|
Vài hàng về Tác Giả: 0
Phần Tín Lý :
1
2
3
Phần Giáo Lý:
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
(tiếp theo)
Mục I (Chương 1 đến hết chương 4)
1-
Tội tổ tông.
2-
Vấn đề mặc khải.
3-
Chúa ba ngôi.
4-
Chúa Giêsu xuống thế chuộc tội thiên hạ.
Chương 1 - Tội Tổ
Tông.
Tội Tổ Tông là một tín điều căn bản của Công giáo.
Không tin có tội này tức là không tin
có chuyện Chúa Giêsu giáng trần. Vấn đề được đặt ra
là con người vốn tốt hay vốn xấu?
Khổng, Mạnh cho rằng nhân chi sơ, tính bản thiện,
và con người có thiên tính. Như vậy
con người phải được cai trị bằng nhân nghĩa. Tuân
tử cho rằng nhân chi sơ, tính bản ác.
Như vậy phải cai trị bằng võ lực. Phật giáo xác
quyết nhân chi sơ, tính bản thiện và con
người có Phật tính.
St. Paul cho rằng con người đã bị Adam làm cho trở
nên tội lỗi, và St. Augustine cũng
chủ trương như vậy, tức là nhân chi sơ, tính bản
ác. Thế là từ đấy Âu châu bị nhồi sọ như
vậy.
Tuy nhiên, Kinh Thánh lại chép rằng vì ăn trái cấm
con người đã trở nên giống Thiên
Chúa [Ge 3:22] chứ có sa đọa gì đâu.
Vả lại theo Thiên Chúa giáo, ngày nay, muốn sạch
tội tổ tông, chỉ cần đổ chút nước lên
đầu hay dầm mình xuống nước, có khó khăn gì đâu mà
Chúa Cha phải cho con giáng trần
chuộc tội đó. Nếu cho rằng con người cần được thử
thách trước mới đáng được vinh
quang, thì cần chi Ngài phải dựng nên con người, để
rồi đày đọa họ như vậy.
Người Do Thái chủ trương họ là những người được
Thượng đế trao cho bộ Kinh Thánh
đầu tiên. Nhưng họ cho rằng không làm gì có thứ tội
bị Chúa phạt muôn đời. Trong sách
Deuteronomy, Chúa chỉ phạt tới ba đời [De 5:9] và
trong sách Ezechiel [Eze 18:20] Chúa
không phạt con, nếu cha phạm tội, ai làm tội nấy
chịu, nghĩa là chỉ phạt một đời. Trong
đoạn này, Chúa còn định nghĩa thế nào là một người
công chính, ngay thẳng trước mặt
Thiên Chúa, như vậy rõ ràng Chúa không biết gì về
tội tổ tông [Eze 18:5-32].
Thực ra con người sau khi ăn trái cấm đã không sa
đọa như chúng ta tưởng, vì chính
Chúa Elohim đã phán: "Nay con người đã nên bằng
chúng ta, vì đã biết lành biết dữ. Vậy
đừng để chúng dơ tay, hái luôn cả trái cây hằng
sống, và sẽ sống mãi" [Ge 3:22]. Và Ngài
đuổi ông bà ra khỏi vườn, để không còn tìm ăn trái
cây hằng sống [Ge 3:23].
Như vậy, nếu ông bà khôn ngoan hơn một chút ăn luôn
quả cây hằng sống thì đâu có
chết.
Điều vô lý trong câu chuyện này là con rắn biết nói
[Ge 3:1]. Chỉ trong những chuyện
hoang đường thần thoại mới có chuyện loài vật biết
nói. Giáo hội cho đó là ma quỉ hay
Satan. Các Ngài cho đó là những thiên thần bị sa
đọa. Nếu quả chuyện này là có thật thì
đã ghi chép trong Kinh Thánh. Vậy các Ngài đã đặt
ra chuyện này, thời xin cho biết đã
dựa vào tài liệu nào? Các Ngài cho đó là lời truyền
khẩu chăng? Thật là phi lý.[2]
Như vậy, chuyện thiên thần sa đọa thành ma quỉ là
chuyện hoàn toàn bịa đặt. Các Ngài
cho rằng Satan bị Chúa giam trong hỏa ngục đời đời,
bị lửa thiêu đốt đời đời, không bao
giờ được thấy mặt Chúa. Nhưng sách Job ghi rõ rằng
Satan vẫn về họp với Chúa và các
con Thiên Chúa. Và khi Chúa hỏi Satan vừa qua làm
gì thì Satan thưa đi chu du, rong
chơi thiên hạ. Sau đó Chúa cho Satan đọa đày và thử
thách Job [Job 1: 6-12]. Thì ra chuyện thiên quốc cũng như chuyện gian
trần ta, các siêu cường thường vẫn họp kín họp hở với nhau, trong khi
dân con phía dưới được dạy là phải đánh nhau vỡ đầu thí mạng...Thì ra
Satan đâu có bị giam cầm trong hỏa ngục, vẫn đi chơi khắp nơi, vẫn
thường xuyên gặp Thiên Chúa. Như vậy có phải Giáo hội dạy một đàng, mà
Chúa lại làm một nẻo không?
Hơn nữa, tội là của linh hồn. Mà Thiên Chúa giáo
cho rằng linh hồn là do Chúa sinh ra
khi con người vừa mới thụ thai. Như vậy mỗi khi con
người vừa bẩm sinh là Chúa dựng nên một linh hồn mới. Thế thì làm sao mà
in được tội tổ tông vào. Hơn nưã cái gì chính
Chúa tạo nên thời phải hoàn thiện, cho nên tội tổ
tông sẽ không chỗ bám.
Trở lại vấn đề tội tổ tông, ta thấy đây chỉ là vấn
đề triết học, suy luận về thân thế con
người. Thánh hiền [Phật, Lão, Khổng] cho rằng bản
tính con người vốn tốt, sở dĩ nó xấu
là vì vô minh, u muội không nhận ra rằng mình có
thiên tính cao sang. Còn hạ trí, hạ
nhân [Tuân tử] mới cho rằng con người vốn xấu.
