|

C ác nhà xã hội học và các nhà viết sử
đều có nhận xét chung về những em bé mồ côi cả cha lẫn mẹ ngay từ khi
mới chào đời hay còn quá nhỏ, và những đứa con hoang thường không biết
nguồn gốc gia đình hay gia phả dòng họ là ai. Nhận xét chung này là:
1.- Hoàn cảnh: Khi còn ở tuổi
vị thành niên và cả khi đã bước vào tuổi trường thành, các em bé này
thường có một đời sống cơ cực về vật chất, sống trong một môi sinh không
được lành mạnh, và rất thiếu thốn về tinh thần.
2.- Hậu quả: Một số ít trường
hợp trong số này đã gặp được may mắn, đã gặp được hoàn cảnh mới, thoát
khỏi được những hậu quả đáng thương hại. Một số khác rất hiếm hoi những
trẻ mồ côi đã phấn đấu chống lại những cơn bão tố trong đời, có người đã
có thể thành công tột bực. Đây chỉ là những trường hợp ngoại lệ mà thôi.
Đại đa số tiếp tục ở trong hoàn cảnh đau buồn kể trên, rơi vào những
tình trạng xấu như:
a.- Không được đi học, nếu có, thì
cũng chỉ ở trong một phạm vi giới hạn.
b.- Lăn lộn và hoà mình sống chung với
giới người hạ lưu và tội ác trong xã hội, nên lớn lên các em này thường
có những suy tư và lối hành xử của những người vô học.
c.- Ưa thích sử dụng loại ngôn từ “anh
chị”, “ăn nói và hành động bạt mạng” mà người dân Sàigòn trong thời
1954-1975 gọi là dân “Cầu Muối” hay “Cầu Ông Lãnh”.
Trường hợp đa số những người này là “những đứa con hoang
trong xã hội.” Thật ra đó là
những trường hợp rất đáng thương hơn là đáng nói. Nhưng có một loại "con
hoang" khác mới đáng nguyền rủa. Họ không phải mồ côi, nhưng không biết
cha mẹ là ai, họ không phải không có nơi nương tựa, nhưng không biết nhà
ở đâu, không phải không có làng xóm, ngôn ngữ, nhưng lại quên địa chỉ,
quên tiếng nói. Họ là những đứa con hoang trong cộng đồng dân tộc.
NHỮNG ĐỨA CON HOANG TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC
Tại Việt Nam, hầu hết những lớp người sinh
ra và lớn lên trong những năm từ khi Liên Minh Pháp – Vatican bắt đâu
tấn chiếm và thống trị Việt Nam từ năm 1858 cho đến năm 1954 và ở miền
Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 đều không được học đầy đủ quốc sử
và toàn bộ lịch sử thế giới. Lý do rất đễ hiểu:
1.- Về quốc sử: Bất kỳ đế quốc thực
dân xâm lược nào cũng đều có chủ trướng không đưa môn quốc sử vào trong
chương trình học ở các bậc tiểu học và trung học cũng như ở bậc đại học
(nước ta, trong thời Pháp – Vatican bảo hộ, chưa có trường đại học mở
lớp dạy quốc sử thì phải.) Thuở đó, chính quyền bảo hộ chỉ cho dạy môn
lịch sử Pháp ở các bậc tiểu học và trung học và học sinh Việt Nam được
dạy rằng: “Nos ancêtres sont des Gaullois” (Tổ tiên chúng ta là người
Gaullois) .
2.- Về môn sử thể giới: Là một
thành phần trong Liên Minh Pháp – Vatican thống trị Việt Nam trong những
năm 1885-1954 và trong Liên Mỹ - Vatican thống trị miền Nam Việt Nam
trong những năm 1954-1975, Giáo Hội La Mã chủ trương hoặc là không đưa
môn sử thế giới vào trong chương trình trung học và ở bậc đại học, hoặc
là nếu bất đắc dĩ mà phải có môn học này, thì phải cắt xén và phần còn
lại phải được diễn dịch theo ý muốn của Giáo Hội để tránh né, không đề
cập tới những sự kiện mà Giáo Hội cấm kỵ như:
a.- Những việc làm tội ác của Giáo Hội La
Mã trong gần hai ngàn năm qua.
b.- Đời sống hoang đàng phóng đãng, loạn
dâm, loạn luân dâm loàn của các giáo hoàng và các vị chức sắc cao cấp
trong giáo triều Vatican cũng như của các ông tu sĩ các cấp trong các
giáo khu và trong các họ đạo tại các địa phương.
c.- Những vụ thanh toán tàn sát lẫn nhau
của các phe phái chức sắc trong giáo triều Vatican để tranh giành ngôi
vị giáo hoàng và độc chiếm quyền lực trong giáo triều Vatican.
Việc này hoàn toàn do Giáo Hội La Mã chủ
trương. Bằng chứng cho sự kiện này là chuyện cụ Nguyễn Hiến Lê chỉ vì
cùng với ông Thiên Giang biên soạn bộ Lịch Sử Thế Giới vào năm 1956 mà
bị “một độc giả (giáo dân) ở Cần Thơ mạt sát là đầu óc
đầy rác rưởi… vì nhắc qua đến thuyết của Darwin về nguồn gốc của loài
người.”, bị “một linh mục ở (miền) Trung yêu cầu bộ Gáo Dục cấm
bán và tịch thu hết bộ đó vì trong cuốn II viết về thời Trung Cổ, … có
nói tới sự bê bối của một vài giáo hoàng” và bị “mật vụ rình”.[1]
Như vậy là ở Việt Nam, suốt trong thời kỳ
1858-1954 và ở miền Nam, môn sử trong chương trình học ở các bậc trung
và đại học có rất nhiều sự kiện hoàn toàn bị bưng bít hay bị giấu nhẹm,
không cho vào chương trình học, và có những sự kiện trước khi được đưa
vào chương trình học đã bị xuyên tạc bằng cách diễn dịch lươn lẹo với
mục đích làm cho học sinh không nhận ra có sự liên hệ khắng khít giữa
Giáo Hội hay tu sĩ hoặc tín đồ Da-tô với những sự kiện đó.
A.- Những sự kiện lịch sử bị giấu nhẹm
là:
1.- Việc Giáo Hội La Mã chủ trương đánh
chiếm Việt Nam. Chủ trương này nằm trong chính sách chung của Giáo Hội
qua việc ban hành Sắc Chỉ Romanus Pontifex vào ngày 8 tháng 1 năm 1454
trong thời Giáo Hoàng Nicholas (1447-1455).
2.- Việc Tòa Thánh Vatican đã ba lần gửi
người đến kinh thành Paris uốn lưỡi Tô Tần vận động chính quyền Pháp
liên kết với Giáo Hội xuất quân đánh chiếm Việt Nam để cùng thống trị và
cùng chia nhau lợi nhuận.
3.- Việc Giáo Hội liên kết chặt chẽ với
Pháp trong việc đánh chiếm và thống trị Việt Nam từ năm 1858 cho đến mùa
thu năm 1954.
4.- Sự hiện diện của các nhà truyền giáo
và tu sĩ Da-tô trong đoàn quân viễn chinh Pháp với nhiệm vụ dẫn đường
đưa lối cho đoàn quân viễn chinh của Liên Minh Pháp - Vatican trong các
chiến dịch tấn chiếm Việt Nam từ năm 1858 cho đến khi Hiệp Ước Giáp Thân
1884 ra đời.
