|
Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều
có một là cờ gọi là quốc kỳ và thường thường có hai đặc tính:
Đặc tính thứ nhất: Quốc kỳ là biểu tượng của một quốc gia và cũng
là nói lên sự xuất hiện của nó vào một thời điểm đất nước trở mình, toàn
dân đồng lòng đứng lên làm lịch sử, quyết tâm liều chết chiến đấu cho lý
tưởng cao đẹp là phục vụ cho quyền lợi tối thượng của tổ quốc và dân tộc,
phục vụ cho phúc lợi của con người ở trong cõi đời này. Quốc kỳ cũng là
biểu tượng cho
những trang sử oai hùng của dân tộc với những chiến tích hoàn thành được
nhiệm vụ lịch sử: hoặc là đánh tan được quân cướp xâm lăng, hoặc là đạp đổ chế độ đương quyền
tham tàn bạo ngược để thiết lập một chế độ chính trị mới thể theo nguyện
vọng của toàn dân (hay ít ra cùng là tuyệt đại khối dân tộc), thích
hợp với trào lưu tiến hóa của nhân loại.
Đặc tính thứ hai: Quốc kỳ và quốc ca của một quốc gia gần như là một cặp song sinh
như bóng với hình. Nhìn thấy quốc kỳ là người ta nhớ đến quốc ca, và
nghe thấy quốc ca là người ta hình dung đến quốc kỳ. Thông thường
quốc kỳ có trước rồi mới có quốc ca.
Thế nhưng là cờ vàng ba sọc đỏ của những người tự nhận là "Người Việt
Quốc Gia" lại có một sự nghịch thường giống như sự nghịch thường của cái
gọi là "chính quyền Quốc Gia" do Liên Minh Pháp - Vatican thành lập với
chủ trương đưa ông Bảo Đại Làm quốc trưởng được cho ra đời vào ngày
2/6/1948 (có sách ghi là ngày 5/6/1948) và bị khai từ vào buổi sang ngày
30/4/1975.
Bài viết này có mục đích trình bày về :
1.- Hai đặc tính thông thường của quốc kỳ và quốc ca của các quốc gia đã
từng là những thế lực chủ chốt trong hai cuộc chiến 1945-1954 và
1954-1975, và
2.- Tính cách nghịch thường của chính quyền Quốc Gia Việt Nam và của lá
cờ vàng ba sọc
NHỮNG ĐẶC TÍNH THÔNG THƯỜNG
CỦA QUỐC KỲ VÀ QUỐC CA
I.- Đặc tíng quốc kỳ là biểu tượng cho quốc
gia và cũng là nói lên thời điểm xuất hiện của nó...- Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng
khi một quốc gia bị áp đặt phải sống dưới ách thống trị của một đế quốc
thực dân xâm
lược, hoặc một liên minh đế quốc (trường hợp Đông Dương trong những năm
1885-1945) hay của một chế độ chính
trị tham tàn bạo ngược, thì các nhà ái quốc của quốc gia đó sẽ phải vùng lên phất cờ kêu gọi toàn dân cùng
nhau chung lưng góp sức chiến
đấu đánh đuổi quân cướp ngoại thù hay đập tan chế độ bạo ngược đương quyền
để thiết lập một chế độ
chính trị mới đúng theo nguyện vọng của toàn dân. Ở vào trường
hợp này, khi phát khởi cuộc chiến, họ đều chọn một
kiểu mẫu của lá cờ có kích thước, mầu cờ và hình tượng ở trong đó
phải là (1) biểu tượng cho khát vọng hay lý tưởng mà họ đang
theo đuổi, và (2) biểu tượng cho chủ trương phải dứt khoát khử diệt
tận gốc cái chế độ đương quyền và quét sạch những tàn tích của nó.
Cũng nên biết một chế độ chính trị tham tàn bạo ngược có thể là chính quyền của một đế quốc xâm lược
tại một quốc gia bị
chinh phục (trường hợp Việt Nam trong những năm 1885-1945), cũng có thể
là một chính quyền quân chủ chuyên chính bạo ngược (như các chính quyền của vua
Kiệt, vua Trụ ở Trung Hoa, vua Lê Long Đĩnh (1005-1009) ở Việt Nam), và
cũng có thế các chế độ đạo phiệt Ca-tô tham tàn man rợ tay sai của
Vatican (như triều đại Louis XVI
(1774-1789) ở Pháp, chế độ Ante Pavelich (1941-1945) ở Croatia, chế độ
Ngô Đình Diệm (1954-1963) ở miền Nam Việt Nam, chế độ Augustin Misago
(1994) ở Rwanda, v.v...)
A.- Biểu tượng cho lý tưởng mà họ đang theo đuổi .- Biểu tượng
cho lý tưởng mà họ dang theo đuổi có nghĩa là khi
thành công họ phải thết lập một chế độ chính trị mới, hoàn toàn mới với
những nhận sự mới, hiến pháp mới, những luật pháp mới thích hợp với khát
vọng của toàn dân hay tuyệt đại khối nhân dân để mang lại cho
người dân một luồng sinh khí mới với những nếp sống hay sinh hoạt mới. Ta
gọi chế độ chính trị mới như vậy là chính quyền cách mạng. Đây là các
chính quyền Cách Mạng Anh 1688, Cách Mạng Hoa Kỳ 1776, Cách Mạng
Pháp 1789, Cách Mạng Mễ Tây Cơ 1857, Cách Mạng Ý Đại Lới 1870, Cách Mạng
Nga 1917, Cách Mạng Trung Hoa 1911 và 1949, Cách Mạng Thổ Nhĩ Kỳ 1923,
Cách Mạng Tây Ban Nha 1936, Cách Mạng Việt Nam 1945, Cách Mạng
Cuba 1959, v.v..., Cách Mạng Nicaragua 1979, v.v....
B.- Khử diệt tận gốc tất cả những tàn tính của chế độ cũ.-
Ngay sau khi lật đổ được chế độ cũ, chính quyền cách mạng có nhiệm
vụ phải ban hành những biện pháp mạnh để:
1.- Khử diệt tất cả những gì nặng tính cách phong kiến, lạc hậu
làm mất phẩm giá con người, những gì làm cho con người hèn hạ và mất
hết liêm sỉ (như phủ phục gục mặt xuống ôm hôn bàn chân của giáo chủ,
gục mặt xuống ôm hôn giầy dép của các nhà truyền giáo, gục mặt
xuống ôm hôn cái nhẫn của giám mục);
2.- Khử diệt tất cả những gì hoang đường và phi lý nặng tính cách
phỉnh gạt và lừa dối nhân dân để thủ lợi,
3.- Truất bỏ hết cả đặc quyền đặc lợi dành cho một nhóm người gây nên
cảnh bất công trong xã hội. Thí dụ như tình cảnh nước ta trong mùa xuân năm Ất
Dậu 1945 trong khi dân ta chết đói đầy đường, con số nạn nhân lên hai
triệu người thì tất cả nhà thờ Ca-tô vẫn thản nhiên bình chân như
vại, vẫn chất chứa thóc lúa đầy kho, đầy vựa không cần quan tâm hay động lòng
giúp đỡ những nạn nhân khốn cùng, không tìm đâu ra chén cơm để sống cho qua
ngày.
4.- Tách rời chuyện thờ phượng và cũng lễ ra khỏi chính quyền khiến cho
bọn lưu manh buôn thần bán thánh không còn có cơ hội mượn danh tôn giáo, lũng đoạn chính quyền để
mưu đồ trục lợi.
5.- Nâng cao dân trí bằng chính sách giáo dục tự do khai phóng,
nâng cao môn học Sử Ký, Địa Lý và Công Dân lên ngang hàng với các môn
học chính như Việt Văn, Toán, Lý , sinh ngữ chính về thời lượng cũng như
về hệ số. Đưa toàn bộ bài học lịch sử thế giới từ và toàn bộ bài học
quốc sử A đến Z vào trong chương trình học để:
a.- Làm cho mọi người đều biết rằng (1) các giải ngân hà và tinh tú đã
xuất hiện cách đây 15 tỉ năm, (2) trái đất đã có cách đây trên 600 triệu
năm, (3) thủy tổ loài người đã có cách đây vào khoảng 40 triệu, (4) con
người hiện đại (modern man) đã xuất hiện trên trái đất này ít nhất là 50
ngàn năm, chứ không phải mới có vào khoảng cách đây trong khoảng
từ 6 dến 10 ngàn năm như Cựu Ước của đạo Ca-tô đã nói.
b.- Làm cho mọi người đều phải ý thức được rằng trong suốt chiều
dài lịch sử, tiền nhân ta đã tốn không biết bao nhiêu mồ, nước mắt
và xương máu trong các công cuộc dựng nước, mở nước và giữ nước mới có
được giang sơn như ngày nay. Do đó tất cả mọi người đều phải có bổn phận
đối với đất nước (quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách), phải
tuân hành luật pháp quốc gia, thi hành nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc, CHỨ
KHÔNG PHẢI "chỉ biết tuân lệnh ông giáo hoàng ở La Mã" mà cúi đầu
gục mặt xuống (1) tổ chức đại lế vô cùng long trọng đem dâng nước Việt
Nam cho Vatican như Ngô Đình Diệm đã làm vào tháng 12/1959, và (2)
hè nhau đem kìm, đem búa và xà beng đến phá cổng đập tường xông vào trụ
sở của một cơ quan công quyền tại số 42 Phố Nhà Chung, Hà Nội làm
trò hề thắp nến cầu nguyện trong những ngày từ 18/12/2007 đến ngày
30/1/2008 để đòi tái chiếm thửa đât này dâng cho Vatican, một thế lực đã
từng cấu kết với đế quốc thực dân xâm lược Pháp trong thời đánh chiếm và
thống trị nước ta trong những năm 1958-1954.
c.- Làm cho mọi người hiểu rằng (1) chỉ có thể tin được
những gì thuận lý (logic), hợp với lẽ phải, hợp với công lý (common
sense), (2) phải loại bỏ những gì nhảm nhí, hoang đường,
những gì nghịch lý, không hợp với lẽ phải, không đúng với công lý, (3),
không thể dùng cục đất sét nặn thành hình người rồi hà hơi biến thằng
người đất sét đó thành con người với đủ cả thất tình lục dục được,
không thể có chuyển ma quỉ hay thiên thần đến làm tinh hay hiếp dâm một
trinh nữ đến độ mang thai rồi để ra ông Jesus, không thể có chuyện cion
người đã chết rồi lại có thể sống lại và bay như loài chim để bay về
trời được, và cũng không thể có chuyện một bà già xế đã có chồng
và có tới 7 hay tám người con như bà Maria mà lại có thể gọi Đức Mẹ Đồng
Trinh Được. Những chuyện hoang đường phi lý này hoàn toàn là do bọn lưu
manh buôn thần bán thánh mượn danh tôn giáo bia đặt ra để lường gạt
người đời hầu thủ lợi, giống như bọon thày cúng ở trên bờ sông Chương
Thủy ở nước Ngụy (Trung Quốc) trong thời tiền Tần cấu kết với bọn
cường hào ác bá địa phương bịa đặt ra chuyện ông thần hà bá ở khúc sông
này đòi phải mỗi năm phải cưới cho ông ta một cô vợ trẻ đẹp, nếu không,
thì ông ta thì ông sẽ dâng nước làm ngập lụt gây nguy hiểm đến sinh mạng
và tàn phá nhà cửa cùng mùa màng của nhân dân trong vùng.
d.- Giải trừ cho người dân thoát người tệ nạn mê tín dị đoan làm
mê hoặc lòng người khiến cho nạn nhân rơi vào tình trạng mông muội, rồi
sa vào cái bẫy phỉnh nịnh và lừa gạt của bọn lưu manh mượn danh tôn
giáo để lừa gạt người đời.
e.- Làm cho người dân thấu hiểu rằng "chưa
biết được sự sống ở trên cõi đời này, thì làm sao biết được sự chết? Làm
sao biết được quỉ thần hay thần thánh? Làm sao biết được có thiên đường,
có hỏa ngục?"
f.- Làm cho người dân hăng say tìm cơ hội đến nói chuyện trực tiếp với bọn người
làm nghề rao giảng về thế giới
thần linh và thiên đường để đặt vấn đề với họ rằng,
"Các
ông chưa hề sống trong thế giới thần linh và cũng chưa hề bao giờ lên
thiên đường hay xuống hỏa ngục, tức là không biết gì hết về thế giới thần linh, ma quỉ, không
biết gì hết về những gì các ông rao truyền. Ấy thế mà các ông cứ nói khơi khơi như là người đã
gặp và đã sống với quỉ thần, như là người đã lên tới thiên đường và đã xuống
tới hỏa ngục! Như vậy thì có phải là lừa bịp người đời không?"
g.- Làm cho mọi người ý thức được rằng chế độ quân chủ dù là
trung ương tập quyền dù là quân chủ lập hiến cũng đều là phi lý, bất
công, cho nên nó đã trờ thành lỗi thờt, không còn thích hợp với trào lưu
tiến hóa của nhân loại. Cũng vì thế mà từ khi Cách Mạng Pháp bùng nổ vào
năm 1789, cái chế độ chính trị này đã bị xếp xó cho vào viện
bảo tàng hoặc là đào sâu chôn chặt hay liệng vào sọt rác rồi. Chỉ có
những quân phong kiến phản động hay những hạng người ngu si không
biết sử dụng lý tri để suy luận mới vẫn còn nằm mơ bơi ngược dòng lịch
sử, hy vọng tái lập nó để phục hồi cái quyền hét ra lửa, mửa ra
khói, cái quyền ăn trên ngồi trốc và cưỡng bách nhân dân phải làm
trâu ngựa cho chúng sai khiến và bóc lột.
h.- Làm cho mọi người ý thức được rằng họ là công dân (citizen) của
một quốc gia độc lập, có văn hiến, có lịch sử, chứ không phải là thần dân
(subject) của một ông vua (monarch) của thời quân chủ phong kiến và cũng
không phải là một tên nô lệ, tôi đòi hèn mọn của Tòa Thánh Vatican
hay của ông Chúa Bố, Chúa Con nào cả. Do đó, phải làm cho tất cả
mọi người dân hiểu rằng bổn phận của họ là phải tuyệt đối trung thành
với tổ quốc, trung thành với dân tộc, phải triệt để vâng phục và tuân
hành hiến pháp và luật pháp của đất nước, CHỨ KHÔNG PHẢI tuyệt đối trung
thành với ông giáo hoàng ở La Mã, CHỨ KHÔNG PHẢI triệt để vâng phục và tuân
hành những lời dạy, những lệnh truyền của Tòa Thánh Vatican hay của Giáo Hội
La Mã như các ông truyền giáo Ca-tô đã dạy dỗ tín đồ Ca-tô người Việt
rằng:
"Người Công Giáo Việt Nam đừng thừa nhận quyền lực của Nhà Vua (nhà
Nguyễn - NMQ) và luật pháp nước họ. Họ nói với con chiên (rằng): Đức
Giáo Hoàng ở La Mã (Rome) mới là vị vua tối cao duy nhất của họ. Họ chỉ
tuân phục quyền lực của Tòa Thánh Vatican." Nguyễn Xuân Thọ,
Bước Mở đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp ở Việt Nam
1858-1897 (Saint Raphael, Pháp, 1995), tr. 17.
i.- Làm
cho những kẻ còn kẹt cứng trong cái tròng Ca-tô (Catholic loop)
thức tỉnh, thoát ra khỏi cơn mộng du "mơ về nước Chúa" để họ quyết
tâm dứt bỏ cái tinh thần hèn hạ khiếp nhược, đến độ mất hết cả liêm sỉ, cam tâm làm tôi đòi hèn mọn cho tập đoàn lưu manh
buôn thần bán thánh tự phong là "Hội Thánh duy nhất, thánh
thiện, công giáo và tông truyền". Họ hèn hạ và khiếp nhược đến
độ khi phải
viết hay nói điều gì với bọn thày cúng mà cũng khiếp đảm
run sợ như trường hợp ông Ca-tô Nguyễn Mậu đã viết:
”Vấn đề được nêu
lên ở đây với tất cả mạo muội và run sợ vì có thể bị xem như
là vô lễ phạm thượng. Chúng tôi trông vào sự độ lượng của hàng giáo
phẩm cũng như hy vọng rằng sự trưởng thành của giáo dân ở thời đại này
sẽ giúp thật nhiều cho sự thể hiện lý tưởng Ki tô hữu”.
