|

(thư ngỏ gửi những kẻ
bất lương đòi hủy bỏ quốc kỳ Việt Nam hiện nay trong
vụ Trung Quốc chiếm đoạt quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa)
Trong tháng 12/2007, biến cố Trung Quốc chiếm đóng mấy
hòn đảo Trường Sa và chính thức sáp nhập vào lãnh thổ
Trung Quốc. Một số người tại hải ngoại khai thác và lợi
dụng hành động xâm lăng trắng trợn này của quân cường
xâm từ phương Bắc, để vừa chửi bới, gièm pha và hạ nhục
chính quyền Việt Nam đương thời, vừa đòi hủy bỏ lá cờ đỏ
sao vàng. Đòi thay thế hay hủy bỏ lá cờ đỏ sao vàng
là đòi hủy bỏ danh dự của tổ quốc, hủy bỏ những hy sinh
xương máu, nước mắt và những công nghiệp vĩ đại của nhân
dân để đánh đuổi Liên Quân xâm lăng Pháp – Vatican giành
lại chủ quyền độc lập cho dân tộc, và công nghiệp đánh
đuổi Liên Minh Xâm Lược Mỹ - Vatican để đem lại nên
thống nhất cho đất nước. Những người có chủ tâm này
không ai khác hơn là:
(1) Nhóm thiểu số tín đồ Da-tô liên kết với những
phường vong bản phản quốc khác,
(2) Những thành phần phong kiến phản động đã từng
cấu kết với chính quyền Liên Minh Bảo Hộ Pháp – Vatican
(trong thời 1884-1954) hay các chính quyên tay sai của
Liên Minh Mỹ - Vatican ở miền Nam Việt Nam (trong những
năm (1954-1975), và
(3) Bọn lưu manh xu thời đón gió.
Bọn vô lương này đánh đồng việc đòi "tự do tôn
giáo" (tôn vinh Da-tô giáo) bằng lá cờ vàng ba sọc đỏ ô
nhục của thực dân Pháp-Vatican chế ra cho chúng. Chúng muối mặt đòi hủy bỏ
cái lịch sử hào hùng của dân tộc ở lá cờ đỏ sao vàng
trong việc đòi những quyền tự do được trở lại nắm độc
quyền chính trị và tôn giáo.
Hành động phản dân tộc
và phản quốc này là một trong những di lụy do độc
kế chia để trị và chính sách ngu dân của Giáo Hội La
Mã đã được thi hành trong những năm 1862-1884
trong các xóm đạo, trên toàn lãnh thổ Việt Nam trong
những năm 1884-1954, và ở miền Nam Việt Nam trong
những năm 1954-1975. Độc kế chia để trị và chính
sách ngu dân đã làm cho tình yêu nước, yêu quê
hương, yêu dân tộc và yêu tổ quốc của bọn người này hoàn toàn
bị hủy
diệt. Tình trạng này đã được thể hiện ra rõ rệt qua
cung cách suy tư, thái độ và hành động của (1) nhóm
thiểu sô tín đồ Da-tô cuồng tín, (2) nhóm phong kiến
phản động, (3) nhóm cựu quan lại trong thời Bảo Hộ,
(4) những tên lưu manh hoạt đầu chính trị, và (5) những
phường lưu manh xu thời đón gió. Bằng chứng là hầu
như tất cả tín đồ Da-tô cuồng tín người Việt không
còn biết gì đến tình yêu tổ quốc Việt Nam, không còn
biết gì đến tình tự quê hương và dân tộc. Họ luôn
luôn đặt quyền lợi của Tòa Thánh Vatican hay Giáo
Hội La Mã lên trên hết, và sẵn sàng triệt để tuân
hành lệnh truyền của Vatican để làm tay sai cho các
đế quốc thực dân xâm lược liên minh với Vatican
chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam để bảo vệ
quyền lợi của Vatican. Tất cả những ngôn từ mà bọn
chúng sử
dụng như tổ quốc, dân tộc, ái quốc, dân chủ, tranh
đấu cho dân chủ tự do, tranh đấu cho tự do tôn giáo
chỉ là những trò hề bịp bợm của Tòa Thánh Vatican ở
hậu trường đạo diễn và mớm cho chúng phát ngôn và hành
động theo lệnh truyền của các đấng bề trên trong hệ
thống quyền lực của Giáo Hội La Mã mà thôi.
Cũng vì thế mà trong
các cuộc vận động người Việt hải ngoại tham gia biểu
tình chống Trung Quốc về hành động xâm lăng mấy hòn
đào Trương Sa diễn ra ở Luân Đôn vào ngày 22/12/2007
và các thành phố lớn ở lục địa Âu Châu cũng như ở
Bắc Mỹ trong những ngày kế tiếp, bọn cán bộ tuyền
truyền của Vatican cũng có dã tâm vận động hủy bỏ
quốc kỳ Việt Nam là lá Cờ Đỏ Sao Vàng.
Hủy bỏ lá cờ
đỏ sao vàng tức là huỷ bỏ công nghiệp đánh tan Liên
Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm lược Pháp Vatican để giành
lại chủ quyền độc lập cho dân tộc và hủy bỏ cả công
nghiệp đánh tan Liên Minh Mỹ - Vatican mang lại nền
thống nhất cho đất nước. Đọc lịch sử nước nhà,
ai cũng biết rằng:
A.- Lá Cờ Đỏ Sao
Vàng đã từng chìm nổi với toàn thể nhân dân Việt Nam
trong suốt chiều dài lịch sử từ năm 1940 cho đến
ngày nay. Lá cờ này luôn luôn có mặt và ngạo nghễ
tung bay trong hai cuộc chiến hào hùng đánh đuổi
liên quân xâm lăng Pháp- Vatican để đòi lại núi sông
cho dân tộc và đánh đuổi Liên Minh Xâm Lược Mỹ -
Vatican để hoàn thành sứ mạng lịch sử đòi lại miền
Nam từ trong tay giặc mang lại thống nhất cho đất
nước.
Sau chiến thắng Điện
Biên Phủ vào ngày 7/5/1954, nhân dân thế giới nhìn
thấy lá cờ đỏ sao vàng đều kính phục vì nó là biểu
biểu tượng cho cả một dân tộc anh hùng đã đánh tan
được Liên Minh Thánh Pháp - Vatican làm cho đế quốc
Pháp hùng mạnh, một cường quốc Đồng Minh thắng trận
với rất nhiều thuộc địa ở khắp nơi trên thế giới
lần lần bước vào giai đoạn suy tàn và xuống dốc
thảm thương, mất hết các thuộc địa ở các Châu Phi,
Châu Mỹ, Châu Á, và suy nhược thua cả các nước Phe
Trục bại trận là Đức và Nhật.