5.- Vai trò các tín đồ Da-tô được Giáo Hội
đưa đến chủng viện Pénang ở Mã Lai để huấn luyện kỹ thuật chống phá tổ
quốc Việt Nam rồi đưa họ về Việt Nam để phục vụ cho Liên Minh Pháp –
Vatican, làm các công việc thông ngôn, chỉ điểm, đưa đường dẫn lỗi cho
Liên Quân Xâm Lăng Pháp – Vatican trong các chiến dịch tấn công các cứ
điểm phòng thủ của quân dân ta cũng như trong các chiến dịch tấn công và
tiêu diệt các lực lượng nghĩa quân kháng chiến Việt Nam trong suốt thời
kỳ từ năm 1958 cho đến 1945. Trong số những tên Da-tô Việt gian này có
Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài, v.v..
6.- Việc đoàn ngũ hóa tín đồ Da-tô trong
các xóm đạo và tổ chức họ thành những đạo quân thứ 5 nằm tiềm phục tại
địa phương chờ nhận lệnh của các đấng bề trên để nổi lên tiếp ứng khi
Liên Quân Xâm Lăng Pháp – Vatican tiến đến tấn công một vị trí nào đó ở
các vùng gần bên.
7.- Vai trò của Linh-mục Trần Lục dẫn 5
ngàn giáo dân Phát Diệm có võ trang đi tiếp viện cho đoàn quân Pháp dưới
quyền chỉ huy của Trung-tá Metzinger và Đại Úy Joffre trong chiến dịch
tấn công và tiêu diệt lực lượng nghĩa quân kháng chiến tại Chiến Lũy Ba
Đình (Thanh Hóa) dưới quyền chỉ huy của cụ Đinh Công Tráng vào những năm
năm 1886 và 1887.
8.- Vai trò của tên Da-tô Việt gian Ngô
Đình Khả (phụ thân của Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm, Ngô
Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn, Ngô Đình Luyện) cùng với Nguyễn Thân trong chiến
dịch tấn công và tiêu diệt căn cứ nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta
dưới quyền chỉ huy của nhà ái quốc Phan Đình Phùng. Ngô Đình Khả và
Nguyễn Thân là hai người chủ động trong việc đào mả cụ Phan lấy hài cốt
đem đốt thành tro, lấy tro trộn với thuốc súng, rồi bắn xuống sông Lam
Giang để trả thù cho những chiến dịch “Bình Tây Sát Tả” của nghĩa quân
ta trước đó. Cái truyền thống đào mả kẻ thù đã chết để trả thù là của
đạo Da-tô đã có ở Âu Châu từ thời Trung Cổ.[2]
9.- Việc tên Da-tô Việt gian Ngô Đình Khả
được Liên Minh Thánh Pháp - Vatican gài vào triều đình Huế để theo dõi
thái độ và hành động của ông vua gỗ Thành Thái rồi báo cáo với chính
quyền bảo hộ.
10.- Việc Vatican và Pháp đồng thuận với
nhau trong việc bổ nhậm cựu Linh-mục Thierry d’ Argenlieu (vừa là người
của Giáo Hội La Mã vừa là người của Pháp) nắm giữ chức vụ Cao Ủy Đông
Dương từ ngày 17/8/1945 cho đến ngày 15/3/1947.
11.- Vai trò của Giáo Hội La Mã và giáo
dân Việt Nam đã liên tục chống lại tổ quốc Việt Nam qua những hành động
chiến đấu bên cạnh đoàn quân xâm lăng Pháp suốt trong thời Kháng Chiến
Chống Pháp 1945-1954.
12.- Sự chuyển hướng mục tiêu tranh đấu
của các lực lượng nghĩa quân kháng chiến Việt Nam (từ 1858 đến 1945)
trong việc đánh đuổi Liên Minh Pháp-Vatican để giành lại chủ quyền độc
lập cho dân tộc. Trong sự chuyển hướng này, có mục nói về chủ trương
loại bỏ chế độ quân chủ dưới mọi hình thức kể cả trung ương tập quyền
lẫn quân chủ lập hiến. (Nếu đưa mục này vào trong chương trình sử ở bậc
trung học, thì làm sao nhà cầm quyền miền Nam có thể giải thích được
việc Liên Minh Pháp – Vatican chủ trương đưa ra “Giải Pháp Bảo Đại” để
chống lại chính quyền Kháng Chiến dưới quyền lãnh đạo của Mặt Trận Việt
Minh?)
13.- Những bài học về Hội Nghị Genève và
Hiệp Định Genève 1954
14.- Những hành động của chính quyền Ngô
Đình Diệm vi phạm điều khoản quy định việc tổng tuyển cử thống nhất đất
nước vào tháng 7/1956.
B.- Những sự kiện lịch sử bị diễn dịch
lươn lẹo hay bị bóp méo hoặc bị xuyên tạc.
Ngoài ra, lại còn có rất
nhiều sự kiện lịch sử đã bị cắt xén hay bị diễn dịch sai lạc (lươn lẹo)
rồi mới được đưa vào chương trình học ở bậc trung học. Như đã nói ở
trên, mục đích của việc làm bất chính này là nhằm để làm cho học sinh
không nhận ra có sự liên hệ khắng khít giữa những sự kiện đó với Giáo
Hội hay tu sĩ hoặc tín đồ Da-tô. Một trong những sự kiện này là chuyện
Tòa Thánh Vatican cấu kết với đế quốc thực dân Pháp mưu đồ bơi ngược
dòng lịch sử, đưa ra Giải Pháp Bảo Đại để phục hồi cái vương quyền lỗi
thời của nhà Nguyễn với dã tâm sử dụng nó làm bức bình phong che đậy cho
mưu đồ bất chính dùng người Việt đánh người Việt và dùng tín đồ Da-tô để
cai trị đại khối dân tộc thuộc tam giáo cổ truyền. Tiếp theo đó, họ lại
khua chiêng gióng trống tô vẽ cho ông vua gỗ này và bọn Việt gian phản
quốc bán nước cho Pháp và Vatican bằng những luận điệu bịp bợm với những
cụm từ “chính quyền quốc gia”, “chính nghĩa quốc gia”, “người Việt quốc
gia” chiến đấu dưới “lá cờ vàng ba sọc đỏ”. Dĩ nhiên là khi tô vẽ cho
bọn phong kiến phản độn và Việt gian phản quốc như trên, họ hết sức lúng
túng trong việc giải thích về những hành động cấu kết với Liên Minh Xâm
Lược Pháp - Vatican chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam. Tình trạng
lúng túng này đưa đến nhiều lúng túng khác tiếp theo đó như những chiếc
vòng khoen móc nối với nhau trong một sợi giây chuyền:
1.- Lúng túng không thể giải thích được
việc tái lập vương quyền cho nhà Nguyễn bằng cái gọi là “Giải Pháp Bảo
Đại”. Đây là một hành động bơi ngược dòng lịch sử, nghĩa là đi ngược với
trào lưu tiến hóa của phong trào đánh đuổi Liên Minh Xâm Lược Pháp –
Vatican với bốn nhiệm vụ chính là:
a.- Giành lại chủ quyền độc lập cho dân
tộc,
b.- Đập tan cái ách quân chủ phong kiến
lỗi thời coi nhân dân như chó ngựa đã đè nặng lên đầu lên cổ dân tộc ta
từ mấy ngàn năm qua bằng cách thiết lập chính quyền dân chủ tự do dân,
vì dân và bởi dân,
c.- Thực hiện một cuộc cách mạng xã hội,
xóa bỏ hết tất cả những bất công xã hội, xóa bỏ hết tất cả những tàn
tích đế quốc, thực dân và phong kiến còn rớt lại,
d.- Thực hiện một cuộc cách mạng ruộng đất
để đem lại công bằng về kinh tế cho người dân ở nông thôn và mang lại
phúc lợi cho toàn dân theo đà tiến hóa của nhân loại.
