 |
19 tháng 10, 2007
|

Vừa viết xong bài sửa lưng ông anh Nguyễn Văn Trung về cái tội viết bậy
về lịch sử và Phật Giáo, chưa kịp nghỉ xả hơi, thì lại đọc phải bài “Hồ
Sơ Báo “Công Giáo Và Dân Tộc” (I)” của ông em Nguyễn Văn Lục trên Đàn
Chim Việt, rồi sau đó được đưa lên “Tiếng Nói Giáo Dân”. Đàn Chim Việt có
vẻ như là một diễn đàn điện tử có nhiều người đọc và góp ý kiến, nhưng thành
phần, trình độ tác giả và độc giả ra sao thì thật là “bất khả thuyết”.
“Tiếng Nói Giáo Dân” là trang nhà Công Giáo chuyên nghề “Chống Chộng Cho
Chúa”, vẫn tiếp tục đăng hình ông Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng để khích động
giáo dân, chứ quần chúng thì đã biết rõ về những thái độ hung hăng côn đồ và
những lời lẽ ít giáo dục của ông “Linh mục” Lý trước Tòa, nhân danh tự do,
dân chủ, nhân quyền v…v…, những thứ không hề có trong cấu trúc quyền lực của
Vatican. Chẳng biết vì sao mà hai anh em ông Trung, Lục đầu óc trở thành
kém minh mẫn, nếu đã từng minh mẫn, vì vậy nhiều khi viết mà chẳng hiểu mình
viết cái gì. Hầu như tất cả những người nghiện đạo nặng đều như vậy cả, vì
theo Mục sư Ernie Bringas thì họ đều có một khuyết tật trong đầu óc, nói rõ
hơn là một điểm mù tôn giáo (A religious blind spot).
Thực ra sau bài “Một Trí Thức Không Biết Ngượng”, tôi chẳng
muốn để ý gì đến ông Nguyễn Văn Lục nữa. Nhưng đầu đề bài “Hồ Sơ Báo
“Công Giáo Và Dân Tộc” của Nguyễn Văn Lục đã làm cho tôi tò mò muốn
biết ông Lục nghĩ thế nào về “Công Giáo” và “Dân Tộc”, vì tôi rất quan tâm
đến “Công Giáo” và “Dân Tộc”. Đọc xong tôi biết là tôi đã nghĩ lầm, vì ông
Lục không viết về “Công Giáo” và “Dân Tộc” mà viết để tố khổ báo “Công Giáo
Và Dân Tộc” của một số đồng đạo mà ông cho là thiên Cộng thay vì phải thiên
“đức thánh cha”.. Tuy nghĩ lầm nhưng thấy ông Lục viết quá tệ nên tôi, một
người ngoại đạo, bất đắc dĩ lại phải lên tiếng phê bình, vì trong bài viết
của ông Lục có những điểm cần phải soi sáng, không nên để cho độc giả bị
đánh hỏa mù và như một số độc giả đã lên tiếng khen nhắng lên là ông Lục
viết hay, và chống Cộng rất khá, trong khi thực sự thì ông Lục viết rất dở,
và chống Cộng với một đầu óc thiếu oxy trong đó. Chứng minh?.
Mở đầu, ông Lục viết:
Linh Mục Chân Tín từ trong nước đã gửi một thư phản đối Hiệp Hội
Báo Chí Thiên Chúa Giáo Thế Giới (International Catholic Union of the Press,
UCIP) đã tặng huy chương vàng cho báo “Công Giáo và Dân Tộc” và được anh
Nguyễn Hữu Tấn Đức phổ biến ra hải ngoại.
Sự tò mò của tôi là tìm hiểu xem Tây nó biết gì về báo chí Việt
Nam. Họ có biết đọc chữ Việt đâu để đánh giá được một tờ báo.
