sẽ trình bày chi tiết dẫn chứng từ Tân Ước trong một bài khác. TCN]

Trong nhiều năm, (trong thế giới Ki Tô) người ta đã cho rằng 10 điều răn trong Cựu Ước là nền tảng của mọi ý tưởng về công lý và luật pháp. Nhiều nhà luật học nổi danh đã phải cúi đầu trước thành kiến phổ thông, và đã méo mó nghề nghiệp đến độ cho rằng luật của Môi-se là suối nguồn của mọi ý tưởng về công chính. Không có gì sai lầm một cách ngu đần hơn. Hàng ngàn năm trước khi Môi-se sinh ra đời, dân Ai Cập đã có một bộ luật. Họ đã có những luật chống phỉ báng, giết người, ngoại tình, ăn trộm, ăn cướp, luật đòi nợ, tôn trọng hợp đồng, bồi thường, chuộc đồ, và hầu như về mọi khía cạnh của đời sống xã hội.

Người ta thường bảo với tôi rằng, nếu không có cuốn Thánh Kinh thì không làm gì có nền văn minh nào. Người Do Thái có một Thánh Kinh. Người La Mã không có. Nhưng dân nào có một chính quyền tốt hơn? Chúng ta hãy lương thiện. La Mã không có Thánh Kinh, Thiên Chúa không quan tâm đến đế quốc La Mã. Ông ta không có thì giờ. Tất cả thì giờ ông ta để cho người Do Thái. Nhưng La Mã đã chinh phục thế giới, kể cả dân Thần lựa chọn. Dân tộc có Thánh Kinh bị dân tộc không có Thánh Kinh đánh bại. [Điều này cũng đúng trong thời hiện đại. Mỹ và Pháp đều có Thánh Kinh, Việt Nam không có Thánh Kinh, nhưng đã đánh bại cả hai]. Và chúng ta có thể nói gì về Hi Lạp? Không Thánh Kinh. Hãy so sánh Athens với Jerusalem. Athens là trung tâm nghệ thuật và trí thức của thế giới. [Có lẽ tác giả chỉ biết đến lịch sử Trung Đông và Tây Phương]. Hãy so sánh những huyền thoại của Hi Lạp với những huyền thoại của Do Thái. Huyền thoại Hi Lạp đẹp đẽ biết bao, còn huyền thoại Do Thái thì đầy những hận thù và bất công.

Do Thái đã trở thành thế nào vì có Thánh Kinh? Đền thờ Thần của họ bị phá hủy, thành thị bị chiếm cứ; và họ chưa bao giờ trở nên thịnh vượng cho đến khi họ bị Thần bỏ rơi.

Nền tảng văn minh của chúng ta đã khởi đầu từ nhiều thế kỷ trước khi Ki Tô Giáo xuất hiện. Tất cả những gì đóng góp cho nền văn minh: sự tiến bộ trí thức, lòng can đảm, tổ chức chính phủ, kỹ nghệ v..v.. không đến từ Ki Tô Giáo mà là do sự đóng góp của mọi quốc gia trên thế giới từ xưa.

Có nhiều người cho rằng chính phủ của chúng ta là một chính phủ Ki Tô, đặt nền tảng trên Thánh Kinh, và người nào coi Thánh Kinh như là sai lầm và điên rồ (false and foolish) là phá hủy nền tảng của đất nước. Sự thực là, chính phủ của chúng ta không đặt nền tảng trên quyền của Thiên Chúa mà là trên quyền của con người. Hiến pháp của chúng ta được đóng khung trên sự thiêng liêng của nhân loại chứ không tuyên bố và không ủng hộ tư cách thần thánh của Giê-su. Chính phủ của chúng ta là chính phủ đầu tiên do dân và vì dân. Đây là quốc gia duy nhất mà Thiên Chúa không có quyền gì trong đó. Tuy vậy mà cũng còn có một số người bất lương và hèn nhát đến độ (dishonest and cowardly enough) long trọng quyết định đây là một quốc gia Ki Tô, và định chế tự do của chúng ta được đặt căn bản trên những luật ô nhục của Thần Gia-vê (infamous laws of Jehovah).

Và ở đây, tôi xin nói dứt khoát, khi tôi nói đến Thiên Chúa có nghĩa là tôi muốn nói đến Thần mà Moses mô tả trong Thánh kinh, Thần Gia-vê của người Do Thái. Tôi muốn nói đến Thiên Chúa đã ngăn chận sự tiến bộ của con người; đã tăng gấp bội sự cực kỳ đau đớn về tinh thần cũng như thể xác của phái nữ; và trong cơn giận đã nhận chìm cả thế giới – Thiên Chúa mà trên bàn thờ hắn có đầy máu, Thiên Chúa đã phanh thây những trẻ sơ sinh, cưỡng hiếp gái trinh, nô lệ hóa con người và chất đầy thế giới với những tội ác và sự ác độc; Thiên Chúa đã lập lên thiên đường cho một số nhỏ và hỏa ngục cho tuyệt đại đa số nhân loại..

Sự thật là, Môi-se (Moses) coi bầu trời như là một vòm cứng, nơi Thiên Chúa trú ngụ, và nước được giữ ở trên đó. Đó là tại sao họ thường ngẩng mặt cầu nguyện cho trời mưa. Họ cho rằng có vài thiên thần nào ở trên đó mở ra những cánh cửa để cho lượng nước mà họ mong muốn rơi xuống.

Họ không có cách nào để biết thế nào là mưa. Nước từ đâu mà rơi xuống? Họ không biết gì về sự bốc hơi của nước. Họ không hề tưởng tượng ra được rằng, ánh sáng mặt trời đã âu yếm hôn (amorous kisses) những làn sóng biển, từ đó hơi nước bốc lên để gặp người yêu ở trên không, nhưng rồi thất vọng nên đã biến thành nước mắt rơi xuống thành mưa. [Very poetic]

Tôi có thể bị đọa đầy xuống hỏa ngục, nhưng tôi không bao giờ tin là cây cỏ hoa lá trên trái đất lại có trước mặt trời [như đã được mạc khải trong Thánh Kinh] với những tia nắng lung linh, xua đi bóng tối của đêm trường.

Ngày nay, người ta thường cho rằng, trong khi Cựu Ước có nội dung man rợ của thời đại đó, Tân Ước thì hoàn toàn đạo đức, không có một tì vết nào trên những trang Tân Ước. Thật ra, Tân Ước còn ủng hộ chế độ nô lệ hơn là Cựu Ước. Về phần tôi, tôi sẽ không bao giờ, không bao giờ có thể (I never will, I never can) thờ phụng một Thiên Chúa chấp thuận chế độ nô lệ. Một Thiên Chúa như vậy, tôi thật là ghét và không thèm đếm xỉa gì đến ông ta. Tôi chẳng muốn cái thiên đường của ông ta, cũng như chẳng sợ cái hỏa ngục của ông ta.

