 |
bản in |
¿ trở ra mục lục
| 02 tháng 4, 2010 |
CHƯƠNG 11
CHÍNH SÁCH TUYÊN TRUYỀN SIÊU VIỆT CỦA VATICAN
VÀ BỌN VĂN NÔ CA-TÔ NGƯỜI VIỆT
Bản chất của những kẻ cực xấu KHÔNG CÓ khả năng nghĩ ra được lời hay, ý đẹp, tư
tưởng cao cả, tuyệt vời và những lời dạy vô tư vô vị lợi. Thế nhưng, chúng lại
ưa thích sử dụng những thứ này để tô vẽ cho bản thân, dương danh với thiên
hạ và cũng là để dễ dàng lừa bịp người đời một cách hữu hiệu hơn. Chính vì thế
mà chúng thường hay sử dụng những thủ đọan “đạo” hay “thuổng” (ăn
cắp) những thứ đó về làm của riêng, làm như là chính chúng là tác giả của những
thứ cao đẹp này. Giáo Hội La Mã là một thí dụ điển hình cho tình trạng như vậy.
Sở dĩ Giáo Hội La Mã có thói quen làm như vậy là vì Giáo Hội là tập thể của
những kẻ có tâm địa cực xấu và cực ác. Như đã nói ở trên, những kẻ cực xấu và
cực ác (vì bản chất) không thể hay khó có thể tự mình nghĩ ra những lời nói vô
tư, vô vị lợi, thánh thiện, tốt đẹp, cao cả và tuyệt vời. Nhưng vì nhu cầu phải
lòe đời và lừa bịp thiên hạ, bọn người này cố gắng tìm cách nói những lời cực kỳ
tốt đẹp để làm bức bình phong che đậy những việc làm đại gian đại ác của chúng.
Cũng vì thế mà chúng phải dùng những thủ đọan “đạo” hay “thuổng”
(ăn cắp) những lời nói thánh thiện, tốt đẹp, cao cả, tuyệt vời của những người
cực thiện và cực tốt để dương danh, tạo cơ hội thuận lợi cho chúng thi hành thủ
đoạn lòe đời và lừa bịp thiên hạ được hữu hiệu hơn. Đây là nguyên nhân tại sao
Giáo Hội La Mã đã phải sử dụng thuật ngữ với tất cả những hoa ngôn, mỹ ngữ và
danh xưng tốt đẹp hàm chứa những cái gì trân trọng nhất và kính mến nhất dành
riêng cho Giáo Hội La Mã để làm những bức màn nhung phủ kín những khu rừng tội
ác trong quá khứ và làm lạc hướng khiến cho người ta không để ý đến những mưu đồ
bất chính của giáo triều Vatican và tập đoàn tu sĩ áo đen đã làm và đang tiến.
Điển hình và rõ ràng nhất là Giáo Hội đã bịa đặt ra những chuyện (tín lý)
láo khoét như chuyện Chúa Ba Ngôi, ông Jesus chết ba ngày rồi bay lên trời, Nơi
Luyện Nguc (Purgatory), bán giấy xá tội (selling indulgences) Chúa chuyện
Đức Mẹ Đồng Trinh, chuyện giáo hoàng không lẫm lẫn, Đức Mẹ Maria hiện ra, ệvân,
vân, rồi dùng những danh xưng như “Hội Thánh duy nhất thánh thiên, công giáo
và tông truyền”, gọi tắt là “hội thánh” để nói về giáo hội. Đồng
thời, tất cả các tu sĩ đều được gọi là cha, đức cha, đức ông, đức tổng giám mục,
đức hồng y, đức thánh cha, và tất cả cái gì thuộc về hay là của Vatican đều có
chữ thánh hay chữ Chúa kèm theo, rồi lại viết hoa nữa (không kèm theo tên
người). Tất cả đều có một mục đích duy nhất là để lời bịp và lừa gạt người đời.
Chẳng hạn như, thánh địa, thánh kinh, thánh ngôn, thánh tử đạo, bánh thánh, rượu
thánh, nước thánh, thánh lễ, thánh tẩy, đất thánh (nghĩa địa của giáo
dân), dân Chúa, quỹ nhà Chúa. Tất cả những từ “thánh” đi kèm theo trên đây
chỉ là nước sơn hào nhoáng để đánh lừa người đời mà thôi. Dù rằng nó không những
không có giá trị đối với những người biết sử dụng lý trí để tìm hiểu sự vật và
những người biết rõ bộ mặt thật đạo đức giả, đại gian đại ác của Giáo Hội La Mã,
nhưng nó cũng là một thứ lợi khí rất hữu hiệu của Tòa Thánh Vatican để lừa gạt
bọn cừu non và những người ngu dốt và ít học.
Đặc biệt hơn nữa là trong khi đó thì giáo hội lại cho rằng, tất cả những
gì của hay thuộc về các tôn giáo và nền văn hóa không phải là Kitô giáo
đều là tầm thường, là xấu xa, là tội ác và cần phải sửa đổi theo tiêu chuẩn đạo
đức Ki-tô của Giáo Hội, nếu không thì phải bị hủy diệt. Lưu manh hơn nữa, giáo
hội còn cố ý sử dụng những từ ngữ mang nặng tính cách khinh rẻ và miệt thị nhất
để nói về tất cả những gì không thuộc về hay không phải là của Vatican. Kinh
sách của Nhà Thờ Vatican đều gọi các tôn giáo khác là "tà giáo". Sách Kinh Nhựt
Khoá, trang 707, gọi dân Việt Nam là "chim muông cầm thú". Sách Lịch Sử
Giáo Hội Công Giáo (Phần Nhất) của Linh-mục Bùi Đức Sinh (Saigòn: Chân Lý,
1972), sử dụng không biết bao nhiêu lần các từ "man di", "mọi rợ" và "dã man" để
nói thẳng hay ám chỉ những người hay nhóm dân thuộc các tôn giáo và văn hóa
khác. Trong mục có tựa đề là “Thái Độ Của Gíao Hội Đối Với Man Dân” từ
trang 200 đến trang 208, ông linh mục tác giả của cuốn sách này đã sử dụng từ
"man di" và “dã man” tới 26 lần. Sự kiện Giáo Hội La Mã và tất cả mọi
thành phần của tôn giáo này từ giáo hoàng cho đến những tín đồ thuộc loại bạch
đinh đều sử dụng những từ “vô thần”, "tà giáo", "tà đạo", "ngoại đạo", "vô đạo",
"man di", "dã man" và "mọi rợ" để nói về các tôn giáo hay văn hóa khác và
những dân tộc không thờ ông Jesus là những bằng chứng rõ ràng nhất cho cái đặc
tính trịch thượng, khinh rẻ và miệt thị tất cả những cái gì không phải là đạo
Ca-tô Rôma. Năm 1848, hai ông Karl Marx (1818-1883) và Friederich Engels
(1820-1895) công bố bản Tuyên Ngôn Cộng Sản. Kể từ đó, Vatican lại có thêm
từ “cộng sản” chụp mũ lên đầu bất cứ cá nhân hay thế lực hoặc tổ chức nào mà
giáo hội không ưa hay thù ghét.
