|
Vài hàng về Tác Giả: 0
Phần Tín Lý :
1
2
3
Phần Giáo Lý:
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
Sách
Hiếm nhận được bài giới thiệu sau đây do
nhóm Từ Thiện
Giao Điểm gửi
ngày 05 tháng 10
2007.
LỜI GIỚI THIỆU
Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ là một trong những người Việt Nam hiếm có của các thế hệ sau thập niên 1960. Ông không những uyên thâm về học thuật Tây phương mà còn nghiên cứu sâu sắc về minh triết Ðông phương nữa. Ông đã dày công biên soạn và trước tác nhiều sách về triết học Ðông phương mà độc giả có thể tìm thấy trong phần tiểu sử tác giả (và thư mục) in ở bìa sau cuốn sách nầy.
Lúc thiếu thời ông đã từng theo Kitô giáo, say sưa với những câu kinh tiếng hát trong các Ca đoàn của nhà thờ. Nhưng với tinh thần khoa học và nhờ nghiên cứu các nền đạo học Ðông phương mà ông đã bừng tỉnh để trở về với chính đạo, với bản lai diện mục của chính mình.
Tâm sự về sự thức tỉnh mầu nhiệm ấy đã được ông để lại cho đời qua hai bài viết đặc biệt chí tình chí lý về Kitô giáo, một tôn giáo mà ông đã từng ôm ấp ngưỡng vọng từ thuở ấu thời. Bài đầu tiên ông viết năm 1987 tại Nam California dưới tiêu đề “Ít nhiều Nhận định về Thiên Chúa Giáo” và đã được đăng trong tác phẩm “Tại sao không theo đạo Chúa”, do Mr. Rosa xuất bản tại bang Texas, Hoa kỳ vào năm 1997. Bài thứ nhì cũng với cùng chủ đề nhưng triễn khai rộng hơn mà ông đặt tựa là “Ít nhiều nhận định về Kitô giáo, Giáo lý” được viết năm 2006 tại bang Oregon Hoa kỳ.
Giao Điểm rất hân hạnh được Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ tin tưởng và tín nhiệm trao trách nhiệm xuất bản một trong những tác phẩm rất quý hiếm và tâm huyết của tác giả. Tại vì ông không viết cho riêng ai, mà viết cho cả một dân tộc. Bây giờ cũng như ngày mai.
GIAO ĐIỂM
Hè 2007

Phần I

C ó thể nói được rằng trong
vòng 2000 niên vừa qua Cơ Đốc Giáo (Christianity) đã tung hoành trên thế
giới. Chữ Cơ Đốc Giáo bao gồm, Công Giáo, Chính Thống giáo, Tin Lành
giáo, vì tất cả đều tin vào Thượng đế, như Tân Cựu Ước đã mô tả; và đều
tin Chúa Giê Su là Thiên Chúa giáng trần cứu chuộc thiên hạ. Con số tín
đồ đã lên cho đến hơn cả tỉ .
Thoạt nhìn, thực là một lâu
đài tráng lệ. Nhưng càng lặng ngắm, càng thấy nó đã bị rạn nứt, đã bị
chônh chênh, vì nền móng đã bị lung lay hư hỏng. Ngày nay, có thể nói
được rằng dưới cái chiêu bài: Chân Lý tuyệt vời, ta có thể vạch ra được
những sự ngụy tạo hết sức tinh vi.
Tôi đã từng theo Thiên Chúa
Giáo trong vòng 20, 30 năm lúc thiếu thời, đã từng sống không biết bao
nhiêu giờ phút dày vò vì hai chữ “tội khiên”, say sưu vì câu kinh, tiếng
hát.
Lúc bé, vì chưa biết thế nào
là ngoại giáo, nội giáo, chưa biết gì về vũ trụ và con người; chưa biết
gì về xã hội, nhân sinh; chưa biết suy tư tìm hiểu, phán đoán; chưa đọc
các thánh thư các đạo giáo khác cũng như chưa nghiên cứu các đạo giáo
khác và các thánh hiền đã thành nhân chứng thánh đông tây, kim cổ; chưa
chứng nghiệm được sự trưởng thành của óc chất, tâm linh, nên tôi cũng
thấy nó cao siêu hấp dẫn.
Năm 36 tuổi, nhân khảo về
Khổng giáo, tôi đã được một sự giác ngộ nội tâm, nên đã bừng tỉnh giấc
Nam Kha, và đã nhìn thấy rõ những sự sai trái, thấp kém của nó. Cho đến
ngày nay, mỗi khi nghĩ lại sự mình thoát khỏi được Thiên Chúa Giáo nói
riêng và các tôn giáo công truyền thiên hạ nói chung, để đi vào “Chính
đạo giải thoát nội tâm”, tôi cho đó là đại hồng ân của trời đất. Tôi
viết bài này không dành cho quần chúng. Tôi viết cho những người đồng
thanh, đồng khí muôn phương, tôi viết cho hậu thế. Chính vì không có một
hậu ý gì không tốt đẹp, mà chỉ cốt là khai phóng thực sự con người, vạch
gai góc để tìm ra Đại Đạo và Chân Lý, nên tôi sẽ viết hết sức vô tư và
bình thản.
Tuy nhiên, tôi cũng sẽ không
viết hết mọi suy tư, nhận định của tôi về Thiên Chúa Giáo (Công giáo,
Chính Thống và Tin Lành).
Tôi viết bài này, tùy ngọn
bút đẩy đưa, tùy thần trí hướng dẫn, nên không muốn chia chương, chia
mục.
Một nhận xét sơ khởi của tôi
là vì mấy thứ đạo Thiên Chúa Giáo nói trên, tuy có thể có cùng một Thánh
kinh (Tinh Lành chỉ có 39 quyển Cựu Ước, Công giáo có 47 quyển), cùng
tin có Thượng Đế, cùng nhận Chúa Giê Su là giáo chủ, nhưng đi sâu vào
các vấn đề tín lý, tìm hiểu cách thức các Giáo hội đó đối đãi với nhau,
chúng ta mới thấy tất cả các đạo giáo trên đều là những đạo tương đối,
nói là Trời lập ra, nhưng chính thực là người sáng tạo. Có điều Giáo Hội
này cho là Chân, thì Giáo hội kia cho là Giả. Giáo Hội nào cũng đề cao
tình bác ái, nhưng lịch sử đã cho thấy những giáo hội anh em với nhau
nói trên đã luôn luôn coi nhau là thù địch, đã từng bỏ nhau xuống hỏa
ngục, đã từng xỉ vả, nguyền rủa lẫn nhau, thậm chí đã từng hưng binh tàn
sát lẫn nhau, đã từng dùng những thủ đoạn hết sức ác độc để gieo tai họa
cho giáo hữu của đối phương.