Chúng ta được bảo rằng, trong Ngũ Kinh, Thiên Chúa, vị Cha chung của chúng ta, đã trao hàng ngàn thiếu nữ còn trinh, sau khi đã giết cha mẹ anh em họ, để cho những con người man rợ thỏa mãn lòng dục của họ [Ingersoll quên rằng chính Thiên Chúa cũng có phần].

Đó là sự “tự do tôn giáo” (religious freedom) của Thiên Chúa; lòng khoan nhượng của Thần Gia-vê (Jehovah). Nếu tôi sống ở Palestine vào thời đại đó, và vợ tôi, mẹ của những con tôi, nói với tôi rằng: “Tôi chán cái ông thần Gia-vê này quá đi; ông ta luôn luôn đòi nợ máu; không bao giờ chán ghét sự giết chóc; luôn luôn nói về quyền năng của ông ta; luôn luôn khoe những việc ông ta làm cho người Do Thái; luôn luôn đòi hỏi sự hi sinh tế thần – chim cu và chiên non – máu, không có gì ngoài máu. Chúng ta hãy thờ Thần Mặt Trời. Thần Gia-vê đầy lòng hận thù, xảo quyệt và quá đòi hỏi. Chúng ta hãy thờ Thần Mặt Trời. Mặt trời soi sáng những vẻ đẹp của trái đất, giúp cho hoa tươi nở; nhờ có ánh sáng mặt trời mà em được thấy anh, thấy các con của chúng ta..”

Nếu tôi theo đúng lệnh của Thiên Chúa, tôi sẽ phải giết vợ tôi. Bàn tay của tôi là người đầu tiên, và rồi bàn tay của bao nhiêu người khác, sẽ phải ném đá vợ tôi cho đến chết. Về phần tôi, tôi không bao giờ giết vợ, ngay cả khi một ông Thiên Chúa thực sự của vũ trụ này ra lệnh.

Nếu Thần Gia-vê sống như những thần dân mà ông ta cai trị, và nếu ông ta theo đúng những luật mà ông ta đặt ra, thì ông ta sẽ là người nuôi nô lệ, là kẻ buôn bán trẻ con, đánh đập phụ nữ. Ông ta sẽ phát động những cuộc chiến tranh diệt chủng. Ông ta sẽ là người đa thê, và sẽ phanh thây (butchered) vợ ông ta nếu bà ta theo một tôn giáo khác với ông ta.

Nếu Gia-vê thực sự là Thiên Chúa toàn trí, ông ta phải biết những gì sẽ xảy ra về sau. Ông ta phải biết Thánh Kinh của ông ta là một công sự mà sự đạo đức giả và độc đoán sẽ nằm trong đó, nó sẽ được dẫn chứng bởi những bạo chúa; được dùng để biện hộ cho những tên ăn cướp gọi là Vua, những kẻ đạo đức giả gọi là linh mục hay mục sư v..v..

Ông ta phải biết là ông ta không bao giờ thực hiện lời hứa của ông ta đối với dân Do Thái.. Ông ta hứa hẹn cho họ cả thế giới nhưng chỉ cho họ có sa mạc. Ông ta hứa hẹn cho họ sự tự do nhưng lại cho họ sự nô lệ.. Khi chúng ta đọc xong Cựu Ước, chúng ta bắt buộc phải nói rằng: “Không có một dân tộc nào khốn khổ như là dân tộc mà vua của họ là Thần Gia-vê.”

Nếu chúng ta muốn xét đến những gì đã là ảnh hưởng của Thánh Kinh, chúng ta phải xét đến tình trạng ở Âu Châu khi mà Thánh Kinh được coi là tuyệt đối đúng và có ảnh hưởng nhiều nhất. Ki Tô Giáo là tôn giáo đã chiếm ngự Âu Châu trong thời Trung Cổ. Trong thời đó, nó có quyền lực tuyệt đối.

Sự thật là, trong thời đó, con người vì đã nghiên cứu kỹ Thánh Kinh nên đã giết vợ, giết con. Họ đọc Thánh Kinh rồi dùng những kìm cặp nung đỏ để hành hạ xác thịt con người. Họ đặt Thánh Kinh xuống để có thì giờ đổ chì nóng vào tai đồng loại. Họ ngưng đọc cuốn Thánh Kinh thiêng liêng đó để có thì giờ xâu xé đồng loại, trói chặt họ trong xiềng xích, và rồi lại trở lại để đọc Thánh Kinh, để mặc cho nạn nhân của họ chết rục trong ngục tù tối tăm với sự thất vọng. Họ ngưng đọc Cựu Ước để có thì giờ đóng cọc xuống đất, đi kiếm những bó củi và thiêu sống người lành và người lương thiện. Ngay cả những linh mục cũng đã ngưng đọc Thánh Kinh đủ lâu để nói lên những lời giả dối xuyên tạc về đồng bào của họ. Không có một tội ác nào mà những người đọc Thánh Kinh, tin Thánh Kinh, thờ phụng Thánh Kinh không làm. Không có một điều ác ôn nào mà một số người đọc Thánh Kinh, tin Thánh Kinh, và bảo vệ Thánh Kinh không làm. Những người tin Thánh Kinh và bảo vệ Thánh Kinh đã chất đầy thế giới này với những sự vu khống (calumnies and slanders).

Tôi không nói rằng đọc Thánh Kinh nhất định phải làm cho người đọc trở thành bất lương, nhưng tôi phải nói rằng, đọc Thánh Kinh không có ngăn ngừa họ khỏi phạm tội [những giáo hoàng, linh mục, mục sư cuồng sát, loạn dâm, và phạm đủ thứ tội là những người đọc và giảng Thánh Kinh nhiều nhất. TCN]. Tôi không nói rằng tin ở Thánh Kinh sẽ khiến cho con người trở thành trộm cướp, nhưng tôi phải nói rằng, vì tin ở Thánh Kinh nên con người đã bạo hành, cầm tù và thiêu sống đồng loại.

Hàng ngàn, hàng ngàn các bà mẹ đã đưa Thánh Kinh cho con cái mà không hề biết trong đó có những gì. Họ chỉ theo truyền thống, và như là một quy luật, con cái họ tiếp tục tôn kính cuốn Thánh Kinh, không phải là họ biết gì về cuốn đó nhưng vì đó là món quà của người mẹ.

Sự kiện là các bà mẹ giới thiệu cuốn Thánh Kinh với con cái không chứng minh được rằng đó là cuốn sách được viết ra do sự mạc khải của Thiên Chúa. Sự kiện này chỉ có thể chứng minh một điều, đó là các bà mẹ đã tin rằng cuốn sách đó là do sự mạc khải của Thiên Chúa Ki Tô. Điều này cũng không chứng minh được những phép lạ trong đó là những sự thực. Dù tất cả các bà mẹ trên thế gian đều trao cho con cái cuốn Thánh Kinh cũng không chứng minh được là những chuyện giết mẹ, giết con, nô lệ hóa các bà mẹ, bán đi con cái, như được viết trong Thánh Kinh, là đúng.

