THƯ NGỎ GỬI
NHÀ VĂN NGUYỄN NGỌC NGẠN (đoạn
chót)
Từ giữa thập niên 1990, nhóm Giao Điểm ở Hoa Kỳ ra
đời và cho phát hành những tác phẩm với chủ trương “Trừ Tà, Hiển Chánh
và Độ Sinh”, đặc biệt là từ tháng 4/2001, mang lưới giaodiem.com (được
chuyển đổi thành giaodiemonline.com từ tháng 8/2006) của nhóm này đưa
lên những bài viết nói rõ những thủ đoạn gian manh xảo trá cùng những
rặng núi tội ác của Giáo Hội La Mã trong gần hai ngàn năm qua và của
các chính quyền đạo phiệt Da-tô ở miền Nam Việt Nam trong những năm
1954-1975. Kể từ đó, bộ máy tuyền truyền của Giáo Hội (đặc biệt là bọn
văn nô Da-tô người Việt) đồng hóa hai chữ ”Giao Điểm” với hai chữ “Cộng
Sản”. Nhiều khi, bọn chúng còn đánh đồng hai chữ ”Giao Điểm” với hai
chữ “Hố Nai” như ông Da-tô Tú Gàn đã sử dụng trong bài viết “Lại trúng
kế địch!” (được đưa lên các diễn đàn điện tử vào 16/3/2007). Dưới đây là
đoạn văn này của ông Da-tô Tú Gàn:
“Riêng nhóm Giao Điểm Công Giáo, mỗi lần có biến cố
liên quan đến Linh-mục Nguyễn Văn Lý, mặc dù chẳng biết gì ở bên trong,
cứ dùng “thần học chống Cộng” để dạy dỗ Tòa Thánh Vatican và Hội Đồng
Giám Mục Việt Nam phải làm thế này, không được làm thế kia.”
Nhóm từ “Giao Điểm Công Giáo” trong bản văn này
phải được hiểu là “nhóm dân Hố Nai” hay đệ tử của Trần Lục, Nguyễn Bá
Tòng, Phạm Ngọc Chi, Lê Hữu Từ, Hoàng Quỳnh, Mai Ngọc Khuê, v.v…
Đó là độc kế của Giáo Hội La Mã (đúng ra là bọn văn
nô Da-tô người Việt trong bộ máy tuyên truyền của Giáo Hội) để làm hạ
giá và phá hoại uy tín và thanh danh của nhóm Giao Điểm, một nhóm có chủ
trương “Trừ Tà” như đã nói ở trên. Còn đối với cá nhân của những người
viết sử có những tác phẩm mà nội dung giống như nội dụng của các tác
phẩm Giao Điểm, bộ máy tuyên truyền của Giáo Hội La Mã và bọn văn nô
Da-tô sử dụng quái chiêu khác hết sức độc đáo. Đó là quái chiêu bới móc
đời tư và thêm thắt hay bịa thêm những chuyện xấu xa ghê tởm để gán cho
họ.
Cũng nên biết là từ cuối thập niên 1950, vì sự lộng
hành quá đáng của các ông tín đồ Da-tô di cư Bắc Kỳ ở miền Nam Việt Nam
(giống như bọn Kiêu Binh ở Thăng Long sau khi giúp Trịnh Khải đánh bại quân
lính của Trịnh Cán, Đặng Thị Huệ và Quận Huy để lên cầm quyền) , nhất là
trong giới sinh viên, mấy chữ “Hố Nai”, “Gia Kiệm”, “Cái Sắn” “Bùi
Chu”, “Phát Diệm”, “dân ngã tư” hay "chữ thập đeo ở ngực", “dân đấm ngực”, v.v…được sử dụng với
ngụ ý hoặc là ám chỉ những tín đồ Da-tô người Việt, hoặc là nói về tình
trạng cuồng tín và ngu xuẩn của bọn vong bản phản quốc “thà mất nước,
chứ không thà mất Chúa” của họ mà đại đa số là những đệ tử của những tên
đại Việt gian Da-tô như Trần Lục, Nguyễn Bá Tòng, Lê Hữu Từ, Hoàng Quỳnh
(Phát Diệm), Phạm Ngọc Chi, Mai Ngọc Khuê (Bùi Chu), Trần Đình Vận,
Nguyễn Bá Lộc, Đinh Xuân Hải, Nguyễn Lạc Hóa, Tô Dình Sơn, v.v...
Từ 2002, một quái chiêu khác nữa được bọn văn nô
Da-tô sử dụng với dã tâm làm hạ giá những tác phẩm có nội dung phơi bầy
những thủ đoạn và hành động đại gian đại ác của Giáo Hội La Mã và của
các chế độ cha cố tay sai của Giáo Hội. Đó là là quái chiêu nói rằng tác
giả những tác phẩm đó đã không tham khảo các tài liệu nguyên bản gốc hay
từ trong các văn khố quốc gia. Những tác phẩm càng có nhiều luận cứ bất
khả phủ bác và càng nêu lên được đầy đủ những bằng cớ chứng minh từng vụ
hay từng những tội ác của Giáo Hội La Mã cũng như của các chế độ cha cố
tay sai của Giáo Hội càng bị chiếu cố nhiều hơn. Quái chiêu này đã được
ông văn nô Da-tô Nguyễn Vy Khanh sử dụng trong bài viết 40 năm sau một
cuộc bội phản đăng trên mạng motgoctroi.com/StLichsu/40nscpboi ngày
2/11/2005, trong đó có một đoạn với nguyên văn như sau:
“Nếu lướt qua những tài liệu chúng tôi đã tham-khảo
về biến cố đảo-chánh 1-11, xin lược lại đây một số ý kiến: một số người
(Nguyễn Mạnh Quang,...). không tham khảo nguyên bản, chỉ lập lại lời
người khác, hoặc trích lời dịch từ những nguyên bản tiếng ngoại ngữ có
thể bất khả tín. Người khác, như Trần Ngọc Ninh (40 Năm Sau (41)), một
cựu ủy viên tương đương bộ-trưởng của miền Nam, 40 năm sau đảo-chánh mà
không cập nhật tài liệu và khám phá mới, đọc ông cứ như mới viết sau
đảo-chánh thời cao trào Phật giáo hoặc suýt gây thánh chiến với Công
giáo… “Nguyễn Vy Khanh. “40 năm sau một cuộc bội phản.” motgoctroi.com
Ngày 2/11/2005.
Sau đó, ông văn nô Da-tô này còn đưa ra một loạt
những tác phẩm của những người đồng đạo (người Việt và người nước ngoài)
hay những người đã chịu ơn mưa móc của các chế độ đạo phiệt ở miền Nam
trong những năm 1954-1975 và của một số văn nô khác mà ông ta cho là có thể
giúp ích cho việc tìm hiểu lịch sử. Dưới đây là nguyên văn lời ông ta viết:
"Tài-liệu hoặc tác giả có thể tin hoặc giúp ích cho
nghiên cứu về biến cố có: LM Cao Văn Luận (Bên Giòng Lịch-Sử, 2 ấn bản
khác nhau, 1972 & 1983 ở hải-ngoại), Hoàng Lạc & Hà Mai-Việt (Nam
Việt-Nam 1954-1975: những sự thật chưa hề nhắc tới. 1990), Nguyễn Trân
(Công Và Tội: những sự thật lịch sử; hồi-ký lịch sử chính trị miền Nam
1945-1975. 1992); Hoàng Ngọc Thành và Thân Thị Nhân Ðức (Những Ngày Cuối
Cùng Của Tổng-Thống Ngô đình Diệm. 1994, một điều tra lịch-sử khá khách
quan (43); bản dịch ra tiếng Anh: President Ngô Dình Diêm and the US:
his overthrow and assassination. 2001), Phan Văn Lưu (Biến Cố Chính-Trị
Việt Nam Hiện Ðại. 1994), Vĩnh Phúc (Những Huyền Thoại Và Sự Thật Về Chế
Ðộ Ngô Ðình Diệm. 1998), Minh Võ (Ngô Ðình Diệm: Lời Khen Tiếng Chê.
1998), Huỳnh Văn Lang (Nhân Chứng Một Chế Ðộ, 3 tập), Nguyễn Hữu Duệ
(Nhớ Lại Những Ngày ở Cạnh Tổng-Thống Ngô đình Diệm. 2003),... Cũng như
những ấn phẩm xuất-bản trong nước trước 1975 như của Lê Tử Hùng, Ðỗ Thọ,
Lương Khải Minh và Cao Vị Hoàng, Minh Hùng Nguyễn Văn Bảo, v.v..”
Phía tác-giả ngoại quốc, trước hết phải kể đến
những tài liệu giải mật của Pentagon (44), của chính quyền Hoa-Kỳ, Bản
tường trình của Phái đoàn điều tra LHQ (công bố ngày 13-12-1963 chứ
không bị chìm xuồng như một đôi người viết (45)), B. S. N. Murti
(Vietnam divided; the unfinished struggle, 1960, tb 1964), Dennis J.
Duncanson (Government and Revolution in Vietnam. 1968), Marguerite
Higgins (Our Vietnam Nightmare, 1965), R. Shaplen (The Lost Revolution.
1965), Ellen J. Hammer (A Death in November: America in Vietnam, 1963.
1987), Frederick Nolting (From Trust to Tragedy: the political memoirs
of Frederick Nolting, Kennedy's ambassador to Diem's Vietnam. 1988),
Anne E. Blair (Lodge in Vietnam: a Patriot Abroad. 1995), Francis X.
Winters (The Year of the Hare: America in Vietnam, January 25,
1963-February 15, 1964; xuất-bản 1997, từ tài liệu giải mật Foreign
Relations of the U.S. 1961-1984.”
Tiếp theo, ông ta đưa ra rất nhiều tác phẩm mà ông ta cho
là bất khả tín. Dưới đây là nguyên văn lời ông ta viết:
“Những tài-liệu hoặc tác giả sau dùng được nhưng đề
cao cảnh giác: Bùi Diễm (In the Jaws of History. 1987; Gọng Kìm Của
Lịch-Sử. 2000); Trần Văn Ðôn (Our Endless War: inside Vietnam. 1978;
Việt Nam Nhân Chứng. 1989), Nguyễn Cao Kỳ (How we lost the Vietnam War.
1976; Buddha's Child: my Fight to Save Vietnam. 2002), Phạm Văn Liễu.
Trả Ta Sông Núi. Tập 1&2, 2002-, Nguyễn Ngọc Khôi (“Những sai lầm của Ðệ
Nhất Cộng Hòa” (46)), Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của Ðỗ Mậu (1986),
Việt Nam: Một Trời Tâm Sự (1987) của Nguyễn Chánh Thi, 20 Năm Binh
Nghiệp, tức Nghĩa Biển Tình Sông. 1998) của Tôn Thất Ðính - đều là những
biện hộ không khéo hoặc quá đánh bóng cá nhân, Những bịa đặt, xuyên tạc
của những Ðệ Nhất Phu Nhân của Hoàng Trọng Miên, Ðảng Cần Lao (1971) của
Chu Bằng Lĩnh tức Mặc Thu, Việt Nam Ðệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1963
(1998) của Nguyễn Mạnh Quang, Những Bí ẩn Lịch-sử Dưới Chế độ Ngô đình
Diệm, Những Con Thò Lò Chính-Trị ... và tương cận của Lê Trọng Văn,
những bài viết và ấn-phẩm của nhóm Giao Ðiểm ở Cali và ở trong nước, cả
cuốn Sáu Tháng Pháp Nạn của Vũ Văn Mẫu, cựu ngoại trưởng đã cạo đầu từ
chức nhân biến cố Phật Giáo 22-8-1963 và cũng là thủ tướng hai ngày
(28-4-1975) của tổng-thống cộng-hòa cuối cùng Dương Văn Minh, đã viết
cuốn này lúc còn ở trong nước và in ronéo năm 1984, đến 2003, TT Thích
Mãn Giác viết tựa và nhóm Giao Ðiểm in lại ở Nam California."
Ngay sau khi quái chiêu này được đưa lên các diễn
đàn, có một số người Việt hải ngoại vốn đã từng được các chế độ cha cố
ở miền Nam ưu đãi và vẫn còn bám vào cái trò hề “chính nghĩa quốc gia”
[do Liên Minh Pháp – Vatican đạo diễn được đưa ra vào đầu tháng 6 năm
1948 với ý đồ làm giảm bớt cái gánh nặng mặc cảm “Việt gian phản quốc”
của bọn cuồng nô vô tổ quốc “Thà mất nứớc, chứ không thà mất Chúa”] liền
dựa vào lập luận trên đây của ông Da-tô Nguyễn Vy Khanh để chê bai, dè
bỉu và hạ giá những tác phẩm của nhóm Giao Điểm và cho rằng tác giả của
những tác phẩm này đã “không tham khảo nguyên bản, chỉ lập lại lời người
khác, hoặc trích lời dịch từ những nguyên bản tiếng ngoại ngữ có thể bất
khả tín.” Họ nhắc lại nguyên văn câu nói trên đây như con vẹt, giống y
như tín đồ Da-tô nhắc lại câu nói “cầu cho chúng tôi” trong giờ lễ ở
trong các nhà thờ mà không biết rằng:
1.- Những lập luận trong tác phẩm đó thuận lý hay
nghịch lý?
2.- Những sự kiện nêu lên trong tác phẩm đó đúng
hay là sai?
3.- Những tài liệu được tham khảo để biên soạn tác
phẩm đó khả tín hay bất khả tín?
4.- Những bằng cớ nêu lên trong tác phẩm để chứng
minh những việc làm tốt đẹp hay tham tàn độc ác của các tác nhân lịch
sử khả tín hay bất khả tín?
5.- Con người và lời nói của ông Da-tô Nguyễn Vy
Khanh có thể tin được không?
6.- Ở trong các hàng chục ngàn thư viện, hàng trăm
ngàn trường đại học và trung học ở Hoa Kỳ có hàng triệu triệu cuốn sách
sử thuộc loại biên khảo (chứ không phải sưu khảo) cũng “không tham khảo
nguyên bản, chỉ lập lại lời người khác, hoặc trích lời dịch từ những
nguyên bản tiếng ngoại ngữ” mà vẫn được các hội đồng các giáo sư ban sử
chọn làm sách giáo khoa cho học sinh sinh viên nhà trường. Nếu họ chịu
khó vào các thư viện, vào các trường trung học và đại học ở Hoa Kỳ để
tìm đọc những cuốn sách sử được nhà trường dùng làm sách giáo khoa cho
các lớp học và giữ trong thư viện của trường để cho các học sinh sinh
viên tham khảo, họ sẽ biết được có bao nhiêu cuốn thuộc loại “tham khảo
nguyên bản”, và có bao nhiêu cuốn thuộc loại “không tham khảo nguyên
bản, chỉ lập lại lời người khác, hoặc trích lời dịch từ những nguyên bản
tiếng ngoại ngữ.?”
Tiếc rằng họ không phải là người được đào luyện
trong ngành sử học, không phải là người tốt nghiệp ở đại học Hoa Kỳ hay
các nước khác ở ngoài miền Nam Việt Nam về môn sử học và cũng chưa hề đi
dạy môn sử tại một trường học nào (bất kể là trung học hay đại học) ở
Hoa Kỳ, cho nên họ mới nói ẩu một cách khơi khơi như vậy, giống như nhà
văn Nguyễn Ngọc Ngạn khi ông ta hứng chí xé rào nhào sang lãnh vực lịch sử để
dạy đời về môn học này như ở trong cuốn Xóm Đạo và trong cuốn băng văn
nghệ Paris By Night 81 như đã trình bày ở trên.
