|
Tài liệu “Kinh tế chính trị về nhân quyền. (Tập I)
của Noam Chomsky và Edwards S. Herman
(xem bản Anh ngữ ở dưới)
 
Lê Hồng Phong dịch
Lời khẳng định thiết yếu về cuộc thảm sát ở Huế, khi
chúng tôi nói về “cuộc tắm máu huyền thoại”, chúng tôi
không hàm ý là không có sự giết chóc nào đã xẩy ra. Sự thật nó đã xẩy ra
trên một quy mô đáng kể. Nhưng đối với chúng tôi những bằng chứng có tính
cách thuyết phục thì thấy rằng hình như cốt lõi của sự thật đã bị méo
mó, bị mô tả một cách sai lệch, bị thổi phồng, bị tô vẽ
với những điều bịa đặt nhằm mục đích tuyên truyền.
Nói về những sự kiện, chúng tôi không có ý đưa ra một bản báo cáo miêu tả
cuối cùng nào nhưng chỉ so sánh những bằng chứng có
được với những lời giải thích của chính phủ và phương tiện thông tin rằng
trong suốt một tháng chiếm đóng Huế trong cuộc tổng tấn công mùa Xuân năm
1968, “NLF” Mặt Trận Giải Phóng miền Nam (MTGPMN) và quân bắc Việt đã có chủ
trương tập trung và giết hại hàng ngàn người dân theo một kế hoạch đã định
trước và một "sổ đen” "blacklist"
những người làm việc cho chính phủ hoặc đại diện cho “kẻ thù giai cấp”
“class enemies”. Những tài liệu căn bản bổ xung cho câu
chuyện này gồm một bản báo cáo do chính phủ Saigon đưa ra và tháng 4/1968,
một tài liệu lấy được và đã phổ biến trong công chúng của phái đoàn Hoa Kỳ
vào tháng 11/1969, và một bài phân tách dài xuất bản năm 1970 của một nhân
viên Phòng Thông tin “USIS” Douglas Pike. Cả hai bản báo cáo của Saigon và
của Pike đã gây nên một sự nghi ngờ về cơ bản của nguồn tin, về giọng điệu
và vai trò của chúng trong một chiến dịch tuyên truyền mở rộng nhằm làm
giảm đi ảnh hưởng của vụ thảm sát Mỹ Lai. Nhưng quan trọng hơn nữa là những
tài liệu này đã không có sự điều tra hay sự nghiên cứu tỉ mỉ.
Như trong trường hợp về cuộc cải cách ruộng đất
đẫm máu đã đề cập ở trên thì trong trường hợp này sự ước lượng về những nạn
nhân của thảm sát của MTGPMN và VNDCCH tại Huế đã tăng vọt lên một cách đáng
kể để đáp ứng lại với những nhu cầu chính trị bất ngờ đột xuất trong nước.
Vào mùa thu năm 1969, đã xẩy ra ngẫu nhiên cùng thời gian với những nỗ lực
của chính quyền Nic-xon nhằm làm cân bằng những ảnh hưởng của làn sóng những
nỗ lực hoạt động hòa bình vào tháng 10 và tháng 11, và làm giảm đi sự tai
tiếng của vụ thảm sát Mỹ Lai vào tháng 11/1969.
Ngay sau Tết Mậu Thân, Trưởng ty Cảnh sát Huế Đoàn
Công Lập đã ước lượng con số nạn nhân bị thảm sát do “NLF” MTGPMN và VNDCCH
gây ra là khoảng 200 người và những mồ chôn tập thể
những quan chức địa phương và những thường dân khác là khoảng 300
người. Trong một bản báo cáo đưa ra cuối tháng 4/1968 do
lực lượng tuyên truyền của chính phủ Saigon khẳng định rằng
khoảng 1000 người đã bị Việt Cộng giết tại Huế và khoảng gần một nửa
trong số nạn nhân đã bị chôn sống.Vì câu chuyện không được để ý đến, cho nên
tuần (lễ) sau đó, đại sứ quán Hoa Kỳ đã đưa ra cùng một bản báo cáo và lúc
ấy nó đã trở thành tin tức hàng đầu trên những tờ báo Mỹ. Câu chuyện
đã không được chất vấn mặc dầu không có nhà báo phương Tây nào đã được dẫn
đến những mồ chôn tập thể khi các hố chôn đó được khai quật cả. Ngược lại
một nhà nhiếp ảnh người Pháp Marc Riboud đã nhiều lần bị từ chối yêu cầu
muốn đi xem một trong số địa điểm nơi mà ông tỉnh trưởng tuyên bố có 300 cán
bộ chính phủ đã bị Việt cộng giết. Và rồi cuối cùng nhiếp ảnh gia này đã
được máy bay đưa đến địa điểm ấy, nhưng viên phi công đã từ chối không chịu
hạ cánh với lý do nơi đó không an toàn để hạ cánh.