Edmund About đã kể một câu chuyện minh họa niềm tin Chúa của một người Ý hiện đại. Một thanh niên ham mê đánh bạc và luôn luôn thua. Trong phòng hắn ta có một bức hình của bà đồng trinh bồng đứa con nhỏ. Quỳ trước tấm hình, anh ta đưa tay làm dấu cộng mà người ta thường gọi là làm dấu thánh giá, và cầu sự trợ giúp của đứa bé. Nhưng anh ta lại vẫn cứ thua. Trở lại trước tấm hình, anh ta nói với đứa bé là anh ta đã thua hết, chỉ còn lại đồng tiền cuối cùng, và cầu xin đứa bé hãy dùng quyền năng thần thánh giúp anh ta thắng trong canh bạc cuối cùng này. Nhưng rồi anh ta lại thua. Trở lại trước tấm hình, anh ta đưa nắm tay lên mặt đứa bé và hét: “Thằng bé khốn nạn, tao rất vui là mày đã bị người ta đóng đinh trên thập giá” (Miserable bambino, I am glad they crucified you).

Sự tin cậy vào một hình ảnh, một thánh tích, một cuốn sách, tất cả đều từ một nguồn gốc – thờ vật (fetishism) - Tin rằng một da con rắn, một hình ảnh, một cuốn sách có những thuộc tính siêu nhiên, về phương diện trí thức đều như nhau.

Đối với tôi, muốn thuyết phục những người có đầu óc là cuốn Thánh Kinh chỉ là sản phẩm của con người – những con người man rợ – là bảo họ hãy đọc nó. Hãy đọc nó như mọi cuốn sách khác, nghĩ tới nó như mọi cuốn sách khác, bỏ đi cái băng kính ngưỡng Thánh Kinh đang che mắt, dẹp bỏ mọi sự sợ hãi trong lòng, loại ra khỏi đầu óc sự mê tín, rồi hãy đọc cuốn Thánh Kinh, và các bạn sẽ cảm thấy ngỡ ngàng là tại sao có một thời mình đã cho rằng một đấng siêu nhiên với trí tuệ siêu việt, lòng thiện vô tận, lại là tác giả của những điều ngu xuẩn và bạo tàn như vậy (the author of such ignorance and of such atrocity)? [Ingersoll đã nhận định rất đúng. Lẽ dĩ nhiên, theo đúng những tiêu chuẩn đọc Thánh Kinh của Ingersoll không phải là dễ vì trước hết phải tẩy hết các độc tố Ki Tô ra khỏi đầu óc như Ingersoll đã đề nghị. TCN]

Trong hầu hết các nền thần học, các huyền thoại và tôn giáo độc thần, các con quỷ còn nhân đạo và nhân từ hơn các Thiên Chúa nhiều. Không có môt con quỷ nào đã ra lệnh cho thuộc hạ của mình giết trẻ con và phanh thây người đàn bà có mang. Tất cả những điều man rợ này đều luôn luôn là lệnh của Thiên Chúa chí thiện. Bệnh dịch cũng do Thiên Chúa nhân từ tạo ra. Nạn đói đáng sợ, với những trẻ sơ sinh bờ môi nhợt nhạt bú người mẹ hấp hối không còn sữa, cũng là tác phẩm của Thiên Chúa đầy lòng thương yêu. Không có một con quỷ nào đã bị lên án là tác giả của những sự tàn bạo ác ôn như trên (such fiendish brutality).

Thiên Chúa, theo Thánh Kinh, đã nhận chìm cả thế giới trừ tám người. Già, trẻ, lớn, bé đều bị sóng nước vô bờ nuốt chửng. Cái thảm họa đáng sợ này, trong sự tưởng tượng của đám linh mục ngu đần (ignorant priests), là tác phẩm không phải của quỷ, mà là của cái mà người ta gọi là Thiên Chúa, và tiếp tục thờ phụng một cách ngu đần cho đến ngày nay. (ignorantly worship unto this day).

Không có một người thông minh nào, không có một người nào mà đầu óc chưa bị nhiễm độc bởi mê tín, tê liệt bởi sợ hãi, có thể đọc Cựu Ước mà không bắt buộc phải đi đến kết luận: Thiên Chúa của chúng ta là một con thú hoang dại (that our God was a wild beast).

Cho tới bao giờ, than ôi! Cho tới bao giờ con người còn thờ phụng một cuốn sách? Cho tới bao giờ con người còn quỳ phục xuống đất trước những truyền thuyết ngu đần của cái quá khứ man rợ? (How long will they grovel in the dust before the ignorant legends of the barbaric past). Cho tới bao giờ họ còn theo đuổi những hồn ma trong sự tăm tối sâu thẳm hơn là cái chết.

Cho tới bao giờ, than ôi! cho tới bao giờ con người còn nghe lời đe dọa của Thiên Chúa, nhắm mắt lại trước thiên nhiên huy hoàng ngoạn mục? Cho tới bao giờ con người còn là nô lệ, bám víu vào một giáo thuyết sai lầm và độc ác? (a false and cruel creed).

Ngày nay, cả thế giới nên biết rằng cuốn Thánh Kinh chân thật (the real Bible) chưa đã được viết ra mà còn đang viết, tiếp tục viết, và không bao giờ hoàn thành cho đến khi nhân loại không còn tồn tại nữa./.

Có thể có người, nhất là các tín đồ đạo Giê-su, không tin những tài liệu trên là đúng. Tôi khuyên họ hãy mở cuốn Thánh Kinh ra đọc từ dòng đầu tới dòng cuối, rồi đọc lại lịch sử Ca Tô giáo Rô-ma trên hoàn cầu, họ sẽ thấy ngay sự tương quan giữa những điều dạy trong Thánh Kinh và hành động của giáo hội CaTô. Họ sẽ thấy ngay là những hành động của giáo hội CaTô trong suốt 20 thế kỷ nay là bắt nguồn từ những giáo lý trong Thánh kinh chứ không phải là do một vài giáo hoàng, như lời biện hộ gần đây của một đại trí thức CaTô Việt Nam, bị cái “chước cám dỗ làm điều thiện”. Bản chất các giáo lý đã không thiện rồi và chính những giáo lý không thiện này đã đưa đến những hành động bất thiện. Khi đó họ có thể phối kiểm những điều mà những tác giả kể trên đã viết về Thánh kinh và sẽ thấy họ không viết sai sự thực, dù bản Thánh Kinh bằng tiếng Việt đã được lược bớt một số mâu thuẫn và những đoạn “không thể đọc được” so với bản tiếng Anh, King James.. Tôi cũng cần phải ghi ở đây là những tài liệu dẫn chứng trong bài viết này chẳng qua chỉ là một phần rất nhỏ của toàn bộ những tài liệu đã được xuất bản về lịch sử CaTô giáo và Thánh kinh CaTô.

