Qua điện thư của một anh
bạn gửi cho nhóm thân
hữu của ảnh, trong đó có
tôi, tôi được biết ông
Nguyễn Văn Lục, một trí
thức Công Giáo, có viết
một loạt bài nhan đề “Trí thức phải là người
biết ngượng “ trên
Đàn Chim Việt. Nhân đang
rảnh rỗi, tôi bèn vào
Đàn Chim Việt đọc chơi
và quả nhiên thấy nội
dung mấy bài viết này
chứng tỏ tác giả của nó
là “một ‘trí thức’ không
biết ngượng” nhưng lại
có can đảm viết một bài
với nhan đề “Trí thức
phải là người biết
ngượng.”
Trước đây, trên trang
nhà giaodiem.com, trong
bài “Tôi Đọc “Đi Tìm
Thời Gian Đánh Mất
(VIII)” của Nguyễn
Văn Lục, tôi đã chứng
minh rằng ông Nguyễn Văn
Lục chẳng qua chỉ là một
anh thợ giầy muốn đi lên
trên nơi giầy dép. Nay
đọc loạt bài này tôi
thấy kiến thức của tác
giả thuộc loại anh thợ
giầy … bất khả
thuyết. Bất khả thuyết
vì trong một bài thuộc
loại thảo luận trí thức
thì không ai viết như
vậy, trong đó có những
từ không thể gọi là trí
thức, và những luận cứ
biểu lộ một thiên kiến
dựa trên một trình độ
hiểu biết rất thiếu sót
của mình. Tôi sẽ chứng
minh điều này trong một
phần sau.
Trên Đàn Chim Việt có
một số, đầu óc tương
đương với Nguyễn Văn
Lục, khen Nguyễn Văn Lục
viết hay, hay vì luận
điệu bài bác, đả kích
trí thức thiên tả của
Nguyễn Văn Lục hợp với
tâm cảnh chống Cộng của
họ. Nhưng cũng có một số
thấy rõ con người và khả
năng của Nguyễn Văn
Lục. Trước khi đi vào
phần phê bình loạt bài
của Nguyễn Văn Lục, tôi
nghĩ có lẽ cũng nên ghi
lại vài nhận định về
Nguyễn Văn Lục của một
số độc giả trên Đàn Chim
Việt.
Do Thi, France: Còn
đám "trí thức Ky-tô
giáo", nói riêng ? Khi
đã đọc Bible (được gọi
là "Kinh Thánh") mà
không biết ngượng thì
cũng là điều đáng nể
thật.
Dr. Nguyen, San
Jose - CA/USA:
Nếu quả thực rằng "Trí
thức phải là người biết
ngượng", xin mạn phép
hỏi tác giả Trần Lục
[???] rằng tại sao các
"trí thức Công Giáo"
không bao giờ tỏ ra rằng
họ "biết ngượng" hết ?
Nếu các "trí thức Công
Giáo" có can đảm đối
diện với sự thực thì họ
đã phải "biết ngượng"
rằng Công Giáo, mà giáo
lý độc đoán và bất khoan
nhượng như được mô tả rõ
ràng chi tiết trong
Thánh Kinh, chính ra đã
là cha đẻ của mọi chủ
thuyết độc tài và cực
đoan khác trong đó có
Chủ Nghĩa Cộng Sản. Nếu
họ đã từng có chút đầu
óc suy xét thì đã họ
phải "biết ngượng" rằng
họ đã dại dột đi theo
một tôn giáo tay sai
ngoại bang và là thủ
phạm chính trong việc
kéo đất nước và dân tộc
xuống vũng vùn của 100
năm nô lệ thực dân Pháp.
Và nếu họ có chút liêm
sỉ tối thiểu thì họ đã
"biết ngượng" rằng dù họ
chỉ là một thiểu số nhỏ
nhoi ở Việt Nam, nhưng
mà suốt đời họ chỉ muốn
áp đặt quyền lợi của
giáo hội Công Giáo lên
trên quyền lợi của đại
đa số người Việt.