2.- Lúng túng trong việc biện minh sao cho
thuận lý về cái chính nghĩa khi khoác cho chính quyền bù nhìn Bảo Đại
cái danh xưng "chính quyền quốc gia" và "chính nghĩa quốc gia".
3.- Lúng túng khi phải gọi những tên Việt
gian vốn đã có thành tích làm tay sai cho Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm
Lược Pháp Vatican từ trước năm 1945 và trong thời Kháng Chiến 1945-1954
là "những người Việt quốc gia chân chính". Ai cũng biết rằng gọi
những tên Việt gian này là “những người Việt quốc gia chân chính”
quả thật là không ổn, vì rằng
Làm sao những tên Việt gian như Lê Văn
Hoạch, Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Văn Tâm, Phan Văn Giáo, Trần Văn Hữu, Lê
Văn Viễn, v.v… lại có thể được gọi là những người quốc gia chân chính
yêu nước tranh đấu cho quyền lợi tối thượng của dân tôc?
Làm sao những tên quan lại làm tay sai cho
chính quyền bảo hộ Liên Minh Pháp Vatican trong thời kỳ từ tháng 3/1945
trở về trước lại có thể được gọi là những người quốc gia chân chính yêu
nước?
Làm sao có thể gọi những tên Việt gian này
là những người đã quyết tâm liều thân tranh đấu cho quyền lợi tối thượng
của dân tộc?
Chẳng lẽ những tên Việt gian khét tiếng
làm tay sai đắc lực cho liên minh giặc Pháp – Vatican như Trần Bá Lộc,
Nguyễn Hữu Độ, Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài, Lê Hoan, Linh-mục Trần Lục,
Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải, Hoàng Trọng Phu, Ngô Đình Khôi, Hoàng Gia
Mô, Giám-mục Nguyễn Bá Tòng, Giám-mục Ngô Đình Thục, Cung Đình Vận, Vi
Văn Định, Nguyễn Duy Hàn, Ngô Đình Diệm, v.v…lại có thể được gọi là
những người quốc gia yêu nước hay sao?
Nếu như vậy, thì những tên Việt gian ác ôn
làm tay sai cho Liên Minh Pháp – Vatican trong thời Kháng Chiến
1945-1954 như Lê Văn Hoạch, Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Văn Tâm (cọp Cai
Lậy, nhân sĩ Bắc Hà đã từng mắng thằng vào mặt là “Chó Tâm bồi Tây”
bằng cụm từ “đại điểm quần thần”), Trần Văn Hữu, Phan Văn Giáo,
Lê Văn Viễn, Giám-mục Lê Hữu Từ, Giám-mục Phạm Ngọc Chi, Linh-mục Hoàng
Quỳnh (Phát Diệm), Linh-mục Nguyễn Gia Đệ (Ninh Bình), Linh-mục Lương
Huy Hân (Nam Định), Linh-mục Nguyễn Kim Điền (Phát Diệm), Linh-mục Mai
Đức Tín (Thái Bình), Linh-mục Nguyễn Quang Ân (Thái Bình), Linh-mục Vũ
Đức Luật (Thái Bình), Linh-mục Mai Ngọc Khuê (Bùi Chu), v.v… và những
sĩ quan người Việt trong đạo quân đánh thuê cho Liên Quân Pháp – Vatican
trong thời Kháng Chiến 1945-1954 cũng được gọi là những người Việt Quốc
Gia yêu nước hay sao?
Nếu như vậy, thì những tên Việt gian bán
nước cho Liên Minh Mỹ – Vatican trong những năm 1954-1975 cũng có thể
được gọi là "những người Việt quốc gia chân chính" hay sao?
Nếu như vậy, thì những tên Việt gian làm
mật vụ cho Liên Minh Pháp – Vatican trong những năm 1945-1954 và đã từng
nắm giữ những chức vụ chỉ huy trong ngành mật vụ công an ở miền Nam như
Trần Kim Tuyến, Trần Khắc Kính, Trần Khắc Nghiêm, Lê Quang Tung, Lê
Quang Triệu, Ngô Thế Linh, Nguyễn Văn Hai, Phan Quang Đông, Dương Văn
Hiếu, Trần Thiện Dzai , v.v… cũng được gọi là những người Quốc Gia yêu
nước hay sao?
Ai cũng biết rằng tất cả những người được
nêu lên trên đây đều là những người được chính quyền Liên Minh Pháp –
Vatican đào tạo để phục vụ cho quyền lợi của hai thế lực này và đã có
nhiều thánh tích chống lại dân tộc và tổ quốc Việt Nam hoặc là từ trước
năm 1945 và hoặc là từ thời Kháng Chiến 1945-1954.
Nếu gọi những hạng người này là những
“người Việt quốc gia yêu nước” thì quả thật là tội nghiệp cho cụm từ
“người Việt quốc gia yêu nước” và tội nghiệp cho ngôn ngữ Viêt Nam!
Thực ra, những lúng túng này là do ý đồ
nhập nhằng đánh lận con đen bằng cách gom chung những tên Việt gian đã
được nêu lên trên đây vào với những người yêu nước chân chính trong các
đảng phái và phong trào cách mạng chống Liên Minh Pháp – Vatcian trong
thời kỳ 1858-1945.
Phần trình bày trên đây cho chúng ta thấy
rõ Giáo Hội La Mã là thủ phạm làm cho tín đô Da-tô cũng như tất cả những
người Việt khác sinh ra và lớn lên ở miền Nam Việt Nam trong những năm
1954-1975 không được học toàn bộ lịch sử thế giới, và cũng không được
học đầy đủ những bài học lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại.
Chính vì lẽ này mà phần lớn những lớp người này dù đã hoàn tất chương
trình trung học ở miền Nam cũng không biết gì về lịch sử thế giới và
biết rất lơ mơ về lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại.
Tình trạng này đã khiến cho họ khi nói hay
viết về lịch sử đều có một điểm chung là thiếu một bức tranh toàn cảnh,
tức là đã loại bỏ hầu hết những thế lực hay nguồn lịch sử thế giới
(những diễn biến hoạt động của các thế lực ngoại xâm) đã ảnh hưởng trực
tiếp đến dòng sinh mệnh của dân tộc ta, trong đó có Giáo Hội La Mã là
quan trọng hơn cả.
Nêu những người sinh ra và lớn lên mà
không biết tên tuổi, không biết nguồn gốc hay cha mẹ của họ là ai hay là
người như thế nào, hoàn toàn sống vào của bố thí và lòng thương hại của
ngiười đời và bị gọi là những đứa con hoang của xã hội, thì ta cũng có
thể gọi những người không biết quốc sử là những đứa con hoàng trong cộng
đồng dân tộc. Những đứa con hoang trong cộng đồng dân tộc này hầu như:
1.- Không biết gì về thời điểm và
những khó khăn trong cái buổi ban đau thời dựng nước mà tổ tiên ta phải
tranh đấu gian khổ như thế nào?