Được biết những người sử dụng lập luận trên đây của
ông Da-tô Nguyễn Vy Khanh cũng là những người tự phong cho mình là
trí thức vì họ đã từng theo học tại các trường Văn Khoa, Quốc Gia Hành
Chánh hay trường luật và đã học xong bậc cử nhân, cao học hay tiến sĩ ở
miền Nam Việt Nam. Nhưng khốn nỗi, trình độ hiểu biết về lịch sử thế
giới và lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại của họ cũng không
hơn gì trình độ hiểu biết về lịch sử của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn và
cũng không hơn gì những người chỉ mới học xong bậc trung học thuộc các
ban A và B trong chương trình học tại miền Nam Việt Nam trong những năm
1954-1975 hay ở các trường đạo của Giáo Hội La Mã.
Tuổi đời đã lớn và khả năng ngoại ngữ, đặc biệt là
Anh ngữ hay Pháp ngữ, cũng hữu hạn là hai yếu tố làm cho nhiều người
Việt hải ngoại muốn tìm đọc lịch sử thế giới và lịch sử Giáo Hội La Mã
rất là khó khăn. Đây là tình trạng của một số khá đông trí thức Việt Nam
đã có bằng cử nhân, cao học và tiến sĩ tốt nghiệp từ các trường ở miền
Nam Việt Nam trước ngày 30/4/1975. Thực ra, NẾU họ quyết tâm dồn hết mọi
nỗ lực vào việc trau dồi Anh ngữ hay Pháp ngữ, nhất quyết để tâm vào
việc tìm đọc lịch sử thế giới, tìm đọc những tài liệu lịch sử liên quan
đến những hoạt động của Giáo Hội La Mã trong việc cấu kết với các đế
quốc thực dân xâm lược Âu Châu như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Bỉ và Pháp
trong việc chinh phục đẫt đai ở ngoài lục địa Âu Châu làm thuộc địa và
nô lệ hóa các dân tộc nạn nhân tại các vùng này, đặc biệt là những hoạt
động của Giáo Hội trong việc vận động Pháp cấu kết với Vatican đem quân
đánh chiếm Việt Nam để cùng thống trị và cùng nô lệ hóa dân ta, THÌ, họ
sẽ hiểu rõ được bộ mặt thật vô cùng ghê tởm của Giáo Hội La Mã và họ
cũng đã có thể làm được những gì mà ông Charlie Nguyễn, Bác-sĩ Nguyễn
Văn Thọ, Linh-mục Trần Tam Tỉnh và ông Giuse Phạm Hữu Tạo đã làm. Khốn
nỗi, VÌ rằng vừa hèn nhát, không đủ can đảm (không có cái dũng của kẻ
sĩ) để dám nói thẳng và nói thật (sợ bị lũ côn đồ “nhất Chúa, nhì cha,
thứ ba Ngô Tổng Thống” khủng bố), vừa không đủ nhẫn nại, kiên tâm trì
chí ngồi trong các thư viện để tìm hiểu những sự kiện lịch sử trên đây,
vừa ham hố cái danh hão trong cộng đồng của những người “hoài Ngô” và
những người tự phong là “người quốc gia” chiến đấu cho cái trò hề “chính
nghĩa quốc gia” mà Liên Minh Pháp – Vatican đã đạo diễn cho ông Bảo Đại
làm bung xung vào hồi đầu tháng 6 năm 1948, CHO NÊN họ đã không thể làm
được những gì như ông Charlie Nguyễn, Bác-sĩ Nguyễn Văn Thọ, Linh-mục
Trần Tam Tỉnh và ông Giuse Phạm Hữu Tạo đã làm.
Không làm được những gì mà người khác đã làm được,
tất nhiên là ở vào tình trạng thua kém người ta trong lãnh vực đó. Kinh
nghiệm cho thấy rằng những người háo danh mà ở vào tình trạng thua kém
những người khác (được xem như là đồng đẳng với mình) thì hay sinh lòng
đố kị tị hiềm. Chính vì lòng đố kị tị hiềm này mà đã có nhiều người cố
gắng bấu víu lấy cái lập luận trên đây của ông Da-tô Nguyễn Vy Khanh để
dè bỉu, chê bai và gièm pha với dã tâm làm hạ giá những tác phẩm sử của
anh em trong nhóm Giao Điểm và của những người mà ông Da-tô Nguyễn Vy
Khanh đã nêu đích danh trong bản văn mà chúng tôi đã trích dẫn ở trên.
Có lẽ họ làm như vậy là để nâng cao giá trị của họ hay để chứng tỏ cho
mọi người biết rằng họ mới là người thấu hiểu lịch sử. Thật là tội
nghiệp cho họ!
Thực ra, ông Nguyễn Vy Khanh vốn là một tín đồ
Da-tô thuộc loại “bế ngửa”. Ngay từ thuở mới chào đời, ông đã được nuôi
dưỡng và giáo dục theo chính sách ngu dân và nhồi sọ của Giáo Hội La Mã
để trở thành một tín đồ cuồng tín có đầy đủ những đặc tính của một tín
đồ Da-tô cuồng tín với niềm tin “Tà giáo là sai lầm và tội ác, Da-tô là
đúng và tốt đẹp” (Pagans are wrong, Christians are right), phải sống
theo tinh thần của những khẩu hiệu “Thà mất nước, chứ không thà mất
Chúa” và “Nhất Chúa, nhì cha, thứ ba Ngô Tổng Thống”. Vì thế mà ông ta
vừa không biết gì về những bước tiến của nhân loại từ thuở loài người ở
trong hang trong hốc cho đến thời đại tin học như ngày nay, vừa không
thấu hiểu chính xác lịch sử nước nhà trong thời cận và hiện đại, vừa
thiển cận, vừa nặng đầu óc kỳ thị và không có đức tính vô tư đối với những
việc làm văn hóa của những người khác tôn giáo với ông ta. Sự kiện này
hoàn toàn trái ngược với những người được rèn luyện theo chính sách giáo
dục tự do và khai phóng trong xã hội Tam Giáo Đồng Nguyên ở Đông Phương
hay trong các xã hội dân chủ tự do như ở Bắc Mỹ và Tây Âu ngày nay để
trở thành những người có đầy đủ những đức tính thành thật, thẳng thắn,
công minh, chính đại, liêm chính, vô tư, công bằng, đại lượng, khoan
dung, nhân ái và phải sống theo cái triết lý “kỷ sở bất dục, vật thi ư
nhân.” (Đừng cưỡng bách hay đòi hỏi những người khác phải làm những điều
mà chính mình không muốn bị cưỡng bách hay đòi hỏi phải làm như vậy.)
Ngoài ra, ông Nguyễn Vy Khanh không phải là người
được đào luyện trong ngành sử học, và cũng không hề có một văn bằng nào
trong ngành sử. Hơn nữa, ông lại mang căn bệnh dị ứng đối với môn lịch
sử thế giới với toàn bộ những bài học lịch sử về những bước tiến của
loài người từ thuở hồng hoang cho đến thời tin học như ngày nay, dị ứng
đối với những tài liệu nói về những việc làm tội ác của Giáo Hội La Mã
và của các nhà lãnh đạo cũng như của các hàng giáo phẩm và giới tu
sĩ Da-tô trong Giáo Hội trong gần hai ngàn năm qua. Tất cả những yếu tố
này đã làm cho ông trở thành con người thiển cận, lòng dạ hẹp hòi, kiến
thức nông cạn với cái nhìn lịch sử thu hẹp giống như một thứ “ếch ngồi
đáy giếng”, chỉ biết dành hết cảm tình đặc biệt cho Giáo Hội La Mã và
cá nhân và chế độ cha cố Ngô Đình Diệm, bất kể là Giáo Hội đã gây
nên những rặng núi tội ác trùng trùng trùng như hàng chục rặng Hy Mã
Lạp Sơn, bất kể là chế độ cha cố Ngô Đình Diệm thực sự là một trong
những chế độ đạo phiệt Da-tô tàn ngược nhất trong lịch sử Việt Nam và nhân loại.
Đây là sự thật lịch sử và sự thật đã được sử gia Nigel Cawthorne đã cẩn thận quy liệt tên tam đại
Việt gian họ Ngô này vào trong cuốn sách có tựa đề là TYRANTS History’s
Most Evil Despots & Dictators (London, Arcturus, 2004)..
Cũng nên biết trong số 100 tên bạo chúa độc ác nhất
trong lịch sử nhân loại do sử gia Nigel Cawthorne nêu lên trong cuốn
TYRANTS History’s 100 Most Evil Despots & Dictators (London:Arcturus,
2004), [bỏ ra ngoài 15 tên trong thời cổ đại (thời kỳ này Giáo Hội La Mã
chưa ra đời), còn lại 85 tên trong các thời trung đại, cận đại và hiện
đại], con số những tên bạo chúa Da-tô chiếm tới 50% [trong đó có những
tên bạo Chúa Á Châu như Lý Thừa Vãn (Nam Hàn) Ngô Đình Diệm (miền Nam
Việt Nam) và Ferdinand Marcos (Phi Luật Tân)], trong khi toàn thể con số
tín đồ Da-tô ở trên thế giới chưa tới 1/7 dân số thế giới ngày nay.
Vì trình độ hiểu biết lịch sử nông cạn như vậy, vì
mắc phải căn bệnh thiên vị của một tín đồ Da-tô cuồng tín như vậy, cho
nên ông Da-tô Nguyễn Vy Khanh không có khả năng căn bản sử học và cũng
không có đủ tư cách vô tư để nhận xét một tác phẩm lịch sử có liên hệ
đến những việc làm bất chính, đại gian đại ác của Giáo Hội La Mã
và của
chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm, một chế độ mà ông ta đã và luôn
luôn hết lòng tôn vinh. Đặc biệt hơn nữa, vì không được đào luyện trong
ngành sử học, cho nên ông ta không biết gì về những nguyên tắc viết sử của
những người ở trong ngành sử học. Nguyên tắc này được nhà viết sử Ruth
Pelz ghi nhận như sau:
"Người viết sử phải đọc nhiều sách sử, báo chí cùng
các tài liệu lịch sử khác cũng như phải tìm hiểu nhiều hình ảnh và các
dụng cụ hay đồ vật khác. Tất cả những tài liệu này giống như những mảnh
vụn dùng làm dữ kiện cho việc tìm ra những lời giải đáp cho một ô đố
chữ. Người viết sử phải thâu thập càng nhiều dữ kiện càng tốt để rồi cố
gắng sắp xếp những dữ kiện đó thành một câu chuyện về lịch sử của mình." Nguyên văn: People who write about history study all these things. They
read books, letters, newspapers, magazines, and other written things.
They look at photographs and paintings, and they study old objects. All
of these things are like pieces of a puzzle. History writers gather as
much information as they can find. Then they try to fit all these pieces
toghether into a story.”Ruth Pelz,. Our Region: The Pacific Northwest
(Salt Lake City, Utah: Peregrine Smith Inc., 1987), p. 128.
Cũng nên biết trong thời các chế độ đạo phiệt Da-tô
Ngô Đình Diệm và quân phiệt Da-tô Nguyễn Văn Thiệu tác oai tác quái ở
miền Nam Việt Nam trong những năm
1954-1975, nhóm thiểu số tín đồ Da-tô, trong đó có ông Nguyễn Vy Khanh,
được coi là thành phần nòng cốt nằm trong giai cấp thống trị của chế độ,
được nhẩy lên bàn độc múa may quay cuồng trên sân khấu chính trị, thao
túng tiền ngoại viện, kiểm soát chặt chẽ tất cả mọi sinh họat trong xã
hội, tha hồ múa gậy giữa vườn hoang, tha hồ phè phỡn trên mồ hôi nước
mắt của đại khối nhân dân thuộc các tôn giáo khác nằm trong giai cấp bị
trị. (Xin xem tiểu mục vấn nạn Giáo Hội La Mã, trong Mục XXIII, Phần V,
trong bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã.)
Là một phần tử được biệt đãi như vậy và lại là một
tín đồ Da-tô cuồng tín với tất cả những đặc tính của một tín đồ Da-tô
cuồng tín, tất nhiên là ông Nguyễn Vy Khanh chỉ biết cúi đầu ngoan ngoãn
tôn vinh tất cả những gì của Giáo Hội Hội hay thuộc về Giáo Hội cũng
như tất cả những gì của hay thuộc về chế độ phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm,
một chế độ mà chính bản thân ông đã từng được hưởng những đặc quyền đặc
lợi như đã nói ở trên. Với thực trạng như vây, làm sao ông ta lại không
có ác cảm đối với những tác phẩm lịch sử có đề cập đến những việc làm
khuất tất và tội ác của Giáo Hội La Mã trong gần hai ngàn năm qua, và
nói đến những tội ác, những việc làm bất chính của các chế độ cha cố ở
miền Nam trong những năm 1954-1975?
Nói đến những đặc tính cuồng tín của một tín đồ
Da-tô, thiết tưởng cũng nên ghi lại đây những đặc tính này để quý vị suy
ra được cái đặc tính thiên vị lệch lạc trong cái nhìn đối với lịch sử
của những tín đồ Da-tô cuồng tín người Việt trong đó có ông Da-tô Nguyễn
Vy Khanh. Dưới đây là những đặc tính này:
1.- Tuyệt đối tin tưởng và triệt để tuân hành lệnh
truyền của Tòa Thánh Vatican.
2.- Tuyệt đối vâng lời các đấng bề trên trong hệ
thống quyền lực của Giáo Hội La Mã.
3.- Vong bản, phản dân tộc, phản tổ quốc. (Bằng
chứng cho sự kiện này là những hành động của tín đồ Da-tô cuồng tín
người Pháp trong thời kỳ Cách Mạng từ tháng 7 năm 1789 cho đến đầu thế
kỷ 20, những hành động của tín đồ Da-tô người Việt ở Việt Nam từ năm
1858 cho đến ngày 30/4/1975, và ở hải ngoại từ năm 1975 cho đến ngày
nay, khẩu hiệu “nhất Chúa, nhì cha, thứ ba Ngô tổng thống” được lưu hanh
ở trong các cộng đồng Da-tô người Bắc Kỳ di cư ở miền Nam trong những
năm 1954-1963, lời hô hào “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” của
Linh-mục Hoàng Quỳnh vào mùa hè năm 1964 để kêu gọi và dạy dỗ giáo dân
phải theo đó mà hành xử.)
4.- Ít nhất đi nhà thờ một tuần một lần hay đến
trước bàn thờ Chúa ở trong nhà cầu nguyện mỗi ngày từ một đến bốn hoặc
năm lần.
5.- Coi tất cả các ông tu sĩ Da-tô như là đại diện
cho Chúa ngay cả vào khi họ không làm lễ, và tin rằng các ông tu sĩ này
đều có quyền năng giống như các ông Chúa Cha Jehovah, Chúa con Jesus.
6.- Nặng lòng mê tín, dị đoan, thật lòng tin hết
tất cả những chuyện hoang đường nhảm nhí do Giáo Hội La Mã hay các ông
tu sĩ Da-tô rao truyền hay phổ biến.
7.- Thiển cận, chỉ tin vào những chuyện hoang đường
láo khoét của Giáo Hội La Mã đưa ra, nhưng lại khinh rẻ tất cả những lễ
nghi cúng tế các vị thần của các nhóm văn hóa khác và cho là nhảm nhí.
8.- Hợm hĩnh, cao ngao, lố bịch, trịch thượng và
nham nhở, coi ông thần Jehovah và ông Jesus là Thiên Chúa Tòan Năng,
Toàn Thiện và có mặt ở khắp mọi nơi", coi Giáo Hội La Mã là "Hội Thánh
duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền", là "HiềnThê của Thiên
Chúa Làm Người" và tự phong là "dân Chúa", nhưng lại coi các vị thánh
tổ và các đấng thần linh của các tôn giáo là "tà thần" và "ma quỷ".
