|
Vài hàng về Tác Giả: 0
Phần Tín Lý :
1
2
3
Phần Giáo Lý:
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
(tiếp theo)
Mục IX (Chương 33 và các Chú Thích)
Chương 33 - Những thịnh suy của Giáo hội Vatican từ Luther đến nay
Chúng ta sẽ bàn từng vấn đề: 1-
Thệ phản. 2- Descartes. 83 3- Darwin. 4- Phong trào Deist. 5- Phong trào
Tân Tiến. 6- Sự bành trướng của Giáo hội nhờ phong trào thuộc địa chiếm
nước của Âu châu. 1- Thệ
phản.
Luther [1483-1546] là người dám
nổi lên chống lại La Mã. Ngày 31/10/1517, LM Luther dán trước cửa nhà
thờ Wittenberg 95 điều phản kháng Tetzel về chuyện bán ân xá. Luther chủ
trương không thể tha tội bằng tiền. Luther cho rằng Giáo Hoàng không có
quyền tha thứ cho ai. Giáo Hoàng Leo X ra thông điệp phi bác Luther.
Luther đem thông điệp đó long trọng đốt trước mặt các sinh viên ở
Wittenberg. Vua thượng vị Charles V bằt Luther ra trình diện trước hội
đồng Worms. Luther ra trước hội đồng và không chịu từ bỏ một luận thuyết
nào của ông. Và Đạo Tin Lành sinh ra từ đó.
Sau hội đồng Worms, Luther định
trở về Wittenberg, nhưng Hoàng Tử ở Saxe giả vờ bắt ông và giam ông tại
Warburg. Ở đấy, Luther dịch Kinh Thánh ra tiếng Đức. Ông trở vế
Wittenburg năm 1522 và năm 1525 ông kết hôn với bà Katharina von Bora,
một cựu nữ tu. Và từ đó cho đến khi ông mất ngày 14/02/1546, ông lo củng
cố giảo hội của ông và địa vị cá nhân. Ở Âu châu, Tin Lành mạnh ở các
nước Bắc Âu.
2- René
Descartes [1596-1650].
Giáo Hoàng Joan Paul II, đã cho
rằng Descartes xướng xuất Duy Lý chủ nghĩa và Chủ Quan chủ nghĩa tân
thời. Descartes đã đánh dấu sự khởi đầu việc khai triển các khoa học
chính xác và tự nhiên. Nghĩa là Descartes và Âu châu bắt đầu đề cao lý
trí, không như St. Paul muốn hạ thấp lý trí [1Co 1:17-30, 2:1-16]. Giáo
Hoàng cho rằng: "Trên thực tế, khoảng 150 năm sau Descartes, tất cả
những gì được gọi là nền tảng Kitô giáo trong truyền thống tư tưởng Âu
châu đã bị đẩy sang một bên..." "Trên căn bản này, tự do, bình quyền và
huynh đệ đã được công bố. Gia sản tinh thần và gia sản luân lý của Kitô
giáo bị loại khỏi nền tảng Phúc âm. Hậu quả là con người coi như chỉ
sống bằng lý trí và lý luận thuần lý cúa mình, coi như Thiên Chúa không
hiện hữu..." [164]
3-
Charles Darwin [1809-1882].
Người làm cho Giáo hội bị những
chưởng mạnh nhất từ xưa tới nay, có lẽ là Darwin. Như ta đã biết Darwin
chủ xướng thuyết vạn vật tiến hóa, và vũ trụ này đã có từ rất lâu, loài
này biến thành loài khác, và con người đã biến hóa ra từ một giống khỉ.
Tất cả các lập trường trên đều ngược hẳn với Giáo hội. Học thuyết Darwin
nay đã bao quát mọi mọi học thuyết khác. Cái hay của Darwin là chứng
minh bằng dữ kiện. Kinh Thánh từ thời Darwin đã mất đi rất nhiều vẻ tôn
nghiêm và bất khả ngộ.
Khoảng 1870, là lúc có cao trào
chống đối học thuyết này. Và phái Fundamentalists [những người tin y như
xưa] được hình thành. Giáo hội Công giáo từ vụ Gailée đến nay đã trở nên
khôn ngoan hơn, không dám ra mặt chống đối học thuyết này và bất kỳ vấn
đề gì về khoa học như xưa nữa. 4- Phong trào Deist.