Sau chiến thắng
30/4/1975, lá cờ đỏ sao vàng được nhân dân thế giới
kính phục nhiều hơn nữa và đã ngạo nghễ sánh vai
cùng với gần hai trăm quốc kỳ của gần hai trăm quốc
gia khác tại trước Tòa Nhà Liên Hiệp Quốc ở New
York.
Nhân dân khắp nơi trên
thế giới, mỗi khi nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng là
người ta nghĩ ngay đến người Việt Nam anh hùng, một
dân tộc đáng kính phục, và ngược lại, mỗi khi người
nước ngoài gặp người Việt Nam là nghĩ ngay đến nước
Việt Nam kiên cường và anh dũng với lá cờ đỏ sao vàng,
chứ chẳng có người nước ngoài nào lại nghĩ rằng nước
Việt Nam và dân tộc Việt Nam oai hùng với cái chính
quyền Bảo Đại và các chính quyền miền Nam thối nát với
lá cở vàng ba sọc đỏ biểu tượng cho nhóm người vong bản
phản dân tộc do Liên Minh Pháp – Vatcan và Liên Minh Mỹ
- Vatican đưa lên cầm quyền để làm tay sai cho họ.
Thật vậy, trong suốt
chiều dài lịch sử từ năm 1858 cho đến ngày
30/4/1975, trải qua nhiều thế hệ, tiền nhân ta đã
liên tục nối tiếp nhau đứng lên quyết tâm liều chết
đánh đuổi Liên Minh Xâm Lược Pháp Vatican với hy
vọng đạt được những công nghiệp như trên. Từ cụ
Trương Công Định đứng lên phất cớ chống giặc cứu
nước cho đến các vị anh hùng nghĩa sĩ khác nối gót
theo sau như Nguyễn Trung Trực, Lâm Quang Ky, Thiên
Hộ Dương, Nguyễn Hữu Huân (Thủ Khoa Huân). Mai Xuân
Thưởng, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Cao
Thắng, Trịnh Văn Cấn, Lường Văn Can, Lương Ngoc
Quyến, Phạm Hồng Thái, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái
Học, Cô Giáng, Cô Băc, Phan Bội Châu, v.v… nhưng tất
cả chỉ có tâm, có chí, chỉ thành nhân mà không thành
công. Mãi cho đến khi Mặt Trận Việt Minh dưới
quyền lãnh đạo của cụ Hồ Chí Minh xuất hiện cùng với
lá cờ đỏ sao vàng, dân ta mới thành công đánh
tan được Liên Minh Phap – Vatican giành lại được chủ
quyền độc lập cho dân tộc, và mới đánh tan được Liên
Minh- Mỹ Vatican khiến cho Mỹ phải cuốn gói ra đi và
nước nhà mới được thống nhất. Nhờ vậy, nước ta
mới có chỗ ngôi ngang hàng với các quốc gia khác
trong cộng đồng nhân loại mà rõ ràng nhất là tổ chức
Liên Hiệp Quốc, và dân ta mới được nhân dân thế giới
kính nể như ngày nay. Được như vậy là nhờ Mặt Trận
Việt Minh xuất hiện cùng với lá cờ đỏ sao vàng đã kiên
trì chiến đấu cho quyền lợi tối thượng của dân tộc
từ đầu thập niên 1940 cho đến ngày nay.
Được như vậy mà lại gục
mặt xuống đòi hủy bỏ lá cờ đỏ sao vàng tức là tỏ ra
vô ơn đối với Mặt Trận Việt Minh, vô ơn đói với hàng
triệu anh hùng khác đã đi theo Mặt Trận Việt Minh hy
sinh mạng sống để giành lại chủ quyền độc lập cho
dân tộc, vô ơn đối với toàn thể dân tộc Việt Nam đã
tích cực đóng góp công của và tích cực tham gia vào
hai cuộc chiến đánh đuổi Liên Minh Pháp – Vatican và
Liên Minh Mỹ - Vatican để hoàn thành sứ mạng lịch sử
mang lại độc lập cho dân tộc, thống nhất cho đất
nước và vinh quang cho tổ quốc.
Là những người Việt Nam
bình thường sống theo nền đạo lý cỏ truyền của dân
tộc, không có người nào lại có thể làm được như vậy.
Chỉ có (1) những kẻ gục đầu đi trên bốn chân chỉ
biết tuyết đối trung thành với Tòa Thánh, chỉ biết
triệt để tuân hành những lệnh truyền của các đáng bề
trên trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã,
(2) những quân Việt gian phản quốc đã từng bán nước
cho Pháp, cho Vatican và cho Mỳ, và (3) những hạng
người ngu xuẩn đến cùng cực của ngu xuẩn mới đòi như
vậy và làm như vậy.
Độc giả hãy điểm mặt những kẻ đã và đang đòi hủy bỏ
lá cờ đỏ sao vàng để xem chính họ hay ông cha họ có
thuộc vào một trong thững thành phần nêu lên trên đây
không?
Đòi hủy bỏ lá cờ đỏ sao
vàng là có dã tâm tôn vinh quyền lực của Giáo Hội La
Mã , tức đế quốc Vatican, một thế lực mà nhân dân
thế giới đều ghê tởm và thù ghét đến tận xương tận
tủy. Đây là sự thật. Sự thật này đều được sách sử
hay các bậc trí giả ghi lại rõ ràng trong sách sử.
Sách Vatican Thú Tôi Và Xin Lỗi viết:
“Giáo Hội Công Giáo
Rôma La-tinh trong thời cực thịnh kinh bang tế thế,
đội vương miện cho các hoàng đế, tung hoành dọc
ngang, làm mưa làm gió, thâu tóm cả thiên hạ trong
tay, tiền rừng bạc biển, đã không biết tự chế, không
học bài học khiêm hạ rửa chân, tự cao tự đại, coi
bàn dân thiên hạ như cỏ rác… hôm nay hối bất cập,
lịch sử còn nằm trơ ra đó. Người Âu Châu khiếp sợ
Giáo Hội tránh xa như tránh hủi! Người Á Châu có
thành kiến ghép Giáo Hội vào ông Tây thực dân và
chống thực dân! Người Mỹ Châu La-tinh đồng hóa Giáo
Hội vào đại họa diệt chủng! Và người Trung Đông làm
sao quên được 250 thánh chiến tàn bạo hãi hùng!
v.v…Trọng tội của Giáo Hội không phải là
nguồn phúc lộc bình an dưới thế! Ngược lại, và riêng
Việt Nam, Giáo Hội chống phá đạo hiếu, phế bỏ bàn
thờ tổ tiên, chà đạp văn hiến dân tộc Đại Việt, gọi
tôn giáo bản địa là thờ Bụt Thần Ma quỷ… Giáo Hội
chia hai dân tộc Việt Nam là dân có đạo là dân riêng
của Giáo Hội, và dân vô đạo là dân ngoại đạo theo tà
thần, tạo dựng thành kiến kỳ thị rất sâu đậm và thô
bạo.. Đức Hồng Y Hà Nội Phạm Đình Tụng xác minh
trọng tội này của Giáo Hội trong bài tham luận đọc
tại Roma vào năm 1998, có Đức Giáo Hoàng đương kim
(John Paul II) ngồi dự thính .”