Hãy bỏ qua Linh mục Chân Tín lấy tư cách gì mà phản đối quyết
định của Hiệp Hội Báo Chí Thiên Chúa Giáo Thế Giới, nhưng tôi
không thể tưởng tượng là ông Nguyễn Văn Lục, cứ tạm cho là một trí thức Công
Giáo đi, lại có thể viết lên một câu buồn cười và ngớ ngẩn như vậy. Để tôi
hỏi lại ông Lục một câu nhé: Thế có bao giờ ông tò mò tìm hiểu xem Giáo
Hoàng người Ba Lan John Paul II nó biết gì về Việt Nam, có biết đọc chữ Việt
đâu, và có biết gì về 117 tội đồ của nước Việt Nam thời xa xưa không mà lại
đánh giá và phong thánh cho họ? Trả lời được câu hỏi này là ông đã trả
lời được sự tò mò của ông về Hiệp Hội Báo Chí Thiên Chúa Giáo Thế Giới
xem Tây nó biết gì về báo chí Việt Nam.. Hơn nữa, việc phong thánh
là vấn đề dính tới lịch sử và chủ quyền của Việt Nam thực sự chứ chẳng
phải là chuyện tào lao thông thường của Tòa Thánh [sic] Vatican. Bởi vậy,
Hồng Y Silvio Oddi đã phải lên tiếng chê trách Vatican chẳng qua chỉ là một
cái “Xưởng chế tạo Thánh” (A Saint Factory). Còn nhớ, Vatican dự định phong
thánh cho hai tội đồ đầy tội lỗi của Trung Quốc, Trung Quốc phản đối và
Vatican phải lên tiếng chính thức xin lỗi. Tại sao Vatican không xin lỗi
Việt Nam về vụ phong thánh cũng như về sự truyền đạo bậy bạ vào Việt Nam của
Alexandre de Rhodes, Béhaine, Gauthier, Puginier v..v…? Vì Việt Nam là một
nước nhỏ trong đó có tới 7% giáo dân tuyệt đối tuân lệnh Vatican, không như
Trung Quốc, một nước lớn, và chỉ có nhiều nhất là 2 phần ngàn giáo dân và
không được phép làm nô lệ chính thức của Vatican, chỉ có thể làm nô lệ chui
mà thôi..
Mục đích của ông Lục viết bài này là để tố khổ “Tứ nhân bang” [tiếng
Việt gọi là “Chúng nó 4 thằng” và tiếng Mỹ là “Gang of Four”] thân Cộng của
Thiên Chúa Giáo Việt Nam: Trương Bá Cần (Anagram của Trần Bá Cường), Vương
Đình Bích, Phan Khắc Từ, và Huỳnh Công Minh, làm như thân Cộng là một cái
tội đối với Chúa, thực ra là tội đối với Vatican theo tâm cảnh của những nô
lệ tâm linh, còn thân và tuyệt đối tuân phục ngoại bang Vatican thì không
phải là cái tội đối với Việt Nam. Nhưng chuyện nội bộ Công Giáo của các ông
tôi chẳng muốn dính vào, tôi chỉ muốn phê bình những điều bất cập về kiến
thức và thủ đoạn lắt léo trong bài của ông Lục thôi.
Tôi có cảm tưởng là ông Nguyễn Văn Lục không có mấy sự lương thiện trí
thức, cố tình lắt léo bẻ queo vấn đề, dù sao thì cũng không xứng đáng là một
bậc trí thức, có gọi là trí thức thì cũng chỉ là trí thức dỏm. Chứng
minh?
Ông Lục viết:
Chúng tôi xin trích dẫn ở đây lá thư của cấp lãnh đạo Cộng sản ở
Quảng Ngãi viết cho một Linh mục để lôi kéo theo Cộng sản, trong đó nêu tên
Nguyễn Đình Thi như một mẫu người đi theo họ.
Trong cuộc chiến này đã có nhiều Linh mục như Linh mục Nguyễn Đình Thi
v.v... và những người Thiên Chúa Giáo yêu hòa bình đã thấy rõ bọn Mỹ
Thiệu, đã hưởng ứng và góp phần vào nhiệm vụ chống Mỹ cứu nước. Bọn đế quốc
và một số tay sai phản động đội lốt tôn giáo tuyên truyền nói xấu
cách mạng, nói cách mạng là diệt đạo, thực tế điều này đã chứng minh qua lời
phát biểu của Linh mục Nguyễn Đình Thi, đại diện cho những người Thiên Chúa
Giáo yêu nước đã họp tại Pháp... Ký tên Hoàng Nguyên, thư đề ngày
15/05/1972.
Và ông Nguyễn Văn Lục đã phán một câu: “Ngoài Nguyễn Đình
Thi thì tất cả người Thiên Chúa Giáo trongNam chắc là tay sai phản động đội
lốt tôn giáo cả.”
