 |
03 tháng 10, 2008
|
Xem bản Anh ngữ
-
- Pope
His Holiness
- Apostolic Palace
- 00120
Vatican City,
Italy
- Telephone: 39-6-69-88-50-88
Tacoma ngày 19 tháng 9 năm 1999 (*)
Thưa Giáo Hoàng,
Trong suốt thập niên vừa qua, liên tiếp nhiều
lần Ngài đã làm những việc đáng ca ngợi, để lại
những nét son trong lịch sử Giáo hội. Năm 1992,
Ngài chính thức nhìn nhận Giáo Hội đã hành động sai
lầm trong vụ án Galileo Galilei (1). Cuối năm 1994,
Ngài lại kêu gọi giáo dân phải thống hối trước khi
bước sang thiên kỷ thứ 3 (2). Những hành động cao
đẹp này đã làm cho nhân dân thế giới vô cùng phấn
khởi và tin tưởng rằng đó chỉ là một trong những
việc khởi đầu của Ngài để xét lại toàn bộ những việc
làm sai lầm của Giáo Hội trong gần hai ngàn năm vừa
qua. Phấn khởi hơn nữa là từ đó cho đến năm 1998,
Ngài đã chính thức xin lỗi các quốc gia nạn nhân của
Giáo Hội tại nhiều nơi trên thế giới, tính đến nay
tất cả đã hơn 94 lần (3). Lại càng phấn khởi hơn nữa
là vào cuối tháng 7-1999, Ngài lại khẳng định rằng:
- "Thiên đường không phải là một nơi chốn trừu
tượng hay hữu hình cụ thể chiếm một khoảng không
gian trên chín từng mây, mà thiên đường chỉ là mối
liên hệ riêng tư và sống động giữa cá nhân của chính
con người với Chúa Ba Ngôi. (Heaven is not an
abstraction nor a physical place amid the clouds,
but a living personal relationship with the Holy
Trinity)" (4).
Và,
- "Địa Ngục không phải là một nơi có những hình phạt
do thượng đế đặt ra, nhưng chỉ là do kết quả của
những thái độ và hành động con người tạo ra trong
đời sống của họ." (Hell is not a punishment
imposed extremely by God, but the condition
resulting from attitudes and actions which people
adopt in this life" (5).
Ngày 1-9-1999, Ngài lại chính thức tuyên bố
"xin lỗi về những lỗi lầm, bất công và vi phạm nhân
quyền của Giáo Hội trong quá khứ" (6). Và gần đây
nhất, nhân vụ Tổng Thống Vaclav Havel của nước Tiệp
Khắc đến viếng thăm kinh thành Rome, ngày Thứ Sáu
17-12-1999, Ngài lại nhìn nhận và xin lỗi về việc
Giáo Hội đã xử thiêu Linh-mục John Huss vào năm
1415. (7)
Sự kiện này đã khiến cho chúng tôi cảm thấy vô
cùng phấn khởi và tin tưởng giáo hội muốn tranh đấu
cho quyền tự do dân chủ và nhân quyền cho những
người dân kém may mắn tại các quốc gia vẫn còn nằm
trong ách thống trị của các chế độ độc tài chuyên
chính. Chúng tôi tin tưởng vào lòng thành khẩn của
Ngài, Ngài cũng sẽ cứu xét những việc làm sai lầm
của Giáo Hội đã gây ra cho dân tộc và đất nước chúng
tôi trong mấy thế kỷ vừa qua.
Thưa Ngài, người Công Giáo thường đọc câu nhật
tụng “Ăn năn, và Đền tội”.Thảm cảnh đau
thương của nhân dân trong các quốc gia nạn nhân của
Giáo Hội là do chính sách đế quốc và những việc làm
sai lầm của Giáo Giáo Hội gây ra. Cho nên không thể
chỉ dùng lời nói suông là có thể xoa dịu được những
vết thương mà Giáo hội đã để lại cho nhiều quốc gia
trên thế giới.
Trong mấy năm gần đây, Ngài và một số tín đồ
của Giáo Hội thường cao rao tranh đấu cho các quyền
tự do dân chủ và quyền làm người cho nhân dân các
nước còn phải sống dưới ách thống trị của các chế độ
độc tài chuyên chính. Muốn làm như vậy, Giáo Hội
phải khởi động một cuộc cách mạng ngay từ thượng
tầng ở ngay trong Tòa Thánh Vatican cho đến các đơn
vị bé nhỏ nhất là các họ đạo địa phương ở những nơi
làng xóm xa xôi hẻo lánh trong các vùng nông thôn.