Người tổ chức AFSC tại Huế cũng không thể
khẳng định bản báo cáo về những hố chôn tập thể mặc dầu họ đã báo
cáo có nhiều thường dân đã bị bắn và bị giết suốt cuộc tái chiếm thành phố.
Len Acklan, một nhân viên IV S tại Huế năm 1967
đã trở lại Huế vào tháng 4/1968 để điều tra, đã được nhân viên Việt Nam và
Mỹ thông báo rằng khoảng 700 người đã bị VC giết. những cuộc đều tra rất chi
tiết của ông đã bổ sung cho sự ước lượng này và cũng chỉ ra rằng những cuộc
giết người chủ yếu gây ra do lực lượng của MTGPMN ở địa phương khi họ rút
lui trong suốt chặng đường cuối cùng của cuộc chiến đẫm máu kéo dài một
tháng. Richard West, một người có mặt ở Huế ngay sau cuộc chiến đã ước tính
“khoảng vài trăm người và một số ít người ngoại quốc”
đã bị VC giết và đã suy đoán rằng những nạn nhân như kiểu nạn nhân vụ Mỹ Lai
do lực lượng Mỹ và VN Cộng Hòa gây ra có thể đã bị chôn sống trong những hố
tập thể.
Vào mùa thu 1969, một “tài liệu lấy được” đã được
khám phá (tài liệu này đã nằm trong số hồ sơ chính thức trong vòng 19 tháng
mà không được chú ý đến), trong đó kể địch “tự nhận” đã giết 2.748 người
trong suốt chiến dịch ở Huế. Tài liệu này là nên tảng chính mà dựa trên đó
câu chuyện về thảm sát ở Huế được xây dựng. vào lúc nó được tiết lộ cho báo
giới thì tháng 11/1969, Douglas Pike đã đưa ra câu chuyện về vụ thảm sát
theo yêu cầu của Đại sứ Ellsworth Bunker. Pike, một người vận động chuyên
nghiệp của giới thông tin đại chúng, nhận ra rằng những phóng viên Mỹ rất
thích “tài liệu” này, cho nên ông đã phát hành tài liệu này. Ông cũng biết
không nhà báo nào hiểu được tiếng Việt nên những tài liệu này đã được dịch
và xây dựng lại để phù hợp với những yêu cầu của một cuộc thảm sát. Ông cũng
biết rằng không có nhà báo nào thắc mắc về tính xác thực của ông và tự lượng
giá để tìm ra những bằng chứng. Vì rằng trong lúc này những tài liệu bị cố
tình làm sai lạc về VN rất cần. Vụ Mỹ Lai đã bị đổ bể và những hoạt động vì
hòa bình có tổ chức vào mùa thu năm 1969 đã gia tăng. Pike đã đứng (?) về
vấn đề này.
Để những “hồ sơ lấy được” sang một bên, chi tiết
có tính cách thuyết phục về cuộc thảm sát là việc tìm ra những hố chôn tập
thể. Nhưng những bằng chứng này đã không đủ thuyết phục như những tài
liệu đã được sắp xếp trên. Một sự khó khăn cơ bản đã xẩy ra từ
sự việc rằng số đông thường dân bị giết chết trong cuộc chiếm lại thành phố
Huế bởi đạn pháo kích của Mỹ và Nam VN được bắn một cách bừa bãi.