Pelagius [-420] người đồng thời St. Augustine [354-430], và sau này
Jean-Jacques Rousseau [1712-1778] là người chủ xướng nhân chi sơ, tính bản thiện, và con
người là một con người đáng kính trọng. Quyền cai trị là do dân, chứ không do trời. Và
sau đó xảy ra Cách Mạng 1789, lật đổ thần quyền, vua chúa. Các Giáo hội mới đầu cho rằng
Jean-Jacques Rousseau là một kẻ điên khùng, nhưng nay cũng phải chịu rằng dân
chủ là hay nhất.
Pelagius vì chủ trương nhân chi sơ
tính bản thiện đã bị hai Công đồng North African
Synods of Mileve và Carthage cho là rối đạo năm
416. Sau đó cũng bị các Giáo Hoàng
Innocent I và Zozimus lên án như vậy. Pelagius là
một thầy dòng người Anh có tiếng là
giỏi giang nhân đức. Ông buồn vì thấy người Công
giáo thời ấy sống sa đọa, và ông
muốn tìm cách chấn chỉnh lại.
Như vậy rõ ràng Công
giáo chủ chương nhân chi sơ, tính
bản ác.
Thật là thương hải biến vi tang điền. Chuyện đời
dâu bể là thế đó. Giáo hội trước lớn
tiếng cho rằng quyền lực thế gian là do Thượng đế,
vì vậy xưa các Giáo Hoàng đòi phong
vương, phong đế, nay thì các Ngài lại chính là
những người lớn tiếng nhất bảo vệ nhân
quyền.
Công giáo mừng vì nhờ có tội tổ tông nên Chúa mới
giáng trần. Trong quyển Bước qua
ngưỡng cửa hy vọng, Giáo Hoàng John Paul II đã
nhiều lần ca tụng tội tổ tông: O felix
culpa, quoe talem ac tantum meruit habere
Redemptionem [ôi! cái tội hồng phúc đã có
công đem lại chúng ta Đấng Cửu Thế cao cả biết bao]
[3]
Theo tôi, tội tổ tông là một vấn đề không tưởng, do
Công giáo [nhất là St. Paul và St.
Augustine] bày đặt ra. Nó không ăn nhằm gì đến vấn
đề mặc khải, hay đạo giáo, mà chỉ
là một vấn đề triết học. Chúa cũng chẳng giáng trần
vì một tội không tưởng.
Tôi thấy Công giáo làm phép Rửa Tội, để tha tội tổ
tông thật là dễ dàng. Như vậy cần gì
Chúa giáng trần. Tôi không tin có chuyện Chúa giáng
trần chuộc tội thiên hạ. Theo tôi ai
làm tội, người ấy chịu phạt. Chúa không thể chịu
phạt thay tôi. [Eze 18:4].
Từ khi Chúa giáng trần tới nay 2000 năm, tôi chỉ
thấy nhân loại xấu hơn, sa đọa hơn.
Tôi
nhìn vào người Công giáo, thật tôi không thấy họ có
đặc điểm gì khác người các đạo
khác.
Tôi rất sung sướng, vì sinh ra đời mà không biết
tội tổ tông, chỉ thấy rằng căn cốt con
người là hết sức đẹp đẽ tốt lành. Nói rằng nhân chi
sơ tính bản thiện là quá đúng. Trời là
bản thể con người và muôn vật, cho nên cái xấu chỉ
là những gì giả tạo, bám ngoài con
người mà thôi.
Nichiren Daishonin [1222-1282], người sáng lập Nhật
Liên Tông ở Nhật viết "...Khi mê
thì là chúng sinh, khi ngộ thì là Phật. Một cái
gương tuy mờ, nhưng sẽ sáng ra như ngọc
châu, nếu được chùi mài. Một tâm hồn hiện nay bị
mây mờ si đốn vì những sai lầm bẩm
sinh thì như một chiếc gương mờ, nhưng một khi đã
được chùi mài, sẽ tỏ rạng và phản
chiếu chân lý bất biến. Hãy có niềm tin và hãy ngày
đêm chùi rửa gương lòng quí vị.
Làm sao chùi rửa tâm hồn. Hãy niệm Nam-myoho-renge
kyo." [Nam Mô Diệu Pháp Liên
Hoa] [4].
Thật là:
Lơ thơ, chùa rách giữa đàng,
Ai hay lại có Phật vàng ở trong.
Chúng ta cũng không quên chủ trương nhất thiết
chúng sinh giai hữu Phật tính của Phật
giáo.
Chương 2 - Mạc Khải.
Mạc khải, tiếng Hi Lạp là Apokalypsis, tiếng Anh là
Revelation, tiếng Latin là Revelatio,
tiếng Đức là Offenbarung, nghĩa là vén màn cho thấy
những gì xưa kia bị giấu ẩn. Công
giáo hiểu là:
a. Chúa tự động cho ta biết rằng Ngài có thực, biết
về bản tính Ngài, biết về sự hiện diện
Ngài, thấy Ngài là nhân hậu, toàn năng.
b. Chúa cho biết mục đích của Ngài, và những gì
Ngài muốn qua những sự kiện lịch sử
đã xảy ra, như lịch sử dân Do Thái, như cuộc đời
Chúa Giêsu.
c. Những điều Ngài truyền dạy đã ghi chép trong
Thánh Kinh, và đó là chân lý và là điều
hay, lẽ thật.
Mạc khải đã được truyền cho các tông đồ, các Giám
Mục, Giáo hội, cho những người có
bổn phận giảng giáo.
Chỉ có Giáo hội mới được mạc
khải hoàn toàn, và không còn mạc
khải nào khác nữa. Cá nhân có thể được mạc khải, và
có khi được Giáo hội công nhận,
nhưng chúng không ăn nhằm gì đến đức tin.[5]
Giáo hội phạm nhiều sai lầm trong vấn đề này.