Xin tác giả Trần Lục vui
lòng trả lời! Cám ơn.
Cao Thanh Thiên:
Cá nhân ông có biết
ngượng không vậy hả ông
Lục ?
Nhất Đăng: Nói
người lại nghĩ đến ta,
Hỏi người quay ngược
chính là hỏi ta !!!
Độc hành cầu Bại,
Belgium: Trí thức
phải biết ngượng??? Ðúng
quá! Bởi vì chính ông
Nguyễn Văn Lục nên biết
ngượng trước tiên nếu
ông là trí thức, khoan
nói chuyện tả hữu.
Thứ nhất ông theo đuôi
Phạm thị Hoài khi tìm
cách định nghĩa trí thức
(trong lời mở đầu Bài
Tết Mậu Thân) với ”dương
vật buồn thiu“. Núp bóng
đàn bà để thóa mạ thiên
hạ. Thái độ ấy nên gọi
là gì nhỉ? Từ miệng Phạm
thị Hoài nói thì chữ ấy
”thơm“ mà sao qua đến
Nguyễn Văn lục nghe nó
”thiu“ thế, mà thiu thật
bởi vì ông lại mánh lới
bẻ nó ra để chỉ dành cho
trí thức Huế mà đóng
ngoặc cho mình,
mới…“ngượng“ chứ…. Thái
độ ấy gọi là cái gì nhỉ?
Tự nhìn xuống mà coi!
Ngượng không?
Thứ hai, ông lại chạy
theo đuôi Trần Trung
Ðạo, Nguyễn Hữu Liêm rồi
về hùa với những ai nữa,
viết đề tài trí thức,
gọi là về ”trí thức phải
biết ngượng!“. Tưởng gì,
ton hót theo đuôi thì
gọi là gì nhỉ? Trơ trẽn!
một chữ khác của ”không
biết ngượng“ đấy.
Bài viết nào của ông
cũng có tráo trở, không
điều này thì cũng điều
nọ.
Trí thức mà tráo trở nói
có thành không nói không
thành có là gì nhỉ?
Soi gương thì biết là
gì, không gió không
biển, không đú đỡn, mà
ngượng chín cả mặt đi
chứ phải chơi!
Có bạn đọc đã cho là
ông ”ẩu“ trong phần I
bài này, nếu đọc kỹ thì
thấy nhiều đoạn cắt xén,
hoán vị vài từ ngữ của
những bài cũ rồi chắp
vào. Ðúng là viết ”ẩu“,
coi thường coi khinh độc
giả DCV.
Viết nhào nháo, cũng vì
không biết ”ngượng“, ham
chạy theo cho kịp mấy
trí thức trung niên,
khơi ngòi cho độc giả tả
hữu đập nhau chí choé,
còn trí thức NVL xoa tay
ngồi đếm người ra vào
xem bài của ông đến
”thích“, lại mơn trớn
vuốt ve ”tôi thích DCV
lắm!“
Trong bài “Mảnh đất
chuồi“, đến nay tôi mới
tìm được cuốn tiểu
thuyết của Dương Thu
Hương mà ông Lục bảo lấy
tên nhân vật ”cô Xuân“
trong đó, nhưng nào có
cô Xuân nào đâu, hóa ra
ông bày đặt chuyện để
viết cho lâm li bi đát,
thỏa thích tính bạo dâm
của mình. (Ðộc giả DCV
tìm đọc DTH thì biết
ngay). Ðộc giả đòi ông
xin lỗi chuyện bịa đặt,
chống Cọng quá ấu trĩ mà
ông có xin lỗi ai đâu?
Tội này là tội gì nhỉ?
Có phải tội lường gạt
độc giả lương thiện, cả
tin không?
Thế người trí thức cầm
bút như thế có biết
ngượng không nhỉ? Hay
ông Lục bảo ông không
phải là trí thức???? nếu
không phải là trí thức
thì suy ra các bài viết
của ông sau này chỉ có
giá trị còn thấp hơn một
chữ : “ngượng“!!!
