Sách Lược Chống Lại

Truyền Thống Tôn Thờ Anh Hùng Dân Tộc Của Ta:

Trường Hợp Vua Quang Trung

Nguyễn Mạnh Quang

http://sachhiem.net/NMQ/NMQ025.php

22 tháng 11, 2009

... viết về những vấn đề trong lịch sử mà chính mình không phải là chứng nhân hay ở trong thời cuộc, bắt buộc phải dựa vào những tài liệu khả tín. Người nghiên cứu phải so đo thời điểm của các văn kiện, tìm hiểu nhịp điệu chính trường quốc tế hay thế giới, hay ít nhất là các quốc gia liên hệ để có thể định giá một tài liệu. Đàng này, ông Kiểng loanh quanh để tránh né tất cả việc ghi chép tài liệu. Thế thì toàn bộ quyển sách chỉ là một chương trình tập hợp những chuyện vu khống vĩ đại....

 

Như đã trình bày trong một bài khác, để hủy diệt các tôn giáo cổ truyền của các dân tộc nạn nhân bị chinh phục, những kế sách về văn hóa được Vatican triệt để khai thác. Cùng một kế sách đó, Vatican đã dùng để thi hành sách lược xóa bỏ nếp sống văn hóa tôn vinh và thờ phượng các vị anh hùng của dân ta, và cũng tiến hành theo từng bước: Bước 1 là biên sọan thành văn bản. Đó là cuốn Tổ Quốc Ăn Năn (Paris, TXB, 2001) của tác giả con chiên Nguyễn Gia Kiểng. Bước 2 là những văn bản hay tác phẩm cũng như các hành động khác nhắm vào việc bới móc đời tư cá nhân của các nạn nhân bị chiếu cố và đưa ra những luận cứ làm giảm giá trị những đại công nghiêp cứu nước của họ.

Không phải chỉ có dận tộc Việt Nam mới có nếp sống văn hóa tôn vinh và thờ cúng các vị anh hùng dân tộc. Hình thức, phương cách tôn vinh và thờ cúng các vị anh hùng dân tộc của mỗi quốc gia có thể khác nhau theo truyền thống của từng vùng văn hóa, nhưng cái cốt lõi của vấn đề vẫn là lòng thành kính và tôn vinh những người đã liều chết hy sinh cuộc đời cho đại cuộc cứu dân cứu nước dù thành công hay thất bại. Đại cuộc này càng khó khăn càng gian khổ công thì công nghiệp càng lớn.

Tượng đài cố TT LincohnDân tộc Hoa Kỳ lập đài kỷ niệm, đặt tên đường, đặt tên trường học theo tên các Tổng Thống George Wsahington, Tổng Thống Jeferrson, Tổng Thống Abraham Lincoln, ông Martin Luther King Jr., v.v…, cũng là để tôn vinh cá nhân họ vì họ đã có công nghiệp cứu nước hay cứu dân. Người dân Pháp cũng lập đài kỷ niệm, đặt tên đường, đặt tên trường học theo tên Bà Jeanne D’Arc, Hoàng Đế Napoleon I, Tổng Thống Charles De Gaulle, văn hào Voltaire, và nhiều anh hùng dân tộc khác cũng là để vinh danh cá nhân họ vì họ đã có công lớn hay làm vẻ vang choi đất nước và dân tộc Pháp. Tương tự như vậy, các dân tộc như Đức, Anh, Hòa Lan, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, Ý Đại Lợi, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, các quốc gia Hồi Giáo, các quốc gia Phi Châu, các quốc gia Mỹ Châu, Ấn Độ, Nam Dương, Tích Lan, Thái Lan, Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, Miến Điện và rất nhiều quốc gia có văn hiến khác cũng đều có nếp sống văn hóa này. Có thể nói đây là quy luật văn hóa của tất cả các quốc gia có văn hiến trong cộng đồng nhân lọai.