2.- Không biết tiền nhân của họ đã
phải tranh đấu giữ nước đánh dẹp giặc trong, đánh đuổi giặc ngoài như
thế nào để tồn tại.
3.- Không biết những công lao của tiền
nhân ta đã phải trải quan không biết bao nhiêu khó khăn gian khổ trong
những bước đường mở rộng đất nước từ ngày mới có nước cho đến ngay nay..
Hậu quả: Nhân bất học bất tri lý. Không học sử tất nhiên
là tất nhiên là không biết sử. Không biết sử, cho nên “những đứa con hoang trong cộng đồng dân tộc rơi vào tình trạng:
1.- Không biết một tí gì về lịch sử
tranh đấu kiên cường, dũng cảm, oai hùng của tiền nhân.
2.- Sẽ trở thành những người thiếu
vắng lòng yêu nước và mất đi niềm tự hào về dân tộc. Từ đó, họ sinh ra
có tinh thần vọng ngoại. Những người nặng tinh thần vọng ngoại, mỗi khi
bất mãn với chính quyền đương thời về quyền lợi cá nhân hay gia đình
hoặc tôn giáo của họ, họ thuờng tìm cách chạy chọt và thỉnh cầu các thế
lực ngoại bang dùng bạo lực hay ảnh hưởng để đạp đổ nhà nước đương quyền
ở nơi quê cha đất tổ với hy vọng họ sẽ được đưa lên cầm quyền để làm tay
sai cho bất kỳ thế lực nào đã đưa họ về cầm quyền. Làm chính trị theo
kiểu này được gọi là làm chính trị theo kiểu Lê Chiêu Thống. Đây là
trường hợp của tên Da-tô tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm đã từng làm
trong những năm đầu thập niên 1954 (đã được toại nguyện và đã phải đền
tội trước nhân dân vào sáng ngày 2/11/1963), của Tổ Chức Việt Nam Cộng
Hòa Foundation được cho ra đời vào tháng 7 năm 2003 của các ông Nguyễn
Xuân Vinh, Lý Tòng Bá, Lâm Quang Thi, Nguyễn Văn Canh, v.v…, của tổ chức
8406 của mấy ông linh-mục tín đồ Da-tô ở Việt Nam, và của các tổ chức
chống Cộng theo lệnh truyền của Vatican hiện nay:
“Bộ Thánh Vụ Vatican ra thông cáo
cho cha mẹ những vị thành niên có chân trong các tổ chức Cộng Sản đều bị
vạ tuyệt thông. Thông cáo này cũng tố cáo những ai dự vào tổ chức có mục
đích đưa thanh niên vào thuyết duy vật.”
[3]
3.- Sẽ trở thành những người vong bản
và dễ dàng chạy theo miếng mồi danh lợi để thỏa mãn dục tính thấp hèn “tình, tiền, quyền lực và danh vọng”. Lý do: vì thiếu vắng lòng yêu nước.
4.- Một khi đã trở thành những người
vong bản và dễ dàng chạy theo miếng mồi danh lợi để thỏa mãn những dục
tính thấp hèn “tình, tiền,
quyền lực và danh vọng”, thì sẽ dễ dàng trở thành những kẻ xu thời (cơ hội chủ nghĩa), chạy theo
những thế lực mạnh để được ban phát cho những thứ mà họ thèm khát như
trên.
5.- Riêng về những người Việt Nam, nếu
không được học quốc sử, những lớp người sinh ra và lớn lên trong thời kỳ
này không biết rằng Giáo Hội La Mã là thế lực chủ động vận động Đế Quốc
Pháp liên kết với Vatican xuất quân đánh chiếm để cùng thống trị Việt
Nam và cùng chia lợi nhuận. Cho nên họ không biết rằng Giáo Hội La Mã là
kẻ thù của dân tộc. Vì không biết rằng Giáo Hội là kẻ thù của dân tộc,
cho nên ở Việt Nam, từ năm 1945 cho đến ngày 30/4/1975 và ở hải ngoại từ
giữa năm 1975 đến nay, có nhiều nhà tu hành bên Phật giáo gia nhập tổ
chức Liên Tôn Chống Cộng hay những tổ chức khác như tổ chức hay khối
8406 hiện nay do mấy ông linh mục và tín đồ Da-tô chủ trương mà họ không
biết rằng gia nhập những tổ chức này là phục vụ cho Giáo Hội La Mã để
chống lại dân tộc và chống lại Phật Giáo.
6.- Cũng vì không được học đầy đủ lịch
sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại, cho nên mới có một số những
người Việt hải ngoại quyết tâm tranh đấu bảo vệ lá cờ vàng ba sọc đỏ,
duy trì “lằn ranh Quốc Cộng” mà không biết rằng những quái chiêu này là
do Giáo Hội La Mã chủ mưu. Đây là dã tâm phục hồi vương quyền nhà Nguyễn
bằng cách đưa ông vua gỗ Bảo Đại trở lại chính quyền với chiêu bài gọi
là “Giải Pháp Bảo Đại”. NHư đã nói ở trên, chiêu bài này được mạ kền
bằng những danh xưng hào nhoáng như “Chính Quyền Quốc Gia”, “Chính Nghĩa
Quốc Gia” với ông Bảo Đại làm quốc trưởng và với lá cờ vàng ba sọc đỏ
làm biểu tượng đấu tranh nhằm để làm cho nhân dân ta lầm tưởng rằng ông
Bảo Đại là người nắm được chính nghĩa tranh đấu cho quyền lợi tối thượng
của tổ quốc và dân tộc. Mưu đồ này là Giáo Hội La Mã chủ trương, được
công khai hóa và tiến hành từ tháng 12/1945. Sự kiện lịch sử này đều
được sách sử ghi lại rõ ràng. Sách Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 -Tập A:
1939-1946 ghi lại với nguyên văn như sau
"Ngày 28/12/1945: HUẾ:
Tổng Giám Mục Antoni Drapier, đại diện Roma, tuyên bố:
"Gia đình Bảo Đại là gia đình thân
Pháp bậc nhất trong dân chúng Việt Nam (la plus francophile de tois les
annmites) và theo ý ông ta, nên cho Bảo Đại lên ngôi như trước
ngày 9/3 (À mon avis, il serait avantageux pour le calm de rétablir le
Roi comme chef régulier avant le 9 mars; DOM [aix], CP 125). DRAPIER
cũng đưa ra giải pháp là có thể sau đó sẽ cho Bảo Long kế vị, và Nam
Phương làm Giám Quốc [Phụ Chính]."[4]
Mãi tới đầu tháng 6 năm 1948, mưu đồ
này mới được thể hiện ra thành cụ thể. Vấn đê này đã được trình bày đầy
đủ với rất nhiều chi tiết trong Mục XV (Chính Sách Chia Để Trị của
Vatican tại Việt Nam), Phần V (Mặt Trận Việt Minh Lãnh Đạo Cuộc Kháng
Chiến 1945-54) trong bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã.