9.- Nặng đầu óc chia rẽ và nặng tinh thần kỳ thị,
phân chia giai cấp, khinh rẻ các tôn giáo khác là "tà giáo" hay "tà đao"
và các thành phần thuộc các tôn giáo khác là những quân "mọi rợ" hay "dã
man" hoặc "man di".
10.- Nặng đầu óc thiên vị và bất công. Luôn luôn
cho rằng cái gì thuộc về Giáo Hội La Mã đều tốt cả, cái gì thuộc về các
tôn giáo khác đều xấu. Nếu có người nào chứng minh các ngài mang chức
thánh đại diện cho Chúa (linh mục, giám mục, tổng giám mục, hồng y và
giáo hoàng) làm bậy, sờ mó con nít, gian dâm với nữ tín đồ, hoặc là có
những hành động gian ác tàn ngược thì họ lại đổ lỗi cho là bị quỷ ám.
11.- Xun xoe, khúm núm và quỵ lụy với các đấng bề
trên hoặc những người có thế lực hay quyền uy lớn hơn,
12.- Khinh thị, vênh váo, nghênh ngang, làm oai,
làm phách, hách dịch, trịch thượng đối với những người lép vế, thế cô,
nhất là đối với những người dưới cơ mà là những người thuộc các tôn
giáo khác. Việc đòi hỏi những người thuộc các tôn giáo khác phải theo
đạo Da-tô khi họ muốn thành hôn với người yêu là tín đồ của Giáo Hội là
bằng chứng rõ ràng nhất cho sự kiện này.
13.- Hung dữ, hiếu chiến, hiếu sát, khát máu, tàn
ác và dã man đối với những người thuộc các tôn giáo khác khi có quyền
lực ở trong tay.
14.- Nhập nhằng hay không có khả năng sử dụng lý
trí để phân biệt được sự khác biệt giữa một bên là việc công và một bên
là việc riêng tư (cá nhân), không biết sự khác biệt giữa việc đạo và
việc đời hay giữa tôn giáo và chính quyền.
15.- Tùy theo hoàn cảnh, phải cố gắng tối đa để thi
hành nhiệm vụ biến cải những thành phần thuộc các tín ngưỡng hay tôn
giáo khác theo đao Da-tô bằng bất cứ thủ đoạn và phương tiện nào dù là
bất chính, đê tiện, lưu manh, độc ác và dã man đến mức nào đi nữa họ
cũng phải làm. Nhiệm vụ này được gọi là nhiệm vụ "làm sáng danh Chúa".
16.- Tỏ ra vô cùng sợ hãi Tòa Thánh Vatican, tán
thưởng và khen tụng hết mình tất cả những lời dạy, quyết định và việc
làm của Vatican. Tình trạng này đã khiến cho ngay cả một linh mục Việt
Nam ở Việt Nam đã phải thốt ra lời chua chát “Toà Thánh đánh rắm cũng
khen thơm.” (Nhiều tác giả, Tại Sao Không Theo Đạo Chúa - Tuyển Tập 2
(Spring, TX: Ban Nghiên Cứu Đạo Giáo, 1998), tr 116.
Xin gọi 16 đặc tính trên đây là 16 Da-tô tính.
(Những đặc tính này đã được chúng tôi đã ghi nhận
trong chương sách nói về thân thế và đặc tính cuồng tín của ông Ngô Đình
Diệm trong Mục XVIII, Phần V trong bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của
Giáo Hội La Mã.)
Cũng vì những thực trạng này mà học giả Henri
Guillemin phải gọi Giáo Hội La Mã là “Cái Giáo Hội Khốn Nạn”
(Malheureuse Église (Nhiều tác giả, Vatican Thú Tội Và Xin Lỗi? (Garden
Grove, CA: Giao Điểm, 2000), tr 92, văn hào Voltaire “cái tôn giáo ác
ôn” Bùi Đức Sinh, Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo - Phần Nhì (Sàigòn: Chân
Lý, 1972), tr. 165, và nhà báo Long Ân thì ghi nhận như sau
“Con người đã nhân danh tôn giáo để làm những
chuyện điên cuồng nhất, đã nhân danh tôn giáo để biện minh cho quyền lực
phi nhân áp đặt lên đầu kẻ khác. Con người đã phản lại tôn giáo, đã
chặt đứt cây cầu đưa đến cuộc tìm kiếm chính mình, đã cúi đầu trên bốn
chân để từ con người trở về với nguồn gốc con người súc sinh.” Nguyễn
Mạnh Quang, Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1963 (Houston, TX: Văn Hóa, 2000), tr. 340.
Chính vì lẽ này bộ máy tuyền truyền của Giáo Hội La
Mã và bọn văn nô Da-tô mới sử dụng độc kế chụp mũ (tà hóa) này trong đó
có quái chiêu mà ông Da-tô Nguyễn Vy Khanh sử dụng như đã trình bày ở
trên với dã tâm làm hạ giá những tác phẩm có những luận cứ bất khả phủ
bác và những bằng cớ chứng minh từng tội ác trong từng vụ của Giáo Hội
La Mã và của các chế độ cha cố ở miền Nam Việt Nam trong những năm
1954-1975.
4.- Đặt ra những tục lệ và những từ ngữ cực kỳ
phong kiến: Đây là kế sách này sử dụng những tục lệ và ngôn ngữ sặc mùi
phong kiến để tôn vinh những viên chức cao cấp trong giáo triều Vatican
và hàng giáo phẩm trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội. Điển hình cho
những tục lệ siêu phong kiến là:
4.1.- Khi các nhà lãnh đạo, các viên chức cao cấp
trong các chính quyền đạo phiệt tay sai của Giáo Hội và tu sĩ Da-tô đến
thăm giáo hoàng thì phải đến trước chỗ ông ta ngồi mà phủ phục gục mặt
xuống chờ ông ta đưa bàn chân ra mà ôm lấy nâng lên hôn hôn hít hít để
tỏ lòng trân trọng. (Xin xem Chương 4, Mục II, Phần I của bộ sách Lịch
Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã.)
4.2.- Khi các tu sĩ bản địa đến thăm các nhà truyền
giáo Âu Châu thì phải đến trước chỗ ông ta ngồi mà phủ phục gục mặt
xuống chờ ông ta đưa giầy ra để ôm lấy nâng lên tưng tiu hôn hít. Sự
kiện này được Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi lại với nguyên văn như sau:
“Tại Bùi Chu, ngày thánh lễ Thánh Da Minh, tất cả
các linh-mục người Việt, bất kể hạng tuổi nào, phải tới sụp lạy các thừa
sai, kể cả đối với mấy người còn trẻ măng, hoặc chỉ là thày phó tế thôi,
và phải hôn kính giầy của các thừa sai đó, để giúp mình nhớ lại lời thánh
Phao lồ: “Phúc đức thay bàn chân của các nhà truyền giáo.” Trần Tam
Tình, Thập Giá và Lưỡi Gươm (Paris: Sudestasie, 1978), tr. 53.
4.3.- Khi giáo dân và các linh mục đến thăm giám
mục thì phài đến trước chỗ ông ta ngồi mà phủ phục gục mặt xuống chờ ông
ta đưa bàn tay có đeo “cái nhẫn giám-mục” ra mà hứng lấy rồi nâng lên
túng tiu hôn hôn hít hít để tỏ lòng tôn kính. (Xem tiểu mục 7 trong phần
nói về Ảnh Hưởng của Những Kế Sách và Độc Kế của Giáo Hội Đối Với Tín Đồ
ở phần sau.”
5.- Khêu gợi và nuôi dưỡng lòng tham lam ích kỷ,
hám lợi, háo danh và lòng thèm khát quyền lực của người đời rồi dùng
những bánh vẽ như thiên đường, “hồng ân Thiên Chúa”, “sẽ được Chúa đền
ơn”, “sẽ được Chúa trả ơn”, “sẽ được cứu chuộc”, “sẽ được cho lên thiên
đường hưởng nhan Chúa” làm miếng mồi vật chất câu nhử và dụ khị những
người nặng lòng những đặc tính xấu xa ghê tởm trên đây chạy theo
bắt mồi "đi đạo lấy gạo mà ăn" hay "theo đạo để tạo danh đời". Trong thực tế,
ai cũng biết rằng Chúa có nghĩa là Giáo Hội và cũng có nghĩa là các ông
tu sĩ của Giáo Hội. Khốn nỗi những người có máu tham lợi, háo danh hay
đã trở thành tín đồ cuồng tín của Giáo Hội, đâu có
còn đủ lý trí để nhìn ra sự thực này.
6.- Cấu kết với các cường quyền và các đế quốc thực
dân xâm lược Âu Mỹ với dã tâm dựa vào bạo quyền để thi hành những kế
sách và độc kế nằm trong mưu đồ thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân
loại. Sự kiện này được sử gia Avro Manhattan nói rõ như sau:
"Bản nghiên cứu về tiêu chuẩn lịch sử cho thấy rằng
Giáo Hội La Mã đã sử dụng một sách lược hành động trong nhiều thế kỷ là
đồng hóa (liên kết) các mục tiêu tôn giáo của Giáo Hội với mục tiêu của
một cường quốc thế tục đương thời. Như chúng ta đã thấy, Giáo Hội đã sử
dụng sách lược này ở Á Châu vào những thời kỳ Bồ Đào Nha, Tây Ban và
Pháp đang là những đại cường đang lên.
Ở Âu Châu, sách lược trên đây cũng được áp dụng
nhiều lần trong thế kỷ 20 này. Có lúc, Giáo Hội đã liên kết với nước
Pháp, liên kết với Đế Quốc Da-tô Áo - Hung trong thời Đệ Nhất Thế Chiến,
rồi trước và trong thời Đệ Nhị Thế Chiến thì Giáo Hội lại liên kết với
các chế độ độc tài Ý và Đức của phe hữu. Bằng cách đồng hóa với các
cường quốc trên đây vào thời đang lên về các quyền lợi kinh tế, chính
trị và chiến tranh, Giáo Hội đã thâu tóm được rất nhiều quyền lợi.
Vì rằng không còn một siêu cường Da-tô nào kể từ
khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt mang theo sự hủy diệt của chế độ phát xít
ở Âu Châu, Giáo Hội La Mã quay ra chọn Hoa Kỳ để liên kết thành một
liên minh chính trị. Đây là hành động để đối phó với sự bành trướng của
nghĩa Cộng Sản Bôn-sê-vích và siêu cường Nga Sô sau thời Đệ Nhị Thế
Chiến. Tình trạng này khiến cho cả Giáo Hội La Mã lẫn Hoa Kỳ cùng lo sợ
và bắt buộc hai thế lực này liên kết với nhau thành một liên minh thực
sự trong thời Chiến Tranh Lạnh.”
Nguyên văn: "The study of historical patterns
reveals a formula which the Catholic Church has used for centuries,
namely identification of her religious objectives with those of a major
lay political power of a given period. As we have seen, she used this
formula in Asia when she identified herself with the major powers of
those days, Prortugal, Spain, and France.
In Europe the formula was applied several times in
this century. She identified herself at vaious intervals with France,
then with the Catholic Empire of Austria-Hungry during the First World
War, and with the right wing dictatorships of Italy and Germany, before
and during the Second World War. She advanced her interests in the wake
of these Powers by identified herself with their economic, political and
war interest.
Since the end of the Second World War and the
annihilation of European fascism she adopted the U.S. as her lay
partner, in the absence of a Catholic superpower. This was prompted by
the grim reality of the appearance of Boshevism and the growing military
presence of Soviet Russia after World War II. The menacing reality of
these two compelled the Vatican and the U.S. together and in due course
forced them into veritable alliance known as the Cold War." Avro
Manhattan, Vietnam why did we go? (Chino, CA: Chick Publications,
1984), p. 157.
7.- Khi đã nắm được quyền lực chuyên chính trong
tay rồi, Giáo Hội sử dụng những biện pháp chuyên chính để kiểm soát tất
cả mọi sinh hoạt xã hội trong đời sống nhân dân để khống chế nhân dân
dưới quyền. Sự kiện này được cựu giáo-sĩ Malachi Martin ghi nhận ở trong
cuốn Rich Church, Poor Church với nguyên văn như sau.
“Trong các vấn đề tôn giáo, trước khi Datô giáo ra
đời, các tôn giáo trên thế giới đều có đặc tính khoan dung. Một trong
những thông điệp của Delphic Oracle là “Mọi người đều đúng cả. Chẳng có
ai sai quấy.” Nguyên tắc của người La Mã thời bấy giờ là “Tôn giáo ở
trong vùng (nơi bạn cư ngụ) là tôn giáo của bạn.” Trong tâm trí và trong
cách ứng xử của người đời thời bấy giờ là không có sự liên hệ gì giữa
tôn giáo và chân lý. Tôn giáo không được coi như là một sự kiện có thật.
Cho nên, thời kỳ trước khi đạo Kitô ra đời, không có chiến tranh tôn
giáo, không có chuyện bách hại tôn giáo, và cũng không có người nào gọi
là tử đạo cho niềm tin tôn giáo của họ. Lúc bấy giờ, không có ai cố gắng
áp đặt tôn giáo hay cưỡng bách người khác phải theo tôn giáo của mình.
Chỉ có những người Da-tô giáo mới sản xuất ra chiến tranh tôn giáo, gây
nên những vụ bách hại tôn giáo và tạo nên những người tử đạo.
Ngay từ lúc đầu, người Da-tô giáo đã khăng khăng
cho rằng tôn giáo của họ là chân lý, rằng tôn giáo của họ nói về thực
tế. Họ đưa ra lập luận rằng tôn giáo của họ là một chân lý toàn cầu,
rằng chỉ có Da-tô giáo mới là tôn giáo đích thực. Vì thế, mọi hệ thống
triết lý khác và mọi hệ thống kiến thức khác - bất kỳ ngành họat động
nào của con người có liên hệ với chân lý – đều phải hài hòa với tôn giáo
đích thực là Da-tô giáo. Trái lại, đó chỉ là một hệ thống triết lý giả,
một kiến thức giả. Tất nhiên là mọi tính cách đạo đức đều từ Da-tô giáo
mà ra. Da-tô giáo thấm nhập vào tất cả mọi lãnh vực trong đời sống thế
tục từ kinh tế, chính trị, tài chánh, nghệ thuật, giáo dục cho đến các
cơ cấu khác trong xã hội. Tôn giáo và chính trị, tôn giáo và tài sản,
tôn giáo và chính quyền, tôn giáo và nghệ thuật, tôn giáo và sự học hỏi
– giữa những liên hệ cơ cấu này, không có sự chống đối nào mà không hòa
giải được. Những cơ cấu này không thể tách rời được và cũng không thể
giữ nó ở trong tình trạng tách rời nhau. Các vấn đề như quân sự, chính
trị, tài sản, nghệ thuật và chính quyền, tất cả đều phải bị tôn giáo
thống trị tuốt luốt.”
Nguyên văn: “In religious matters, the
pre-Christian world was ecumenical tolerant. “Everybody is right. Nobody
is wrong,” was one message of the Delphic Oracle, “Whatever be the
region of the earth where you find yourself,” went the Roman principle,
“that region’s religion is your religion.” In men‘s minds and in the way
they conducted their affairs, there was no connection between religion
and truth. Religion was not considered a true thing. Hence, prior
Christianity, there was no religious wars and no religious persecutions.