[1]
Sách The French
Revolution (New York, W. W. Norton & Company, 1988)
ghi nhận:
"Các bạn người Pháp,
các bạn hãy nói cho tôi nghe xem có được không. Nếu
cái người mà các bạn gọi là Đức Thánh Cha cương
quyết chống lại luật pháp của các bạn, các bạn có
ngu xuẩn và hèn hạ đến độ phải từ bỏ luật pháp của
các bạn. Các bạn còn hy vọng gì ở một ông Giáo
Hoàng. Đ.M Giáo Hoàng, hãy tin ở tôi đi, bây giờ là
đến lượt các bạn; cả trong mười thế kỷ qua, Giáo
Hoàng đã áp bức các bạn quá nhiều rồi.". Nguyên văn: Tell me, Frenchmen, is it possible?
if that man you call the Holly Father takes it into
his head to oppose your laws, do you dare, are you
stupid and base enough, to give them up? What do you
expect from a Pope? Screw the Pope, believe me; it
is your turn at last; for ten centuries the Pope has
screwed you."[2]
Sách Living World
History (Glenview, Ill.: Scott, Foresman and
Company, 1974 viết:
“Không có một tín đồ
Ki-tô La Mã có thể trở thành nhà lãnh đạo nước Anh.
Như vậy là luật này loại hẳn tất cả những người con
và cháu của vua James Đệ Nhị với người vợ thứ hai
của nhà vua, không cho họ lên cầm quyền.” Nguyên văn: “A third measure,
the Act of
Settlement of 1691, provided that no Roman
Catholic could be ruler of England, automatically
excluding the descendants of James II by his second
wife.”?[3]
Sách The Decline And Fall Of
The Roman Church như sau:
"Trước hết, nước Pháp mà
Giáo Hòang Pius VI (1775-1799) thường gọi là "người
trưởng nữ của Giáo Hội" xóa bỏ toàn bộ tôn giáo, đưa
nhà vua lên đọan đầu đài, chính thức tôn vinh thần
Lý Trí lên ngôi chí tôn, tàn sát 17 ngàn linh mục,
30 ngàn nữ tu và 47 giám mục, tất cả các tu viện,
các dòng tu và các trường học của Giáo Hội đều bị
giải thể, tất cả các thư viện của Giáo Hôi đều bị
thiêu rụi, chính quyền Paris còn ban hành quyết
định ra lệnh cho Tướng Bonaparte (Sau này là Hòang
Đế Napoléon I) "đem quân đi "giải phóng nước Ý", "có
toàn quyền hành động" "hủy diệt Rome và chế độ Giáo
Hòang". Tháng 5 năm 1796, trước khi tiến vào kinh
thành Rome, Tướng Bonaparte tuyên bố, "Chúng tôi là
những người bạn của con cháu Brutus (một anh hung củ
dân tộc La Mã) và dân Scipios.... Chủ định của
chúng tôi là phục hồi điện Capitol và giải phong
nhân dân La Mã thóat khỏi thân phận nô lệ tôi đòi."
Quân Cách Mạng Pháp tiến
chiếm kinh thành Rome và nước Ý. Hòa Ước Tolentino
được ký kết giữa Tướng Bonaparte và Giáo Triều
Vatican. Đây là một sự sỉ nhục cho Tòa Thánh
Vatican. Giáo Hội phải nộp cho nước Pháp một khoản
tiền là 46 ngàn đồng scudi (tiền Vatican) trả làm ba
hạn kỳ (Giáo Hòang Pius VI phải đem các đồ trang
trí bằng vàng và bằng bạc ra đúc tiền để trả cho
Pháp), 100 món đồ nghệ thuật và 500 tác phẩm hiếm bị
tịch thu mang về Pháp; tất cả các hải cảng nằm trong
lãnh thổ của Tòa Thánh Vatican phải mở cửa cho hậm
đội Pháp làm căn cứ trú quân, phải từ bỏ tất cả tài
sản của Giáo Hội ở trong lãnh thổ các nước Ý, Pháp,
Naples, và Sicily ... tất cả mọi nơi. Giáo Hoàng
Pius VI ((1775-1799) than thở, "Hòa Ước! Tệ quá đi!
Quân đội Pháp chiếm đóng Vatican và Quirinal, truất
phế Giáo Hoàng Pius VI và thiết lập nước Cọng Hòa
La Mã...."
Nguyên văn: "First,
France, "eldest daughter of the church "he used to
call it, abolished all religion, beheaded its king,
enthroned Reason officially as supreme deity,
massacred over 17,000 priests and over 30,000 nuns
as well as forty-seven bishops, abolished all
seminaries, schools, religious orders, burned all
churches and libraries, then sent the Corsian
Bonaparte to liberate Italy and Rome" "Just as you
please," wrote the Paris government to the Corsian.
"Destroy Rome and the papacy utterly " "We are the
friends of the descandants of Brutus and the
Scipios... Our intention is to restore the Capitol
to free the Roman people from their long slavery,"
The Corsian declared in May 1796, just before taking
Rome.
Then the capture, and the
humiliation of the Peace of Tolentino between the
papacy and the Corsian: a ransom of 46,000 scudi in
three installement (Pius melted down all available
siver and gold ornaments); 100 objects d'art and 500
rare manuscripts from Vatican; the opening of all
papal harbors to the French fleet; renunciation of
all property in Italy and France and Naples and
Sicily - everywhere. "They made us their prisoner
Spina," mutters Pius. "Peace treaty! Bah!" The
Vatican and Quirinal were occupied by French troops.
They deposed Pius, and created the republic of
Rome....")