Bản Tuyên Ngôn Cộng Sản được công bố vào năm 1848, thì 11 năm sau, năm 1859, nhà
bác học Charles Robert Darwin (1809-1882) cho công bố thuyết tiến hóa. Theo
thuyết lý khoa học này, loài người là kết quả của quá trình diễn biến lâu dài
hàng nhiều triệu năm từ một loài khỉ không có đuôi (ape) mà thành. Như vậy là
thuyết lý khoa học tự nó đã phủ nhận thuyết lý láo khóet của đạo Ki-tô cho
rằng con người là con cháu của Adam và Eva vốn là mấy cục đất sét do ông thần
tưởng tượng Jehovah của người Do Thái lấy đất sét nặn ra rồi hà hơi vào để biến
nó thành con người có đủ cả thất tình lục dục. Vì lẽ này mà Giáo Hội La Mã chống
lại tuyết lý tiến hóa một cách vô cùng quyết liệt. Giáo hội không những chỉ
chống đối quyết liệt lý thuyết khoa học này mà có sử dụng quyền lực ra lệnh cho
tín đồ và nhân dân dưới quyền không được cho vào troing chương trình học ở học
đường và cũng không được đọc và chứa chấp công trình nghiên cứu này. Đê tiện và
bỉ ổi hơn nữa, giáo hội còn tìm đủ một cách để nhạo báng chế nhiễn tác giả và
những người tin theo lý thuyến khoa học này là con cháu cú lòai khỉ với một
giọng khinh bỉ để diễu cợt.

Đây là một bức hình do bộ máy tuyên truyền của
Vatican sáct tác ra để hạ nhục nhà bác học Charles Darwin:
As
Darwinism became widely accepted in the 1870s,
caricatures of
Charles Darwin with an
ape or
monkey body symbolised evolution.[246]
In the 19th century, particularly after the publication of
On the Origin of Species in 1859, the idea that life had evolved was
an active.[60]
Kể từ đó, lý thuyết tiên hóa và những người tin theo lý thuyết này trở thành đề
tài cho giáo hội chống đối và chế diễu bằng cách gọi các nạn nhân là dòng giống
khỉ.
Cái thủ đoạn sử dụng những từ ngữ tốt đẹp để tô vẽ cho giáo hội và những gì
thuộc về giáo hội hoặc là dùng những lời lẽ cực kỳ xấu xa để gán cho các tôn
giáo hay nền văn hóa khác cũng như các thế lực hay cá nhân có những họat động
hay tác phẩm bất lợi cho giáo hội được gọi là chính sách tuyên truyền của Giáo
Hội La Mã. Chính sách này được điều khiển bởi một cơ quan gọi là Thánh Bộ Đức
Tin nằm ở ngay trong giáo triều Vatican. Cơ quan này có nhiệm vụ hoạch định
đường lối rồi ban hành những chỉ thị hướng dẫn phương cách tuyên truyền
cho các giáo phận và họ đạo tại các địa phương phải theo đó mà triệt để thi
hành. Một trong những nhiệm vụ của các giáo phận và họ đạo là phải thi hành
chính sách ngu dân theo phương cách giáo dục nhồi sọ và đào tạo các văn nô làm
cán bộ tuyên truyền cho giáo hội tại địa phương. Với kinh nghiệm đã sử
dụng xảo thuật nói láo từ thế kỷ 4, chính sách tuyên truyền của giáo hội đã đạt
đến mức độ siêu việt, siêu việt đến độ có thể biến trái núi thành con chuột,
những quân cướp ác độc, đầy những tội ác hiếp dâm trẻ em vị thành niên
thành các nhà tu hành với một bộ mặt hiền lành nhân hậu. Nói về mức độ siêu việt
trong kỹ thuật tuyên truyền hay nói láo của Giáo Hội La Mã, học giả
Phan Đình Diệm viết:
“Hàng ngàn năm, để bưng bít và che giấu bảy chương tội đối ngoại và một
chương tội đối nội là tám, nghệ thuật tuyên truyền của Giáo Hội Rôma phải đạt
đến chỗ cực kỳ ảo diệu, thiên biến vạn hóa, một nghệ thuật tuyên truyền thần
thánh, một nghệ thuật tuyên truyền nhồi sọ tuyệt vời: Giáo Hội là Thánh, Giáo
Hội là Mầu Nhiệm, Giáo Hội là Bí Tích, Giáo Hội là Hiền Thê Đức Giê-su, Giáo Hội
là Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền, Giáo Hội là Vương Quốc của
Thiên Chúa… Giáo Hội tự nhận cho mình hết tất cả những khái niệm cao cả thánh
thiện, vừa linh thiêng siêu hình, vừa hữu hình thế tục, chẳng bỏ sót một phạm
trù nào! Ngoài nghệ thuật tuyên truyền, Giáo Hội vẫn phải xây “vạn lý trường
thành đức tin” và buông bức “màn sắt thần học” lên đầu đoàn chiên. Mỗi tòa giảng
là cái loa tuyên truyền, dựa vào khoa thần học phù phép, ảo thuật biến “núi tội
thành con chuột”, “kẻ cướp mặc áo thày tu”, và “quỷ Satan có diện mạo ông thánh.”