Thưa Ngài, để làm được những công việc cách
mạng trên đây, chúng tôi xin trân trọng đề nghị là
Ngài nên cho dân chủ hóa tất cả các cơ quan trong hệ
thống tổ chức của Giáo Hội, bãi bỏ tất cả những gì
được xem như là chuyên chế, phong kiến lạc hậu và
lỗi thời. Đồng thời xin Ngài cử người đại diện của
Giáo Hội đến các quốc gia nạn nhân để bàn thảo về
việc xin lỗi và nhận lãnh trách nhiệm bồi thường
thiệt hại cho các quốc gia này. Dưới đây là một số
đề nghị kính mong Ngài cứu xét và cho tiến hành sớm
để giữ uy tín của Giáo Hội.
A. VỀ GIÁO TRIỀU VÀ BỘ MÁY CAI TRỊ
1. Dân chủ hóa tất cả cơ quan đầu não tại Tòa
Thánh Vatican (Tổ chức tuyển cử để tuyển chọn người
nắm giữ chức vụ giáo chủ với một nhiệm kỳ trong một
thời gian hữu hạn, và nếu cần, giới hạn cả số nhiệm
kỳ (term limit) đối với những người nắm giữ từ chức
vụ cai quản một địa phận cho đến chức vụ giáo chủ.
2. Bãi bỏ hết tất cả lễ nghi và tục lệ xét ra
không còn thích hợp với lề lối sinh hoạt của một xã
hội tự do dân chủ, thí dụ như nghi lễ các vua chúa
hôn chân Giáo Chủ, con chiên quỳ gối hôn kính giầy
dép của các vị tu sĩ truyền giáo và hôn nhẫn của các
ông giám mục.
3. Xóa bỏ tất cả những ngôn từ và danh xưng
mang nặng tính cách trịch thượng, lừa bịp, ngạo mạn,
xấc xược, ngược ngạo (thí dụ những từ ngữ như "công
giáo", "tà giáo", "dị giáo", "trở lại đạo", "Chúa
chọn", "làm sáng danh Chúa", "chống Chúa", v.v...)
và những từ ngữ mang nặng tính cách phong kiến làm
hèn ha và mất phẩm giá con người. (Dù là giữ một
chức vụ nào đi nữa, không ai có quyền được gọi tín
đồ là "con" và xưng là "cha" đối với tín đồ,
v.v...).
B. VỀ NHỮNG CHỦ TRƯƠNG CHÍNH TRỊ VÀ CÁC SÁCH LƯỢC
MA GIÁO ĐỂ TRUYỀN ĐẠO
1. Ban hành một sắc lệnh long trọng tuyên bố
rằng kể từ nay Giáo Hội dứt khoát từ bỏ chủ thuyết
"thần quyền (tôn giáo) chỉ đạo thế quyền (chính
quyền)".
2. Ban hành một sắc lệnh long trọng tuyên bố
rằng kể từ nay Giáo Hội dứt khoát khước từ chủ
thuyết chính trị dựa trên thần quyền của Saint
Thomas Aquinas (1225-1274) cho rằng các nhà cầm
quyền là do Thượng Đế chọn lựa, do đó nhân dân không
có quyền làm cách mạng lật đổ dù cho họ là những
người đã lạm quyền làm những chuyện bất công, bất
chính, bất nhân và bạo ngược.
3. Ban hành một sắc lệnh cực lực lên án những
sắc lệnh do Giáo Hội ban hành vào những thời điểm
sau:
-
Năm 1449 (chủ
trương dùng quân đội đánh chiếm đất đai ngoài
vòng ảnh hưởng của Giáo Hội đễ cưỡng bách các
dân tộc bị chinh phục phải theo đạo)
-
Năm 1452 (cho phép
các tín đồ tay sai của Giáo Hội được quyền bắt
các dân tộc bị chinh phục làm nô lệ).