Trước hết ta nên phân biệt, mạc khải là do Trời
truyền. Còn người được mạc khải là
người giác ngộ.
Chúa Giêsu là một người được mặc khải, nhưng đạo
Công giáo không phải là đạo mạc
khải. Nguyên chuyện thân phận con người hết sức là
sang cả, mà Công giáo cũng không
biết, lại luôn cho rằng con người là xấu xa vì đã
phạm tội tổ tông.
Tôi đọc Kinh Thánh cũ
hay Cựu Ước, không bao giờ thấy Thượng đế đả động
đến tội tổ tông. Chẳng lẽ Ngài đã
quên chuyện tày trời đó.
Công giáo không biết rằng con người phải đi vào nội
tâm mà tìm Chúa. Công giáo không
biết rằng con người có thể có tầm kích như Chúa
Giêsu, mặc dầu St. Paul có dạy rõ ràng,
nhưng Công giáo không hề biết khai thác [5b].
Công giáo cũng không biết rằng Chúa đã ngự ngay
trong tâm hồn mọi người, và nước
Trời đã ở sẵn trong lòng mọi người. Công giáo nói:
Christianus alter Christus [Người
Công giáo là một Chúa Giêsu khác], nhưng không hề
khai thác, áp dụng.
Chính vì thế mà
Công giáo có phép Thánh Thể để đem Chúa vào lòng
con người dù là dăm ba phút...
Nếu quả thật, chúng ta là những Chúa Giêsu khác,
thì cần gì còn phải rước Chúa vào
lòng.
Công giáo không biết rằng mạc khải là vén bức màn
vô minh lên cho con người thấy bản
thể sang cả của mình, cho con người thấy rằng mình
có bản thể thần linh, chứ không phải
là một kẻ xấu xa, hèn hạ như Công giáo tưởng.
Tôi không hiểu tại sao một đạo lớn như vậy mà một
điều sơ đẳng thế mà cũng không biết.
Giác ngộ và mạc khải không phải là của tư hữu của
cá nhân hay đoàn thể, mà thời đại nào
cũng có vài người được diễm phúc này. Giác ngộ là
một ân sủng cá nhân, không truyền
cho ai được.
Lữ Đồng Tân viết:
Đạo tặc chẳng cướp được,
Hỏa thiêu vẫn y nguyên.
Ở đời không kẻ biết,
Chí thân cũng không truyền.
Đạo Công giáo trong 2000 năm qua, chỉ có khoảng 100
người giác ngộ như St. Paul, như
Eckhart, như Tauler, như Suso, như St. John of the
Cross, như Ste. Teresa of Avila v.v...
Các vị thánh hiền trên thường không có đệ tử.
Nho giáo cũng có khoảng vài chục người như Khổng,
Mạnh, Trình tử, Vương dương
Minh, Lục tượng Sơn v. v...Phật giáo có các tổ
thiền như Huệ Năng, Mã tổ v.v... Bà La
Môn, phái Kaballah của Do Thái, phái Sufism của Hồi
giáo v.v... cũng đều có các vị hiền
thánh như vậy.
Dù là Giáo Hoàng, hay Giám Mục nếu không được giác
ngộ cũng chỉ là kẻ phàm phu tục
tử mà thôi. Giáo Hoàng hay Giám Mục chỉ là những
người có khả năng lãnh đạo, những
chính trị gia, chứ không phải là những nhà thần học
hay triết học. Linh Mục cũng chỉ là
những người bình thường, chẳng có gì là thần thánh.
Giáo dân tâng bốc họ lên mà thôi,
chứ trong hàng ngũ LM ta thấy có rất ít người giỏi
giang, siêu việt.
Không làm gì có chuyện mạc khải chung cho Giám Mục,
cho Giáo hội , v. v...Không làm
gì có chuyện mạc khải công cộng, cho quần chúng.
St. Paul, cho rằng tuy ngài sinh sau đẻ muộn, nhưng
tài năng hơn các tông đồ khác [2Co
11:5-6]: ngài chê các tông đồ khác không có tài
giảng đạo [2Co 10:15-17, ngài cho rằng
mình hơn các tông đồ khác, và không thèm lấy tiền
của dân v.v. [2Co 11:21-23, 2Co
13:11-15]. Trong thư gửi cho giáo hữu Galates, ngài
cho biết không học hỏi gì với các
tông đồ [Ga 1:15-22], và đã nặng lời chê bai St.
Peter [Ga 2:11-14], và cho rằng Phúc âm
ngài giảng là Phúc âm duy nhất [Ga 1:8-10]
v.v...Như vậy, ngài có học được gì nơi Chúa
Giêsu đâu. Hay nhất là chính St. Paul mới là người
sáng lập ra đạo Công giáo, chứ không
phải Chúa Giêsu.
Tóm lại, giác ngộ [enlightenment] là thần con người
thông đạt được với thần vũ trụ, tiểu
ngã con người kết hợp được với Đại Ngã vũ trụ, và
nhận thấy mình và trời đất là cùng
một thể. Khẩu quyết của Bà La Môn là Tat Tvam Asi,
Con là Cái Đó, nghĩa là con chính
là đồng thể với Thượng đế.
Giáo lý Công giáo rõ ràng không hay biết điều này.
Cho rằng Chúa đã thủ thỉ cho con
người hay biết tâm tư mình qua Kinh Thánh là điều
mà hiền thánh Á Đông không bao giờ
chấp nhận. Khổng tử đã nói: Trời có nói gì đâu, thế
mà bốn mùa cứ vần xoay mãi, vạn
vật trong vũ trụ cứ sinh hóa mãi. Mà Trời có nói gì
đâu? [Luận Ngữ XIX, 18].
Chương 3 - Chúa Ba Ngôi.