David Douglas Duncan, một nhà nhiếp ảnh chiến trường nói về cuộc tái
chiếm rằng đó là “một sự nỗ lực dốc hết sức để loại bỏ bất cứ một kẻ địch
nào. Tâm trí tôi bấn loạn trước cuộc tàn sát.” Một nhà nhiếp
ảnh khác, viết rằng hầu hết các nạn nhân “đã bị giết bởi bom đạn được
bắn một cách kinh hoàng chưa từng thấy của Mỹ”. Robert Shaplen viết
về lúc đó “Không có gì trong cuộc chiến ở Triều Tiên và Việt Nam khi nói về sự tàn phá, mà tôi thấy kinh hoàng bằng những điều tôi
thấy được ở Huế năm ấy. Trong số 17.134 nhà thì 9.776 ngôi nhà
đã hoàn toàn bị phá hủy và 3.169 ngôi nhà bị thiệt hại khá trầm trọng.
Sự ước tính đầu tiên của Nam Việt Nam về số thường
dân bị giết trong cuộc chiến lúc giao chiến trong suốt cuộc tái chiếm thành
phố là 3.776 người. Townsend Hoopes, Phó tham mưu trưởng không quân
(Under-secretary of the Air Forces) vào lúc bấy giờ nói rằng trong nỗ lực
tái chiếm thành phố, 80% dinh thự đã bị đổ nát và trong đống gạch vụn đó có
khoảng 2000 thường dân bị chết. Con số thương vong do Hoopes và Saigon đưa
ra đã vượt quá con số ước tính cao nhất về những nạn nhân của quân Bắc Việt
và MTGPMN, bao gồm những viên chức chính quyền, điều này không phải là những
sự bịa đặt tuyên truyền có thể chứng minh được. Theo Oberdofer, thủy quân
lục chiến Mỹ đưa ra những tổn thất của CS khoảng 5000
người trong khi đó Hoopes nói rằng thành phố bị 1000 quân CS chiếm
đóng, nhiều người trong số họ đã trốn thoát, điều này đưa ra
giả thuyết là phần lớn những người chết là thường dân bom đạn Mỹ.
Một số thường dân bị chết vì cuộc
tấn công của Mỹ đã được quân của Mặt Trận chôn tập thể cùng
với những du kích bị thiệt mạng về phía của họ. (theo nguồn
tin của quân Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam) và một số lớn thường
dân bị “quân đồng minh chôn sống” (mass graves by the
“allies”) MTGPMN đã khẳng định đã chôn cất 2000 nạn nhân của cuộc chiếm đóng
thành phố” đã được khám phá trong những mồ chôn tập thể.Oberdorfer nói rằng
2000 nạn nhân của những cuộc chiếm đóng thành phố” đã được khám phá trong
những mồ chôn tập thể nhưng ông đã không đưa ra lý do để tin rằng đây
là những nạn nhân của cuộc thảm sát của Bắc Việt và MTGPMN hơn là
những người chết do bom Mỹ. Ông dường như đã tin hoàn toàn
vào những lời khẳng định của bộ tuyên truyền – Fox Butterfiedd, trên tờ New
York Times số ra tháng 4/1975 lại đặt 3000 thi thể trong hố chôn duy nhất!
Samuel Adams đã từng là nhà phân tích của CIA, viết trên tạp chí Wall Street
số ra 26/3/1975 rằng con số ước lượng về số người chết của Nam Việt Nam và
Cộng sản như trùng hợp nhau”. Saigon nói đã đào lên được 2800 thi thể, một
bản báo cáo của Công an Việt Cộng cũng đưa ra những con số khoảng 3000”
Không có bản báo cáo của công an nào nói như thế được biết đến. Và đối với
ông Adams, ông rõ ràng không nghĩ rằng có thể con số 2800 người đã được thay
đổi theo yêu cầu của bản tài liệu dịch sai.