-
Năm 1493 (chia thế
giới ra làm hai, rồi ban cấp cho Tây Ban Nha và
Bồ Đào Nha, mỗi nước một nửa). Nhân đó, ban hành
một văn thư khác kèm theo long trọng tuyên bố
với nhân dân thế giới rằng kể từ nay Giáo Hội
dứt khoát từ bỏ các sắc lệnh trên đây và xin
nhận lãnh hết tất cả các trách nhiệm về những
hậu quả do các sắc lệnh trên đây đã gây ra cho
các dân tộc nạn nhân.
4. Ban hành một sắc lệnh cực lực lên án bản
thông điệp ngày 29-4-1814 của Giáo Hoàng Pius VII
(1800-1823) gửi Gíam-mục địa phận Troyes, cực lực
lên án lời tuyên bố của Giáo Hoàng Gregory XVI
(1831-1846) gọi "tự do báo chí là thứ tự do tai hại
nhất, đáng ghét nhất, kinh tởm nhất...", và long
trọng xác nhận rằng kể từ nay Giáo Hội sẽ tôn trong
các quyền tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, tự do ngôn
luận, v.v..., giống như tại các quốc gia dân chủ tại
Bắc Mỹ và Tây Âu.
5. Ban hành một sắc lệnh long trọng bãi bỏ
giáo luật cưỡng bách những người thuộc các tín
ngưỡng khác phải làm lễ rửa tội theo đạo rồi mới
được làm lễ thành hôn với người yêu là tín đồ của
Giáo Hội.
C. VỀ NHỮNG VIỆC LÀM ĐỐI VỚI DÂN TỘC VIỆT NAM
1. Ban hành một văn thư long trong nhìn nhận
Giáo Hội đã có lỗi lầm trong những việc làm có chủ ý
làm nguy hại đến nền an ninh và chủ quyền của quốc
gia Việt Nam từ tiền bán thế kỷ thứ 16 cho đến ngày
nay. Những việc làm đó là:
(a). Hoạt động gián điệp, thâu thập các tin tức tình
báo chiến lược gửi về Tòa Thánh Vatican và
chính quyền Pháp (8)
(b). Dụ dỗ những thành phần cùng đinh nghèo khổ, móc
nối với những thành phần "du đãng" và "bất mãn" đối
với chính quyền của thời đó để lôi cuốn họ theo đạo.
Trên thực tế việc tuyển mộ người chỉ là để tổ chức
một màng lưới gián điệp nằm vùng, và đạo quân thứ
năm, chờ khi có đoàn quân viễn chinh của quân Đội
Liên Minh Vatican-Pháp tiến đến thì sẵn sàng làm nội
ứng.
(c). Phái những điệp viên chuyên nghiệp dưới danh
nghĩa là các nhà truyền giáo đến Việt Nam điều khiển
các hoạt động tình báo, rồi lại trở về Âu châu và
đến tận thủ đô Paris để vận động chính quyền Pháp
đem quân đến đánh chiếm Việt Nam. Những cuộc vận
động đó là:
i. Linh-mục Alexandre de Rhodes đến Paris vận
động với triều đình Pháp Hoàng Louis XIV trong thập
niên 1650.
ii. Giám-mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc)
mang Hoàng-tử Cảnh mới có 4 tuổi đến Paris vào giữa
thập niên 1780 vận động với triều đình Pháp Hoàng
Louis XVI xin gửi quân viện cho Nguyễn Ánh đánh nhà
Tây Sơn,
iii. Thúc đẩy và tiếp tay cho Giám-mục Pigneau
de Béhaine (Bá Đa Lộc) tích cực can thiệp vào chính
sự Việt Nam, đặc biệt nhất là đem viện quân và vũ
khí đến giúp Nguyễn Ánh trong cuộc chiến giành giật
ngai vàng với nhà Tây Sơn để chuẩn bị cho mưu đồ
xâm lược Việt Nam sau đó.
iv. Giám-mục Pellerin , linh-mục Legrand de
Liraye và Linh-mục Huc đến Paris vào thập niên 1850
để trực tiếp vận động với Hoàng Hậu Eugenie và Hoàng
Đế Napoléon III đem quân sang đánh chiếm Việt Nam.
v. Đồng lõa với chính quyền Pháp trong việc bổ
nhậm Linh-mục Thierry d'Argenlieu làm Cao Ủy Đông
Dương vào tháng 8 năm 1945 nhằm mục đích lôi cuốn
giáo dân làm nội ứng trong mưu đồ tái chiếm Đông
Dương.