Và Sartre không ngụy tín
đâu, chính Nguyễn Văn
Lục mới là ngụy tín
trong cách viết và tư
duy chưa có tầm cỡ ”trí
thức biết ngượng“ của
chính ông!
Năm Chuột, Hòa
Lan: Nguyễn Văn Lục
viết: "Có sự khác
biệt giữa nhà chính trị
phe tả và người trí thức
tả phái ở một điểm: Một
bên dấn thân, nhập cuộc
bằng hành động cụ thể,
ngay cả tranh đấu để lật
đổ cái cơ chế hiện hữu
bằng một cơ chế mới. Đó
là trưởng hợp nhóm trí
thức Caravelle ra tuyên
ngôn ngày 26/4/1960 với
các ông Phan Huy Quát,
Phan Khắc Sửu, Trần Văn
Tuyên, Trần Văn Đỗ. Họ
là những nhà chính trị
tả phái chuyên nghiệp."
Xin hỏi: các ông Phan
Huy Quát, Phan Khắc Sửu,
Trần Văn Tuyên và Trần
Văn Đỗ "tả phái" ở chổ
nào? Căn cứ vào đâu mà
Nguyễn Văn Lục gọi họ là
"những nhà chính trị tả
phái chuyên
nghiệp"? Không lẽ chỉ vì
họ bất đồng chính kiến
với chế độ Ngô Dình
Diệm?
Thiên Lôi, Thiên
Đình:
Ông Lục viết:
Truyền thống tả phái
đã bắt đầu từ cuộc Cách
Mạng Pháp, thế kỷ 18,
19, 20 bên Âu Châu. Đây
là thời kỳ vàng son của
trí thức Tây Phương. Họ
tiêu biểu cho những trào
lưu tư tưởng triết lý,
chính trị, văn hóa và
nhất là thẩm quyền đạo
lý (Moral authorities)
của thời kỳ đó.
Những điều này thật
không đúng hoàn toàn.
Chỉ là một loại kết luận
què cụt! Có lẽ ông ảnh
hưởng nhiều về lối giáo
dục của các trường Tây,
cho nên chỉ có thể kết
luận theo kiểu này!
*
Qua một số nhận định của
độc giả Đàn Chim Việt ở
trên, hẳn chúng ta đã
biết thực chất con
người, thực chất trình
độ của ông Nguyễn Văn
Lục ra sao. Sau đây tôi
sẽ đi vào vài điểm trong
bài của ông Nguyễn Văn
Lục để mua vui cùng độc
giả, mua vui thôi chứ
không phải là phê bình
trí thức vì bài của ông
Lục, như trên đã nói,
không thuộc lãnh vực trí
thức. Đây là một bài
chống Cộng rất rẻ tiền,
nhắm vào những người
chống chiến tranh khi
xưa, đặc biệt đả kích
Cao Huy Thuần, có lẽ vì
Cao Huy Thuần là tác giả
của một Luận Án Tiến Sĩ
Quốc Gia ở một đại học
Pháp, một luận án để đời
cho người dân Việt Nam:
Les Missionnaires et
la Politique Coloniale
Francaise au Việt Nam
(bản tiếng Việt : "Giáo
sĩ Thừa Sai và chính
sách thuộc địa của Pháp
tại Việt Nam
(1857-1914)" - Nhà xuất
bản Tôn Giáo, Hà Nội,
2002),
một luận án mà những
người “trí thức Công
Giáo” như Nguyễn Văn Lục
đọc mà không thấy ngượng
mới đúng thật là con
chiên của “Đức Thánh
Cha”.
Trước hết chúng ta
hãy đọc một đoạn đầu của
ông Lục:
Truyền thống tả
phái đã bắt đầu từ cuộc
Cách Mạng Pháp, thế kỷ
18, 19, 20 bên Âu Châu.
Đây là thời kỳ vàng son
của trí thức Tây Phương.