Deism là một phong trào ở Anh Quốc thế
kỷ XVII và XVIII. Deism cũng tin có Thượng đế, một Thượng đế ngọai tại
như Công giáo, và dựng nên Trời đất như Công giáo, nhưng là một Thượng
đế xa vời, không mấy quan tâm đến vũ trụ và con người, nhất là từ khi đã
tạo dựng nên trời đất xong rồi. Môn phái này cho rằng Kinh Thánh mới và
cũ là những sách huyền thoại, không thực tế. Nó chủ trương theo đạo tự
nhiên chứ không theo đạo mặc khải của Công giáo. Nó không tin Thánh Kinh
là lời Chúa. Không tin phép lạ, không tin Chúa xuống thế chuộc tội.
Nhiều người danh tiếng cầm đầu phong trào này như Thomas Morgan, Thomas
Chubb, Thomas Woolston, Lord Herbert of Cherbury [1583-1648]. ông chủ
trương phê phán các đạo tự nhiên và không chấp nhận những gì sai lạc,
phi lý đã được sao chép vào sau này. ông không chấp nhận lấy quyền lực
ép buộc công nhận sách vở, mà chỉ chấp nhận lý trí. Voltaire là một
Deist, cũng như Benjamin Franklin của Mỹ. Tóm lại họ chủ trương được tự
do đi tìm chân lý, và chân giá trị của họ là ở điểm này. [165] Stevens
Morris cho rằng các vị Tổng thống Mỹ tiên khởi là Deists hay Unitarians.
[166]
Phong trào Enlightenment hay Aufklarung [Ánh Sáng, Tỏa sáng] cũng
nảy sinh ra song song với phong trào Deism. Enlightenment chủ trương
dùng ánh sáng lý trí soi rọi vào mọi bình diện hoạt động của con người.
Phong trào này xâm nhập vào mọi bình diện: Đạo giáo, văn chương, nghệ
thuật, triết học, khoa học, chính trị v,v...
- Về tôn giáo, Herbert of
Cherbury [1581-1648] viết quyển De Veritate [1627] đem lý trí vào đạo
giáo. John Toland [1670-1622] viết quyển Christianity not Mysterious
[Công giáo không màu nhiệm ] [1696], Matthew Tindal [1656-1733] viết
quyểm The Deist's Bible.
- Về văn chương có các tác phẫm của Pierre
Corneille [1606-1684], Jean Racine [1639- 1699], và Jean Baptiste
Molière [1622-1673]. Chủ trương là phải điều khiển con người bằng lý
trí. Ta cũng không quên được Montesquieu [1689-1755], Diderot
[1713-1784] và nhất là Voltaire [1694-1778], người đề cao lý trí.
- Về
nghệ thuật có các sáng tác của Rembrant [1606-1699], Rubens [1577-1640],
Wattean [1864-1721], của Bach [1685-1750] v.v... Tất cả đều nói lên sự
trong sáng của lý trí, và sự cân đối của sự vật trong khi xây lâu đài
Versailles v.v...
- Trong Triết Học, có Descartes [1596-1727], có
Spinoza [1622-1677], có Leibniz [1646- 1716] v.v...
- Trong khoa học có
Newton [1642-1727]. - Trong chính trường có Frederic II nước Phổ
[1740-1786], Catherine II nước Nga [1762- 1796], Joseph II nước Áo. Tất
cả đều chú trương cai trị bằng lý trí.
Nhưng phong trào này dần dà đã
suy tàn. [167] Trí thức Âu châu đã tỏ ra hết sức vô ơn với Giáo hội. Khi
Âu châu bước vào thời Trung Cổ [A.D. 476-1453, từ đời vua Thượng Vị Roma
là Romulus Augustus bị truất phế, cho đến khi thành Constantinople bị
quân Turks chiếm], thì họ gọi khoảng đầu thời Trung Cổ là Thời kỳ hắc ám
[Dark Age] [476- 1000].