There was no religious martyrs for their faith. No one tried to impose
religion as such on anyone else. Only Christians produced such wars,
persecutions and martyrs.
From their beginnings, Christians insisted that
their religion was true, that it did speak about reality. They drew the
logical conclusion from that: that it was universally true. That there
could be only one true religion. Theirs. Hence all philosophy and all
knowledge - any branch of human activity that dealt with the truth – had
to be, would be reconcilable with the true religion, Christianity.
Otherwise, it was a false philosophy, a false knowledge. Automatically,
an all embracing morality from this Christianity. It permeated all
aspects of temporal life: economics, politics, finance, the arts,
education, social structures. Religion and politics, religion and
wealth, religion and government, religion and art, religion and learning
– between these there was no irreconcilable opposition. They were not
separate or to be kept separate. Military matters, matters of politics,
wealth, art, government – all became dominated by religion.”) Martin,
Malachi, Rich Church, Poor Church (New York: G.P. Putnam’s Sons, 1984),
p. 90.
Rồi từ đó, bất kỳ phạm vi sinh họat nào trong xã
hội cũng nằm trong tay của bọn tu sĩ và tín đồ cuồng tín tay sai của
Giáo Hội. Nhờ vậy, Giáo Hội mới có thể phóng tay chiếm đoạt tài nguyên
quốc gia, tận tình bóc lột nhân dân, vơ vét của cải tiền bạc bằng trăm
phương ngàn kế. (Như ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975,
trường hợp ông Giám-mục Ngô Đình Thục khai thác gỗ rừng ở trong tình
Long Khánh và Biên Hòa, ông Ngô Đình Cẩn độc quyền khai thác quế ở Quảng
Ngãi, Ba Cả Lễ nắm độc quyền buôn bán gạo ở miền Trung, các bà phước độc
quyền cung cấp nước mắm cho quân đội, ông Giám-mục Nguyễn Văn Thuận nắm
độc quyền tiếp nhận tiền ngoại viện về nhân đạo và nắm độc quyền thu
thập vỏ đồng đại bạc đem bán để lấy tiền bỏ túi, v.v…).
8.- Dùng bạo lực để (1) cưỡng bách nhân dân dưới
quyền phải theo đạo Da-tô làm nô lệ cho Giáo Hội, (2) tiêu diệt hết tất
cả những nhóm dân bị gán cho là tà giáo, man di, mọi rợ và (3) hủy diệt
hết tất cả những công trình kiến trúc cùng những di sản và tài liệu văn
hóa của họ. (Xem Mục III, Phần I trong bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác
của Giáo Hội La Mã.)
9.- Triệt để thi hành kế sách sử dụng những miếng
mồi danh lợi để câu nhử, lôi cuốn những phường háo danh tham lợi theo
đạo làm nô lệ cho Giáo Hội. Những miếng mồi này là những chức vụ và
nhiều thứ lợi lộc khác ở trong chính quyền cũng như ở ngoài xã hội. (Thí
dụ như những đặc quyền nắm độc quyền một phạm vi hoạt động kinh tế như
nắm độc quyền cung cấp văn phong phẩm cho các cơ quan trong chính quyền
và trong quân đội, độc quyền phân phối một sản phẩm nào đó, độc quyền
nhập cảng một loại hàng hóa ngoại nhập nào đó, v.v. .) Cũng vì thế mà
trong ngôn ngữ Việt Nam mới có thành ngữ “theo đạo tạo danh đời.”
Hậu quả của những việc làm bất chính này là tạo nên một lớp
người (hầu hết là tín đồ Da-tô) được ưu đãi và được dành cho nắm độc quyền kinh
tế như trên. Đây là thực trạng bất công trong xã hội ở miền Nam trong
những năm 1954-1975: Nhóm thiểu số tín đồ Da-tô và bọn lưu manh phù
thịnh chạy theo Giáo Hội (chính quyền) trở nên giầu có, trong khi đó thì
đại khối nhân dân thuộc các tôn giáo khác rơi vào tình trạng nghèo khổ,
khốn khó trăm bề.
10.- Lợi dụng tình cảnh nghèo khổ khốn khó này của
đại khối nhân dân, Giáo Hội đem một số vật chất trong đó có những tài
vật ngoại viện đế phát chẩn và dụ khị họ theo đạo. Đói ăn vụng, túng làm
liều. Đang sống trong cảnh khốn cùng, vợ con đói khổ nheo nhóc, có người
mang tiền của đến giúp đỡ, tất nhiên là họ dễ bị siêu lòng, rồi theo
đạo với hy vọng được Giáo Hội xí cho một chút đỉnh vật chất để cho qua
cơn túng quẫn ngặt nghèo. Ta gọi những người này là những người “theo
đạo lấy gạo để ăn” Tình trạng này đã được Linh-mục Trần Tam trình bày
khá đầy đủ nơi các trang 128-130 trong cuốn Thập Giá Và Lưỡi Giươm
(Paris: Sudestasie. 1978).Thủ đoạn dùng một số vật chất để dụ khị những
người tham lợi đang ở trong tình trạng đói khổ theo đạo để làm nô lệ cho
Giáo Hội được triệt để thi hành ở bất kỳ nơi nào vào bất kỳ thời đại
nào. Do đó, chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy ở Trung Hoa cũng
xẩy ra tình trạng này.Trong cuốn The Ageless Chinese – A History (New
York: Charles Scriber’s Sons, 1978), sử gia Dun J. Li cũng ghi nhận rằng
các nhà truyền giáo Da-tô cũng áp dụng quái chiêu này ở bên Trung Hoa
với nguyên văn như sau:
“….vào khi có nạn đói, các nhà truyền giáo chỉ phát
chẩn gạo cho những người bản địa theo đạo. Những người tân tòng này bị
đồng bào của họ khinh bỉ gọi họ là “những tín đồ đạo gạo” (in time of
famine, for instance, the missionaries distributed rice only among their
converts, derogatorily referred to by other Chinese as rice Christian)
Dun J. Li, The Ageless Chinese – A History (New York: Charles Scriber’s
Sons, 1978), p. 428.
11.- Thi hành kế sách khống chế các phương tiện
truyền thông để hỗ trợ cho những hoạt động của bộ máy tuyền truyền và
bọn văn nô của Giáo Hội. Một trong những kế sách được áp dụng trong lãnh
vực này là nắm độc quyền truyền thông và cấm ngặt tự do báo chí. Sự kiện
Giáo Hội chủ trương cấm ngặt tự do báo chí được Giáo-sư Lý Chánh Trung
ghi nhận trong cuốn Tôn Giáo Và Dân Tộc mà chúng tôi đã trích dẫn ở
trên (Tiểt mục kế sách 3, phần nói về Thời Đại Lý Trí.)
Kế sách này tạo nên môi trường thuận lợi cho bộ máy
tuyên truyền của Giáo Hội La Mã và bọn văn nô Da-tô tha hồ tung hoành
“múa gậy giữa rừng hoang” (vũ trượng hoang viên) trong lãnh vực truyền
thông. Tình trạng này cũng đã xẩy ra ở miền Nam trong những năm
1954-1975 (đặc biết là trong thời chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm)
và vẫn còn đang tiếp diễn tại các cộng đồng người Việt ở Bắc Mỹ, Tây Âu
và Úc Đại Lợi.
12.- Triệt để bốc thơm Giáo Hội, tu sĩ và các chế
độ đạo phiệt tay sai của Giáo Hội:. Để thi hành kế sách này, bộ máy
tuyên truyền của Giáo Hội và bọn văn nô Da-tô được lệnh triệt để dùng đủ
mọi thủ đoạn hay mánh mung bằng tất cả những ngôn từ, danh xưng và luận
điệu tốt đẹp nhất để tạo cho Giáo Hội, tu sĩ và tất cả các chế độ đạo
phiệt tay sai của Giáo Hội một hình ảnh tốt đẹp với mục đích lừa bịp và
lạc dẫn nhân dân không nhìn ra những đặc tính xâu xa ác độc hết sức ghê
tởm của Giáo Hôi. Đây là nguyên nhân TẠI SAO trong đạo Da-tô và các chế
độ cha cố thường có những thuật ngữ lạ lùng hết sức ngược ngạo vô cùng
lố bịch, hết sức trơ trẽn bằng những hoa ngôn, mỹ ngữ và danh xưng tốt
đẹp nhất trong ngôn ngữ loài người. Do tình trạng này, chúng ta không
lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy có những từ ngữ và cụm từ nghe đến lợm
gịọng. Những từ ngữ hay cụm từ đó là “những người mang chức thánh”, “Đức
Thánh Cha”, “Đức Cha”, “Đức Mẹ”, “Đức Ông”, “Đức Bà”, “Đức Mẹ Đồng
Trinh”, “Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền”,
v.v… Trắng trợn hơn nữa, chúng còn nói láo (đổi trắng thay đen, nói có
thành không, và nói không thành có) một cách cực kỳ trơ tráo và cực kỳ
trắng trợn. Dưới đây là một vài trường hợp điển hình:
Trường hợp 1.- Chuyện bà Jeanne d’ Arc (1412-1431):
Bà là một vị nữ anh hùng của dân tộc Pháp. Cuối thập niên 1420, nước
Pháp trong thời vua Charles VII (1422-1461) bị Liên Minh Thánh Anh –
Vatican xâm lăng. Quân triều đình Pháp thua xiểng liểng, nhưng nhân dân
Pháp không nản lòng, tự động nổi lên cương quyết chống giặc đến cùng.
Đáng kể nhất là vào năm 1429, bà Jeanne d’ Arc, lúc đó mới có 17 tuổi,
tình nguyện chiến đấu chống giặc và được nhà vua cấp cho một số quân
lính chống chọi với quân Anh ở thành phố Orléans. Vai trò chỉ huy quân
đội của bà ở thành phố này làm cho quân lính Pháp nức lòng hăng say
chiến đấu. Nhờ vây, khi đạo quân Anh kéo đến bao vây thành phố này liền
bị đạo quân của bà đánh bại.
Chiến công này càng làm cho quân dân Pháp hăng say
chiến đấu và càng làm cho Liên Minh Anh – Vatican thâm thù bà nhiều hơn.
Sau đó, trong một trận đánh khác, bà bị quân Anh bắt. Tòa Thánh Vatican
đòi quân Anh phải giải giao bà cho Toà Án Dị Giáo do Giám-mục Pierre
Cauchon làm phán quan (thẩm phán) xử lý. Cuối cùng, bà bị Tòa Án Dị Giáo
của Giáo Hội La Mã kết tội là “phù thủy”, rồi ra lệnh trói bà, “đẩy bà
lên đống củi và châm lửa thiêu sống bà vào ngày 30 tháng 5 năm 1431.”
Như vậy, dưới con mắt của Giáo Hội La Mã, bà Jeanne
d’Arc là con mụ phù thủy, rồi kể từ đó bộ máy tuyên truyền của Giáo Hội
mở chiến dịch bôi nhọ bà, gán cho bà không biết bao nhiêu thứ tội để
biện minh cho việc làm tội ác của Giáo Hội trong vụ này. Thế nhưng, đối
với nhân dân Pháp, dù rằng có tới gần 100% là tín đồ Da-tô cúa Giáo Hội,
(lúc đó chưa có đạo Tin Lành), họ vẫn coi bà là một vị nữ anh hùng dân
tộc và là vị cứu tinh của nước Pháp, giống như hai Bà Trưng đối với dân
tộc Việt Nam. Trải qua một thời gian dài ngót nghét gần 5 thế kỷ, thấy
rằng không có cách nào làm thay đổi được cái nhìn của dân tộc Pháp đối
với bà, Giáo Hội La Mã bèn thay đổi sách lược, quay ra phong thánh cho
bà một cách ngon lành và hết sức trơ trẽn vào năm 1920. Rõ ràng là Giáo
Hội đã hành động theo đúng kế sách "Chống không được thì hòa nhập”.
Qua việc đối xử với bà Jeanne d’ Arc một cách tráo
trở vô cùng trơ trẽn như trên, chúng ta thấy Giáo Hội đã hành xử lươn
lẹo, lá mặt lá trái, “đổi trắng thay đen”, không nói thành có và có nói
thành không một cách cực kỳ trắng trợn. Nói về hành động “đổi trắng thay
đen” của Giáo Hội La Mã trong cung cách đối xử với bà Jeanne d’ Arc, học
giả Da-tô Phan Đình Diệm, hội trưởng học Hội Jesus ở Houston, Texas,
nhận xét như sau:
“Thử tưởng tượng từ ngày Giám-mục Pierre Cauchon
(đồng âm với con heo) thiêu sống Bà Thánh Jeanne d’ Arc, cho đến ngày Bà
được phong thánh là hơn 400 năm, các tòa giảng của Giáo Hội trên khắp
cõi Âu Châu phải ăn gian nói dối và vu oan giá họa cho Bà bao nhiều lần?
Giết bà cũng một tay Giáo Hội, phong thánh cho Bà cũng một tay Giáo Hội,
nhưng có mấy ai được may mắn như Bà. Hầu hết các trọng tội mà Giáo hội
phạm tại các “Tòa Điều Tra Dị Giáo” là tội đẻ ra tội theo cấp số cộng
và cấp số nhân.” Phan Đình Diệm,”Mea Culpa – Giáo Hội Công Giáo Roma
La-tinh Cáo Thú Tội Lỗi Ngàn Năm” www.kitohoc.com/Bai/Net066.html Ngày
4/5/2000.
Trường hợp 2.- Ai cũng biết rằng Giáo Hội luôn
luôn chống lại những khám phá và phát triển khoa học mà vụ án Galileo
Galilei (1564-1642) là bằng chứng rõ ràng nhất cho sự kiện này. Một bằng
chứng khác nữa là Giáo Hội đã liên tục phủ nhận thuyết tiến hóa của nhà
bác học Charles Robert Darwin (1809-1882), và sử dụng đủ mọi thủ đoạn để
bài bác lý thuyết này. Ấy thế mà bộ máy tuyên truyền của Giáo Hội vẫn
thường rêu rao là Giáo Hội đã thực hiện được nhiều tiến bộ khoa học hơn
tất cả các tôn giáo khác. Thiết tưởng ai cũng biết những hành động nói
láo này của Giáo Hội.
Trường hợp 3.- Cá nhân Ngô Đình Diệm và chính quyền
đạo phiệt Da-tô của ông ta là một chế độ chính trị tồi tệ và tàn ngược
nhất trong lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới. Tồi tệ và tàn ngược đến
độ sử gia Nigel Cawthorne đã quy liệt Ngô Đình Diệm là một trong số một
trặm tên bạo chúa tàn độc nhất trong lịch sử nhân loại vào trong tác
phẩm TYRANTS History’s 100 Most Evil Despots & Dictators (London:
Arcturus, 2004).
Sử gia Bernard B. Fall thì ghi nhận ông ta là người:
“Lòng
tin đạo đã biến ông ta thành con người hiếu chiến đến độ tàn nhẫn như
một vị Đại Pháp Quan của Tòa Án Dị Giáo trong thời Trung Cổ ở Tây Ban
Nha.” (His faith is made less of the kindness of the apostles, than of
the ruthless militancy of the Grand Inquisitor. Bernard B. Fall, ”The Two Vietnams (New
York: Frederick A. Praeger, 1964, p. 236.),
Nhà ngoại gia Hoa Kỳ Henry
Cabot Lodge thi nhận xét về ông ta và anh em nhà Ngô với nguyên văn như
sau:
"Chủ yếu chúng nó là một chế chuyên chính Á Châu
thời Trung Cổ của loại gia đình cổ điển, không hiểu gì cả hay rất ít, về
các ngành nghề của chính quyền vì dân. Chúng không thể ăn nói với dân
chúng, không thể gây cảm tình với báo chí, chúng không thể ủy thác quyền
hành hay tạo ta niềm tin, chúng không thể hiểu được tư tưởng chính phủ
là công bộc của dân. Chúng nó chỉ quan tâm đến an ninh vật chất và sự
sống còn của chúng, chống lại bất cứ mối đe dọa nào cộng sản hay không
cộng sản." [Hoàng Ngọc Thành & Thân Thị Nhân Đức, Những Ngày Cuối Cùng Của
Tổng Thống Ngô Đình Diệm (San Jose, CA: Quang Vinh & Kim Loan & Quang
Hiếu, 1999) tr. 282.]
