Lịch
sử không khác chi một tấm tranh ráp (tranh puzzel) gồm những mảnh nhỏ
(sự kiện) gắn lại. Người viết sử cần phải gom càng nhiều mẩu hình rời
rạc càng tốt, rồi chọn lựa những mảnh nào thích hợp để có thể chắp (ráp)
lại thành một bức tranh có ý nghĩa theo chủ đề của tác phẩm. Nếu không,
những hình ảnh nhỏ bé (chỉ là những mảnh
vẽ do thợ cắt bày sẵn), sẽ không ăn
khớp với tấm hình (lạc điệu với chủ đề). Một số các mảnh rời bị mất hay
thiếu trong đó, bức tranh sẽ bị méo mó, bị lạc hướng và mất chủ điểm của
nó. Tương tự như vậy, người viết sử có lương tâm sẽ không bỏ sót bất cứ
sự kiện nào có liên hệ đến giòng lịch sử. Nếu không, tác phẩm lịch sử đó
sẽ chứa đựng rất nhiều điều sai lầm, không đúng với sự thật lịch sử.
Nói cho rõ hơn, viết sử mà không có căn bản lịch sử để nhìn toàn diện
của một giai đoạn lịch sử có liên hệ đến chủ đề của tác phẩm, thì sẽ có
rất nhiều sai lầm ở trong đó.
Hầu
hết những sai lầm của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn được nêu lên trong tập
sách này đều có thể là vì không thấu hiểu lịch sử thế giới cũng như
không thấu hiểu lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại. Kinh nghiệm
cho thấy rằng, không phải chỉ có một mình nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn mới
phạm phải những sai lầm này. Người viết được biết, vào khoảng đầu năm
1999, trong cuộc phỏng vấn của báo Người Việt, Đức Ông Nguyễn Đức Tiến
cũng đã đưa ra những lời tuyên bố và nhận xét sai lầm tương tự như vậy
về lịch sử. Xin xem sách Thực Chất Của Giáo Hội La Mã - Quyển Một của
Nguyễn Mạnh Quang (Tacoma, WA, TXB. 1999, tr 181-192).
Khi
viết cuốn Chứng Nhân Hy Vọng (Vatican, Công Đồng Đức Mẹ La Vang,2000),
Hồng Y Nguyễn Văn Thuận cũng đưa ra lời tuyến bố sai lầm về lịch sử
giống như vậy (đã trình bày ở trên).
Trong
thực tế, không phải chỉ có mấy trường hợp rơi vào tình trạng sai lầm như
đã được nên lên ở đây. Hầu hết những lớp người theo học hết bậc trung
học ở miền Nam Việt Nam từ cuối thập niên 1860 cho đến năm 1975 cũng đã
nghĩ, đã viết và đã phát biểu về lịch sử một cách sai lầm như vậy, nhất
là những sự kiện lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại.
Tại
sao lại có thể xẩy ra như vậy?
Như
đã trình bày ở trên, chương trình Sử và Công Dân trong chương trình học
trung học ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 đều do các nhà
truyền giáo và tu sĩ Da-tô hoạch định. Giáo Hội La Mã vốn có chủ trương:
1.-
Cắt xén và bóp méo rất nhiều sự kiện lịch sử trong môn sử Việt Nam trong
thời cận và hiện đại để tránh né, không nói tới vài trò các các giáo sĩ
truyền giáo và giáo dân Việt Nam trong hàng ngũ Liên Minh Pháp – Vatican
chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam từ năm 1858 đến 1954.