[4]
Sách Rich Church Poor
Church (New York: Putnam’ s, 1984) viết:
"Ngày 19 tháng 8 năm
1870, quân đội Pháp lo bảo Vệ Tòa Thánh Vatican thực
sự rút lui vĩnh viễn. Trận đánh Sedan vào ngày 2
tháng 9 năm đó đã làm cho đế quốc của Hoàng Đế Nã
Phá Luân Đệ Tam hoàn toàn sụp đổ. Tòa Thánh Vatican
mất đi một thế lực bảo vệ cuối cùng, và nước Pháp,
"người trưởng nữ của Giáo Hội La Mã" kể từ năm 1871
đến năm 1940 đã phải thay đổi đến 99 nội các. Quân
Pháp vừa mới rút lui, tức thì, ngày 19 tháng 9,
quân đội quốc gia Ý tiến vào kinh thành La Mã và
đóng quân ở ngay chung quanh cổ thành Leonine nằm
trong Kinh Thành La Mã. Ngày hôm sau (20/9),
sau khoảng ba tiếng đồng hồ nã đại pháo và cận chiến
lẻ tẻ, vào lúc 9:30 sáng, Giáo Hoàng ra lệnh
kéo cờ trắng ở trên nóc nhà thờ St. Peter. Mười
phút sau đó, không còn nghe thấy tiếng súng nữa.
Quân đội Ý tiến vào phía trong kinh thành và chiếm
đoạt hết tất cả của cải trong đó, chỉ có Ngọn Đồi
Vatican là họ không rớ tới. Quốc Gia của Giáo Hoàng
không còn tồn tại nữa. Diện tích của quốc gia này từ
16 ngàn dặm vuông bị cắt xén, còn lại chỉ có 480
ngàn mét vuông kể cả ngọn Đồi Vatican và xung quanh
ngọn đồi này trong đó có nhà thờ St. Peter, các tòa
nhà phụ cận và các khu vườn Vatican ở gần đó.“.
Nguyên văn: "On August 19, 1870, the
protecting French troops withrew definitely. With
the battle of Sedan on September 2, the empire of
Napoléon III came to an end. The papacy had lost its
last defender, and France, the "eldest duaghter of
the Church" was to have an astounding 99 goverments
between 1871 and 1940. Immediately the Italian
nationalist troops march on Rome. They encamped
around the old Leonine walls of Rome on September
19. The following day, after some three hours of
artillery barrage and sporadic hand-to-hand
fighting, the pope ordered the white flag to be
raised above the dome of St. Peter at 9:30 A.M. Ten
minutes later, all firing had ceased. The Italian
troops entered the city and took possession of it
all, leaving Vatican Hill untouched. The papal State
had ceased to exist. Its 16,000 square miles were
now reduced to 480,000 square meters on and around
Vatican Hill where St. Peter's it adjoining
buildings, and the Vatican gardens were clustered.”?[5]
Sách Thực Chất Đạo Công Giáo và
Các Đạo Chúa viết:
"Mexico cũng như cấc quốc
gia khác ở Trung và Nam Mỹ Châu đều có đại đa số dân
theo đạo Công Giáo. Dân số Mexico hiện nay lên tới
trên 100 triệu người. Mặc dầu đa số dân là những tín
đồ Công Giáo ngoan đạo, những đã hơn một thế kỷ qua
chính quyền Mexico đến nay vẫn tuyệt giao với
Vatican. Năm 1857, quốc hội và chính phủ Mexico đã
đưa ra bản hiến pháp mang tính chất cách mạng quyết
liệt chống lại Giáo Hội La Mã:
1.- Giải tán tất cả các tu
viện Nam cũng như nữ.
2.- Các nam tu sĩ bị cấm mặc
áo dòng khi xuất hiện ở nơi công cộng.
3.- Tịch thu toàn bộ tài sản
của Giáo Hội Công Giáo.
Tinh thần bản Hiến Pháp 1857
của Mexico được nhiều nước Mỹ Châu La Tinh noi theo.
Năm 1917, Mexico sửa lại hiến pháp nhưng các biện
pháp đối với Giáo Hội không thay đổi."
[6]
Sách Nói Chuyện Với Tổ Chức
Việt Nam Cộng Hòa Foundation ghi lại như sau:
" Tin của "The Register"
số ra ngày Thứ Bảy 20/ 9/1997 cho biết: "Đạo luật đã
chấp nhận "Chính Thống Giáo" là tôn giáo chính, kính
trọng các tôn giáo khác, như Hồi Giáo, Phật Giáo và
Do Thái Giáo. Đạo luật tạo ra một hàng rào ngăn cản
đối với những giáo phái toàn trị (Gia-tô, Tin Lành)
và hạn chế sự hoạt động của những nhà truyền giáo
ngoại quốc. Các nhà phản đối cho rằng Chính Thống
Giáo cũng ủng hộ đạo luật này như là một cách để
ngăn cấm những người Kitô khác như Gia-tô và Tin
Lành, không cho họ được tự do họat động ở Nga." Vào
ngày Thứ Sáu 19/9/1997, các nhà làm luật ở Hạ Viện
đã bỏ phiếu chấp thuận (đạo luật trên đây) với 358
phiếu thuận và 6 phiếu chống." ("The bill
enshrines Russia's Orthodox Church as the country's
preeminent religion, but also pledges repect for
religions such as Islam, Buddhism and Judaism. It
creates a barrier for totalitarian sects and limits
the activity of foreign missionaries. But critics
say the Orthodox Church also is backing the measure
as a way to prevent other Christians, such as
Catholics and Protestants, from operating freely in
Russia. On Friday, September 19, 1997, lawmakers in
the lower house, or Duma, voted 356-6 in favor of
the bill."
[7]
Nhật báo "Seattle-Post
Intelligencer [Seattle] ra ngày February 6, 2003"
nơi trang A3 với nguyên văn như sau:
"Ở Tây Ban Nha, nói đến
đạo Công Giáo La Mã là gợi lại hình ảnh nhà độc tài
phát xít Francisco Franco mà đồng tiền Tây Ban Nha
nào cũng đều có in hình của ông ta và quyền lực của
ông ta được hỗ trợ "bởi Ân Sủng của Thượng Đế"...
Ngọai Trưởng Tây Ban Nha Ana Palaciao tuyên bố,
"Điểm giống nhau của chúng ta là chiến đấu cho dân
chủ, chiến đấu cho nhân quyền và chiến đấu để "tách
rời tôn giáo ra khỏi chính quyền"
Một vi dân biểu quốc hội
Tiệp Khắc, (quốc gia này sẽ gia nhập Khối Âu Châu
Hợp Nhất vào năm tới), là ông Jan Zahadil tuyên bố,
"Đề cập đến Thượng Đế trong bất kỳ hiến chương nào
của Khối Âu Châu Hợp Nhất là môt ý kiến ngu xuẩn, nó
chỉ tạo nên những mối bất hòa mà thôi. Không được có
một tí gì liên hệ trực tiếp với tôn giáo cả."