Riêng đối với dân tộc Việt Nam, trong mấy ngàn năm lịch sử, tiền nhân ta luôn luôn phải liều chết chiến đấu trong không biết bao nhiêu cuộc chiến để (1) chống lại những quân cướp ngọai thù từ phía Bắc tràn xuống (người Hán), từ Phương Nam (Chiếm Thành và Cao Mên) tiến vào quấy phá, từ Trời Âu tiến đến (Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican) cưỡng chiếm làm thuộc địa, từ Thái Bình Dương (quân Nhật) tiến sang, và từ Châu Mỹ (Hoa Kỳ) tiến vào, và (2) chống lại thế lực nội thù, tức là những quân Việt gian thổ phỉ dựa vào thế lực của nguời ngọai bang, mượn danh tôn giáo, tiếm danh chính nghĩa quốc gia trong dã tâm bán nước cho người ngọai bang. Vì phải liên tục chiến đấu và chiến đấu chống lại quá nhiều kẻ thu như vậy để bảo vệ giang sơn và sự thống nhất cho tổ quốc, cho nên Việt Nam có rất nhiều anh hùng dân tộc. Cũng vì thế mà ở bất kỳ địa phương nào, dân ta cũng có đền thờ các vị anh hùng dân tộc xuất thân từ địa phương và có cả đến thờ của những anh hùng có đại công lớn đối với đất nước.

Anh hùng dân tộc càng có công lớn đối với đất nước thì càng được toàn dân kính mến và càng có nhiều địa phương lập đền thờ. Ngay cả những vị anh dân tộc chỉ có liều mình vì nước chiến đấu chống giặc nhưng không thành công cũng có đền thờ và danh tính của họ cũng được đặt tên cho các đường phố, công viên, trường học và công sở khác. Đây là trường hợp của Bà Trưng, Bà Triệu, Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Lâm Quang Ky, Thiên Hộ Dương, Nguyễn Hữu Huân, Mai Xuân Thưởng, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Hoa Thám, Lương Ngọc Quyến, Trịnh Văn Cấn, Nguyễn Thái Học, v.v... Những vị anh hùng dân tộc không thành công trong đại cuộc đánh đuổi quân xâm lăng mà dân ta còn tôn vinh và lập đền thờ như vậy, thì tất nhiên là đối với những vị đại anh hùng đã thành công trong đại cuộc đành đuổi quân thù xâm lược ra khỏi lãnh thổ, giành lại chủ quyền cho đất nước, đem lại vinh quang vẻ vang cho dân tộc, dân ta càng phải tôn vinh nhiều hơn và lập đền thờ lớn hơn để tôn vinh và lập đền thờ thờ cúng các Ngài để đời đời ghi ơn các Ngài. Đây là nếp sống văn hóa của dân tộc Việt Nam và cũng là những bài học lịch sử để cho con cháu hay các thế hệ kế tiếp nhớ đến công ơn của các Ngài. Câu nói “uống nước nhớ nguiồn” là lời nhắc nhở mọi người cũng nằm trong ý nghĩa này.

Theo sự tìm hiểu của người viết, các giáo sĩ và giáo dân ngoan đạo của Giáo Hội La Mã đều có những suy tư và ngôn từ khinh thường, gièm pha, phỉ báng và sỉ nhục nếp sống văn hóa tôn vinh các vị anh hùng đất nước của tất cả các nhóm dân thuộc các tôn giáo khác với họ. Nói về vấn đề ngoan đạo hay cuồng tín trong đạo Ca-tô La Mã là phải nói tới giới tu sĩ và giáo dân người Việt. Họ là những người siêu cuồng tín giống như giáo dân Rwanda và hơn tất cả những giáo dân thuộc bất kỳ các quốc gia nào ở khác trên thế giới. Chính vì mang căn bệnh siêu cuồng tín như vậy, cho nên trong suốt chiều dài lịch sử, họ đã luôn luôn đứng về phía Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican và Liên Minh Xâm Lược Mỹ - Vatican chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam. Noi gương Linh-mục Alexandre de Rhodes, Nguyễn Gia Kiểng trong quyển "Tổ Quốc Ăn Năn" trổ tài đòi tổ quốc ta phải ăn năn, đòi chính quyền Việt Nam phải xin lỗi Giáo Hội La Mã về việc đã trừng trị những tên tội đồ của dân tộc. Ta gọi là "tội đồ" vì họ đã triệt để trung thành với Vatican, triệt để tuân hành lệnh truyền các đấng bề trên của họ mà đành lòng gục mặt làm việc phản quốc, làm tay sai cho giặc chống lại tổ quốc và dân tộc ta.

Tìm hiểu những bản văn trong các tác phẩm của họ dưới bất kỳ hình thức nào, chúng ta thấy rằng họ chiếu cố (đánh phá) nhiều nhất đến những nhà ái quốc trong thời cận và hiện đại, nhất là các nhà ái quốc và anh hùng dân tộc nằm trong các lực lượng nghĩa quân có chủ truơng đánh đuổi Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican và Liên Minh Xâm Lược Mỹ - Vatican. Cũng vì thế mà họ chiếu cố rất kỹ đến hai vị đại anh hùng dân tộc là Vua Quang Trung và Cụ Hồ Chí Minh..