2.-
Không đưa vào chương trình học toàn bộ môn sử thế giới vào trong chương
trình trung học. Lý do nếu đưa toàn bộ những bài học lịch sử thế giới
thì sẽ có (a) những bài học nói về những việc làm khuất tất bất chinh và
tội ác của Giáo Hội, (b) những sự kiện có liên hệ đến đời sống bê bối,
thối tha, loạn luân dâm loàn của các ông giáo hoàng trong thời Trung
Đại, và (c) những phong trào nhân dân Âu Châu nổi lên chống lại Giáo
Hội. Bằng chứng cho chủ trương này của Giáo Hội là “Bộ sử thế giới do
học giả Nguyễn Hiến Lê và ông Thiên Giang biên soạn vào năm 1956 bị cấm
lưu hành, tác giả Nguyễn Hiến Lê bị sỉ và là “đầu óc đầy rác ruởi” và bị
mật vụ theo dõi…." Như đã nói ở trên.[i]
Cũng
vì lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại bị
bàn tay của Giáo Hội bưng bít, cắt xén và bóp méo, cho nên học sinh
Việt Nam sinh ra, lớn lên và theo học bậc trung học ở miền Nam trong
những năm 1954-1975 không biết gì về lịch sử thế giới, hiểu biết sai lạc
về lịch sử Việt Nam, nhất là trong thời cận và hiện đại, rồi khi ra nước
ngoài, họ lại cũng không chịu tra cứu tài liệu lịch sử liên hệ đến đề
tài mà họ viết hay phát biểu như trường hợp tác giả Nguyễn Ngọc Ngạn và
nhiều tác giả khác mà người viết đã nêu lên ở trong tập sách này hay ở
trong cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1963 và trong bộ sách
Thực Chất của Giáo Hội La Mã.
Do
đó, những bài viết về lịch sử Việt Nam của họ (1) mất hẳn phần quan
trọng là không nói gì đến vai trò của Giáo Hội La Mã và của tín đồ Da-tô
người Việt sát cánh với Liên Minh Pháp- Vatican chống lại tổ quốc và
dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử từ cuối thế kỷ 18 cho đến
năm 1954 và trong hàng ngũ Liên Minh Mỹ - Vatican chống lại cuộc chiến
giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước trong những năm 1954-1975, và
(2) bóp méo và xuyên tạc lịch sử.
Điển
hình cho tình trạng này là cuốn sách Việt Nam Cuộc Chiến Quốc Gia -
Cộng Sản (Santa Clara, CA: Nhân Chứng, 2002) của Nhóm Nghiên Cứu
Lịch Sử Cận Và Hiện Đại của các tác giả Dương Diên Nghi, Nguyễn Châu,
Lương Văn Toàn, Lê Hữu Phú và Hoàng Đức Phương. Dĩ nhiên là cuốn sách
này không hề đả động đến vai trò của Giáo Hội trong việc Liên Minh Pháp
đem quân sang tái chiếm Đông Dương trong vai trò của ông cựu Linh-mục
Thierry d’ Argenlieu nắm giữ chức vụ Cao Ủy Đông Dương kể từ ngày
17/8/1945 cho đến ngày 15/3/1947 và vai trò của Giáo Hội La Mã trong chủ
trương thi hành chính sách chia để trị bằng cách
(1) xé đất nước Việt
Nam ta ra làm nhiều tiểu quốc theo (a) biên giới đia lý (tách rời Nam Kỳ
ra khỏi nước Việt Nam và thành lập nước Cộng Hòa Nam Kỳ), (b) biên giới sắc tộc (thành lập nước Tây Nguyền và Liên Bang Thái tự trị) và (c) biên
giới tôn giáo (thành lập hai giáo khu Phát Diệm và Bùi Chu tự trị)
(2)
đưa ra Giải Pháp Bảo Đại dùng người Việt đánh người Việt và dùng tín đồ
Da-tô cai trị đại khối người Việt thuộc các tôn giáo khác. Vấn đề này đã
được trình bày đầy đủ trong Mục XV (Chính Sách Chia Để Trị của Vatican
tại Viet Nam) Phần IV trong bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác cua Giáo
Hội La Mã.