Một câu hỏi được đặt ra: “Thế trong Thánh kinh không có đạo lý hay sao?” Câu trả lời là: “Hơn 90% cuốn Thánh Kinh là những chuyện thuộc vùng đất Do Thái, thuộc lịch sử Do Thái và là những chuyện chém giết, vô luân, độc ác v..v.. cùng những tín lý chứ không phải là đạo lý.” Phần còn lại, như bài giảng trên núi, cũng không có gì đặc biệt, không có gì mới lạ, không có gì theo kịp, khoan nói đến chuyện vượt qua, được những tư tưởng, giáo lý của Phật Giáo, Khổng Giáo và Lão Giáo. Tôi thách đố bất cứ ai có thể đưa ra bất cứ đạo lý nào, tôi xin nhấn mạnh: đạo lý chứ không phải là tín lý, trong Thánh Kinh mà ta không thể tìm thấy trong Nho, Thích, Lão, và có thể minh xác cho độc giả thấy cái đạo lý trong Thánh Kinh là cái đạo lý như thế nào, có nhất quán hay không, hay là mâu thuẫn với rất nhiều điều vô đạo ở trong cuốn Thánh Kinh?

Những tín đồ CaTô giáo thường không đọc Thánh Kinh, và thường là những người các linh mục “bảo sao nghe vậy”, mà linh mục lại là những người Tòa Thánh “bảo sao nghe vậy”, cho nên họ vẫn tin rằng Thánh Kinh là những lời mặc khải của Thượng đế, do đó không thể sai lầm và tất nhiên phải chứa những lời khuyên răn về tình thương, luân lý, đạo đức v…v…Ngoài ra, theo lời “Giáo hội dạy rằng”, họ tin rằng CaTô giáo là cái đạo chân thật duy nhất, cao quý nhất trên hoàn cầu. Họ bị một cái guồng máy nhồi sọ tinh vi của Giáo hội đưa vào đầu óc họ từ lúc còn nhỏ tuổi những thông tin sai lầm thí dụ như: nền văn minh tiến bộ ở Âu Mỹ là nền văn minh KiTô giáo, và rằng giáo hội CaTô đứng đầu trong việc tôn trọng nhân quyền, bảo vệ tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, là bạn của dân nghèo, là quán quân trong các việc thiện, là tiền phong trong vấn đề giáo dục mở mang đầu óc con người. Các học giả nghiên cứu về Ca Tô Giáo Rô-ma đã coi những điều tuyên truyền trái ngược với sự thực của Giáo hội như trên là “Học Thuật Ca Tô” (Catholic scholarship), và “Học Thuật Ca Tô” đã nổi tiếng trên thế giới không phải là “học thuật” (scholarship) theo đúng nghĩa của một “học thuật lương thiện”.

Kết Luận Cho Mục VI: Kinh điển tôn giáo là để cho tín đồ áp dụng nhưng lời dạy trong đó. Nội dung và tác hại của cuốn Thánh Kinh của Ki Tô Giáo trên nhân loại đã rõ ràng.

Vậy thì, người Việt Nam theo Ca-Tô Giáo Rô-ma hay đạo Giê-su là vì cái gì?

Sau đây, xin mời quý độc giả đọc sang Phần II của Giáo sư Sử học Nguyễn Mạnh Quang.

VÀI LỜI KẾT CHUNG

 

[Của Trần Chung Ngọc & Nguyễn Mạnh Quang]

 

 

Qua những tài liệu nghiên cứu trình bày ở hai phần trên, chúng tôi đã dựa vào Tân Ước và các công cuộc nghiên cứu nghiêm chỉnh của các học giả ở trong cũng như ở ngoài đạo Giê-su, và lịch sử truyền đạo vào Việt Nam để chứng minh rằng:

1. Giáo hội Ca-Tô Rô-ma tuyệt đối không phải do Giê-su thành lập, và mọi quyền lực của Giáo hoàng cũng như của giới chăn chiên chỉ là tự phong, không có căn bản trong Tân Ước.

2. Tân Ước viết rất rõ, Giê-su sinh ra chỉ là để thi hành luật của một vị Thần của Do Thái trong Cựu Ước vì Giê-su tự cho mình là con của vị Thần đó, có nhiệm vụ cứu dân Do Thái, và chỉ dân Do Thái mà thôi.

3. Giê-su không bao giờ mơ tưởng là đạo của ông sẽ được truyền ra cả thế giới, sự truyền đạo Giê-su trên thế giới là sản phẩm của những tổ chức thế tục buôn thần bán thánh để xây dựng quyền lực tinh thần cũng như vật chất trên đám tín đồ thấp kém như lịch sử đã ghi rõ.

4. Những người không phải là dân Do Thái không thể được Giê-su cứu chuộc vì Giê-su đã khẳng định như vậy trong Tân Ước.

5. “Trí tuệ và đạo đức của Giê-su không có gì đáng để chúng ta kính ngưỡng, khoan nói đến chuyện đáng để cho chúng ta tôn thờ là Thiên Chúa”. Đây là kết quả nghiên cứu của nhiều chuyên gia học giả ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki-Tô, dựa trên chính những điều viết về Giê-su trong Tân ước.

6. Cuốn Thánh Kinh chỉ là một cuốn sách về lịch sử của dân Do Thái cách đây vài ngàn năm, viết bởi những người Do Thái theo cái hiểu của họ về vũ trụ nhân sinh trong thời đó, và những quan niệm về đạo lý qui Thần của họ, và chứa những điều phi luân vô đạo đức không ai có thể chấp nhận được trong thời đại ngày nay, cho nên không thể thích hợp với truyền thống văn hóa Việt Nam.

7. Giáo hội Ca-Tô Rô-ma thực chất là một đế quốc, thủ phủ đặt tại Vatican, Rô-ma, Ý Đại Lợi, là một kẻ thù lâu dài nhất, bám chặt nhất, nguy hiểm nhất và thâm độc nhất đối với dân tộc Việt Nam. Và Vatican đã tạo dựng nên một Giáo hội Ca-Tô Rô-ma tại Việt Nam, nổi tiếng là phi dân tộc và phản dân tộc, xét đến những sự kiện lịch sử ở Việt Nam mà không ai có thể chối cãi.

8. Lịch sử Giáo hội Ca-Tô Rô-ma là một lịch sử ô nhục và đẫm máu nhất trong nhân loại, và một số không nhỏ các vị chủ chăn, từ các giáo hoàng cho tới các linh mục, là những con người cực kỳ tội lỗi, độc ác, tàn bạo, vô đạo đức v..v.. chưa từng thấy trong bất cứ tôn giáo nào khác.

 

Vậy thì, từ những kết quả nghiên cứu trên mà chúng tôi nghĩ không ai có thể phủ bác được, cuối cùng một câu hỏi tất nhiên phải được đặt ra:

 

NGƯỜI VIỆT NAM THEO ĐẠO GIÊ-SU LÀ VÌ CÁI GÌ?