Ơ hay nhỉ,
người ta đã viết rõ là có nhiều Linh mục như Linh mục Nguyễn Đình Thi
v.v... [nghĩa là ngoài Linh mục Nguyễn Đình Thi còn có nhiều
Linh mục khác như Nguyễn Đình Thi] và một số tay sai phản động đội lốt
tôn giáo [nghĩa là chỉ có một số tay sai phản động đội lốt tôn giáo]
nhưng ông Lục lại bẻ queo vấn đề và nói móc một câu có ý chụp mũ:
Ngoài Nguyễn Đình Thi thì tất cả người Thiên Chúa Giáo trong
Nam chắc là tay sai phản động đội lốt tôn giáo cả. Rõ ràng đây là
thủ đoạn xuyên tạc lắt léo cố hữu của ông Lục. Sự lương thiện trí thức ông
để đâu vậy. Rất có thể trong người ông có một loại “gen” đặc biệt của đa số
trí thức Ca-Tô Giáo, mà một khoa học gia đã gọi là “God’s gen”, tuy rằng
chẳng có ai thực sự biết God là cái gì, khoan nói đến chuyện “God’s gen”..
Thật là tội nghiệp. Các ông quên rằng thời đại này là 2007, và các ông viết
trên những diễn đàn thông tin điện tử có rất nhiều người đọc, và không phải
là cứ chống Cộng là muốn viết gì thì viết, ai cũng phải cúi đầu tán thưởng,
khâm phục. Lớp trẻ ngày nay, và lớp già như tôi, không phải là giáo dân,
không ngu và không có một điểm mù tôn giáo trong đầu như ông tưởng đâu.
Chúng ta hãy đọc tiếp ông Lục:
Từ lúc tờ báo [Công Giáo và Dân Tộc] mới xuất hiện tháng 7
năm 1975, dân Thiên Chúa Giáo đã gián tiếp tẩy chay. Chỉ thấy cái nhan đề
tờ báo có cái mùi khó ngửi và có cái gì gian trá trong đó. Dân tộc ở chỗ
nào? Công Giáo và Cộng sản thì đúng hơn.
Ít ra, viết lên câu này, ông Lục đáng được thưởng huy chương vàng về
viết mà không nghĩ rằng mình đã thực sự viết cái gì. Thật vậy, cái câu:
Chỉ thấy cái nhan đề tờ báo [Công Giáo và Dân Tộc] có cái mùi khó
ngửi và có cái gì gian trá trong đó. Dân tộc ở chỗ nào?, mục đích là
để phê bình tờ báo “Công Giáo và Dân Tộc”, nhưng thực ra lại mô tả
rất chính xác bản chất của Công Giáo. Chứng minh?
Đúng vậy, “Công Giáo Việt Nam” mà đi kèm với “Dân Tộc Việt
Nam” thì bao giờ cũng có cái mùi khó ngửi và có cái gì gian trá trong
đó. Tại sao? Vì bản chất của Công Giáo là phi Dân Tộc. Điều
này đã được chứng minh trong lịch sử thế giới nói chung, Việt Nam nói
riêng. Cũng vì vậy mà ở Việt Nam, Linh mục Trần Lục đã dẫn 5000 giáo dân đi
tiếp tay với thực dân Pháp, nước mang đạo Thiên Chúa đến Việt Nam, để hạ
chiến khu kháng chiến Ba Đình; Linh mục Hoàng Quỳnh đã dẫn giáo dân vác gậy
gộc làm loạn ở đường phố Saigon và hô lớn: “Thà mất nước không thà mất
Chúa”. Và chắc ông Lục cũng còn nhớ, nếu đã đọc, nhà trí thức Công Giáo
Lý Chánh Trung đã viết trong cuốn Tôn Giáo Và Dân Tộc, trang 61:
Chịu phép rửa tội [mọi tín đồ Công Giáo Việt Nam chắc
chắn là đã chịu phép rửa tội] không chỉ là được “tái sinh” [nghĩa là
cái thân xác sinh ra bởi bố mẹ coi như đã chết rồi nếu chưa rửa tội],
trở thành một con người mới theo nghĩa đạo đức cá nhân [đạo đức của một
số không nhỏ “đức Thánh Cha” trong lịch sử Công Giáo, giết nhau như ngóe,
loạn luân thả dàn v..v.., hay như hàng ngàn Linh mục cưỡng bức tình dục con
nít và nữ tín đồ], mà còn là gia nhập một dân tộc, mang một quốc tịch
mới, trở thành công dân của “đô thị Thiên Chúa” theo lời thánh Augustin.