Cũng vì không được học quốc sử đầy đủ,
đặc biệt là thời Cận Đại và Hiện Đại, các ông lãnh đạo Việt Quốc và Việt
Cách mới có ý đồ bơi ngược dòng lịch sử, hăng say cổ võ tái lập chế độ
quân chủ phong kiến bằng những nỗ lực đưa ông Bảo Đại lên nắm lãnh đạo
chính quyền nhằm phục hồi vương quyền cho nhà Nguyễn để đối đầu với
chính phủ do Cụ Hồ Chí Minh lãnh đạo. Sự kiện này được sách Việt Sử Khảo
Luận rõ ràng như sau:
“Nhóm Quốc Dân Đảng (của Vũ Hồng
Khanh, Nghiêm Kế Tổ, Nguyễn Tường Tam, v.v…) đòi thành lập một Chính Phủ
Liên Hiệp Kháng Chiến với Vĩnh Thụy làm Chủ Tịch. Nhiều cuộc biểu tình
được tổ chức ở đường Gambetta cũ, hoan hô Cố Vấn và đòi ông ra cầm quyền.”[5]
Thật là vô cùng ngạc nhiên khi thấy
rằng các ông Việt Quốc và Việt Cách thuộc loại trí thức như Nguyễn Tường
Tam, Nghiêm Kế Tổ và Vũa Hồng Khanh lại có ta hành động như vậy mà họ
không biết rằng:
a.- Sau khi triều đình Huế đã ký Hòa Ước
Nhâm Tuất 1862 nhường ba tỉnh miền đông Nam Kỳ cho Liên Minh Xâm Lăng
Pháp – Vatican, cùng các Hiệp Ước Giáp Tuất 1874 (nhường toàn bộ Nam Kỳ
cho liên minh giặc), Qúi Mùi 1883 và Giáp Thân 1884 (dâng cả nước cho
liên minh giặc), nhà Nguyễn mất hết chính nghĩa không còn tư cách gì để
ngồi vào ngôi vị lãnh đạo quốc dân cai trị đất nước nữa.
b.- Chế quân chủ phong kiến chuyên chế
trung ương tập quyền đã bị nhân dân thế giới đào sâu chôn chặt từ mấy
trăm về trước. Sẽ nói rõ trong một tiểu mục khác ở sau.
Những việc làm này cho chúng ta thấy
rõ ràng là các ông Việt Quốc và Việt Cách làm chính trị và làm cách mạng
mà lại không thấu hiểu quốc sử và cũng không biết gì về trào lưu tiến
hóa của nhân loại. Vì ở vào tình trạng này, họ mới hành động loạng quạng
để rồi rơi nghịch cảnh trớ trêu cười ra nước mắt: “Nắm quyền điều
khiển một thế lực đánh đuổi thằng giặc con Thực Dân Xâm Lược Pháp nhưng
lại rơi vào cái bẫy “Giải Pháp Bảo Đại” của thằng giặc bố là Vatican
giăng ra”.
Cũng vì không biết quốc sử một các đầy
đủ và chỉ học những bài sử qua bàn tay uốn nắn của Giáo Hội La Mã, cho
nên ông nhà văn Da-tô Nguyễn Ngọc Ngạn mới phạm phải những sai lầm trầm
trọng trong lúc ông hứng chí viết và tuyên bố những vấn đề có liên hệ
đến lịch sử khi biên soạnt cuốn Xóm Đạo và khi điều khiển chương trình
Văn Nghệ thực hiện cuốn băng ca nhạc Paris By Night 81. Vấn đề này đã
được người viết trình bày khá đầy đủ ở trong một tập sách có tựa đề là
Khi Nhà Văn Lạm Bàn Lịch Sử và đã được đưa lên sachhiem.net từ mấy tháng
nay.
Đây là nguyên nhân TẠI SAO cac chính
quyền đế quốc thực dân xâm lược thường không đưa môn quốc sử (của các
thuộc địa) vào trong chương trình học ở bậc tiểu và trung học tại các
thuộc địa của chúng. Cũng vì lý do này mà trong thời bảo hộ (1885-1945),
chính quyền Liên Minh Pháp – Vatican mới chủ trương không dạy quốc sử
Việt Nam, và dạy người Việt Nam
rằng “Tổ tiên chúng ta là người Gaulois” (Nos ancêtres sont des Gaulois). Và đây cũng là
chủ tâm của Giáo Hội La Mã.
Ta có thể gọi những người không học
hay không biết gì về quốc sử là những đưa con hoang trong cộng đồng dân
tộc.
NHỮNG ĐỨA CON HOANG
TRONG CỘNG ĐỒNG NHÂN LOẠI
Tương tự như
những người không học quốc sử, những người không học sử thế giới sẽ:
1.- Không biết sự hình thành trái đất
như thế nào;
2.- Không biết sự xuất hiện của bầy
người đầu tiên ra làm sao;
3.- Không biết những bước tiến của
loài người từ thuở hồng hoang cho đến thời đại tin học như ngày nay đã
phải qua những thời kỳ tranh đấu cam go ác liệt chống lại các thế lực
phong kiến phản động bảo thủ, đặc biệt là phải chống lại Giáo Hội La Mã
trong suốt thời Trung Cổ (476-1500) để đòi được quyền:
a.- Tự do tư tưởng, tự do ngôn luận,
tự báo chí, tự do tôn giáo, tự do duy trì và bảo tồn những thành quả của
những phát minh cũng như những tiến bộ khoa học mà những người đi trước
đã thực hiện được, và
b.- Phát huy và khai triển những thành
quả tiến bộ của học thuật và khoa học để làm cho kho tàng kiến thức của
nhân loại ngày càng thêm phong phú.
4.- Không biết gì về đời sống bê bối
thối tha, hoang đàng, loạn luân, loạn dâm của các giáo hoàng cũng như
tập đoàn chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatican và các hồng y, tổng
giám mục, giám mục, linh mục cai quản các giáo phận hay quản nhiệm các
họ đạo tại các địa phương.
5.- Không biết gì về những sự ganh
ghét, đố kị, tị hiềm, kèn cựa, chèn ép, thanh toán, chém giết, hạ độc và
tàn sát lẫn nhau để tranh giành quyền lực ở trong giáo triều Vatican
cũng như tại các tòa Tổng Giám Mục và tại các nhà thờ tại các địa
phương. (Cả hai vấn đề 4 và 5
này đều đã được trình bày đầy đủ với khá nhiều tài liệu sử trích dẫn kèm
theo ở trong Mục V (gồm 3 chương), Phần I trong bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ
Tội Ác của Giáo Hội La Mã.)
6.- Không biết rằng trong suốt cả thời
Trung Cổ và nhiều năm sau đó, Giáo Hội La Mã đã làm mưa làm giáo trên
sấn khấu chính trị Âu Châu với những quyền lực tuyết đối như một đế quốc
thực dân xâm luợc cực kỳ bạo ngược, cực kỳ phong kiến. Đây là thời kỳ
Giáo Hội bước lên tuyệt đỉnh của quyền lực: giáo hoàng được coi như là
vua của các vua ở Âu Châu và vùng ven biển địa Trung Hải. Trong thời kỳ
này, Giáo Hội chỉ biết dùng bạo lực để cưỡng bách người dân dưới quyền
phải tuyệt đối tin tường vào những tín lý Ki-tô. Chính sách này đã khiến
cho người dân Âu Châu rơi vào tinh trạng ngu dốt không khác gì người dân
Do Thái trong thời ông Moses cách đó gần ba ngàn năm về trước. Cũng vì
thế mà các nhà viết sử mới gọi thời kỳ này là Thời Kỳ Hắc Ám hay Thời Kỳ
Đen Tối (The Dark Ages).