Về
việc các ông tác giả cuốn sách này diễn dịch lươn lẹo để bóp méo và
xuyên tạc lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại, người viết xin
ghi lại dưới đây một vài đoạn văn trong cuốn sách này để chứng minh
những việc làm bất chính này của họ.. Có thể là bị ảnh hưởng bởi cái
cung cách hành xử lươn lẹo của Giáo Hội, cho nên khi viết sử họ cũng
lươn lẹo một cách vô cùng trắng trợn giống như Giáo Hội đã hành xử trong
gần hai ngàn năm qua. Dưới đây là một số những đoạn văn viết một cách
lươn lẹo và thêm thắt của mấy ông sử nô này. Xin chú ý những nhóm chữ
được chúng tôi gạch dưới:
1.-
“Cũng trong ngày 17/8/ 1945, Tổng Hội Công Chức biểu tình tại Nhà Hát
Lớn Hà Nội, ủng hộ Tuyên Ngôn Độc Lập và Nội Các Trần Trọng Kim. Cán bộ
Cộng Sản đã dùng vũ lực cướp diễn đàn, biến cuộc mít tinh này
thành ủng hộ Việt Minh.” (trang xii)
2.- “Ngày
18/8/1945, các đội tuyên truyền Việt Minh công khai đến khắp mọi nơi
trong thành phố và phụ cận hăm dọa, ép buộc dân tham gia cuộc
biểu tình võ trang vào ngày 19/8/1945 với cờ đỏ sao vàng. Dân
tình hoang mang, các đảng phái quốc gia lo lắng, về âm mưu cướp chính
quyền của Việt Minh là tổ chức mà đa số thành viên là đảng viên cộng sản
trá hình để điều khiển.” (trang xii)
3.-
“Lúc 10 giờ ngày 19/8, cán bộ cộng sản từ đoàn biểu tình
tiến vào Phủ Khâm Sai của Nam triều dùng súng uy hiếp ông Phan Kế
Toại và bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, Khâm Sai Bắc Kỳ, bắt mở của phủ. Bác
sĩ Chữ đã phải ra lệnh Bảo An Binh mở cửa. Việt Minh vào tước khí giới
Bảo An Binh và sau đó mời bác sĩ Trần Văn Lai lên xe chở về giam giữ tại
một vùng quê phía cầu Long Biên. Mãi đến tháng 6 năm 1946, đưa về giam
tại Nha ông An Hà Nội, rồi phóng thích). …” (trang xii)
4.- “Ngày
21/8/1945, cán bộ cộng sản hô hào, vận động và ép buộc
thanh niên, sinh viên và nhân sĩ Hà Nội ủng hộ Việt Minh và đưa kiến
nghị đòi vua Bảo Đại thóai vị trao quyền cho chính phủ lâm thời do Việt
Minh thành lập.” Trang xii và xiii)
5.- “Ngày
23/8/1945, lúc 12 giờ trưa, vua Bảo Đại được tối hậu thư từ nhóm Việt
Minh địa phương Huế, đòi nhà vua phải trao tất cả quyền bính từ trung
ương đến địa phương khẩn cấp để bảo đảm tính mạng của hòang gia
kỳ hạn trong vòng 1 giờ 30 phút cùng ngày….” (trang xiii).
6.-
“Một sự kiện lịch sử bi thảm nhất đó là chính Hồ Chí Minh và
Cộng Sản Việt Nam vào năm 1946, đã thương lượng mời quân Pháp trở
lại chiếm đóng đất nước để họ rảnh tay thanh tóan những người quốc
gia không chấp nhận cộng sản. Hành động này đã làm cho các chính phủ
quốc gia từ ngày Hoàng Đế Bảo Đại hồi loan về chấp chánh và Chánh Phủ
Ngô Đình Diệm đã phải đương đầu cùng một lúc với hai thế lực thực dân
Pháp và lực lượng Việt Minh cộng sản đang vào rừng lập chiến khu đánh
phá sát hại nhân dân.” (Trang xvii).
Những
dòng có gạch ở dưới được ghi nhận là đã bị các tác giả diễn dịch lươn
lẹo.