Cái mùi khó ngửi chính là ở chỗ này. Từ bỏ thân xác cũ do bố
mẹ sinh ra để tái sinh trong phép rửa tội của người Do Thái, và trở thành
công dân của một dân tộc khác, mang một quốc tịch mới, lẽ dĩ nhiên là phải
trung thành với “đô thị Thiên Chúa” của mình, nhưng kỳ lạ thay, không về “đô
thị Thiên Chúa” mà sống, mà lại vẫn cứ sống trên đất nước Việt Nam, hưởng
những tiện ích của Việt Nam, ăn cơm gạo của Việt Nam v...v… Đó chính là
“ăn cơm quốc gia, thờ ma Thiên Chúa”. Ma Thiên Chúa ở đây nên
hiểu là Holy Ghost trong “tam vị nhất thể” của Công Giáo La Mã. Mặt khác
“Đô Thị Thiên Chúa” (The City of God) của Augustine được viết trong thế kỷ
thứ 5, ngày nay đã trở thành lạc hậu, vô nghĩa trong nền học thuật hiện đại
về Ki Tô Giáo và God, nhưng vẫn còn hấp dẫn đối với số người có đầu mà không
có óc, mơ tưởng một Jerusalem mới (New Jerusalem) ở đó Thiên Chúa ngự trị và
ban cho thần dân tràn đầy sữa và mật, hoặc mơ tưởng một thiên đàng không có
ở trên các tầng mây như Giáo Hoàng John Paul II đã khẳng định..
Giáo sư Sử học Nguyễn Mạnh Quang cũng đã vạch ra bản chất phi dân tộc
của Công Giáo trong cuốn Thực Chất Của Giáo Hội La Mã, Quyển I, trong một
đoạn như sau, trang 54:
…Tất cả người Việt mang quốc tịch Vatican (theo đạo Gia Tô)
ngay từ trong trứng nước đã được nhồi sọ ghi tâm khắc cốt giáo điều
“Đức Giáo Hoàng (tức là hoàng đế của đế quốc Vatican) ở La Mã
(Rome) mới là vua tối cao duy nhất của họ, họ chỉ tuân phục quyền lực của
Tòa Thánh (chính quyền của đế quốc) Vatican” [Nguyễn Xuân Thọ,
Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp Ở Việt Nam (1858-1897)].
Bởi thế cho nên chúng ta không ngạc nhiên khi thấy ông Linh mục Hoàng
Quỳnh hô hào giáo dân “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” để chiến
đấu cho quyền lợi của đế quốc Vatican cho đến hơi thở cuối cùng, và Linh mục
Trịnh Văn Phát đã thành thực nói cho chúng ta biết rằng: “Giúp quê hương
không phải là bổn phận trực tiếp của tôi, tôi không có tự do chọn lựa, tôi
được huấn luyện là để phục vụ cho nhu cầu của Giáo hội. [Trịnh Văn
Phát, Cảm Nghĩ Một Chuyến Đi]
Sự thật lịch sử cũng cho chúng ta thấy rằng tất cả các ông Trần
Lục, Trần Bá Lộc, Huyện Sĩ, Lê Hoan, Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký, Cố
Ân, Linh mục Mai Ngọc Khuê, Linh mục Nguyễn Lạc Hóa, Linh mục Trần Đình Vận,
Giám mục Phạm Ngọc Chi, Hồ Ngọc Cẩn, Ngô Đình Khả, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình
Nhu, Ngô Đình Cẩn, và tất cả những người Việt Nam mang quốc tịch Vatican suy
tôn ông Ngô Đình Diệm lên hàng chí sĩ yêu nước (Vatican) đều là những
người làm việc để phục vụ cho quyền lợi tối thượng của đế quốc Vatican đúng
như họ đã được dạy dỗ từ khi mới chào đời hay khi mới nhập tịch Vatican.