Họ tiêu biểu cho những
trào lưu tư tưởng triết
lý, chính trị, văn hóa
và nhất là thẩm quyền
đạo lý (Moral
authorities) của thời kỳ
đó. [Phần này,
Thiên Lôi ở Thiên Đình
đã phê bình rồi.]
Nhờ cái thẩm
quyền tinh thần đó,
tiếng nói của họ có
trọng lượng. Tiếng nói
được người khác nghe. Vì
thế, họ thường lên
tiếng, chống đối hoặc
phê phán
sự áp đặt
(intimidation)
và bất
công
(préjudices)
của các thế lực chính
quyền đương đại.
Vậy thì tất cả
những ai nhân danh cái
thẩm quyền tinh thần ấy
để cất tiếng nói, để
biết chối từ, đễ biết
nói không, dứt khóat và
kiên cường. Xác tín và
quyết tâm theo đuổi. Kẻ
đó được gọi là những
người trí thức thiên tả.
Định nghĩa “thiên tả”
của ông Lục hơi hẹp vì
cái gọi là “Tả”
[Left] bao gồm nhiều
cánh lắm, thí dụ như,
chủ nghĩa xã hội
(socialism), chủ
trương vô chính phủ
(anarchism),
cộng sản
(communism), dân
chủ xã hội
(social democracy),
chủ nghĩa tự do
của Mỹ
(American liberalism),
chủ nghĩa tiến
bộ
(progressivism),
tự do xã hội
(social liberalism), và
ngay cả thần học
giải phóng
(liberation theology) và
chủ nghĩa xã hội
Ki-Tô
(Christian socialism)
trong Ki-Tô Giáo v..v…
Nhưng khi viết về những
trí thức Việt Nam thiên
tả, có vẻ như ông Lục
hàm ý đó là thiên Cộng
chứ không phải là thiên
tả theo những định nghĩa
của ông ở trên.
Tôi không dám phê
bình khả năng tiếng Pháp
của ông Lục mà có người
gọi là “giáo sư”, nhưng
với cái vốn tiếng Pháp
thuộc loại ăn đong của
tôi thì “intimidation”
không phải là sự áp đặt
mà là sự hăm dọa hay đe
dọa. Còn “imposition”
mới là sự áp đặt. Ngoài
ra, “préjudices” cũng
không phải là bất công
mà có hai nghĩa: thiên
kiến, hay những mối
thiệt hại, tổn hại,
“injustice” mới là bất
công. Nhưng không sao,
người Việt hiểu sai
tiếng Pháp cũng chẳng có
ai cười. “Xác tín và
quyết tâm theo đuổi (dấu
chấm = .)” Câu cụt này
[Nội dung câu trên không
thể dùng làm chủ đề cho
câu này] làm cho Nguyễn
Gia Kiểng chê là người
Việt Nam không biết viết
tiếng Việt, trong số này
lẽ dĩ nhiên có cả Nguyễn
Gia Kiểng. Nhưng cũng
không sao, người Việt
hải ngoại như tôi dễ dãi
lắm, viết sao tôi đọc
cũng được.
Tôi thực sự không
quan tâm đến những tên
tuổi “thiên tả” ngoại
quốc trên thế giới mà
ông Lục nêu lên, chứng
tỏ là mình học rộng hiểu
nhiều, và những triết lý
lẩm cẩm của ông trong
bài. Tôi chỉ quan tâm
đến số trí thức Việt Nam
mà ông Lục xếp vào loại
“thiên tả” hàm ý “thiên
Cộng” và do đó kéo được
một số đồng minh “mèo
khen mèo dài đuôi”, Công
giáo viết Công giáo khen
hay, y như “Vatican có
đánh r…. cũng khen
thơm”, và hè nhau lên
tiếng rủa sả những trí
thức thiên tả hay thiên
Cộng.
Trích dẫn lời vàng
ngọc của Lý Chánh Trung:
“Lực lượng thứ ba
cuối cùng chỉ là một
khát vọng hơn là một
thực lực thực tế. Tổ
chức vỏn vẹn có vài trăm
người. Nhóm người đó mở
ra mọi phía và đón nhận
nhiều ảnh hưởng. Vì thế,
họ không có một ý thức
hệ chính xác nào.”