Bộ mặt thật của con người và chế độ cha cố của ông
Ngô Đình Diệm là như vậy! Ấy thế mà bộ máy tuyền truyền của Giáo Hội La
Mã và bọn văn nô Da-tô người Việt vẫn trâng tráo tôn vinh chế độ đạo
phiệt của ông ta là một chế độ tốt đẹp nhất trong lịch sử Việt Nam mà
không cần biết cái chế độ khốn nạn này đã tàn sát hơn ba trăm ngàn người
ở miền Nam trong những năm 1954-1963, vẫn trơ trẽn vinh danh ông ta như
là một chí sĩ yêu nước, một nhà ái quốc đã hy sinh vì nước bằng những
lời tán tụng lố bịch nhất và kệch cỡm nhất mà không biết ngượng mồm
ngượng miệng, không cần biết cái lý lịch tam đại Việt gian và những hành
động bạo ngược chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam ta của gia đình nhà
Ngô và của cá nhân ông ta trong suốt cuộc đời họan lộ làm Việt gian bán
nước cho Liên Minh Pháp - Vatican và hơn chín năm được Vatican và Mỹ đưa
lên cầm quyền ở miền Nam Việt Nam.
Tình trạng lố bịch, trâng tráo và trơ trẽn này đã
khiến cho ngay cả người đồng đạo của họ là Giáo-sư Lý Chánh Trung, một
trí thức phản tỉnh, không thể cầm lòng lặng thinh để cho bọn văn nô
Da-tô tiếp tục “múa gậy giữa vườn hoang” và phải lên tiếng để nói cho
lũ người siêu cuồng tín này đừng tiếp tục diễn cái trò hề con khỉ đó
nữa. Dưới đây là nguyên văn lời viết của Giáo-sư Nguyễn Chánh Trung:
“Nhìn lại chín năm cầm quyền, tôi thành thực nghĩ
rằng, ông chỉ là một huyền thoại lớn do người Mỹ và một số tay chân bộ
hạ tạo ra để lợi dụng. Người Mỹ lợi dụng ông để thực hiện mưu đồ của họ,
một số tay chân bộ hạ đã lợi dụng ông để bòn rút những nguồn lợi béo bở
của đất nước này và của viện trợ Mỹ.
Cái lỗi căn bản của ông là chính ông đã tin nơi cái
huyền thoại “cứu tinh dân tộc, lãnh tụ anh minh” đó. Ông đã tin nơi sứ
mạng cứu nước của mình đến nỗi không còn chấp nhận được bất cứ tiếng nói
nào khác tiếng nói của ông, ngay cả những tiếng nói thật ôn hòa và “xây
dựng” như bức thơ trần tình của nhóm nhân sĩ Caravelle.
Cái lỗi căn bản của ông là đã xem người Mỹ cũng
như tay chân bộ hạ của ông là những phương tiện để hoàn thành sứ mạng
cứu nước trong khi chính ông mới là phương tiện của người Mỹ và một số
tay chân bộ hạ.
Và sứ mạng cứu nước đã được ông đồng hóa sứ mạng
chống Cộng, vì đối với ông, Cộng Sản là sự xấu tuyệt đối phải tiêu diệt
bằng mọi giá, kể cả cái giá lệ thuộc người Mỹ. Đó là một lỗi căn bản
khác và tất cả sự mâu thuẫn của chính sách chống Cộng nằm ở chỗ này.
Tôi được biết ông đã suy nghĩ và do dự rất lâu khi
chính chánh phủ Kennedy đề nghị gửi sang đây 14 ngàn quân để thí nghiệm
cuộc “chiến tranh đặc biệt”, vì ông thấy rõ nguy cơ mất chủ quyền. Nhưng
cuối cùng ông đã nhận vì sự chống cộng đã được ông xem như một cứu cánh
tuyệt đối mà đó là cái giá phải trả để chống cộng, một cái giá thật đắt
đối với ông vì tôi tin ông yêu nước, dầu yêu nước theo cách của ông.
Ông đã tưởng mình có thể lệ thuộc Mỹ một phần nào
thôi, còn phần kia thì vẫn “độc lập”, ông đã tưởng mình có thể nhẩy vào
vòng tay người Mỹ trong một giai đoạn ngặt nghèo rồi thoát khỏi vòng tay
đó khi tình hình sáng sủa hơn, ông đã tưởng có thể chấp nhận làm con cờ
trong một ván cờ rồi ngay trong ván cờ đó, có thể tự động đi một nước cờ
riêng của ông.
Khi ông nhìn thấy đó chỉ là ảo tưởng thì đã quá
trễ: Ông đã chết vì ảo tưởng đó. Và cái chết bi thảm của ông cho thấy
một sự thật hết sức tầm thường: Không một con cờ nào có thể tự động đi
một nước cờ cho riêng nó, dầu con cờ đó mang tên Ngô Đình Diệm, và không
một nước nhỏ nào có thể lợi dụng một nước lớn, nhất là nước đó mang tên
Hoa Kỳ.
Bẩy năm đã qua và ngày nay, dư luận quần chúng có
vẻ khoan hồng hơn đối với ông Diệm và chế độ cũ của ông, ngay cả những
nơi nạn nhân của chế độ ấy. Lý do giản dị: với thời gian, kỷ niệm đã mờ
nhạt, hận thù được xoa dịu, những ẩn ức dồn nén được giải tỏa. Trong khi
đó, cái thực trạng của xã hội miền Nam mỗi ngày thêm xấu xa tệ hại,
khiến cho người ta có khuynh hướng chỉ nhớ tới những nét tương đối dễ
coi của chế độ Ngô Đình Diệm, mỗi khi so sánh thời này với thời trước.
Nhưng từ đó mà cho rằng chế độ ông Diệm là một thời
đại hoàng kim và chỉ cần bắt chước ông Diệm là có thể giải quyết những
vấn đề đất nước, như một số chân tay bộ hạ của ông đang tuyên bố rùm beng
thì thật là lố bịch và vô liêm sỉ.
Những người đang hò hét khóc lóc chung quanh cái
tên Ngô Đình Diệm như bầy quạ trên một xác chết. Với cái âm mưu tái lập
một chế độ Diệm không Diệm trong đó họ sẽ phè phỡn bòn rút như xưa, xin
họ nhớ cho rằng giòng lịch sử không bao giờ chẩy ngược chiều.
Và nếu họ không còn một chút tự trọng, xin họ dầu
sao cũng thương dùm ông Diệm, Tội nghiệp ông! Tôi ứa nước mắt mà viết
câu này, xin họ hiểu cho.” [Lý Chánh Trung, Những Ngày Buồn Nôn (Sàigòn:
Đối Diện,1972), trang 135-138].
Trường hợp 4.- Vì Vatican theo chế độ quân chủ tăng
lữ chuyên chế trung ương tập quyền (monarchical sacerdotal) với những
đặc tính siêu phong kiến. Tất cả những đặc tính siêu chuyên chính và
siêu phong kiến này được công khai phổ biến cho mọi người đều biết qua
việc Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085) ban hành tuyên ngôn "Dictatus
papae" quái đản với 27 nguyên tắc thật là ghê gớm, trong đó có cả nguyên
tắc đòi các ông hoàng đế hay vua chúa khi đến viếng thăm giáo hoàng thì
phải quỳ mọp xuống chờ ông ta (giáo hoàng) đưa bàn chân ra mà ôm lấy
nâng niu hôn hít để tỏ lòng tôn kính. Xin đọc Chương 4, Mục II, Phần I
của bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã để biết toàn bộ
27 nguyên tắc này bằng Anh ngữ và Việt ngữ (do người viết chuyển dịch).
Ai cũng biết rằng tất cả các chính quyền chuyên
chính và phong kiến đều thù ghét tất cả mọi tiến bộ về chính trị và xã
hội theo thể chế dân chủ và tự do, đặc biệt là tự do báo chí. Quy luật
lịch sử là như vậy. Là một tổ chức tôn giáo (thần quyền) có tham vọng
chỉ đạo chính quyền, tức là chỉ đạo các công việc thế tục và chính
trị, và lại là một tổ chức chính trị siêu chuyên chế, siêu phong kiến,
tất nhiên là Giáo Hội La Mã không thể nào nằm ở ngoài cái quy luật lịch
sử trên đây. Cũng vì thế mà Giáo Hoàng Gregory XVI (1831-1846) mới cho
rằng:
“Trong xã hội loài người, Giáo Hội không bao giờ
công nhận cho các tôn giáo khác hoặc cho những người không công giáo cái
quyền ăn nói ngang hàng với mình, bởi cái lý do giản dị là chỉ Giáo Hội
mới có sự thật mà chỉ có sự thật mới có quyền ăn nói. Người sai lầm thì
chỉ có mỗi một quyền sửa sai.
Trong Thông Điệp ngày 29/4/1814 gửi Đức Giám Mục
địa phận Troyes, Đức Giáo Hoàng Pie VII (1800-1823) viết: “Người ta lẫn
lộn sự thật với sự sai lầm, người ta đặt vị Hiền thê thánh thiện và tinh
truyền của Đức Ki-tô (tức Giáo Hội Công Giáo) ngang hàng với các giáo
phái lạc đạo và ngay cả với bọn Do Thái bất tín”. Đức Giáo Hoàng
Gregory XVI (1831-1846) đã gọi tự do báo chí là “thứ tự do tệ hại nhứt,
đáng ghét nhứt, kinh tởm nhứt, mà một số người dám đòi hỏi một cách ồn
ào cuồng nhiệt và quảng bá khắp nợ…”
Giáo Hội đã lên án chủ nghĩa tự do qua ba bức thông
điệp: “Mirari vos” của (Giáo Hoàng) Grégoire XVI (1832), “Quanta cura”
của (Giáo Hoàng) Pie XI (1864) và “Libertas prestantissimum” của (Giáo
Hoàng) Leo XIII (1888). Thông điệp sau cùng này tiến bộ hơn đôi chút
nhưng vẫn không công nhận các quyền tự do như những quyền tự nhiên mà
chỉ chấp nhận chúng như một thực trạng.” Lý Chánh Trung, Sđd., tr. 76.
Sau đó, người lên nối ngôi Giáo Hoàng Gregory XVI
(1831-1846) là Giáo Hoàng Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878) cũng lên án
gắt gao quyền tự do báo chí và tất cả mọi thứ quyền tự do khác của người
dân. Sự kiện này được sách Roman Catholicism ghi lại rõ ràng và đã được
chúng tôi trích dẫn ghi lại ở phần nói về quái chiêu và độc kế Da-tô,
tiểu mục kế sách số 3 ở trên
Kể từ khi Cách Mạng Pháp bùng nổ vào ngày
14/7/1789, các phong trào dân chủ dần dần lan rộng ra khắp mọi nơi trên
thế giới. Đồng thời, các nước Tây Âu và Bắc Mỹ cũng thực hiện được nhiều
tiến bộ khác để nâng cao trình độ học vấn của người dân. Một trong những
tiến bộ này là họ đã mở rộng hệ thống trường học công lập, giúp cho tất
cả mọi con em của tất cả mọi gia đình giầu cũng như nghèo, sang cũng
như hèn cũng đều cơ hội được đi học. Thấy rằng nếu mọi người đều được đi
học, trình độ kiến thức của người dân sẽ được nâng cao, khi đó người dân
sẽ biết sử dụng lý trí để nhìn ra những đặc tính hoang đường, phi nhân
bản, phản nhân quyền trong hệ thống tín lý Ki-tô (mà Giáo Hội đã và
đang sử dụng để lòe bịp, hù doạ và khủng bố tinh thần người đời trong
mưu đồ củng cố và duy trì quyền lực của Giáo Hội), cho nên Giáo Hội mới
cương quyết chống lại việc các chính quyền các nước theo chế độ dân chủ
mở rộng hệ thống các trương học công lập. Việc chống đối này của Giáo
Hội được sử gia Loraine Boettner ghi lại rõ ràng với nguyên văn như sau:
“Giáo Hoàng Pius XI (1922-1939) lên án các trường học công lập.” Nguyên
văn: “Public Schools condemned by pope Pius XI (1922-1939)” Loraine
Boettner, Ibid., tr 9).
Mục đích của Giáo Hội trong việc lên án hay chống
đối việc mở rộng hệ thống các trường công lập là một độc kế “nhất thạch
nhị điểu” nhằm thực hiện cảc hai mục tiêu dưới đây:
A.- Càng không có trường công lập, càng ít người đi
học. Càng ít người đi học thì càng có nhiều người ngu dốt. Một xã hội mà
càng có nhiều người ngu dốt, thì Giáo Hội càng dễ dàng dùng những tín lý
Da-tô để dụ khị và câu nhử họ vào cái tròng Da-tô (Catholic loop) để làm
nô lệ cho Giáo Hội. Sự kiện này được học giả Joane H. Meehl ghi nhận
trong tác phẩm “The Recovering Catholic (Promethus Books, 1995) với
nguyên văn như sau:
“Đạo Công Giáo chỉ thịnh hành và phát triển trong
giới người nghèo và ngu dốt.” Nguyên văn: “Catholicism thrieves and
grows among the poor and ignorants.” Nguyễn Mạnh Quang, Thực Chất Của
Giáo Hội La Mã (Tacoma, WA: 1999), tr. 86-87.
B.- Càng không có hay càng ít các trường công lập,
thì dễ dàng cho Giáo Hội nắm độc quyền điều khiển càng trường học (đặc
biệt là trong các quốc gia bị áp đặt phải theo chế độ đạo phiệt làm tay
sai cho Vatican), để thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ
nhằm biến tín đồ và người dân dưới quyền thành những người bị điều kiện
hóa, chỉ biết suy tư, phát ngôn và hành xử theo phản ứng Pavlov (giống
như con chó trong phòng thí nghiệm của nhà bác học Pavlov). Đây là chủ
trương của Giáo Hội. Chủ trương này được Giáo-sư Lý Chánh Trung ghi lại
trong cuốn Tôn Giáo và Dân Tộc với nguyên văn như sau:
“Nhưng đô thị Thiên Chúa không phải là một một hình
ảnh tượng trưng: nó là Giáo Hội Công Giáo La Mã do Tòa Thánh Vatican
lãnh đạo. Mà Tòa Thánh là một quốc gia. Dầu chỉ là một quốc gia tí hơn,
nó vẫn có những quyền lợi riêng tư, không nhứt thiết dính liền với quyền
lợi của đạo công giáo mà có thể mẫu thuẫn với quyền lợi của một quốc gia
khác. Nó cũng có một đường lối chánh trị. Lẽ dĩ nhiên, cứu cánh tối hậu
của đường lối này là “mở mang nước Chúa”, nhưng sự mở mang nước Chúa đôi
khi đi ngược lại của một số dân tộc. Chẳng hạn từ thời Phục Hưng cho tới
những năm gần đây chánh sách của Vatican, trên căn bản, vẫn là cấu kết
với các cường quốc Tây Phương, theo gót những đoàn quân viễn chinh để
giảng đạo và trong các nước thuộc địa, biến các giáo hội bản xứ thành
những rường cột của chế độ thực dân.