Nguyên văn: "In
Spain, a reference to Catholicism evokes memories of
the facist dictator Francisco Franco, who stamped
every Spanish coin with his profile and backed his
grip on power "by the Grace of God."... Our identity
is the fight for democracy, for huuman rights, for
the separation between church and state," said
Spanish Foreign Minister Ana Palacio.
"Jan Zahradil, a Czech
parlimentarian whose country will join the EU next
year, said mentioning God in any EU charter was "a
stupid idea (that) will only provokes disagreements.
There should be no direct link to religion at all."]
[8]
Nước Ba Lan với tỉ lệ tín đồ
Gia-tô của Giáo Hội chiếm tới 95% và đã có kinh
nghiệm hơn 40 năm sống trong chế độ Cộng Sản. Ấy thế
mà khi có cuộc bầu cử tự do được tổ chức vào ngày
19/11/1995 thì họ thà chọn một ứng cử viện cựu đảng
viên Cộng Sản là ông Aleksander Kwasniewski còn hơn
là chọn ông Gia-tô Lech Walesa, một tín đồ ngoan đạo
tay sai đắc lực của Giáo Hội La Mã
HOA KỲ đã cương quyết
ghi vào hiến pháp điều khỏan tách rời tôn giáo
ra khỏi, tống cổ bọn giáo sĩ về với bàn thờ hành
nghề thày cúng để sống trên lưng tín đồ và
cắt đứt quan hệ ngọai giao với Tòa Thánh Vatican từ
năm 1867. Sự kiện này được nhà viết sử Lương Minh
Sơn ghi lại trong bài viết "Bài Học Chiến Tranh Việt
Nam Nhìn Từ Hậu Trường Chính Trị Hoa Kỳ" với nguyên
Văn như sau:
"Đối với Hoa Kỳ, mặc dù
là một đất nước được gây dựng trên nền tảng luân lý
và đạo đức của niềm tin nơi Thiên Chúa (Judeo-
Christian), tổ tiên của người Mỹ là những người Âu
Châu đã từng bỏ chạy qua đây để tránh sự ruồng bắt
của Tòa Thánh La Mã trong thời kỳ "Inquisition".
Thành thử, Hiến Pháp Hoa Kỳ nghiêm cấm và tách rời
mọi sự liên hệ về quyền lực chính trị giữa chính
quyền và tôn giáo, không phải chỉ vì trình độ ý thức
chính trị cao, mà còn là vì những kinh nghiệm đau
đớn có thật lúc trước. Nếu Hoa Kỳ đã cấm bang giao
với Cộng Sản Trung Quốc trong 23 năm (1949-1972),
với Cộng Sản Việt Nam 19 năm (1975-1994) vì không
tương quan trên chính kiến và quyền lợi thì Hoa Kỳ
cũng đã từng cấm bang giai với Vatican trong 117 năm
(1867-1984)"
[9]
Tất cả các nước theo chế
độ dân chủ tự đó ở Tây Âu và Bắc Mỹ đều ghi vào
hiến pháp của họ điều khỏan tách rời tôn giáo ra
khỏi chính quyền và cấm ngặt các ông giáo sĩ không
được làm chính trị.
Tất cả các nước theo
Hồi Giáo, Do Thái Giáo, Chính Thống Giáo và Tin Lành
bất cộng đái thiên với Giáo Hội La Mã.
Tất cả các nước theo Phật Giáo, Ấn Độ Giáo, Khổng Giáo và Thần
Đạo (Nhật Bản) đều khinh rẻ Giáo Hội La Mã như
là một tổ chức chính trị giảo hoạt mượn danh nghĩa
những tín lý bịp bợm để mê hoặc và lừa bp người đời
trong mưu đồ bành trướng chủ nghĩa bá quyền.
B.- Lá cờ vàng ba
sọc đỏ là sản phẩm của Liên Minh Đế Quốc Thực Dân
Xâm Lược Pháp – Vatican được cho ra đời vào ngày
5/6/1948 cùng với Giáo Pháp Bảo Đại. Giải Pháp Bảo
Đại là do chủ trương của Vatican được công khai hóa
bởi lời tuyên bố vào ngày 28/12/1945 của viên
Khám Sứ đại diện của Tòa Thánh Vaican tại Hà Nội là
Tổng Giám Mục Antoni Draper. Sự kiện này được sách
Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 (Tập A: 1939-1946) ghi
nhận với nguyên văn như sau::
“28/12/1945: “HUẾ:
Tổng Giám Mục Antono Drapier, đại diện Roma tuyên
bố:
“Gia đình BẢO ĐẠI là
“gia đình thân Pháp bậc nhất trong dân chúng (la
plus francophile de tous les annamites), và theo ý
ông ta, nên cho Bảo Đại lên ngôi như trước ngày 9/3
[1945] (À mon avis, il serait avantageux pour le
calme de rétablir le Roi comme chef régulier avant
le 9 mars; DOM [Aix], CP 125).
Drapier cũng đưa ra
giải pháp là có thể sau đó sẽ cho BẢO LONG lên kế
vị, và NAM PHƯƠNG làm Giám Quốc [Phụ Chính.]”
[10]
Có lẽ vì có sự giằng co giữa
một bên là phe bảo thủ thân Giáo Hội và một bên là
phe cấp tiến luôn luôn có lập trường chống Giáo Hội,
và vì hoàn cảnh thời cuộc, cho nên mãi tới trước khi
rời Sàigòn trở về Pháp vào ngày 15/3/1947, người của
Giáo Hội là cựu Linh-mục Georges Thierry d’
Argenlieu mới có cơ hội iại công khai đưa ra đề
nghị dùng Giải Pháp Bảo Đại và giao việc làm này cho
người kế nhiệm là Émile Bollaert (15/3/1947-
10/1948) tiến hành. Sử dụng Giải Pháp Bảo Đại có
nghĩa là dùng ông Bảo Đại “thuộc dòng chính thống
của nhà Nguyễn” làm lãnh tụ và dùng những người
Việt có tiếng tăm trong nhóm thiểu số phong kiến
phản động mà phần lớn là bọn cựu quan lại trong thời
Bảo Hộ đang bất mãn với Mặt Trận Việt Minh để thành
lập một chính quyền làm tay sai cho cả Vatican và
Pháp.