7.- Không biết gì về tham vọng bá
quyền của Giáo Hội La Mã với mưu đồ thống trị toàn cầu và Ki-tô hóa nhân
loại bằng bạo lực để làm nô lệ cho Giáo Hội. Mưu đồ này đã được thể hiện
qua việc ban hành các sắc chỉ và thánh lệnh trong thế kỷ 15 ngay từ thời
điểm các nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha còn đang dò dẫm hải lộ đi theo
ven biển phía Tây Châu Phi, (rồi
đi theo ven biển phía Đông Chấu Phi ngược theo hướng bắc, men theo ven
bờ biển phía nam bán đảo Á-rập và băng qua Vịnh Ba Tư để tới Ấn Độ.)
8.- Không biết gì về việc Giáo Hội La
Mã đã ba lần gửi các nhà thuyết khách đến kinh thành Paris để uốn lưỡi
Tô Tần thuyết phục triều đình Pháp [trong các thời Vua Louis XIV (1643-1715), Vua Louis
XVI (1774-1792) và Pháp Hoàng Napoléon III (1852-1870)] liên kết với Giáo Hội và xuất quân
đánh chiếm Việt Nam để cùng thống trị, cùng chia nhau khai thác tài
nguyên và cùng nô lệ hóa dân ta. Sự kiện này đã phát sinh những tình
trạng cười ra nước mắt:
Trường hợp 1.- Ông Việt Quốc Nghiêm Kế
Tổ chỉ trích và lên án những biện pháp mạnh của chính quyền Việt Minh
đối phó với Giáo Hội La Mã với giọng điệu tội nghiệp và bênh vực cho cái
đạo giáoo mà văn hào Voltaire gọi nó là “Cái tôn giáo ác ôn”.[6] . Dưới đây là nguyên văn lời lẽ nhà cách mạng
Việt Quốc họ Nghiêm viết:
“Đối với Giáo Hội Gia Tô, lực
lượng, có tổ chức chặt chẽ, Việt Minh cũng không tha, khẩu hiệu thì
Lương Giáo đoàn kết, nhưng được thực hiện bằng cấm mở trường thần học
của Giáo Hội, bằng đổ lỗi cho các cha cố đã làm gián điệp cho ngoại
bang, ép họ vào tội tàng trữ khí giới bất hợp pháp… Khẩu hiệu Đại Đoàn
Kết của Việt Minh chính là mầm chia rẽ giữa đảng phái, giữa tôn giáo,
giữa mọi tầng lớp nghèo nàn Việt Nam.”
[7]
Trường hợp 2.- Lời giải thích sai lệch
một sự kịện lịch sử được (nhân vật Anh) nêu lên (với nhân vật thày giáo
Thông) là “ đạo Công Giáo mang thực dân Pháp vào chiếm nước ta!…có
phải thế khôn anh?” như sau:
“Tại bố em không đọc lịch sử nên mới
nghĩ như vậy. Đạo Công Giáo truyền sang nước ta từ năm 1533, tức là đời
vua Lê. Các Giáo sỹ lần đầu tiên đến Ninh Cường và Trà Lũ giảng đạo, có
âm mưu chính trị gì đâu! Hơn 300 năm sau thực dân Pháp mới xâm chiếm
Việt Nam, là lúc mà đạo Công Giáo đã vững vàng. Chính triều đình và
phong trào Văn Thân giết 130 nghìn giáo dân, đã gây nên cái hố chia rẽ
càng ngày càng trầm trọng!”[8]
9.- Không biết gì về lòng uất ức và
căm thù của các dân tộc nạn nhân của Giáo Hội La Mã đối với Tòa Thánh
Vatican. Lời phát biểu dưới đây của nhà báo Jacques René Hebert (Nov.
15, 1757- March 24, 1794) được đưa lên báo chí phổ biến vào ngày
28/11/1790 cho ta thấy rõ lòng căm phẫn của nhân dân Pháp đối với Giáo
Hội La Mã:
"Ngày 28/11/1790, ông (Hebert) viết:
“Tôi đang sôi máu. Các bạn người Pháp, các bạn hãy nói cho tôi
nghe xem có được không. Nếu cái người mà các bạn gọi là Đức Thánh Cha
cướng quyết chống lại luật pháp của các bạn, các bạn có ngu xuẩn và hèn
hạ đến độ phải từ bỏ luật pháp của các bạn. Các bạn hy vọng gì ở một ông
Giáo Hoàng. Đ.M Giáo Hoàng, hãy tin ở tôi đi, bây giờ là đến lượt các
bạn; cả trong mười thế kỷ qua, Giáo Hoàng đã áp bức các bạn quá nhiều
rồi.". Nguyên văn: “My blood boils, he wrote on 28
November 1790, for instance. “Tell me, Frenchmen, is it possible? if
that man you call the Holly Father takes it into his head to oppose your
laws, do you dare, are you stupid and base enough, to give them up? What
do you expect from a Pope? Screw the Pope, believe me; it is your turn
at last; for ten centuries the Pope has screwed you."[9]
10.- Không biết gì về phong trào nhân
dân thế giới chống Giáo Hội La Mã hết sức mãnh liệt. Đây là những phong
trào nhân dân Âu Châu vùng lên chống lại Giáo Hội La Mã và đòi cải
cách tôn giáo (1309-1648) với chủ thuyết nhân bản ra đưa đến
Thời Đại Lý Trí - Age of Reason (1500-1789) mà đối tượng nhằm vào Giáo
Hội La Mã. Điển hình là Phong Trào Tin Lành của Linh-mục Martin Luther
(1483-1546), Phong Trào Tin Lành của John Calvin (1509-1564), phong trào
thành lập các Giáo Hội địa phương ly khai với Tòa Thánh Vatican như Anh
Giáo và Pháp Giáo. Rồi từ các phong trào này nẩy sinh ra phong trào đấu
tranh mới gọi là Thời Đại Cách Mạng Dân Chủ - The Age of Democratic
Revolution (1603-1815) với những kiện tướng lý thuyết gia như
John Locke (1632-1704), Montesquieu (1689-1755), Jean Jacques Rousseau
(1712-1778), Denis Diderot (1713-1784), Voltaire (1694-1778), Victor
Hugo (1802-1885), Charles Robert Darwin (1809-1882), v.v…
11.- Không biết gì trong Thời Đại Cách
Mạng Dân Chủ. Trong thời kỳ này, những tư tưởng của những kiện tướng lý
thuyết gia trên đây được thể hiện thành những hành động cụ thể với những
biện pháp cứng rắn như”
a.- Tại Anh quốc,
vào năm 1691,Quốc Hội Anh ban hành đạo lụât cấm, không cho một người Anh
nào là tín đồ Da-tô La Mã được lên cầm quyền. Sách Living World nói rõ
History đạo luật này quy định rằng:
“Biện pháp thứ ba, Đạo Luật Ổn Định
1691 quy định rằng, không có một tín đồ Ki-tô La Mã có thể trở
thành nhà lãnh đạo nước Anh. Như vậy là luật này loại hẳn tất cả những
người con và cháu của vua James Đệ Nhị với người vợ thứ hai của nhà vua,
không cho họ lên cầm quyền.” Nguyên văn: “A third measure, the Act of Settlement of 1691, provided that no Roman Catholic could
be ruler of England, automatically excluding the descendants of James II
by his second wife.”[10]
b.- Theo gương
nước Anh, chính quyền Cách Mạng 1789 triệt để sử dụng những biện pháp
mạnh để bẻ gẫy nanh vuốt của Giáo Hội La Mã và phá tan hệ thống quyền
lực của Tòa Thánh Vatican. Dưới đây là những biện pháp này:
i.- Truất bỏ chế độ đạo phiệt Da-tô
làm tay sai cho Giáo Hội..