Người
viết nhận thấy cả 6 đoạn văn trên đây đều được diễn đạt một cách lươn
lẹo để bóp méo sự thật lịch sử. Những người am hiểu lịch sử Việt Nam đều
biết rằng những biến cố lịch sử dồn dập xẩy ra ở Việt Nam từ ngày từ
15/8/1945 cho đến ngày 2/9/1945 đều được ghi rõ trong các sách sử hay
hồi ký của các chứng nhân lịch sử như:
Bộ sử
Việt Sử Tân Biên và Việt Sử Toàn Thư của ông Phạm Văn Sơn,
Cuốn
Việt Nam Máu Lửa của cụ Nghiêm Kế Tổ,
Cuốn
Hai Mươi Năm 1945-1964 Việc Từng Ngày của cụ Đoàn Thêm,
Cuốn
Việt Nam 1920-1945 của cụ Ngô Văn,
Cuốn
Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử của ông Nguyễn Kiên Trung tức Nguyễn Mạnh Côn,
Cuốn
Việt Nam Quốc Dân Đảng của ông Hoàng Văn Đào,
Bộ
sách Trả Ta Sông Núi (gồm 3 tập) của ông Phạm Văn Liễu, v.v….
1.-
Ông Phạm Văn Sơn viết (trích đoạn
trong sách Việt Sử Toàn Thư):
“Lúc
này, tại Bắc Việt, hai lực lượng cách mạng tranh nhau cướp chính quyền:
Đại Việt Quốc Gia Liên Minh, một mặt trận quốc gia có nhiều đảng phái và
quan trọng hơn cả là Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc Xã của các
ông Nhược Tống (Nhượng Tống?), Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Văn Tiếu, v.v… và
Mặt Trận Việt Minh do các lãnh tụ Đông Dương Cộng Sản Đảng là Hồ Chí
Minh, Võ Nguyên Giáp điều khiển. Dân chúng hướng cả về các lực lượng và
trong khi Việt Nam là cái nhà bỏ ngỏ, dĩ nhiên ai vào truớc thì người ấy
làm chủ. Việt Minh có nhiều kỹ thuật cách mạng và thủ đoạn sâu sắc đã
đi bước trước sau khi tổ chức được nhiều cuộc biểu tình cổ động quần
chúng từ ngày 15/8/1945 đến ngày 19/8/1945, nắm được hậu thuẫn của các
tầng lớp dân chúng.
Ngày
25/8, vua Bảo Đại thoái vị, chính phủ Trần Trọng Kim bị giải tán và một
chính phủ lâm thời do ông Hồ Chí Minh làm chủ tịch ra mắt quốc dân ngày
2 tháng 9 …”3[ii]
2.-
Cụ Đòan Thêm viết trong cuốn
Hai Mươi Năm 1945-1964 Việc Từng Ngày như sau:
“Ngày
15/8/1945: Nhật Hoàng phải đích thân kêu gọi quân đội và dân chúng chịu
nhận đầu hàng.
Tướng Mac Arthur được cử làm Tổng Tư Lệnh Đồng Minh tại Thái Bình Dương.
Bộ
Tư lệnh Nhật giao trả phủ Toàn Quyền cũ ở Hà Nội cho phủ Khâm Sai Bắc
Bộ, và tha nhiều người đã bị Hiến Binh Nhật bắt giam vì lý do an ninh.
Tướng Leclere Hautecloque được De Gaulle cử làm Tư Lệnh Lục Quân Pháp
tại Đông Dương.
Ngày 17/8 Nam Dương tuyên bố Độc Lập. Lãnh tụ Sookarno được bầu làm Tổng
Thống.
Đô
Đốc Thierrry d’ A rgenlieu được De Gaulle cử làm Cao Ủy Pháp kiêm Tổng
Tư Lệnh tại Đông Dương. Vua Bảo Đại gửi điện văn kêu gọi Tổng Thống Mỹ
Truman, Đồng Minh và cả De Gaulle, yêu cầu bảo vệ Độc Lập của Việt Nam:
Dân Việt Nam quyết tranh đấu đến cùng để giữ nước.