Đề nghị Giải Pháp Bảo Đại là
do người của Vatican là cựu Linh-mục d’ Argenlieu
(lúc đó còn giữ chức vụ Cao Ủy Đông Dương) đưa ra
vào tháng 1/1947. Sự kiện này được sách sử ghi lại
rõ ràng. Sách Vietnam: History, Documents and
Opinions on a Major World Crisis viết:
“Sau khi chiến tranh bùng
nổ trên toàn lãnh thổ Đồng Dương vào ngày
19/12/1946, trong một giác thư gửi chính quyền Pháp,
Cao Ủy Đông Dương d’ Argenlieu đế nghị đưa Bảo Đại
trở lại ngai vàng.” Nguyên văn: “In a
memorandum to the Paris government soon after
full-scale fighting broke out on December 19, d’
Argenlieu proposed returning Bao Dai to the throne.”[11]
Chúng ta thấy đề nghị này
rất ăn khớp với lời tuyên bộ của vị Khâm Sứ của Tòa
Thánh Vatican tại Hà Nội vào ngày 28/12/1945 như đã
nói ở trên.
Trở lại vấn đề liên minh
giặc đưa tên Việt gian Bảo Đại trở lại ngai vàng,
Sách Vietnam: A Political History cũng viết:.
“Từ khi tách rời khỏi
Việt Minh vào tháng 3 năm 1946, Bảo Đại trú ngụ ở
Hồng Kông. Vào tháng 1/1947, viên đặc sứ của d’
Argenlieu cho ông ta hay là người Pháp có một kế
hoạch dùng ông để chống lại Việt Minh. Rồi từ đó,
đặc biệt là từ khi Bollaert đến Saigòn nhận chức Cao
Ủy Đông Dương (vào ngày 15/3/1947 – NMQ), sứ giả của
Cao Ủy Bollaert và bọn Việt gian cũ (bọn cự quan lại
làm tay sai cho Liênh Minh Pháp - Vatican trong thời
1884-1945 - NMQ) tới tấp đến Hồng Kông để đưa tin và
tiếp xúc với Bảo Đại.” Nguyên văn: Bao
Dai had been residing in Hong Kong since disengaging
himself from the Vietminh in March, 1946. He had
learned of the French plan of using him against the
Vietminh back in January, 1947, from an emissary of
d’ Argenlieu. Ever since then, and particular after
Bollaert’s arrival in Saigon, messengers and old
collaborators of the French had been going to Hong
Kong…”[12]
Tuy rằng đề nghị này được
khởi tiến vào tháng 1/1947, nhưng nó phải trải qua
một thời kỳ bàn luận giữa Vatican và Pháp và thời kỳ
cho người đi móc nối với ông Da-tô Nguyễn Phúc Vĩnh
Thụy (Bảo Đại) lúc bấy giờ đang lưu trú ở Hông Kông.
Sau một thời gian cò cưa mà cả giữa sứ giả Cousseau
của Liên Minh Thánh Pháp – Vatican và Bảo Đại, tới
cuối tháng 5 năm 1948, thì mọi việc coi như đã xong
xuôi. Tuy là đã xong xuôi, nhưng Liên Minh Thánh
Pháp – Vatican cũng vẫn không thể lối cuốn được
những người có uy tín với nhân dân và bất mãn với
Mặt Trận Việt Minh để thành lập một chính quyền cho
Giải Pháp Bảo Đại này. Những người có uy tín hay có
thành tích cách mạng chống Liên Minh Thánh Pháp –
Vatican trước tháng 8/1945 như các ông Nguyễn Hải
Thần, Nguyễn Tường Tam, Nhượng Tống, Nguyễn Tiến
Hỷ, v.v… đều lánh xa, không tham dự. Trong khi đó,
tình hình chiến sự ở Đông Dương càng ngày càng trở
nên bất lợi cho Liên Minh Thánh Xâm Lăng Pháp -
Vatican. Vì tình huống này, Vatican và Pháp mới
hối hả đồng thuận biến chính phủ “Cộng Hòa
Nam Kỳ” thành “chính phủ quốc
gia” với toàn bộ nội các gồm toàn những người
hoặc là mang quốc tịch Pháp, hoặc là mang quốc tịch
Vatican, hoặc là trong giới quan lại trong thời “Trăm
năm nô lệ giặc Tây” (như các ông Nguyễn Văn
Xuân, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, Phan Văn Giáo,
Nghiêm Xuân Thiện, Nguyễn Hữu Trí, Đặng Văn Trí,
v.v… ) và cho ra mắt vào ngày 5/6/1948. Danh xưng
“Quốc Gia” hay “Quốc Gia Việt Nam” xuất hiện kể từ
đó. Sự kiện này được ông Lê Xuân Khoa ghi lại trong
cuốn Việt Nam 1945-1995 - Tập I với nguyên văn như
sau:
“Danh hiệu “Quốc Gia Việt
Nam” (QGVN) được sử dụng từ ngày 5 tháng Sáu 1948,
sau khi Cao Ủy Pháp tại Đông Dương Émile Bollaert và
Thủ Tướng Chính Phủ Trung Ương Lâm Thời Nguyễn Văn
Xuân ký bản thông cáo chung tại Vịnh Hạ Long nhìn
nhận nền độc lập của Việt Nam…”
[13]
Cũng từ ngày này, những
cụm từ “Quốc Gia Việt Nam”, “Chính Quyền Quốc Gia”
và “người Việt Quốc Gia” trở thành những cái phao
cho bọn Việt gian bán nước cho Liên Minh Pháp –
Vatican bám lấy và dùng làm bức bình phong che đậy
cho những việc làm phản dân hại nước của chúng. Đồng
thời, những cán bộ tuyên truyền của Giáo Hội La Mã
dồn hết nỗ lực để tô son điểm phấn cho những cái mà
họ gọi là “chính quyền quốc gia”, “chính
nghĩa quốc gia” và “người Việt quốc gia”
với dã tâm làm cho những người ít học và kém thông
minh lầm tưởng rằng những thằng Việt gian đang đứng
trong hàng ngũ Liên Minh Pháp – Vatican cũng như
trong chính quyền bù nhìn Bảo Đại trên đây là những
“người Việt quốc gia yêu nước” chiến đấu cho
chính quyền quốc gia, chứ không phải là chiến đấu
cho Liên Minh Thực Dân Xâm Lược Pháp – Vatican.
Nhìn vào thành phần trong
cái chính phủ quốc gia do Liên Minh Thánh Vatican -
Pháp Vatocan nặn ra này và bản chất làm tay sai cho
Vatican của nó, các nhà sử học thấy nó giống y như
chính phủ của Vua Louis XVIII (1814-1824) được Liên
Minh Thánh Vatican – Anh – Nga – Á - Phổ nặn ra vào
năm 1814 khi chính quyền của Hoàng Đế Napoléon I
(1802-1814) bị Liên Minh Thánh này đánh bại.