Một đặc điểm đáng lưu ý về những hố chôn tập
thể là những nhà báo độc lập không hề được phép có mặt tại hiện trường và họ
rất khó xác định chỗ chính xác nơi những hố chôn tập thể mặc dầu đã nhiều
lần yêu cầu được đến xem. Một trong những tác giả đã nói chuyện với
một binh sĩ thủy quân lục chiến có mặt tại buổi khai quật công khai đầu tiên
cho rằng những phóng viên có mặt lúc đó là những người đáng tin cậy
đuợc lựa chọn một cách cẩn thận và rằng những thi thể không được kiểm tra.
Ông còn nhận xét rằng những dấu vết ở hiện trường chứng tỏ đã xử dụng
xe ủi đất (cái này Việt Cộng không có). Có lẽ chỉ có những bác sĩ
phương tây xem xét những mồ chôn – Alje Vennema, một bác sĩ người Canada,
nhận thấy rằng con số nạn nhân trong hố chôn tập thể mà ông đã xem xét đã bị
Mỹ và Saigon thổi phồng lên gấp 7 lần.
Con số 68 người đã được báo cáo là 477 người, hầu
hết trong số họ đã bị thương và dường như là nạn nhân trong lúc
giao chiến. Hầu hết các nạn nhân mặc đồ quân phục.
Rất ít người để ý đến giả thuyết rằng những
nạn nhân ở Huế không phải do Bắc Việt hay bom đạn Mỹ mà do quân đội
Saigon khi tái chiếm thành phố. Nhiều người thân Công đã lộ dạng
trong suốt cuộc tổng tấn công, và đã hợp tác với chính quyền địa phương do
những người cách mạng ở Huế hình thành, hoặc bầy tỏ sự ủng hộ của họ đối với
MTGPMN. Khi quân giải phóng rút đi, nhiều cán bộ và những người ủng hộ quân
giải phóng kẹt lại ở thế rất nguy hiểm và họ trở thành nạn nhân của những sự
trả thù của Saigon. Bằng chứng đã đuợc đưa ra ánh sáng rằng sự giết để
trả thù trên quy mô lớn đã xẩy ra ở Huế do lực lượng Saigon sau khi tái
chiếm thành phố.
Trong một bài mô tả đầy sinh động, một nhà báo
người Ý Oriana Fallaci, trích dẫn lời một linh mục Pháp ở Huế
đã kết luận rằng: “Tất cả có khoảng 1100 người bị giết (sau ngày
quân Saigon “giải phóng” thành phố)”. Hầu hết sinh viên, giáo
viên đại học, tu sĩ, những nhà trí thức và tín đồ (religions people) ở Huế
đã không bao giờ che đậy cảm tình của họ đối với quân giải phóng.
Trong bất cứ trường hợp nào, tình trạng rất lộn
xộn về những sự kiện và bằng chứng cộng với những “chứng cứ” không thể tin
được của Mỹ và Saigon, ít ra cũng có thể nói rằng “cuộc tắm máu” do
quân giải phóng và quân Bắc Việt gây ra tại Huế đã được xây dựng trên những
bằng chứng hời hợt. Và dường như rất có thể những bom đạn
Mỹ “cứu” dân Việt Nam đã giết nhiều thường dân hơn là quân giải phóng và Bắc
Việt đã làm. Cũng có thể sự thanh toán mang tính
chính trị của chính quyền Saigon đã vượt quá bất cứ cuộc thảm sát nào của
quân giải phóng và Bắc Việt ở Huế. Bằng chứng cho thấy
rằng đa số cảnh sát, công chức và quân nhân ban đầu nằm trong danh sách “cải
tạo” hơn là trừ khử, nhưng số người bị giết tăng lên vì áp lực quân sự về
phía MTGPMN và Bắc Việt tăng lên. Có một điều đáng lưu ý, như trường hợp cải
cách ruộng đất, lực lượng quân giải phóng của Mặt Trận khi rút lui đã bị cấp trên kiểm điểm một cách gay gắt vì đã đi quá giới hạn và làm tổn
thương cách mạng. Cho đến nay chúng tôi không hề nghe bất cứ
một lời tự phê bình nào của Mỹ và cán bộ cao cấp của Saigon về sự giết
hại của họ ở Huế.