Họ đánh phá các vị anh hùng của dân tộc ta như thế nào?

Thông thường nhất là bằng hai sách lược: (1) Sách lược bới móc đời tư cá nhân. Trong sách lược này, họ dồn nỗ lực vào việc tìm kiếm những điểm tiêu cực và bia đặt ra những điều xấu xa để phỉ báng, sỉ và hết lời bằng những ngôn từ đê tiên hạ cấp và thiếu văn hóa nhất, và (2) sách lược làm giảm giá trị đại chiến công của nạn nhân.

Để giúp cho độc giả dễ dàng nhìn ra những sách lược này của họ, chúng tôi xin trình bày những sách lược đánh phá Vua Quang Trung và cụ Hồ Chí Minh vì rằng hai vị đại anh hùng này nằm trong thời cận và hiện đại cho nên bị họ đánh phá nhiều nhất.

 

 

TRƯỜNG HỢP VUA QUANG TRUNG

1.- Sách lược nhắm vào đời tư cá nhân để phỉ báng:

Nói đến những bản văn phỉ báng cá nhân Vua Quang Trung và làm hạ giá đại công nghiệp của Ngài trong việc đánh đuổi quân Xiêm và quân Thanh xâm lăng là phải nói đến những bản văn gói ghém trong một cuốn sách dày tới 600 trang với tựa đề là Tổ Quốc Ăn Năn (Paris: Tự Xuất Bản, 2001) của con chiên Nguyễn Gia Kiểng. Có thể nói, toàn bộ 600 trang cuốn sách này là toàn bộ những bản văn phỉ báng các nếp sống văn hóa cổ truyền của dân tộc ta. Trong cuốn quái thư này, tác giả ta đưa ra toàn những luận điệu vô căn cứ với những lời nói điêu ngoa, vu khống và phỉ báng nếp sống hay tập tục văn hóa cổ truyền của dân tộc, đặc biệt là có nhiều chỗ gièm pha và sỉ vả truyền thống tôn vinh anh hùng dân tộc của đất nước.

Theo đúng sách lược của Giáo Hội La Mã về vấn đề này, việc đầu tiên là Nguyễn Gia Kiểng tìm cách bới móc đời tư cá nhân của nạn nhân và truyền thống văn hóa của dân ta, rồi thêm thắt tạo nên một hình ảnh cực kỳ xấu về nạn nhân, rồi sau đó đưa ra những luận điệu vu vơ (không có một bằng chứng đào để chúng minh) để gièm pha và làm hạ giá những đại chiến công lịch sử của người anh hùng đó. Sách lược này thể hiện trong đoạn văn dưới đây.

Nguyễn Huệ xuất thân là tướng cướp, nhờ liên hệ với quân Thượng và quân giặc gốc Chiêm Thành và đám cướp biển người Tàu mà mạnh dần lên. Rồi dùng cái tài dùng binh mà lên làm vua. Ông là người hung tợn và hiếu sát. Sự nghiệp của ông là những trận đánh khốc liệt, trong đó người Việt Nam tàn sát lẫn nhau; chỉ có hai ngoai lệ là một trận đánh thắng quân Xiêm và một trận Đống Đa, trong đó ông phá tan quân Thanh, trong một bài sau tôi sẽ trở lại với nhân vât Nguyễn Huệ và trận Đống Đa. Ở đây tôi chỉ xin đưa ra một nhận định tạm thời (sic). Nếu nhìn một cách bình tĩnh thì công lao của Nguyễn Huệ thực ra không thấm tháp gì so với những tàn phá và chết chóc mà ông ta đã gây ra cho đất nước. Việc ông được tôn sùng quá đáng tố giác một tâm lý kinh sợ bạo lực của người Việt Nam, việc người ta tô vẽ những đức tính mà ông hoàn toàn không có như trị nước và an dân, có lòng nhân ái, v.v… chứng tỏ ta tôn sung bạo lực tới độ ta sẵn sang ta làm đẹp nó.”[1]

Khởi đầu tác giả dùng những lời lẽ thiếu văn hóa để sỉ nhục Vua Quang Trung. Sau đó, tác giả đưa ra những nhận xét rất chủ quan rằng: “Nếu nhìn một cách bình tĩnh thì công lao của Nguyễn Huệ thực ra không thấm tháp gì so với những tàn phá và chết chóc mà ông ta đã gây ra cho đất nước” . Hoàn toàn ông Kiểng không hề có một nền tảng dân tộc, hay ít nhất khách quan, để hỗ trợ cho cái luận cứ nói láo đầy ác ý của ông ta.