Nguyễn Mậu: "Thời Sự Trong Tuần" Chính Nghĩa - Bộ Mới Số 251
[San Jose, California] ngày 03/12/1994.
j.- Làm cho mọi người cảm thấy hãnh diện về đất nước và dân tộc
của mình. Chính quyền cách mạng nào cũng cố gắng làm cho người dân
biết hãnh diện là con dân của đất nước có những trang sử oai hùng
với những truyền thống bất khuất nhất định không chịu cúi đầu làm
nô lệ người ngoại bang và cũng nhất định không chịu cúi đầu làm nô lệ
cho bọn lưu manh buôn thần bán thánh tự phong là "Hội Thánh duy nhất,
thánh thiện, công giáo và tông truyền" và nói láo rằng
"Ngoài
Giáo Hội không có cứu rỗi".
k.- Làm cho mọi người ý thức được rằng, thượng đế hay ông trời, nếu có,
thì phải là những đấng có khả năng tột đỉnh thông minh và có những
đức tính vô cùng cao quý. Những đức tính đó là chí công vô tư, cực kỳ quang minh
chính trực, không thiên vị ai, không thù ghét ai, không ưa
nịnh, không thích nghe những lời cầu khấn nhảm nhí, không thích
nghe những lời tôn vinh phỉnh nịnh, bợ đỡ nhàm tai (giống như
những lời cầu khấn của tín đồ Ca-tô trong các buổi lễ ở trong các nhà thờ của
họ),
không nhận của hối lộ hay lễ vật hoặc tiền bạc dâng cúng. Vậy thì
nếu có ác tâm hại người khác hay đã phạm một tội ác nào thi dù có dâng
lễ vật hậu hĩ đến bao nhiêu đi nữa và cầu khấn bao nhiêu đi nữa thì cũng
là vô ích. Ngược lại, nếu không có ác tâm đối với người nào, không gian
dối, không làm gì có hại đến quyền lợi, danh dự hay sinh mạng của người
khác, thì dù cho không bao giờ đến dự lễ ở nhà thờ hay ở bất cứ nơi đâu,
không bao giờ mang lễ vật hay tiền bạc đến nhà thờ để dâng cúng, không
bao giờ đọc kinh cầu khấn, thì thượng đế hay ông trời cũng vẫn ban
thưởng cho được sống thoải mái, lúc nào cũng cảm thấy phơi phới thành
thơi và lương tâm thanh thản.
Do đó việc dâng lễ vật và cầu khấn với hy vọng được thượng đế hay ông
trời ban cho những ân sủng đặc biệt hay Hồng Ân Thiên Chúa đều là vô
ích.
l.- Làm cho họ thức tỉnh để nhìn ra sự thật là cái tục lệ đem lễ vật đến nhà thờ dâng cúng này là do bọn lưu manh làm nghề
thày cúng người Do Thái mượn danh thần thánh bày đặt ra để trục lợi mà thôi. Tục lệ này
được gọi là luật cung phụng giáo sĩ và được ghi lại trong Cựu
Ước, sách Deuteronomy = Phục Luật (18:3-4):
"Dân dâng cúng Thiên Chúa bò hay cừu
thì phải dâng cho giáo-sĩ, cái vai, cái hàm, cái bụng. Dân vừa mới thu được
phẩm vật canh nông là phải biếu giáo sĩ của đầu mùa, từ rượu cho họ
uống, gạo ho cho họ ăn đến lông chiên cho họ làm áo."
(The priests shall have a right to the following things from the people:
from those who are offering a sacrifice, whether the victim is from the
herd or from the flock, the priest shall receive the shoulder, the
jaws and the stomach. You shall also give the first fruits of your grain
and wine and oil as well as the first fruits of the shearing of your
flock."
Rồi những luật cực kỳ quái đản này dần dần biến thành những thói
quen, những tục lệ cho nhà thờ Ca-tô làm tiền tín đồ một cách vô cùng
trắng trợn, trắng trợn đến độ dâ Ái Nhĩ Lan vốn là
những tín đồ thuần thành của Vatican cũng phải khinh bỉ và mỉa mai bằng mấy
câu ca dao nổi tiếng "Nhiều tiền lễ lớn, ít tiền
lễ nhỏ, không tiền không lễ." Sự
kiện này được học giả Ca-tô Charlie Nguyễn ghi nhận như sau:
"Việc thu tiền lễ cầu hồn
là một thủ đoạn làm tiền trắng trợn của bọn cha cố lưu manh. Tại Ái Nhĩ
Lan là nước toàn tòng Công Giáo có câu ca dao nổi tiếng như sau: "High
money high Mas; low money low Mass; no money no Mass"
(Nhiều tiền lễ lớn, ít tiền lễ nhỏ, không tiền
không lễ!" Charlie Nguyễn, Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm
(Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2001), tr. 257
Ngoài ra, lại còn có hàng rừng luật cung phụng Thiên Chúa nữa.
Những luật này thật là khủng khiếp và hết sức dã man. Học giả Trần Quý
ghi một vài luật quái đản này như sau:
"Môi-se ra lệnh cho đám dân Do Thái giặc cướp
rằng phải giết hết người nam, giết hết đàn bà, con gái đã ăn nằm với đàn
ông, chỉ giữ gái trinh thôi (Dân Số 31:17-18) Gehovah đòi dân đi ăn cướp
về phải chia của cướp được cho mình. Của này phải giao cho giáo sĩ giữ
từ cừu, bò tới những người con ái trinh ấy (Dân Số 31: 28 và 40)....
Phải dứt khoát giết đi những người lễ một vị thần nào khác ngoài Jehovah
(Xuất Hanh 22: 20). Phải giết đi những kẻ tiên tri nào dám nhân
danh các thần khác mà nói (Phục Luật 18:20). V.v..." Trần
Quý, Lòng Tin Âu Mỹ Đấy! (Wesminster,
CA: Đồng Thanh & Văn Nghệ, 1996), tr. 125.
Trên đây chỉ là một vài tội ác nhỏ nhoi khởi đầu đưa đến những rặng núi tội ác
của Giáo Hội La Mã trong gần hai ngàn năm qua.
Cũng vì thế chúng ta không lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy lịch sử
ghi nhận rằng, ở bất cứ nơi nào có quyền lực của Giáo Hội La Mã
vươn tới là ở đó (1) có tôn vinh Thiên Chúa, (2) có thần thánh hóa bọn
thày cúng lưu manh của Giáo Hôi, (3) có cưỡng bách tín đồ và nhân dân
dưới quyền phải phục vụ Chúa với những đòi hòi (a) phải
tuyệt đối tin tưởng vào tín lý Ki-tô hoang đường nặng tính cách bịp bợm
và hù dọa, (b) phải triệt để tuân hành những giáo luật, những lời
dạy phi lý và phỉnh gạt của Giáo Hội, (c) phải tuân thủ
những tập tục hay truyền thống quái đản cực kỳ phong kiến, (4) có
áp bức và bóc lột bằng trăm phương ngàn kế hết sức tinh vi. Phương cách
bóc lột đã ghi rõ trong các sách trích dẫn ở trên đã trở thành tục
lệ, thành truyền thống trong đạo Ca-tô. Tục lệ hay truyền thống quái đản
này chỉ là một trong những phương cách móc túi tín đồ và được triệt để thi
hành ở bất cứ nơi nào có quyền lực của Giáo Hội vươn tới.
Nếu chỉ có thế thì cũng không có gì đáng nói. Điều đáng nói là tục lệ
hay truyền thống quái đản này không dừng lại ở đó. Vì rằng tất cả những
tục lệ trong Giáo Hội La Mã đều trở thành nếp sống trong cộng đồng
Ca-tô. Trong xã hội đóng kín này, tất cả mọi người trong cộng đồng (xóm
đạo, làng đạo, họ đạo, giáo khu hay giáo phận) bắt buộc phải sống theo
nếp sống chung của cộng đồng và không được phép có một ngôn từ nào bị
coi như là bất kính hay đàm tiếu đến bọn thày cúng của Vatican vì đàm
tiếu hay nói hành nói tỏi đế bọn người "untouchables" này của Vatican là
nói xấu Chúa và sẽ bị coi như là báng bổ thần thánh. Kẻ nào không tuân
thủ bất kỳ tục lệ nào của Giáo Hội, tức là không chịu sống theo nếp sống
của họ đạo, sẽ bị coi như là phần tử lạc đạo (phản loạn), chống lại nhà
thờ, chống lại các ngài tu sĩ, tức là chống lại Giáo Hội La Mã, mà chống
lại Giáo Hội La Mã có nghĩa là chống Chúa. Đây là sự thật lịch sử. Sự
thật này cũng đã xẩy ra cả vào thời hậu Cách Mạng Pháp 1789, sau kh Liên
Minh Thánh Áo - Phổ - Nga - Anh - Vatican đánh bại
chính quyền của Hoàng Đế Napoleson I vào năm 1815 để phục hồi vương
quyền cho dòng họ Bourbons và tái lập chế độ đạo phiệt Ca-tô. Bản văn sử
dưới đây cho chúng ta thấy rõ sự thật này:
"Trong thời gian hai
ông Villele và Polignac giữ chức vụ thủ tướng chính phủ, những mối oán
thù chất chứa trong lòng từ trước thì bây giờ được giới qúi tộc và Giáo
Hội tha hồ phóng tay rửa hận. Bất cứ chuyện gì họ cũng nhớ đến để trả
thù và rất khó cho họ thông cảm cho bất kỳ một chuyên gì. Họ mua chuộc,
đút lót trong các thủ tục tiến hành bầu cử để loại bỏ những người thuộc
thành phần tư sản (ra khỏi danh sách ứng cử viên); họ gia tăng gấp bội
ngân khoản ngành cảnh sát để ngăn cản tự do báo chí và tự do tư tưởng.
Họ bổ nhậm một ông giám mục làm viện trưởng viên đại học để lọai bỏ các
tư tưởng tiến bộ. Họ tài trợ cho những chiến dịch ồn ào gọi là "sứ mệnh"
để tu bổ và đi trồng cây chữ thập (thánh giá) khắp trong toàn quốc, mà
có một số vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay. Họ dám ban hành một đạo
luật trừng phạt những người bị kết tôi là "phạm thượng" hay
"xúc phạm thần thánh" với những hình phạt hết sức là tàn ác dành cho
những người nào bị cho là làm rối lọan hay phá vỡ các cuộc lễ lạc tôn
giáo hay báng bổ thần thánh, ..."
Nguyên văn:
Under the governments
of Villele and Polignac, the delayed rancor of aristocracy and Church
were unleashed. They had forgotten nothing and understood hardly
anything. They tampered with electoral procedures to exclude the
bourgeois; they multiplied the financial and police obstacles freedom of
the press and expression. They appointed bishop to head the state
university in order drive out lively minds; the sponsored loud compaign
called "missions" of reparation and planted crosses all over the
countryside, some still visible today. They dared to promulgate a law
against "sacrilege" that fixed harsh penalties for anyone who disrupted
religious ceremonies or profaned "sacred vessels."
Pierre Goubert,
The Course of French History ,Trans. by Maarten Ultee (New York:
Franklin Watts, 1988), pp.. 370. ,
Trong một quốc gia bị áp đặt sống dưới chế độ giáo hoàng (papacy)
hay đạo phiệt Ca-tô như các nước Âu Châu trong thời Trung Cổ hay nước
Pháp trong thời Louis XIV (1643-1715), Louis XV (1715-1774),
Louis XI (1774-1792), Louis XVIII (1815-1824), Charles X (1824-1830),
Croatia trong thời bạo chúa Ante Pavelich (1941-1945), miền Nam
Việt Nam trong thời bạo chúa Ngô Đình Diệm (1954-1963) những kẻ dám công khai không
tuân thủ bất cứ tục lệ nào của Giáo Hội La Mã, tất nhiên là nếu
không bị túm cổ đưa lên giàn hỏa thiêu như thời Trung Cổ thì cũng bị mật vụ
đển hỏi thăm và sẽ bị biến mất, không còn hiện diện ở trên cõi đời
này nữa. Đạo luật trừng phạt những người bị kết tội báng bổ thần
thánh trong những năm
hai ông Villele và Polignac giữ chức vụ thủ tướng chính phủ thời chế độ
đạo phiệt Ca-tô Charles (1824-1830) như đã nêu lên ở trên là một trong
những bằng chứng bất khả phủ bác cho những sự thật lịch sử này.
Đây là nguyên nhân TẠI SAO chế độ đạo phiệt Ca-tô của bạo
chúa Ante Pavelich chỉ tồn tại có 4 năm mà con số nạn nhân bị sát hại
lên đến hơn 700 ngàn người trong một quốc gia mà dân số chưa tới 3 triệu
người, chế độ đạo phiệt Ca-tô của bạo chúa Ngô Đình Diệm chỉ tồn tại có
9 năm mà con số nạn nhân ở miền Nam cũng lên tới hơn ba trăm ngàn người,
mặc dù quan thày của chế độ này là người Mỹ đã cố gắng ngăn chặn rất
nhiều, và chế độ đạo phiệt Ca-tô của Giám Mục Augustin Misago ở Rwanda
chỉ trong vòng có hơn ba (3) tháng trong 1994 cũng đã tàn sán tới 800
ngàn (800.000) người.