…. Chúng tôi đã đề cập một vài trong số
những hoạt động trắng trợn hơn nữa của bộ máy tuyên truyền Mỹ và Saigon.
Phải cần nhấn mạnh rằng ngay những bản báo cáo hằng ngày đã xây dựng nhiều
tin tức về vấn đề Đông Dương lẽ ra nên được xem xét với nhiều hoài nghi hơn.
Một nhà báo Nhật bản Katsuichi Honda một lần điều
tra một bản báo cáo hàng tuần của Bộ Tổng thông tin của quân đội Mỹ ở Saigon
nhan đề: ”Những Hoạt Động Khủng Bố của Việt Cộng”. Nghiên cứu một vụ mà ông
đã quan tâm nhất, ông khám phá ra rằng sự khủng bố không chỉ kinh hoàng và
dai dẳng xẩy ra thường xuyên, nó thật sự đã bị che đậy bằng hành động “kiểm
soát tin tức” . Và xem ra những người bị giết không phải là nạn nhân
của MTGPMN.
Dường như có vô số “sự việc kinh hoàng” đã được
che đậy một cách bí mật sau sân khấu của cuộc chiến Việt Nam đang gia tăng.
Ông khám phá ra rằng vụ ám sát 5 sinh viên Phật tử tình nguyện
trước đây được công bố chính thức là nạn nhân của vụ khủng bố của Việt Cộng
rõ ràng là do quân chính phủ gây ra. Trong một số trường hợp
khác “những lính say rượu” cãi lộn nhau rồi ném lựu đạn vào
một số thường dân qua đường bị chết. Trường hợp này cũng bị cáo giác
là do Việt Cộng khủng bố.
Trong những vụ khác, sự thật đã phơi bày một cách
tình cờ. Đề cập đến một ví dụ đặc biệt phi lý, kịch cỡm, tại nơi mà hài cốt
của những nạn nhân vụ Mỹ Lai đã được chuyển về đã bị không lực
Việt Nam Cộng Hòa và trận không kích phá hủy. Nhưng như thường lệ, vụ này
cũng đổ cho Việt Cộng khủng bố. Sự thật đã được những người theo
đạo Quaker ở trong vùng phanh phui ra.
Những ví dụ trên đây gợi lên một điều những
bản báo cáo chính thức là những sự dối trá và lừa bịp và trong
một vài trường hợp đã được thay đổi thành những câu chuyện hoang đường chính
thức. Một kết luận quan trọng hơn nữa là rằng nguồn tin chính thức
nói chung đã hạn chế phẩm chất một cách tối đa. Chúng nêu lên những vấn đề
nhưng không đưa ra câu trả lời đáng tin cậy nào.
Tài liệu “Kinh tế chính trị về nhân quyền. (Tập I)
của Noam Chomsky và Edwards S. Herman
Lê Hồng Phong, dịch
NDVN, ngày 4/12/2007
Những bài cùng đề tài Mậu Thân:
Chuyện Hoang Đường Vụ Thảm Sát Ở Huế 68 (Noam Chomsky & Edward S. Herman) Chứng Nhân Mậu Thân (Tâm Đạt)
Những đường nối cùng đề tài Mậu Thân:
“Tiger Force” and the Costs Of Forgetting US Crimes in Vietnam
Tội Ác Mỹ - Ngụy: Mậu Thân Bến Tre 68
Tội Ác
Mỹ-Ngụy: Mậu Thân và Hậu Mậu Thân Huế 68: Nguyễn Thuị Thanh Sung
Tội Ác
Mỹ - Ngụy: Mậu Thân Bến Tre 68
Hậu Quả của "Cái Chết" của Tôi
Vợ Người Đạo Diễn Không Chuyên
“The Political Economy of Human Rights – Volume I”
By Noam Chomsky and Edward S. Herman
Black Rose Book, Montréal, 1979 – 5.2.3 The Hue
Massacre of 1968 (Excerpts)
The essential claim of the myth of the Hue
massacre (see note 157 : When we speak of “mythical Bloodbath” we do not
mean to imply that no killings took place. In fact they did, on a
considerable scale. But the evidence seems to us decisive that the core of
truth was distorted, misrepresented, inflated and embellished with sheer
fabrication for propaganda purposes. As for the events themselves, we are
not attempting to offer any definitive account, but rather to compare the
evidence available with its interpretation by government and the media.) Is
that during their month – long occupation of Hue at the time of the Têt
offensive o f 1968, NLF and North Vietnamese forces deliberately, according
to an advance plan and ‘blacklist’, rounded up and murdered thousands of
civilians, either because they worked for the government of represented
“class enemies.’ The basic documentation supporting the myth consists of a
report issued by the Saigon government in April 1968, a captured document
made public by the US Mission in November 1969, and a long analysis
published in 1970 by USIS employee Douglas Pike. Both the Saigon and Pike
reports should have aroused suspicions on the basis of their source, their
tone, and their role in an extended propaganda campaign, timed in the latter