2.- Sách lược làm giảm giá trị đại công nghiệp của Vua Quang Trung:

Tội ác đẻ ra tội ác và nói láo sinh ra những nói láo tiếp theo để hỗ trợ cho lời nói láo khởi đầu và kế tiếp. Sau khi hạ giá công nghiệp của Vua Quang Trung tác giả lại phải tìm cách nói láo tiếp theo để hỗ trợ cho lời nhận xét láo khoét là “không thấm tháp gì” như sau:

Niềm tự hào dân tộc của tôi bị thương tổn lần đầu tiên vào khoảng năm 1958. Tôi đọc báo về cuộc thuyết trình của Giáo-sư Tưởng Quân Chương, một chuyên gia người Đài Loan về Việt Nam, tại Đại Học Văn Khoa Saigon. Sự hiểu biểt rất non nớt của tôi lúc đó cũng đủ để tôi ý thức rằng ông hơn hẳn nhiều trí thức Việt Nam ngay về chính trị, lịch sử và văn hóa Việt Nam. Ông lập luận chắc chắn, dẫn chứng tài liệu đầy đủ về văn học Việt Nam, từng tác phẩm, từng tác giả. Đề cập đến trận Đống Đa, Tưởng Quân Chương dẫn tài liệu của Thanh triều, nói rằng Tôn Sĩ Nghị, Tổng Đốc Lưỡng Quảng, đã đem sáu ngàn kỵ binh sang Việt Nam để phô trương thanh thế và làm lễ thụ phong cho Lê Chiêu Thống, nhưng đã bị Nguyễn Huệ đánh bất ngờ thua chạy về và bị cách chức. Con số này theo tôi là hợp lý. Tôn Sĩ Nghị từ Trung Quốc sang Việt Nam trong một hai tuần lễ thì chắc chắn là sang bằng kỵ binh rồi, mà kỵ binh thì sáu ngàn đã là nhiều lắm đối với hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây, muốn hơn cũng không có. Nên nhớ là nhà Thanh lúc đó yên bình đã mấy trăm năm nên không còn giữ quân đội hùng hậu nữa. Tôi chưa thấy sử gia Việt Nam nào bác bỏ sự kiện (này) của Tưởng Quân Chương.” [2]

Vì có chủ trương đưa ra những luận điệu vu vơ, nói trổng để phỉ báng nếp sống văn hóa cổ truyền của dân tộc mà không đưa ra được bản văn nào làm bằng chứng nào, cho nên tác giả Nguyễn Gia Kiểng mới tìm cách biện bạch và bào chữa phủ đầu bằng mấy đọan văn như sau:

“Cuốn sách này là một cuốn sách để thảo luận ý kiến, với mục đích chỉ đề xướng ra mà không kết thúc các cuộc thảo luận. Vì thế tác giả, do thời giờ eo hẹp, đã tự cho phép bỏ qua phần chú thích sau mỗi chương. Sự thiếu sót này là do điều kiện biên soạn cuốn sách: tác giả, vì không thể dành một khoảng thời gian liên tục để viết, đã phải lập trước một bố cục, sau đó viết dần dần từng chương một trong vòng bốn năm, trung bình mỗi ngày một vài giờ, đôi khi trên xe lửa hoặc máy bay. Cách viết như vậy không cho phép ghi chú tỉ mỉ những tài liệu trích dẫn. Bù lại, những trích dẫn quan trọng đã được ghi ngay trong các bài viết, như độc giả có thể nhận xét.