Kể từ đó (ngày
5/6/1948) cho đến ngày 30/4/1975, nhờ đã cấu kết
chặt chẽ với Pháp và với Hoa Kỳ, Giáo Hội La Mã đưa
mấy tín đồ Da-tô đáng tin cậy nhất lên nắm quyền
lãnh đạo chính quyền bù nhìn này và chọn Sàigòn làm
thủ đô. Để lạc dẫn nhân dân Việt Nam cũng như nhân
dân thế giới và cũng là để trút bỏ được cái gánh
nặng mặc cảm tội ác “làm Việt gian bán nước
cho Vatican và cho Pháp” trong tâm tư tín đồ
Da-tô người Việt thuộc loại Tôn Thọ Tường, Vatican
ra lệnh cho bộ máy tuyên truyền sử dụng tất cả mọi
phương tiện truyền thông (đài phát thanh, báo chí,
truyền đơn và rỉ tai trong xóm đạo) rầm rộ mở chiến
dịch đại quy mô để đánh bóng, dán cho chính quyền
bù nhìn này là “chính quyền quốc gia” và dán cho
những tên Da-tô Việt gian này cái nhãn hiệu “những
người quốc gia yêu nước chân chính”. Tiếp theo
đó, Linh-mục Trần Hữu Thanh được lệnh chế ra
(họa kiểu) lá cờ vàng ba sọc đỏ để làm tiêu biểu cho
“chính nghĩa quốc gia”, Đỗ Mậu, Tâm Thư
(Houston, TX: Hoa & Thân Hữu, 1995), tr.336-339.
rồi cuỗm bài “Tiếng Gọi Thanh Niên”
của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước làm quốc ca.
Phần trình bày trên đây
cho chúng ta thấy rỏ cả Giải Pháp Bảo Đại và lá cờ
vàng ba sọc đỏ cùng với những cụm từ “người
Việt Quốc Gia với chính chính quyền Quốc Gia chiến
đấu cho chính nghĩa quốc gia dưới lá cờ vàng ba sọc
đỏ” đều là những màn kịch do bàn tay phủ thủy
của Vatican đạo diễn cả. Mục đích của những màn
kịch này là khoác cho nhóm thiểu số tín đồ Da-tô
người Việt cùng bọn phong kiến phản động và bọn lưu
manh xu thời đón gió cái áo “người Việt Quốc Gia”
tranh đấu cho quyền lợi quốc gia Việt Nam” để cho
chúng bớt đi cái mặc cảm là Việt gian bán nước cho
Pháp và Vatican. Kể từ đó, Vatican ra lệnh cho bộ
máy truyền truyền và tín đồ Da-tô người Việt khua
chiếng gióng trống cỗ võ cho mấy màn kịch này.
Ngày 7/5/1954, tập đoàn
cứ điểm tại Điên Biên Phủ của Liên Minh Pháp –
Vatican bị thảm bại khiến cho chính quyền Pháp phải
thương thuyết nghiêm chỉnh với chính quyền Kháng
Chiến Việt Nam tại Hội Nghị Genève, công nhận chủ
quyền nên độc lập của dân tộc Việt Nam và rút quân
vế Pháp. Hành động này của chính
quyền Pháp khiến cho Liên Minh Pháp – Vatican tan
vỡ.
Pháp bỏ cuộc, rút lui
khỏi Việt Nam, nhưng Tòa Thánh Vatican không bỏ
cuộc. Là một thế lực chính trị đã từng lăn lộn trên
chính trườngị Âu Châu và vũ đài thế giới trong gần
hai ngàn năm trời, cho nên ngay từ khi Mao Trạch
Đông và Đảng Cộng Sản Trung Quốc làm chủ toàn thể
lục địa Trung Quốc vào ngày 1/10/1949, Vatican đã
tiên liệu là Pháp sẽ không còn khả năng tiếp tục
theo đuổi cuộc chiến tái chiếm Đông Dương và sớm
muộn rồi cũng phải bỏ cuộc, rút quân khỏi Đông
Dương. Biết rõ như vậy, Vatican mới ra lệnh cho
Giám-mục Ngô Đình Thục dẫn ông Da-tô Ngô Đình Diệm
sang Mỹ trao cho Hồng Y Francis Spellman có nhiệm vụ phải tích cực vận động các nhân vất có
thế lực trên sấn khấu chính trị Hoa Kỳ làm áp lực
với chính quyền Pháp và Quốc Trưởng Bảo Đại (bằng
tiền viện trợ) để đưa ông ta về Việt Nam cầm quyền
làm tay sai cho cả Mỹ và Vatican. Rốt cuộc, vào mùa
xuân năm 1954, khi các trận đánh giữa quân đội Kháng
Chiến Việt Nam và quân đội viễn chinh Liên Minh Pháp
– Vatican đang diễn ra ác liệt tại Điện Biên Phủ,
thì Liên Minh Mỹ - Vatican thành hình vào cuối tháng
6/1954, và ông Da-tô Ngô Đình Diệm được Mỹ đưa về
Việt Nam cầm quyền đúng như ý muốn của Tòa Thánh
Vatican.
Tháng 4/1975, Hoa Kỳ
cuốn gói ra đi khỏi Việt Nam và quyền lực của
Vatican ở Việt Nam cũng không còn nữa. Cũng vì thế
mà màn kịch ”chính quyền Quốc Gia” cũng được hạ
màn. Thế nhưng, Vatican vẫn còn cố đấm ăn xôi, vẫn
còn tiếp tục sử dụng nhóm thiểu số tím đồ Da-tô
người Việt để thi hành sách lược “quậy cho ao
nước Việt Nam đục ngầu lên để thả câu”. Vì lẽ
này, Vatican mới ra lệnh cho bộ máy tuyền truyền hâm
nóng lại các màn kịch “chính nghĩa quốc gia” và “lá
cờ vàng ba sọc đỏ”. Cũng vì thế mà từ đầu thập niên
1980, chúng ta thấy tại Âu Châu và Bắc Mỹ, bọn người
mang bản chất vong bản, phản dân tộc phản quốc này
cấu kết cùng với bọn người vong bản đã được Liên
Minh Mỹ - Vatican ưu đãi trong những năm 1954-1975
và bọn lưu manh xu thời đón gió có những hành động
rất hăng say đòi hủy bỏ lá quốc kỳ Cờ Đỏ Sao Vàng
(và nếu có thể thay thế bằng lá cờ vàng ba sọc đỏ)
với thâm ý xoá bỏ hết những chiến công anh dũng trên
đây của nhân dân ta trong hai cuộc chiến giành độc
lập và thống nhất đất nước dưới quyền lãnh đạo của
Mặt Trận Việt Minh, và cũng là để các thế hệ mai này
không còn nhớ đến những vết nhơ về những rặng núi
tội ác của Vatican và tín đồ Da-tô người Việt đã
chống lại dân tộc và tổ quốc Việt Nam trong suốt
chiều dài lịch sử từ năm 1784 cho ngày 30/4/1975 và
cho đến ngày nay vẫn còn tiếp tục.