case to reduce the impact of the My Lai massacre. But, even more important,
the substance of these documents does not withstand scrutiny. *
As in the case of the land reform bloodbath myth
just discussed, official estimates of alleged NLF-DRV killings of civilians
at Hue escalated sharply in response to domestic political contingencies, in
this case, in the fall of 1969, coincident with the Nixon administration’s
attempt to offset the effects of the October and November surge of organized
peace activity and to counteract the exposure of the My Lai massacre in
November 1969. Shortly after the Tet offensive it self, Police Chief Doan
Cong Lap of Hue estimated the number of NLF-DVR killings at about 200, * and
the mass grave of local officials and prominent citizens allegedly found by
the Mayor of Hue contained 300 bodies.
(The authenticity of these numbers and responsibilities
for these bodies is debatable, as is discussed below.) In a report issued in
late April 1968 by the propaganda arm of the Saigon government, it was
claimed that one thousand executions had been carried out by the Communists
in and around Hue, and that nearly half of the victims had been buried
alive. Since the story was ignored, the US embassy put out the same report
the following weeks, and this time it was headlined in the US papers. The
story was not questioned, despite the fact that NO WESTERN JOURNALIST HAD
EVER BEEN TAKEN TO SEE THE GRAVE SITES WHEN THE BODIES WERE UNCOVERED. On
the contrary, French photographer Marc Riboud WAS REPEATEDLY
DENIEDPERMISSION TO SEE ONE OF THE SITES where the province chief claimed
300 civilian government workers had been executed by the Communists. When he
was taken by helicopter to the alleged site, the pilot refused to land,
claiming the area was ‘insecure.’ *
AFSC staff people in Hue were also unable to
confirm the report of mass graves, though they reported many civilians shot
and killed during the reconquest of the city.*
Len Ackland, an IVS worker in Hue in 1967 who
returned in April 1968 to investigate, was informed by US and Vietnamese
officials that about 700 Vietnamese we re killed by the Viet Cong, an
estimate generally supported by his detailed investigations, which also
indicate that the killings were primarily by local NLF forces during the
last stages of the bloody month-long battle as they were retreating.*
Richard West, who was in Hue shortly after the battle, estimated ‘several
hundred Vietnamese and a handful of foreigners ‘ killed by Communists and
speculated that victims of My Lai style massacre by the US-ARVN forces might
have been among those buried in the mass grave. *
In the fall of 1969 a ‘captured document’ was
discovered that HAD BEEN MYSTERIOUSLY SITTING IN THE OFICIAL FILES FOR 19
MONTHS, in which the enemy allegedly ‘admitted’ having killed 2,748 persons
during the Hue campaign. This document is the main foundation on which the
myth of the Hue massacre was constructed. At the time it was released to the
press, in November 1969, Douglas Pike was in Saigon to push the Hue massacre
story, at the request of Ambassador Ellsworth Bunker. Pike, an expert media
manipulator, recognized that the American reporters love “documents,” do he
produced documents. He also knew that virtually none of these journalists
understood Vietnam e se, so that documents could be translated and
reconstructed to con form with the requirements of the massacre. He also
knew that few journalists would challenge his veracity and independently
assess and develop evidence, despite the long record of official duplicity
on Vietnam and the coincidence of this new document with official public
relations needs of the moment.* - the My-Lai story had broken, and
organized peace activity in the fall of 1969 was intense. Pike was correct
on this point also, and the few indications of skepticism by foreign
reporters were not allowed to interfere with the institutionalization of the
official version.