Trong các tôn giáo nói trên,
Công Giáo mạnh nhất, có tổ chức nhất, nên tôi sẽ dùng Công Giáo làm đối
tượng chính của thiên khảo luận. Tôi làm công chuyện này không có ác ý
gì riêng đối với Công Giáo, vì đối tôi bất kỳ đạo giáo nào khi đã đi vào
con đường “Công truyền”, cốt thu hút quần chúng, thì cũng đầy dẫy những
sai lầm, cũng đầy dẫy những thủ đoạn tàn độc. Chúng ta chỉ có thể mù,
hay điếc mới không nhìn thấy, nghe thấy những điều đó.. Tôi chọn Công
Giáo, vì nó có nhiều tín đồ nhất và lâu đời nhất. Nó lâu đời chỉ thua có
Do Thái Giáo, một tôn giáo mà Công giáo đặt trọng tâm hủy diệt trong
vòng 2000 năm nay, nhưng chung cuộc đã thất bại, như ta sẽ thấy sau này.
Trước
hết, đối với tôi, cái sai lầm lớn lao của con người Tây Phương trong
vòng mấy nghìn năm nay là niềm tin vô tận vào quyển Thánh Kinh – Tân lẫn
Cựu Ước – và cho rằng chính Thiên Chúa đã mất thì giờ mà đọc cho các tác
giả thánh kinh viết, cho nên nó phải đúng từng chữ, và tất cả những
điều đã ghi chép trong đó là những dữ kiện lịch sử, là “chân lý”.
Họ còn cho rằng chân lý chỉ
được mặc khải cho càc tác giả Thánh Kinh – Tân, Cựu Ước – và đã chấm dứt
sau các thánh Tông đồ. Cơ quan nắm giữ Chân Lý hiện nay là Giáo hội.
Con người bình thường
không được quyền hiểu Kinh Thánh theo ý mình, mà phải hoàn toàn lệ thuộc
vào sự giải thích của Giáo Hội.
Vì dựa vào Thánh Kinh, nên
nhiều người cho đến ngày nay vẫn còn cho rằng trái đất, con người mới
được tạo dựng cách đây khoảng 6.000 – 10.000 năm. Niềm tin này đã được
mọi người Công giáo tin theo. Phía Tinh Lành thì những người tin mạnh
nhất là những người được mệnh danh là Bảo Thủ (Fundamentalists).
Đọc lại Thánh Kinh, thì tất
cả những dữ kiện đưa ra trong các chương 1-2 Sáng Thế Ký, đều thuộc loại
huyền kỳ, chứ không có chút gì là khoa học, lịch sử. Ta dẫn chứng bằng
Sáng Thế Ký 1 và 2.
Theo Sáng Thế Ký 1, Chúa dựng
nên trời đất trong 7 ngày theo thứ tự sau:
- Ngày thứ nhất: Chúa dựng
nên trời đất, và ánh sáng. Chia ánh sáng khỏi tối tăm. Gọi ánh sáng là
ngày và tối tăm là đêm.
- Ngày thứ hai: Dựng nên vòm
trời (firmament, vault) (Gen 1:6).[(The New Jerusalem Bible của Công
Giáo dịch là Vault (vòm), và chú rằng người dân Semites xưa coi cái vòm
trời có cứng chắc, có thể giữ nước ở phía trên, không cho rơi xuồng trần
gian. Nó hình nữa vòng cầu, hoặc như cai chảo úp, như ta thường trông
thấy. Nó chắc chắn là phải hết sức cứng vì có thể chứa được một lượng
nước khổng lồ bên trên. Vòm trời đó, theo Job, đã được đúc bằng “đồng
thau” (Job 37:18). Vòm đó có những cửa. Khi muốn có Hồng Thủy, những
“cửa trời” đó sẽ được mở ra cho nước trên trời tuôn xuống (Gen 7:11).
Mặt trăng, mặt trời và các vì sao được gọi bằng một danh từ hết sức
khiêm tốn là “đèn đóm” (xem Kinh Thánh – Nguyễn Thế Thuấn Gen 1:17)-đều
nương vào vòm trời đó (Gen 1:17), y như những ngọn đèn treo trên trần
nhà. Những ngọn đèn đó dĩ nhiên là nhỏ xíu, vì lúc thế mạt – mà cách đây
2000 năm – Chúa Giê Su đã chủ trương là: “sắp tới đây”, tinh tú sẽ rụng
xuống trần gian nhiều như những quả vả bị dập vùi trong một trận cuồng
phong (Rev 6:13). Cung đình Chúa và tòa ngôi Ngài đặt trên vòm trời đó
(Psalm 11:4), vì Sáng Thế Ký đã định nghĩa cái vòm đó là “trời” (Gen
1:8).
Chúa Giê Su cũng xác quyết
Chúa Cha ở trên đó, Ngài dạy Cầu xin: Lạy Cha chúng tôi ở trên trời (Mat
6:9). Thánh Joan dạy rằng lúc thế mạt vòm trời đó sẽ bị cuộn lại, cuốn
đi như một trang sách (Rev 6:14). Chúng ta cũng nên nhớ rằng vòm trời đó
có nhiều cột chống đỡ (Job 27:11); và trái đất cũng có nhiều cột chống
đỡ (Job 9:6). Đất đã được Chúa đặt vững trên mặt nước (Psalm 136:6). Đất
muôn đời đứng yên một chỗ (Terra in aeternum stabat, Vulgate, Eccl.
1:14)]
- Ngày thứ ba: Phân đất ra
khỏi nước. Dựng nên cây cối .
- Ngày thứ tư: Dựng nên hai
ngọn đèn lớn nhỏ và các vì sao, đặt vào vòm trời, để soi cho trái đất,
và để tiện cho việc làm lịch, xem ngày.
- Ngày thứ năm: Dựng nên các
loài dưới nước và trên không.
- Ngày thứ sáu: Dựng nên các
loài sống trên cạn, dựng nên ông A Dong, bà E Và.
- Ngày thứ bảy nghỉ.
Trong chương nhất này tên của
Chúa là ELOHIM. Đến chương hai, Chúa đổi tên là YAHWEH, và tả lại cung
cách tạo dựng nên trời đất và muôn loài một cách hoàn toàn khác biệt như
sau.
Đại khái rằng: Thoạt kỳ thủy
khi Chúa dựng nên trời đất, thì trái đất còn hoang vu, Chúa bèn lấy bụi
đất mà dựng nên ông A Đam rồi thổi sinh khí vào lỗ mũi ông cho ông thành
người sống động. Sau đó dựng nên một cái vườn cho ông ở, và lúc ấy mới
dựng nên cây cối. Sau đó, muốn cho ông có một người bạn xứng đáng nên đã
dựng nên các loài vật, và các chim trời, và đem chúng lại cho ông đặt
tên. A Đam chê chẳng tìm được bạn nào thích hợp, Chúa bè cho ông ngủ đi
và lấy một khúc sườn của ông để tạo dựng nên bà E Và.
Ta nhận thấy trong chương hai
này không có nói dựng nên mặt trời, mặt trăng gì cả, mà lấy con người
làm trọng tâm. Trong chương này, Chúa dựng nên con người trước rồi mới
dựng nên cây cối và vạn vật sau.