Như vậy là, lá cờ vàng
ba sọc đỏ được cho ra đời vào ngày 5/6/1948:
Cha đẻ ra nó là Đế Quốc
Thực Dân Dân Xâm Lược Pháp.
Mẹ đẻ ra nó là Vatican.
Thằng cha đẻ ra nó bị
Quân Đội Kháng Chiến của nhân dân Việt Nam dưới
quyền lãnh đạo của Mặt Trận Việt Minh đánh bai tại
Điện Biên Phủ vào ngày 7/5/1954, phải cuốn goi ra
đi, để lại mẹ con nó bơ vơ. Rồi mẹ Vatican của nó
chài mồi tái giá với Hoa Kỳ và lôi kéo Hoa Kỳ đến
Việt Nam. Nó trở thành đứa con ghẻ của Hoa Kỳ. Cuối
cùng, ông bố ghẻ của nó cũng không thể đương đầu với
Quân Đội Miền Bắc quyết chiến để giải phóng miền Nam
và cũng phải cuốn gói ra đi cùng với mẹ nó vào ngày
30/4/1975, bỏ lại nó bơ vơ, không có người nuôi
dưỡng, cho nến nói đã chết ngỏm khoảng 10:30 sáng
ngày hôm đó.
Tính từ khi nó ra đời
vào ngày 5/6/1948 cho đến khi nó tắt thở vào ngày
30/4/1975. Tuổi thọ của nó chỉ vỏn vẹn có 26 năm 10
tháng 24. Như vậy nó chỉ hiện diện ở Việt Nam hay ở
bất cứ nới nào trên thế giới trong thời gian này mà
thôi.
Trong thời gian này (từ
5/6/1948 cho đến ngày 30/4/1975), Việt Nam ở trong
tình trạng chiến tranh do Liên Minh Pháp-Vatican đem
quân tái chiếm Đông Dương và Đế Quốc Hoa Kỳ can
thiệp vào cuộc chiến này mà gây nên. Như đã nói ở
trên, để che đậy dã tâm xâm lăng Việt Nam, Liên
Minh Pháp – Vatican sử dụng nhóm thiểu số tín đồ
Da-tô và lôi kéo thêm bọn phong kiến phản động bản
địa làm tay sai cho chúng để chống lại dân tộc Việt
Nam, rối sáng chế ra cụm từ “những người Việt
Quốc Gia” chiến đấu cho “chính nghĩa Quốc Gia”
khoác cho bọn Việt gian ”Thà mất nước, chứ không
thà mất Chúa” và chế ra lá cờ vàng ba sọc đỏ để
làm biểu tượng tranh đấu cho chúng với hy vọng làm
giảm nhẹ cái mặc cảm phản quốc của chúng.
Do thực trạng này, đại
khối dân tộc theo tam giáo cổ truyền chiếm tới 93%
trên tổng số người dân Việt Nam (không phải là tín
đồ Da-tô cuồng tín, không phải là bọn phong kiến
phản động và không phải làn bọn lưu manh xu thời) và
đối với nhân dân thế giới, lá cờ vàng ba sọc đỏ
chẳng có giá trị gỉ cả. Nhìn thấy ba sọc đỏ chạy
dọc ngang trên nền vàng, người ta có cảm tưởng ba
cái sọc đỏ này biểu tượng cho thế lực ngoại thù
Pháp, Vatican và Hoa Kỳ hùa nhau đè lên thân thể dân
tộc Việt Nam ta. Từ đó, người ta không khỏi nhớ đến
những vết nhơ của bọn Việt gian bán nước cho ba thế
lực này. Như vậy, nó là biểu tượng cho mối ô nhục cho
tổ quốc Việt Nam. Thiết tưởng rằng những ai còn nhận
mình là người Việt Nam thì phải nguyền rủa nó và khử
diệt nó, đào sấu chôn chặt nó như dân ta đã
nguyền rủa và khử diệt những thằng Việt gian đầu sỏ được
cả ba thế lực ngoại thù này nuôi dưỡng, đfo luyện và
đưa lên cầm quyền làm tay sai cho chúng.
Ngày 28
/12/2007
CHÚ THÍCH
[1] Nhiêu tác gả, Vatican Thú
Tội và Xin Lỗi? (Garden Grove, CA: Giao
Đi?m, 2000), tr. 245-246.
[2] J.E. Boshier, The French
Revolution (New York, W. W. Norton &
Company, 1988), tr 155.
[3] Arnold Schrier & T. Walter,
Living World History (Glenview, Ill.:
Scott, Foresman and Company, 1974),p. 398.
[4] Malachi Martin, Ibid.,
pp. 232-233.
[5] Malachi Martin, Rich
Church Poor Church (New York: Putnam’ s,
1984), p. 170.
[6] Charlie Nguyễn, Thực Chất
Đạo Công Giáo Và Các Ðạo Chúa
(Garden Grove, CA: Giao Đi?m, 2003), tr 159
[7] Nguyễn Mạnh Quang, Nói
Chuyệ Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa
Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên,
2004), tr 50-51.
[8] Constant Brand (Associated
Press). ""Seattle-Post Intelligencer"
[Seattle] February 6, 2003" Page A3
[9] Lê Hữu Dản, Sự Thật (Đặc
San Xuân Đinh Sửu 1997) ( Fremont,
CA:TXB, 1997), tra28.
[10][10]
Chính Đạo, Việt Nam Niên Bửu 1939-1975
-T?p A: 1939-1946 (Houston, TX: Văn Hóa
1996), tr.295.
[11] Marvin E. Gettlemen, Viet
Nam: History, Documents and Opinions on a
Major World Crisis (New York:Fawcett
Publications, Inc. , 1965), p. 69..
[12] Joseph Buttinger, Vietnam: A
Political History (New York: Frederich A
Praeger, 1968), p 288.
[13] Lê Xuân Khoa, Sdd,, tr. 161.
|