Do đó, mỗi khi chúng ta thấy Công Giáo nói gì về “Công Giáo và Dân
Tộc” thì bao giờ cũng ngửi thấy cái mùi gian trá trong đó, chừng nào mà Công
Giáo Việt Nam chưa thoát khỏi cái vòng kim cô của Vatican đội lên đầu. Nếu
đã không có cái gì có thể gọi là “Công Giáo và Dân Tộc” [trừ phi dân tộc đây
là dân tộc của vatican] thì cũng chẳng có cái gi có thể gọi là “Công Giáo và
Cộng Sản” như ông Lục viết. Đọc Tôn Giáo và Dân Tộc của Lý Chánh
Trung, chúng ta thấy tác giả đã bị nhồi sọ khá kỹ về những giáo điều mà ngày
nay giới học giả cho là bịp bợm của Công Giáo. Tác giả đã tận dụng cuốn
Dương Từ Hà Mậu của Nguyễn Đình Chiểu, đã được lược bỏ những đoạn nói
về Thiên Chúa Giáo, chỉ giữ lại phần đả phá Phật Giáo để dạy sinh viên
trong Đại Học Văn Khoa của Việt Nam Cộng Hòa, nhưng phân tích của tác giả về
Nguyễn Đình Chiểu hoàn toàn sai lạc, vì chính Nguyễn Đình Chiểu cũng nhìn
Phật Giáo hoàn toàn sai lạc. Theo Lý Chánh Trung, Nguyễn Đình Chiểu, trong
thời đại đó, không chấp nhận tôn giáo xuất thế và chỉ trích Phật Giáo.
Nhưng Nguyễn Đình Chiểu không biết đến lịch sử chống ngoại xâm của Phật Giáo
trong các thời đại Lý Trần và căn bản của Phật Giáo là “Phật Pháp bất ly thế
gian pháp”, và trong thời Pháp thuộc, những phong trào kháng chiến như Văn
Thân, Cần Vương v..v.. hầu hết cũng là giới Phật Giáo. Chỉ có Công Giáo
là đứng ngoài lề những cuộc tranh đấu này, vì còn bận làm tay sai phục vụ
cho Pháp. Và trong phần trích dẫn của Lý Chánh Trung ở trên, chúng ta
thấy rõ: công dân của “đô thị Thiên Chúa” thì bất khả tương hợp
(incompatible) với “công dân của nước Việt Nam.” Nhưng bài này không
phải là để phê bình Lý Chánh Trung.
Chúng ta hãy đọc tiếp ông Nguyễn Văn Lục tố đồng đạo:
Trước khi đề cập đến tứ nhân bang, chúng tôi cũng xin nêu ra một
trường hợp khá đặc biệt là ông Nguyễn Nghị, trong Ủy Ban Đoàn Kết Thiên Chúa
Giáo. Ông này có viết một tập sách mỏng vào năm 1992, dầy độ 20 trang có tựa
đề là Lịch Sử Đạo Công Giáo tại VN. Tài liệu này nịnh đảng rồi
bôi xấu đạo Thiên Chúa đến độ ông Lý Chánh Trung, đại biểu quốc hội,
là người được giao cho duyệt đã tức điên lên và phê: “Nên thêm vào tên
sách Lịch Sử Những Tội Lỗi Của Đạo Công Giáo”. Ông Lý Chánh Trung ghi
tiếp:
“Bài này là một tài liệu chính trị chứ không phải một bài nghiên cứu sử
học, nếu viết để đăng trên một tờ báo chính trị thì là quyền của tác giả và
của tờ báo. Nhưng không được công bố như một cuốn sách về lịch sử VN,
như vậy là tội cho lịch sử, cho Giáo Hội Công Giáo và cho cả nước
VN.”
Ông Lý Chánh Trung đã phê bình bậy, nhưng ông Lục không biết là bậy,
nên đã mang câu này ra mà trích dẫn. Thứ nhất, ông Nguyễn Nghị viết về
Lịch Sử Đạo Công Giáo tại VN chứ không phải là viết về lịch sử Việt Nam,
cho nên chẳng làm gì có chuyện “tội cho lịch sử” hay “tội cho cả nước Việt
Nam” mà ông Lý Chánh Trung cấm không được công bố như một cuốn sách về Lịch
sử Việt Nam.. 20 trang sách không thể viết về lịch sử Việt Nam. Ông
Lý Chánh Trung viết như trên làm như Lịch Sử Đạo Công Giáo tại VN
chính là lịch sử Việt Nam. Thứ nhì, ông Lục không cho độc giả biết là ông
Nguyễn Nghị đã bôi xấu đạo Thiên Chúa như thế nào, có thật là bôi xấu
hay không hay đó chỉ là những sự thật về đạo Thiên Chúa. Tôi không có tập
sách của ông Nguyễn Nghị nên không biết ông ta viết những gì, nhưng tôi biết