Sang hai chương trên, ta
đã thấy một sự mâu thuẫn quá lớn lao. Không có lý nào, mà Ngũ Kinh do
Chúa đọc cho một tác giả duy nhất là Moses chép, khi mô tả cùng một công
chuyện tạo dựng, lại có thể khác nhau đến như vậy.
Ngày nay các học giả đã chứng
minh được rằng: Ngũ Kinh (Genesis, Exodus, Numbers, Deuteronomy,
Leviticus) là do nhiều môn phái, nhiều người sống trong nhiều thế kỷ
khác nhau viết. Những môn phái đó là:
- Phái Yahwistic ( viết tắt
là J-J là đầu chữ Jehovah), vì gọi Chúa là Yaweh hay Jehovah, viết vào
khoảng thế kỷ IX trước kỷ nguyên.
- Phái Elohistic (viết tắt là
E) vì gọi Chúa là Elohim, viết ít lâu sau trường phái trên.
- Phái Deuteronomic (viết
tắt là D) viết vào khoảng 622 đời Josiah.
- Phái Priestly (viết tắt là
P) viết sau khi dân Do Thái đi lưu đày, tức là sau 500.
Như vậy, Moses sống vào
khoảng 1250, người mà ta vẫn được dạy dỗ là tác giả Ngũ Kinh – ngay Chúa
Giê Su cũng tin vậy (John 5:46 – Luke 24:27 – Luke 16:31) – thực ra lại
không phải là tác giả, mà tác giả lại là vô số người viết, cách nhau
nhiều thế kỷ (bộ Ngũ Kinh như vậy đã được viết ra trong vòng 400 năm).
Chương 1 Genesis đã được viết
bởi môn phái Priestly (P), còn chương 2 đã được viết bởi môn phái
Yahwistic. Cứ so sánh hai chương trên với sự mô tả khác biệt nhau như
nước với lửa, ta đã có thể kết luận chắc chắn rằng đó không phải là Chúa
phán, hay Chúa viết, Chúa soi, mà là người phàm viết như trăm nghìn
huyền thoại khác.
Công Giáo như đã ghi rõ rằng
trong quyển Martyrologe Romain, cho rằng trời đất đã được tạo dựng vào
năm 5199. Tin Lành, theo Tổng Giám mục Ussher, đã cho rằng trời đất đã
được tạo dựng nên lúc 9 giờ sáng ngày 23 tháng 10 năm 4004. Các học giả
Do Thái đoán rằng trời đất đã được tạo dựng nên ngày 7 tháng 10 năm
3761.
Các người theo phái
Fundamentalists cho rằng tất cả đã được tạo dựng nên khoảng từ 6.000 đến
10.000 năm nay. Cũng có người cho rằng sự tạo dựng đã xảy ra vào năm
5509 (1).
Theo khoa học ngày nay, sự
diễn biến đã xảy ra như sau.
Thoạt kỳ thủy, có một “cái
trứng vũ trụ” (cosmic egg) vô cùng nóng hổi. Cách đây khoảng 15 tỉ năm,
đột nhiên nổ tung (big bang theory) sinh ra các giải Ngân Hà và tỉ tỉ
tinh tú.
- Cách đây khoảng 5 tỉ năm,
thái dương hệ ra đời.
- Cách đây khoảng hơn 600
triệu năm, các sinh vật li ti dưới biển bắt đầu xuất hiện.
- Cách đây 450 triệu năm, có
cỏ cây.
- Cách đây khoảng 405 triệu
năm, bắt đầu có sinh vật.
- Các loài phi trùng có cách
đây khoảng 400 triệu năm.
Thủy tổ loài người – các loại
nhân hầu – xuất hiện cách đây khoảng 40 triệu năm.
- Vật có nhân dạng (hominids)
xuất hiện cách đây khoảng 20 triệu năm.
- Homo sapiens xuất hiện cách
đây 150.000 năm.
- Con người “Modern man” có
khoảng cách đây 50.000 năm.
Sánh các đoạn Thánh Kinh với
nhau, sánh Thánh Kinh với các khám phá khoa học ta thấy hai chương 1 và
2 Sáng Thế Ký hoàn toàn mâu thuẫn nhau:
- Cái vòm trời, cái “trời”
bằng đồng thau mà Chúa đã vất vả dùng cả ngày thứ hai xây dựng nên với
những cửa có thể mở đóng tùy nghi, đã được chứng minh là hoàn toàn không
có. Đó chỉ là một ảo giác của chúng ta mà thôi!
- Trái đất không thể nào có
trước các vì tinh tú và mặt trời, mặt trăng.
- Cây cối không thể có trước
tinh tú và mặt trời, mặt trăng.
- Adam, Eva không phải là
thủy tổ của loài người, vì con người đại khái đã xuất hiện cách đây tối
đa khoảng nhiều triệu năm; tối thiểu cách đây khoảng 150.000, chứ không
phải là mới cách đây 6004 năm!
Nếu vậy một là chúng ta phải
chấp nhận những chương sách nói trên không phải là “Lời Chúa” mà là “Lời
Phàm”. Hai là nếu đúng là lời Chúa, thì lời Chúa hoàn toàn sai lạc,
nghịch lại với thực tế.
Nếu nhận rằng các chương trên
là “Lời phàm”, thì lấy gì bảo đảm các chươmg sau là “Lời Chúa”? Nếu Adam
và Eva không phải là thủy tổ loài người thì làm gì có tội tổ tông? Nếu
không có tội tổ tông, thì làm gì có chuyện Chúa giáng trần cứu chuộc?
Nếu vậy, đạo Thiên Chúa Giáo,
hoàn toàn đã được xây dựng trên những ảo tưởng. Nếu không có chuyện Chúa
giáng trần, thì dĩ nhiên Chúa Giê Su không phải là Thiên Chúa, mà chỉ là
một con người đã giác ngộ, đã sống phối hợp được với Thượng đế ngay từ ở
gian trần này, như trăm ngàn thánh hiền xưa nay đã làm được như vậy.
Chúa tuyên bố đã nghỉ không
còn tạo dựng nên cái gì mới nữa, thế mà thiên văn học luôn luôn cáo tri
có những vì sao mới xuất sinh trên vòm trời, kể cũng kỳ lạ thật.
Ở Mỹ này, nhiều người theo
Thiên Chúa Giáo cũng đã nhìn thấy cái nguy cơ. Họ cho rằng Darwin với
thuyết Tiến Hóa đã làm giảm thiểu quang huy của Chúa trong sự tạo dựng,
đã muốn “hạ bệ Thiên Chúa”, và đã hàm ngụ rằng trong vòng 2000 năm nay,
những người theo Thiên Chúa giáo đã bị lừa bịp bởi một lời nói láo vĩ
đại(2).
Những người triệt để theo
truyền thống cũ (Fundamentalists) thuộc giáo phái Tin Lành, trong nhiều
tiểu bang đã đứng ra bài xích khoa học và thuyết Tiến Hóa trong các
trường trung tiểu học công cộng. Họ biết rằng nước Mỹ cấm không cho dạy
đạo giáo trong các trường nên từ năm 1960 trở đi, họ kêu gọi những học
giả, những khoa bảng thành lập những hội nghiên cứu Thuyết Tạo Dựng theo
khoa học.