… Apart from the “captured documents,” the most
persuasive support for the alleged massacre from the findings of mass grave
– but this evidence is as unconvincing as the managed documents. A
fundamental difficulty arises from the fact that large numbers of civilians
were killed in the US-Saigon recapture of Hue by the massive and
indiscriminate use of firepower. David Douglas Duncan, the famous combat
photographer, said of the recapture that it was a “total effort to root out
and kill every enemy soldier. The mind reels at the carnage, cost and
ruthlessness of it all’.* Another distinguished photographer, Philip Jones
Griffiths, wrote that most of the victims “were killed by the most
hysterical use of American firepower eve r seen” and were THEN DE SIGNATED
“AS THE VICTIM S OF A COMMUNIST MASSACRE.” * Robert Shaplen wrote at the
time : “Nothing I saw during the Korean war, or in the Vietnam war so far
has been as terrible, in terms of destruction and despair, as what I saw in
Hue.”* Of Hue’s 17,134 houses, 9,776 were completely destroyed.” And 3,169
more were officially classified as ”seriously damaged.” The initial
official South Vietnamese estimate of the number of civilians killed in the
fighting during the bloody reconquest was 3,776.* Townsend Hoopes,
Undersecretary of the Air Force at the time, stated that in the recapture
effort 80% of the buildings were reduced to rubble, and that “in the smashed
ruins lay 2,000 dead civilians…”* The Hoopes and Saigon numbers exceed the
highest estimates of NLF-DRV killings, including official ones, that are not
demonstrable propaganda fabrications. According to Oberdorfer, the US
Marines put Communist losses at more than 5000, while Hoopes states that the
city was captured by a Communist force of 1000, many whom escaped –
SUGGESTING AGAIN THAT MOST OF THE KILLED WERE CIVILIAN VICTIMS OF US
FIREPOWER.
Some of the civilians casualties of this US
assault were buried in mass graves by the NLF along side their own
casualties (according to NLF-DRV sources), and a large number of civilians
were bulldozed into mass graves by the ‘allies.” * The NLF claim to have
buried 2000 victim s of the bombardment in mass graves.* Oberdorfer says
that 2800 “victims of the occupation” we re discovered in mass graves, but
he gives no reason for believing that the se we re victims of the NLF-DRV
“political slaughter” rather than people killed in the US bombardment He
seems to have relied entirely on the assertions of the Ministry of
Propaganda. Fox Butterfield, in the NEW YORK TIMES of 11 April 1975, even
places all 3,000 bodies in a single grave! Samuel Adams, a former analyst
with the CIA, wrote in the WALL-STREET-JOURNAL of March 26, 1975 that “South
Vietnamese and Communist estimates of the dead coincide almost exactly.
Saigon says it dug up some 2,800 bodies; a Viet Cong police report puts the
number at about 3,000.” There are no known “police report” that say any such
thing; and it is apparently never occurred to Adams that the 2,800 figure
might have been adjusted to the needs of the mistranslated document.