Vì cái bản chất của các chế độ đạo phiệt Ca-tô dã man như vậy, cho
nên:
1.- Nhân dân Âu Châu thù ghét Giáo Hội La Mã và bọn tu sĩ Ca-tô đế tận
xưong tận tủy:
a.- Sách Vatican Thú Tội và Xin Lỗi viết:
“Giáo
Hội Công Giáo Roma La-tinh trong thời cực thịnh kinh bang tế thế, đội
vương miện cho các hoàng đế, tung hoành dọc ngang, làm mưa làm gió, thâu
tóm cả thiên hạ trong tay, tiền rừng bạc biển, đã không biết tự chế,
không học bài học rửa chân, tự cao tự đại, coi bàn chân thiên hạ như cỏ
rác… Hôm nay hối bất cập, lịch sử còn nằm trơ ra đó. Người Âu Châu sợ
Giáo Hội và tránh xa như tránh hủi! Người Á Châu có thành kiến ghép Giáo
Hội vào ông Tây thực dân! Người Mỹ Châu La-tinh đồng hóa Giáo Hội vài
đại họa diệt chủng! Và người Trung Đông làm sao quên được 250 cuộc thánh
chiến tàn bạo hãi hung! v.v… Trọng tội của Giáo Hội là Giáo Hội không
phải là nguồn gốc phúc lộc bình an dưới thế! Ngược lại, và riêng tại
Việt Nam, Giáo Hội chống phá đạo hiếu, phế bỏ bàn thờ tổ tiên, chà đạp
văn hiến dân tộc Đại Việt, gọi tôn giáo bản địa là thờ Bụt Thần Ma Quỷ…
Giáo Hội chia hai dân tộc Việt Nam thành dân có đạo là dân riêng của
Giáo Hội, và dân vô đạo là dân ngoại đạo theo tà thần, tạo dựng thành
kiến kỳ thị rất sâu đậm và thô bạo. Đức Hồng Y Phạm Đình Tụng xác minh
trọng tội này của Giáio Hội trong bài tham luận đọc tại Roma năm 1988,
có Đức Giáo Hoàng đương kim ngồi dự thính.” Nhiều tác giả,
Vatican Thú Tội Và Xin Lỗi? (Garden
Grove, CA: Giao Điểm, 2000), tr. 145-146.
b.- Ngày 28/11/1790, nhà báo Hebert
(người Pháp)
viết:
“Tôi đang sôi máu.
Các bạn người Pháp, các bạn hãy nói cho tôi nghe xem
có được không. Nếu cái người mà các bạn gọi là Đức Thánh Cha cướng quyết
chống lại luật pháp của các bạn, các bạn có ngu xuẩn và hèn hạ đến độ
phải từ bỏ luật pháp của các bạn. Các bạn hy vọng gì ở một ông Giáo
Hoàng. Đ.M Giáo Hoàng, hãy tin ở tôi đi, bây giờ là đến lượt các bạn; cả
trong mười thế kỷ qua, Giáo Hoàng đã áp bức các bạn quá nhiều rồi.".
Nguyên văn: “My blood boils, he
wrote on 28 November 1790, for instance. “Tell me, Frenchmen, is it
possible? if that man you call the Holly Father takes it into his head
to oppose your laws, do you dare, are you stupid and base enough, to
give them up? What do you expect from a Pope? Screw the Pope, believe
me; it is your turn at last; for ten centuries the Pope has screwed you."
(J. E. Bosher, The French Revolution (New York, W.W. Norton
Company, 1988), p. 155.
c.- Văn hào Voltaire gọii đạo Ca-tô là
"cái tôn giáo ác ôn" Bùi Đức Sinh,
Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo - Phần Nhì (Sàigòn: Chân Lý, 1972), tr,
165.
d.- Học giả Henri Guillemin gọi Giáo Hội La Mã là "Cái Giáo Hội Khốn
Nạn" [Malheureuse Église]. Nhiều tác giả, Vatican Thú Tội và Xin Lỗi?
(Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2000), tr. 92.
e.- Nhà cách mạng Thomas Paine nói "Một ông thày
giáo giỏi có ích hơn một trăm linh-mục." Nguyên văn:
"One good schoolmaster is of more use than a hundred
priests." Trần Chung Ngọc, Đức Tin Công Giáo (Garden Grove, CA:
Giao Điểm, 2000), tr. 291.
f.- Hoàng Đế Napoléon I nói: "Ở bất kỳ nơi nào và vào bát kỳ thời đại
nào, bọn linh mục đều gian trá và nói láo." Nguyên văn: "Priests
have everywhen and everywhere introduced fraud and falsehood." Trần
Chung Ngọc, Sđd., tr. 292.
g.- Nhân dân Pháp gọi bọn linh-muc là "lũ quạ đen" (les corbeux noirs").
h.- Học giả Charlie Nguyễn gọi đạo Ca-tô là "đạo bịp", "đạo máu", ông
viết trong cuốn Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm:
"Hầu hết các tu sĩ là kẻ đại gian
đại ác ngụy trang dưới những lớp áo đen, áo đỏ, áo trắng đóng vai đạo
đức giả để phỉnh gạt tín đồ. Bề ngoài, họ làm ra vẻ thuận thảo với nhau,
thật sự bên trong nội bộ, họ ganh tị, tranh đua nhau và sẵn sàng hạ thủ
nhau để tranh quyền đoạt thế. Họ dùng đủ mọi thủ đoạn để bòn rút
tiền bạc, xương máu của giáo dân, để xây nhà thờ nguy nga đồ sộ chỉ cốt
để được vênh vang với đời. Mái nhà thờ của họ càng rộng lón bao nhiêu,
càng che khuất ánh sáng mặt trời chân lý bấy nhiêu. Các bức tường của
nhà thờ càng cao bao nhiêu càng ngăn cách con người với nhau bấy nhiêu.
Giáo sĩ là những con ký sinh trùng vừa ăn bám, vừa phá hoại xã hội. Họ
tội lỗi cùng mình lại nắm quyền tha tội cho đám tín đồ vô tội hoặc ít
tội hơn họ. Họ thực sự là bọn cướp nguy hiểm hơn bọn cướp thường vì
những kẻ cướp thường đều bị luật pháp trừng trị. Trái lại, bọn cướp đội
lốt giáo sĩ lại được giáo dân tôn kính, đi lại tự do vênh váo và được xã
hội tâng bốc là "những vị lãnh đạo tinh thần". Tất cả các tệ nạn này đều
xuất phát từ sự thiếu hiểu biết của đại đa số giáo dân. Do vậy, việc
giáo dục khai sáng tâm linh là vô cùng cần thiết để cứu nước và bảo vệ
nền văn hóa nhân bản rất cao đẹp của dân tộc ta mà tuyệt đối đa số giáo
dân không hề biết tới." Charlie Nguyễn,
Công Giáo Trên Bờ Vực
Thẳm (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2001), tr. 63-64.
Những hành động của những tên tu sĩ Ca-tô xúi giục gáo dân nổi loạn
chống chính quyền đương thời của nhân dân Việt Nam như Linh-muc
Nguyễn Quang Minh chỉ huy vụ giáo dân nổi loạn vào năm 1976
tại nhà Thờ Vinh Sơn tại Đường 3 tháng 2, Thành Phố Hồ Chí Minh,
Linh-mục Nguyễn Văn Lý chỉ huy giáo dân nổi loạn ở nhà thờ
Nguyệt Biều vào năm 2001, Linh-mục Phan văn Lợi, tên đầu nậu của
cái gọi là "Khối 8406 Tuyên Ngôn Tự Do Dân
Chủ Cho Việt Nam" (Bloc 8406 of "Manifesto on Freedom
and Democracy for Vietnam 2006) khởi lập ngày 8/4/2006 có mục đích chính
là chống chính quyền và phá rối an ninh trật tự theo kế sách "quậy
cho ao nước Việt Nam đục ngầu lên để tạo cơ hội cho Vatican nhẩy vào thả
câu", rồi gần đây nhất Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt và đồng bọn xúi giục giáo dân đem
kìm, búa và xà beng đến phá cổng, đập tường
tòa nhà công sở tại số 42 Phố Nhà Chung, Hà Nôi rồi thắp nến cầu
nguyện bất hợp pháp ở đây trong thời gian từ 18/12/2007 cho đến ngày
30/1/2008, tất cả là những bằng chứng rõ ràng nhất và hùng hồn nhất cho chúng ta thấy
câu nói "Giáo sĩ là những con ký sinh trùng vừa
ăn bám, vừa phá hoại xã hội" của học giả
Charliie Nguyễn và cũng là bằng chứng xác nhận rõ ràng nhất cho những
lời nói của các danh nhân và vĩ nhân mà người viết đã trích dẫn ở trên.
2.- Cũng vì thế mà hầu hết tất cả các chính quyền cách mạng ở trên
thế giới đều phải ban
hành những biện pháp mạnh để đối phó với "cái tôn
giáo ác ôn" này. Điển hình là chính quyền Cách Mạng Anh 1688
đã phải hành động để giải thoát cho nhân dân Anh
cái ách thống trị bạo tàn của "Cái Giáo Hội Khốn Nạn" vẫn
thường lớn tiếng cao rao tự phong là "Hội
Thánh duy nhất thánh thiện, công giáo và tông truyền".
Năm
1689, Quốc Hội Anh công nhận những quyền tự do căn bản của người dân
bằng vịêc ban hành Bản Dân Quyền (the Bill of Rights) bảo đảm (1) quyền
tự do ngôn luận tại diễn đàn quốc hội, (2) quy định các phiên họp thường
xuyên của cơ quan này,(3) cấm nhà vua không được can thiệp vào các cuộc
bầu cử quốc hội, (4) bảo đảm cho người dân có quyền được gửi thỉnh
nguyện thư lên chính quyền để trình bày những điều phiền muộn về những
hành động lạm quyền của các viên chức chính quyền và chính sách sai lầm
của nhà nước, (5) cấm, không cho (hành pháp) đặt ra các khoản tiền ký
qũy tại ngoại hầu tra cho các nghi can một cách quá đáng, (6) cấm, không
cho chính quyền được sử dụng quân đội một cách bất hợp pháp. Nguyên
văn: “In order to safeguard the results of the Glorious
Revolution, Parliament passed several important measures, usually called
the Revolution Settlement. One of these, the Bill of Rights of 1689,
guaranteed freedom of speech in Parliament, provided for frequent
meetings of that body and forbade the king to interfere with the
election of its members. Other clauses guaranteed the right of the
people to petition the government , forbade excessive bail, and
protected the nation from the illegal use of the army.” Arnold
Schrier & T. Walter Wallbank, Living World History (Glenview,
Illinois: Scott Foresman and Company, 1974), p. 398.
Cũng
vào năm 1689, chính quyền lại ban hành Luật Khoan Dung (the Toleration
Act) bảo đảm quyền tự do tôn giáo cho các hệ phái Tin Lành không nằm
trong Anh Giáo. Nguyên văn: “Another part of the Revolution
Settlement, also passed in 1689, was the Toleration Act, which granted
religious freedom to various Protestant groups, although those who were
not members of the England Church could not hold public office.”
Ibid., p. 398.
Năm 1691, Quốc Hội Anh lại ban hành một biện pháp khác nữa nghiêm khắc
hơn. Đó là Đạo Luật Ổn Định năm 1691 cấm, không cho người
Anh là tín đồ Ca-tô của Giáo Hội La Mã lên cầm quyền (the Act of
Settlement of 1691). Đạo luật này quy định rằng:
“Không
có một tín đồ Ki-tô La Mã nào có thể trở thành nhà lãnh đạo nước Anh. Như
vậy là luật này loại hẳn tất cả những người con và cháu của vua James Đệ
Nhị với người vợ thứ hai của nhà vua, không cho họ lên cầm quyền.”
Nguyên văn: “A third measure, the Act of Settlement of 1691,
provided that no Roman Catholic could be ruler of England, automatically
excluding the descendants of James II by his second wife.”
Ibid.,p. 398.
Theo gương chính quyền Cách Mạng Anh, chính quyền Cách Mạng Pháp 1789
cũng thi hành những biện pháp mạnh để đối phó với "cái tôn giáo ác ôn"
này. Dưới đây là những
biện pháp mạnh này:
1.- Thiết lập chính quyền dân chủ do
dân, bởi dân và vì dân.
2.- Tịch biên toàn bộ tài sản của Giáo
Hội La Mã tại nước Pháp.
3.- Tước bỏ tất cả mọi đặc quyền đặc
lợi dành cho Giáo Hội La Mã và giai cấp tu sĩ Gia-tô.
4.- Tách rời giáo quyền (tôn giáo) ra
khỏi thế quyền (chính quyền).
5.- Ban hành một hiến chế dân sự cho
giới tu sĩ, trong đó tu sĩ được coi như là bình đẳng với tất cả người
dân khác và phải có nghĩa vụ đối với đất nước, phải trung thành với hiến
pháp và nước Pháp, chứ không phải trung thành với Tòa Thành Vatican hay
Giáo Hội La Mã. Việc này đưa đến việc thiết lập một giáo hội Pháp tách
rời khỏi Giáo Hội La Mã giống như Giáo Hội Anh được thành lập vào 1534.
6.- Tước bỏ hết tất cả mọi đặc quyền
đặc lợi dành cho giới tu sĩ và qúy tộc,
7.- Xòa bỏ tất cả mọi tục lệ phong
kiến.
8.- Xóa bỏ tất cả mọi
bất công trong xã hội để thực thi lý tưởng bình đẳng (trong xã hội) tự
do (cho nhân dân) và bác ái đối với tất cả mọi người, chứ không phải
chỉ đối với “dân Chúa” mà thôi.
9.- Công bố Bản Tuyên
Ngôn Dân Quyền vào ngày 26/8/1789 long trọng xác nhận:
a.- Quyền lực của nhà
nước vì nhân dân mà có. (The authority of a government is derived from
the people.)
b.- Mọi người dân phải
bình đẳng trước pháp luật. (All citizens should be equal before the
law.)
c.- Tất cả mọi người
dân đều có quyền ảnh hưởng vào việc làm luật. (All should have the right
to influence the making of the law.)
d.- Mục đích của chính
quyền là để bảo vệ những quyền tự nhiên của con người. Đó là quyền tự
do, quyền có tài sản, quyền sống trong an ninh và quyền chống lại áp
bức. (The purpose of government should be the preservation of the
natural rights of men to “liberty, property, security, and resistance to
oppression.”
e.- Quyền tự do tư
tưởng và tự do hành xử tín ngưỡng của mọi người phải được bảo đảm.