Trước hết ta nên biết Chúa có nhiều tên, ít nữa là
bảy tên sa đây:
a. Yahweh, chính ra là YHWH. Tên này vì không có
mẫu âm nên không đọc được. Nên
thường phải chua chữ Adonai [Chúa] ở dưới. Đến sau,
người ta mượn ba mẫu âm A-O-I
[hay E] của Adonai mắc vào chữ YHWH thành Jehovah.
Jehovah được nhắc đến trong
Thánh Kinh 6.832 lần.
b. Adonai.
c. Elohim được nhắc đến 3.350 lần.
d. Đôi khi ta còn thấy tên El Eliyon, biến dạng của
Elohim.
e. Shaddai. Được nhắc tới 301 lần.
f. Lord Sabaoth [Chúa các Đạo binh].
g. Trong Kinh Thánh mới Yahweh được gọi là Kyrios
[Lord].
Thánh Kinh coi Chúa là đấng thô bạo, hay giận, hay
báo thù, hay ghen, yêu chuộng hòa
bình và đấng tối cao.[5d]
Thiên Chúa giáo chủ trương Chúa Ba Ngôi. Do Thái
giáo, Hồi giáo chủ trương Thượng
đế là duy nhất.
Kinh Thánh cũ hay Cựu Ước [Old Testament] bảo:
Này
đây, lời Yahve, vua Israel, đấng
Cứu Chuộc Israel, Yahve các đạo binh. Ta là đầu, là cuối. Ngoài ta ra không có Chúa nào khác. Ai là người giống ta, hãy
đứng lên nói xem...[Isa 43:6-7]. Chính ta YAHVE, đã làm nên tất cả. Ta một mình căng
trời, bện đất. Nào có ai đã giúp ta? [Isa 44:24] Và các ngươi hiểu rằng chính là Ta. Trước
ta, không có Chúa nào và sau ta, cũng không có Chúa nào. Chính ta là Yahve, không có
đấng cứu rỗi nào ngoài ta. Không ai có thể cứu khỏi tay ta. Ta làm thì không ai có thể
kháng cáo [Isa 43:11-13. Ta là Yahve, ngoài ta ra không có Chúa nào khác [Isa 45:5]. Chính
ta là Yahve, ngoài ta ra, không còn có Chúa nào khác. [Isa 45:2] Hãy quay về với
ta, từ múi cùng mặt đất, vì ta là đấng chẳng ai bằng [Isa 45:22]. Chính Ta là Yahve, vinh
quang của ta, ta sẽ không ban cho người khác, hay cho các thần tượng vinh dự ta.
Chúa nói vậy, thì làm gì có ngôi
hai, ngôi ba? Tôi là kẻ ít học, nhưng đọc những lời Chúa phán rõ ràng như trên, thì không
sao mà còn dám tin Chúa Ba Ngôi nữa.
Kinh Coran Hồi giáo ghi:
Nhân danh
Chúa rất nhân từ, hãy nói: Thượng đế là duy nhất, là tuyệt đối, Ngài không sinh ra
ai, và cũng chẳng ai sinh ra Ngài, và không ai bằng Ngài
[Coran, Sourate 112]. Và họ nói:
Chúa có con nuôi. Chúa Ngài thanh tịnh. Không. Nhưng mọi sự trên trời,
dưới đất đều là của Ngài. Mọi sự đều phục vụ Ngài.[Coran, Sourate 2,
116.] Jesus Christ, con bà Maria,
chỉ là một sứ giả...chớ nói Ba Ngôi. Đừng nói vậy, sẽ
hay hơn. Chúa là đấng duy nhất. Vậy
thôi. Chúa có con! Chúa Ngài thanh tịnh. Cả trời
đất đều thuộc về Ngài... [Coran,
Sourate 4, 171] Chỉ những kẻ vô tín ngưỡng mới nói:
Thượng đế chính là Chúa Giêsu, là
con bà Maria. Chúa Giêsu nói: Hỡi con cháu Isarael,
hãy thờ lạy Chúa, Chúa tôi và Chúa
các anh [Coran, Sourate 5, 74] v.v...
Như vậy, Hồi giáo không tin Chúa
Giêsu là một ngôi trong ba ngôi, không tin Ngài là
Thượng đế, mà chỉ là một sứ giả,
nhưng thua Mahomed.[6]
Thánh Kinh mới hay Tân Ước [New
Testament] ghi lại lời Chúa Giêsu nhận xét về chính
Ngài: Lời ta dạy không phải là của
ta, mà là của đấng đã sai ta. Ai muốn làm theo ý Ngài
sẽ thấy lời ta dạy là của Ngài, chứ
không phải là của ta [Joh 7:16-18]. Cha ta luôn làm
việc và ta cũng vậy [Joh 5:17], vì
Cha ta hơn ta[ Joh 14:28], sao ngươi nói ta tốt lành?
Không có ai tốt lành, trừ phi Thiên
Chúa [Mr 10:18, Lu 18:19]. Chúa là Chúa thật sự, và Giêsu Christ, là sứ giả Ngài [Joh
17:3]. Lạy Cha, sao cha bỏ con [Mr 15:34]. Lạy Cha con xin phó linh hồn con trong tay
Cha [Lu 23:46], Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin đừng bắt con uống chén này, nhưng xin
Cha đừng cứ ý con, mà xin cứ ý Cha thi hành. [Lu 22:42]. Kẻ nào thắng ta sẽ cho ngồi
cùng ta trên tòa ta, cũng như khi ta thắng, đã ngồi cùng Cha ta trên tòa ta. Ai có tai
thì hãy nghe lời Thần Chúa nói. [Re 3:21-22].