 

Và quý độc giả nay đã hiểu sự thắc mắc như trên của chúng tôi là chính đáng, có cơ sở. Chúng tôi nghĩ rằng, câu hỏi này, xin để cho các bậc thức giả, các vị lãnh đạo trong Ca-Tô Giáo Rô-ma và Tin Lành trả lời, soi sáng cho chúng tôi một vấn nạn trí thức. Chúng tôi không đủ khả năng, hay nói đúng hơn, chúng tôi không thể nào hiểu nổi tại sao người Việt Nam lại theo đạo Giê-su, trước những sự thật bất khả phủ bác về lịch sử Ki Tô Giáo, về tư cách, đạo đức của giới chăn chiên, và về những sự kiện trong Thánh Kinh mà chúng tôi vừa trình bày ở trên. Chúng tôi hi vọng là các bậc thức giả, các vị lãnh đạo trong Ca-Tô Giáo Rô-ma và Tin Lành hãy thành thực phê phán những kết quả nghiên cứu về đạo Giê-su của chúng tôi, và đưa ra những sai trái mà chúng tôi phạm phải trong công cuộc nghiên cứu này, căn cứ trên những hiểu biết trí thức ĐÃ ĐƯỢC CẬP NHẬT HÓA chứ không thể căn cứ trên một “đức tin” không cân biết, không cần hiểu.

 

Chúng tôi nghĩ, xã hội của chúng ta ngày nay không còn chịu những cảnh man rợ của Ki-tô giáo cách đây trên 250 năm ở Âu Châu và Mỹ Châu. Ngày nay, nói lên những sự thật về Ki-tô giáo, không còn là một điều cấm kỵ và phải chịu đựng những sự bạo hành của Ki-tô giáo như trước, nhất là ở những nơi mà tôn giáo này chỉ là thiểu số.. Đối với giới trí thức, đây là một bổn phận của những con người hiểu biết để giải hoặc quần chúng, giữ cho xã hội được lành mạnh. Sự xuất hiện của hàng ngàn tác phẩm mà tác giả đều là những người Tây phương, cùng hàng trăm diễn đàn điện tử trên Internet của người Tây Phương, mà Ki-tô giáo và những tín đồ cuồng tín liệt vào loại “chống Ki-tô giáo” là một bằng chứng cụ thể nhất về sự tiến bộ trí thức của nhân loại. Tác giả những cuốn sách này, trong đó có những giới cao cấp trong Ki-tô giáo, những giáo sư đại học, học giả, sử gia, chuyên gia về tôn giáo v..v.. là những người đã nhận lãnh trách nhiệm dẫn dắt quần chúng thoát ra khỏi những mê hoặc và xiềng xích trí tuệ cũng như vật chất của Ki-tô giáo. Sự hiện hữu của những tác phẩm này và những websites này trong những xã hội Ki-tô mà không gây ra một sự bất hòa, hỗn loạn nào trong xã hội vì lý do tôn giáo là một bằng chứng khác về sự tiến bộ trí thức của nhân loại, ít ra là ở trong những xã hội văn minh tân tiến. Đây là một trong những lý do để chúng tôi viết bài thuộc loại nghiên cứu thuần trí thức này. Và chính quyền có bổn phận phải để cho những tác phẩm nghiên cứu trong lãnh vực học thuật được phổ biến rộng rãi để mở mang dân trí.

Với tất cả những bằng chứng khoa học, những sự kiện lịch sử, và trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại đến trình độ ngày nay, vấn nạn Ki-tô đã trở nên rõ ràng: đó là Ki-tô giáo nói chung đã giới thiệu với các tín đồ một bông hoa tươi đẹp, và một miếng mồi to lớn. Rồi các giáo hội Ki-tô hứa hẹn với các tín đồ là họ có thể bắt được cái bóng của miếng mồi ở dưới đáy nước, và hái được bông hoa trong kính. Bởi vì miếng mồi to lớn là cái “ơn cứu rỗi” của Giê-su, nhưng thực ra đó chỉ là cái bóng của một ảo tưởng mà nền thần học Ki-tô giáo đã dựng ra. Bông hoa thật ở ngoài đời là bông Hoa Tâm, nhưng người ta đã dạy các tín đồ chỉ đi tìm nó ở ngoài, ở trong kính, ở dưới đáy nước. Có thể nói, đây là tóm tắt tất cả những gì mà những bộ óc siêu việt trong Ki-tô giáo đã nghĩ ra đủ mọi cách, đủ mọi thủ đoạn, kể cả những thủ đoạn tàn bạo và vô đạo đức tôn giáo như lịch sử Ki-tô giáo đã ghi rõ, để đưa các tín đồ vào trong vòng ngự trị của một người: giáo hoàng Ca-tô mà các tín đồ coi như là, mượn lời của Kim Dung mô tả Nhậm Ngã Hành, “Thánh Giáo Chủ, Thiên Thu Vạn Đại, Nhất Thống Giang Hồ” . [“Thánh giáo chủ” vì Ngài là đại diện của Giáo chủ Giê-su (sic) trên trần (Vicar of Christ), tự nhận là thừa kế chức Giáo chủ của Giê-su mà các tín đồ thương xưng tụng Ngài là “Đức Thánh Cha”; Giáo chủ Giê-su “hằng sống” (sic) nên tất nhiên phải là “Thiên thu vạn đại”; và Giáo chủ Giê-su là Thiên Chúa toàn năng toàn trí do đó đương nhiên phải là “nhất thống giang hồ”]; của một tập đoàn kiểm soát, nắm giữ tâm linh các tín đồ: giới giáo sĩ Ca-tô tự ban cho mình cái nhãn hiệu “cha cũng như Chúa”, có quyền thay Chúa làm những gì mình muốn làm, kể cả những chuyện không nên làm; và của một cuốn sách: Kinh Thánh mà Tin Lành coi như đích thật là những lời mạc khải của Thượng đế nên không thể sai lầm, do đó phải tin và tuân theo từng chữ một. Ngoài ra, chúng ta cũng không thể không biết đến những mục đích thế tục, vơ vét tiền bạc, vật chất của các giáo hội Ki-tô. Hãy nhìn vào tài sản của các giáo xứ Ca-Tô, ở ngay trong những nước nghèo khổ ở Nam Mỹ, Phi Châu và Á Châu; hãy nhìn vào những nguồn lợi vật chất to lớn mà các nhà truyền bá Phúc Âm [televangelists] trên TV kiếm được, hãy nhìn vào những sản phẩm thương mại có tính cách mê tín của Ki Tô Giáo tung ra thị trường, hãy nhìn vào các cơ sở đầu tư của Vatican v..v.., là chúng ta có thể thấy rõ thực chất của Ki Tô Giáo, Ca-Tô Giáo Rô-ma cũng như Tin Lành: buôn thần bán thánh.