ii.- Tịch biên toàn bộ tài sản của
Giáo Hội La Mã tại nước Pháp.
iii.- Tước bỏ tất cả mọi đặc quyền đặc
lợi dành cho Giáo Hội La Mã và giai cấp tu sĩ Gia-tô.
iv.- Tách rời giáo quyền (tôn giáo) ra
khỏi thế quyền (chính quyền).
v.- Ban hành một hiến chế dân sự cho
giới tu sĩ, trong đó tu sĩ được coi như là bình đẳng với tất cả người
dân khác và phải có nghĩa vụ đối với đất nước, phải trung thành với hiến
pháp và nước Pháp, chứ không phải trung thành với Tòa Thành Vatican hay
Giáo Hội La Mã. Việc này đưa đến việc thiết lập một giáo Hội Pháp tách
rời khỏi Giáo Hội La Mã giống như Giáo Hội Anh được thành lập và giữa
thập niên 1530.
vi.- Tước bỏ hết tất cả mọi đặc quyền
đặc lợi dành cho giới qúy tộc,
vii.- Xòa bỏ tất cả mọi tục lệ phong
kiến.
viii.- Xóa bỏ tất cả mọi bất công
trong xã hội để thực thi lý tưởng bình đẳng (trong xã hội) tự do (cho
nhân dân) và bác ái (đối với tất cả mọi người, chứ không phải chỉ đối
với “dân Chúa” mà thôi).
ix.- Ghi vào hiến pháp điều khoản
“tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền”.
x.- Trừng phạt nghiêm khắc những phần
từ cuồng tín, ngoan cố, không chịu phục thiện, vẫn tiếp tục vâng phục
các đấng bề trên của họ chống lại chính quyền của nhân dân trong ý đồ
bơi ngược dòng lịch sử phục hồi chế độ cha cố thần phục Tòa Thánh
Vatican.
Những biện pháp cứng rắn này đã được
nhân dân Pháp, một trong những dân tộc nạn nhân lâu đời nhất của Giáo
Hội La Mã, tiên phong cương quyết triệt để thi hành trong thời Cách Mạng
Pháp 1789. Một trong những biện pháp cứng rắn này được sách sử ghi lại
với nguyên văn như sau:
"Trước hết, nước Pháp mà Giáo Hoàng
Pius VI (1775-1799) thường gọi là "người trưởng nữ của Giáo Hội" đã xóa
bỏ toàn bộ tôn giáo, đưa nhà vua lên đọan đầu đài, chính thức tôn vinh
thần Lý Trí lên ngôi chí tôn, tàn sát 17 ngàn linh mục, 30 ngàn nữ tu và
47 giám mục, tất cả các tu viện, các dòng tu và các trường học của Giáo
Hội đều bị giải thể, tất cả các thư viện của Giáo Hôi đều bị thiêu rụi,
chính quyền Paris còn ban hành quyết định ra lệnh cho Tướng Bonaparte
(Sau này là Hòang Đế Napoléon i) "đem quân đi "giải phóng nước Ý", "có
toàn quyền hành động" "hủy diệt Rome và chế độ Giáo Hòang". Tháng 5 năm
1796, trước khi tiến vào kinh thành Rome, Tướng Bonaparte tuyên bố,
"Chúng tôi là những người bạn của con cháu Brutus (một anh hùng của dân
tộc La Mã) và dân Scipios. Ý muốn của chúng tôi là phục hồi điện Capitol
và giải phóng nhân dân La Mã thóat khỏi thân phận nô lệ tôi đòi."
Quân Pháp tiến vào chiếm kinh thành
Rome và nước Ý. Hòa Ước Tolentino được ký kết giữa Tướng Bonaparte và
Giáo Triều Vatican. Đây là một sự sỉ nhục cho Tòa Thánh Vatican. Giáo
Hội phải nộp cho nước Pháp một khoản tiền là 46 ngàn đồng scudi (tiền
Vatican) trả làm ba hạn kỳ (Giáo Hòang Pius VI phải đem các đồ trang trí
bằng vàng và bằng bạc ra đúc tiền để trả cho Pháp), 100 món đồ nghệ
thuật và 500 tác phẩm hiếm bị tịch thu mang về Pháp; tất cả các hải cảng
nằm trong lãnh thổ của Tòa Thánh Vatican phải mở cửa cho hạm đội Pháp
làm căn cứ tru quân, phải từ bỏ tất cả tài sản của Giáo Hội ở trong lãnh
thổ các nước Ý, Pháp, Naples, và Sicily ... tất cả mọi nơi. Giáo Hòang
Pius VI than thở, "Hòa Ước! Tệ quá đi! Quân đội Pháp chiếm đóng Vatican
và Quirinal, truất phế Giáo Hoàng Pius VI và thiết lập nước Cộng Hòa La
Mã...."
Nguyên Văn: "First, France, "eldest daughter of the church
"he used to call it, abolished all religion, beheaded its king,
enthroned Reason officially as supreme deity, massacred over 17,000
priests and over 30,000 nuns as well as forty-seven
bishops, abolished all seminaries, schools, religious orders, burned all
churches and libraries, then sent the Corsian Bonaparte to liberate
italy and Rome." "Just as you please," wrote the Paris government to the
Corsian. "Destroy Rome and the papacy utterly " "We are the
friends of the descandants of Brutus and the Scipios... Our intention is
to restore the Capitol to free the Roman people from their long
slavery," The Corsian declared in May 1796, just before taking Rome.
Then the capture, and the humiliation
of the Peace of Tolentino between the papacy and the Corsian: a ransom
of 46,000 scudi in three installement (Pius melted down all available
silver and gold ornaments); 100 objects d'art and 500 rare manuscripts
from Vatican; the opening of all papal harbors to the French fleet;
renunciation of all property in italy and France and Naples and Sicily -
everywhere. "They made us their prisoner Spina," mutters Pius. "Peace
treaty! Bah!" The Vatican and Quirinal were occupied by French troops.
They deposed Pius, and created the republic of Rome....")[11]
Nhờ có những phong trào chống lại Giáo
Hội La Mã và chống lại các thế lực bảo thủ phong kiến phản động khác
liên minh với Giáo Hội La Mã, nhờ có những biện pháp cứng rắn để trừng
trị Giáo Hội và bọn tín đồ cuồng tín ngoan cố như trên mà nhân loại mới
có thể được tự do đưa ra được những tư tưởng cao đẹp và phát minh khoa
học, nhiên hậu làm cho loài người càng ngày càng tiến mạnh như ngày nay.
(Các phong trào này đã được trình bày đầy đủ với rất nhiều chi tiết
trong Phần VI với tựa đề là Phong Trào Phản Kháng Giáo Hội La Mã của
Nhân Thế Giới của bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã.)