[61]
Bản văn trên đây nói lên cái đặc tính đại lưu manh và đạo đức giả của Vatican
chuyên nghề lừa bịp người đời bằng thuật ngữ với những mỹ từ và danh xưng tốt
đẹp. Với những thủ đoạn lưu manh này, Giáo Hội La Mã đã thành công trong
việc làm cho những kẻ ít học, nhẹ dạ, dễ tin, không biết sử dụng lý trí dễ dàng
lầm tường và tin rằng tất cả những gì của hay thuộc về Giáo Hội đều tốt đẹp
nhất, cao cả nhất, tuyệt với nhất, và tất cả những gì thuộc về hay của những tôn
giáo và nền văn hóa khác đều xấu xa, đều tội ác, đều phải bị nguyền rủa và đều
phải bị khử diệt. Riêng đối với những gì có liên hệ với cá nhân hay thế lực
mà bị giáo hội cho là kẻ thù, tất nhiên là bị bộ máy truyền truyền của Vatican
chiếu cố rất kỹ. Đây là trường hợp Đảng Cộng Sản Việt Nam, Mặt Trận Việt Minh và
các nhà lãnh đạo của hai chính đảng cách mạng này. Đây cũng là lý do TẠI SAO
trong năm 2009, ông tu sĩ áo đen Nguyễn Hữu Lễ cùng với ông văn nô
cừu non Trần Quốc Bảo và đồng bọn của họ cho ra đời cuốn băng Sự Thật Về Hồ Chí
Minh.
Trở lại vấn đề mối ác cảm của nhân dân thế giới đối với Giáo Hội La Mã,
đọc qua bản văn trên đây của tác giả Phan Đình Diệm, những người bình thường chỉ
mới học xong lớp 3 bậc tiểu học cũng nhìn thấy rõ cái nguyên nhân khiến cho nhân
dân ở nhiều nơi trên thế giới có mối ác cảm đối với Giáo Hội La Mã.
Ấy thế mà giới tu sĩ áo đen và nhóm thiểu số cừu non người Việt lại không nhìn
ra sự thật lịch sử này. Lý do: Chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của đạo
Kitô với những thủ đoạn tuyên truyền để vừa bưng bít hay che giấu, vừa bóp
méo hay xuyên tạc những sự thật lịch sử, vừa tô vẽ và đánh bóng cho giáo hội,
tất cả đã làm cho mọi thành phần trong giáo hội hoàn toàn bị điều kiện
hóa, chỉ còn biết phát thanh và hành động theo lệnh truyền của Vatican mà thôi.
Họ hoàn toàn không biết gì về quốc sử, không biết gì về lịch sử thế giới và cũng
không biết gì về lịch sử Giáo Hội La Mã. Đặc biệt hơn nữa là chính sách ngu dân
này đã làm tê liệt tất cả những tế bào lý trí ở trong não bộ của họ. Vì thế mà
họ không còn khả năng sử dụng lý trí để tìm hiểu sự vật. Tình trạng bày đã khiến
cho họ không thể phân biết được sự khác nhau giữa phải và trái, giữa đúng
và sai, giữa thuận lý và nghịch lý, giữa lòng yêu nước và phản quốc,
v.v….Vì không được học quốc sử, cho nên họ không có lòng yêu nước mà chỉ có lòng
kính yêu Vatican và Giáo Hội La Mã mà thôi. Các khẩu hiệu “thà mất
nước, chứ không thà mất Chúa”, “Giữ đạo, chứ không giữ nước” và “Nhất
Chúa, nhì cha, thứ ba Ngô Tổng Thống” của họ là những bằng chứng nói lên sự
thật bi đát này ở trong tâm tư của giới tu sĩ áo đen và nhóm cừu non người Việt.
Ngay có cả những người dù không phải là giáo dân, những đã theo học các trường
Tây và trường đạo cũng trở thành hạng người vong phản phản dân tộc giống y hệt
như giới tu sĩ áo đen và con chiên ngoan đạo.
Điều đáng buồn hơn nữa là họ (giáo dân và những người tiếp nhận sở học qua các
trường đạo) không những trở thành vong bản phản quốc mà còn trở thành một hạng
người hết sức mất dạy. Tính cách mật dạy này đã được thể hiện ra qua cung cách
hành xử (1) của linh-mục Nguyễn Văn Lý trong phiên tòa xử ông ta vào ngày
30/3/207, ông ta có những thái độ và ngôn ngữ vô giáo dục ở ngay trước mặt
quan tòa, (2) của Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt khi ông ta nói chuyện với ông chủ
tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội Nguyễn Thể Thảo vào ngày 22/9/2008
bằng một thái độ và ngôn từ hỗn xược ngược ngạo bằng một câu nói để đời “Chúng
tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt
Nam. Đi đâu cũng bị soi xét chúng tôi buồn lắm chứ…”
[62]
Đối với họ, khi giao dịch bằng thư từ với những cá nhân hay thế lực đã bị
Vatican và công đồng Ca-tô coi là kẻ thù thì phải sử dụng những lọai ngôn từ mất
dạy vô văn hóa để xưng hô, chứ không được sử dụng những ngôn từ lịch lãm trong
xã hội của các dân tộc có văn hiến như các nước theo nền văn minh tam giáo cổ
truyền ở Đông Phương hay các dân tộc sống theo nếp sống dân chủ tự do như các
nước tiên tiến ở Bắc Mỹ, Âu Châu, Ấn Độ, v.v…. Cũng vì thế người viết mới
bị một ông bạn (vốn đã tiếp nhận sở học qua trường đạo) cự nự và miệt thị bằng
những ngôn từ thiếu văn minh chỉ vì trong bức Tâm Thư đề ngày 16/2/2009,
chúng tôi đã sử dụng cụm từ “thưa các Ngài” đối với các nhà lãnh đạo Việt
Nam hiện nay trong khi đó thi anh ta “im lặng” không nói gì trước đây hơn 10 năm
người viết cũng sử dụng chữ “thưa Ngài” khi viết lá thư đề ngày 19/9/1999 gửi
Giáo Hoàng John Paul II.
Vấn đề đặt ra là tại sao anh ta lại có thái độ thiên lệch như vậy?
Để giải thích thỏa đáng cho vấn đề này, chúng ta chỉ có thể nói là đối với
những người tiếp nhận sở học qua chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo
hội La Mã, trong đó kể cả những người theo học các trường đạo dù cho họ không
phải là tín đồ Ca-tô, hầu như đều bị điều kiện giống như con chó trong phòng thí
nghiệm của nhà bác học Pavlov thì họ có cái nhìn sự vật và sự việc thiên lệch
như vây. Nói cho rõ hơn, đối với họ, bất cứ cái gì của hay thuộc về Giáo Hội Lã
Mã đều là tôn quý và đều phải trân trọng, lịch lãm, v.v…, và tất cả những gì
không phải của hay không thuộc về Giáo Hội, đặc biệt là những cá nhân và thế lực
bị Vatican coi là kẻ thù, thì đều là vô giá trị, đều đáng khinh rẻ và phải miệt
thị bằng tất cả những thuật ngữ cực kỳ vô giáo dục đúng theo truyền thống nền
văn hóa Ca-tô đã có từ ngàn xưa.