Công chức Hà Nôi tổ chức biểu tình khổng lồ, tuần hành qua các đường lớn
để tỏ ý chí bảo vệ đất nước. Cuộc biểu tỉnh lại biến ra cuộc biểu tình
ủng hộ Mặt Trận Giải Phóng. Các đoàn Dân Quân Giải Phóng chiếm đoạt
chinh quyền ở nhiều địa phương..
18/8/194.- Bắc bộ phủ bị quần chúng ùa tới bao vây. Khâm Sai Phan
Kế Toai vắng mặt, rồi loan tin từ chức. Một Ủy Ban Nhân Dân thành lập
tại Hà Nội, nhưng dân chúng chưa có vị lãnh đạo.
19/8/1945.- Quân Nhật vẫn canh gác trên nhiều ngả đường Hà Nội. Biểu
tình lớn trước nhà Hát Lớn để nghe tuyên bố của Mặt Trận Cứu Quốc Việt
Minh. Dân Quân Giải Phóng và cờ đỏ sao vàng xuất hiện nhiều nơi, chiếm
đóng các công sở. Đê Đồng Lao ở Hà Đông bị vỡ, nước tràn ngập nhiều
vùng.
20/8/1945.- Việt Minh chiếm đài vô tuyến điện Bạch Mai, Hà Nội, và phát
thanh cổ động trên làn sóng 32 thước.
21/8/1945.- Một số thanh niên trí thức nhóm họp tại Đại Học Xá Hà
Nội, và biểu quyết gửi điện văn yêu cầu vua Bảo Đại thoái vi.
22/8/1945.- Mặt Trận Việt Minh xuất hiện ở Hà Nội và Sàigòn. Tại Sàigòn,
Thanh Niên Tiền Phong tuyên bố gia nhập. Vua Bảo Đại tuyên chiếu thoái
vị.”
[iii]
4
3.-
Cụ Nghiêm Kế Tổ viết trong cuốn
Việt Nam Máu Lửa như sau:
“Chiều
ngày 17/8, Tổng Hội Công Chức triệu tập một cuộc mít tinh ở Nhà Hát Lớn
Hà Nôi để tranh đấu đòi độc lập, trong Tổng Hội Công Chức đó cũng đã có
nhiều phần tử Việt Minh họạt động. Giữa lúc các diễn giả đang hô hào dân
chúng, một lá cờ đỏ sao vàng vĩ đại bỗng nhiên xuất hiện và quốc kỳ quẻ
ly từ từ hạ. Từ các ngả, đội Xung Phong Tuyên Truyền Việt Minh tiến
tới, đồng thời vang lên những khẩu hiệu “Ủng hộ Việt Minh.” Các cán bộ
Việt Minh đàng hoàng chiếm máy phóng thanh để nói trước dân chúng.
Cô Tâm Kính, một cán bộ phụ nữ người Trung Việt thuộc Dân Chủ Đảng, sau
được bầu làm Đại Biểu Quốc Hội, hăng hái kêu gọi dân chúng tham gia và
ủng hộ phong trào. Cuộc mít tinh biến thành biểu tình tuần hành, đi qua
Bờ Hồ, Hàng Đào, Hàng Ngang, giải tán ở Quan Thánh trước thái độ yên
lặng của quân đội Nhật.
Ngày 18/8, các đội tuyên truyền Việt Minh công khai chia nhau đi các
phố, các ngả, dùng loa kêu gọi toàn thể dân chúng nội ngoại thành chuẩn bị dự
cuộc biểu tình tuần hành võ trang sẽ được tổ chức tại công trường Nhà
Hát Lớn vào ngày hôm sau.
Hà
Nội hồi hộp sống giữa rừng biểu ngữ, truyền đơn, cờ đỏ sao vàng la liệt.
Thành phố như lên cơn sốt rét, chỗ nào cũng bàn tán xôn xao, mong đợi
ngày mai chóng tới để được biết mặt Việt Minh, những con người ngang
tàng đã từng đùa rỡn Hiến Binh Nhật, đã từng chiến thắng quân đội Nhật.