Như vậy Chúa Giêsu không bao giờ
dám xưng mình là Thượng đế, không dám nhận mình là tốt, và luôn gọi Thượng đế
là đấng đã sai mình, là đấng hơn mình, thì làm sao mà Ngài bằng Thượng đế cho được. Chẳng
lẽ lời nói là để hiểu ngược lại. Và nếu ai thắng, Ngài đã dám mời lên ngồi cùng tòa
với Ngài, thì chắc là xưa nay đã có người làm được như vậy. Thế thì Ngài còn gì là độc
tôn nữa. Khi gần chết, Giêsu Christ thấy cô đơn, nên mới kêu: Sao cha bỏ con. Và khi
chết, Ngài phó linh hồn trong tay Chúa Cha, như vậy Ngài làm sao bằng Đức Chúa Cha
được?
Vấn đề Chúa Ba Ngôi còn đi ngược
lại với triết học. Trong thế giới này có một nền triết học rất cao siêu. Á châu gọi thuyết
này là thuyết Thiên Địa Vạn Vật Đồng Nhất Thể. Âu châu gọi là Thuyết Phóng Phát
[Emanation theory]. Thuyết này chủ trương vạn vật đều có chung một bản thể như nhau, biết
điều này là giác ngộ, không biết điều này là vô minh, là chúng sinh. Biết mình có
chung một bản thể với Trời, và biết đường tu luyện sẽ trở về hợp nhất với Trời. Đó là
Phối Thiên [Trung Dung 26, Đạo Đức Kinh 68], là Niết Bàn. Phật giáo và Bà La Môn giáo
gọi Niết Bàn là: Diệt hết mọi hình tướng, phối hợp với
Thượng đế.[7]
Trong sách Deuteronomy, Chúa xưng mình Ta là bản
thể [YHWH= I am he who is, or I
am who Am or I am who I am] [7b] [Catechismus of
the Catholic Church p. 56].
Trong vạn hữu, cái gì biến thiên là hiện tượng, là
vọng tâm. Cái gì bất biến là bản thể, là chân tâm, là Niết Bàn. Như vậy Niết
Bàn là diệt hết mọi hình tướng, mọi hiện tượng biến thiên, là trở về với Thượng đế, với
chân tâm, cho nên Thượng đế chính là chân tâm của ta.
Cho nên, muốn tìm cho ra Thượng đế,
phải tìm Ngài trong cái gì bất biến, chứ không phải là trong cái gì biến thiên.
Ngài không thể tách rời khỏi vạn hữu, vì ta và tha nhân chính là Ngài, vì vũ trụ chính là
Ngài.
Thuyết này đã bị Công giáo phi bác
vì cho là Tà đạo. Pie IX, trong Tập Kỷ Yếu Tà Thuyết [Syllabus] ra ngày
08/12/1864 đã phi bác thuyết này: "[Nếu ai cho rằng] Không làm gì có đấng Thượng đế quan phòng
tối cao tách rời vũ trụ. Chúa và vạn hữu là một, và như vậy Ngài có thể biến thiên.
Thật ra Ngài đang biến hóa trong con người và trong vạn hữu. Vạn hữu là Ngài và có cùng bản
thể như Ngài. Ngài và vũ trụ là một chứ không hai." Và "Nếu ai nói rằng Chúa và
muôn loài có cùng một bản thể, và vạn vật hữu hình hay vô hình hay ít là vô hình đều
phóng phát ra từ bản thể Thượng đế. Và bản thể Thượng đế hóa thành vạn vật bằng
cách hiện thân hay biến hóa bản chất Ngài, hoặc cuối cùng ai cho rằng Chúa là tất cả, là
phổ quát nhưng vô định đã hiện thân thành vũ trụ rồi vũ trụ lại phân hóa thành giống
nòi, chủng tộc, hay cá nhân, kẻ ấy bị tuyệt thông."[8]
Tuy nhiên, thuyết Thiên Địa Vạn Vật
Đồng Nhất Thể đã được hiền thánh Á Đông Bà La Môn, Phật, Lão, Khổng chấp nhận. Bộ
Kinh Dịch cũng theo chủ trương này. Các mật tông mật giáo Âu châu cũng theo
thuyết này và gọi đó là Thuyết Phóng Phát. [8b].
Sở dĩ Âu châu phải nấp sau bình phong các mật tông
vì sợ các Tòa Hình Án Công giáo.
Các mật tông mật giáo nói trên là Kaballa,
Christian Gnosticism, Jewish Gnosticism, Neo-Platonism, Neo-Pythagoreanism, Hermeticism,
Freemasonry, Rosicrucianism,
Alchemy, Tarot, Astrology v.v... Một người có công
khai thác và nâng đỡ các mật tông,
mật giáo nói trên là Cosimo de Medici [1389-1464],
dòng họ Medici cai trị Florence từ
thế kỷ 14 cho đến năm 1737.
Như vậy rõ ràng chân lý chỉ có một, không phân
Đông, Tây.
Tiếc rằng Công giáo đã cố
chấp không nhận mình là sai.
Nói vậy tức như nói nhất thiết chúng sinh giai hữu
Phật tính, và con người rốt ráo ai cũng
thành Trời, thành Phật được. Quan niệm ai cũng
thành Trời, thành Phật không phải
Thánh Kinh không có, nhưng dở cái là Giáo hội không
bao giờ chịu khai thác. Chẳng
hạn Chúa Giêsu nói: Ước gì mọi người trở nên một. Như Cha, Cha ở trong Con, và Con ở
trong Cha, ước gì chúng cũng nên
một với chúng ta [Joh 11, 21].
Upanishad viết: Ngài ẩn thân trong
vạn hữu, mà Đại Ngã không để Ngài hiển lộ ra,
nhưng các bậc thấu thị, những khối
óc tinh tế tuyệt vời, đã thấy điều đó. Ai biết điều đó
sẽ thoát tử vong[9].
Báo Los Angeles Times, ngày thứ
Năm, 19/08/1995, mục quảng cáo về University
Synagogue của Do Thái giáo, nhận
định về Thượng đế như sau: Chúng tôi tin Thượng đế
là thần linh nội tại trong ta và
trong vũ trụ. Thần linh đó giúp ta trở nên những con người
biết thương yêu lo lắng cho mọi
người, năng lực nội tại đó, chúng ta cảm thấy được, bằng
suy tư, bằng kinh nghiệm và bằng
linh giác chúng ta, năng lực nội tại ấy thúc đẩy ta hoàn
thiện bản thân, và ăn ngay ở lành.