vi. Đồng lõa với Đại Tướng de Lattre de
Tassigny trong việc chỉ thị cho Hội Đồng Giám Mục
Đông Dương gồm 14 Tổng Giám Mục và Giám Mục nhóm họp
từ ngày 5 tới 10 tháng 11 năm 1951 để đúc kết một
bản thông cáo. Bản thông cáo này ra lệnh cho giáo
dân phải cương quyết chống lại cuộc kháng chiến đánh
đuổi Liên Quân Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược
Pháp-Vatican mà mặt Trận Việt Minh lãnh đạo. Mười
bốn vị nói trên gồm có: [John Dooley (chủ tọa), Jean
Baptiste Chabatier (Pnom Penh), Ngô Đình Thục (Vĩnh
Long), Jean Cassigne (Sanh, Saigon), Marcel Piquet
(Lợi, Qui Nhơn), Jean Marie Maze (Kim, Hưng Hóa),
Anselme Taddé Từ tức Lê Hữu Từ (Phát Diệm), Pierre
Marie Chi tức Phạm Ngọc Chi (Bùi Chu), Jean Baptiste
Urrita (Thi, Huế) Dominique Hoàng Văn Đoàn (Bắc
Ninh), Joseph Marei Trịnh Như Khuê (Hà Nội), Fr.
Felice Pérez (Hiên, Hải Phòng), Fr. Bernard Illomera
(Yên, Thái Bình), Paul Renaud (Ái, Kontum)]
2. Ban hành một văn thư cực lực lên án Chương
Ngày Thứ Bốn (Phần nói về Những Đạo Vạy) trong
cuốn Phép Giảng Tám Ngày (vì phần này vu khống và mạ
lị các vị thánh tổ của các tôn giáo cổ truyền cũng
như gièm pha và phỉ báng các tập tục tín ngưỡng của
dân tộc Việt Nam), cực lực lên án cuốn Kinh Nhựt
Khóa của Tổng Giáo Phận Saigòn in vào năm 1971 và
được Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình duyệt y vào ngày
19-3-1971 trong đó có những ngôn từ cực kỳ hiếu
chiến và thiếu văn minh như "phá tan đạo Bụt Thần"
và gọi dân tộc Việt Nam là "những quân mọi rợ".
Kính xin Ngài hãy ra lệnh cấm, tuyệt đối không cho
lưu hành và sử dụng cuốn Phép Giảng Tám Ngày và cuốn
Kinh Nhựt Khóa trên đây.
3. Ban hành một văn thư long trọng nhìn nhận
lỗi lầm của Giáo Hội đã xúi giục giáo dân Việt Nam
rằng "không thừa nhận quyền lực và luật pháp của
Việt Nam" và nhìn nhận lỗi lầm trong việc dạy dỗ
giáo dân Việt Nam rằng "Giáo Hoàng ở La Mã mới là
vị vua tối cao duy nhất của giáo dân" và rằng "họ
chỉ phải tuân phục có tòa thánh Vatican mà thôi"
(9). Làm như vậy, Giáo Hội có chủ ý tạo nên một
tình trạng bất ổn để cho liên quân Vatican-Pháp
"thừa nước đục thả câu", dễ dàng tiến vào tấn
chiếm và đặt nền thống trị tại Việt Nam.
4. Ban hành một văn thư long trọng nhìn nhận
lỗi lầm đã cho người chạy chọt với chính quyền Hoa
Kỳ tiếp tay với Vatican trong việc vận động cho Ngô
Đình Diệm về Việt Nam cầm quyền nhằm mục đích thi
hành kế hoạch "Gia-tô hóa" miền Nam Việt Nam.
5. Ban hành một văn thư long trọng nhìn nhận
rằng suốt trong thời kỳ từ năm 1862 cho đến ngày
30-4-1975, Giáo Hội đã thu vơ được một khối lượng
tài sản khổng lồ như đã được nêu ra trong tập sách “Thực
Chất Của Giáo Hội La Mã”.
6. Ban hành một văn thư long trọng xin lỗi
nhân dân Việt Nam về những việc làm sai lầm trên
đây, và nhìn nhận rằng những việc làm sai lầm này đã
gây ra cho dân tộc Việt Nam không biết bao nhiêu là
thảm họa đau thương triền miên từ khi Liên Quân
Pháp-Vatican tiến vào lãnh thổ Việt Nam khai hỏa,
tấn chiếm và thiết lập chính quyền bảo hộ. Thảm họa
này còn kéo dài cho đến ngày nay, tạo nên những vết
thương vô cùng nhức nhối không biết đến bao giờ mới
dứt hẳn.