(Freedom of thought and religion should be guaranteed to all.) Carlton
J. H. Hayes, Modern Times: The French Revolution to the Present
(New York: Macmillan Publishing Co., Inc., 1983), p.35.
10.- Thẳng tay trừng trị những giáo sĩ
và tín đồ Ca-tô có những hành động phản quốc và chống lại Cách Mạng.
Con số giáo sĩ, nữ tu và tín đồ Ca-tô bị đưa ra pháp trường đền tội
phản quốc được cựu giáo sĩ Malachi Martin ghi nhận trong sách The
Decline And Fall Of The Roman Church như sau:
"Trước hết, nước Pháp mà Giáo Hòang
Pius VI (1775-1799) thường gọi là "người trưởng nữ của Giáo Hội" xóa bỏ
toàn thể tôn giáo, đưa nhà vua lên đọan đầu đài, chính thức tôn vinh thần
Lý Trí lên ngôi chí tôn, tàn sát 17 ngàn linh mục, 30 ngàn nữ tu và
47 giám mục, tất cả các tu viện, các dòng tu và các trường học của Giáo
Hội đều bị giải thể, tất cả các thư viện của Giáo Hôi đều bị thiêu rụi,
chính quyền Paris còn ban hành quyết định ra lệnh cho Tướng Bonaparte
(Sau này là Hòang Đế Napoléon I) "đem quân đi "giải phóng nước Ý", "có
toàn quyền hành động" "hủy diệt Rome và chế độ Giáo Hòang". Tháng 5 năm
1796, trước khi tiến vào kinh thành Rome, Tướng Bonaparte tuyên bố,
"Chúng tôi là những người bạn của con cháu Brutus (một anh hung củ dân
tộc La Mã) và dân Scipios.... Chủ định của chúng tôi là phục hồi điện
Capitol và giải phong nhân dân La Mã thóat khỏi thân phận nô lệ tôi đòi."
Quân Cách Mạng Pháp tiến
chiếm kinh thành Rome và nước Ý. Hòa Ước Tolentino được ký kết giữa
Tướng Bonaparte và Giáo Triều Vatican. Đây là một sự sỉ nhục cho
Tòa Thánh Vatican. Giáo Hội phải nộp cho nước Pháp một khoản tiền là 46
ngàn đồng scudi (tiền Vatican) trả làm ba hạn kỳ (Giáo Hòang Pius VI
phải đem các đồ trang trí bằng vàng và bằng bạc ra đúc tiền để trả
cho Pháp), 100 món đồ nghệ thuật và 500 tác phẩm hiếm bị tịch thu mang
về Pháp; tất cả các hải cảng nằm trong lãnh thổ của Tòa Thánh Vatican
phải mở cửa cho hậm đội Pháp làm căn cứ trú quân, phải từ bỏ tất
cả tài sản của Giáo Hội ở trong lãnh thổ các nước Ý, Pháp, Naples, và
Sicily ... tất cả mọi nơi. Giáo Hoàng Pius VI (1775-1799) than
thở, "Hòa Ước! Tệ quá đi! Quân đội Pháp chiếm đóng Vatican và Quirinal,
truất phế Giáo Hoàng Pius VI và thiết lập nước Cộng Hòa La
Mã...."
Nguyên văn: ("First,
France, "eldest daughter of the church "he used to call it, abolished
all religion, beheaded its king, enthroned Reason officially as supreme
deity, massacred over 17,000 priests and over 30,000 nuns as well as
forty-seven bishops, abolished all seminaries, schools, religious
orders, burned all churches and libraries, then sent the Corsian
Bonaparte to liberate Italy and Rome" "Just as you please," wrote the
Paris government to the Corsian. "Destroy Rome and the papacy utterly "
"We are the friends of the descandants of Brutus and the Scipios... Our
intention is to restore the Capitol to free the Roman people from their
long slavery," The Corsian declared in May 1796, just before taking
Rome.
Then the capture, and
the humiliation of the Peace of Tolentino between the papacy and the
Corsian: a ransom of 46,000 scudi in three installement (Pius melted
down all available siver and gold ornaments); 100 objects d'art and 500
rare manuscripts from Vatican; the opening of all papal harbors to the
French fleet; renunciation of all property in Italy and France and
Naples and Sicily - everywhere. "They made us their prisoner Spina,"
mutters Pius. "Peace treaty! Bah!" The Vatican and Quirinal were
occupied by French troops. They deposed Pius, and created the republic
of Rome...."Malachi
Martin, The Decline And Fall Of The Roman Church (New York: G.P.
Putnam's Sons, 1981), pp. 232-233.
Kể từ đó, nhân dân Pháp được tự do sử dụng thành ngữ "les
corbeaux noirs" mà
không còn sọ bị trừng phạt vì "phạm tội báng bổ thần thánh."
Nhờ vậy mà Cách Mạng Pháp 1789 mới được nhân dân thế giới hết
lòng khâm phục. Cũng từ đó, mỗi khi nhìn thấy lá cờ
tam tài là người ta nhớ ngay đến cái hào hùng hiên ngang của nước Pháp đã
giơ
cao ngọn cờ tự do phất lên cho các dân tộc khác noi theo vùng
lên đạp đổ bạo quyền, khử diệt cái ách độc Ca-tô khốn nạn này để đòi lại quyền làm người cho
nhân dân.
Theo gương nước Pháp, các nước Mễ Tây Cơ,
Ý Đại Lợi, Tây Ban Nha, Liên Sô, Trung Quốc, Cuba, Nicaragua,v.v.. lần lượt vùng lên làm lịch sử giải trừ cho dân tộc họ thoát
khỏi cái ách thống trị bạo ngược của cái tôn độc thần giáo ác ôn này.
Giống như Cách Mạng Pháp 1789, chính quyền Cách Mạng Việt Nam 1945 cũng làm đúng
theo lý tưởng đã nêu lên trong chính cương của Đảng Cộng Sản Việt Nam và
Mặt Trận Việt Minh để theo đuổi và họ đã hoàn thành được những nhiệm
vụ cao cả của lịch sử:
1.- Đánh tan Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp - Vatican để giành
lại chủ quyền độc lập cho dân tộc.
2.- Đánh tan Liên Minh Xâm Lược Mỹ - Vatican để đòi lại miền Nam của tổ
quốc đem lại thống nhất cho đất nước vài vinh quang cho giống nòi.
3.- Tịch thu toàn bộ tài sản của thực dân xâm lược Pháp và của Giáo Hội La Mã,
ngoại trừ các ngôi nhà thờ của tín đồ Ca-tô.
4.- Ban hành những đạo luật pháp nhằm tước bỏ mọi đặc quyền đặc
lợi của giai cấp tu sĩ Ca-tô mà trước kia chế độ bảo hộ Pháp - Vatican
đã dành riêng cho họ.
5.- Giúp đờ tín đồ Ca-tô còn triền miên trong cơn mộng du mơ về nước
Chúa sớm quay về với dân tộc để họ thức tỉnh trút bỏ cái tinh thần nô lệ làm
tôi tớ hèn mọn cho Vatican, tẩy xóa cái tinh thần "thà mất nước,
chứ không thà mất Chúa" hầu có thể cùng với đại khối dân tộc "khóc
cười theo mệnh nước" và "chìm nổi với quê hương".
6.- Thực hiện một cuộc cách mạng ruộng đất đem lại công bằng về kinh tế ở
trong nông thôn.
7.- Mở mang giáo dục để nang cao dân trí, đưa toàn bộ những bài
học về quốc
sử và lịch sử thế giới vào học đường, giáo dục cho người dân thấu hiểu
thế nào là tình tự dân tộc, thấu hiểu được công lao dựng nước, mở nước
và giữ nước của tiền nhân, hiểu rõ được những bước tiến của nhân
loại từ cái thưở hồng
hoang, cái thưở loài người còn sống trong hang trong hốc, chưa biết dùng lửa để
nấu chín miếng ăn, chưa biết sản xuất bông vải, tơ lụa để may mặc,
v.v... cho đến thời đại văn minh tin học như ngày nay.
8.- Phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của người dân để sống xứng đáng
với mức sống và nếp sống của con người trong thời đại văn minh
điện tử.
9.- Mở rộng nền ngoại giao, kết thân với tất cả quốc gia trên thế giới
để cùng sánh vai nhau chung lưng góp sức cải tiến đời sống con người ở
trên trái đất này cho càng ngày càng thêm tốt đẹp hơn. Nhờ vậy mà Việt Nam đã được bầu làm
hội viên của Hội Đồng Bảo An trong tổ chức Liên Hiệp Quốc trong
nhiệm kỳ hai năm 2007-2009.
Do những thành tích rực rỡ trên đây mà nhân dân khắp nơi trên thế giới, mỗi
khi nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng là người ta nghĩ ngay đến người Việt
Nam anh hùng, nghĩ đến một dân tộc đáng kính phục, và ngược lại, mỗi khi người
nước ngoài gặp người Việt Nam là nghĩ ngay đến nước Việt Nam kiên cường
và anh dũng với lá cờ đỏ sao vàng.
II.- Đặc tính quốc kỳ và quốc ca của một quốc gia
gần như là một cặp song sinh như bóng với hình.-Có người đã đặt ra câu hỏi tại sao
quốc kỳ phải có trước quốc ca?
Người viết không biết phải trả lời thế nào cho nó đúng với câu hỏi trên
đây. Có thể các nhà ái quốc khi tham gia vào các phong trào chiến đấu
đánh đuổi quân xâm lăng vì quá xúc động trước những chiến sĩ kiên cường quyết tâm
liều chết dưới lá cở biểu tượng cho đại cuộc cứu nước nên người ta đã sáng tác ra được bài quốc ca có
giá trị thích hợp với hoàn cảnh lịch sử và trở thành linh hồn cho lá
quốc kỳ mà tác giả thực sự là một thành phần đang chiến đấu cho cái lý
tưởng họ hằng ước ao khao khát và đang theo đuổi. Đây là trường hợp quốc kỳ và quốc ca của nước
Pháp, của nước Mỹ và của nước Việt Nam hiện nay. Người viết đem những trường hợp
này ra làm tiêu biểu vì là những lá cờ quen thuộc với dân Việt Nam từ thời
Pháp thuộc cho đến nay.
Về trường hợp quốc kỳ và quốc ca của nước Pháp hiện nay.- Lá
cờ hiện nay của nước Pháp xuất hiện vào mấy ngày sau khi Cách Mạng Pháp bùng nổ
vào ngày 14/7/1789. Nói về sự xuất hiện là cờ tam tài của Pháp hiện nay,
sách "Cách Mạng và Hành Động" viết:

“Sau khi nghe ngục Bastille thất
thủ, nhiều người trong hoàng tộc bỏ Vua Louis XVI để xuất ngoại. Bị cô
lập trong điện Versailles, Louis XVI đành chịu đầu hàng. Ngày 15/7 vua
ra mắt Quốc Hội chính thức báo tin rằng sẽ giải tán những quân đội tập
trung gần điện Versailles. Tới ngày 17/7 (1789), vua ngự giá tới Ba Lê,
và chấp nhận lá cờ cách mạng; cờ này gồm ba mầu, xanh và đỏ là màu của Ba
Lê, và mầu trắng tượng trưng cho nhà vua.” Nghiêm Xuân Hồng, Cách
Mạng và Hàng Động (Sàigòn: Quan Điểm, 1964), tr. 34.
Một nguồn tài liệu khác cũng ghi nhận
như vậy:
“The colours are those of Paris (blue
and red) combined with the Royal white (the dispossession and execution
of the King still lay in the future when the tricolore was first used).
http://www.languedoc-france.info/06141201_tricolore.htm
Cho tới khi nước Pháp bị Liên Minh Thánh của Vatican tràn vào lãnh thổ
với dã tâm hủy diệt chính quyền cũng những công trình Cách Mạng 1789 để tái lập vương quyền cho vua Louis XVI và
phục hồi quyền lực cho Vatican, thì bản quốc ca Pháp mới ra
đờ. Khi đó, đoàn dân quân cách mạng trên đường từ Marseilles tiến về Paris
đồng ca bản
Marseillaise. Cụ Nghiêm Xuân Hồng ghi lại sự kiện này như sau:
“Chưa bao giờ cuộc khởi loạn lại
được chuẩn bị một cách công khai như thế. Dân chúng đều gần như biết
trước nhật kỳ khởi loạn. Trong thời gian đó, một số tình nguyện quân của
các tỉnh đã tới Ba-lê. Khi đí đường đám quân tình nguyện Marseillais đã
đặt một bản hành khúc lấy tên là “La Marsaillaise” để cổ võ dân chúng
đầu quân chống xâm lăng. Khi các tình nguyện quân tới Ba-lê,
Robespierre yêu cầu họ ký kiến nghị truất phế nhà vua. Tới đêm
9/8/(1792), 48 khu phố Ba-lê bầu cử những đại diện mới tới tòa Thị Chính
để thay thế nhân viên của của Ba Lê Công Xã mà họ cho là thiếu cương
quyết. Nhóm Ba Lê Công Xã Mới được mệnh danh là Công Xã Khởi Nghĩa.”
Nghiêm Xuân Hồng, Sđ d., tr. 49.
Wikipedia, the free encyclopedia, viết:
“Bản nhạc La Marseillaise do Claude
Joseph Rouget de Lisle thuộc phe bảo hoàng ở Strasbourg sáng tác vào
ngày 25/4/1972. Nguyên thủy, tên của bản nhạc này là “Khúc Ca Quân
Hành” của đạo quân Rhin”. Tác giả viết bài ca chiến tranh của quân đội
xứ Rhin để tặng Thống Chế
Nicolas, vị tướng lãnh Pháp gốc ở Cham sinh tại Bavarian. Bài ca này là
tiếng gọi dân Pháp vùng lên theo Cách Mạng Pháp và trở thành quốc ca vì
được quân lính cách mạng hát lên trên đường từ Marseille tiến tới
Kinh Thành Paris.” Nguyên văn: "La Marseillaise" is a song
written and composed by the Royalist citation needed Strasbourg on April
25, 1792. Its original name was "Chant de guerre de l'Armée du Rhin", "Marching Song of the Rhine Army” and it was dedicated to Marshal
Nicolas Luckner a Bavarian born French officer from Cham. It became the
rallying call of the French Revolution and received its name because it
was first sung on the streets by troops (fédérés) from Marseille upon
their arrival in Paris
”Quốc Ước Hội Nghị chấp thuận bài ca này làm bài
quốc ca bằng một quyết định vào ngày kỷ niệm phá ngục Bastille năm 1795,
nhưng sau đó bị cấm trong thời các chính quyền của Hoàng Đế Napoléon I,
Vua Louis XVIII và Hoàng Đế Napoléon III, chỉ được sử dụng lại trong
thời kỳ Cách Mạng tháng 7/1830, rồi tới năm 1879 mới được sử dụng liên
tục cho đến ngàn nay.” Nguyên Văn: The
Conventiion accepted it as the French national anthem in a decree passed
on Bastiile Day 1795, but it was then banned successively by Napoléon I,
Louis XVIII, and Napoléon III, only being reinstated briefly after the
July Revolution of 1830 and then permanently in 1879.”