Chúng ta tìm thấy Chúa trong khi tìm hiểu về chính
mình, trong khi lo cho mọi người
sống ngay lành, và lo cho mình sống như một người Do
Thái.[10].
Tôi rất thích định nghĩa
trên về Thiên Chúa. Và thấy rằng nếu ta không hiểu chính mình
thì làm sao hiểu được Thượng đế.
BA ĐIỀU SUY NGHĨ RIÊNG TƯ
1. Chúa Thánh Thần.
Thánh Kinh chép:
a. Đức Mẹ sinh Chúa Giêsu là do quyền phép Chúa Thánh Thần.
b. Ngài lên rừng ăn chay là do Thánh Thần hướng dẫn.
c. Thánh Thần hiện ra trên đầu Ngài, như con chim bồ câu, khi Ngài chịu phép rửa.[9b]
Như vậy là khi Chúa Giêsu giáng trần, Ngài hoàn toàn không biết gì về chuyện đó, và
không tham dự vào chuyện đó, chuyện đó hoàn toàn do Chúa Thánh Thần. Ngài lên rừng
ăn chay cũng là do Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Lúc chịu phép rửa là lúc Chúa Thánh
Thần nhập vào Ngài và làm cho Ngài trở nên giác ngộ. Như vậy, thì Chúa Thánh Thần
phải là Cha Ngài, vì đã cùng với Đức Mẹ sinh ra Ngài, hay ít ra cũng cao siêu hơn Ngài,
vì đã hướng dẫn Ngài. Như vậy tại sao lại là Ngôi Ba sinh bởi Chúa Cha và Ngài, và làm
sao Ngài có thể sai Chúa Thánh Thần được?
Giáo phái Unitarian Universalist chủ trương Chúa có một ngôi, và Giáo Chủ đạo này là
Servetus [1511-1553] đã bị lên giàn hỏa ở Genève 1553. Môn phái này đã có những giáo
hữu lỗi lạc như Isaac Newton, như R. W. Emerson, W.H. Channing. Đó là một đạo giáo
cởi mở nhất ở Mỹ này. Tôi có đến dự vài Chủ Nhật tại trụ sở nằm cuối đường Victoria,
Costa Mesa. Nhưng thấy rằng đường lối tuy cởi mở, nhưng trình độ hiểu biết về chân đạo
còn rất là ấu trĩ [vì tôi chưa gặp được những bậc đạo cao, đức cả của Giáo hội này], nên
tôi không tới nữa.
2. Tước Hiệu Con Thiên Chúa.
Trong Kinh Thánh, tước hiệu Con Thiên Chúa được thấy ở nhiều nơi, dùng cho nhiều
người và nhiều người tự nhận mình là Con Thiên Chúa.
Chúa Giêsu nhận mình là Con Thiên Chúa, nhưng David, Salomon, vua xứ Tyr, vua
Cyrus cũng nhận mình là Con Thiên Chúa nữa.[9c] Chưa kể là chính Satan cũng được
gọi là Con Thiên Chúa [9d]. Và các thư của St. Paul cũng cho rằng con người có thể trở
thành Con Thiên Chúa.[9e]
Như vậy ai sẽ là Con Thiên Chúa, theo Thánh Kinh? Thưa là những con người lãnh đạo
[David, Salomon] hay những con người hoàn thiện.
Và tôi không hiểu sao Con lại hoàn toàn bằng Cha, và trong các Con Thiên Chúa kể trên
ai là con thật, ai là con giả?
3. Chúa Sống Lại.
Công giáo cho rằng Ba Ngôi hoàn toàn bằng nhau. Nhưng Chúa Cha và Chúa Thánh
Thần thời không có xác. Chúa Giêsu lại có xác. Vậy ai sẽ hơn ai. Á Đông cho rằng cái
xác này chỉ là "cái thân tứ đại giả hợp", chỉ là cái gì hôi thối [xú bì nang], thì làm sao tồn
tại với thời gian được? Không thể nói Chúa phép tắc làm gì cũng được. Mã đơn Dương
viết:
Thành tiên chỉ thị thần quang,
Thiên cung vô dụng xú bì nang.
Dịch:
Thành tiên âu chỉ cốt thần quang,
Thiên cung xá kể cái xác phàm.
Đó là những suy tư lẩm cẩm của tôi, mong các vị cao minh chỉ giáo.
Một điều tưởng cần nhớ là Michael Servetus, người Tây Ban Nha [1511-1553] là người
chống lại những chuyện như Chúa Ba Ngôi, Chúa Giêsu có hai tính, và chuyện rửa tội
cho trẻ con. Servetus bị tòa Hình Án Công Giáo Lyons kết án nên trốn sang Genève. Ở
đó, ông bị Calvin cho lên giàn hỏa, ngày 27/10/1553. Nay Giáo hội Unitarian vẫn coi ông
là Giáo Chủ.
Chương 4 - Chúa Giêsu Xuống Thế Chuộc Tội Thiên Hạ.
Như trên tôi đã không chấp nhận tội tổ tông, nên nay cũng không chấp nhận Chúa đã
xuống thế chuộc tội thiên hạ.
Quyển Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng đã nói khá nhiều về ơn cứu rỗi và trả lời những vấn
nạn như:
a. Việc đức Kitô hy tế nhằm cứu chuộc nhân loại có cần thiết không? [tr. 72-75.]
b. Tại sao nhân loại cần được cứu rỗi? [tr. 76-80].
c. Phải chăng tất cá thế giới sẽ được cứu độ? [tr. 90-97].
d. Ngoài Công giáo không có ơn cứu độ sao? [tr. 149-155].
Tôi đọc những lý luận của Giáo Hoàng, thấy lòng tôi không hề có chút rung cảm nào.