7. Ban hành một văn thư thâu hồi quyết định
của Giáo Hội phong thánh cho 117 người vào ngày
19-6-1988, và nhìn nhận rằng quyết định phong
thánh cho những người này là một việc làm lầm lẫn
lớn lao của Giáo Hội. Xin Ngài hãy xác nhận rằng
những người này vì cuồng tín quá hóa ra ngu xuẩn
cho nên mới có những hành động phạm phải những
trọng tội phản nghịch chống lại tổ quốc Việt Nam. Vì
vậy mà Giáo Hội phải chính thức thâu hồi quyết định
phong thánh cho 117 tên tội đồ này để xoa dịu lòng
uất hận và căm hờn của đại khối dân tộc Việt Nam đối
với Giáo Hội.
8. Thành lập một ủy ban để nghiên cứu việc
thương thuyết với chính quyền Việt Nam hầu tiến tới
việc trả lại cho dân tộc Việt Nam tất cả đất đai và
những bất động sản khác (các cơ sở văn hóa và tôn
giáo). Ủy ban này gồm toàn những nhà trí thức cấp
tiến và có trình độ hiểu biết nhiều về Việt Nam
nhưng không có liên hệ khắng khít với các chính
quyền Bảo Hộ từ 1954 trở về trước, hoặc chính quyền
Ngô Đình Diệm để cho việc làm được vô tư. Việc bồi
thường có thể gồm tất cả những tiền bạc của cải do
anh em bà con ông Ngô Đình Diệm cùng chân tay của họ
đã cướp đoạt của nhân dân Việt Nam và tẩu tán ra
ngoại quốc trong đó có 18 tỷ Mỹ kim theo trị giá vào
năm 1968 đã được sử gia William J. Lederer nêu lên
trong cuốn "Our Own Worst Eneny" (New York, W.W.
Norton & Company, Inc., 1968, trang 165) (10). Hơn
nữa, sự bồi thường có thể gồm tất cả những thiệt hại
trong những thảm họa đau thương do những việc làm
sai lầm của Giáo Hội đã gây ra cho dân tộc Việt Nam
từ trước đến nay.
Thưa Ngài, đã có những người Gia-tô cuồng tín
Việt Nam cho rằng "Giả thử là thực sự có những lỗi
lầm đối với dân tộc Việt Nam thì đó cũng chỉ là
những việc làm cá nhân của những người Gia Tô hay
các nhà truyền giáo chứ không phải Giáo Hội đã làm
hay Giáo Hội có chủ ý xúi giục họ làm nên những lỗi
lầm này. Do đó Giáo Hội không cần phải xin lỗi ai
cả". Chúng tôi tin rằng Giáo Hoàng John Paul II là
người hiểu rõ lịch sử Giáo Hội. Ngài đã hiểu rõ, qua
việc ban hành các sắc lệnh vào những năm 1449 vá
1452, tất cả những thảm họa ở nhiều nơi trên khắp
thế giới, là do những tín đồ quá cuồng tín, quá hăng
say tuân hành các sắc lệnh của Giáo hội mà gây nên.
Dẫu sao cũng là do Giáo Hôi đã thúc đẩy đàn con
chiên của Giáo Hội phải làm như vậy. Là người cha
của gia đình Kitô La Mã, hơn ai hết, Ngài hiểu rõ
trách nhiệm của Ngài là trách nhiệm "con dại cái
mang". Ngài đã cương quyết nhìn nhận những lỗi lầm
của Giáo Hội trong quá khứ và xin lỗi các quốc gia
nạn nhân, bất chấp cả những sự cản trở và phản đối
của phe bảo thủ ngoan cố ngay từ trong tòa thánh
Vatican. Những người Giatô quá cuồng tín không hiểu
biết lịch sử và việc làm của Giáo Hội, lại không có
đủ khả năng để phân tách và suy luận, cho nên họ
không thể nào ý thức được trách nhiệm về những việc
làm sai lầm của Giáo Hội. Trong tình trạng như vậy
thì làm sao họ có thể hiểu được ý nghĩa cao cả của
Ngài qua bao nhiêu lần nhìn nhận lỗi lầm của Giáo
Hội trong quá khứ cũng như xin lỗi các quốc gia nạn
nhân của Giáo Hội?