Những hội mệnh danh là Tạo
Dựng Khoa Học đó có thể liệt kê như sau:
- The American Scientific
Affiliation (ASA), thành lập năm 1941, gồm 3000 hội viên.
- The Creation Research
Society (CSR), thành lập năm 1963, ở Ann Arbor Michigan. Có khoảng 500
hoạt động hội viên. Điều kiện nhập hội tối thiểu phải có Cao Học về một
bộ môn khoa học nào đó, và phải tin rằng
Kinh Thánh hoàn toàn đúng, không hề sai lầm; chuyện Chúa tạo dựng nên
muôn loài là có thực như Kinh Thánh đã chép; Hồng Thủy toàn cầu là
chuyện có thực(3).
- The Creation Science
Research Center (CSRC), có địa chỉ liên lạc với khoảng 210.000 người.
Trong năm 1970, thường tổ chức những cuộc du ngoạn viếng thăm núi
Ararat, để đi tìm lại chiếc tàu Noe. Giá tiền là $1.397 đi từ Nữu Ước.
- The Institute for Creation
Research (ICR) thành lập năm 1970, có đại bản doanh ở San Diego. Hội này
hoạt động rất hăng say. Đã xuất bản 55 cuốn sách; đã có một Nguyệt san
là Acts and Facts gửi cho 60.000 độc giả. Họ cũng đã tổ chức nhiều
chuyến thám hiểm núi Ararat vào những năm 1972, 73, 74, 75, nhưng hoặc
thất bại, hoặc bị chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ ngăn chận. Họ cho rằng đã có đủ
bằng chứng để biết tàu Noe có dung tích 567 toa xe lửa và có thể chứa
khoảng 50.000 con vật.
- The Genesis Shool of
Graduate Studies ở Gainville, Florida.
- The Bible Science
Association.
- Scientific Creationism
Association of Southern New Jersey.
- The creation Research
Science Education Foundation Inc. ở Ohio.
- The Triangle Association
for Scientific Creationism in the Research Triangel ở gần Raleigh, North
Carolina.
- The Missouri Association
for Creation.
- The Evolution Protest
Movement (EPM), 1932, ở Anh.
- The Newton Scientific
Organisation, 1973, ở Anh v.v..(4)
Tuy thất bại liên tiếp, nhưng
trong vòng mấy chục năm nay họ cố vận động đem thuyết Tạo Dựng Khoa học
vào giảng dạy trong các trường song song với thuyết Tiến Hóa. Cho đến
bây giờ họ tuy còn thất bại, nhưng họ thường xuyên vẫn dùng thế lực để
kiểm soát các sách giáo khoa, không cho dạy Thuyết Tiến Hóa một cách lộ
liễu.
Chính vì vậy mới có vụ án
John Thomas Scopes năm 1925 – mà ta vẫn thường gọi là “vụ án con khỉ” –
Tòa đã tuyên án phạt Scopes $100.000 vì đã vi phạm luật tiểu bang
Tennessee cấm giảng Thuyết Tiến Hóa trong học đường.
Từ 1921 đến 1929 họ cũng đã
vận động được 37 tiểu bang ban hành những luật chống dạy thuyết Tiến
Hóa. Ví dụ luật Mississipi (1926), Arkansas (1928), Texas (1929). Tuy
nhiên Tòa Án Liên Bang bao giờ cũng chủ trương Nhà Nước tách rời khỏi
Giáo hội, vì thế không cho giảng dạy tôn giáo trong càc trường và đã
phán quyết các luật tiểu bang cho phép dạy thuyết Tạo Dựng trong các
trường trung tiểu học toàn quốc Mỹ là vi hiến.
Về phía Khoa học, tức là về
phía những người có trách nhiệm soạn thảo chương trình giảng huấn, ta có
những cơ quan sau:
- National Science Foundation
(NSF).
- Biological Sciences Study
(BSCS).
- Man: A Course of Study
(MACOS).
- Education Development
Center (EDC).
- The Amercian Institute of
Biological Sciences (AIBS).
- National Association of
Biological Teachers (NABT).
- Biological Sciences
Curriculum Study (BSCS).
Ngoài ra còn có cơ quan
American Civil Liberty Union, bảo vệ người dân Hoa Kỳ.
Các chương trình, các sách
giáo khoa được soạn thảo theo tinh thần khoa học, và đều dựa trên thuyết
Tiến Hóa. Đôi bên thường xuyên chống đối lẫn nhau, kiện cáo lẫn nhau.
Phe Tiến Hóa nhân danh Khoa Học. Phe Tạo Dựng cũng đội lốt Khoa Học,
cũng nhân danh Khoa Học như ai.
Tháng 12, 1981, cơ quan
American Civil Liberty Union kiện lên tòa Liên Bang xin hủy luật 590 của
Arkansas đã cho phép dạy thuyết Tạo Dựng trong các trường. Tòa Án Liên
Bang tuyên bố điều khoản 590 là vi hiến.
Tháng 8, 1972, William
Willoughby (phái thủ cựu) kiện National Science Foundation, bắt cơ quan
này cũng phải viện trợ cho chương trình Tạo Dựng, cũng y như đã viện trợ
cho chương trình xuất bản sách của Biological Science Study (BSCS). Tòa
án Liên Bang Washington miễn tố, vì lẽ các sách của BSCS là sách “phần
đời”. Phe Fundamentalists kháng cáo, cũng thua luôn.
Năm 1978, Liên Đoàn các Giáo
chức giảng dạy Sinh Lý Học (NABT) kiện tiểu bang Tennessee về đạo luật
cho phép dạy thuyết Tạo Dựng trong các trường. Năm 1980, tòa Liên Bang
xử luật đó là vi hiến.
Phái Tạo Dựng lại kiện Hội
Đồng Giáo Dục California vì đã vi phạm quyền tự do tín ngưỡng của con
cái họ. Họ dắt con, dắt cái họ ra tòa, để trẻ khai là đã được giảng dạy
rằng chúng là dòng dõi khỉ. Phía hội đồng giáo dục đã mời được những nhà
khoa học thượng thặng ra để bênh vực và để biện minh cho thuyết Tiến
Hóa. Quan tòa lúc ấy là ông Irving Pertluss khuyến cáo Hội Đồng Giáo Dục
không nên quá cứng rắn giáo điều, và nên tế nhị khi trình bày về nguồn
gốc con người trong các sách giáo khoa. Phe Tạo Dựng coi đó là một thắng
lợi của họ(5).
Mới hay, cho đến ngày nay, sự
tranh chấp giữa khoa học và tôn giáo còn rất gay cấn. Chính quyền Liên
Bang thì luôn chủ trương tôn giáo tách rời chính trị, tách rời học
đường, và sẽ không bao giờ cho phép giảng dạy những gì xa gần có liên
quan đến vấn đề tôn giáo trong các học đường.