 

Chúng tôi hiểu rằng người đời thường bám chặt vào niềm tin của mình, nhất là khi niềm tin này, do cha truyền con nối, đã được cấy vào trong đầu óc từ khi còn nhỏ, chưa đủ khả năng để phán đoán, suy luận, hoặc niềm tin đã được cấy vào để an ủi một người đang ở trong tình trạng khủng khoảng tinh thần hay vật chất, đầu óc bấn loạn… như các tân tòng Tin Lành. Điều chúng tôi muốn nêu lên ở đây là, ở trên đời, có một số người thường bám chặt vào những niềm tin của mình, dù tất cả những bằng chứng hiển nhiên đã chứng tỏ đó là những niềm tin sai lầm. Nói cách khác, số người đó thường có khuynh hướng đóng sập cửa vào mặt chân lý khi chân lý đích thân đến gõ cửa. Tại sao vậy? Vì họ thuộc loại người yếu kém về tinh thần, khó khăn về vật chất v.. v.., hoặc luôn luôn cần một cái phao thần linh để bám víu vào, buông ra sợ mình chết chìm; hoặc luôn luôn cần đến một cặp nạng thần linh để lê lết trên cuộc đời mà họ được tẩy não là tạm bợ, vô nghĩa, tội lỗi, đầy bất hạnh; hoặc đã bị cấy vào đầu óc từ khi còn nhỏ những sự mê tín mà khi đó họ chưa đủ khả năng trí tuệ để suy tư. Do đó, không những cố bám vào những niềm tin đã lỗi thời, họ còn đưa ra mọi lý luận, thường không phải là lý luận, để bác bỏ những sự thật trái với niềm tin của họ. Điều này chúng ta thấy rõ trong những bài viết hoặc sách đã xuất bản của những tín đồ Ki-tô, Ca-tô cũng như Tin Lành, điển hình là của một số linh mục, mục sư cũng như một số gọi là trí thức trong đạo Giê-su.

 

Nhưng thật ra, vấn đề không phải là tin vào Thượng đế của người Do Thái, vì ai cũng có quyền tin vào một Thượng đế mà mình muốn tin, cũng như ai cũng có quyền tin vào một chú Cuội ngồi ở gốc cây đa trên cung Hằng, hay tin “con Cóc là cậu Chúa Trời”, “Thần cây đa”, “Thần bình vôi” v..v… Trong thế giới ngày nay, chúng ta thấy có cả trăm Thượng đế khác nhau, và về bản chất, mọi Thượng đế và mọi đối tượng tín ngưỡng đều như nhau, nếu chỉ là thuần túy đối tượng của một đức tin không cần biết, không cần hiểu. Vấn đề chính là tin như thế nào, và những hành động tôn giáo bắt nguồn từ đức tin của mình có thật sự làm sáng danh Thượng đế mà mình tin hay không, hay ngược lại chỉ kéo Thượng đế của mình xuống vòng ô nhục. Thảm thay, đây chính lại là điều các tín đồ Ki-tô thường làm, tưởng rằng để vinh danh Thiên Chúa nhưng thực ra lại hạ thấp Thiên Chúa của mình xuống hàng tệ mạt nhất trong nhân loại, qua những hành động tàn bạo, ác ôn nhất trong lịch sử nhân loại. Có phải là kỳ lạ không khi chúng ta tin vào Thần cây đa, Thần bình vôi v… v…, chúng ta không hề gây hại cho ai, trong khi tin vào Thiên Chúa của Ki Tô Giáo thì lại gây ra bao thảm cảnh cho nhân loại. Vậy về phương diện xã hội, những niềm tin nào đã gây hại cho xã hội. Các tín đồ Ki-tô có bao giờ nghĩ đến điều này không?

 

Thật vậy, trong cuốn Những Tân Khải Thị (The New Revelations, Atria Books, New York, 2002) Neale Donald Walsch đã viết, trang 62:

 

“Hầu hết những sự giết chóc, thống trị, đàn áp, những sự kinh hoàng trên hành tinh của chúng ta đã được gây ra dưới lá cờ chiều hướng tư tưởng của tổ chức tôn giáo và nhân danh Chúa. 200 năm của những cuộc Thánh chiến Ki-tô là một thí dụ điển hình, trong thời gian này, con người bị tàn sát nhân danh Chúa Ki Tô.

[Most of the killing and most of the domination and most of the suppression and most of the terror on our planet has been carried out under the banner of organized religion and in the name of God. The 200 years of the Christian crusades are a prime example, during which people were slaughtered in the name of Christ.]

 

Thắc mắc ở trên đưa đến một thắc mắc thứ hai: “Tại sao Giáo Hội Ca Tô Rô-ma tại Việt Nam phải lệ thuộc Vatican để đi vào con đường phản bội dân tộc như trong quá khứ?”. Trong Phần I, chúng tôi đã chứng minh một sự kiện: Chúa Giê-su không hề có trong một giáo hội ngụy tạo là Giáo hội Ca-Tô Rô-ma. Chúng tôi hi vọng có ai đó trong Giáo Hội có thể giải đáp cho chúng tôi thắc mắc này. Đây không phải là vấn đề thuộc nội bộ Giáo Hội Ca Tô Rô-ma tại Việt Nam, mà còn là một vấn đề liên hệ đến mọi khía cạnh của đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam. Tôn giáo là một bộ phận của quốc gia, nằm trong luật pháp quốc gia, không thể đứng ngoài hay đứng trên quốc gia với lý do tự do tôn giáo hay tự do tín ngưỡng, nhất là khi cái căn bản tín ngưỡng này lại được xây dựng trên một nền tảng không thực.

Mặt khác, chúng ta cũng cần biết, trong lịch sử nhân loại, thực chất của Giáo hội Ca-Tô Rô-ma là như thế nào và đã mang những phúc lợi gì đến cho nhân loại? Chúng ta có thể tóm tắt những điều này trong vài tài liệu sau đây:

 

1988: Peter de Rosa, một linh mục dòng Tên (a Jesuit), giáo sư về Siêu Hình Học và Đạo Đức tại trường Dòng Westminster, khoa trưởng khoa Thần học tại đại học Corpus Christi ở Luân Đôn (Professor of Metaphysics and Ethics at Westminster Seminary and Dean of Theology at Corpus Christi College in London) xuất bản cuốn Những Đại Diện của Chúa Ki-Tô: Cái Mặt Đen Tối Của Những Triều Chính Giáo Hoàng (Vicars of Christ: The Dark Side of the Papacy) trong đó tác giả vạch trần cái mặt đen tối đã ngự trị trong nhiều triều chính giáo hoàng như đồi bại, ngụy tạo tài liệu, loạn dâm, giết người, theo đuổi chính sách diệt chủng v..v.. (corruption, document-forgery, sex scandal, murder, genocide). Tác giả đã mở toang những cánh cửa kính màu (thường là mẫu mực trong các nhà thờ ở Tây phương, nhất là Thánh đường Phê-rô ở Vatican. TCN) và để lộ ra những giáo điều của Giáo hội thường là "...hình thành bởi những ham muốn đồi bại, độc tài và cuồng tín của những giáo hoàng” (Peter de Rosa opens the stained glass window and reveals that the Church's teachings were too often "..shaped by the whims of corrupt, despotic and fanatical popes"). Cuốn sách đã được nhiều tín đồ Ca-tô đánh giá cao vì tính chất lương thiện và nghiêm túc của nó (The book was appreciated for its honesty and seriousness by many Catholics).