Về trường hợp quốc kỳ và quốc ca của nước
Mỹ hiện nay.- Giống như trường hợp quốc kỳ và quốc ca của Pháp, lá quốc kỳ
của nước Mỹ đã có từ thời chiến tranh Cách Mạng 1776-1783, nhưng mãi tới
khi đang tiến hành cuộc chiến Anh - Mỹ 1812, bản quốc ca Hoa Kỳ mới ra đời.
Bản quốc ca này do một sĩ quan
Hải Quân Mỹ sáng tác và sau đó được Quốc Hội Mỹ chấp thuận. Về lá cờ Mỹ
hiện nay, The Intenet Archive viết:

“Lá cờ sao sọc được Hội Nghị Đại
Lục chính thức công nhận là quốc kỳ vào ngày 14/6/1777, một năm sau
khi Hoa Kỳ tuyên bố độc lập.” Nguyên văn:
“Well, the Stars and
Stripes came to be regarded as the national flag with the official
recognition of the Continental Congress on June 14, 1777. This was the
year following our nation's independence.”)
“Năm 1818, có thêm 5 tiểu bang mới
được thâu nhận vào Liên Bang Hoa Kỳ. Năm đó Quốc Hội ban hành luật quy định số sọc
vẫn là 13 sọc, số sao là số của số của các tiểu bang trong Liên Bang.
Luật này cũng quy định rằng khi Liên Bang có thêm một tiểu bang mới, thì
quốc kỳ sẽ có thêm một ngôi sao nữa và ngôi sao mới này sẽ được thêm vào
quốc kỳ vào ngày lễ Độc Lập 4/7 kế tiếp của ngày tiểu bang đó được thâu
nhận vào Liên Bang. Kể từ đó cứ theo quy luật này.” Nguyên văn:
“In 1818, with five more states being admitted, the Congress enacted
legislation. This stated that henceforth the stripes should remain 13,
whereas the number of stars should always match the number of states. It
was also decided that any new star should be added on the July 4
following a state's admission. This has been the system ever since.”
Về bản quốc ca Hoa Kỳ, Wikipedia, the
free encyclopedia viết:
“Bài hát the Star Spangled Banner
là quốc ca của Hoa Kỳ, với bài thơ tình cảm do Francis Scott Key sáng
tác vào năm 1814. Tác giả vốn là một luật sư, lúc đó ở vào tuổi 35 và là
một thi sĩ tài tử (không chuyên nghiệp). Ông viết bài ca này như một bài
thơ vào sau khi ông nhìn thấy cảnh Đồn McHenry ở Baltimore, Maryland bị
các chiến tàu Anh từ Vịnh Chesapeake trong cuộc Chiến 1812 bắn phá dữ
dội. Bài thơ này có tựa đề là “Bảo Vệ Đồn McHenry” và được hát theo
giọng của bài dân ca uống rượu có tên là "The Anacreontic Song" của
người Anh , dòng thơ đầu tiên “Cho Anacreon ở Thiên Đường” được nhiều
người biết và trở thành bài ca yêu nước nổi tiếng của người Hoa Kỳ. Với
âm giai một và một rưỡi rất khó hát. Bài ca này được chính thức
công nhận là Hải Quân Hành Khúc của Hải Quân Hoa Kỳ vào năm 1889, năm
1916 được Tổng Thống (Woodrow Wilson) [đề nghị Quốc Hội chấp nhận] và vào ngày 3/3/1931 được Quốc
Hội quyết định chọn làm quốc ca. Mặc dầu bài ca này có 4 đoạn, những
chỉ có đoạn thứ nhất là thường được hát với đoạn thứ 4 ("O thus be it
ever when free men shall stand ...") được hát thêm vào những trường hợp
trang trọng.”. Nguyên văn: "The Star-Spangled Banner"
is the national anthem of the United States, with lyrics written in 1814
by Francis Scott Key. Key, a 35-year-old lawyer and amateur poet, wrote
them as a poem after seeing the bombardment of Fort McHenry in
Baltimore, Maryland, by Britishships in Chesapeake Bay during the War of
1812.The poem, titled "Defense of Fort McHenry," was set to the tune of
the popular British drinking song "The Anacreontic Song", more commonly
known by its first line, "To Anacreon in Heaven", and became a
well-known American patrotic song. With a range of one and a half
octaves, it is known for being difficult to sing. It was recognized for
official use by the Navy in 1889 and the President in 1916, and was made
the national anthem by a Congressional resolution on 3 March 1931 (46
Stat. 1508, codified at 36 USC §301). Although the song has four
stanzas, only the first is commonly sung today, with the fourth ("O thus
be it ever when free men shall stand ...") added on more formal
occasions.”
Về quốc kỳ và quốc ca Việt Nam hiện nay.-
Tương tự như quốc kỳ và quốc ca của
nước Pháp và nước Mỹ, quốc kỳ Việt Nam hiện nay cũng ra đời trước, rồi
sau đó bản quốc ca mới xuất hiện và mới được quốc hội chấp thuận. Nói về
lịch sử quốc kỳ và quốc ca Việt Nam hiện nay, Báo Nhân Dân Việt Nam số
ra ngày 27/6/06 trình
bày khá đầy đủ với nhiều chi tiết. Để tránh cho bài viết này khỏi quá
dài, chúng tôi chỉ ghi lại một vài đoạn để
độc giả nhìn thấy rõ cái điều quan trọng ở đây là quốc kỳ có trước quốc ca.
Dưới đây là những đoạn quan trọng nói về quốc kỳ Việt Nam hiện nay:

“Lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện lần
đầu tiên trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chống thực dân Pháp (23/11/1940).
Tác giả sáng tạo ra lá cờ nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh này
là đồng chí Nguyễn Hữu Tiến (sinh ngày 5/3/1901 tại Hà Nam, hy sinh ngày
28/8/1941). Tâm huyết của tác giả khi sáng tạo ra lá cờ tổ quốc được
khắc họa rõ nét trong bài thơ của ông:
Hỡi những ai
máu đỏ da vàng
Hãy chiến
đấu dưới cờ thiêng Tổ quốc
Nền cờ thắm
máu đào vì nước
Sao vàng
tươi, da của giống nòi
Đứng lên mau
hồn nước gọi ta rồi
Hỡi sỹ nông
công thương binh
Đoàn kết lại
như sao vàng năm cánh.
Tháng 5/1941
tại Khui Nậm, Cao Bằng, Lãnh tụ Hồ Chí Minh chủ trì hội nghị Trung ương
VIII quyết định thành lập tổ chức Việt Nam Độc Lập đồng minh - đoạn mở
đầu chương trình Việt Minh ghi rõ: "Sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp,
Nhật, sẽ lập nên Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa,
lấy cờ đỏ sao vàng 5 cánh làm Quốc kỳ". Đây là văn bản đầu tiên, chính
thức quy định Quốc kỳ của nước Việt Nam là cờ đỏ sao vàng.
Ngày
16/8/1945, Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào, Tuyên Quang đã quyết định
Quốc kỳ Việt Nam là nền đỏ. ở giữa có một sao vàng năm cánh.
Cách mạng
Tháng Tám năm 1945 thành công, Quốc hội khóa đầu tiên nước Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa năm 1946 đã ghi vào Hiến pháp: "Quốc kỳ Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hòa hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở
giữa có ngôi sao vàng năm cánh".
Bài hát "Tiến quân
ca" được nhạc sỹ Văn Cao (1923-1995) sáng tác vào cuối năm
1944. Ngay sau khi ra đời, bài hát đã được các chiến sỹ cách mạng tiếp
nhận và trở thành bài hát chính thức của Mặt trận Việt Minh. Quốc hội
khóa đầu cuả nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã quyết định lấy bài "Tiến
Quân Ca" làm quốc ca Việt Nam.
(Theo Nhân Dân
hàng tháng, số 4/8 – 1997)
Trích NDVN, ngày 27/6/06
TÍNH CÁCH NGHỊCH THƯỜNG CỦA
CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA,
QUỐC KỲ VÀ QUỐC CA

I.-TÍNH CÁCH NGHỊCH THƯỜNG
CỦA CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA
Chính quyền Quốc Gia Việt Nam thoát thai từ Giải
Pháp Bảo Đại do Liên Minh Thánh Pháp – Vatican. Giải Pháp Bảo Đại là do
sáng kiến của Tòa Thánh Vatican đã được Tổng Giám Mục Antoni Drapier,
khâm sứ đại diện Tòa Thánh Vatican tại Hà Nội, công khai tuyên bố vào ngày
28/12/1945. Lời tuyên bố này được sách sử ghi lại như sau:
“28/12/1945: Huế:
Tổng Giám Mục Antoni Drapier, đại diện Roma tuyên bố: Gia đình Bảo Đại
là “gia đình thân Pháp bậc nhất trong dân chúng Việt Nam (la plus
francophilende tous les annamites) , và theo ý ông ta, nên cho Bảo Đại
lên ngôi như trước ngày 9/3/ (1945) (À mon avis, il serait avantageux
pour le calm de rétablir le Roi come le chef regulier avant le mars; DOM
[Aix], CP 125).
Drapier cũng đưa ra giải
pháp là có thể sau đó sẽ cho Bảo Long lên kế viij , và Nam Phương là
Giám Quốc [Phụ Chính].”
Chính Đạo,
Việt Nam Niên Biểu (Houston, TX: Văn Hóa
1996), tr. 295.
Sáng kiến (ý đồ) này phải trải qua một thời kỳ bàn luận giữa Vatican và
Pháp cùng với thời kỳ cho người đi móc nối với ông Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy
(Bảo Đại) lúc bấy giờ đang lưu trú ở Hông Kông. Sau một thời gian cò cưa
mà cả giữa sứ giả Cousseau của Liên Minh Thánh Pháp – Vatican và Bảo
Đại, tới cuối tháng 5 năm 1948, thì mọi việc coi như đã xong xuôi. Tuy
là đã xong xuôi, nhưng Liên Minh Thánh Pháp – Vatican cũng vẫn không
thể lôi cuốn được những người có uy tín với nhân dân và bất mãn với Mặt
Trận Việt Minh để thành lập một chính quyền cho Giải Pháp Bảo Đại này.
Những người có uy tín hay có thành tích cách mạng chống Liên Minh Thánh
Pháp – Vatican trước tháng 8/1945 như các ông Nguyễn Hải Thần, Nguyễn
Tường Tam, Nhượng Tống, Nguyễn Tiến Hỷ, v.v… đều lánh xa, không tham
dự. Trong khi đó, tình hình chiến sự ở Đông Dương càng ngày càng trở nên
bất lợi cho Liên Minh Thánh Xâm Lăng Pháp - Vatican. Vì tình huống
này, Vatican và Pháp mới hối hả đồng thuận biến chính phủ Việt
gian “Cộng Hòa Nam
Kỳ” thành
“chính phủ quốc
gia” với toàn bộ nội các gồm toàn những Việt gian hoặc là mang quốc tịch
Pháp, hoặc là mang quốc tịch Vatican, hoặc là trong giới quan lại trong
thời “Trăm năm nô lệ giặc Tây” (như các ông Nguyễn Văn Xuân, Trần
Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, Phan Văn Giáo, Nghiêm Xuân Thiện, Nguyễn Hữu
Trí, Đặng Văn Trí, v.v… ) và cho ra mắt vào ngày 5/6/1948. Có sách
ghi là ngày 2/6/1948. Danh xưng
“Quốc Gia” hay “Quốc Gia Việt Nam” xuất hiện kể từ đó. Sự kiện này được
ông Lê Xuân Khoa ghi lại trong cuốn Việt Nam 1945-1995 - Tập I với
nguyên văn như sau:
“Danh hiệu “Quốc Gia Việt Nam” (QGVN) được sử dụng từ ngày 5 tháng
Sáu 1948, sau khi Cao Ủy Pháp tại Đông Dương Émile Bollaert và Thủ Tướng
Chính Phủ Trung Ương Lâm Thời Nguyễn Văn Xuân ký bản thông cáo chung tại
Vịnh Hạ Long nhìn nhận nền độc lập của Việt Nam…” Lê Xuân Khoa,
Việt Nam 1945-1995 - Tập I (Bethesda, MD: Tiên Rồng, 2004), tr. 161.
Thực trạng của sự thành hình và ra đời của cái gọi là
"Chính quyền Quốc Gia Việt Nam" nghịch thường là như vậy! Thiết tưởng
cũng cần nên nói cho rõ về tính cách nghịch thường của cái chính quyền
Quốc Gia quái đản này.
Tính cách
nghịch thường của chính quyền Bảo Đại (1948-1955) cũng như chính quyền Ngô Đình Diệm và
các chính quyền khác ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1955-1975 là ở chỗ những thành phần lãnh đạo, các viên chức cao cấp và nhân viên thừa
hành trong các bộ, các nha, các sở cũng như trong quân đội và các tổ chức phụ thuộc của các chính quyền này
đều do các thế lực ngoại bang nặn ra, nuôi dưỡng, trả lương và trang bị
bằng đồng tiền của người ngoại bang, được bảo vệ bằng
quân đội của người ngoại bang để thi hành những lệnh truyền của người
ngoại bang với mục đích phục vụ cho quyền lợi của người ngoại bang.
Những sự kiện này cho chúng ta thấy rõ: "Các chính quyền được mệnh
danh là "chính quyền Quốc Gia" trong thời gian 5/6/1948-23/10/1955 do
ông Bảo Đại làm Quốc Trưởng và các chính quyền miền Nam Việt Nam trong
những năm 1954-1975 dù là mang danh xưng hay danh nghĩa gì đi nữa thì
cái bản chất của nó vẫn là chính quyền Việt gian
được hai Liên Minh Đế Quốc Xâm Lược Pháp - Vatican và Liên Minh Xâm
Lược Mỹ - Vatican dựng nên để phục vụ cho quyền lợi của các đế quốc xâm
lươc Vatican, Pháp và Mỹ, chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam."