chắc là chỉ có 20 trang thì ông ta đã viết thiếu sót rất nhiều về cái đạo
Thiên Chúa của ông Lục. Phần thiếu sót này đã được ông Lý Chánh Trung
đề nghị là phải “Nên thêm vào tên sách Lịch Sử Những Tội Lỗi Của
Đạo Công Giáo” [Ý của ông Lý Chánh Trung ở đây là phê bình châm biếm,
cho rằng ông Nghị đã viết bịa để bôi xấu Công Giáo, chứ Đạo Công Giáo của
ông Lý Chánh Trung đẹp lắm, đâu có xấu xa gì, ở Việt Nam cũng như trên thế
giới]. Nhưng vấn đề đặt ra là Công Giáo có những tội lỗi, tội
ác đúng hơn là tội lỗi, ở trên thế giới và ở Việt Nam, hay không. Câu trả
lời ngắn là: Ngày 12 tháng 3 năm 2000, tại “thánh đường” Phê-rô ở
Vatican, Giáo hoàng John Paul II cùng với 5 hồng y và 2 tổng giám mục, trong
đó có Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận khi chưa lên chức Hồng Y, đã phải công
khai xưng thú cùng thế giới “7 núi tội ác của Công Giáo” đối với
nhân loại. Ông Lý Chánh Trung không biết đến điều này thì đã đành, vì
việc Vatican xưng thú 7 núi tội ác đối với nhân loại chưa xảy ra, nhưng
chẳng lẽ một bậc trí thức Công Giáo như Nguyễn Văn Lục cũng lại không biết
đến điều này, dù thông tin về vụ này đã loan truyền khắp thế giới? Như vậy,
nếu có trách ông Nguyễn Nghị thì nên trách ông ta là viết thiếu, thiếu rất
nhiều, chứ không phải là viết sai để “bôi xấu đạo Thiên Chúa”. Nếu muốn
thực sư bôi xấu Công Giáo, nghĩa là viết ra những sự thực về Công Giáo, thì
tôi nghĩ ông Nghị phải viết một cuốn sách ít ra là 2000 trang chứ không phải
chỉ có 20 trang. Tôi có hỏi Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang là cần bao nhiêu trang
để viết ra những sự thực về Công Giáo. Giáo sư trả lời: Ít ra là 4000 (4
ngàn) trang. Có lẽ chỉ có Giáo sư Quang mới đủ sức viết như vậy.
Sau đây là một đoạn của ông Nguyễn Văn Lục mang cái đầu óc nghiện đạo
nặng của mình ra để phê bình mấy con chiên Việt Nam lạc đàn Vatican, thật ra
là trở về với đàn của tổ tiên, ông bà của chính mình:
Trong cái đám trí thức đó, còn lại tứ nhân bang, đã làm mưa, làm gió
trong suốt 26 năm, trong và ngoài, nhất là trong nội bộ Thiên Chúa Giáo trên
một số quyết định cũng như thư chung của Tổng Giám mục Bình. Có thể nói một
phần dè dặt, Tổng Giám mục Bình đã bị vây quanh khi họ nắm chức vụ trong Ủy
Ban Đoàn Kết Thiên Chúa Giáo và trong tờ Công Giáo và Dân Tộc.
Nay xin được có đôi hàng về họ. Xin kể tên bốn người này: Trần Bá
Cường, Vương Đình Bích, Phan Khắc Từ và Huỳnh Công Minh. Chúng tôi xin dùng
lối tiếp cận họ với những đàn anh của họ theo Cộng Sản thời điểm 1945-1954,
mặc dù hoàn cảnh xã hội chính trị có khác nhau, nhưng cách dấn thân của mỗi
bên là điểm then chốt để phân biệt họ ai lý tưởng, ai gian dối.
Lấy ba người là ông Phạm Xuân Kỷ, Phạm Bá Trực, ông Võ Thành Trinh. Có muốn
lấy thêm cũng khó có hơn. Họ theo từ đầu, theo Cộng sản từ khi trước 1945,
lúc tương lai Cộng Sản còn mờ mịt, lúc phải hy sinh tất cả, ngay cả cái mạng
sống của mình. Theo thời đó đồng nghĩa với từ bỏ đạo, không phải từ bỏ mà
bị loại trừ ra khỏi hàng ngũ người Thiên Chúa Giáo, bị rút phép thông công,
theo tinh thần thông tư của Hội Đồng Giám Mục năm 1951. Theo như thế
là mất tất cả, được gì thì chưa biết. Phải hiểu cái não trạng người
Thiên Chúa Giáo thời đó cho thấy sự chọn lựa của họ là can đảm, là dứt
khoát, không có đường về. Đã hẳn từ đó phải có một niềm tin, một lý
tưởng, trên cả lý tưởng đạo của họ.