 

1994: Trong một mật thư gửi cho các hồng y, về sau bị lộ ra cho báo chí Ý, giáo hoàng John Paul II đặt câu hỏi: "Làm sao mà chúng ta có thể tiếp tục yên lặng trước nhiều hình thức bạo tàn mà giáo hội đã phạm phải nhân danh đức tin - chiến tranh tôn giáo, những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo và những hình thức vi phạm nhân quyền khác?"(Chicago Tribune, June 5, 1995: In a 1994 confidential letter to cardinals which was later leaked to the Italian Press, Pope John Paul II asked: "How can one remain silentabout the many forms of violence perpetrated in the name of faith - wars of religion, tribunals of the Inquisition and other forms of violations of the rights of persons?")

 

1995: Giáo hoàng John Paul IIthúc giục Giáo Hội Ca Tô Rô Ma hãy nắm lấy cơ hội "đặc biệt thuận lợi" của một thiên niên kỷ mới để ghi nhận "cái mặt đen tối của lịch sử giáo hội (Ca-tô)" (Ibid.,: Pope John Paul II had urged the Roman Catholic Church to seize the "particularly propitious" occasion of the new millennium to recognize "the dark side of its history").

 

1995: Helen Ellerbe cho ra đời cuốn "Cái Mặt Đen Tối Của Lịch Sử Ki Tô Giáo"(The Dark Side of Christian History). Chúng ta có thể đọc những lời tóm tắt sau đây nơi trang bìa sau:"Trong khoảng thời gian gần 2000 năm, giáo hội Ki-Tô đã đàn áp và bạo hành nhiều triệu người trong toan tính kiểm soát và ngăn chận vấn đề tâm linh của con người. Cuốn Cái Mặt Đen Tối Của Lịch Sử Ki Tô Giáo phanh phui với chi tiết tỉ mỉ những thảm họa, đau khổ và bất công mà giáo hội đã giáng lên nhân loại. Tác phẩm vạch trần sự thật này là một đòi hỏi hấp dẫn và nồng nhiệt cho nhân phẩm và sự tự do trong vấn đề tâm linh"(Over a period of almost two millennia, the Christian Church has oppressed and brutalized millions of individuals in an attempt to control and contain spirituality. The Dark Side of Christian History reveals in painstaking detail the tragedies, sorrows and injustices inflicted upon humanity by the Church. This exposé is a compelling and passionate cry for human dignity and spiritual freedom).

 

1999: Douglas Lockhart xuất bản tác phẩm Cái Mặt Đen Tối Của Thượng Đế (The Dark Side of God) với lời giới thiệu như sau:

"Giáo hội Ki-tô (Ca-tô Rô-ma) tự nhận là thừa hưởng trực tiếp từ Giê-su quyền năng tinh thần như được viết trong Phúc Âm.Nhưng thực ra có phải là một sự chuyển giao quyền lực một cách êm ả từ Giê-su cho Phê-rô và từ Phê-rô cho Giáo hội hay không? Hay đó chỉ là một chiến dịch tuyên truyền, ngụy tạo, và lừa dối lâu dài đã che đậy bản chất thực sự của các biến cố. Cuốn sách mới, có tác dụng làm cho chúng ta suy nghĩ, về nguồn gốc Ki Tô Giáo, đưa ra một họa đồ về sự theo đuổi quyền lực không ngừng của Giáo hội , từ lúc đầu cho đến ngày nay. Trong sự phân tích hấp dẫn và thường gây ngỡ ngàng về niềm tin trong Ki Tô Giáo,cuốn sách này khảo sát từ đâu mà Giê-su, người xứ Nazareth, đã được thổi phồng lên quá mức hoàn toàn xa với thực tế thường ngày."

(The Christian Church claims to inherit its spiritual authority directly from Jesus through the teaching of the gospels. But was there really a smooth transfer of power from Jesus to Peter and thence to the Church? Or has a long-term campaign of propaganda, forgery and deception concealed the true nature of events? This thought-provoking new book on the origins of Christianity charts the Church's relentless pursuit of power, from its beginnings to the present day. In a compelling and often disturbing analysis of Christian belief, it examines how Jesus the Nazarene was inflated into a figure of cosmic proportions far-removed from everyday reality...)

 

Từ nội dung những tác phẩm trên, không còn nghi ngờ gì nữa, các triều chính giáo hoàng cũng như giáo hội Ca-tô quả thật có một lịch sử đen tối, và ngay cả Thượng đế của họ cũng có cái mặt đen tối của mình.

 

Giáo hoàng John Paul II đã chính thức thú nhận lịch sử giáo hội Ca-tô Rô-ma có một mặt đen tối, và lịch sử đó đã chứa không ít bạo tàn đối với nhân loại dưới nhiều hình thức. Lẽ dĩ nhiên, tuyệt đại đa số tín đồ Ca-Tô giáo Rô-ma không hề biết hay không muốn biết đến cái mặt đen tối này, nhất là những tín đồ Việt Nam thì lại càng ít biết hơn nữa. Bởi vậy, có những tín đồ Ca-Tô Việt Nam vẫn tiếp tục ca tụng trên báo chí, đài phát thanh ở hải ngoại rằng "hội thánh công giáo vẫn luôn luôn thánh thiện, công giáo và tông truyền".

 

Với kinh nghiệm 2000 năm lừa dối thế giới, với khả năng tài chánh vô tận, với những phương tiện truyền thông rồi rào, và với một đoàn cán bộ trung kiên (hồng y, tổng giám mục, đức ông, giám mục và linh mục), những người chuyên vận dụng khả năng trí thức của mình để lôi kéo quần chúng thấp kém vào vòng nô lệ tâm linh, giáo hội Ca-Tô Rô-ma đã thành công cấy vào đầu tín đồ những niềm tin như "giáo hội là một "hội thánh" thánh thiện, công giáo và tông truyền", "giáo hội tiền phong trong việc tranh đấu cho nhân quyền, dân chủ, tự do", "giáo hội là hiện thân của nền văn minh tốt đẹp Tây phương", "giáo hội mang hòa bình và sự hiểu biết đến cho mọi dân tộc". Tất cả những điều tự nhận như trên của giáo hội Ca-Tô Rô-ma đều chỉ là những sản phẩm tuyên truyền lừa dối đám tín đồ thấp kém, vì lịch sử giáo hội đã chứng tỏ chúng hoàn toàn trái ngược với sự thực.