Ngày 19/8/1945! Tại Công Trường Nhà Hát Lớn, hàng mấy chục vạn dân
chúng rầm rộ từ khắp các ngả đường kéo tới, tập hợp dưới sự hướng dẫn
của Ủy Ban Khởi Nghĩa. Người ta thấy những Đội Xung Phong Tuyên Truyền
võ trang bằng súng lục, dao găm đứng trên thềm cao, ở dưới có những đội
cảnh sát với y phục trắng, những đoàn hướng đạo, học sinh v.v… Trước
mặt Nhà Hát Lớn, một hàng cờ đỏ nghễu nghện, san sát bao vòng lấy vườn
hoa, ở giữa cắm một cờ cao vút. Giữa mầu không khí rực hồng, những vũ
khí thô sơ đủ kiểu, đủ hình, từ dao bầu, kéo sắc, kiếm thờ, bù long,
cày, cuốc, bồ cào cho đến mã tấu, đinh ba, gậy gộc, súng săn, thôi thì
đủ thứ, cái gì có thể đánh người được, đều được mang ra để biểu dương ý
chí.
Sau khi nghe lời hiệu triệu của Ủy Ban Mặt Trận, dân chúng bị
khích động, rầm rộ kéo đến Dinh Khâm Sai theo sự hướng dẫn của các Đội
Xung Phong Võ Trang, yêu cầu ông Phan Kế Toại trao lại chính quyền cho
nhân dân. Không tốn một viên đạn, chính quyền được trao lại cho các Ủy
Viên đại diện (thực ra, đã có cuộc điều đình từ đêm trước). Đoàn
người như nước vỡ bờ, vừa đi vừa hô những khẩu hiệu mạnh mẽ, tràn đến
Tòa Đốc Lý. Đến đây, Thị Trưởng Trần Văn Lai thức thời, bước ra niềm nở
đón tiếp.
Khi dân chúng tiến đến trại Bảo An Binh, quân lính Nhật thoạt tiên
còn khăng khăng không chịu giao những kho vũ khí, viện cớ phải để trao
trả Đồng Minh, dân chúng phẫn nộ bao vây hàng mấy tiếng đồng hồ. Sau đó,
quân lính Nhật đành để cho dân chúng chiếm trại. Công việc chiếm đoat
chính quyền tại các tỉnh tiến hành rất dễ dàng. Riêng tại Hà Đông,
khi dân chúng tiến vào Dinh Tỉnh Trưởng bị Quản Dưỡng hạ lệnh cho binh
lính bắn chết và bị thương một số, nhưng sau Quản Dưỡng cũng bị bắt. Khi
chính quyền đã hoàn toàn về tay Việt Minh, Quản Dưỡng bị xử tử hình.” [iv]
4.-
Cụ Ngô Văn viết trong cuốn
Việt Nam 1920-1945 như sau:
“Được
tin Nhật thất trận, Hồ Chí Minh triệu tập Hội Nghị Quốc Gia ở Tân Trào
(Thái Nguyên) Hội Nghị thành lập một Ủy Ban Giải Phóng Dân Tộc và phát
(ra) lệnh Tổng Khởi Nghĩa nhằm thiết lập “Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa” như Việt Minh đã công bố từ năm 1941. Lực lượng du kích “Giải Phóng
Quân” tiến về Hà Nội
Quân đội Nhật đang chiếm đóng Đông Dương không phản ứng. Ngày 16/8,
Nhật thả một số tù nhân chính trị và chuyển giao nhiệm vụ Toàn Quyền
Đông Dương cho Khâm Sai Phan Kế Toại, theo thỏa thuận vào giờ cuối cùng
mà Trần Trọng Kim rốt cuộc giành được trong tay lãnh sự Nhật
Tsuchihashi.
Ngày
17/8, 20.000 (20 ngàn) người biểu tình tập họp trước Nhà Hát Lớn thành
phố Hà Nội. Trên khán đài, lãnh tụ Việt Minh hô hào quần chúng giật cờ
của triều đình xuống, kéo cờ Việt Minh lên. Trùng trùng cờ đỏ sao vàng
phất phới khắp thành phố.