Ông Lục viết thật ngớ ngẩn, làm như hàng ngũ người Thiên Chúa
Giáo là một cái gì cao quý lắm, bị khai trừ thì tiếc hùi hụi, không
biết rằng ngày nay có cả triệu người đủ các cấp trong Công Giáo đã tự động
từ bỏ hàng ngũ người Thiên Chúa Giáo của Công Giáo mà chẳng ke
(care) đến chuyện khai trừ với chẳng khai trừ, hay rút phép thông công. Mà
thật ra thì, Thông tư của Hội Đồng Giám Mục chẳng qua chỉ là cúp cúp theo
một sắc lệnh của Giáo hoàng Pius XII ban hành ngày 1 tháng 7 năm 1949, dọa
“rút phép thông công” bất cứ người nào cộng tác với Cộng sản, tuyên truyền
cho Cộng Sản, đọc sách báo Cộng Sản v..v.. Tinh thần nô lệ của Hội Đồng
Giám Mục Việt Nam là ở chỗ này, và giáo dân nô lệ “bề trên” cũng lại cúp cúp
theo lệnh của các “bề trên nô lệ”, một lần nữa lại đưa Công Giáo Việt Nam
trở lại tình trạng theo Pháp phản bội dân tộc trong khi nền độc lập của Việt
Nam là cơ hội bằng vàng để gỡ ra khỏi đầu cái vòng kim cô của Vatican và trở
về với dân tộc.. Thật tội nghiệp. Cả nước Ba Lan Công Giáo của Giáo Hoàng
John Paul II theo Cộng Sản, 1/3 tổng số Linh mục làm mật vụ cho Cộng Sản,
nhưng chẳng có ai bị khai trừ hay bị rút phép thông công cả. Mà rút phép
thông công là cái quái gì? Ngay từ năm 1967, Linh mục James Kavanaugh đã
viết trong cuốn Một Linh Mục Hiện Đại Nhìn Vào Cái Giáo Hội Đã Lỗi
Thời Của Mình (A Modern Priest Looks At His Outdated Church):
Tôi thấy khó mà có thể tin được là trong thời đại kỹ thuật không
gian này mà một đoàn thể tôn giáo (Công Giáo của anh em ông
Lục) lại có thể quá lỗi thời để tin rằng một hình phạt thuộc loại
huyền thoại như vậy vẫn còn có ý nghĩa gì đối với con người.
...Rút phép thông công, trong nhiều thế kỷ, đã là
vai trò của giới quyền lực đóng vai Thượng đế . Đó là sự chối bỏ sự
tự do suy tư của con người một cách vô nhân đạo và phi-Ki-tô. Nhưng nhất
là, nó đã là nỗ lực điên cuồng của một quyền lực, vì quá lo sợ mất đi quyền
lực của mình, nên phải kiểm soát tín đồ thay vì hướng dẫn họ đi tới một tình
yêu thương tự do và trưởng thành.
“Rút phép thông công” toan tính biến sự thực chứng tôn giáo
thành một trại huấn luyện quân sự trong đó sĩ quan phụ trách nhào nặn
lên những người máy trung thành bằng cách làm chúng ngạt thở bởi giam hãm và
sỉ nhục. Có thể những phương pháp này có nghĩa trong việc huấn luyện
con người để chiến đấu ngoài mặt trận. Những phương pháp
này thực là trẻ con và bất lương khi xử lý với sự liên hệ của con người đối
với Thượng đế; nhưng thật không thể tin được là chúng vẫn còn tồn tại.
(I found it hard to believe that in the age of space technology a
religious body could be so out of touch as to believe such a mythological
penalty could have any meaning left for man.
...Excommunication had for centuries been authority's way of playing
God. It was the inhuman and unchristian denial of man's freedom of
conscience. But most of all it had been a deeply frigtened authority's
frantic effort to dominate and control men and woman rather than to direct
them toward a free and mature love. Excommunication attempted to turn the
religious experience into a boot camp where the officer in charge aspires to
build loyal robots by smothering them with confinement and indignity.
Perhaps such methods might have had meaning in preparing man for combat.
They are only childish and dishonest in dealing with a man or woman's
relationship with God, but incredulously they still exist.)