Ông Lục viết về những
trí thức Việt Nam chống
chiến tranh:
Vì thế, họ có thể
rơi vào tình trạng nói
suông mà không làm được
điều gì đích thực. Lăng
xăng tuyên bố, lăng xăng
có mặt như quân bài múa
rối. Sinh viên phản
chiến hải ngọai nằm
trong cái phạm trù này.
Phạm trù ngụy tín, ngụy
quân tử. Chạy trốn khỏi
miền Nam bằng những lá
bài hợp pháp để chống
chiến tranh. Điều đó
thật là dễ. Nhìn họ mà
thương hại.
Trường hợp những trí
thức tả phái rơi vào ảo
tưởng, đi chệch đường
không phải là thiếu.. ..
Ở Việt Nam là trí thức
theo Mặt Trận Giải Phóng
Miền Nam (MTGPMN).
Nguyễn Văn Lục viết
bậy, không hiểu gì về
phong trào phản chiến và
các sinh viên phản chiến
hải ngoại, mà cũng không
hiểu gì về những nhà trí
thức theo Mặt Trận Giải
Phóng Miền Nam. Tôi tin
rằng, với tư cách của
một trí thức cứ tạm gọi
là lội ngược dòng
đi, tôi có thể giúp ông
Lục thêm vào mớ hiểu
biết của ông một chút
kiến thức về vấn đề phản
chiến. Ông sẽ thấy rằng
người đáng thương hại là
chính ông chứ không phải
là những người chống
chiến tranh.
Thứ nhất, tại sao
nhiều sinh viên Việt Nam
ở hải ngoại lại chống
chiến tranh? Vì họ ở
ngoại quốc, có nhiều
thông tin chính xác về
thực chất cuộc chiến
tranh nhơ bẩn (la sale
guerre) ở Việt Nam,
không bị bịt mắt bịt tai
như những người dân,
trong đó có tôi, ở Việt
Nam. Thực chất cuộc
chiến ở Việt Nam ra
sao. Ngày nay có cả hàng
trăm tài liệu. Ở đây tôi
chỉ cần nhắc đến một tài
liệu trong thời đó: Cuốn
Việt Nam: Sự Khủng
Khoảng của Lương Tri
(Vietnam: Crisis of
Conscience, Association
Press, N.Y., 1967) viết
bởi ba giới chức tôn
giáo: Mục sư Tin Lành
Robert McAfee Brown,
Giáo sư Tôn Giáo Học,
đại học Stanford; Linh
mục Michael Novak, Giáo
sư về Nhân Bản Học, đại
học Stanford; và Tu sĩ
Do Thái Abraham J.
Heschel, giáo sư về đạo
đức và huyền nhiệm Do
Thái tại trường Thần Học
Do Thái ở Mỹ. Cuốn sách
mở đầu bằng câu:
Những trang sách
sau đây xuất sinh từ sự
cùng quan tâm của chúng
tôi rằng: quốc gia của
chúng ta (Mỹ) bị lôi
cuốn vào cuộc xung đột ở
Việt Nam mà chúng tôi
thấy không thể nào biện minh
được
trong ánh sáng thông
điệp của các nhà tiên
tri hay của Phúc Âm của
Giê-su ở Nazareth.
(The pages that
follow grow out of our
shared concern that our
nation is embroiled in a
conflict in Vietnam
which we find it
impossible to justify,
in the light of either
the message of the
prophets or the gospel
of Jesus of Nazareth.)
Trong cuốn sách này,
Mục sư Tin Lành Robert
McAffee Brown viết, p.
67:
Ngay cả quyền
hiện diện của chúng ta ở
đó (Việt Nam) cũng bị
chất vấn,
trong ánh sáng của
luật quốc tế,
bởi những người có địa
vị cao trong chính phủ
của chúng ta, trong đó
có các Thượng Nghị Sĩ
Morse, Church, Gore, và
Gruening. Nhưng ngay cả
khi có quyền rõ rệt,
bản
chất những gì chúng ta
đang làm ở Việt Nam cũng
càng ngày càng phải lên
án.