Tôi đọc các câu Cựu Ước sau đây mà sợ: Và các ngươi hiểu rằng chính là Ta. Trưởc ta
không có Chúa nào, và sau Ta cũng không có Chúa nào. Chính ta là Yahve, không có
đấng Cứu Rỗi nào ngoài ta. Không ai có thể cứu khỏi tay ta. Ta làm thì không ai có thể
kháng cáo. [Isa 43:11-13]. Ta là Yahve, ngoài ta ra chẳng có ai bằng. [Isa 45:5]
Nếu Yahve đã phán quyết là không có Đấng Cứu Thế nào ngoài Người, và không có
Chúa nào khác ngoài Người, thì ta còn băn khoăn vế Đấng Cứu Thế làm gì nữa.
Tôi đi tìm các câu trong Thánh Kinh đế xem có chỗ nào Chúa Giêsu trực tiếp xưng mình
là Đấng Cứu Thế không. Tồi không tìm ra được câu nào. Tôi thấy có mấy câu như Lu
21:28, Mt 20:28, Lu 1:68, Lu 2:38. Trong các câu trên chỉ có câu Mt 20:28: Con người
không đến để được hầu hạ, nhưng là để hầu hạ và thí mạng sống mình làm giá chuộc thay
cho nhiều người. Câu này gần nhất vấn đề ta tìm kiếm. Còn các câu khác nói Chúa lấy
máu mình chuộc tội cho loài người là của St. Paul hết [9f] . Tôi mới hiểu vấn đề Chúa
Cứu Chuộc là của St. Paul đã bày ra.
Đại khái lịch sử ơn Cứu Độ đã được Giáo Hoàng John Paul II toát lược như sau: Lịch sử
ấy khởi đầu với Adam thứ nhất, qua mạc khải về Adam thứ nhì là Đức Chúa Giêsu Kitô
[1Co 15:45] và kết thúc bằng sự viên mãn tối hậu của lịch sử thế giới trong Thiên Chúa
khi Ngài trở thành "tất cả cho mọi sự" [1Co 15:28] [9g] . Nói thế có nghĩa là Thánh Paul
đã cho rằng Chúa xuống thế vì tội tổ tông. Nhưng thực ra Chúa xuống thế cốt là để rao
giảng nước trời.
Cũng nên ghi nhận rằng Kinh Thánh cũ chỉ biết có mấy nước Ai Cập, PhilIsatin, Do
Thái, Assyria, Babylonia, Ba Tư v.v...Còn các châu Á, châu Úc, châu Mỹ v.v... là những
13
Châu mới tìm ra sau năm 1000 thì làm sao quả quyết được rằng Chúa đã biết tôi và muốn
chuộc tội cho tôi.
Hơn thế nữa, Do Thái chỉ có 3 miền nhỏ là Gailea, Samaria và Juda, mà Chúa Giêsu nhất
định chỉ giảng cho xứ Gailea và Judea, chứ không chịu giảng cho xứ Samaria hay chữa
cho người Samaria, một xứ nằm giữa Gailea và Juda, như Kinh Thánh nói rất rõ ràng.
Ngay với dân Samaria mà Chúa còn tỏ ra hẹp lượng như vậy thì làm sao tôi tin được rằng
Ngài đã nghĩ đến dân Việt Nam chúng tôi?
Khi Ngài giảng cho dân Do Thái, Ngài toàn dùng dụ ngôn, để cho họ nghe mà không
hiểu. Chúa nói: Bởi thế mà ta dùng ví dụ nói với họ: vì họ nhìn mà không nhìn, và nghe
mà không nghe, không hiểu và như vậy được nên trọn lời sấm của Ysaya rằng: Các ngươi
có nghe cho lắm mà cũng không hiểu, các ngươi có nhìn lấy, nhìn để, mà cũng không
thấy. Vì lòng dân này đã ra chai lại. Chúng đã nặng tai nghe, chúng đã nhắm mắt lại, kẻo
mắt thấy được, tai nghe được, lòng hiểu được mà trở lại, và Ta lại chữa chúng lành [Mt
13:13-15]. Như nậy đâu Ngài có muốn cứu mọi người.
Chúa nói là đem tin mừng lại cho mọi người [gospel: tin mừng], nhưng tin mừng Ngài
đem lại là phải tin theo Ngài, nếu không sẽ bị trầm luân trong lửa địa ngục đời đời.
Yahve dạy tôi rằng sau cuộc sống này tôi sẽ xuống Sheol, sống vất vưởng qua ngày, đìu
hiu, vô vọng. Tuy Ngài không hứa cho tôi cái gì, nhưng ít là không dọa tôi xuống hỏa
ngục, cho nên tôi thấy theo Yahve, ít ra cũng đỡ lo âu hơn.
Hơn nữa, Chúa Giêsu đoan kết là Ngài không đạy điều gì mà không phải là do Thiên
Chúa mà ra. [John 15:15, John 7: 16]. Cho nên khi thấy tin mừng của Ngài sặc mùi lửa
hoả ngục tôi thấy không mê tin mừng Ngài và tôi thích Sheol hơn. Vả lại Yahve không có
dạy có lửa hỏa ngục, thì chúa Giêsu là Con, lấy cái đó ở đâu ra?
Tôi cũng không chấp nhận, mình làm tội mà lại có người vô cố đến gánh thay cho mình.
Chúa Cha khôn ngoan vô cùng sao lại không nghĩ được kế sách gì hay hơn mà lại phải
đày đọa con mình, bắt con mình chịu cực, chịu khổ như vậy, thì Ngài mới vui lòng hay
sao? Ngài sai Con xuống thế, sao chỉ cho Con Ngài sống có hơn 30 tuổi, rồi bắt phải tử
nạn, thật oan uổng quá.
Chúa Giêsu khổ sở như vậy, mà nay hứa chuộc tội cho tôi, đem hạnh phúc muôn đời đến
cho tôi, làm sao tôi dám tin Ngài cho được.