Như vậy, ông Lục đã mang sự mê tín và sợ hãi phi lý của mình
về “rút phép thông công”, tự chối bỏ sự tự do suy tư của con người một cách
vô nhân đạo và phi-Ki-tô, để phê bình những người Công Giáo theo Cộng
Sản, làm như “bị rút phép thông công, theo tinh thần thông tư của Hội
Đồng Giám Mục năm 1951.” là một hình phạt kinh khủng lắm, trong khi
bản chất của “rút phép thông công” chỉ là, như Linh mục James Kavanaugh đã
viết, một phương pháp hù dọa trẻ con và bất lương của giáo hội để nắm
giữ đầu óc tín đồ. Điều lạ đối với tôi là tới thế kỷ 21 rồi mà ông
Lục con viết lên được những điều vô nghĩa, vạch áo cho người xem lưng như
vậy.
Tôi nghĩ như vậy kể cũng đủ về ông Nguyễn Văn Lục, về tư cách, kiến
thức và sự mù quáng của ông ấy, có viết thêm cũng chẳng ích gì. Và tôi nghĩ
không cần thiết phải đọc tiếp phần Kết của bài “Hồ Sơ Báo “Công Giáo Và
Dân Tộc” (I)” của ông Nguyễn Văn Lục. Một nhận xét cuối cùng là, ông
Nguyễn Văn Lục quả là một trí thức không biết ngượng. Nếu biết ngượng thì
ông đã không viết một bài tào lao như trên. Bởi vì, nếu ông Lục chịu khó để
tâm suy nghĩ một chút thì ông ấy sẽ thấy rằng tất cả những gì ông ấy viết về
Cộng Sản đều có thể áp dụng cho Công Giáo, và đó chỉ là một phần rất nhỏ của
Công Giáo mà Cộng Sản rập theo khuôn nhưng chưa đến nơi đến chốn. Và lẽ dĩ
nhiên, so với Công Giáo thì Cộng Sản còn yếu kém rất nhiều về cấu trúc quyền
lực, về thủ đoạn, chính sách nhồi sọ, tội ác, và về sách lược “ngu dân dễ
trị” trên hoàn cầu v.. v… Vài hàng của Linh Mục James Kavanaugh ở trên về
“rút phép thông công” cũng đủ cho chúng ta thấy một khía cạnh đặc thù của
Công Giáo. Điều hiển nhiên ngày nay là Cộng Sản Việt Nam đã thay đổi rất
nhiều, và ngày nay cũng chẳng có ai còn dám nói Cộng sản Việt Nam là tay sai
của Nga, Tàu, hay không có tinh thần quốc gia, dân tộc. Tôi cũng hi
vọng một ngày đẹp trời nào đó (un certain beau jour), chúng ta cũng có thể
nói như vậy đối với Công Giáo Việt Nam, rằng phải đặt tinh thần quốc gia dân
tộc lên trên niềm tin tôn giáo. Ngày đẹp trời đó đã ló dạng ở Âu Châu, dân
Âu Châu đã trở về với những giá trị xã hội thế tục (secular) rất thực tế
trong đời sống và không còn e sợ thần quyền hay mơ màng đến những điều không
tưởng nữa, cho nên Giáo hoàng Benedict XVI đã phải than phiền : “Âu
Châu đang sống như là không hề biết đến Thiên Chúa và cũng chẳng cần đến sự
cứu rỗi của Chúa Giê-su”. Nếu đã không hề biết đến Thiên Chúa và
cũng chẳng cần đến sự cứu rỗi của Giê-su thì tất nhiên cũng là không hề biết
đến Vatican và cũng chẳng cần đến vai trò “đại diện của Chúa” của Giáo
hoàng, vì thực ra Giáo hội Công Giáo bản chất chỉ là một tổ chức rất thế tục
với nhiều thành phần chỉ đạo [không phải là tất cả] còn thế tục hơn là thế
tục, có đầy những tham sân si và vô đạo đức, vô đạo đức hơn cả người
thường. Nhưng bao giờ sự nở rộ tiến bộ trí thức này lan sang tới Việt Nam
thì còn là một ẩn số vĩ đại, một khi mà Việt Nam còn những bậc trí thức Công
Giáo như hai anh em họ Nguyễn et al…, và còn tập đoàn Hồng Y, Giám mục, Linh
mục v.. v.. hiện nay ở Việt Nam vẫn tiếp tục hoàn toàn lệ thuộc và tuân phục
Vatican.
Các bài đối thoại cùng tác giả
|