KẾT LUẬN
Thưa Ngài, Ngài đã can đảm vượt qua lòng tự ái
của chính Ngài và biết bao nhiêu khó khăn khác mới
làm được những việc làm vĩ đại nhìn nhận lỗi lầm của
Giáo Hội trong qúa khứ và xin lỗi các quốc gia nạn
nhân như vậy. Ngài đã làm được những gì mà các vị
giáo chủ và giáo hoàng tiền nhiệm đã không làm được.
Ngài quả thật là một Giáo Hoàng vĩ đại trong lich sử
Giáo Hội La Mã. Nhưng khốn nỗi, thưa Ngài, trong
thực tế, cho đến nay những việc làm của Ngài mới chỉ
là những "lời nói suông" mà chưa được thể hiện ra
bằng những hành động cụ thể nào cả. Người ta nói "Lời
nói phải đi đôi với việc làm". Các quốc gia nạn
nhân của Giáo Hội đang mong mỏi Ngài sớm sớm có
những hành động cụ thể để cho những nỗi lòng uất ức
và oán thù của họ đối với Giáo Hội sớm được nguôi
ngoai mà tin tưởng vào những lời xin lỗi vàng ngọc
của Ngài. Có như vậy thì mới hy vọng cứu vãn được uy
tín của Giáo Hội. Có như thế thì Giáo Hội mới xứng
đáng là một tôn giáo mang danh tôn thờ Chúa Jesus
mà các Ngài vẫn dùng lòng nhân từ và bác ái để đi
giảng đạo. Ngược lại, nếu Ngài hay Giáo Hôi vẫn còn
tránh né, không muốn cụ thể hóa nhửng lời xin lỗi
đối với các quốc gia nạn nhân bằng những hành động
cụ thể thì chắc chắn nhân dân thế giới sẽ hoài nghi.
Người ta sẽ đặt ra những vấn đề như sau:
1. Làm thế nào Giáo Hội La Mã có thể tranh đấu
cho các quyền dân chủ tự do cho nhân dân thế
giới khi mà chính Giáo Hội lại theo một thể chế
chính trị tăng lữ chuyên chính với những lễ nghi
nặng mùi phong kiến cùng những danh xưng và ngôn từ
vô cùng trịch thượng và thiếu văn minh cũng như làm
cho các tín đồ trở nên hèn hạ và mất giá trị con
người?
2. Làm thế nào Giáo Hội có thể tranh đấu
cho nhân quyền hay đòi hỏi những người khác phải
tôn trọng nhân quyền khi mà chính Giáo Hội lại không
tôn trọng nhân quyền của những người thuộc các tôn
giáo khác qua việc đòi hòi những ai thuộc tôn giáo
khác nếu muốn thành hôn với tìn đồ của Giáo Hội thì
phải làm lễ rửa tội theo đạo của Giáo Hội rồi mới
được Giáo Hội cho phép làm lễ hôn phối?
3. Làm thế nào Giáo Hội có thể tôn trọng quyền
tự do tư tưởng và tự do ngôn luận khi Giáo
Hội chưa chính thức long trọng tuyên bố cho nhân dân
thế giới biết rằng Giáo Hội cực lực lên án và bác bỏ
lời tuyên bố của Giáo Hoàng Gregory XVI (1831-1846)
cho rằng "tự do báo chí là thứ tự do tai hại nhất,
đáng ghét nhất..."?
4. Làm thế nào Giáo Hội có thể tôn trọng quyền
tự do tôn giáo khi chính Giáo Hội chưa chịu
công khai cực lực lên án và long trọng tuyên bố cấm
lưu hành và sử dụng cuốn Phép Giảng Tám Ngày và cuốn
Kinh Nhựt Khóa của Tổng Giáo Phận Sàigòn in vào năm
1971 đã nói chi tiết trong đoạn 2 của phần C ở trên.
5. Làm thế nào Giáo Hội có thể tranh đấu, đòi
hỏi công bằng cho nhân loại khi mà Giáo Hội
vẫn còn giữ thái độ trịch thượng, không chịu trực
tiếp thương thuyết với các chính quyền của các dân
tộc nạn nhân của Giáo Hội (trong đó có Việt Nam) để
tiến hành một thỏa hiệp bồi thường những thiệt hại
về những thảm họa đau thương do những việc làm sai
lầm của Giáo Hội đã gây ra cho họ?