Mặt khác, Giáo Hội La Mã là tôn giáo đầu tiên đã
phân biệt rõ rệt thần quyền (pouvoir spirittuel) với thế quyền (pouvoir
trmporel) và luôn luôn đòi hỏi độc lập của thần quyền. Sự phân biệt nói
trên rất hợp lý và là một tiến bộ lớn so với sự lẫn lộn đạo với đời
trong những tôn giáo cổ sơ. Sự căng thẳng giữa hai quyền bính có thể là điều
kiện tốt để cả hai bên tự cải thiện, đồng thời tránh được lợi dụng sự
lẫn nhau, ít nữa là trên nguyên tắc.
Nhưng sự phân biệt thần quyền thế quyền đã gây
nhiều mâu thuẫn nhứt giữa Giáo Hội và các quốc gia, và như Linh-mục
Jacques Leclercq viết “những khó khăn này sẽ không bao giờ được san bằng
hoàn toàn.”
Trước hết, hai lãnh vực đạo và đời, trong thực tế
chồng chéo nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và không thể phân biệt rõ rệt như
trong lý thuyết. Cho nên dầu chính quyền có chấp nhận sự phân biệt, thì
cũng vẫn có cơ hội để xung đột với giáo quyền trong những phạm vi gọi là
“pha chế” (domaine mixte), nghĩa là những phạm vi mà cả hai bên đều có
những quyền lợi để bảo vệ, chẳng hạn như phạm vi giáo dục. Giáo Hội cần
có một nền giáo dục công giáo độc lập như một môi trường thiết yếu,
không những để truyền bá giáo lý mà còn để đào tạo thanh thiếu niên theo
tinh thần công giáo.
Nhưng quốc gia cũng cần nắm giữ tất cả thanh thiếu
niên của mình để đào tạo chúng theo tinh thần quốc gia.” Lý Chánh Trung,
Sđd., tr. 64-66.
Đến đây, thiết tưởng cũng nên nói cho độc giả biết
rõ là Giáo Hội La Mã luôn luôn có chủ trương tiêu diệt hết tất cả các
tôn giáo khác không nằm dưới quyền chỉ đạo của Tòa Thánh Vatican trong
đó có cá các hệ phái Thiên Chúa Giáo khác như Do Thái giáo, Tin Lành,
Anh Giáo, Chính Thống Giáo và các hệ phái Hồi Giáo. Sự kiện này được
sách Tôn Giáo Và Dân Tộc ghi nhận với nguyên văn như sau:
"Trong Giáo Hội Công Giáo thì trái lại, khuynh
hướng đóng kín và tự mãn hiện diện ngay trên bình diện tập thể, vì Giáo
Hội đã tự ý thức mình như một dân tộc được Thiên Chúa chọn lựa và giao
cho sứ mạng cứu rỗi nhân loại. Giáo Hội là con đường độc nhất đưa tới
Thiên Chúa: "Ngòai Giáo Hội không thể có sự cứu rỗi" (hors de l' Église,
point de salut).
Hậu quả của quan niệm ấy là tính cách bất khoan
dung (intolérance) của Giáo Hội Công Giáo: Giáo Hội đã được Thiên Chúa
ban truyền toàn bộ sự thật cần thiết cho sự cứu rỗi và chỉ Giáo Hội mới
có quyền giải thích hoặc khai triển sự thật đó. Tất cả những gì ở ngòai
sự thật nói trên hoặc trái với lời giải thích chánh thức của Giáo Hội
chỉ có thể sai lầm. Mà Giáo Hội có quyền và có bổn phận tiêu diệt sự sai
lầm để bảo vệ sự thật hầu hòan thành sứ mạng cứu rỗi của mình. Kể từ dạo
ấy, mỗi khi hoàn cảnh cho phép, Giáo Hội đã không ngần ngại dùng bạo lực
để tiêu diệt những tôn giáo khác, đập phá các đền thờ "tà thần", đốt
sách vở ngọai đạo và đốt luôn bọn người bị xem là "lạc đạo", nếu không
chịu sửa sai.
Những hành động nói trên không phải bắt nguồn từ
một khuynh hướng đế quốc mà từ cái ý thức rất chân thành và nghiêm chỉnh
của Giáo Hội về sứ mạng cao cả của mình. Thật là cảm động khi nhìn lại
cái ý chí sắt đá mà Giáo Hội đã giữ được nguyên vẹn qua bao cuộc thăng
trầm trong gần hai ngàn năm lịch sử, để thi hành mạng lịnh cuối cùng của
Đức Kitô: "Các con hãy ra đi dạy dỗ các dân tộc". Điều đáng buồn là một
số phưong pháp mà Giáo Hội đã dùng đến để dạy dỗ các dân tộc có tính
cách phản giáo khoa.
Sự bất khoan dung khiến cho, trong quá khứ, Giáo
Hội không bao giờ chấp nhận tự do trong nội bộ của mình cũng như trong
xã hội loài người nói chung. Trong nội bộ Giáo Hội, người Công Giáo
không có quyền có ý kiến riêng mà luôn luôn phải theo lời dạy của giáo
quyền. Có một ý kiến riêng là đã "lạc đạo" rồi như Giám-mục Bossuet
viết: "Người lạc đạo" (hétérique) là người có một ý kiến theo nguyên
nghĩa. Mà có một ý kiến là gì? Là một tư tưởng riêng, một tình cảm
riêng. Nhưng người Kitô hữu là người Công Giáo nghĩa là con người phổ
biến (universel), con người không có tình ý riêng tư mà luôn luôn phải
tuân theo tình ý của Giáo Hội không một chút do dự. ” Trong xã hội loài
người, Giáo Hội không bao giờ công nhận cho các tôn giáo khác hoặc cho
những người không công giáo cái quyền ăn nói ngang hàng với mình, bởi
các lý do giản dị là chỉ có Giáo Hội mới có sự thật mà chỉ có sự thật
mới có quyền ăn nói. Người sai lầm thì chỉ có mỗi một quyền sửa sai..”
Lý Chánh Trung., Sđd., tr.73-76
Phần trình bày trên đây cho chúng ta thấy rõ ràng
là Giáo Hội La Mã có chủ trương không bao giờ tôn trọng thể chế dân chủ,
luôn luôn theo đuổi chính sách kỳ thị và khinh miệt các tôn giáo khác
“không bao giờ công nhận cho các tôn giáo khác hoặc cho những người
không công giáo cái quyền ăn nói ngang hàng với Giáo Hội”, luôn luôn coi
“tự do báo chí là “thứ tự do tệ hại nhứt, đáng ghét nhứt, kinh tởm
nhứt.”, và nhất quyết “lên án các trường học công lập”. Ấy thế mà Giáo
Hội và tín đồ Da-tô, đặc biệt là tín đồ Da-tô người Việt, vẫn bô bô cái
miệng nói láo là nhờ có Giáo Hội La Mã cho nên nền văn minh Tây phương
mới tiến bộ được như ngày nay, vẫn xoen xoét cái miệng nói láo rằng Giáo
Hội La Mã luôn luôn tranh đấu cho tự do dân chủ và cho quyền tự do tôn
giáo của nhân loại, và từ năm 1975 cho đến nay, Giáo Hội và tín đồ Da-tô
người Việt ở hải ngoại vẫn luôn luôn rêu rao tranh đấu cho dân chủ và tự
do tôn giáo ở Việt Nam. Điểm đặc biệt là khi lớn tiếng nói láo như vậy,
họ không hề cảm thấy ngượng miệng một chút nào cả. Hình như họ không còn có
một chút liêm sỉ tối thiểu nào cả.
13.- Ra lệnh cho chính quyền tay sai và bọn tín đồ
cuồng tín dùng bạo lực để sát hại và khủng bố tinh thần những người
thuộc các tôn giáo khác không chịu khuất phục Giáo Hội, đặc biệt là
những người dám lên tiếng nói rõ những thủ đoạn gian ác bịp bợm và những
rặng núi tội ác của Giáo Hội trong gần hai ngàn năm qua. Đồng thời, bộ
máy tuyên truyền của Giáo Hội và bọn văn nô Da-tô được lệnh thi hành
những chiến dịch bôi lọ, vu khống cho họ (những nạn nhân nói trên) đủ
mọi điều xấu xa ghê tởm nhất để triệt hạ uy tín của họ bằng mọi giá.
14.- Tất cả các chiến dịch bốc thơm Giáo Hội hay tô
son điểm phấn cho chính quyền tay sai của Giáo Hội cũng như các chiến
dịch bôi lọ và triệt hạ uy tín của những nạn nhân bị Giáo Hội chiếu cố
đều được thi hành theo sách lược “Tăng Sâm giết người” (nhắc đi nhắc lại
nhiều lần) và “cả vú lấp miệng em” (tất cả các cơ quan truyền thông của
Giáo Hội đều nhất tề và ồ ạt đồng loạt tiến hành chiến dịch này với cùng
một luận điệu như nhau).
15.- Thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi
sọ để kìm hãm tín đồ và nhân dưới quyền luôn luôn ở trong tình trạng ngu
dốt giống như nguời dân Do Thái trong thời ông Moses và ông Jesus, khiến
cho họ không còn khả năng sử dụng lý trí để tìm hiểu sự vật (cách vật
trí tri). Có như vậy, họ (tín đồ và người dân dưới quyền kiểm soát của
Giáo Hội) mới không còn khả năng thông minh nhìn ra những thủ đoạn lưu
manh bịp bợm, lừa gạt người đời, không còn có lý trí để nhìn ra những
rặng núi tội ác của Giáo Hội trong gần hai ngàn năm qua. Khi đã bị rơi
vào tình trạng ngu dốt như vậy, họ chỉ còn biết suy tư, hành động, phát
ngôn nguyên văn những gì mà các ông linh mục hay cán bộ truyền giáo đã
mớm cho họ, giống như những phản ứng của con chó trong phòng thí nghiệm
của nhà bác học Pavlov.Tình trạng này được các nhà khoa học gọi là “bị
điều kiện hóa”.
ẢNH HƯỞNG VÀ TÁC DỤNG CỦA
NHỮNG QUÁI CHIÊU VÀ ĐỘC KẾ DA TÔ
Ảnh hưởng hay tác dụng của việc thi hành những quái
chiêu và độc kế Da-tô trên đây quả thật là vô cùng mãnh liệt và hết sức
lớn lao đối với cả Tòa Thánh Vatican hay Giáo Hội La Mã và toàn bộ khối
tín đồ Da-tô thuộc loại cuồng tín.
I.- ĐỐI VỚI GIÁO HỘI LA MÃ
Việc thi hành những quái chiêu và độc kế Da-tô trên
đây đã biến Giáo Hội La Mã thành một đế quốc thực dân xâm lược chiếm kỷ
lục về chuyên chính, tham tàn và giầu có, biến các ông giáo
hoàng cũng như các ông chức sắc cao cấp và giai cấp tu sĩ trong hệ thống
quyền lực của Giáo Hội thành những hạng người mang đầy những ác tính xấu
xa ghê tởm như đố kị, tị hiềm, ganh ghét với những người đồng liêu đồng
đẳng, chia phe lập đảng thanh toán lẫn nhau để tranh giành quyền lực, và
sống đời buông thả, hoang đàng phóng đãng, trụy lạc, dâm ô, loạn luân,
loạn dâm hết sức là kinh khủng. Dưới đây là những thực trạng này:
1.- Giáo Hội La Mã trở thành một thế lực chính trị
cực kỳ chuyên chế: Quyền lực chuyên chế của Giáo Hội La Mã đã biến Giáo
Hoàng thành hoàng đế của các hoàng đế nằm dưới quyền kiểm soát của Giáo
Hội La Mã, đặc biệt là vào thời Trung Cổ, quyền lực của Giáo Hội bao
trùm toàn bộ Tây và Nam Âu bao gồm luôn cả các vùng ven biển Đia Trung
Hải. Rồi từ đầu thế kỷ 16 cho đến cuối đầu thập niên 1960, quyền lực của
Giáo Hội lan tỏa ra tất cả các thuộc địa của các đế quốc Bồ Đào Nha, Tây
Ban Nha, Bỉ và Pháp ở khắp các lục địa Phi, Mỹ và Á Châu. Nói về quyền
lực chính trị của Tòa Thánh Vatican hay Giáo Hội La Mã, học giả Phan
Đình Diệm ghi nhận trong bản Kiến Nghị 5 Về Đông (công bố vào Ngày Lễ
Chư Thánh 1998 tại Houston, Texas) với nguyên văn như sau:
“Hàng trăm Giáo Hoàng mặc long bào hoàng đế, đội
vương miện ba tầng, cầm gậy, ngồi kiệu 16 người khiêng, lọng hoa tán tía
rợp trời, đi giữa rừng gươm giáo sáng ngời, giữa rừng mâu thuẫn lóa mắt.
Leo lên tuyệt đỉnh vua trên hết các vua, chúa trên hết các chúa là Thánh
Giáo Hoàng Gregory (1073-1085). Ông ban hành tuyên cáo “Dictatus papae”
gồm 27 điều có hiệu lực như luật: “Chỉ một mình Giáo Hoàng được dùng huy
hiệu hoàng đế. Chỉ một mình Giáo Hoàng mới được đưa bàn chân cho mọi
vương tôn phải cúi hôn. Chiếu theo luật, chỉ một mình Giáo Hoàng mới có
quyền năng thuyên chuyển Giám Mục. Truyền rằng không có Synod (Hội Nghị Tôn
Giáo) nào gọi là CHUNG nếu không có Giáo Hoàng chủ trì. Truyền rằng Giáo
Hoàng không hề bị xét xử bới bất cứ ai. Các Giáo Hoàng đắc cử sau một
cuộc bầu cử đúng luật đều là thánh…” Giáo Hoàng Boniface VIII
(1294-1303) bày mưu thần kế quỷ để cướp ngôi, Giáo Hoàng Celestine V
(1294) phải từ nhiệm nhường ngôi cho con người đầy tham vọng thế tục
này. Boniface VIII là một trong vài giáo hoàng củng cố quyền lực tinh
thần và thế tục mạnh bạo nhất. Ông ban hành sắc lệnh “Unam Sanctam”
(Giáo Hội duy nhất thánh thiện) phán rằng “về tính duy nhất và độc nhất
này, Giáo Hội chỉ có một thân thể và một đầu – không có hai đầu như quái
vật – là Đức Ki-tô, đại diện cho Đức Ki-tô là Phêrô, và các đấng kế vị
Phêrô… Truyền rằng, trong giáo hội này và trong quyền lực của Giáo Hội,
có hai thanh gươm, một cho giáo quyền và một cho thế quyền.” Ông mặc áo
long bào Hoàng Đế và phán rằng: “Ta giống Hoàng Đế nhiều hơn là Giáo
Hoàng “ (as much an emperor as a pope). Tóm lại, có nhiều đoạn lịch sử
giáo triều Roma, nó na ná như Kinh Xuân Thu của Cụ Khổng, na ná như vài
đoạn trong Sử Ký của Tư Mã Thiên. Còn về nạn quần hồng má đào thao túng
quyền lực Giáo Hội trong cung điện Giáo Hoàng vào cuối thế kỷ IX sang
đầu thế kỷ X thì giống y hệt chuyện Đông Châu Liệt Quốc. Trong 16 thế kỷ
Giáo Hội Triều Đình, có tất cả 16 Giáo Hoàng trên ngai vàng bị giết
chết, không kể Đức Giáo Hoàng John Paul I (1978) giữa thế kỷ XX này.