(Our very right to be
there is questioned, in
the light of
international law, by
men highly placed in our
government, among them
Senators Morse, Church,
Gore, and Gruening. But
even if there is a
clearcut “right”, the
nature of what we are
doing in Vietnam must be
increasingly condemned.)
Như vậy, những sinh
viên phản chiến hải
ngoại chống chiến tranh
là vì những xác tín của
họ về cuộc chiến chứ
không phải là họ ở trong
“phạm trù ngụy tín, ngụy
quân tử”. Chỉ có những
kẻ cuồng tín mới là ngụy
tín, ngụy tín vì một ảo
tưởng, tin vào những
chuyện hoang đường không
thể tin được mà khoa học
ngày nay cũng như thực
tế đã chứng tỏ rất rõ
ràng, và những kẻ “hiếu
chiến” một cách vô ý
thức, ủng hộ chiến
tranh, mới lên án những
người chống chiến tranh,
chủ trương hòa bình để
tiết kiệm xương máu
người dân, là "phản
chiến" . Ngày nay, tài
liệu về thực chất cuộc
chiến ở Việt Nam không
thiếu, vậy mà ông Nguyễn
Văn Lục vẫn còn dùng đến
hai từ “phản chiến” coi
đó như là vì ngụy tín,
vì rơi vào một ảo tưởng
trí thức nên đi chệch
đường v..v.. thì tôi
không hiểu là trình độ
trí thức của ông Lục ở
mức nào? Chẳng trách là
Độc hành Cầu Bại ở
Belgium đã viết ở trên
là ông Lục chống Cộng
quá ấu trĩ đi mà không
biết ngượng. Nhưng mà ai
là những kẻ ngụy tín, đi
chệch đường vì ảo tưởng
trí thức?? Đây này, tôi
cho ông Lục biết:
Đó là giáo hoàng Paul
VI, người đã tuyên bố ở
giữa hội trường Liên
Hiệp Quốc: Hãy ngưng
ngay cuộc chiến (ở
Việt Nam). Đừng có
chiến tranh nữa, không
bao giờ có chiến tranh
nữa (Stop the
war. No more war, never
again war)
Đó cũng là Tổng Thư
Ký Liên Hiệp Quốc U
Thant, sau khi quan sát
tình hình, đã tuyên bố:
Cuộc chiến chênh
lệch giữa kỹ thuật Hoa
Kỳ và một nước nhỏ kém
mở mang (VN) là
một trong những cuộc
chiến "man rợ nhất" của
lịch sử. (The
Secretary of the United
Nations, U Thant, was
driven by his
observations to call
this mismatch between
the United States and a
small underdeveloped
nation one of the "most
barbarous" wars in
history)
Đó cũng là 2700 mục
sư Tin Lành, linh mục
Công giáo, mục sư Do
Thái (Rabbi) đã ký tên
dưới một bức thư
gửi Tổng Thống Johnson,
đăng trên tờ The New
York Times ngày 4
tháng 4 năm 1965 kêu
gọi: "Nhân danh
Thiên Chúa, Hãy ngưng
ngay chiến tranh"
(In the Name of God,
STOP IT).
Đó cũng là 65 giáo sư
đại học Saigon, ngày 16
tháng 1, 1968, với bản
tuyên ngôn kêu gọi "Các phe hiếu chiến hãy
kéo dài vô thời hạn cuộc
ngưng chiến vào dịp Tết
và đàm phán với nhau
ngay để có một dàn xếp
hòa bình." (We
appeal to all the
belligerent parties to
extend indefinitely the
Tet cease fire and to
negotiate immediately a
peaceful settlement).