Tình trạng này đã khiến cho tín đồ Kitô trở thành những quân mất gốc và sẵn sàng
hành động chống lại tổ quốc và dân tộc để phục vụ cho quyền lợi của Vatican được
ngụy trang là “bảo vệ đức tin” của họ. Sư kiện này được Linh-mục Trần Tam Tỉnh
nói rõ như sau:
“Ngoại trừ các cụm nhà thành thị dân chúng sống lẫn lộn, người công giáo thường
được tập trung lại thành làng xóm riêng, tách rời khỏi người lương, sống chen
chúc quanh tháp nhà thờ xây theo kiểu Tây, chọc lên trời, cao vượt lên khỏi lũy
tre. Bị đóng khung và được đoàn ngũ hóa bởi hàng giáo sĩ, họ trở thành một lực
lượng quần chúng, một lực lượng đáng ghê sợ khi cha xứ (linh mục quản nhiệm họ
đạo) kêu gọi họ đứng lên bảo vệ đức tin, bảo vệ nhà thờ.”
[63]
“Các linh mục đã thề biến giáo dân hiền lành vô tội thành những tên sát nhân
cuồng nhiệt.”
[64]
Giáo dân nào đã trở thành “tên sát nhân cuồng nhiệt” với tinh thần
quyết tâm chống lại tổ quốc để bảo vệ đức tin và bảo vệ nhà thờ thì
được Giáo Hội gọi là “ngoan đạo”, “sống theo đức tin Kitô” và “sống
theo lương tâm công giáo”. Cái “đức tin Kitô” và “lương tâm
công giáo” của họ khốn nạn như thế đó!
Chinh vì Giáo Hội La Mã luôn luôn sử dụng những thuật ngữ với những hoa ngôn, mỹ
ngữ và những danh xưng tốt đẹp để nói về tất cả những cái gì thuộc về hay
giáo hội và những thuật ngữ hàm chứa những ý nghĩa xấu xa, đê tiện và tội ác để
nói về những gì thuộc về hay của các tôn giáo và nền văn hóa, cho nên các
nhà giả viết sử mới cho rằng Giáo Hội La Mã là tập đoàn của những quân đạo đức
giả: Từ giáo hoàng cho đến các linh mục, sư huynh đều là những thứ “Nhạc
Bất Quần”, những tên đại lưu manh, những “vua bịp” đúng như học giả Phan
Đình Diệm đã nói ở trên, bọn người này chỉ là những “kẻ cướp mặc áo thày tu”.
Tất cả đều là hạng người bất khả tín, chuyên môn nói một đằng làm một nẻo.
Nói một đằng làm một nẻo là ngón nghề được Giáo Hội La Mã sử dụng nhỉều hơn cả
vì nó là công cụ hữu hiệu nhất để cho bọn Nhạc Bất Quần này lừa bịp bọn cừu non
và người đời. Rõ ràng nhất là giới tu sĩ đen và bọn văn nô cừu non người Việt
luôn luôn lớn tiếng rêu rao là chúng tranh đấu cho tự do tôn giáo và tôn trọng
quyền tự do tôn giáo của người khác, thế nhưng, trong thực tế, không bao giờ
chúng nghĩ và làm như vậy. Vấn đề này đã được trình bày khá rõ ràng trong Chương
5 ở trên có tựa “Về bài viết hiện tượng chia rẽ tôn giáo trên dỉên đàn điện
tử của Chu Tất Tiến.”
Thực ra, trong bất cứ xã hội nào, cũng có người tốt và kẻ xấu, và con số người
xấu luôn luôn nhiều hơn con số người tốt. Đây là quy luật xã hội. Xã hội con
chiên hay cừu non người Việt cũng không đi ra ngoài quy luật này. Hai loại người
này trong xã hội con chiên người Việt được học giả Charlie Nguyễn ghi nhận như
sau:
“Nhân dịp này, tôi xin kính gửi đến 10 vị nhân sĩ ký tên chung trong bức thư gủi
Giáo Hoàng Jean Paul II đã được đăng trên báo Vận Hội Mới Xuân Kỷ Mão (1999)
cũng như kính gửi đến toàn thể quí vị rằng quan tâm đến nền văn hóa và tiền đồ
dân tộc một số kinh nghiệm bản thân tôi về vấn đề Công Giáo và Dân Tộc như sau:
Chúng ta phân biệt hai loại người đối tượng: Loại người thứ nhất là các
tu sĩ Công Giáo và tập thể chính trị gia, trí thức Công Giáo lưu manh là bọn xưa
nay chỉ vì tư lợi mà gây nên rất nhiều tội ác chống lại nhân loại và dân tộc.