Khi mà có phong trào chấn hưng nền học thuật Hi
Lạp vào thế kỷ XIV, thì họ gọi là thời kỳ Phục Hưng hay Hồi Sinh
[Renaissance]. Thời kỳ này tiếp theo ngay thời Trung Cổ. 85 Đến thế kỷ
XVIII với phong trào đem ánh sáng lý trí soi rọi vào các học thuyết, các
chế độ, thì họ gọi là Thế Kỷ Ánh Sáng [Enlightenment]. Ta nên nhớ, Giáo
hội thịnh đạt nhất là vào thời Trung cổ, thế mà họ dám cho rằng đó là
Thời kỳ đen tối. Khi mà họ bắt đầu rũ dần khỏi ảnh hưởng Giáo hội , thì
họ xưng mình Sống lại, và khi mà họ quyết tâm đem lý trí soi rọi vào mọi
sự ở gian trần này thì họ cho mình là sống trong ánh sáng. Làm như là
Giáo hội đã kìm kẹp tư tưởng họ, làm cho họ sống lay lắt, và sống trong
u tối v.v. Giáo Hoàng John Paul II cũng đã công nhận rằng Giáo hội đã
mất dần ảnh hưởng từ thời Descartes, cho đến thời đại Ánh Sáng. [168]
Như vậy, Giáo Hoàng cũng công nhận là Công giáo xưa nay đã không đề cao
lý trí. Con người có ba đời sống:
1- Đời sống xác thịt [Địa đạo, vật
đạo], được chi phối bằng ngũ quan.
2- Đời sống lý tri [Nhân đạo], được
chi phối bằng lý trí.
3- Đời sống thần linh [Thiên đạo], được chi phối
bằng trực giác. Công giáo gọi đời sống thần linh là đời sống đức tin,
nên cho rằng Đức tin cao hơn đời sống lý trí.
5- Phong trào Tân tiến
[Modernism].
Phong trào này mới đầu là do chính Giáo hội Vatican thành
lập ra vào thời Giáo Hoàng Leon XIII có mục đích là cắt nghĩa lại, và
chỉnh trang lại các giáo điều cho phù hợp với Kinh Thánh đã được cắt
nghĩa lại.
Thế kỷ XIX, phong trào Darwin và Bất khả tri [Agnosticism] đã
làm cho đức tin bị giao động. Người ta muốn cắt nghĩa lại lịch sử, gạt
bỏ hết những gì huyền thọai, thêm thắt vào. Và người Đức rất đặt nặng
vấn đề này. Họ đòi đem các phương pháp khoa học, sử học trên vào chuyện
cắt nghĩa Kinh Thánh. Ernest Renan đã viết quyển Đời Chúa Giêsu, áp dụng
các phương pháp trên.
Giáo hội rất ngại phong trào trên nên lập ra phong
trào Modernists, tìm cho ra những người bảo vệ Thánh Kinh theo đúng các
đường lối khoa học của các học giả Đức nói trên. Nhưng phong trào đã có
những kết quả ngược lại. Nhiều người được huấn luyện, đã nhận thấy Kinh
Thánh có nhiều điều sai trái, bất ổn, rất bất lợi cho tòa thánh Vatican.
Đến cuối thế kỷ XIX thì phong trào này không còn là tiền đồn của Giáo
hội nữa mà đã trở thành nhừng người phản đạo, rối đạo.
Năm 1907, Pius X
đã phi bác phong trào này trong sắc chỉ Pascendi. Ngày 08/12/1864, Pius
X còn viết tập kỷ yếu các điều sai lạc mới nhất chống lại phong trào này
[Collection of Modern Errors, or Syllabus]. LM Loisy [1857-1940], Roger
Martin du Gard ở Pháp, Michel de Unamuno [1864-1936] ở Tây Ban Nha là
những người theo Modernism nối tiếng nhất.
LM dòng tên Tyrrell định
nghĩa một người thuộc phe Tân Tiến như sau: Đó là một người tổng hợp
được các giáo lý với khoa học. Họ là những giáo hữu tốt. Họ sửa lại giáo
lý, 86 nhưng vẫn giữ lại tổ chức, lễ nghi, sách thánh, và tín lý, giáo
điều, tuy nhiên họ có quyền giải thích lại, cắt nghĩa lại cho phù hợp
với trào lưu.