Và còn những bậc trí
thức vang danh thế giới
như Bertrand Russell,
Jean Paul Sartre, Martin
Luther King, hàng trăm
giáo sư đại học trên
khắp thế giới, hai anh
em cùng là linh mục Công
giáo Daniel và Philip
Berrigan, chưa kể đến
hàng trăm ngàn sinh viên
đại học Mỹ đã thường
xuyên xuống đường "phản
chiến". Vậy "phản chiến"
thì sao? Làm sao mà một
số sinh viên hải ngoại
không phản chiến, một
khi họ đã biết rõ thực
chất cuộc chiến nhơ bẩn
trên đất nước của họ, và
trước phong trào phản
chiến rầm rộ khắp nơi
trên thế giới?
Không kể là những
ngày chiến tranh đó, mà
sau 30 năm
người Pháp vẫn gọi đó là
một cuộc “chiến tranh nhơ bẩn”
(La Sale Guerre) [Xin
đọc bài Người Mỹ ở Việt Nam: Bộ
Máy Nghiền Thịt (Les
Américains au Vietnam:
l’Engrenage) của Jacques
Dallos, Thạc Sĩ Sử Học,
Tiến Sĩ Sử Học, và bài
Chiều Sâu
của “Cuộc Chiến Nhơ Bẩn”
(Au Coeur de la “Sale
Guerre”) của André
Kaspi, Giáo Sư Đại Học
Paris-Panthéon-Sorbonne
trong tập “Les Collections de
L’Histoire”
(tạm dịch là Những Bộ
Sử), số 23, Avril-Juin
2004, xuất bản tại
Paris]. Cho nên chúng ta
cần phải cám ơn những
người “phản chiến” đã
can đảm, không sợ nguy
hại đến bản thân, tích
cực góp phần trong công
cuộc thức tỉnh lương tâm
nhân loại và người dân
Mỹ để cuộc chiến phải đi
đến kết thúc.
Do đó, lên án họ là
“ngụy tín, ngụy quân tử”
hay vì ảo tưởng trí thức
mà đi chệch đường là
viết bậy. Có lẽ ông Lục
cho rằng mình viết hay
lắm vì có một đám người
có đầu mà không có óc
khen hay, nhưng ai muốn
nói sao thì cứ nói, ai
muốn khen thì cứ việc
khen, viết bậy là viết
bậy, có phải như vậy
không?
Thứ nhì, những trí
thức đi theo Mặt Trận
Giải Phóng Miền Nam là
vì chính quyền Ngô Đình
Diệm là một chính quyền
độc tài, gia đình trị,
tôn giáo trị, vi phạm
hiệp định Genève, dùng
chiêu bài chống Cộng để
tiêu diệt những người
kháng chiến yêu nước cũ,
để diệt các tôn giáo
khác trong âm mưu công
giáo hóa miền Nam, bức
hại dân lành, cưỡng bách
người ngoại đạo theo
đạo, dung dưỡng các giám
mục, linh mục công giáo
làm bậy, hống hách như
các lãnh chúa, cướp đất
của dân, đầu độc đầu óc
giới trẻ bằng những điều
mê tín, đàn áp trí thức
đối lập, độc quyền thông
tin v..v.. và
v..v.. Chẳng phải là họ
đi chệch đường mà là đối
diện với thực tế của một
chính quyền quan liêu,
lạc hậu, thiên vị, họ đã
có một chọn lựa, một
thái độ trí thức. Chính
quyền Ngô Đình Diệm đã
đẩy họ vào tay Mặt Trận
Giải Phóng Miền Nam. Họ
là những người can đảm,
có bằng cấp, địa vị,
nhưng đã dám bỏ đời sống
đầy đủ nơi thành thị để
sống một cuộc sống đầy
thiếu thốn và nguy hiểm
ở hậu phương.
Nhưng ông Lục không
nghĩ thế, vì vậy ông
phán những câu thuộc
loại Chống Cộng Chết Bỏ
(CCCB) hay Chống Cộng
Cho Chúa (CCCC):
Nói họ là những trí
thức con hoang là để nói
đến những thành phần
không dám dấn thân nhập
cuộc [Bỏ tỉnh thành
đi vào bưng là không dám
dấn thân nhập cuộc??].