Vì là một cuốn sách ý kiến, và hơn nửa ý kiến cá nhân, nên phần liệt kê tài liệu càng khó. Tác giả viết với kiên thức và suy tư cá nhân của mình cho nên nếu muốn liệt kê các tài liệu đã ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên cuốn sách thì có lẽ phải liệt kê hết tủ sách của mình. Điều này không phải chỉ khó mà còn không thể làm được vì, một mặt, có những tài liệu như báo chí, tác giả đã tự ý hủy bỏ vì không có chỗ lưu giữ và, mặt khác, có những biến cố đã khiến tác giả nhiều lần mất tất cả hay gần hết tủ sách.” [3]

Chúng ta thấy ông Nguyễn Gia Kiểng cũng thú nhận rằng ông ta viết cuốn sách này theo ý kiến (tức là quan niệm) cá nhân và kiến thức hiểu biết (hưu hạn) của ông ta. Khốn một nỗi, ý kiến hay quan niệm cá nhân của ông ta là ý kiến thiên lệch và thiển cận của một tín đồ Ca-tô ngoan đạo (cuồng tín) thuộc lọai Bùi Chu Phát Diệm hay Hố Nai Gia Kiệm, và kiến thức của ông ta là kiến thức của một tín đồ Ca-tô không hề được học đầy đủ môn quốc sử, đặc biệt nhất là những bài học sử trong thời cận và hiện đại. Đồng thời, ông ta cũng không được học đầy đủ những bài học lịch sử thế giới.

Hơn nữa, viết về những vấn đề trong lịch sử mà chính mình không phải là chứng nhân hay ở trong thời cuộc, bắt buộc phải dựa vào những tài liệu khả tín. Người nghiên cứu phải so đo thời điểm của các văn kiện, tìm hiểu nhịp điệu chính trường quốc tế hay thế giới, hay ít nhất là các quốc gia liên hệ để có thể định giá một tài liệu. Đàng này, ông Kiểng loanh quanh để tránh né tất cả việc ghi chép tài liệu. Thế thì toàn bộ quyển sách chỉ là một chương trình tập hợp những chuyện vu khống vĩ đại.

Con số quân lính Nhà Thanh

Trở lại vấn đề con số quân lính Nhà Thanh được phái sang tiến chiếm Việt Nam, theo sự hiểu biết của người viết, con số quân linh Nhà Thanh tiến đánh Việt Nam không phải chỉ có 6 ngàn kỵ binh, ít nhất là 200 ngàn quân và nhiều nhất là 280 ngàn quân. Sách Việt Sử Toàn Thư viết:

Việc đã quyết định xong, triều Thanh liền huy động binh mã bốn tỉnh Vân Nam, Quí Châu, Quảng Đông và Quảng Tây được tất cả là 200,000 người, chia làm ba đạo kéo vào nội địa nước ta.” [4]

Sách Việt Sử Khảo Luận (cuốn 3) cũng viết:

Tôn Sĩ Nghị xuất quân (ngày 17/11/1787) – Tôn Sĩ Nghị lấy quân ở bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quí Châu và Vân Nam, được 20 vạn (tức 200 ngàn) người chia làm ba đạo: Một đạo do quan tổng binh tỉnh Vân Nam và Quí Châu chỉ huy, sang mạn Tuyên Quang, Sơn Tây; - Một đạo do quan tri phủ Điền Châu là Sầm Nghi Đống chỉ huy, sang mạn Cao Bằng; Đại quân do Tôn Sĩ Nghị với Đề Đốc Hứa Thế Hanh chỉ huy sang mạn Lạng Sơn, hẹn ngày tiến binh sang đánh An Nam…” [5]

Sách Việt Sử của tác giả Nguyễn Văn Bường viết:

Tôn Sĩ Nghị được lệnh khởi binh bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu và Vân Nam gồm 20 vạn quân, chia làm ba đạo tràn vào nước ta…” [6]

Luận cứ trên đây cúa tác giả Nguyễn Gia Kiểng được Tiến-sĩ sử học Vũ Ngự Chiêu phân tích như sau:

“Cuộc xâm lăng của Tôn Sĩ Nghị vào cuối năm 1788, đầu năm 1789, cho đến nay, cũng mới chỉ được ghi lại một cách sơ sài và thiếu nhất quán.

Những chi tiết về số quân Thanh xâm lăng (hay chinh phạt, theo quan điểm nhà Thanh) sai biệt nhau khá lớn: từ vài vạn người trong một số tư liệu nhà Thanh (Ngụy Nguyên), tới hơn “20 vạn” trong sử Nguyễn, và lên tới 280,000 (28 vạn) trong tư liệu các giáo sĩ. Người ta tự hỏi con số này lấy ở đâu ra?