Ở Anh cũng có phong trào Modernism, và có The Modern
Churchmen's Union để phát huy phong trào. Giám Mục William Temple cho
rằng Modernism là cái gì mà mọi người có học đều tin theo. Ở Mỹ thì
Modernism là đi ngược với chủ trương Fundamentalism.[169] Như vậy, trong
Phong trào Modernism, là Giáo hội chống lại với chính bọn con chiên xung
phong của mình, do mình đã chọn lựa, nhưng lại trở cờ chống lại Giáo hội
. 6- Sự bành trướng của Giáo hội nhờ phong trào thực dân và thuộc địa
của Âu châu. Từ Christopher Columbus [1451-1506] trở đi, Giáo hội Công
giáo nhờ Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp v.v... đã rao giảng Phúc âm cho
các nước Trung và Nam Mỹ, cho Philippine, cho Phi Châu, cho Á châu. Đâu
mà Tây ban Nha đi đến, thì họ đã dùng mọi phương pháp để bắt mọi người
theo đạo. Kết quả là Trung, Nam Mỹ, Philippine đều toàn tòng. Chỗ nào mà
Pháp tới, đều xôi đỗ, nghĩa là số dân theo Công giáo không đông. Chỗ nào
mà Anh tới, cũng xôi đỗ như vậy, nhưng phần đông lại là Thệ Phản. Đây,
tôi không đi sâu vào những phương pháp giảng giáo của Tây ban Nha. Công
giáo có cái hay là, ai đi giảng đạo ở đâu, cũng sẽ học tiếng địa phương,
và ở tại đó cho đến chết, trừ phi là bị trục xuất ra khỏi nước mà thôi.
Dĩ nhiên là trong số các vị Thừa Sai có nhiều người thật lỗi lạc như
Matteo Ricci [1552-1610], như Verbiest ở Trung Hoa, như Alexandre de
Rhodes ở Việt nam v.v...
Ngày nay ta thấy Giáo hội La Mã có hai bộ mặt:
ở Âu châu, như ở Pháp, ở Đức thì người ta không còn tin Giáo hội như xưa
nữa, và đã đặt ra rất nhiều câu hỏi. Trái lại, ở các nước khác như tại Á
châu, Phi châu, Mỹ châu dân chúng còn thuần thành tin vào Giáo hội nhiều
hơn. Nhưng Giáo hội được mạnh thật ra, là nhờ vào tư tưởng, chứ không
phải nhờ vào số đông, không biết suy tư là gì. Như vậy trong tương lai,
Giáo hội Vatican sẽ còn có rất nhiều biến chuyển, đổi thay.
Đổi thay
theo chiều hướng nào? Thưa là chiều hướng huyền học của thế giới. Nghĩa
là tin rằng Thượng đế là cốt lõi muôn loài, và hằng tiềm ẩn trong lòng
mọi người. Và đạo giáo là lo tu luyện tâm thần, đi đến chỗ tinh hoa, cao
đại, sống phối hợp nhất như với Thượng đế. Tức là tìm cho ra Thiên đạo
thật sự. HẾT
GHI CHÚ
164- John Paul II - Bước qua
ngưỡng cửa hi vọng, tr. 72-73.
165- Vergilius Ferm - An
encyclopedia of religion, p. 222.
166- The early presidents and
patriots were generally Deists or Unitarians, believing in some sorts of
impersonal Providence but rejecting the divinity of Jesus and the
relevance of the Bible. American's Unchristian Beginnings. Founding
Fathers: Most despite preachings of our pious right, were deist who
rejected the divinity of Jesus. By Steven Morris. Los Angeles Times,
cuối tháng 08/1995.
167- Vergelius Ferm - An
encyclopedia of religion, p. 250.
168- John Paul II - Bước qua
ngưỡng cửa hi vọng, tr. 72-75.
169- E. Royston Pike -
Dictionnaire des religions, p. 216. - Michael Baigent, Richard Leigh,
Henry Lincoln - Holy blood, holy grail, p. 187-190: The Catholic
modernist movement. -Vergilius Ferm - An encyclopedia of religion, pp.
498-499. |