Trung bình mỗi thế kỷ một Giáo Hoàng mất mạng vì quyền lực của ngai
vàng.” Phan Đình Diệm, “Kiến Nghị Về Đông,”(trang 5). www.kitohoc.com
Ngày 19/9/1999. (Xin xem thêm Mục II, Phần I trong bộ sách Lịch Sử Và Hồ
Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã.)
2.- Giáo Hội La Mã trở thành một thế lực giầu có
nhất thế giới.- Nói về sự giầu có của Giáo Hội La Mã, sách Living
World History cho chúng ta biết sơ qua về khối tài sản khổng lồ của
Giáo Hội và một vài phương cách mà Giáo Hội sử dụng để bóc lột nhân
dân. Dưới đây là bản văn sử này:
"Giáo Hội đã trở nên vô cùng giầu có. Lợi tức hàng
năm của Giáo Hội còn nhiều hơn cả lợi tức của tất cả các nhà cầm quyền
thế tục (Âu Châu) gom lại. Giáo Hội thường xuyên tiếp nhận nhũng khối
tài sản lớn lao về đất đai (của các thế lực chính trị hay của các nhà
giầu có dâng cúng - NMQ). Ngoài ra, Giáo Hội còn thu thuế 10 phần trăm lợi tức
của mỗi người dân bắt buộc phải đóng cho Giáo Hội." Nguyên văn: "The
Church had also grown immensely wealthy, its income exceeding that of
all the important lay rulers put together. It was constant recipient of
large gifts of land in addition to the tithe, or tenth part of income,
that each member was required to pay to the Church.") Arnold Schrier &
T. Walter Wallbank, Living World History (New York: Glenview, Illinois,
1974), p. 148.
Sử gia Helen Ellerbe ghi lại sự giầu có cùng những
mánh mung làm tiền vô cùng bỉ ổi và hết sưc đê tiện của Giáo Hội La Mã
với nguyên văn như sau:
“Trong thời Trung Cổ, Giáo Hội tích lũy tài sản một
cách quá đáng. Giáo Hội chiếm hữu những tài sản của những người chết
không có người thừa kế và được miễn thuế. Vì thế mà khối tài sản về
ruộng đất của Giáo Hội lên tới ¼ hay 1/3 của toàn thể ruộng đất ở Tây
Âu. Thêm vào những khoản tài sản này, các ông giám mục còn là những
lãnh chúa ruộng đất trong vùng quản nhiệm giống như các ông công tước
hay nam tước và cũng thi hành nghĩa vụ cung cấp binh lính vào khi bọn
vua chúa địa phương cần đến. Giáo Hội làm tiền bằng cách thu nhận những
khoản tiền do các nhà cầm quyền trong đế quốc đóng góp, bằng cách tịch
thu tài sản theo những phán quyết của tòa án, bằng cách bán giấy xá tội
cho tín đồ, bằng cách bán những chức vụ trong hệ thống quyền lực của
Giáo Hội, và nhiều khi Giáo Hội dùng cả bạo lực để chiếm đoạt ruộng đất
của nhân dân dưới quyền.” Nguyên văn: “The Church amassed inordinate
wealth during the Dark Ages. Patrimonial properties, the church held
lands that there were free and clear of taxes or military obligation to
the king, made up between one-quarter and one third of western Europe.
In addition to the patrimony, bishops often held territories in feudal
tenure, obliging them like any count or baron to provide the king with
soldiers when called. The Church made money by collecting revenues from
imperial rulers, by confiscating as a result of court judgment, by
selling remission of sins (called “indulgences”), by selling
ecclesiastical offices (called “simony”), and sometimes by simply taking
land by forces.”) Helen Ellerbe, The Dark Side Of Christian History
(Windermere, FL: Morningstar and Lark, 1995), pp. 51
Bản Tuyên Cáo 6 của Học Hội Đức Giêsu Kitô Phục
Sinh được công bố ngày 15/-6/1999, trong đó có một đoạn viết như sau:
"Vào thế kỷ 15 và 16, không kể đất đai cát cứ, chỉ
nguyên bất động sản thuộc loại kiến trúc của Giáo Hội trên khắp cõi Âu
Châu và Địa Trung Hải, nếu đặt gần nhau, chiều dài bằng (hay) dài hơn
"Vạn Lý Trường Thành" của nhà Tần bên Trung Quốc, nhưng bề dầy thì dầy
hơn kiến trúc của nhà Tần gấp nhiều lần. Nông nô hay tá điền, lao nô hay
công nhân phục vụ cho Giáo Hội có thời, có nơi lên đến 1/3 dân số đất
nước của các vua chúa thời phong kiến. Ngoài ra, Giáo Hội còn thiết lập
một hệ thống thuế vụ riêng, một hệ thống pháp đình riêng, cả hai độc
lập, ngoài quyền kiểm soát của các ông hoàng đế và các ông vua. Khối
lượng "mammom" (tài sản) của Giáo Hội là khối tài sản thủ đắc khổng lồ,
vô địch thiên hạ cổ kim. Một Giáo Hội "kinh bang tế thế" thành công vẻ
vang huy hoàng như thế, người ta không thể nói đến dân chủ.” Phan Đình
Diệm. “Tuyên Cáo 6 Ngày 15/6/1999.” Pddiem@hotmail. Ngày 19/9/2000.
Trong bức tâm thư của Học Hội Đức Giêsu Kitô Phục
Sinh gửi các linh mục Việt Nam vào tháng 5/1999, trong đó có một đoạn
nói rõ những khối tài sản khổng lồ mà Giáo Hội đã cướp đoạt được tại một
số quốc gia Âu Châu. Nguyên văn đoạn này như sau:
“Giáo Hội tự định nghĩa mình là “Một Mầu Nhiệm”,
tự gọi mình là “Hiền Thê của Thiên Chúa Làm Người”...Nhưng tài sản của
Giáo Hội trước thời cải cách Luther – Erasmus, tại Đức là 1/5 cả nước,
tại Pháp là 1/7 cả nước, tại Tây Ban Nha là 1/6 cả nước, tại Ý là 1/4 cả
nước... Đó là quyền lực của mammon (mamona) mà Đức Giêsu Kitô giảng dạy
trong Tin Mừng: “Người là tôi tớ cho mamon (của cải) vào nước Trời khó
hơn lạc đà chui qua lỗ chôn kim”, thế mà “hiền thê của Đức Kitô” liên
tiếp trong mười mấy thế kỷ giầu nhất thiên hạ Đông Tây.” Phan Đình
Diệm. “Tâm Thư Chia Sẻ Cảm Nghiệm Với Linh Mục Trong và Ngoài Nước Việt
Nam.” tanvien@kitohoc.com Ngày 19/9/2000.
3.- Giáo Hoàng và tu sĩ Da-tô hủ hóa sống đời phóng
đãng loạn luân, dâm loàn.- Quyền hành sinh ra tội ác và giầu có sinh ra
hủ hóa. Đây là quy luật lịch sử và cũng là quy luật về tâm lý và xã hội.
Dù tự phong là những người mang chức thánh với những danh xưng tốt đẹp
như là đức thánh cha, đức hồng y, đức tổng giám mục, đức giám mục và linh
mục, thì các ngài cũng vẫn là con người bằng xương bằng thịt với đủ tất
cả thất tình lục và dục, tất nhiên là các ngài cũng không thoát ra khỏi cái
quy luật lịch sử và xã hội trên đây. Cũng vì thế mà trong thực tế, các
ngài đã gây nên hàng chục rặng núi tội ác trùng trùng như hàng chục rặng
Hy Ma Lạp Sơn. Tất cả những rặng núi tội ác này của các ngài nói riêng,
và của Giáo Hội nói chung đều được sách sử ghi lại đầy đủ và rõ ràng
của từng mỗi chuyện, trong đó có cả những chuyện của các ông giáo
hoàng và các vị chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatican sống đời
phóng đãng, lọan luân, dâm loàn hết sức là kinh khủng với tất cả những
gì tinh vi nhất và hết sức siêu việt. Sách Babylon Mystery Religion dành
hẳn Chương 12 với tựa đề là Papal Immorality trong đó tác giả kể ra
những màn kịch của hơn 20 giáo hoàng ("Đức Thánh Cha") đại diện Chúa
Kitô "ăn no rửng mỡ", rồi "ấm cật dậm dật phao câu", rồi thanh toán lẫn
nhau bằng những thủ đoạn vô cùng kinh khủng mà tác giả cuốn sách này cho
là "kinh khủng độc nhất vô nhị trong lịch sử loài người" (sheer horror
has never been duplicated in the annals of human history). Xin mời quý
vị theo dõi những sự kiện này qua các tài liệu và sách sử với những đoạn
văn nguyên bản như sau:
"Thêm vào những bằng chứng hiển nhiên cho chúng ta
thấy rằng nhân cách và đức độ của rất nhiều ông giáo hoàng không xứng
đáng đựợc gọi là giáo hoàng. Một số các ông giáo hoàng có những hành
động hủ hóa, sa đọa, đê tiện và bỉ ổi đến nỗi ngay cả những người ngoại
đạo cũng cảm thấy xấu hổ cho các Ngài. Các ông giáo hoàng thường hay
phạm những tội ác như ngoại tình, làm tình một cách bất bình thường với
đàn ông, bán thánh, hiếp dâm, giết người và say sưa tuý lúy. Những
người thường cao rao là "Đức Thánh Cha", là "Đại Diện của Chúa Kitô", là
"Giám Mục của các ông giám-mục" mà lại mang đầy những tội ác như vậy,
nghe ra thật là rùng mình! Những ai đã thấu hiểu lịch sử của chế độ
giáo hoàng và Giáo Hội La Mã đều biết rõ ràng là không phải tất cả các
ông giáo hoàng đều thánh thiện cả." Nguyên văn: "In addition to the
conclusive evidence that has been given, the very character and morals
of many of the popes would tend to identify them as successors of pagan
priests, rather than representatives of Christ or Peter. Some of the
popes were so depraved and base in their actions, even people who
professed no religion at all were ashamed of them. Such sins as
adultery, sodomy, simony, rape, murder. and drunkenness are among the
sins that have committed by popes. To link such sins with men who have
claimed to be the "Holy Father", "The Vicar of Christ", and “Bishop of
bishops", may sound shocking, but those acquainted with the history of
the papacy well know that not all popes were holy men." Ralph Woodrow,
Babylon Mystery Religion (Riverside, CA:Ralph Woodrow Evangelistic
Association, Inc. 1981), p. 91.
Sách này viết tiếp:
"Giáo Hoàng Sergius III (904-911) sát hại vị tiền
nhiệm để nhẩy lên ngôi vị giáo hoàng. Sách sử Giáo Hội La Mã cho biết
cuộc đời mang đầy tội ác của ông về chuỵện ông sống công khai với bà
Marozia và có nhiều con ngoại hôn với người đàn bà này. Sử gia Baronius
gọi ông là “con qủy râu xanh” và sử gia Gregorovius thì gọi ông là “tên
tội đồ khủng bố”... Những năm Giáo Hoàng Sergius III tại vì là những
năm khởi đầu cho thời kỳ “bọn gái điếm lộng hành và tháo túng Tòa Thánh
Vatican” (904-963)." Nguyên văn: “Pope Sergius III (904-911) obtained the papal office by murder. The annals of the church of Rome tell
about his life of open sin with Marozia who bore him several
illegitimate children. He was described by Baronius as a "monster" and
by Gregorovius as a "terrorizing criminal." ....The reign of Pope
Sergius III began the period knơwn as "the rule of the harlots"
(904-963)." Ralph Woodrow.. Ibid., pp. 91-92
"Giáo Hoàng John X (914-928) nguyên thủy được đưa
tới nhận chức Tổng Giám Mục ở Ravanna, nhưng bà Theodora ra lệnh đưa ông
trở về kinh thành Rome để rồi đưa lên làm giáo hoàng. Theo Giám-mục
Liutprand địa phận Cremona, người viết lịch sử về thời 50 năm sau đó thì
“Bà Theodora ủng hộ việc đưa John lên làm giáo Hoàng là để dễ dàng sống
công khai với ông.” Sau đó, ông bị bà Marozia ám sát chết để đưa Leo VI
(928-929) thay thế. Leo VI cũng chỉ ở ngôi có mấy tháng (From May to
December 928) rồi cũng bị bà Marozia ám sát chết sau khi bà ta khám phá
ra ông giáo hoàng này yêu một người đàn bà khác." Nguyên văn: “John X
(914-928) originally had been sent to Ravanna as an archbishop. Theodora
had him returned to Rome and appointed to the papal office. According to
Bishop Liutprand of Cremona who wrote a history about fifty years after
this time, "Theodora supported John's election in order to cover more
easily her illicit relations with him." His reign came to a sudden end
when Marozia smothered him to death! She wanted him out of the way so
Leo VI (928-929) could become pope. His reign was a short one, however,
for he was assassinated by Marozia when she learned he had "given his
heart to a more degraded woman than herself!” Ralph Woodrow., Ibid., p.
92.
Sách Gia Tô Thực Dân Sử Liệu (The Documented
History of Catholic Colonialism) cho biết có rất nhiều giáo hoàng có
những thành tích bất nhân, bất nghĩa, sống đời hoàng đàng, phóng đãng,
vô luân, loạn luân, dâm loàn. Sách này viết:
"Giáo Hoàng Felix III (483-492) trong thời gian là
giáo hoàng có tới 3 người con (3 người con này đều chết cả…)" "Giáo Hoàng Adrian II (867-872) sống chung với vợ và
con gái ở điện Lateran." "Giáo Hoàng Sergius III (904-911) vốn là một
giám-mục có người vợ, tên là Mazouzia và đã có một người con trai với bà
này. Tới năm 904, khi lên ngôi Giáo Hoàng, ông ta mới lấy hiệu là
Sergius III. Nhờ sẵn có thế lực của cha mẹ, mấy chục năm sau, người con
trai này trở thành Giáo Hoàng John XI (931-936)". "Giáo Hoàng John XII
(955-963) đã từng loạn luân với em gái và bị chết vào ngày 14-5-964 khi
đang … với một cô nhân tình..." "Giáo Hoàng Leo VIII (963-964) chết đột
ngột vì bị máu xâm trong lúc đang phạm tội thông dâm." "Giáo Hoàng
Benedict IX (1032-1044) lên ngôi lúc 12 tuổi, đã từng giết người, thông
dâm ngay giữa ban ngày, cướp bóc tiền bạc của những người hành hương mộ
thánh tử đạo… bị dân La Mã tống xuất khỏi La Mã…" "Giáo Hoàng Pius II
(1458-1464) có hai người con hoang, từng công khai nói chuyện về các
phương pháp dụ dỗ đàn bà." "Giáo Hoàng Sixtus IV (1471-1484) loạn luân
với bà chị ruột và có một người con trai với bà này..." "Giáo Hoàng
Innocent VIII (1484-1492) có tới bẩy hay tám người con trai với nhiều bà
khác nhau. Nhiều vợ và nhiều con quá, ông phải tìm cách tăng thêm 26
chức vụ thư ký trong giáo triều để bán với giá mỗi chức là 62,400 đồng
duca." "Giáo Hoàng Alexander VI (1492-1503) tên thật là Borgia, một con
quỷ đã công khai loạn luân với hai người em gái và loạn luân luôn với cả
con gái ruột tên là Lucretia (that monster who lived in public incest
with his two sisters and his own daughter from whom he got a child). Đặc
biệt hơn nữa, ngày 31-10-1501, ông cho tổ chức một bữa tiệc cực kỳ dâm
loạn ở ngay trong điện Vatican với 50 cô gái trẻ đẹp khiêu vũ khỏa
thân để mua vui cho thực khách. Và người đàn ông nào làm tình nhiều lần
nhất sẽ được thưởng." (Chu Văn Trình, Gia Tô Thực Dấn Sử Liệu - Tập 1,
(Mt. Dora, Fl: Ban Tu Thư Tự Lực, 1990), trang 103-159.