Cũng vì các chính quyền này được dựng nên để phục vụ cho quyền lợi của
các đế quốc xâm lược Vatican, Pháp và Mỹ, cho nên:
1.- Tất cả các nhân vật được quân giặc đưa lên đứng đầu các chính quyền
bù nhìn này đều bị nhân dân khinh bỉ và nguyền rủa. Năm 1922, nhân dịp
Khải Định đi Pháp tham dự cuộc đấu xảo ở đây, Cụ Phan Chu Trinh
chỉ thẳng vào mặt thằng vua Việt gian này và kể ra bảy tội ác: (1)
Tôn bậy quân quyền, (2) Lạm hành thưởng phạt, (3) Thích chuộng những sự
quỳ lạy, (4) Xa xỉ quá độ, (5) Ăn bận không phải lối, (6) Chơi bời
vô độ, và (7) Chuyến đi Tây này có một sự ám muội.
2.- Khi các đế quốc xâm
lược này bị đánh đuổi ra khỏi lãnh thổ Việt Nam thì các chính phủ này
không còn lý do để tồn tại, và những thằng Việt gian được các đế
quốc này đưa lên điều khiển các chính quyền Việt gian này nếu không bị
nhân dân ta đập chết như trường hợp tên bạo chúa phản thần tam đại Việt gian
Ngô Đình Diệm (bị đập chết vào lúc hơn 7 giờ sáng ngày 2/11/1963 ở
Sàigòn), thì cũng phải cuốn gói chạy theo quan thày đi sống lưu vong và
chết bỏ thây ở nơi nước mẹ (mẫu quốc).
Trước khi Liên Quân Pháp - Vatican bị thảm bại tại Điện Biên Phủ, ông
Ca-tô Việt gian Bảo Đại đã đi sống lưu vong ở Pháp, rồi chết ở Pháp. Khi chết
và tổ chức đám táng, thân nhân của ông ta lại không dùng cờ vàng ba sọc
đỏ phủ lên quan tài, mà lại dùng lá cờ tam tài của mẫu quốc
Pháp.
Thật là khôi hài đến cực điểm của khôi hài! Ông Bảo Đại là nhân
vật lãnh đạo đầu tiên điều khiển "chính quyền Quốc Gia" đầu
tiên và cầm lá cờ
vàng ba sọc đỏ phất lên hô hào mọi người theo ông ta để chiến đấu
cho cái gọi là "chính nghĩa Quốc Gia" nhưng khi nhắm mắt lìa đời lại
không sử dụng lá cờ này phủ lên quan tài trong những ngày tổ chức lễ
mai táng. Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia viết về đám táng của ông vua Việt
gian này như sau:
"Tang lễ: ... Ông mất ngày 31/7/1997 tại Quân Y
Viện Val de Grace, hưởng thọ 83 tuổi... Đám tang Bảo Đại được chính phủ
Pháp tổ chức với một tiểu đội lính Lê Dương và sĩ quan mang quốc kỳ
Pháp, quân phục trắn, gù đỏ trên vai, bồng súng đi bên linh cữu. Ông
được an táng tại nghĩa trang Passy, quận 16, Paris, khá gần tháp Eiffel.
Bộ Ngoai Giao Việt Nam đã gửi điện chia buồn đến tang quyến và Mặt Trận
Tổ Quốc Việt Nam đã gửi vòng hoa viếng." Bách Khoa Toàn Thư
Wikipedia. Ngafy22/3/2008.
Những người đã từng theo dõi các đài truyền hình
truyền tin tức và hình ảnh của lễ chôn cất ông ta đều có thể xác nhận việc này. Tiếc là hình ảnh này không ai muốn lưu trữ, hoặc có cũng đem dấu đi.
TẠI SAO lại như vậy?
Phải chăng trước khi nhắm mắt đi vào cõi chết, chính bản thân ông Bảo Đại
cũng cảm thấy rằng lá cờ vàng ba sọc đỏ không những đã không mang lại một chút gì vinh
hạnh hay
hãnh diện cho cá nhân ông và cho gia đình của ông, mà
nó còn là biểu tượng cho một vết nhơ của
một thời mà ông đã phạm tội phản quốc bán nước cho quân cướp
ngoại thù, rồi lại bị quan thày người Mỹ và thằng tôi thần
họ Ngô phản bội?
Phải chăng ông đã hối hận về việc đã nghe lời xúi giục của các quan thày
Vatican, Pháp và Mỹ mà ký sắc lệnh số 38/QT ngày 19/6/1954 bổ nhậm thằng
phản thân tam đại Việt gian Ca-tô Ngô Đình Diệm làm thủ tướng trao cho nó toàn
quyền quyết định về dân sự và quân sự cho nên ông mới bị phản bội như
vậy?
Phải chăng vì hối hận như vậy, cho nên trước khi lâm chung, ông đã trối
lại với thân nhân rằng đừng có dùng lá cờ vàng ba sọc đỏ do quan thày
Vatican chế ra để phủ lên quan tài của ông trong những ngày làm lễ chôn
cất?
Trước khi quân đội miền Bắc tiến vào Sàigòn, ông Ca-tô Việt gian Nguyễn Văn
Thiệu được quan thày bốc đi đưa sang sống lưu vong ở Anh một thời gian, rồi
lại chạy sang sống và chết ở Mỹ. Khi chết và lúc cử hành lễ chôn cất, ông Ca-tô Việt gian này
được đồng bọn Việt gian phủ lá cờ vàng ba sọc đỏ lên quan tài khi
đưa về nước Chúa.
Không hiểu TẠI SAO gia đình ông Ca-tô Nguyễn Văn
Thiệu lại không theo gương gia đình ông Ca-tô
Bảo Đại, dùng lá cờ của nước mẹ (mẫu quốc) Hoa Kỳ hay nước mẹ Vatican để
phủ lên quan tài trong khi tiễn đưa ông ta về ... về đâu? nước Chúa
hay cõi Phật?
Phải chăng ông Nguyễn Văn Thiệu không bị quan thày Vatican phản bội
cho nên ông không có hành động như ông Bảo Đại?
Với thực trạng như vậy, các chính quyền Quốc Gia do ông Bảo Đại
làm Quốc trưởng cũng như các chính quyền miền Nam Việt Nam do hai ông
Ca-tô Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu làm Tổng Thống quả thật là
một vết nhơ lớn lao trong lịch sử cận và hiện đại Việt Nam.
II.- LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ
VÀ TÍNH CÁCH NGHỊCH THƯỜNG CỦA NÓ
Thực
ra, trong thời
cận và hiện đại,
Việt Nam có tới hai lá cờ vàng ba sọc
đỏ:
1.- Lá cờ vàng ba sọc
đỏ thứ nhất được sử dụng khởi đầu vào năm 1890 trong thời vua Thành Thái
cho đến khi vua Duy Tân bị chính quyền Liên Minh Pháp - Vatican
truất phế vào năm 1916 thì bị thay thế bằng lá cờ Long Tinh . Như vậy tuổi thọ của lá cờ này chỉ có 26 năm.
Vào năm này, chính quyền Bảo Hộ đưa Nguyễn Phuc Bửu Đảo lên ngai vàng.
Bửu Đảo
lấy vương hiệu là Khải Định và dùng cờ Long Tinh làm cờ hiệu.
Nói về lá cờ vàng ba
sọc đỏ thời Thành Thái và Duy Tân, Bách Khoa Toàn Thư
Wikipedia viết:
"Năm
1890, vua Thành Thái đổi sang dùng lá cờ có nền vàng ba sọc đỏ vắt
ngang. Lá cờ này tồn tại qua các đời vua Thành Thái và Duy Tân, những
ông vua chống đối Pháp, và do đó cũng được coi là biểu tượng chống Pháp.
Sau khi Thành Thái và Duy Tân bị Pháp bắt đi đày, Khải Định lên ngôi
theo quan điểm thân Pháp đã thay đổi cờ. Ông dùng cờ nền vàng và một sọc
đỏ lớn vắt ngang, và cũng gọi cờ này là cờ long tinh."
2.- Lá cờ vàng ba sọc đỏ thứ hai
là lá cờ thời Bảo Đại được Liên Minh Pháp đưa lên làm
Quốc Trưởng của cái gọi "chính quyền Quốc Gia Việt Nam. Tuổi thọ của lá
cờ này là 27 năm 15 ngày (5/6/1948 -30/4/1975).
Nhân chuyện nói về
ông Vua Thành Thái chống Pháp, thiết tưởng cũng nên biết sơ qua về:
a.- Tư cách bất xứng
của ông vua gỗ này.
b.- Thực trạng của
một số các đảng phái chống Pháp từ cuối thập niên 1930.
Về tư cách bất
xứng của ông vua gỗ Thành Thái, có nhiều điều đáng
nói. Điểm đáng nói nhất là ông ta là một người mất hết tư cách vì
có hành động phạm tội loạn luân. Tội này được sách Việt Sử Khảo Luận -
Cuốn 4 ghi nhận như sau:
"Hoàng Tử Vĩnh San chỉ được cấp dưỡng "một số
tiền chết đói là 35.000 quan một năm.". Bà vợ trẻ là Hoàng Quý Phi Mai
Thị Vàng "không chịu nổi cuộc sống xa quê hương cũng như khí hậu của đảo
(Réunion) và cuộc đời nghèo khó. Ngài xin cho vợ, mẹ và em gái (tức Mệ
Cười) được hồi hương (HtThược, 1984 tr. 196).
Sự thực khác: Hoàng Quý Phi bị chồng đuổi về nước
năm 1917 vì tội "loạn luân" với cha chồng là vua Thành Thái - có bệnh
bạo dâm; còn mẹ và em gái Vĩnh San chỉ hồi hương 3 năm sau (Vũ Ngự
Chiêu, tập san Đường Mới Số 1 năm 1983 tr. 100). Nói bà "bị hiếp dâm" có
lẽ đúng hơn." Hoàng Cơ Thụy, Sđd., tr. 1925
Còn một điều
đáng nói nữa là khi viết lá thư (viết tay) đề ngày 17/11/1914 gửi
cho Toàn Quyền Đông Dương, ông vua bạo dâm loạn luân này đã sử
dụng những ngôn từ làm mất phẩm giá con người. Người viết xin ghi lại
phần chót cua lá thư này để làm bằng chứng sống động nhất cho sự kiện
mất tư cách của ông vua gỗ Thành Thái:
"....
vậy xin Đức dám quốc ra lòng công bình nhơn đức tha
tội cho tôi đặn[g] về xứ sở tôi kẻo tôi bị đầy biệc xứ đã tám năm rồi mà
tôi vẫn giữ phép tắc luôn luôn trung [thành] với mẫu quốc luôn luôn,
trăm lạy quan lớn xin quan lớn làm cái ơn mọn này cho tôi với thì tôi
cảm ơn quan lớn vô cùng. Theo đây tôi cũng có nhờ quan lớn làm phước
trao dùm cái phong thơ chữ như mà tôi gửi cho triều đình Annam đặn[g]
tôi xin về Huế. Trăm lạy quan lớn
(Để nhìn thấy
bản chụp của lá thư viết tay trên đây cũng như biết thêm về tư cách tồi
tệ và những hành động làm mất phẩm giá con người của ông vua bạo dâm
loạn luân này, xin quý vị đọc các 678-684 trong sách Thực Chất của Giá
Hội La Mã (Tacoma, TXB, 1999) của tác giả Nguyễn Mạnh Quang.
Về
chuyện ông vua bạo dâm và loạn luân này chống Pháp, nếu có, thì cũng
chỉ là chống Pháp cho Vatican giống như Đảng Việt Nam Quang
Phục (còn gọi là Đại Việt Phục Hưng Hội) của ông Ca-tô Cường Để và
ông Ca-tô Ngô Đình Diệm (sẽ được trình bày ở dưới).
Cũng nên biết, Pháp và Vatican tuy rằng đã cấu kết với nhau thành
một Liên Minh Xâm Lược Pháp - Vatican đánh chiếm và thống trị Đông
Dương, nhưng hai thế lực này là những kẻ đồng sàng và dị mộng, luôn luôn
hục hặc với nhau và muốn hất cẳng nhau để nắm độc quyền cai trị
Đông Dương.
Sự kiện này được sử
gia Vũ Ngự Chiêu ghi nhận trong bài viết Sự Hình Thành Phong Trào Quốc
Gia Mới: Từ Trung Quân Đến Ái Quốc (tiểu mục C: Sự Chuyển Hướng Của Hội
Truyền Giáo) như sau:
"Từ
năm 1890, nếu không phải sớm hơn, một hiện tượng đặc thù xảy ra là sự
rạn nứt giữa Hội truyền giáo và chính quyền thực dân Pháp, đưa đến những
tranh chấp không ngừng, có thể gọi là “chiến tranh lạnh.”
Cuộc chiến tranh lạnh này đã khởi
đầu từ ngày chủ nghĩa Cộng Hòa và khuynh tả thống trị chính giới Pháp,
và chỉ tạm hòa hoãn trong giai đoạn 1895-1899, thường được biết như thời
kỳ “ralliement” – tức chiêu hồi hay liên kết giữa hai phe Ki-tô và Cộng
Hòa trung dung, để ngăn chặn ảnh hưởng phe tả khuynh. Từ năm 1899, Quốc
Hội Pháp trực diện tấn công Giáo hội bằng các Sắc luật năm 1901, 1904 và
1905, chính thức giải thoát xã hội Pháp khỏi sự kềm tỏa của thần quyền
Ki-tô từ nhiều thế kỷ. Dưới thời chính phủ Emile Combes (1902-1904) của
Khối Tả phái (Bloc des Gauches), tinh thần chống Giáo hội ngày càng
mạnh.
Tại
Ðông Dương, những nhân vật Cộng Hòa hay tả khuynh cũng không ngừng đả
kích Hội truyền giáo cùng chủ trương thống trị, “Ki-tô hoá và đồng hoá.”
Ðối lại, Hội truyền giáo, giới quân sự và các nhóm viên chức thuộc địa
bảo thủ cũng tạo thành một liên minh đánh phá Jean de Lanessan, đưa đến
việc triệu hồi viên Toàn quyền này, dù thái độ của de Lanessan với Hội
Truyền giáo khá thân mật. Năm 1893, chẳng hạn, khi tờ Le Courrier
d'Haiphong cho đăng một loạt bài có vẻ đả kích chủ trương thống trị và
đồng hoá mà Hội truyền giáo theo đuổi, các giáo sĩ không chịu yếu thế.
Họ quyết dùng báo chí để phản công, xuất vốn mua tờ L'Avenir du Tonkin
(Tương lai Bắc Kỳ) ở Hà Nội. Ngày 18/7/1893, de Lanessan phải viết thư
cho Giám mục P. Gendreau–mới thay Puginier ở Tây Ðàng Ngoài–khuyên
Gendreau đừng nên dính líu vào những cuộc bút chiến trên báo chí. Trong
thư trả lời ngày 23/7/1893, Gendreau khẳng định rằng báo chí là phương
tiện duy nhất để tự vệ.