Thưa Ngài, "nhất sự bất tín, vạn sự bất khả
tín". Với kinh nghiệm ông Ngô Đình Diệm khi còn
làm tổng thống miền Nam Việt Nam đã hứa cuội rồi
tráo trở và phản phé với Quốc Trưởng Bảo Đại, với
Hoa Kỳ, với các bạn bè cũ, với Phật giáo, với các
thành phần đối lập và với quốc dân miền Nam Việt
Nam, tất cả tới 13 lần, nhân dân Việt Nam chúng
tôi đã trở nên vô cùng nhậy cảm. Hơn nữa, trong quá
khứ, trong khi Giáo Hội phái các nhà truyền giáo đi
tới các lục đia Phi, Mỹ và Á châu đòi tự do tôn giáo
và đòi được quyền tự do truyền đạo thì tại Tây và
Nam Âu, Giáo Hội lại cấm, không cho tự do tôn giáo.
Tòa án của Giáo Hội đã nổi tiếng với những thành
tích tàn sát tới hơn 11 triệu nạn nhân thuộc các tôn
giáo khác nằm trong vòng kiểm soát của Giáo Hội. Vì
thế cho nên, nếu Giáo Hội không mau mau sớm thực thi
những điều nêu lên trên đây thì lòng nghi ngờ của
nhân dân thế giới đối với Giáo Hội sẽ tăng lên và
trở thành thất vọng.
Thưa Ngài, "Ăn năn thì phải đền tội".
Chúng tôi thành khẩn kính mong Ngài lưu ý cứu xét
những nguyện vọng trên đây mà sớm cho tiến hành công
vịệc xoa dịu lòng căm thù và uất hận trong lòng nhân
dân các quốc gia nạn nhân của Giáo Hội bằng những
hành động cụ thể và thiết thực là bồi thường những
thiệt hại do những việc làm sai lầm của Giáo Hội đã
gây ra cho họ mà chính Ngài đã nhìn nhận và xin
lỗi. Nếu không như vậy, dân Việt Nam sẽ ngậm ngùi
nhớ lại câu nói “Đừng tin những gì chúng nó nói,
mà hãy nhìn những gì chúng nó làm" của cựu Tổng
Thống Việt Nam Nguyễn Văn Thiệu ngày nào . Chỉ có
những hành động thực tiễn mới cứu vãn danh dự của
Giáo hội.
Xin Thượng Đế ban phép lành cho Ngài.
Nay kính,
-
Nguyễn Mạnh Quang
(Người dân của một dân tộc nạn nhân của Giáo Hội La
Mã)
7205 N. 25th St.,
- Tacoma, WA 98406
-
CHÚ THÍCH
(1) "Giáo Hội Công Giáo Đã Nhìn Nhận Sai Lầm Trong
Vụ Án Galileo". Tuần Báo Chính Nghĩa số 146, ngày 7
tháng 11 năm 1992.
(2) Paula Butturini "Pope Wants Catholic Church To
Confess Its Sins". Houston Chronicle, Tuesday,
November 15, 1994.
(3) Chu Văn Trình & Tường Minh. Rơi Mặt Nạ (Fallen
Mask). Tavares, Florida: Ban Tu Thư Tự Lực 1998,
trang bìa sau.
(4) Học Hội Giêsu Kito Phục Sinh. Tuyên Cáo 8, Điều
1, trang 2.
(5) Jude Webber. "No Fire or brimstone, but hell's
real, pope says." Houston Chronicle. July 29, 1999:
page 26A.
(6) "Đức Giáo Hoàng Jean-Paul II: Giáo Hội Công Giáo
Sẽ Xin Lỗi Về Quá Khứ". Người Việt Tây Bắc số 807,
ngày 7 tháng 9 năm 1999.
(7) "Pope John Paul II apologized..." The News
Tribune (Tacoma), Saturday, December 18, 1999.
Nguyên văn đoạn văn loan tin này như sau: "Pope John
Paul II apologized Friday for the "cruel" execution
of John Huss, a Czech religious reformer who was
burned at the stake in 1415. The apology was timed
for the visit from the Czech president, Vaclav
Havel, who donated the Christmas tree outside St.