Độc đáo hơn nữa là Giáo Hoàng John XII (955-963) và
Giáo Hoàng Sixtus IV (1471-1484), làm tiền theo kiểu “tú Bà” nhưng còn
siêu hơn cả "Tú Bà" vì rằng hai ông giáo hoàng này đều có Chúa Cha
Jehovah, Chúa Con Jesus “toàn năng, toàn thiện ở
khắp mọi nơi" và Chúa Mẹ là Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp luôn luôn “ban ơn" và
giúp đỡ. Chuyện này được sách Vicars of Christ ghi lại với nguyên văn
như sau:
"Ở Avignon, Giáo Hoàng John XXII tham lam cho phép
các tu sĩ được giữ tình nhân với điều kiện phải đóng thuế. Ngay cả các
ông tu sĩ trong trắng (không có tình nhân - NMQ) cũng phải đóng thuế
trong trường hợp họ ngả vào trong vòng tay của một người đàn bà." Nguyên
văn:"In Avignon, the avaracious John XXII allowed priests to keep their
mistresses on payment of a tax. Even the few chaste priests had to pay
up just in case they, too, fell into the arms of a woman." Peter de
Rosa, Vicars of Christ (Dublin, Ireland: Poolebeg Press Ltd, 2000), p.
410.
Kinh tởm hơn nữa, Giáo Hoàng Sixtus IV (1471-1484)
vừa loạn luân với chị hay em gái, vừa cho phép "mở nhà chứa" để thu
thuế.
"Giáo Hoàng Sixtus IV (1471-1484) can tội loạn luân
(incest) ăn ở với chị (em) gái sinh ra đứa con trai tên là Pietro Riario
và cũng là giáo hoàng đầu tiên cấp giấy hành nghề mở "nhà chứa" (nhà
thổ)) tại Kinh Thành La Mã. Nhờ vậy mà mỗi năm, ông thu hoạch được 30
ngàn tiền ducats. Ông cũng thâu hoạch được những khoản tiền khá lớn bằng
cách đánh thuế các tu sĩ nào muốn công khai sống với tình nhân (bạn
gái). Tệ hơn nữa, ông còn làm tiền bằng cách bán giấy phép cho các ông
nhà giầu được quyền "an ủi" các bà có chồng xa nhà, v.v..." Nguyên
văn: "Sixtus ' favourite was Pietro Riario, whom the historian Theodor
Griesinger believed was his son by his own sister.... Sixtus was the
first pope to license the brothels of Rome; they brought him in thirty
thousand ducats a year. He also gained considerably from a tax imposed
on priests who kept a mistress. Another source of income was granting
privileges to rich men "to enable them to solace certain matrons in the
absence of their husbands.”Peter de Rosa. Ibid., p.101.
Ai cũng biết rằng tình yêu lứa đôi trai gái khi
thăng hoa thì trở thành tình yêu vợ chồng và tình yêu gia đình. Đây là
thứ tình yêu tự nhiên, vô cùng thiêng liêng và hết sức cao quý. Nó tự
nhiên là vì nó bẩm sinh và tất cả mọi sinh linh khi đến "tuổi dậy
thì" (puberty) đều tự nhiên phát sinh ra nhu cầu cần phải có này. Rồi
từ đó trở đi, nó gần như trở thành một thứ nhu cầu căn bản (basic need)
cần phải có cho cuộc sống của tâm hồn, cho nhu cầu tâm lý và sinh lý. Nó
thiêng liêng và cao quý vì rằng ai cũng muốn có nó và khao khát có nó.
Khi đã có nó thì người ta hết lòng trân quý, sẵn sàng liều chết để bảo
vệ nó và bảo vệ cho người mình yêu. Bất kỳ người lương thiện và bình
thường nào đến tuổi yêu đương cũng đều có cái khát khao ao ước như vậy.
Nếu vì một lý do nào đó mà cái tình yêu thiêng liêng cao quý bẩm sinh
này mất đi thì người đó trở thành một hạng người "bất bình thường". Ở
một mức độ nào đó, đã có nhiều trường hợp những hạng người "bất bình
thường" này không còn là con người nữa, mà đã biến thành hàng súc sinh
như trường hợp các giáo hòang John XII (955-963), John XXIII
(1410-1415), Sixtus IV (1471-1484), Alexander VI (1492-1503), v.v....
(Còn nhiều nữa và nhiều lắm. Xin xem thêm trong Mục V., Phần I, bộ sách
Lịch Sử Và Hồ Sơ Tộ Ác Của Giáo Hội La Mã.)
4.- Thanh toán lẫn nhau để độc chiếm quyền lực.- Từ
ngàn xưa, trong xã hội loài người, bất kỳ trong phạm vi họat động nào,
hễ có quyền lực là có tranh chấp, rồi đi đến chỗ thanh toán và tàn sát
lẫn nhau để chiếm giữ quyền lực, và quyền lực càng lớn thì tình
trạng tranh chấp, thanh toán và tan sát lẫn nhâu càng khốc liệt và càng
đẫm máu. Người Trung Hoa có kinh nghiệm này sớm nhất và nhiều nhất cho
nên các nhà hiền triết của quốc gia này đã ghi nhận tình trạng này bằng
một bài thơ dưới đây:
Nhất đăng cửu ngũ,
Lục thân tình tuyệt
Phụ tử phản mục
Thủ túc tương tàn,
Thiên lương bất tại.
Giáo Hội La Mã là một trung tâm quyền lực nắm trọn
cả thần quyền lẫn thế quyền, quyền hành bao trùm cả miền Tây và Nam Âu,
lan tỏa sang các vùng ven biển Địa Trung Hải thuộc địa; rồi từ đầu thế
kỷ 16 cho đến giữa thế kỷ 20, quyền lực của Giáo Hội lại bao trùm lên
toàn thể các thuộc địa của các đế quốc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Bỉ và
Pháp ở các Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Á. Với quyền lực lớn lao như vậy,
tất nhiên là vấn đề thanh toán và tàn sát lẫn nhau để giành giật quyền
lực lại càng ghê gớm, càng khốc liệt và càng kinh khủng. Tình trạng này
đã xẩy ra ngay từ thế kỷ thứ tư và cho đến ngày nay vẫn còn tiếp diễn.
Tất cả những chuyện tranh chấp thanh tóan lẫn nhau để giành giật quyền
lực rồi tàn sát phe chiến bại để trả thù một cách cực kỳ dã man. Tất cả
những thực trạng này đều được
sách sử ghi lại rõ ràng. Phần dưới đây, chúng tôi sẽ cố gắng trình bày
một số trường hợp điển hình về những tội ác này để độc giả có ý niệm rõ
ràng về đời sống và cung cách hành xử cực kỳ kinh tởm của các “Đức Thánh
Cha” (giáo hoàng) và các vị chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatican
(cơ quan đầu não của Giáo Hội La Mã) mà học giả Henri Guillemen gọi là
“Cái Giáo Hội Khốn Nạn” (Malheureuse Église). Nhiều tác giả, Vatican Thú
Tội Và Xin Lỗi (Ga rden Grove, CA: Giao Điểm, 2000), tr. 92.
Từ khi Đế Quốc La Mã sụp đổ vào năm 476, Giáo Hội
càng ngày càng thâu tóm được nhiều quyền lực vào trong tay và càng trở
nên giầu có. Càng thâu tóm được nhiều quyền lực và tiền của vào trong
tay thì tình trạng chia bè lập đảng đánh phá và tàn sát lẫn nhau để
tranh giành quyền lực càng trở nên khốc liệt. Muốn biết rõ tình trạng
này như thế nào, chúng ta chỉ cần nhìn vào danh sách các giáo hoàng
trong cuốn Vicars of Christ của Giáo-sĩ Peter de Rosa (New York, Crown
Publishers, Inc., 1988), rồi đếm xem có bao nhiêu ông ngụy giáo hoàng
(antipopes) để suy nghiệm ra là có bấy nhiêu lần các vị chức sắc cao cấp
trong giáo triều Vatican chia bè lập đảng tàn sát thanh toán lẫn nhau để
giành chiếm ngôi vị giáo hoàng. Theo tài liệu này, người viết tính ra có
tới 37 ông ngụy giáo hoàng, tức là có tới 37 lần các ông mang chức
thánh cao cấp nhất trong Giáo Hội chia thành hai hay ba phe đảng, mỗi
phe, chiếm cứ một vùng xưng hùng xưng bá, thành lập giáo triều riêng, tự
xưng là chính thống, gọi đối phương là ngụy, rồi phát động những chiến
dịch tấn công "diệt tận gốc, trốc tận rễ " các phe thù địch và những
thành phần đối kháng, còn ghê gớm và kinh khủng hơn cả tình trạng nước
Trung Hoa trong thời Xuân Thu (722-481 TCN), thời Chiến Quốc (403-221
TCN), thời Tam Quốc (220-280), và nước Việt Nam ta vào thời Thập Nhị Sứ
Quân trong thế kỷ X, thời Nam Triều - Bắc Triều (1533-1592), thời Trịnh
Nguyễn Phân Tranh (1627-1775), và trong những năm 1954-1975.
Ngoài 37 lần chia phe chia phái rồi tàn sát tiêu
diệt lẫn nhau như vậy, lại còn có rất nhiều vụ các vị chức sắc cao cấp
trong giới lãnh đạo của Giáo Hội ngấm ngầm thanh toán và tàn sát lẫn
nhau hết sức dã man để tranh thắng và chiếm giữ ngôi vị giáo hoàng. Tát
cả những sự kiện này đều được sách Vicars of Christ ghi lại với nguyên
văn như sau:
"Sự thù nghịch bộc phát thành những cuộc chiến
tiêu diệt lẫn nhau thường xẩy ra vào khi có giáo hoàng qua đời. Thi dụ,
khi (Giáo Hoàng) Liberius (352-366) chết vào năm 366, giáo triều chia
làm hai phe, mỗi phe chọn một người của phe mình lên kế vị. Ursinus
là giáo hoàng của một phe và Damasus là giáo hoàng của phe khác. Sau khi
đánh nhau ở ngoài đường phố, phe Ursinus yếu thế, chạy vào trong nhà thờ
St Mary Major (thường gọi là Thánh Đường Đức Bà Bạch Tuyết) rồi đóng
cửa lại tử thủ. Phe Damasus tiến tới, trèo lên nóc nhà thờ đục lỗ, rồi
dùng ngói và đá liệng xuống tấn công phe Ursinus. Đồng thời, một toán
khác của phe Damasus tấn công vào trong qua cửa chính. Khi lọt được vào
trong, hai bên ra sức chém giết lẫn nhau liên tiếp trong ba ngày. Cuối
cùng, có tới 137 xác chết khiêng ra ngoài. Tất cả xác chết này đều là
người của phe Ursinus. Ursinus bị bắt cho đi sống lưu vong, nhưng tội ác
ở trong thánh đường Mary Major là vết nhơ trong thời Giáo Hoàng Damasus
mãi mãi vẫn còn ghi trong sách sử." Nguyên văn: “Bitter rivalries often
showed themselves on the death of a pope. For example, when Liberius
(352-366) died in 366, two factions elected a successor. Ursinus was one
pope. Damasus was the other. After a lot of street fighting, Ursinus ‘
followers locked themselves in the recently completed basilica of St
Mary Major, known as “Our Lady of Snow”. Damasus’ supporters climbed on
the roof, made a hole in it and bombarded the occupants with tiles and
stones. Others meanwhile were attacking the main door. When this caved
in, a bloody fight ensued for three days. At the end of it, 137 bodies
were carried out, all of them followers of Ursinus. Ursinus was sent
into exile by the emperor’s representative, but the crime in Mary Major
was a permanent blot on Damasus’ copybook.” Peter de Rosa, Vicars of
Christ (New York: Crown Publishers, Inc., 1988), p. 38.
Thảm trạng chia bè lập đảng rồi thanh toán và tàn
sát lẫn nhau để tranh giành quyền lực trong giáo triều Vatican cũng được
sử gia Helen Ellerbe ghi lại trong cuốn The Dark Side Of Christian
History với nguyên văn như sau:
“Tiền bạc và thế lực giữ một vai trò quan trọng
trong việc leo lên nấc thang quyền lực trong Giáo Hội La Mã và tạo nên
cái bản chất nhơ nhớp của Giáo Hội trong thời Trung Cổ. Ít nhất là có
tới 40 (bốn mươi) người đã dùng thế lực và tiền bạc lo lót để leo lên
chức vụ giáo hoàng. Khi mà ngôi vị giáo hoàng đổi chủ quá nhiều lần như
vậy thì tất nhiên có rất nhiều nguồn tin nói về tội ác và những cảnh
tượng sát hại lẫn nhau để tranh giành quyền lực trong những lần ngôi vị
gíao hoàng đổi chủ như vậy. Trong một thời gian khoảng một trăm năm, có
tới hơn 40 người lên nắm giữ chức vị giáo hoàng. Trong thời gian 12 năm
từ 891 đến 903, có không dưới mười người nhẩy lên ngôi giáo hoàng.” Nguyên văn: “Money and power played a critical role in man ’s ascent to
through the Church hierarchy and contributed to the disreputable nature
of the medieval Church. At least forty different Popes are known to have
bought their way into the papacy. Allegations of murder and crime within
the Church abounded as the papacy so frequently changed hands. In a
particular one hundred year period, more than forty Popes came to
office. In the twelve years period from from 891 to 903 alone no less
than ten different Popes held power.” Helen Ellerbe, The Dark Side Of
Christian History (Windermere, FL: Morningstar and Lark, 1995), p. 50-51
Vì tình trạng thanh toán và tàn sát lẫn nhau quá
phổ quát và hết sức mãnh liệt, cho nên mỗi lẫn có cuộc họp là xác người
la liệt, nhiều quá đến nỗi họ không có đủ nhân lực và thì giờ để chôn
cất. Xác người chết trở thành xình thối, gây nguy hại cho môi sinh. Để
giải quyết vấn đề này, họ thỏa thuận với nhau là chọn những địa điểm
cuộc họp gần sông hay hồ lớn để sau khi tàn sát lẫn nhau thì sẽ liệng
xác những kẻ bị thanh toán vào trong lòng nước. Đọan văn sử dưới đây
trích ra từ sách Vicars of Christ cho chúng ta thấy rõ sự kiện này và
cũng cho chúng ta thấy rõ cuộc sống hoang đàng, bê bối, thối tha của
giai cấp tu sĩ được mệnh danh là những người mang chức thánh của Giáo
Hội La Mã:
“Khi có cuộc họp của một số đông các tu sĩ của Giáo
Hội La Mã thì địa điểm nhóm họp phải là nơi gần sông hay hồ lớn để
liệng xác người (bị thanh toán) xuống đó. Hồ Constance đã tiếp nhận tới
hơn năm trăm xác người (bị thanh toán); Con sông Rhine cũng là nơi tàng
chứa rất nhiều bí mật. Một điều kiện khác nữa là nơi các Ngài hội họp
phải đủ rộng rãi có thể chứa được một số lớn gái điếm để phục vụ cho nhu
cầu sinh lý của các Ngài mang chức thánh của Giáo Hội. Việc làm này còn
khẩn cấp hơn là vấn đề quân sự và giá tiền lại rẻ hơn. Vào lúc cao