Trí thì chưa chắc đã
đủ [Trí của ông Lục
ở cỡ nào?? Có thể đánh
giá được trí của họ hay
sao??] lòng thì còn
ham muốn đủ thứ
[ham muốn đủ thứ ở trong
bưng??], can đảm thì
nhát nhúa [những kẻ
nhờ Cha trốn lính là can
đảm??], chân trong
chân ngoài. Thích đứng
ngoài để nói, để phê
phán, để hô hào.
[Xuống đường để bị đàn
áp, ăn lựu đạn cay là
đứng ngoài??]
Giữa một kẻ trong
cuộc và kẻ đứng ngoài.
Kẻ đứng ngoài không giá
trị hơn một đồng xu.
Cùng lắm, họ sống bằng
một cái Myth do chính họ
tạo ra. [Nhưng thế
nào là trong cuộc?? Là
“nhân dân Việt Nam nhớ
ơn Ngô Tổng Thống, Ngô
Tổng Thống muôn năm??
Hay là chấp nhận một xã
hội “nhất đĩ nhì
Cha”? Hay là chấp nhận
nửa triệu quân ngoại
quốc trên đất nước?? Hay
là chấp nhận các vùng
“oanh kích tự do”, ấp
chiến lược, thuốc khai
quang, chiến dịch Phụng
Hoàng v..v..và
v..v..??]
Tiếp đến, ông Nguyễn
Văn Lục dựa vào trình độ
tự cho là trí thức của
mình để đánh giá những
trí thức thiên tả hải
ngoại.
Thật ra chữ dùng này
[Trí thức thiên tả hải
ngoại] để chỉ những
người trí thức hải ngoại
thiên tả là không đúng,
là không chỉnh. Nó chỉ
thích hợp ở thời điểm
trước 1975, khi những
người này nghiêng về
phía Hà nội, lên án
chiến tranh Mỹ Thiệu hay
VNCH. Vì thế, đúng ra
chữ dùng này phải tiêu
ma ngay khi mà miền Nam
không còn nữa. Bởi vì,
bây giờ mà tả thì tả với
ai? Tả cái gì? Chỉ có
một con đường là tả với
Hà Nội? Chữ dùng đúng
nhất là sinh viên phản
chiến. Họ chưa đủ tầm
vóc để được gọi là trí
thức thiên tả theo nghĩa
đã được trình bày ở phần
một của bài này.
Chẳng phải chỉ là sinh
viên mà có nhiều người
đã tốt nghiệp từ những
đại học lớn ở Pháp, Đức
v..v.. mà vẫn tiếp tục
“phản chiến”. Theo như
ông Lục thì chúng ta
phải gọi Paul VI là “giáo
hoàng phản chiến”,
U Thant là “Tổng Thư
Ký Liên Hiệp Quốc phản
chiến”, 2700 mục sư
Tin Lành, linh mục Công
giáo, mục sư Do Thái là
những “thầy tu phản
chiến”, 65 giáo sư
đại học Saigon là các
“giáo sư phản chiến”
v..v.., không có một
người nào có đủ tầm vóc
để được gọi là trí
thức? Chỉ có ông Lục
không phản chiến nên
đáng được gọi là trí
thức, trí thức nhưng
hình như thiếu một chữ
“dỏm” hay hai chữ “gia
nô”. Nhưng có một người
mà cả thế giới đều công
nhận là một bậc trí thức
với 2 giải Nobel: đó là
Bertrand Russell, mà
Bertrand Russell lại là
người phản chiến nặng ký
nhất trong những người
phản chiến, và hơn thế
nữa, thân Cộng nhất
trong những người thân
Cộng. Không những thế,
Bertrand Russell còn
thiết lập một Tòa Án
Quốc Tế để xét xử Mỹ
trong cuộc “chiến tranh
nhơ bẩn” ở Việt Nam.
(xem tiếp
)
Các bài đối thoại cùng tác giả