Cho đến bây giờ, tôi cũng
không thể hiểu nổi được tại sao những người mang tiếng là có những bằng
sắc khoa học cao như vậy, cho đến nay vẫn tin là có chuyện Hồng Thủy
toàn cầu. Một người bình thường nào đó cũng sẽ nhận ra rằng đó chỉ là
một vụ lụt lớn trong vùng Sumeria (thuộc Tiểu Á mà thôi).
The New Jerusalem Bible của
Công giáo bản tiếng Anh hay tiếng Pháp trong chú C của Chương 7 Genesis
cũng đã thẳng thắng chú thích rằng: đó là một chuyện lụt dựa trên ký ức
về một hay nhiều trận lụt tai hại do hai sông Tigris và Euphrates tạo
ra, và sau đó truyền thuyết dân gian đã phóng đại thành một trận lụt có
tầm kích thế giới(6).
Lụt cả xảy ra vào khoảng 2348
trước kỷ nguyên, 5 năm sau khi vua Nghiêu lên ngôi. Chuyện Lụt Cả kể
trong Sáng Thế Ký, tối thiểu, đã được hai tác giả viết ra mà ngày nay
gọi là tài liệu J và P, rồi sau đem gọp lại thành một chuyện.
Theo P, Chúa truyền ông Noe,
đem súc vật vào trong tầu mỗi thứ một đôi. Theo J, Chú lại dạy ông Noe
phân loài vật thành loài sạch và loài dơ (như heo, thỏ, đà điểu, các
loại cú vọ v..v..xem Leviticus 11:1-46). Khi ấy chưa có Leviticus, chắc
Chúa lại phải mất thì giờ dạy Noe phân biệt thế nào là loài dơ, loài
sạch. Sạch thì đem vào trong tầu mỗi thứ 7 cặp. Dơ thì đem vào mỗi thứ
hai cặp (Gen 7:2).
J cho rằng mưa 40 đêm ngày,
và lụt 40 đêm ngày (Gen 7:10-11). P cho rằng lụt khi Noe 60 tuổi, ngày
17 tháng 2 (Gen 7:10-11), và lụt 150 ngày (Gen 8:3).
Con tầu Noe kích thước như
sau: dài 450 feet (15 yards hay 135 mét), ngang 75 feet (25 yards hay
22.5 mét), cao 45 feet (15 yards hay 13.5 mét). Tầu có ba tầng (Gen
6:16). Con tầu may ra có một cửa sổ nhỏ, hoặc là kín mít (Gen 6:16).
Lúc Lụt cả, theo Do Thái,
thiên hạ hãy còn vẻn vẹn ở trong vùng các sông Tigris và Euphrates, Tiểu
Á. Dĩ nhiên là tác giả Thánh Kinh không hề nghĩ rằng còn có Bắc Âu, Ấn
Độ, Tân Cương, Trung Hoa, Nhật Bản, Úc Châu, Mỹ Châu, Bắc Cực, Nam Cực.
Đây là thiên hạ khoảng năm 611-547 trước Kỷ Nguyên, tức là khoảng 2000
năm sau Hồng Thủy do Anaximander vẽ, và đã được đăng tải trong quyển The
Philosophy of Greece của Robert S. Brumbauch, tr. 22 (thời Hồng Thủy
chắc thiên hạ còn nhỏ hơn vậy nhiều).
Ngày nay, nhờ Khoa học chúng
ta biết được có khoảng từ 2 đến 4 triệu sinh linh, từ côn trùng, đến
chim muông, cầm thú. Côn trùng chiếm 4/5 của tổng số (7).
Nếu chỉ là một vụ lụt trong
vùng, mà Noe được Chúa báo cho biết trước để chuẩn bị tầu, cùng vợ con
được thoát nạn, với ít nhiều bò, lừa, dê, cừu, mèo, chó của ông, thì là,
một chuyện hết sức hợp lý. Còn nếu Chúa ra lệnh cho Noe trong một thời
gian rất ngắn vừa đóng tầu, vừa đi bắt 5.000.000 x 2 (1 đực, 1 cái) phi
cầm, tẩu thú, côn trùng ở khắp nơi, lại vừa phải phân biệt đực cái; đi
không biết là bao nhiêu nước, không biết bao nhiêu dặm đường, trải qua
gấp trăm ngàn lần những gian khổ của Đường Tam Tạng; dỗ dành, đánh bẫy
được hùm beo sư tử, đem được trăm ngàn loại rắn rết, mối kiến theo mình
về tàu, thì là một đại họa cho Noe và gia đình vì chắc chắn sẽ bỏ mình
đang khi thi hành sứ mạng gian lao.
Thực ra, nếu muốn làm được
công chuyện vĩ đại như vậy, thì dẫu Noe và ba người con ông có tài năng,
có thiện chí mấy, và có mất mấy nghìn năm cũng không thể nào làm nổi
được. Rồi làm sao mà dỗ cho kiến, cho các cặp uyên ương ruồi nhặng, ếch
nhái, cho sên, cho rùa, cho rắn, cho hùm beo, sư tử, cho ngan, cho
ngỗng, cho le le, cho phượng, cho mối, cho mọt, ấy là chưa kể đến các
loại cào cào, châu chấu, bươm bướm, chuồn chuồn, đến các loại vi trùng
vi khuẩn lớn nhỏ, theo nhau xuống một cái tàu nhỏ xíu, tối tăm; rồi ở
trong đó được ăn uống hẳn hoi, sống một cuộc sống hòa bình trật tự với
nhau trong vòng 150 ngày, mà không có con nào chết đi, thì quả thật là
những phép lạ, lớn hơn cả sự tạo dựng nên trời đất nữa.
Xong rồi, khi thả các loài
ra, con nào lại về cư ngụ nơi đất đai con ấy. Con thì sang Phi, con thì sang Ấn, con
thì sang Úc. Mỗi khi tôi thấy chỉ có Úc mới có Kangourou, tôi tự hỏi sao
giống này lại tài tình như vậy, vì đã làm một cuộc viễn du, vượt trùng
dương, sang Úc.
Trong Sáng Thế Ký
có một câu: “..Và nước đã dâng lên rất cao trên mặt đất, và những đồi
cao trong thiên hạ đều bị ngập. Nước đã dâng cao 15 xích (22 feet = 7.1
yards = 6.3 mét) và núi non đã bị che phủ..”.
Nếu hiểu rằng nước
chỉ dâng cao có 15 xích, thì dĩ nhiên chẳng che phủ được đồi núi. Nếu
hiểu rằng nước dâng cao hơn các đồi núi trong thiên hạ là 15 xích, thì
chắc có Chúa chỉ bấy giờ mới đo được, và nếu quả đúng như vậy, thì phải
có một số lượng nước lớn hơn số lượng nước hiện tại trong hoàn cầu là ba
lần rưỡi. Chúng ta biết Everest cao là 29.028 feet. Như vậy mực nước sẽ
là 29.050 feet. Lượng nước lớn như vậy ở đâu ra, và rút đi đâu? Hơn nữa,
các cây cối, rau cỏ nếu bị dìm sâu trong nước trong vòng 150 ngày, đều
chết hết, là vì chúng cũng hút thở dưỡng khí, thán khí như loài người.