Đối với loại người này, chúng ta phải xác định họ là kẻ thù nguy hiểm và chúng
ta cần phải đấu tranh diệt trừ không thể khoan nhượng. Đứng đầu bọn này phải kể
đến Hội Đồng Giám Mục, những dòng tu đang biến đức tin Công Giáo thành một món
hàng béo bở để tận dụng khai thác làm giầu như dòng tu Đồng Công ở Missouri
chẳng hạn. Kế đến là bọn chính trị lưu manh đang ẩn nấp trong các đoàn thể ở nhà
thờ như Hiệp Sĩ Đoàn. Vào một lúc nào đó thuận tiện, chúng sẽ mau chóng biến
(các đoàn thể này – NMQ) thành những đoàn quân võ trang hoặc những đoàn
quân mật vụ hiếu sát như những đoàn thể của Linh-muc Hoàng Quỳnh, Lê Hữu Từ,
Le Roy, Trần Kim Tuyến. Loại người thứ hai là tuyệt đại đa số giáo dân,
những người mải lo làm ăn chất phác, chỉ vì thiếu hiểu biết, (cho nên) họ đã bị
các tu sĩ và trí thức lưu manh lừa gạt kích động vào những hoạt động phá hoại
đất nước mà họ vô tình không biết.”[65]
Bản văn trên đây cho chúng ta thấy rõ hai loại người trong xã hội cừu non người
Việt: loại người thứ nhất là những người cực xấu, cực ác, và lọai người
thứ hai là những người chất phác (thật thà, chân chất và hiền lành) thiếu hiểu
biết (ít học). Tuy nhiên, về loại người thứ hai, tác giả Charlie Nguyễn
lại không nói ra cái bản chất của họ là có máu tham lợi, háo danh, và thèm khát
quyền lực. Một phần của cái bản chất xấu xa ghê tởm này đã có sẵn trong máu của
họ (di truyền) do ông cha của họ vốn là những người “đi đạo lấy gạo mà ăn”
(tham lợi) hay “theo đạo để tạo danh đời” (háo danh và thèm khát quyền
lực), một phần là do việc giáo hội chủ trương thi hành chính sách khơi động và
nuôi dưỡng lòng tham lam ích kỷ của tín đồ và người đời rồi dùng miếng mồi lợi
lộc vật chất, chức vụ và danh vọng trong chính quyền, trong đạo và ở ngoài xã
hội để câu nhử những phường có máu tham lợi háo danh chạy theo bắt mồi để rồi
vướng mắc vào cái “trong Ca-tô” mà trở thành nô lệ hay làm tay sai cho Giáo Hội.
Câu nói “họ đã bị các tu sĩ và trí thức lưu manh lừa gạt kích động vào những
hoạt động phá hoại đất nước mà họ vô tình không biết.” là như vậy.
Cũng nên nói rõ là loại người thứ nhất phỉnh gạt loại người thứ hai bằng
cách sử dụng (1) những miếng mồi lợi lộc vật chất (những chiến lợi phẩm
cướp đoạt được của người dân bên làng lương hay trong những chiến dịch quân sự
“làm sáng danh Chúa” hoặc là tài nguyên quốc gia khi chính quyền lọt vào trong
tay chúng), (2) những chức vụ trong chính quyền cũng như ở ngòai xã hội (khi
chính quyền lọt vào trong tay chúng) và (3) bằng những bánh vẽ ”sẽ được Chúa
đền ơn”, “sẽ được bạn cho Hồng Ân Thiên Chúa”, “sẽ được Đức Mẹ
Hằng Cứu Giúp ban phép lành”, “sẽ được cho lên thiên đường hưởng nhan
Chúa đời đời”, vân vân, để biến họ thành “những tên sát nhân
cuồng nhiệt” trong các lực lương xung kích thực thi “những hoạt động phá
hoại đất nước” như ông Charlie Nguyễn đã nói ở trên.
Như vậy là trong xã hội con chiên hay cừu non người Việt, tất cả đều là những
người chống lại tổ quốc và dân tộc để phục vụ cho quyền lợi của Vatican qua sự
điều khiển của bọn quạ đen được hỗ trợ của bọn hoạt đầu chính trị cấu kết với
bọn trí thức lưu manh trong loại người thứ nhất như đã nói ở trên.
NÓI THÊM VỀ HAI LỌAI NGƯỜI
TRONG XÃ HỘI CỪU NON NGƯỜI VIỆT
Trong bản văn trên, ông Charlie Nguyễn có nói rõ hai loại người trong xã hội cừu
non người Việt, trong đó “loại người thứ nhất là các tu sĩ Công Giáo
và tập thể chính trị gia, trí thức Công Giáo lưu manh”, nhưng ông lại không
nói rõ ràng về tình trạng kiến thức què quặt và ngu dốt nhưng lại rất lưu
manh của họ. Phần lớn loại người này nắm giữ vai trò văn nô rất đắc lực trong bộ
máy truyền truyền của Tòa Thánh Vatican.
Họ đắc lực như thế nào?
Đắc lực về những hành động chạy tội cho Giáo Hội La Mã và về việc rèn luyện loại
người thứ hai trở thành hạng người vong bản “thà mất nước, chứ không thà mất
Chúa”, “giữ đạo, chứ không giữ nước” và thành “những tên sát
nhân cuồng nhiệt” rồi tổ chức họ thành những đạo quân thập tự địa phương làm
lực lượng xung kích để tiến hành những chiến dịch “hiệp thông cầu nguyện”
và “làm sáng danh Chúa” đánh phá chính quyền trong trường hợp chính quyền
không chịu khuất phục hay không thỏa mãn những yêu sách của Vatican đưa ra. Phần
trình bày dưới đây sẽ cho chúng ta thấy rõ hơn một vài nét đặc thù của loại
người thứ nhất và loại người thứ hai trong xã hội cừu non Việt Nam này.
A.- Loại người thứ nhất
trong xã hội cừu non mà ông Charlie Nguyễn nói tới trên đây chính là giới tu sĩ
áo đen mà người Pháp gọi là “bọn quạ đen” (les corbeaux noirs) cấu kết với bọn
trí thức (nửa mùa) và bọn họat đầu chính trị đồng đạo, trong đó có bọn văn nô
Ca-tô. Như đã nói nhiều lần ở trên, tất cả thành phần trong xã hội cừu non người
Việt đều dốt đặc cán mai táu về quốc sử, về lich sử thế giới và lịch sử Giáo Hội
La Mã. Điểm đặc biệt là họ lại không biết rằng họ dốt nát như vậy. Vì không biết
như vậy, họ mới băng xăng năng nỏ giống như một thứ ong non ngứa nọc ưa thích
nhẩy rào vào lãnh vực lịch sử, viết bừa, viết ẩu với mục đích duy nhất là để
lấp liếm, bào chữa và chạy tội cho Giáo Hội La Mã và cho những người đồng đạo
của họ về những việc làm tội ác chống lại nhân loại trong gần hai ngàn năm qua,
chống lại dân tộc và tổ quốc Việt Nam ta từ thế kỷ 16 cho đến ngày nay. Dưới
đây là những trường hợp điển hình cho sự kiện này:.
1.-
Nhóm tu sĩ và trí thức cừu non gồm các ông Nguyễn Gia Đệ, Lê Hữu Mục, Bằng
Phong, Phạm Xuân Thu, Trần Trung Lương, Trần Ngọc Thụ, Trần Văn Khả, Trần Cao
Tường, Lê Văn Lân, Vũ Huy Bá, Võ Long Tê, vân vân, viết cuốn ngụy sử
Trần Lục (Montréal, Canada, 1996) Ông Nguyễn Ngọc Quỳ đã có những lời nhận xét
thâm thúy về cuốn này.