Ít lâu sau, tới cuộc bút chiến giữa
Linh mục J. B. Guerlach và Camille Pâris, một cựu viên chức bưu điện ở
Tourane, sau chuyển sang khai thác đồn điền ở cao nguyên Trung Kỳ thuộc
khu vực dân Sê-đăng. Pâris tố cáo Hội truyền giáo đã che chở cho tay
phiêu lưu “Hầu tước de Mayréna” chiếm đoạt đất của dân Sê-đăng để thành
lập một vương quốc với Giáo sĩ Ki-tô làm quốc sư.(118) Guerlach– một
trong những cựu thủ lãnh “thập tự quân” – truy tố Pâris ra tòa về tội mạ
lÿ. Tuy nhiên, Pâris được trắng án. Cuộc tranh chấp chỉ chấm dứt sau cái
chết bí ẩn năm 1908 của Pâris tại đồn điền.
Các báo thuộc nhóm “Radical” (Cấp
tiến) hay “Lodge” (Tam Ðiểm) khác như L'Indépendence tonkinoise (Ðộc Lập
của Bắc Kỳ) của Alfred Levasseur, và Le Mékong (Cửu Long) của Ulysse
Leriche cũng mở nhiều đợt tấn kích Hội truyền giáo. Trong số báo ra ngày
22/5/1897, chẳng hạn, Le Mékong loan tin một trong 10 nữ tu y tá đã bỏ
tu hành nghề mãi dâm. Ngày 12/6/1897, Jean Marie Depierre, Giám mục Tây
Ðàng Trong–người đã tổ chức quyên góp dựng tượng Pigneau de Béhaine ở
Sài Gòn–khởi tố với Tổng Biện lý Assaud ở Sài Gòn. Trước đó, ngày
25/5/1897, Depierre còn viết thư cho Leriche, cáo buộc Le Mékong dối trá
khi bình luận rằng Hội truyền giáo là “ổ chống đối sự thống trị của Pháp.”
Ngoài ra, các nhà in Rey, Curiol, và
Francois H. Schneider cũng có lập trường chống Hội truyền giáo, đặc biệt
hai tờ L'Univers (Vũ Trụ) và La Croix (Thập Tự Giá), cơ quan ngôn luận
của Giáo hội.
Các nhóm tả
khuynh còn vận động việc ban hành nghị định áp dụng ba đạo luật 1901,
1904 và 1905 tại Ðông Dương; nhưng Beau – trước sự đe dọa của các Giáo
sĩ, và vì quyền lợi thuộc địa – không dám trực diện Hội truyền giáo."
Vũ Ngự Chiêu.“Sự Hình Thành Phong Trào Quốc Gia Mới: Từ Trung
Quân sang Ái Quốc.” chuyenluan.net Tháng 6/2006.
Thực ra, phe thực dân Pháp thì muốn nắm toàn quyền làm chính sách cai trị
Đông Dương, muốn xóa bỏ luôn triều đình bù nhìn Huế để biến toàn lãnh
thổ Việt Nam thành một chế độ thuộc địa trực tri như Nam Kỳ, và chỉ để
cho Vatican một số đặc quyền về kinh tế và giúp Pháp cung cấp nhân sự
cho bộ máy đàn áp nhân dân trong đó có sở mật thám là quan trọng nhất.
Điều quan trọng khác nữa là hầu hết những chính khách nắm quyền
chính trị ở chính quốc Pháp cũng như ở Đông Dương đều có tinh thần Cách
Mạng Pháp 1789. Họ rất thù ghét và ghê tởm Giáo Hội La Mã.
Vatican thì muốn duy trì triều Huế với dã tâm sẽ biến ông vua bù
nhìn nhà Nguyễn thành người của Giáo Hội bằng cách hoặc là hứa hẹn sẽ
bảo vệ đến cùng và tranh đấu để có thêm quyền hành, hoặc là biến ông vua
gỗ này thành tín đồ Ca-tô, rồi sử dụng vua này làm phương tiện
Ki-tô hóa nhân dân theo kế sách từ trên xuống dưới (ban hành đạo dụ, dụ
dỗ và cưỡng bách các triều thần, các quan đầu tỉnh, đầu phủ, đầu huyện
theo đạo). Công việc này được ủy thác cho các tín đồ đặc trách một chức
vụ quan trọng trong triều đình Huế hay một chức vua gần như thường trực
kế cạnh ông vua bù nhìn do Liên Minh Pháp - Vatican dựng nên. Đây là kế
sách của Vatican. Trong thời gian Thành Thái, Duy Tân và Khải Định tại
vị, những tín đồ được trao cho nhiệm vụ này là Ngô Đình Khả và Nguyễn Hữu Bài.
Cả hai người này đều được Vatican đưa sang Trung Tâm Huấn Luyện Điệp
Viên và Thông Ngôn ở Pinang thuộc đảo Paulo Pinang (Malaysia ngày nay)
học hỏi kỹ thuật gián điệm và làm thông ngôn.
Vai trò của các tín đồ Ca-tô tin cẩn này khá phức tạp. Thí dụ như
trường hợp của ông Ca-tô Ngô Đình Khả: Đối với người Pháp, thi ông Ngô
Đình Khả là một tên mật vụ được gài vào triều
đình Huế để dò xét nhà vua. Sự kiện này được ông sử nô Ca-tô Lữ Giang
ghi lại trong cuốn Những Bí Ẩn Lịch Sử Đàng Sau Cuộc Chiến Việt Nam như
sau:
"Khi đưa cụ Ngô Đình Khả vào làm phụ đạo cho vua
Thành Thái người Pháp muốn cụ theo dõi các hoạt động của vua và báo cáo
cho Pháp biết những ý định phản nghịch của vua để có biện pháp kịp thời.
Nhưng cụ Ngô Đình Khả đã hướng dẫn Thành Thái đi một hướng khác."
Lữ Giang, Những Bí Ẩn Lịch Sử Đàng Sau Cuộc Chiến Việt Nam (Garden
Grove, CA: TXB, 1999), tr. 395.
Nhưng đối với Vatican, thì ông Ngô Đình Khả có nhiệm vụ phải biến ông
vua gỗ Thành Thái thành người của Giáo Hội La Mã. Câu nói "Nhưng cụ Ngô Đình Khả đã hướng dẫn Thành
Thái đi một hướng khác" có nghĩa
là hướng dẫn Thành Thái đi theo con đường chống Pháp dưới sự điều khiển
của các ông truyền giáo (quan thày của Ngô Đình Khả). Vì vậy mà khi Pháp quyết định truất phế Thành Thái thì
bọn truyền giáo Ca-tô ra lệnh cho Ngô Đình Khả phản đối. Cũng vì thế mới có câu
vè "Bài vua không Khả".
Về thực trạng của
một số các đảng phái chống Pháp từ cuối thập niên 1930: Trong thời nước ta nằm dưới ách thống trị của Liên Minh Xâm Lược Pháp -
Vatican, có rất nhiều phong trào, tổ chức hay đảng phái cách mạng chống
chính quyền Bảo Hộ được gọi là chống Pháp. Hầu hết những phong
trào, tổ chức và đảng phái này đều có mục đích chung là đánh đuổi Liên
Minh Xâm Lược Pháp - Vatican để giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc.
Tuy nhiên, trong số các phong trào, tổ chức và đảng phái này, có một số
tổ chức hay đảng phái nói rằng chống Pháp nhưng trong thực tế là tranh
đấu cho quyền lợi riêng của một nhóm hay giới người của họ, chứ không phải
tranh đấu cho quyền lợi tối thượng của tổ quốc và cũng không phải
là tranh đấu cho phúc lợi của đại khối nhân dân Việt Nam. Ta gọi những
đảng phái này là các "đảng xôi thịt" của bọn chính trị phòng trà. Bộ máy
tuyên truyền của Vatican và các chính quyền Việt Nam làm tay sai cho
Liên Minh Xâm Lược Pháp - Vatican và Liên Minh Xâm Lược Mỹ - Vatican gọi
các đảng này là "các đảng phái Quốc Gia". Điển hình nhất
cho các đảng phái xôi thịt này là Đảng Lập
Hiến của các ông Bùi Quang Chiêu (1872-1945) và Nguyễn Phan Long
(1889-1960) được cho ra đời vào năm 1919 và Đảng Việt Nam Quang
Phục (còn gọi là Đại Việt Phục Hưng Hội) của ông Ca-tô Cường Để và
ông Ca-tô Ngô Đình Diệm trong những năm trước ngày 9/3/1945.
1.- Về Đảng Lập
Hiến của các ông Bùi Quang Chiêu (1872-1945) và Nguyễn Phan Long
(1889-1960), Tài liệu của BBC Vietnamese.com
viết:
"đại
biểu cho một tầng lớp tư sản tại miền nam mới xuất hiện vào đầu thế kỷ
thứ 20. Tầng lớp này bao gồm những công chức người Việt trong chính
quyền Pháp, những địa chủ giầu có thôn quê và một số những nhà kinh
doanh tây học."
Cũng theo nguồn tài liệu này, thì đảng trưởng của đảng này là ông Bùi
Quang Chiêu có thái độ "khinh rẻ anh em nông
dân và công nhân ít học" và "chỉ chấp nhận cho họ được cái quyền
độc nhất là quyền sinh tồn". Đây là nguyên nhân khiến ông có chủ
trương duy trì tình trạng bất công trong xã hội. Trong một bài phỏng vấn
được đăng trên Phụ Nữ Tân Văn năm 1929, ông tuyên bố:
“Trên đời này làm gì có bình đẳng? Tôi xin kể ra
một thí dụ, giả như một người nhờ vào những trường hợp ngẫu nhiên nào
đó, hoặc nhờ vào tài sản, nhờ vào những thành công của mình mà lên được
hàng lãnh đạo trong giới thượng lưu; đương nhiên người đó có quyền hưởng
thụ nhiều ưu đãi hơn là một anh phu quét đường. Anh phu quét đường thì
ngu dốt, anh ta không làm được nghề gì khác ngoài việc quét đường. Thành
ra anh ta chỉ có được một quyền là quyền được sống. Đó là lẽ tự nhiên.” Theo
BBC Vietnamese.com.
Có nguồn tin nói rằng một trong những mục tiêu tranh đấu của đảng này là
đòi chính quyền Pháp nới lrộng quy chế cho người Việt Nam nhập Pháp
tịch.
Cũng nên biết là:
a.- Dân ta đang bị Thực dân Pháp Và Giáo Hôi La Mã áp bức vô cùng
tàn ngược, bị bóc lộ đến tận xương tận thủy bằng những chính sách thuế
khóa cực kỳ dã man nhất trong lịch sử nhân loại (thuế thân, thuế muối và
hàng trăm thứ thuế khác đổ lên đầu người dân) bằng chính sách sưu dịch
vô cùng man rợ cưỡng bách người dân phải đi làm lao nô không công phục
dịch tại các công trường xây cất hàng ngàn ngôi dinh thự ngu
ngay của nhà nước, hàng ngàn những ngôi nhà thờ to lớn cùng với hành
ngàn tháp chuông sừng sững vươn lên bên cạnh nhữ ngôi nhà thờ vĩ đại
này, hàng trăm các cở sở khác như chủng viện, tu viện, nhà thương,
trường học và các xí nghiệp nghiệp kinh tài của Giáo Hội La Mã.
b.- Ruộng đất canh tác của dân ta bị Giáo Hội La Mã cướp đoạt. Chỉ
riêng ở Nam Kỳ, con số ruộng đất Giáo Hội La Mã đã cướp đoạt của dân ta
tới trên 25% số diện tích ruộc đất trồng trọt. Ấy là chưa nói đến con số
ruộng đất bị Giáo Hội cướp đoạt ở miền Trung và miền Bắc.
c.- Chùa chiền Việt Nam bị đập phá lấy đất để xây nhà thờ Ca-tô. Ngôi
Chùa Bảo Thiên ở Hà Nôi chỉ là một trong số hàng ngàn ngôi chùa bị đập
pháp để lấy đất xây nhà thờ như Giáo Hội đã làm ở Châu Mỹ La-tinh trong
thế kỷ 16 và ở Algerie từ năm 1830 cho đến khi Liên Minh Pháp - Vatican
bị nhân dân quốc gia này đánh đuổi ra khỏi lãnh thổ Algerie.
d.- Văn hóa Việt Nam bị chà đạp, tôn giáo cổ truyền của dân tộc trong đó
có đạo thờ cúng tổ tiên bị sỉ vả, và dân tộc Việt Nam bị khinh rẻ là dân
tà đạo, dân mọi rợ.
Xin xem Mục X nói về thành tích của Vatican cướp đoạt tài sản và bóc lột
nhân dân Việt Nam trong thời 1862-1945. Mục này nằm trong Phần
III, bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ấc của Giáo Hội La Mã.đã được đưa lên
sachhiem.net, giaodiemonline.com từ tháng 1/2008, sẽ được in trong sách
Từ Chùa Bảo Thiên Đến Tòa Khâm Sứ do sachhiem.net và giaodiemonline.com
chủ trương và sẽ phát hành trong một ngày gần đây.
Với thảm cảnh và mang mối nhục vong quốc như trên, thiết tưởng
rằng, ngoại trử nhóm thiểu số tín đô Ca-tô vong bản phản quốc và nhóm tư
sản giàu có ăn no rửng mỡ như trên, đại khối dân tộc Việt Nam ta không
hề và không bao giờ cần đến cái điều đòi hỏi "nới rộng quy
chế nhập Pháp tịch" này của Đảng Lập Hiến xôi thịt này của các ông Bùi Quang Chiêu và Nguyễn Phan Long.
Phần trình bày trên đây cho chúng ta thấy Đảng Lập Hiến của ông
Bùi Quang Chiêu và Nguyễn Phan Long nói là chống Pháp mà bản chất chỉ là
đảng xôi thịt tranh đấu cho nhóm người thiểu số vốn đã được ưu đãi trong xã
hội.