Nếu ngày nay, còn có thảo mộc cỏ cây, thì đó là bằng chứng đã không có
lũ lụt hoàn cầu.
Đọc lịch sử Ai Cập,
lịch sử Trung Hoa, lịch sử Ấn Độ, ta thấy tất cả đều liên tục. Thời vua
Nghiêu (2357-2256), đã có thiên hạ làm bầy tôi, chắc cũng khoảng vài
triệu người. Lụt cả xảy ra năm 2348 bên Tiểu Á chẳn làm cho vua Nghiêu
và bầy tôi hề hấn gì cả. Các linh mục Âu Châu khi sang giảng đạo bên
Trung Hoa rất khổ tâm vì câu chuyện này, và vì muốn bảo vệ Thánh kinh,
bảo vệ chuyện Hồng Thủy toàn cầu, đã định viết lại lịch sử Trung Hoa với
chủ đề rằng thời Nghiêu, Thuấn là những thời Huyền sử, hoang đường…
Dẫu sao thì đối với
tôi, đó chỉ là một trận lụt lớn trong vùng Mesopotamia mà thôi. Tất cả
đã được phóng đại lên. Như trên đã chứng minh, các nhà bình giải Kinh
Thánh Công giáo cũng đã công khai chấp nhận quan niệm đó. Đọc câu chuyện
lụt cả, tôi càng thấy Sáng Thế Ký gồm toàn là những chuyện thần thoại,
từ con rắn biết nói, đến “Cây biết lành, biết dữ”, “Cây hằng sống”,
chuyện Noe đi bắt chim, bắt cọp, bắt sên, bắt kiến, nghĩa là bắt
10.000.000 sinh linh (5 triệu x 2, vì có đực có cái) đem về.
Về phương diện
Thiên Chúa, có lẽ nào Ngài đã hối hận vì đã chót dựng nên loài người
(Gen 6:6), để đến nỗi phải hạ quyết tâm tiêu diệt tất cả. Và nếu Chúa
quả tình vì một cơn giận dữ, mà hủy diệt thiên hạ – từ con người đến
muôn triệu sinh linh – thì Ngài hết sức ác độc, hết sức dã man, hết sức
bốc đồng, hết sức nhẹ dạ, đến nỗi làm công việc đó rồi lại hối hận, phàn
nàn, và lại hứa hẹn sẽ không bao giờ hủy diệt quần sinh nữa. Đọc lời
Ngài long trọng hứa với Noe và quần sinh:
Bao lâu trái đất
còn đây,
Mùa màng, cấy gặt
chẳng thay chẳng rời.
Hè qua, đông lại
tới nơi,
Ngày đêm, tiếp tục,
chẳng ngơi, chẳng ngừng (Gen 8:22).
Đọc xong lời hứa
long trọng này, tôi nghĩ ngay những lời đe dọa sắp tận thế trong Tân
Ước, từ của Chúa Giê Su đến các thánh tông đồ, như Matthew, như Peter,
như Paul, như John (Mat. 24:26-32; Marc 13:24-32; Luke 20:25-32; I Peter
3:7; I Thessalonians 4:15; Rev. 22:10-13), tôi thấy lòng bùi ngùi, vì
chẳng lẻ Thiên Chúa lại luôn luôn tiền hậu bất nhất như thế hay sao. Và
chính vì tin rằng Thượng Đế toàn năng, toàn thiện, nên tôi mới dám đoan
quyết rằng trong Kinh Thánh cả cũ lẫn mới, có rất nhiều điều chẳng do
Chúa soi sáng, mà là của người phàm viết bậy bạ vào mà thôi. Đúng là
“Tận tín thư bất như vô thư”.
Tóm lại, tôi đã dựa
vào những dữ kiện hết sức vô tư, để kết luận rằng Sáng Thế Ký chẳng qua
là một bộ huyền sử, và lịch sử của dân tộc Do Thái mà thôi. Giá trị của
nó cũng như chuyện Lạc Long Quân và Bà Âu Cơ.
Tôi đi đến kết luận
đó nhờ câu chuyện Vòm Trời, nhờ chuyện Hồng Thủy, và nhờ những Mâu
Thuẫn Nội Tại giữa các mẫu chuyện khác nhau và về Hồng Thủy, nhờ sự
so sánh các niên kỷ của Sáng Thế Ký về Sáng Tạo và của Khoa Học. Càng
ngày tôi càng không tin Cựu Ước là do Chúa soi sáng để viết ra, vì nếu
quả thật như vậy, thì những điều Ngài mô tả về chính Ngài hết sức là lẫn
thẩn, kỳ quặc, hết sức tàn ác. Ngài rát mô hồ về Thiên văn. Ngài là Chúa
của một bộ lạc, một dân tộc nhỏ, đã vì Israel mà gieo tai giáng họa cho
Ai Cập; mà tàn sát các dân trong vùng đất Canaan, khi Do Thái được lệnh
vào chiếm đoạt vùng này. Ngài là Chúa có hình dáng một con người, có
lưng, mặt, tay chân như người, có lúc đã từng xuống vật nhau với Jacob
và điểm huyệt Jacob (Gen 32:3-33). Ngài cũng phàn nàn hối hận, cũng ghen
tuông, giận dữ như con người, cũng để cho dân riêng mình bị vua Babylon
bắt đi đày, đền thờ mình bị phá hủy, rồi đạo mình lập ra cũng bị chính
những người theo đạo con mình phỉ báng và coi là tà đạo… Không có lý nào
khi Chúa đã dựng nên vũ trụ này từ 15 tỉ năm nay, mà Ngài lại có thể nói
lầm là mới dựng nên cách đây có hơn 6.000 năm.
Sự mặc khải đối với
tôi, được thường xuyên liên tục diễn ra, như là một hồng ân cho tất cả
những người có lòng tha thiết tìm cầu. Và CHÂN LÝ là của chung nhân loại
chứ không có ai có quyền sở hữu riêng tư, độc sản về chân lý.
Sở dĩ các người
sáng lập đạo Công Giáo đã đoan quyết rằng Cựu Ước là hoàn toàn đúng, vì
họ cần dúng Cựu Ước để chứng minh rằng Chúa Giê Su chính là đấng Cứu Thế
đã được các tiên tri trong Cựu Ước tiên tri từng li từng tí. Trong khi
viện dẫn các lời Cựu Ước thấy câu nào không hợp với Chúa Giê Su thì
thông qua, thấy câu nào có thể dùng được thì lấy ra, thì cắt xén đi hoặc
dịch lại cho phù hợp. Thực là cả một công trình tinh vi, tuyệt diệu. Một
người đã làm được chuyện ấy là thánh Matthew. Phúc Âm Matthew chuyên môn
dùng Kinh Thánh cũ để áp dụng vào Chúa Giê Su, để huyền thoại hóa Chúa
Giê Su. Khi muốn dùng Thánh Kinh cũ để chứng minh Chúa Giê Su là đấng
Cứu Thế đã được tiên tri từ ngàn xưa, tuyệt đối sẽ lượt bỏ qua những câu
lớn lao như:
“Này đây lời Yahvê,
vua Isreal, đấng Cứu Chuộc Isreal, Yahvê các đạo binh. Ta là đầu, là
cuối. Ngoài ta ra không có Chúa nào khác. Ai là người giống Ta, hãy đứng
lên, nói xem..” (Isaiah, 43:6-7).