Có lẽ vì Chúa đã thất bại, khi xuống thế lần thứ nhất, nên Ngài mới nôn nóng xuống thế
lại lần thứ hai trong vinh quang. Tiếc thay là đức Chúa Cha đã không cho Ngài làm
chuyện này, và đã cho thế gian kéo dài thêm nhiều triệu năm nữa.
(mời xem tiếp
Chương 5: Các lời tiên tri. Tin Kinh Thánh là lời Chúa)
GHI CHÚ
1- Thirty years after the Second
Vatican Council added interfaith dialogue to the Roman Catholic agenda,
the changing American religious scene has profoundly altered the
American church's outreach to other religious groups... Real dialogues,
however, is not 87 on the Agenda. The New York meeting are little more
than formal handshades - 15 minute sessions at the residence of Cardinal
O'Connor, the Archbishop of New York, at which the Pope will exchange
greetings with a small number of representatives of other faiths. Los
Angeles Times, Saturday, 30/9/1975, p. B10. 1b- Abbé J. Turmel -
Pourquoi J'ai donné congé aux dogmes, Éditions de l'idée libre, Herbley,
Seine et Oise, 1935.
2- Catechismus of the catholic
church - The Fall of the Angels, pp. 98-99.
3- John Paul II - Crossing the
threshold of hope, Alfred A. Knopf, New York, 1994, p. 21. Bản dịch
tiếng Việt: Bước qua ngưỡng cửa hi vọng, Thăng Tiến, 1995.
4- "...When delute, one is called
a common mortal but once enlightened, he is called a Buddha. Even a
tarnished mirror, will shine like a jewel if it Isa polished. A mind
which presently is clouded by illusions originating from the innate
darkness of life, is like a tarnished mirror, but once it is polished,
it will become clear, reflecting the enlighment of immutable truth.
Arouse deep faith and polish your mirror night and day. How should you
polished it? Only by chanting Nam-myoho-renge-kyo." The life of Nichiren
Daishonin, Revised, Nichiren Shoshu International Center, 1-33-11
Sendagaya, Shibuyaku, Tokyo 131, 1980, p. 14.
5- Catechismus of the catholic
church p. 23.
5b- Ro 7:14-29, Eph 4:13 5d- He is
ruthless, wrathful, vengeful, jealous, peace-loving- but above all, he
is almighty. Manfred Barthel - What the Bible really says, translated
and adapted by Mark Howson. Wings books, New York, 1980, p. 29. Ib. p,
28.
6- For Mohammed's very intense
conviction, the unity of God-absolute and unqualified- Isa the
foundation of all true religious faith. Hence, the Christian doctrine of
the Trinity. This bizarre idea of the three Gods in one- seemed to him a
blasphemous error, it is a covert form of polytheism, however disguised.
It is very unseemingly to believe of God that He should beget a son.
[Edwin A Burtt - Man Seeks the Divine, p. 455].
7- Soderblom Nathan - La vie
future d'après le Madzéisme, Ernest Leroux éditeurs, 28 Rue Bonaparte,
đoạn nói về Nirvana.
8- There is no supreme, all-wise,
and all-provident Godhead distinct from this universe. God is identical
with nature and consequently subject to change. God is actually in the
process of becoming, in man and in the world. All things are God and
have the very substance of God himself. God and the world are one and
the same thing... Jesuit Fathers of Saint Mary's college - The Church
teaches, Saint Mary's Kansas 1955, p. 150. - If any one says that finite
things, both corporal and spiritual, or at least spiritual, emanated
from the divine substance, or that the divine essence becomes all things
by a 88 manifestation or evolution of itself, or finally, that God is
universal and indefinite being which by determining itself makes up the
universe which is diversified into general species, and individual, LET
HIM BE ANATHEMA. Ib.p. 153.
8b- Nguyễn văn Thọ - Thuyết thiên
địa vạn vật đồng nhất thể, tạp chí Hoa Sen số 25 và 26, Garden Grove,
California.
9- Though hidden in all things,
The World Soul shines not forth, Yet is seen by subtil seers, Of
superior, subtil intellect. [Katha up. 3.12] By discerning that one is
liberated from the mouth of death [Ib. 3.15]. Tarot revelations,
Introduction by Colin Wilson, Vernal Equinox Press, 1982, p.24.
9b- Mt 1:18-20, Lu 1:35, Mt 4:1,
Lu 4:1, Joh 1:32.
9c- Gen 6:1-4, Wisdom, 2, 18,2,
13-19?, De 22:8-10, như David, Ps 89:20-30, như Salomon [2Sa 7:15-16],
vua xứ Tyre [Eze 12?:1-2, và 28:11-16], vua Cyrus [Isa 14:1] Chúa Giêsu
[Mt 3, 17, 4: 3-6, 8, 29, 14, 33, 16, 16, 17, 5, 26, 63, 27, 54. Mr 1,
11, 5, 7, 14, 61, 62. Lu 1: 32-35, 3, 22, 4, 41, 9, 35, 22, 70. Joh 1,
34, 1, 49, 3, 16, 18, 5, 25, 9, 35, 10, 10, 36, 19, 7, 20, 31, Joh 5,
25, 5, 18 9, 35-37, 10, 36 và Mr 14:61-62 v.v...
9d- Job 1:6-12 9e- Ga 4:7, Ro
8:14, Ro 8:29, Ro 8:19 v.v...
9f - Ro 3:24, 8:23, Eph 1:7, 1Co
1:14, 1Tim 2:6, Heb 9:15, 11:15, 9:12.
9g- John Paul II - Bước qua ngưỡng
cửa hi vọng, tr. 79.
10- We believe that God is the
spirit within us, and within the universe, that help us become loving
caring people, that power within us, that we perceive with raison,
experience and intuition, that urges us towards self-fulfillment and
ethical behavior. We find God by understanding ourselves, by being
morally concerned and by being selfmotivated to study and live as Jews.
|