Chính sử nhà Nguyễn, tức Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục và Đại Nam Thực Lục không ghi rõ số quân Thanh tiến vào Đại Việt, chỉ nói mù mờ [theo Thanh sử và Đại Thanh Thực Lục] rằng Tôn Sĩ Nghị điều động quân bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam và Quí Châu, và quân Thanh bị chết, bị thương đến quá nửa dưới tay “giặc” [Tây Sơn]. (KĐVSTGCM, 1998, tập II, trang 847; ĐNTL, CB, q.1, [Việt ngữ (Hà Nội, 1963) II:81])

Ngụy Nguyên, một tác giả người Thanh, ghi là 10,000 người, dùng 2,000 ở Lạng Sơn, lấy 8,000 làm tiên phong kéo thẳng xuống Hà Nội, Đề Đốc Vân Nam Ô Đại Kinh đem 8,000 quân theo đường qua cửa Mã Bạch, vượt sông Chúc, vào cõi Giao Chỉ (Tuyên Quang), theo đường cũ của Mộc Thanh nhà Minh. Ngòai ra, còn hai cánh quân Vân Nam, và một đạo thủy binh từ Quảng Đông đáp thuyền và đất Hải Đông. Tổng Đốc Vân Quý là Phú Cương xin đi, những vua Thanh chỉ cho coi việc vận tải quân lương trong nội địa Trung Quốc. Ngòai ra, còn hơn 2.000 lính Nùng của Sầm Nghi Đống, và hơn 10,000 quân lính nhà Lê. Nhưng “Tiếng rằng đại binh có vài chục vạn.” (Ngụy Nguyên, Càn Long Chinh vũ An Nam ký [1842]: Hãn, Tòan Thư, II: 1341-2)

Sử quan Nguyễn phụ trách sọan bộ Đại Nam Liệt Truyện ghi tổng số quân Thanh lên tới “20 vạn” [200,000], [Nghị độc phụng chiếu xuất Lưỡng Quản Vân Quí lưỡng lộ binh nhị thập vạn, phân vi lưỡng đạo,” q.30 [Ngụy Tây], tr. 30B]

Trong cuộc phản công Tết Kỷ Dậu (1789), quân Tây Sơn phá tan quân Thanh ở Hà Hồi, Ngọc Hồi và Đống Đa. Hứa Thế Hanh, Trương Sĩ Long, Thượng Duy Thăng chết; Sầm Nghi Đống treo cổ tự tử. Tôn Sĩ Nghị rút về hướng Bắc. Chỉ riêng ở Thăng Long, quân Thanh đã chết hơn 7 ngàn tại trận. Cầu nổi bác ngang sông Hồng Hà bị sập, khiến khoảng 3 ngàn người chết đuối, nước sông bị nghẽn. (q. 30 [Ngụy Tây], tr. 34B). Các chi tiết trên cũng thấy trong Lê Triều dã sử hay Hòang Lê Nhất Thống Chí....

Trong khi đó, giáo sĩ Pháp La Motthe ghi nhận:

“Ngày 17/1/1789, một phần quân đội Trung Hoa vào thủ đô cùng với vua Chiêu Thống... Viện binh Trung Hoa gồm độ 280,000 (28 vạn) người, một nửa đóng trong thành phố, nửa còn lại ở bên kia sông... (Đặng Phương Nghi, trong Một Vài Sử Liệu Về Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ, trang 198).

Con số “280,000” quân Thanh, do nguồn tin tình báo đại chúng của La Mothe, còn vượt trên ước lượng của sử quan nhà Nguyễn. Chắc chắn con số này không chính xác vì cả La mothe lẫn hậu thế chẳng có cách nào để kiểm chứng. Nhưng báo cáo của La Mothe hay Giám Mục Jean Bartette ở Ái Tử, Quảng Trị, khi về tới Paris. Macao hay Pondichéry hẳn có phần đóng góp vào quyết định không tôn trọng Hòa Ước 1787 giữa Pháp và Nguyễn Ánh.

Cách nào đi nữa, vâng mệnh Càn Long điều động quân bốn tỉnh Hoa Nam để xâm phạm Đại Việt, Tôn Sĩ Nghị KHÔNG THỂ CHỈ MANG “6,000 kỵ mã”, tức tinh binh của nhà Thanh, như có người hoang tưởng. Chỉ cần chút kiến thức quân sự sơ đẳng cũng hiểu rằng khi xâm phạm một nước láng giềng, phải có một lực lượng khả dĩ bảo đảm sẽ chiến thắng hoặc rút lui an toàn. Ví thử chỉ dùng “8,000” thay vì “6,000 kỵ binh”, “600 kỵ binh”, nếu muốn) cần mang theo số biền binh hoặc chính quy gấp 5 hoặc 10, gấp 20 lần con số kể trên hầu trấn giữ các vị trí chiếm đóng được. Đó là chưa kể chi tiết Tôn Sĩ Nghị mang theo cả đại pháo, một loại vũ khí tương đối mới mẻ với chiến trường Á Châu.