“Chính ta, Yahvê,
đã làm nên tất cả. Ta một mình đã căng trời, bện đất. Nào có ai giúp
Ta?” (Isaiah, 44:24).
“Và các ngươi hiểu
rằng chính là Ta. Trước Ta không có Chúa nào, và sau Ta, cũng không có
Chúa nào. Chính Ta là Yahvê, không có Đấng Cứu Rỗi nào ngoài Ta. Không
ai có thể cứu khỏi tay Ta. Ta làm, thì không có ai có thể kháng cáo.”
(Isaiah 43:11-13).
“Ta là Yahvê, chẳng
có ai bằng; ngoài Ta ra, không có Chúa nào khác.” (Isaiah 45:5).
“Chính Ta là Yahvê,
ngoài Ta ra, không có Chúa nào khác.” (Isaiah 45:21).
“Hãy quay về với
Ta, từ mút cùng mặt đất, vì Ta là đấng chẳng ai bằng.” (Isaiah 45:22).
Chắc chắn những câu
đó chủ trương Yahvê độc tôn vô đối, duy nhất bất nhị, không bao giờ có
Ba Ngôi. Thảo nào mà dân Do Thái, không thể nào tin Chuá Giê Su là Thiên
Chúa giáng trần, là Ngôi Hai Thiên Chúa được. Đối với họ, Chúa Yahvê là
chí tôn, vô đối. Không làm gì có thứ tội mà bị phạt cả đến trăm nghìn
đời, vì Chúa chỉ phạt tối đa là ba đời (Deuteronomy 5:9); sau Ngài lại
đổi ý, chỉ phạt một đời, ai làm tội, người ấy chịu mà thôi (Ezechiel
18:3-4).
Đấng Cứu Thế mà dân
Do Thái chờ mong, sẽ làm vua dân Do Thái, và sẽ có nhiệm vụ đem vinh
quang lại cho dân Do Thái, chứ không như Chúa Giê Su đã đem thống khổ,
xỉ nhục lại cho dân Do Thái từ mấy nghìn năm nay. Họ nói không phải là
không có lý.
Khi Matthew muốn chứng minh là Chúa
Giê Su đã được sinh ra do Đức Mẹ đồng trinh, ông đã viết như sau:
“… Bà sẽ sinh ra
một người con và sẽ đặt tên là Giêsu: vì chính người sẽ cứu dân người
cho khỏi tội khiên; mà tất cả để thực hiện lời tiên tri của Chúa: “Này
đây có một người nữ đồng trinh sẽ mang thai và sẽ sinh con, đặt tên là
Emmanuel, nghĩa là Chúa ở cùng chúng ta” (Mat. 1:21-23).
Dở Isaiah ta thấy
câu chuyện như sau:
“Lúc ấy vua Achaz
đang bị hai vua Syria và Ireal uy hiếp. Chúa mới dùng tiên tri Isaiah
đến trấn an vua Achaz, rằng hai vua kia sắp sửa bị tiêu diệt rồi, chỉ
trong vòng ít năm nữa mà thôi. Isaiah nói như sau: “Ví thử có một người
nữ, mà bây giờ có mang, và sẽ sinh ra một người con. Con trẻ này sẽ được
đặt tên là Emmanuel. Nó sẽ ăn sữa và ăn mật ong. Đến khi nó phân biệt
lành dữ, thì đất đai của hai vua mà Ngài sợ sẽ hoang, quạnh quẽ…”
(Isaiah 7:14-17).
Isaiah vâng lệnh
Thiên Chúa đến nói với Achaz câu chuyện đó có một mục đích hẳn hoi, có
một ý nghĩa hết sức rõ ràng. Chắc Isaiah cũng không thể ngờ được rằng
câu nói của mình lại có thể biến hóa được đến như vậy. Và có thể Chúa
Yahvê cũng không ngờ được là sẽ có chuyện kỳ dị như vậy.
Nguyên bản là
NGƯỜI NỮ. Thánh Jerome dịch thành NGƯỜI NỮ ĐỒNG TRINH
(Virgo), là vì Matthew đã chót hiểu như vậy. Ngày nay, ai cũng cho rằng
thánh Jerome đã dịch sai, và các bản Kinh Thánh mới dịch lại là “người
nử”. Tôi không nghĩ rằng đã dịch sai, mà chính là cố ý ngụy tạo nguyên
bản.
Ví dụ Kinh Thánh cũ
có câu: “Khi Israel còn nhỏ, ta yêu thương nó, và ta gọi con ta từ Ai
Cập trở về, nhưng ta càng gọi chúng càng xa ta, và chúng đã tế lễ thần
Baal (Osea 11:12).
Câu này dĩ nhiên là
Chúa nhớ lại chuyện đã đem dân Israel từ Ai Cập trở về. Matthew chỉ cần
lấy ra câu “Ta gọi con ta từ Ai Cập trở về”, và nhân đó bày ra
chuyện Chúa đã trốn sang Ai Cập mấy năm, sau đó trở về (Mat. 2:15), một
chuyện mà theo Luke, chắc chắn không thể nào có (Luke 2:30).
Thật ra, tôi phục
nhất là Matthew đã biết dùng Kinh Thánh cũ để chứng minh rằng nhất cử
nhất động của Chúa Giêsu đã được tiên tri, tiên đoán trong Cựu Ước.
Trong Mat. 2:23,
Matthew cho rằng người ta gọi Chúa Giêsu là dân Nazareth, để làm trọn
các lời tiên tri xưa. Tôi cho các nhà bình giải kinh thánh đã cố đi tìm
xem câu tiên tri đó ở sách nào trong Cựu Ước, nhưng cho đến bây giờ cũng
không tìm ra ... Chuyện đó có sao đâu!
Tôi cũng rất bái
phục Giáo Hội Công Giáo, đã biết dùng Cựu Ước để củng cố đạo Công Giáo.
Giáo Hội Công Giáo đã long trọng tuyên bố rằng Cựu Ước chẳng qua cốt là
để dọn đường cho sự quang lâm của Chúa Kitô. Hiến chế lời Thiên Chúa, số
15 viết:
“Nhiệm vụ Cựu Ước
có được ấy cốt là để dọn đàng cho cuộc quan lâm của Chúa Kitô, Đấng cứu
chuộc muôn loài, và Nước cánh chung của Người, bằng lời tiên tri loan
báo, và bằng các hình bóng nhiều kiểu” (Kinh Thánh, Nguyễn Thế Thuấn, tr. XI).