[4]
2.- Lữ Giang (tức cựu thẩm phán Nguyễn Cần) viết Những Bí Ẩn Đàng Sau Cuộc
Thánh Chiến Tại Việt Nam (Garden Grove, CA, 1994) và cuốn Những Bí Ẩn Lịch Sử
Đàng Sau Cuộc Chiến Việt Nam (Garden Grove, CA, 1999), nhiều bài báo đăng trên
tờ tuần báo Saigòn Nhỏ của bà Đào Nương và phổ biến trên các diễn đàn điện tử ở
hải ngoại. Chúng tôi đã dành trọn Phần V gồm các Chương 17, 18, 19 và 20 trong
sách Thực Chất Của Giáo Hội La Mã để nói về tài nghệ lươn lẹo, xuyên tạc và bóp
méo lịch sử của ông văn nô cừu non này.
3.- Cựu luật-sư Nguyễn Văn Chức viết cuốn Việt Nam Chính Sử (Fall Church,
VA:TXB, 1992). Chúng tôi cũng đã dùng một phần của Chương 16 trong sách Thực
Chất Của Giáo Hội La Mã để nói về tình trạng dốt sử mà lại huênh hoang
khoác lác làm ra vẻ thông kim bác cổ để lừa bịp độc giả của ông văn nô cừu non
này.
4.- LM Vũ Đình Họat viết bộ Việt Nam Tôn Giáo Chính Trị Quan (Fall
Church, VA:TXB, 1991). Điểm đặc biệt của ông văn nô qụa đen này là đặc
tính La Mã hơn La Mã của ông ta trào ra trong từng trang trong tòan bộ sách này.
Vì thế mới có một tác giả và cũng là một con chiên người Việt ký tên là
Thuốc Sát Trùng viết một bài viết khá dài với tựa đề là “Vũ Đình Hoạt, ông đã
làm một việc không thích đáng, vì thế hại cho Giáo Hội, hại cho đất nước” để
lên án cuốn sách này. Bài viết này được đăng trong tờ bán nguyệt san Văn Nghệ
Tiền Phong Số 397 (tháng 8/1992) nơi các trang 25-28 và 73-76, trong đó có một
đoạn như sau:
“Linh mục không nên cay cú: Thú thực với ông Hoạt, tôi mới đọc hết Chương I
của ông thì muốn bỏ sách không muốn đọc nữa. Miệng ông cũng cay độc như kẻ phàm
phu qua câu chuyện hạt đỗ gặm trong đĩa xôi đậu hoặc câu chuyện Đỗ Thích
giết vua Đinh Tiên Hoàng để châm biếm ông Đỗ Mậu . “Văn là người”, bút
pháp của ông như thế chỉ thích hợp với kẻ phàm tục thích ăn thua với đời hơn là
từ tâm của một linh mục “peace maker!” “Tôi biết khi viết bài này tôi đã
không bác ái với ông, tôi đã xổ toẹt cuốn sách viết bằng tim óc của ông, làm mất
thanh danh của ông, làm buồn lòng ông…”
[66]
Đọc qua đoạn văn trên, chúng ta thấy trên một phương diện nào đó, ông Thuốc Sát
Trùng tương đối là có cái nhìn rộng hơn những người trí thức đồng đạo của ông.
Tuy nhiên, vì là một con chiên ngoan đạo, cho nên tác giả bài viết này cũng ở
trong tình trạng (A) không biết gì về sách lược của Vatican là (1) cấu kết với
các cương quyền địa phương để duy trì và củng cố quyền lực, (2) cấu kết với các
đế quốc xâm lược Âu Mỹ để bành trướng thế lực ra ngoài lục địa Âu Châu, (3) dựa
vào quyền lực của nhà nước để cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải theo đạo
Kitô, (4) tìm cách hãm hại những người bất khuất không chịu theo đạo, (B) không
biết rằng người Pháp đã gọi giới linh mục là “lũ quạ đen”.
5.- Nguyễn Gia Kiểng viết cuốn Tổ Quốc Ăn Năn (Paris TXB, 2001). Đã có
nhiều người nói và viết về những sai lầm và cố ý xuyên tạc lịch sử của tác
giả này.
6.- Các ông Dương Diên Nghị, Nguyễn Châu, Lương Văn Toàn, Lê Hữu Phú và
Hoàng Đức Phương viết cuốn Việt Nam: Cuộc Chiến Tranh Quốc Gia - Cộng Sản, Tập I
(San Jose, CA: TXB, 2002). Cuốn sách này đã được người viết nêu lên khá
nhiều sai lầm nơi Chương 10, sách Chân Dung Người Việt Quốc Gia. Chương
sách này có thể đọc online trên sachhiem.net.
7.- Cao Thế Dung viết cuốn Việt Nam Huyết Lệ Sử (New Orleans, Louisiana: Đồng
Hương, 1996).và nhiều sách khác. Trong sách Việt Sử Khảo Luận (cuốn 4), ông
Hoàng CơThụy nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng tác giả Cao Thế Dung viết “khá
mơ hồ lại còn rất lộn xộn” (trang 2150), viết “sai” (trang
2189), “Cao Thế Dung viết sai và còn nhiều sai lầm khác, không kể siết”
(trang 2283), “Thiết nghĩ khảo cứu và phê bình như thế là sai (vô tình hay cố
ý) làm cho độc giả hiểu lầm” (trang 2343), v.v…
8.- Lê Xuân Khoa viết cuốn Việt Nam 1945-1995 (Tập I (Bethesda, MD, 2004). Cuốn
sách này cũng đã được người viết nêu lên khá nhiều sai lầm nơi Chương 11, sách
Chân Dung Người Việt Quốc Gia. Chương sách này có thể đọc online trên
sachhiem.net.
9.- Minh Võ viết cuốn Ngô Đình Diệm Lời Khen Tiếng Chê (CA: Thông Vũ,
1998) Người viết xin miễn nói về ông văn nô cừu non này vì rằng cuốn sách này
còn tệ hơn những cuốn sách của các văn nô cừu non đã nói ở trên.