An interesting feature of the mass grave, as noted
earlier, is that INDEPENDENT JOURNALISTS WERE NEVER ALLOWED TO BE PRESENT AT
THEIR OPENING, AND THAT THEY HAD DIFFICULTY LOCATING THEIR PRECISE
WHEREABOUTS DESPITE REPEATED REQUESTS.” One of the author spoke with a US
Marine present at the first publicized grand opening, who claims that the
reporters present were carefully hand-picked reliable, THAT THE BODIES
WERE NOT AVAILABLE FOR INSPECTION, and that he observed TRACKS AND SCOUR
MARKS INDICATIVE OF THE USE OF BULLDOZERS (ưhich the DRV and NLF did not
possess).* Perhaps the only Western physician to have examined the graves,
the Canadian Dr. Alje Vennema, found that the number of victims in the
graves he examined were INFLATED IN THE US-SAIGON COUNT BY OVER SEVENFOLD,
totaling only 68 in stead of the officially claimed 477, that most of the
bodies had wounds and appeared to be victims of the fighting, and that most
of the bodies he saw were clothed in MILITARY UNIFORMS.*
Little attention has been paid to the possibility
that massacre victims at Hue may have been killed neither by the NLF-DVR,
but rather by the returning Saigon military and political police’ Many NLF
sympathisers “surfaced” during the Tet Offensive, cooperated in the
provisional government formed by the revolutionaries in Hue, or otherwise
revealed their support for the NLF. With the retreat of the NLFV forces from
Hue in 1968 many cadres and supporters were left in a vulnerable position a
potential victims of Saigon retribution. Evidence has come to light that the
large scale retaliatory killing may have taken place in Hue by the Saigon
forces AFTER its recapture. In a graphic description, Italian journalist
Oriana Fallaci, citing a French priest from Hue, concluded that :”
Altogether, there have been 1,000 killed (after “liberation” by Saigon
forces). Mostly students, university teachers, priests. Intellectuals and
religious people at Hue have never hidden their sympathy for the NLF.”*
…. In any case, given the very confused state of events
and evidence plus the total unreliability of US-Saigon ”proof”, at a minimum
it can be said that the NLF-DRV “bloodbath” at Hue was constructed on flimsy
evidence indeed. It seems quite likely that U S firepower “saving” the
Vietnamese killed many more civilians than did the NLF and DRV. It I s al so
not unlikely that political killing s by the Saigon autho ritie s e xce ed
any ma ssac re s by the NLF and DRV at Hue. The evidence indicates that “the
vast majority of policemen, civil servants, and soldiers were initially on
“reeducation” rather on the liquidation lists, but the number of killings
mounted as military pressure of the NLF and North Vietnamese mounted.”* It
is also of interest here, as in the land reform case, that the retreating
Front forces “were severely criticized by their superiors for excesses which
hurt the revolution’.* We have not yet heard of any such self-criticisms
coming from US and Saigon superiors for their more extensive killing at Hue.
…. We have discussed several of the more blatant
exercices of the US-Saigon propaganda machines, but it must be emphasized
that even their day-to-day reports, which constituted the great mass of
information about Indochina, should have been treated with comparable
skepticism. On the rare occasion when competent reporters made serious
investigations, the information presented by U S and Saigon sources turned
out to be no less tainted. The Japanese reporter Katsuichi Honda once
undertook to investigate the weekly report of the General Information Bureau
of the US Army in Saigon entitled “Terrorist Activities by Viet Cong.”
Pursuing “one isolated case” that interested him, he discovered that not
only was amazingly brutal and persistent terrorism occurring regularly, it
was actually being shielded from public scrutiny by Saigon’ s information
control.” It soon appeared that the murders were not done by the NLF at all.
There were, it seemed, innumerable “terrible facts” which had been secretly
hushed up behind the scenes of the intensifying Vietnam war.*
In the case in question, he discovered that the
assassination of five Buddhist student volunteers, officially victims of
Viet Cong terror, had apparently been carried out by government forces. In
another case, “drunken soldiers of the government quarreling among
themselves threw grenades, and some civilian bystanders were killed,” the
case again being reported “as another instance of “Viet Cong terrorism.”
In others cases, the facts have emerged only by
accident. To mention one particularly grotesque example, the camp where the
remnants of the My Lai massacre had been relocated was largely destroyed by
ARVN air and artillery bombardment in the spring of 1972. The destruction
was attributed routinely to Viet Cong terror. The truth was revealed by
Quaker service worker s in the area.*
These examples point up the fact that in the instances
in questions the official reports were lies and deceptions, and in some
cases were converted into official myths; the more important conclusion is
that official sources in general have extremely limited credibility. They
raise questions, but provide no reliable answer.
Note: All the * in the text refer to supportive
documents.
Đọc thêm: The Myth of the Massacre
http://www.chss.montclair.edu/english/furr/Vietnam/huemyth/mythofhuemassacre.pdf
Các bài về Mậu Thân
|