Peter's that is to be lighted today." Vụ án Jan Hus
(hay John Huss), đã được trình khá rõ ràng trong
các trang 138-145 thuộc Chương 8 trong cuốn Việt Nam
Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1963 (Nguyễn Mạnh
Quang, Tacoma, WA: TXB, 1998).
(8) Avro Manhattan. Vietnam, Why did We Go? Chino,
CA: Chick Publication, 1984, p.139.
(9) Nguyễn Xuân Thọ. Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ
Thống Thuộc Địa Pháp Ở Việt Nam (1858-1897). Tác giả
tự xuất bản, 1995, trang 17.
(10)
Trong tác phẩm "Our Own Worst Enemy" (New York, W.
W. Norton & Company - Inc., 1968), tác giả William
J. Lederer viết nơi trang 165 như sau: "In addition
to the visible increase in Saigon's gold reserve,
approximately $18 billion, according to my Swiss and
Chinese informants, had been sent to foreign banks
by private Vietnamese indivisuals since 1956. Not so
long ago, Madame Nhu, through a silent partner,
purchased outright the second largest private bank
in Paris. For cash." Xin đọc thêm nơi trang
322-323 trong Chương 11 (Thực Chất Của Giáo Hội La
Mã)

(*) Cập nhật hóa lần xin lỗi gần nhất của Đức
Giáo Hoàng (nói ở chú thích số 7) và dịch ra Anh
ngữ ngày 10 tháng 1, 2000.
Bức thư này đã được gửi cho:
1. Giáo Hoàng John Paul II ngày 11-3-2000
2. Tổng Thống William Clinton (Hoa Kỳ) ngày
12-3-2000
3. Tổng Thống Jacques Chirac (Pháp) ngày 12-3-2000
4. Tổng Thống Seyed Mohammad Khatami (Iran) ngày
12-3-2000
5. Thủ Tướng Lionel Lospin (Pháp) ngày 20-3-2000
6. Tổng Thư Ký Kofi Annan (Liên Hiệp Quốc) ngày
20-3-2000
7. Tổng Thống Jiang Zemin Guagia Zhuxi (Trung Hoa)
ngày 20-3-2000
8. Thủ Tướng Zhu Rongji (Trung Hoa) ngày 20-3-2000
9. Tổng Thống Vladimirovich Putin (Nga) ngày
20-3-2000
10. Tổng Thống Massimo D’Alema (Ý Đại Lợi) ngày
20-3-2000
11. Tổng Thống Muhamamad Rafig Tarar (Pakistan) ngày
3-4-2000
12. Tổng Thống Abduraman Narayanan Wahid
(Indonesia) ngày 3-4-2000
13. Tổng Thống Kocheri Raman Narayanan (India) ngày
3-4-2000
14. Thủ Tướng John Winston Howard (Australia) ngày
3-4-2000
15. Tổng Thống Rudolf Schuster (Slavakia) ngày
3-4-2000
16. Thủ Tướng Chuan Leekpal (ThaiLand) ngày 3-4-2000
17. Báo Houston Chronicle (P.O. Box 4260, Houston,
TX 77210) ngày 14-3-2000
18. Báo Seattle Times (P.O. Box 70, Seattle, WA
98111) ngày 14-3-2000
19. Báo The News Tribune (P.O. Box 1100, Tacoma, WA
98411) ngày 14-3-2000
20. Báo Seattle Post Intelligencer (P.O. Box 1909,
Seattle, WA 98111-1909) ngày 14-3-2000
21. Báo The New York Times (229 West 43rd
St., NY 10036-3959) ngày 14-3-2000
22. Báo Time (Tim and Life Building, Rockerfeller
Center, New York, NY 10020-1393) ngày 14-3-2000
Xem bản Anh ngữ
Những lá thư ngỏ
Gửi Quý vị Tu sĩ Ca-tô và giáo dân người Việt (Nguyễn Mạnh Quang)
Letter To Pope John Paul II (Nguyễn Mạnh Quang)
Thư Cám Ơn (Charlie Nguyễn)
Thư Ngỏ gửi Cám Ơn TGM (Trần Chung Ngọc)
Thư Ngỏ Gửi Giáo Hoàng John Paul II (Nguyễn Mạnh Quang)
Thư Ngỏ Gửi TGM Ngô Quang Kiệt (Nguyễn Mạnh Quang)