10.- Nhà giáo kiêm nhà văn Ca-tô Nguyễn Ngọc Ngạn tuyên bố khơi khơi
trong cuốn Paris By Night 81 rằng “Bắc Hàn không xâm lăng Nam Hàn”
và trong cuốn Xóm Đạo (Đông Kinh, Nhật Bản: Tân Văn, 2003), trong đó, thỉnh
thoảng ông cho xen vào một vào đoạn văn với dã tâm bóp méo sự thật lịch sử
để chạy tội cho Giáo Hội La Mã trong việc cấu kết với Đế Quốc Pháp trong việc
đánh chiếm Việt Nam làm thuộc địa. Chúng tôi đã viết tập sách Khi Nhà Văn Lạm
Bàn Lịch Sử để giúp cho tác giả Nguyễn Ngọc Ngạn có cái nhìn khá hơn về lịch sử
với hy vọng sẽ không còn cố ý hay vô tình tuyên bố ẩu về lịch sử như vậy
nữa. Tập sách này có thể đọc online trên sachhiem.net.
11.- Ông Vũ Hải Hồ bịa đặt ra chuyện Cựu Đại Sứ Pháp Jean Marie Mérillion
viết cuốn Sàigon Et Moi cũng không ngoài mục đích giống như các tác giả
của 10 trường hợp ở trên. Xin xem Phụ Bản các thư từ trao đổi giữa Tiến-sĩ Hoàng
Ngọc Thành và thư trả lời của Cựu Đại Sứ Pháp Jean Marie Mérillion in nơi
các trang 622-623 trong cuốn Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm
(San Jose, CA: Quang Vinh & Kim Loan & Quang Hiếu, 1994).
Tệ hại hơn nữa bọn văn nô cừu non người Việt này lại không biết chính họ ở trong
tình trạng vừa ngu (không biết sử dụng lý trí để tìm hiểu sự vật), vừa dốt đặc
cán mai về cả quốc sử lẫn lich sử thế giới và lịch sử đạo Kitô, cho nên họ
mới băng xăng năng nỏ nhẩy rào vào lãnh vực viết sử với mục đích duy nhất là
chạy tội cho Giáo Hội La Mã và cho bọn cừu non người Việt về những hành động
chống lại nhân loại trong gần hai ngàn nặm qua và chống lại tổ quốc và
dân tộc Việt Nam từ mấy thế kỷ nay. Chẳng bao giờ họ tự hỏi hay đặt ra vấn đề là
bản thân họ: (1) Đã từng theo học ngành sử không? (2) Có thấu hiểu những bước
tiến của loài người từ thuở hồng hoang cho đến thời đại văn minh tin học như
ngày nay không? (3) Có nắm vững những diến biến lich hay những động lực khiến
cho các cường quốc can thiệp vào Việt Nam không? (4) Có biết rẳng Giáo Hội La Mã
vốn có chủ trương thần quyền chỉ đạo thế quyền với quyết tâm thi hành chính sách
bất khoan dung đối với các tôn giáo khác và lao vào hố sâu vực thẳm tội ác mà
chúng tôi đã trình bày rõ ràng các chương sách nằm trong Phần I ở trên không? :
Suốt trong thời gian từ 1885 cho đến 1954 trên toàn lãnh thổ Việt Nam và trong
thời gian 1954-1975 ở miền Nam vĩ tuyến 17, bọn Việt gian cừu non làm tay sai
cho Vatican ngồi ở hậu trường sân khống chính trị đã kiểm sóat gắt gao môn
lịch sử. Tình trạng này đã làm cho những người tiếp nhận chính sách giáo dục ngu
dân và nhồi sọ của Nhà Thờ Vatican cũng đều (1) chỉ biết rất lơ mơ về quốc sử,
(2) hầu như không biết gì về sử thế giới, và (3) cũng không biết
một chút gì về những rặng núi của đủ mọi thứ tội ác của Giáo Hội La Mã chống
nhân loại trong gần hai ngàn năm qua.
Cũng vì thế mà các ông văn nô cừu non mới tự tung tự tác “múa gậy giữa vườn
hoang” (vũ trượng hoang viên), tha hồ tuyên bố ẩu tả về lịch sử hay múa bút
viết bừa bãi với chủ tâm lừa bịp người đời bằng cách bóp méo sự thật và xuyên
tạc lịch sử để chạy tội cho cả Giáo Hội La Mã và tập đoàn con chiên làm
Việt gian bán nước cho Vatican, cho Pháp, cho Nhật và cho Mỹ trong suốt chiều
dài lịch sử từ giữa thế kỷ 16 cho đến ngày nay.
Với thực trạng như vậy, cho dù họ đã tốt nghiệp đại học với văn bằng cử
nhân, thạc sĩ, tiến sĩ đi nữa, thì họ cũng chí có khả năng về kiến thức chuyên
môn của họ. Còn về kiến thức tổng quát, họ vẫn ở trong tình trạng què quặt, bất
quân bình. Đặc biệt về môn lịch sử họ lại càng không biết gì
cả hay chỉ biết lơ mơ và hiểu theo sự diễn dịch sai lạc của bọn văn nô con chiên
trong các tác phẩm đã được Giáo Hội La Mã chọn làm sách giáo khoa ở
bậc tiểu và trung học. Chúng ta gọi những lọai người này là “các ông trí thức
nửa mùa”.
Cũng nên biết là “kiến thức tổng quát” (thâu nhận ở bậc trung học) của
tất cả các ông trí thức nửa mùa trên đây đều ở trong tình trạng “què quặt” hay
“bất quân bình” (chỉ biết lơ mơ về quốc sử, không biết gì về lịch sử thế giới và
cũng không biết gì về lịch sử Giáo Hội La Mã).
Mục đích duy nhất trong việc viết sử của các ông này là
vừa để bào chửa chạy tội cho những việc làm tội ác của Giáo Hội La Mã chống
lại nhân loại (trong đó có Việt Nam) trong gần hai ngàn năm qua, vừa để
chạy tội cho tập đoàn con chiên làm Việt gian bán nước cho Vatican, cho Pháp,
cho Mỹ,
vừa để sỉ nhục và chưởi bới những tác giả có các tác phẩm nói lên
những sự thật về tội ác của Nhà Thờ Vatican đã cấu kết với Đế Quốc Xâm Lược Pháp
trong việc đánh chiếm và thống trị nước từ năm 1858 cho đến tháng 7 năm 1954 và
cũng là để vô hiệu hóa những tác phẩm lịch sử của các nhà viết sử chân chính..