Sau khi đã dùng
Kinh Thánh cũ và Kinh Thánh mới để ngụy xưng Chúa Giêsu chính là Thiên
Chúa giáng trần, đạo Công Giáo chính là đạo thật duy nhất, và Giáo Hoàng
chính là đại diện của Chúa Giêsu, người nắm quyền sinh sát thực sự ở
gian trần này, thì đạo Công Giáo bắt đầu tuyên bố các luật đạo Do Thái
là luật Maisen (chứ không phải của Đức Chúa Cha); đạo Do Thái là đạo
Maisen, chứ không phải là đạo của Đức Chúa Cha, nên đã lạc hậu, đã lỗi
thời. Người Công Giáo từ nay không phải theo các lề luật cũ của đạo Do
Thái. Thậm chí mười điều răn Thiên Chúa, Công Giáo cũng vất đi hai. Chúa
tuyệt đối cấm thờ ảnh tượng. Chúa dạy giữ ngày thứ bảy, Công Giáo dạy
giữ ngày Chủ Nhật. Chúa dạy rằng dân Do Thái là dân riêng của ngày mãi
mãi, trừ khi nào mặt trời mọc ban đêm, mặt trăng mọc ban ngày lúc ấy mới
thôi (Jeremiah 33:24-26). Các Giáo Hoàng dần dần dùng chữ Tà đạo
“Perfidia” để chỉ đạo Do Thái(8).
Đặc biệt nhất là
mấy chữ PRO PERFIDIS JUDAEIS đã được chép vào Kinh Thánh Lễ Công Giáo
ngày Thứ Sáu Tuần Thánh để cầu cho bọn tà đạo – bọn theo đạo đức Chúa
Cha sớm trở về với đạo Công Giáo – đạo Đức Chúa Con. Ba chữ vàng son đó,
sau khi đã ngự trị trong sách Thánh Lễ Công Giáo cả nghìn năm, dến thời
Công Đồng Vatican II, tức là khoảng năm 1965 mới được bỏ đi…(9).
Rồi dần dần Giáo
Hội công khai tuyên bố rằng dân Do Thái là dân hèn hạ, vô tín ngưỡng,
thứ dân giết Chúa, cần phải đọa đày, hành hạ cho sánh danh Thiên Chúa,
và đạo Do Thái là thứ đạo lầm lạc. Trong nhiều thế kỷ, các Giáo Hoàng và
các vua chúa Công Giáo đã dùng võ lực bắt buộc người Do Thái phải bỏ đạo
mình mà theo đạo Công Giáo, nếu không sẽ bị trăm điều khốn nạn. Tôi
không những thương dân Do Thái, mà còn thương cả Đưc Chúa Cha, vì đạo
Ngài lập ra, sau này lại bị những người theo đạo Con Ngài phỉ báng cho
là tà đạo. Và tôi liên tưởng đến những vị vua cha khi đã già nua, con
cái lên cầm quyền chẳng còn coi mình ra gì nữa.
Dẫu sao thì ai theo
đạo Do Thái hay theo đạo gì ngoại đạo Công Giáo cũng sẽ xuống hỏa ngục!
Điều này đã được giảng dạy từ mấy nghìn năm nay, và nếu không còn giảng
dạy như thế nữa họa chăng từ 1965, nghĩa là sau Công Đồng Vatican 2.
Nếu tôi không lầm,
thì các Giáo phụ Công Giáo như Augustine, Origen, Cyprian đã nhất mực
tuyên bố: Ngoài Giáo hội, không được cứu rỗi (Extra Ecclesiam, nulla
salus). Augustine viết: “Ai sống ngoài Giáo hội sẽ phải chịu hình phạt
đời đời, dẫu người đó tự thiêu nhân danh Chúa Kitô”(10).
Công đồng Florence
(1442) đã dõng dạc tuyên bố: “Thánh Giáo hội La Mã tin chắc, tuyên
xưng và công bố rằng ngoài Giáo Hội Công Giáo, không một ai có thể được
sống đời đời, dù nó là ngoại đạo, là Do Thái giáo, vô thần, hay tách rời
khỏi Giáo Hội: Nó sẽ làm mồi cho lửa đời đời dành cho ma quỷ và thủ hạ
ma quỷ, nếu nó không trở về với Giáo hội Công Giáo trước khi chết”(11).
Giáo hoàng Pius IX,
trong tập tà Thuyết Kỷ Yếu (Syllabus of Errors), công bố vào tháng 12,
1864 cũng phi bác không chấp nhận rằng bất kỳ sống trong đạo giáo nào,
con người cũng có thể tìm được sự sống đời đời và không chấp nhận rằng
con người có thể tùy thích chọn tôn giáo mình ưng để mà theo(12).
Công Đồng Chung
Vatican I, năm 1870 tuyên xưng như một “tín lý” rằng không ai có thể cứu
rỗi, ngoài Giáo Hội(13).
Tới Công Đồng Chung
Vatican II (1962-1965), ta thấy Giáo Hội Công Giáo đã đổi chiều và trở
nên khiêm tốn, dè dặt hơn. Trong thông điệp Lumen Gentium, Giáo hội Công
Giáo bắt đầu phân biệt Giáo Hội Chúa Kitô và Giáo hội Công Giáo. Thông
điệp viết:
“Đó là Giáo hội
Chúa Kitô duy nhất, mà chúng ta tuyên xưng là duy nhất, thánh thiện,
công cộng và do các Tông đồ, mà Chúa Cứu Thế chúng ta sau khi Ngài sống
lại đã gửi gấp cho Peter cùng các Tông Đồ khác quảng bá và chủ trì ..
Giáo hội này, được sáng lập và tổ chức thành một cộng đoàn ở trong thế
giới hiện nay, hiện TIỀM TÀNG trong Giáo Hội Công Giáo. Giáo Hội Công
Giáo đã được cai trị bởi đấng kế thừa thánh Peter, và bởi các Giám mục
đồng tâm, đồng chí với Ngài. Tuy nhiên có nhiều yếu tố thánh thiện và
chân lý đã thấy được ngoài giới hạn, phạm vi hữu hình khả kiến của Giáo
hội đó. Vì đó là những ân sủng thuộc Giáo hội Chúa Kitô, nên đó là những
hoạt lực thúc đẩy tiến tới sự hợp nhất Công Giáo”(14).
Ta đọc văn bản
trên, thấy giọng điệu quanh quất, úp mở, tuy nhiên đã bớt có vẽ độc tôn.
Giáo hội đã hữu ý dùng chữ SUBSISTS IN thay vì chữ IS tức là đã không
dám coi mình là giáo hội duy nhất nắm giử chân lý, và đã muốn mở một con
đường mới để đi đến chổ cộng tác với Tin Lành và Chính thống giáo. Thực
ra đó cũng là một sự nhượng bộ, một sự thay chiều đổi hướng rất lớn lao
của Giáo Hội La Mã rồi.
(tiếp theo )
|