2.- Về Đảng Việt Nam Quang Phục còn gọi là Đại Việt Phục Hưng Hội
của ông Ca-tô Cường Để và ông Ca-tô Ngô Đình Diệm trong những năm trước
ngày 9/3/1945: Đảng
này được Vatican sử dụng để giành lại ngai vàng cho cá nhân ông Cường Để
(thuộc dòng Hoàng Tử Cảnh, đã theo đạo Ca-tô từ đời Hoàng Tư Cảnh) để
phục vụ cho mưu đồ riêng của Vatican. Từ thập niên 1890, sự tranh
chấp để giành chiếm ưu thế trong chính quyền tại Đông Dương càng trở nên
mãnh liệt giữa một bên là phe Cấp Tiến (Radical) hay Tam Điểm
(Lodge) và một bên là Vatican mà đại diện là các nhà truyền giáo ở Việt
Nam. Càng về sau phe Cấp Tiến càng thắng thế ở cả chính quốc Pháp cũng
như ở Đông Dương và muốn loại bỏ hết quyền lực của Vatican ra khỏi sân
khấu chính trị tại Đông Dương. Vì thế đảng Việt Nam Quang Phục (cũng có
thể do bàn tay Vatican lập nên) được Giáo Hội La Mã và các nhà
truyền giáo ở Việt Nam triệt để ửng hộ và kêu gọi giáo dân tích cực tham
gia. Sự kiện này được sử gia Vũ Ngự Chiêu ghi nhận trong bài viết Sự
Hình Thành Phong Trào Quốc Gia Mới: Từ Trung Quân Đến Ái Quốc (tiểu mục
C: Sự Chuyển Hướng Của Hội Truyền Giáo) như sau:
"Thời gian này
(từ 1890 trở về sau),Hội truyền giáo đã phát triển và củng cố tổ chức
chặt chẽ theo hàng dọc, từ các giáo phận xuống giáo xứ, họ đạo. Hầu hết
các họ đạo tại các xã thôn đều do các giáo mục (curé) bản xứ trông nom.
Mỗi giáo phận là một tiểu vương triều tự trị, với những luật lệ riêng.
Dưới sự hướng dẫn của các linh mục, giáo dân trở thành kiêu dân, hoành
hành bất kể luật pháp. Alphonse Louis Klingler ở Nghệ An và Martin ở
Thanh Hoá chỉ là những thí dụ tiêu biểu.
Không những chỉ lấn áp dân chúng,
đập phá chùa chiền, cướp đoạt ruộng đất, công điền công thổ tại các xã
lẫn lộn người Lương và giáo dân, “thập tự quân” còn kéo nhau đi làm tiền
cả thân nhân Từ Dụ Thái Hoàng Thái hậu, hay cựu Phụ chính Ðại thần
Trương Quang Ðãn, vì tư gia họ đã dùng gỗ lim, mới bị ra lệnh cấm đẵn để
dành độc quyền cho các nhà khai thác.
Các quan lại chẳng ai dám phản ứng, vì
phạm lỗi với các giáo sĩ hay linh mục bản xứ sẽ lập tức bị cách chức,
hay quở phạt.
Trước viễn ảnh rạn nứt khó tránh
giữa chế độ Bảo hộ Pháp và Hội truyền giáo–đồng thời, để tạo áp lực với
các viên chức “rối đạo”– các giáo sĩ tìm cách móc nối, ăn rễ vào Hoàng
tộc và những phong trào kháng Pháp.
Một mặt, giới quan lại xuất thân thông ngôn được yểm trợ ngày một
thăng tiến nhanh trong triều đình, hầu gây ảnh hưởng với vua và Hoàng
tộc. Mặt khác, một số tìm cách liên kết với tổ chức Duy Tân Hội
của Phan Bội Châu và Cường Ðể, dòng dõi duy nhất của Hoàng tử Cảnh. Sự
ủng hộ của số giáo sĩ, giáo dân từ Vinh tới Quảng Nam–kể cả nhóm Ngô
Ðình Khả, Nguyễn Hữu Bài, Mai Lão Bạng, v.. v...– liên hệ không nhỏ với
bối cảnh cuộc chiến tranh lạnh giữa Giáo hội và phe tả khuynh Pháp.
Tuy nhiên, tưởng cũng cần nhấn
mạnh, khối giáo dân – hoặc ít nữa các nhóm thiểu số giáo sĩ và giáo dân
tham vọng– không đoàn kết, nhất trí như có thể ngộ nhận. Ðường nứt rạn
lớn nhất là giữa hai giáo phận gốc Espania – có liên hệ chặt chẽ với
Manila (Philippines), và Roma – và các giáo phận của Hội Truyền giáo
Pháp. Thêm nữa, ý thức chủng tộc cũng tách biệt dần giáo dân Việt và
giáo sĩ ngoại quốc–đặc biệt là các giáo sĩ Pháp. Sau gần nửa thế kỷ được
Pháp “giải phóng” (nói theo ngôn ngữ của Petrus Key năm 1859), giáo mục
và giáo dân Việt vẫn bị xếp loại tín hữu hạng nhì. Triều đình Ki-tô Ðông
Dương vẫn do các “cha triều” Pháp thống trị. Chưa một “linh mục triều”
người Việt nào được lên chức Giám mục. Nói cách khác, Hội truyền giáo
Pháp tự nó cũng là một tiểu vương triều “trắng” bảo hộ tiểu vương quốc
Ki-tô “vàng.” Hội truyền giáo cũng không chỉ có con chiên người Việt.
Các giáo sĩ bắt đầu mở mang họ đạo tới những vùng sơn cước ở Trung và
Bắc Kỳ. Từ thập niên 1900, toàn thể Ðông Dương đã chia làm 7 giáo phận.
Tại Bắc Kỳ, thêm giáo phận “Haut Tonkin” (Ðàng Ngoài Cao), để lo việc
Ki-tô hoá dân thiểu số. Tại Trung Kỳ, hai giáo phận Ðông Ðàng Trong và
Tây Ðàng Trong nỗ lực Ki-tô hoá các sắc tộc Ê-đê, Gia-rai, Sê-đăng, v..
v... trên cao nguyên.” Vũ Ngự Chiêu.“Sự
Hình Thành Phong Trào Quốc Gia Mới: Từ Trung Quân sang Ái Quốc.”
chuyenluan.net Tháng 6/2006.
Như vậy, Đảng Việt
Nam Quang Phục hay Đại Việt Phục Hưng chỉ là công cụ của Vatican dùng Cường
Để để thiết lập chế độ đạo phiệt Ca-tô rồi Ki-tô hóa Việt
Nam từ trên xuống dưới bằng bạo lực của chính quyền. Cũng vì chủ trương
Ki-tô hóa từ trên xuống dưới bằng bạo lực của nhà nước cho nên khi thất
bại không người Nhật cho làm thủ tướng, Ngô Đình Diệm đòi nắm giữ Bộ Nội
Vụ để có thể bổ nhậm bộ bọn đàn em (cũng là tín đồ Ca-tô) làm tỉnh
trưởng. Thế nhung, "già néo thì đứt giây". Sự kiện này được Cụ Hoàng Cơ Thụy
ghi ljai trong Việt Sử Khảo Luận - Cuốn 4 như sau:
"Đại Việt Phục Hưng
Hội của nhóm Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Diệm (ông Diệm sinh ngày
3/1/1901) thành lập từ năm 1942 liên lạc với Hoàng Thân Cường Để ở bên
Nhật (coi VSKL/8 tr. 1842).
Sau vụ làm thủ tướng hụt cuối tháng 3/1945, một
phái đoàn 5 người của "Ủy Ban Kiến Quốc" là Vũ Văn An, Vũ Đình Dy, Ngô
Đình Diệm, Nguyễn Xuân Chữ, Lê Toàn sang Nhật tham dự Hội Nghị Đại Đông
Á tại tỉnh Kudan hồi đầu tháng 5/1945. Cuối tháng ấy và hai tháng 6 và
7/1945, có tin đồn rằng Cường Để sắp được Nhật đưa về nước để giúp cháu
là vua Bảo Đại và sẽ giữ chức vụ chủ tịch Hội Đồng Tư Vấn đang dự bị
thành lập.
Theo lời bác sĩ Hồ Tá Khanh kể với chúng tôi
(tháng 3/1992) thì hồi cuối tháng 7/1945, Vũ Văn An có vào Huế đề nghị
với cụ Trần Trọng Kim để cho Ngô Đình Diệm tham gia nội các. Khi ấy còn
khuyết mấy bộ trưởng là các bộ Công Chính (Lưu Văn Lang từ chối, Hoàng
Xuân Hãn tạm kiêm nhiệm) và Y Tế (Vũ Ngọc Anh vừa chết vì bom Mỹ hôm
23/7/1945), nên cụ Kim đề nghị (cho ông Diệm giữ) một trong hai bộ đó.
Song Vũ Văn An đòi cho ông Diệm (giữ) bộ Nội Vụ để có thể bổ báng bọn đàn
em làm tỉnh trưởng. Vì bộ này đã có Trần Đình Nam (năm giữ), nên cụ Kim
không thể nhận lời." Hoàng Cơ Thụy, Sđ., tr. 1963.
Thiết tường dân Việt Nam ta chỉ cần giải thoát được cái ách thống trị
hết sức tham tàn và cực kỳ bạo ngược của Liên Minh Pháp - Vatican
như đã trình bày trong phần cuối trong mục nói về Đảng Lập Hiến của các ông
Bùi Quang Chiêu và Nguyễn Phan Long ở trên. NẾU Nhật hất cảng Liên Minh
Pháp - Vatican mà đưa ông Ca-tô Cường Để lên làm vua thay thế ông
Bảo Đại và đưa ông Ca-tô Ngô Đình Diệm lên làm thủ tướng, THÌ ĐÚNG LÀ
Việt Nam ta rơi vào tình trạng "tránh vỏ dưa gặp
vở dừa", tức là "đuổi con Cọp Liên
Minh Xâm Lược Pháp- Vatican ra khỏi cửa trước thì lại rước con beo Liên
Minh Xâm Lược Nhật - Vatican vào cửa sau". Cũng vì thế
mà cụ Phan Bội Châu đã phải xa lìa ông Ca-tô Cường Để từ giữa thập niên 1910, và
nhân dân Việt Nam không những không tham gia mà còn tích cực chống lại
cái đảng xôi thịt khốn nạn này và chống lại đến cùng.
Xin xem chương sách nói về Thực Trạng Các Đảng Phái Quốc Gia Chống Liên Minh
Pháp - Vatican (Mục XIII, Phần IV trong bộ sách Lịch Sử và Hồi Sơ Tội Ác
Của Giáo Hội La Mã) để biết thêm về cái đảng Ca-tô xôi thịt này.
3.- Về các dảng phái Quốc Gia khác.- Vào cuối thập niên 1930 và đầu thập niên 1940 cho đến khi Nhật đầu
hàng Đồng Minh vào ngày 15/8/1945, tại Việt Nam có một số đảng phái gọi
là Đảng Cách Mạng. Ngoại trừ Đảng Cộng Sản và Mặt Trận Việt Minh, hầu hết các
thành phần lãnh đại và đảng viên của các
tổ chức gọi là các "đảng phái Quốc Gia"
đều là những người xuất thân từ giới tư sản giầu có và những nhân viên làm việc trong chính
quyền Bảo Hộ hoặc là thuộc các già đình hào phú trong nông thôn. Tất cả đều là những chính khách "phong trà" (chính khách salon).
Nó cho rõ hơn, họ là
những nhà cách mạng tài tử, mang nặng tính cách lãng mạn,
quen với nếp sống phong lưu mưa không đến mặt, nắng không tới đầu, luôn
luôn có hạ nhân hầu hạ, lúc nào cũng lè phè, khệnh khạng, quan
liêu phong kiến, sợ khó ngại khổ, dốt nát về lịch sử. Tệ hơn nũa là họ
không có khả năng về chính trị và cũng không có kiến thức về kỹ
thuật làm cách mạng. Vì những nhược
điểm này mà họ không chịu dấn thân lăn lộn đi sâu vào đại khối nông dân
và công nhân
lao động nghèo khổ để hòa mình với họ, tìm hiểu tình cảnh của họ, giác
ngộ họ để lôi cuốn, thu hút họ vào đảng của mình hầu tổ chức họ
thành những đội ngũ cách mạng, những lực lượng xung kích tại các
địa phương làm hạ tầng cơ sở nằm tiềm phục chờ giờ hành động. Đây là những yếu
kém chung của các "đảng phái Quốc Gia" mà điển hình là Đảng Việt Quốc và Việt Cách. Sách Việt Nam Khảo Luận -
Cuốn 4 ghi nhận:
"Với thành phần phức tạp, tổ chức lỏng lẻo, Việt Nam Quốc Dân Đảng để
cho bọn chỉ điểm Pháp chui vào đảng không ít... Lúc đầu không có tổ chức
quần chúng...Không có một chương trình huấn luyện đào tạo cán bộ và huấn
luyện đảng viên." Hoàng Cơ Thụy, Việt Sử Khảo Luận Cuốn 4
(Paris: Nam Á, 2002), tr. 1937.
Về mục tiêu
tranh đấu, họ chỉ học lóm được những danh từ rỗng tuếch lấy từ
cương lĩnh của Quốc Dân Đảng Trung Hoa, giống như những lời nói suông, nói cho sướng
miệng. Trong thực tế, họ chằng bao giời đề ra những
phương pháp hay kế sách hành động cho có hiệu quả để đạt được mục
đích.
Có một số người trong các đảng phái này có bằng cấp đại học, nhưng
kiến thức của họ chỉ là thứ kiến thức chuyên môn được các trường học của
chính quyền Bảo Hộ đào luyện. Họ không có những kiến thức cần thiết cho
một nhà cách mạng kiêm chính trị gia vì rằng họ không được học toàn bộ
những bài học lịch sử thế giới, không được học đầy đủ những bài học lịch
sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại một cách trung thực do những nhà
viết sử chân chính biên soạn. Vì không được học toàn bộ các bài
học lịch sử thế giới, cho nên họ không biết gì về những bước tiến của
loài người và cũng không biết gì về những rặng núi tội ác của Giáo Hội
chống lại nhân loại trong gần hai ngàn năm qua. Vì những lý do này, họ
hoàn toàn không biết rằng Giáo Hội La Mã mới là thế lực chủ động đánh
chiếm Việt Nam làm thuộc địa rồi mới cho người đi vận động chính quyền
Pháp liên kết với Giáo Hội và xuất quân đánh chiếm Việt Nam để cùng
thống trị và cùng chia nhau lợi nhuận.
Vì là những người xuất thân từ giới tư sản giấu có và là những nhân viên làm việc trong chính
quyền Bảo Hộ, vốn liếng kiến thức của các nhà lãnh đạo và đảng viên các
đảng phái Viêt Quốc, Việt Cách và các đảng khác (ngoài Đảng Cộng Sản)
chỉ có một mớ kiến thức chuyên môn. Kiến thức tổng quát của họ không
bằng một em bé học sinh hoàn tất đầy đủ chương trình trung học ở Hoa Kỳ.
Tệ hơn nữa, họ là những người quen với nếp sống phong l |