Như thế, tổng số quân Thanh có lẽ đâu đó trong khoảng 20,000 tới 50,000 người, hoặc nhiều hơn. Sử quan nhà Nguyễn có thể đã dựa theo tư liệu dã sử nhà Lê hay truyền khẩu sử và sửa lại đôi chút. [Riêng học giả Trần Trọng Kim chỉ lặp lại con số 200,000 (20 vạn) một cách máy móc, khiến dễ gây ngộ nhận rằng 200,000 quân Thanh chỉ đóng ở kinh đô Thăng Long và vùng phụ cận.” [7]

Qua phần trình bày trên đây, chúng ta thấy rõ luận cứ của ông Nguyễn Gia Kiểng nói rằng Nhà Thành chỉ phái có 6 ngàn kị binh tiến đánh Việt Nam là hoàn toàn nói láo. Nhân tiện đây, chúng ta cũng nên biết cái nguồn gốc của cái đặc tính nói láo này là nhân vật Tưởng Quân Chương.

Nhân vật Tưởng Quân Chương.

Tưởng Quân Chương là một người Tầu theo Tưởng Giới Thạch sống ở Đài Loan được Linh-mục Raymond de Jaegher, cố vấn về giáo dục của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, thỉnh mời về để biên soạn chương trình công dân cho chương trình học học sinh người Trung Hoa ở miền Nam. Sau đó, nếu chế độ đạo phiệt Ca-tô còn tồn tại ở miền Nam, chương trình này sẽ được đưa vào chương trinh học ở miền Nam để uốn nắn học sinh theo đúng chủ trương của Giáo Hội mà sách sử đã ghi nhận rằng:

Giáo Hội cần có một nền giáo dục công giáo độc lập như một môi trường thiết yếu, không những để truyền bá giáo lý mà còn để đào tạo thanh thiếu niên theo tinh thần công giáo.” [8]

Vì chủ trương này, khi đã cấu kết Hoa Kỳ cùng đưa ông Ngô Đình Diệm lên cầm quyền, Giáo Hội liền ra lệnh cho Linh-mục Raymond de Jaegher đến làm cố vấn giáo dục cho ông Diệm và cho thỉnh mời ông Tưởng Quân Chương từ Đài Loan đến Sàigòn đặc trách việc biên soạn chương trình công dân theo ý muốn của Giáo Hội để “đào tạo thanh thiếu niên theo tinh thần Công Giáo”.

Vì có chủ trương uốn nắn thanh thiếu niên theo tinh thần Công Giáo, cho nên mới có chuyện sau khi hai ông Nguyễn Hiến Lê và Thiên Giang vừa mới cho phát hành bộ lịch sử thế giới vào khỏang năm 1955, thì tác giả “bị một độc giả ở Cần Thơ mạt sát là “đàu óc đầy rác rưởi” chỉ vì trong bộ sách này “có nhắc qua đến thuyết của Darwin về nguồi gốc của loài người. Chẳng cần nói ai cũng biết độc giả đó là một tín đồ Công Giáo”. Rồi sau đó bộ sách này bị cấm, không được phép sử dụng trong các trường trung học và cũng không được phép lưu hành ở ngòai thị trường chỉ vì “có một linh mục ở Trung yêu cầu Bộ Giáo Dục cấm bán và tịch thu bộ đó vì trong cuốn II viết về Thời Trung Cổ, có nói đến sự bê bối của một vài giáo hoàng.” Ghê gớm và khủng khiếp hơn nữa là tác giả Nguyễn Hiến Lê còn bị mật vụ đến tận nơi cư trú để theo dõi rình mò và dò xét.[9]

Về sự liên hệ giữa Linh-mục Raymond de Jaegher và ông Ngô Đình Diệm được sử gia Bernard B. Fall nói rõ như sau:

Nhưng thời cơ chưa tới, Diệm rời Hoa Kỳ vào tháng 5-1953 và đến ở trong tu viện Benedictine thuộc Saint-André-les-Bruges, cũng là một trung tâm quan trọng của các hoạt động truyền giáo trong vùng Viễn Đông. Sự liên hệ chặt chẽ giữa ông Diệm và Linh Mục Raymond de Jaegher, một tu sĩ người Bỉ, một người trong những năm gần đây thường hành động như là một trong những quân sư cho ông Ngô Đình Diệm, có thể kể từ thời gian này.” (“But the time was not yet ripe. Diem left the United States in May, 1953, to return to Belgium, where he took up quarters at the Benedictine monastery of Saint- André-lès-Burges, which is also a key center of missionary activities in the Far East. His close association with Father Raymond de Jaegher, a Belgian priest who has in recent years often acted as one of his advisers, may date from that period.)[10]

Đưa một linh-mục nắm giữ vai trò cố vấn giáo dục để vị linh mục này thình mời một người khác (không nói thì ai cũng biết là người đồng chí của ông linh mục này) đến Sàigòn đặc trách biên soạn chương trình công dân cho học sinh trung học, rồi chính người đó lại nói chuyện về lịch sử đưa ra những con số quân lính Nhà Thanh tiến đánh Việt Nam ít hơn rất nhiều so với sự thưc như trên. Sự kiện này cho chúng ta thấy rõ Giáo Hội Công Giáo, một thế lực chỉ đạo chính quyền Ngô Đình Diệm, có chủ tâm làm hạ giá chiến công của Vua Quang Trung theo đúng chủ trương của Giáo Hội. Giáo dân được dạy dỗ rằng “không được tôn vi và thờ phương bất kỳ một nhân vân hay thần linh nào” như sách Leviticus (26:1) trong thánh kinh đã nói rõ.

KẾT LUẬN:

tượng đài Vua Quang Trung ở núi BânPhần trình bày trên đây cho chúng ta thấy rằng, khi viết mấy đọan văn trên đây, con chiên ngoan đạo (cuồng tín) Nguyễn Gia Kiểng có dã tậm phá bỏ cái tuyền thống văn hóa tôn vinh và thờ kính các vị anh hùng dân tộc của người Việt Nam bằng cách giảm thiểu con số quân lính Nhà Thanh xâm lăng Việt Nam, tức là giảm thiểu cái khó khăn và nguy hiểm mà Vua Quang Trung phải đối đầu và vượt qua. Dã tâm này bắt nguồn từ thánh kinh và cũng là bắt nguồn từ những lời dạy của Giáo Hội La Mã qua các ông truyền giáo hay các linh mục và Nhà Thờ Vatican mà ra.

Thế nhưng, dù cho Giáo Hội La Mã muốn nói gì thì nói, người dân Việt Nam ở trên toàn lãnh thổ từ Ải Nam Quan đế Mũi Cà Mâu vẫn coi Vua Quang Trung là vị đại anh hùng của dân tộc. Cũng vì thế mà người Việt Nam ở bất cứ nơi nào, ở trong nước cũng như ở hải ngoại, nếu có thể, cũng vẫn lập đền thờ thờ Ngài. Hàng nặm, cứ đến ngày 5 tháng Giêng Âm lịch, người ta vẫn tổ chức ngày lễ kỷ niệm Trận Đánh Đống Đa, một trong những trận đánh oai hùng nhất trong lịch sử Việt Nam và làm cho dân ta nở mày nở mặt với nhân dân thế giới.

 

Xin xem bài tiếp theo ...

CHÚ THÍCH


[1] Nguyễn Gia Kiểng, Tổ Quốc Ăn Năn (Paris: Tự Xuất Bản, 2001), tr 96.

[2] Nguyễn Gia Kiểng, Sđd., tr 157.

[3] Nguyễn Gia Kiểng, Sđd., tr. XI.

[4] Phạm Văn Sơn, Việt Sử Toàn Thư (Glendale, CA: Đại Nam), tr. 547.

[5] Hoàng Cơ Thụy, Việt Sử Khảo Luận – Cuốn 3 (Paris: Nam Á, 2002), tr. 813.

[6] Nguyễn Văn Bường, Việt Sử (Tự Xuất Bản), tr. 193.

[7] Nguyên Vũ, Ngàn Nặm Soi Mặt (Houston, TX: Văn Hóa, 2002), tr.298-301.

[8] Lý Chánh Trung, Tôn Giáo Và Dân Tộc (Sàigòn: Lửa Thiêng, 1973), tr. 66.

[9] Nguyễn Hiến Le, Đời Viết Văn Của Tôi (Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1986), tr. 99-101.

[10] Bernard B. Fall, The Two Vietnams (New York” Frederick A Praeger, 1964), p. 243.


Các bài liên hệ:

 

Trang Tôn Giáo