KẾT LUẬN
Tất cả những chuỗi sự kiện trên đây
đều xa lạ đối với những người không học lịch sử thế giới. Người Trung
Hoa có câu nói “vọng tự như manh, thính thư như tủng”. Những
người không học quốc sử và cũng không học lịch sử thế giới có thể được
gọi là những người “vọng sử như manh” và “thính sử như tủng”.
Nếu chúng ta gọi những trẻ em mồ côi không biết gia phả hay không biết
nguồn gốc gia đình của chúng là “những đứa con hoang trong xã hội”,
nếu chúng ta gọi những người không học quốc sử của đất nước của họ là “những
đứa con hoang trong cộng đồng dân tộc”, thì chúng ta cũng có thể gọi
những người không học lịch sử thế giới là “những đứa con hoang trong
cộng đồng nhân loại”.
Vịệc Giáo Hội chủ trương thi hành
chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ (trong đó môn sử thế giới và môn
quốc sử bị cắt xén, phần còn lại bị bóp méo và được diễn dịch theo ý
muốn của Giáo Hội) với chủ tâm biến tín đồ Da-tô và nhân dân dưới quyền
(trong các chế độ đạo phiệt Da-tô) thành những người vừa giống như “những
đứa con hoang trong cộng đồng dân tộc” (vì không thấu hiểu quốc sử
hay biết sai lạc) và cũng là “những đứa con hoang trong cộng đồng
nhân loại” (vì không biết gì lịch sử thế giới hay biết sai lạc), vừa
ngu xuẩn, không biết sử dụng lý trí để tìm hiểu sự vật. Có như vậy thì
họ mới không nhìn ra những rặng núi tội ác của Giáo Hội trong gần hai
ngàn năm qua. Có như vậy thì họ mới tin rằng những chuyện bố láo như
chuyện ông bà tổ của loài người là hai cục đất sét do ông Chúa Bố
Jehovah nặn ra rồi hà hơi vào mà thành cặp vợ chồng đầu tiên (ông bà tổ)
của nhân loại. Có như vậy thì họ mới tin vào những thuyết lý bịp bợm như
thuyết lý “tội tổ tông”, thuyết lý “chúa ba ngôi” thuyết
lý về “vai trò cứu rỗi” của ông Jesus mà Giáo Hội gọi Chúa Ki-tô.
Có như vậy thì họ mới tin bà già xề Maria là “Đức Mẹ Đồng Trinh”
của họ (đã được trình bày khá rõ ràng trong chương sách có tựa đề là Ngô
Đình Diệm: Con Người Va Tội Ác, và đã được đưa lên sachhiem.net). Và có
như vậy thì họ mới tin vào thuyết lý về bẩy phép bí tích, v.v…
của Giáo Hội.
Chính vì tình trạng này mà tất cả tín
đồ Da-tô và những người đã tiếp nhận nền học vấn qua chính sách ngu dân
và giáo dục nhồi sọ do Giáo Hội La Mã chủ trương đều không biết gì về
lịch sử thế giới và cũng không biết gì về quốc sử. Hậu quả của tình
trạng này đã khiến cho họ mỗi khi đề cập đến vấn đề gì có liên hệ đến
lịch sử là họ loạng quạng, viết ẩu, viết càn, viết láo, viết bạt mạng,
bóp méo hay xuyên tạc sự thật lịch sử để hoặc là chạy tội cho Giáo Hội
La Mã, chạy tội cho bọn tín đồ Da-tô phản quốc bản địa, hoặc là để tâng
bốc Tòa Thánh Vatican như chúng ta đã thấy họ tâng bốc Tòa Thánh một
cách vô cùng trơ trẽn, trơ trẽn đến nỗi “có những linh mục nói rằng
“Tòa Thánh đánh rắm cũng khen thơm thơm.”(Nhiều tác giả, Tại Sao
Không Theo Đạo Chúa - Tuyển Tập 2 (Spring, TX: Ban Nghiên Cứu Đạo
Giáo, 1998), tr 116, và tâng bốc tín đô Da-tô bản địa làm tay sai đắc
lực cho Giáo Hội La Mã. Bằng chứng rõ ràng nhất cho sự kiện này là những
trường hợp ông Da-tô Lữ Giang viết trong cuốn, Những Bí Ẩn Lịch Sử Đàng
Sau Cuộc Chiến Việt Nam (Califirnia, 1999), Nguyễn Văn Chức viết trong
cuốn Việt Nam Chính Sử (Falls Church, VA: Alpha, 1992) Linh-mục Vũ Đình
Hoạt viết trong cuốn bố sách Việt Nam Tôn Giáo Chính Trị Quan (Falls
Church, VA: Alpha, 1991), Nguyễn Gia Kiểng viết cuốn Tổ Quốc Ăn Nặn
(Pháp”: TXB, 2001), nhóm ông Lê Hữu Mục, Nguyễn Gia Đệ, Bằng Phong, Phạm
Xuân Thu và Trần Trung Lương viết cuốn Trần Lục (Montréal, Canada, TXB,,
1996), nhóm các ông Diên Dương Nghị, Nguyễn Châu, Lương Văn Toàn, Lê Hữu
Phú và Hoàng Đức Phương viết cuốn Việt Nam: Cuộc Chiến Tranh Quốc Gia-
Cộng Sản (Santa Clara, CA: Nhân Chứng, 2002), nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn
tuyên bố bậy bạ trong cuốn băng văn Nghệ Paris By Night 81 và viết trong
cuốn Xóm Đạo (Đông Kinh, Tân Văn, 2003), v.v….
CHÚ THÍCH
[1]
Nguyễn Hiến Lê, Đời Viết Văn Của Tôi (Wesminster, CA:Văn Nghệ,
1986), tr. 99-101.
[2]
Trần Quý, Lòng Tin Âu Mỹ Đấy! (Wesminster, CA:
Văn Nghệ, 1993), tr. 132-133.
[3]
Báo Giang Sơn Số 109, ra
ngày 31/7/1950 – Quang Toàn & Nguyễn Hoài, Những Hoạt Động Của Bọn
Phản Động Đội Lốt Thiên Chúa Giáo Trong Thời Kỳ Kháng Chiến 1945-1954
(Hà Nội, Nhà Xuất Bản Khoa Học, 1965), tr. 18.
[4]
Nguyên Vũ, Việt Nam Niên
Biểu 1939-1975 -Tập A: 1939-1946 (Houston, TX: Văn Hóa, 1996), tr. 295.
[5]
Hoàng Cơ Thụy, Việt Sử
Khảo Luận - Cuốn 4 (Paris: Nam Á. 2002)., tr. 2076.
[6]
Bùi Đức Sinh, Lịch Sử
Giáo Hội Công Giáo - Phần Nhì (Sàigòn: Chân Lý,1972), tr. 1965
[7]
Nghiêm Kế Tổ, Việt Nam
Máu Lửa, Los Alamitos, CA: Xuân Thu, 1989), tr. 89.
[8]
Nguyễn Ngọc Ngạn,Xóm Đạo
(Đông Kinh, Nhật Bản: Tân Văn, 2003), tr. 355).
[9]
J. E. Bosher, The French Revolution
(New York, W.W. Norton Company, 1988), p. 155.
[10] Arnold Schrier &
T. Walter Wallbank, Living World History (Glenview, Illinois,
1974), p. 398.
[11]
Malachi Martin, The Decline And
Fall Of The Roman Church (New York: Putnam ’s, 1981) pp. 232-233.
|