Vì thế mà cho đến ngày nay, ở Miền Nam cũng như ở hải ngoại, không có một giáo
viên nào trong số các giáo viên tốt nghiệp Ban Sử Địa của các Đại Học Sư Phạm
Sàigòn, Đại Học Sư Phạm Huế và Ban Sử tại Phân Khoa Văn Khoa Sàigon có thể biên
sọan được một tác phẩm nói về bàn tay của Giáo Hội La Mã trong dòng Lịch Sử Thế
Giới hay trong dòng Lịch Sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại.
Điều đáng trách là có một số người vốn là những người tốt nghiệp từ trường Đại
Học Sư Phạm Sàigòn hay từ Trường Đại Học Sư Phạm Huế về môn Sử Địa và đã từng
phụ trách dạy môn Sử ở miền Nam Việt Nam trong nhiều năm trước ngày 30/4/1975,
không những đã không lên tiếng nói về bàn tay của Giáo Hội La Mã trong dòng lịch
sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại, mà lại còn viết sách hay những bài viết
có nội dung với chủ tâm lên tiếng bênh vực Nhà Thờ Vatican bằng cách lên
án những tác giả có những tác phẩm nói về những khu rừng tội ác của Nhà Thờ
Vatican và của chế độ đạo phiệt Ca-tô Ngô Đình Diệm là quá khích và chống
Thiên Chúa Giáo. Ông Trần Gia Phụng là một trường hợp điển hình cho tình trạng
này. Bằng cớ là ngày 25/11/2009, ông viết bài “Viết Cho Đúng Sự Thật” (phổ biến
rộng rãi trên các diễn đàn điện tử) trong đó có một đoạn như sau:
“Có một điều cần nhấn mạnh là cá nhân người nào làm thì người đó chịu trách
nhiệm, đừng vì cá nhân đó theo tôn giáo này hay tôn giáo khác mà đưa vấn đề
thành sự đối đầu tôn giáo rất nguy hiểm. Ví dụ tôi viết về chế độ Ngô Đình Diệm,
thì chế độ Diệm có điểm tốt mà cũng có điểm không tốt. Rủi một điều là cái điểm
không tốt nguy hại nhất cho chế độ Diệm chính là vụ cấm treo cờ Phật Giáo mà ai
đã từng ở miền Trung, nhất là ở Huế và Đà Nẵng đều thấy và biết. Chuyện này cũng
được các tác giả Ky-tô giáo viết lại, ví dụ cụ thể nhất là linh mục Cao Văn
Luận. Từ cái điểm không tốt mới nẩy sinh ra đủ thứ chuyện, làm sụp đổ chế độ
Diệm. Cái điểm không tốt này thuộc về trách nhiệm cá nhân hai ông Ngô Đình
Thục và Ngô Đình Diệm chứ không liên hệ gì đến Ky-tô giáo cả. Phải tách bạch
rõ ràng như thế để tránh những hiểu lầm đáng tiếc, những chụp mũ vu vơ.”[67]
Viết đoạn văn trên đây, ông Trần Gia Phụng đã tự phơi bày cho mọi người biết
rằng ông không biết gì để lịch sử Giáo Hội La Mã và cũng không biết TẠI SAO nhân
dân ở nhiều nơi trên thế giới lại có ác cảm mãnh liết đối với đạo Ki-tô
khiến cho Giáo Hoàng Benedict XVI đã nhìn nhận và phỉ bang mối ác cảm này. Điều
đáng buồn là ông (Phụng) “tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Huế, khoa Sử Địa vào năm
1965 và đã dạy môn sử tại nhiều trường trung học ở miền Nam Việt Nam cả mười năm
trời mà lại không biết sử thật lịch sử này!
Sự kiện này chứng tỏ rằng kiến thức về sử học của các ông Phụng còn
thua rất xa kiến thức sử của những người không phải là giáo viên dạy sử
nhưng họ đã bỏ công ra nghiên cứu để tìm hiểu những sự thật về lịch sử của
nước ta trong thời cận và hiện đại.
B.- Loại người thứ hai
mà học giả Charlie Nguyễn nói trong bản văn trên đây đã bị loại người thứ nhất
(tức là bọn quạ đen cấu kết với bọn trí thức và bọn họat đầu chính trị đồng đạo
của họ) biến họ thành “những tên sát nhân cuồng nhiệt” và được đoàn
ngũ hóa thành “những lực lượng quần chúng, một lực lượng đáng ghê sợ” tức
là “đạo quân thập tự địa phương” để làm lực lương xung kích cho các chiến
dịch “hiệp thông cầu nguyện” và “làm sáng danh Chúa” trong
các sách lược gây bạo loạn đánh phá các chính quyền và nhân dân không chịu khuất
phục hay không thỏa mãn những yêu sách ngang ngược của Giáo Hội La Mã. Đó
là các trương hợp (1) triều đình nhà Nguyễn trong thế kỷ 19 từ năm 1858 cho đên
1885, (2) thời kháng chiến 1945-1954, và (3) chính quyền Việt Nam hiện nay
từ năm 2001 cho đến bây giờ.
[60]
Nguồn ảnh:
http://www.wikipedia.org/wiki/Evolution+%22Theory+of+Evolution%22&cd=1&hl=en&ct=clnk&gl=us
[61]
Phan Đình Diệm. “Mea Culpa” Bài 3: Giáo Hội Công Giáo Roma La-tinh Cáo
Thú Tội Lỗi Ngàn Năm.”
www.kitohoc.com/Bai/Net066.htm
Ngày 4/5/2000 .
[62] Xin xem Thư Gửi Tổng
Giám Mục Ngô Quang Kiệt của người viết đề ngày 25/9/2008 trên sachhiem.net.
[63] Trần Tam Tình, Sđd., tr. 54.
[64] Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr 104.
[65] Charlie Nguyễn, Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm (Garden Grove, CA:
Giao Điểm, 2001), tr.29-30.
[66]
Thuốc Sát Trùng. “Vũ Đình Hoạt, ông đã làm một việc không thích đáng,
vì thế hại cho Giáo Hội, hại cho đất nước.”, Văn Nghệ Tiền Phong Số 397 –
Tháng 8/1992, tr. 25-28 và 73-76.
[67]
Trần Gia Phụng. “Viết Cho Đúng Sự Thật.” Nguồn:
http://www.tivituansan.com.au/Details.asp?nID=2538&scID=SCA060818152713G