 

Sự thực là như thế nào? Giáo Hội tuyệt đối không phải là một "hội thánh" vì không có một hội thánh nào lại có thể gây ra nhiều tội ác như “hội thánh Ca-Tô”. Giáo hội cũng chẳng có gì có thể gọi là "công giáo" hay "tông truyền" vì tất cả chỉ là những sản phẩm thần học ngụy tạo, trái ngược với những điều viết trong Thánh kinh như đã được phân tích trong phần đầu của bài viết này. Giáo hội là một định chế tôn giáo độc tài sánh ngang với Hồi giáo, Do Thái giáo, do đó tuyệt đối không có một ý niệm gì về dân chủ và tự do. Giáo hội là một tổ chức không có một đóng góp nào đáng kể cho nền văn minh Tây phương, trái lại trong suốt 2000 năm đã dùng mọi nỗ lực và thủ đoạn để ngăn chận sự tiến bộ trí thức của nhân loại, đưa Tây phương vào một thời đại man rợ và đen tối trí thức (the age of barbarism and intellectual darkness) kéo dài hơn 1000 năm. Và sau cùng, Giáo hội chưa hề mang hòa bình và sự hiểu biết đến bất cứ nơi nào trên thế giới. Bất cứ giáo hội truyền đạo đến đâu là ở đó xảy ra chiến tranh, hận thù, và chia rẽ, và các tín đồ bị lùa vào cảnh nô lệ tâm linh, ngu dân dễ trị. Điều này chúng ta thấy rõ hơn đâu hết trong chính lịch sử truyền đạo Ca-Tô vào Việt Nam.

 

Lời thú nhận của giáo hoàng John Paul II ở trên là bằng chứng hùng hồn nhất để phủ bác những điều tự nhận của giáo hội. Chỉ tội nghiệp cho đám con chiên thấp kém ở dưới đã bị mê hoặc bởi bộ mặt giả dối của giáo hội và những hứa hẹn hoang đường giáo hội đưa ra, đám người xấu số vì thiếu hiểu biết cho nên cam tâm tình nguyện làm cái đáy của một kim-tự-tháp, để cho một số người vô hạnh ngồi trên chóp đỉnh, ngự trị trên đầu trên cổ.

 

Với tất cả những tài liệu ở trên, và đây chỉ là một phần vô cùng nhỏ nhoi về Giáo hội Ca-Tô Rô-ma, chúng tôi muốn nhắc lại câu hỏi:

 

“Người Việt Nam Theo Ca-Tô Giáo Rô-ma Là Vì Cái Gì? Và Tại sao Giáo Hội Ca Tô Rô-ma tại Việt Nam phải lệ thuộc Vatican để đi vào con đường phản bội dân tộc như trong quá khứ?”.

 

Chúng tôi mong có sự giải đáp từ các bậc thức giả trong Ca-Tô Giáo Rô-ma tại Việt Nam. Chúng tôi thành thực nghĩ rằng, để giải đáp những thắc mắc rất chính đáng trên, chúng ta không có con đường nào khác là mở mang dân trí, cập nhật hóa kiến thức thời đại về bản chất và vai trò các tôn giáo trong cộng đồng dân tộc. Đây chính là một nhiệm vụ quan trọng trong thời đại ngày nay, không chỉ riêng của chính quyền mà là nhiệm vụ chung của mọi người dân Việt Nam nào còn có lòng với dân tộc, đất nước, còn trân quý truyền thống văn hóa và tôn giáo của Việt Nam. Chúng tôi rất hi vọng giới trí thức, nhất là giới trẻ ngày nay, hãy nhận thức rõ tầm quan trọng của lãnh vực văn hóa này. Vì lợi ích của mọi người, và vì tương lai của dân tộc và đất nước, chúng ta hãy cùng nhau tích cực hoạt động trong đường hướng mở mang dân trí, giúp người dân nhận thức được những sự thật về các tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam. Chúng ta không cần phải e ngại trước những luận điệu vu khống vô căn cứ là chúng ta “chống Thiên Chúa Giáo”, xâm phạm tín ngưỡng của người khác, gây bất hòa trong xã hội, chia rẽ tôn giáo, vì công việc của chúng ta rất nghiêm chỉnh, không xuyên tạc, không bôi nhọ, tất cả chỉ là những nghiên cứu trí thức dựa trên các dữ kiện đã được phổ biến rộng rãi trong phương trời Âu Mỹ. Hơn nữa, sự chia rẽ tôn giáo, gây bất hòa trong xã hội v.. v.. nằm ngay chính trong cuốn Kinh Thánh, trong cuốn “Phép Giảng Tám Ngày” của tên Linh mục thực dân Alexandre de Rhodes đang được lưu hành ở Việt Nam, và trong Kinh Nhật Khóa của người Ca-Tô Việt Nam. Việt Nam không lẽ lại lạc hậu đến độ không dám nói đến những sự thật về tín ngưỡng, về tôn giáo hay sao?

Chúng ta hãy tích cực trong nhiệm vụ này. Giúp cho người dân mở mang đầu óc, cập nhật hóa kiến thức thời đại, nhận rõ chân thực, là mang đến cho họ một nguồn vui vô tận; giúp cho người dân tỉnh thức, không bị huyễn hoặc bởi những điều hoang đường, mê tín, cất bỏ lòng sợ hãi thần quyền, và thoát khỏi một tâm cảnh nô lệ ngoại quyền, đó chính là cứu khổ. Vì sự an sinh của quần chúng, vì tương lai của dân tộc, vì sự tiến bộ trí thức của người dân, chúng ta hãy cùng nhau góp sức đẩy mạnh những hoạt động có ích này trong tình trạng đang phát triển, tiến bộ về mọi mặt của đất nước. Chúng ta nên nhớ, văn hóa là linh hồn của dân tộc. Và văn hóa của Việt Nam chính là văn hóa của tuyệt đại đa số người dân. Chúng ta sẽ không cần phải e ngại trong nhiệm vụ đập tan mọi luận điệu, mưu toan muốn hạ thấp hay xóa bỏ nền văn hóa của Việt Nam mà nhiều đời ông cha cũng như chúng ta đều trân quý. Lẽ dĩ nhiên, đây là nhiệm vụ chung của mọi người dân yêu nước, nếu chúng ta muốn duy trì, gìn giữ một quốc gia thuần nhất về truyền thống và văn hóa. Chúng ta không ngần ngại áp dụng những cái hay cái đẹp của các xã hội khác trên thế giới. Nhưng chúng ta quyết không để cho những đồ phế thải của các xã hội đó xâm nhập vào Việt Nam để gây phương hại cho đất nước. Chúng tôi hi vọng mọi người chúng ta sẽ có đủ kiến thức và tinh thần vô úy để chiến đấu trong mặt trận văn hóa này.

 
Trần Chung Ngọc & Nguyễn Mạnh Quang

Trang Tôn Giáo