Ngày
18/8, “Giải Phóng Quân” vào Hà Nội, quan Khâm Sai nhường cho Ủy Ban Việt
Minh.
Ngày
19/8, xe tăng Nhật
Bản chạy dọc các thành phố nhưng không can thiệp ở nơi nào. Như vậy,
không nổ một phát súng, Việt Minh đã chiếm được hầu hết các công sở hành
chánh. Quân Nhật nhượng cho họ những vũ khí trong Sở Vệ Binh Đông
Dương. Chỉ riêng Nhà Ngân Hàng Đông Dương là quân Nhật không để cho
Việt Minh chiếm. Thế là Việt Minh đã làm chủ mọi công sở ở Hà Nội thay
thế Phan Kế Toại.
Hai ngày sau, các ủy
ban Việt Minh chiếm đóng các nhà hội làng ở Bắc Kỳ, và ngay ở Hà Nội,
các nhà trí thức tập họp tại Khu Đại Học lấy danh nghĩa “đại biểu mọi
tầng lớp dân chúng” gởi điện tín yêu cầu Bảo Đại thoái vị.
Ở
Huế, ngày 22/8, Bảo Đại Yêu cầu Việt Minh lập một chính phủ mới.
Hà Nội buộc Bảo Đại thoái vị trước đã, và dường như thử thách hoàng gia,
bèn đem bắn Phạm Quỳnh, cựu thủ tướng chính phủ Bảo Đại, ở một nơi gần
Huế.. Ngày 25/8, hoàng đế trao ấn kiếm triều đình cho đại biểu
Việt Minh và ký vào chiếu thoái vi.
Vài hôm sau, Hồ Chí Minh phong Bảo Đại chức “Cố Vấn Tối Cao”, người
trước kia là hoàng đế thì nay trở thành công dân Vĩnh Thụy.”
[v]
Qua
những đọan văn trích dẫn từ những sách sử trên đây, chúng ta thấy:
1.-
Không có chỗ nào cho thấy “Cán bộ Cộng Sản đã dùng vũ lực cướp
diễn đàn”,
2.-
Không có chỗ nào cho thấy “Các đội tuyên truyền Việt Minh công
khai đến khắp mọi nơi trong thành phố và phụ cận hăm dọa, ép buộc dân
tham gia cuộc biêu tình võ trang vào ngày 19/8/1945 với cờ đỏ sao
vàng.”
3.-
Không có chỗ nào cho thấy “Cán bộ cộng sản từ đoàn biểu tình tiến
vào Phủ Khâm Sai của Nam triều dùng súng uy hiếp ông Phan Kế
Toại và bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, Khâm Sai Bắc Kỳ, bắt mở của phủ.”
4.-
Không có chỗ nào cho thấy “Cán bộ cộng sản hô hào, vận động và ép
buộc thanh niên, sinh viên và nhân sĩ Hà Nội ủng hộ Việt Minh và đưa
kiến nghị đòi vua Bảo Đại thóai vị trao quyền cho phính phủ lâm thời do
Việt Minh thành lập.”
Ấy
thế mà các ông tác giả cuốn sách Việt Nam: Cuộc Chiến Tranh Quốc Gia -
Cộng Sản lại khơi khơi đưa ra những lời tuyên bố khẳng định chắc nịch
một cách lươn lẹo “nói không thành có” như đã trình bày trên.
Ngoài
những đoạn văn trên đây,đặc biệt là các ông tác giả của cuốn sách này
còn đưa ra lời tuyên bố xuyên tạc lịch sử như sau:
“Một
sự kiện lịch sử bi thảm nhất đó là chính Hồ Chí Minh và Cộng Sản Việt
Nam vào năm 1946, đã thương lượng mời quân Pháp trở lại chiếm đóng
đất nước để họ rảnh tay thanh toán những người quốc gia không chấp
nhận cộng sản. Hành động này đã làm cho các chính phủ quốc gia từ ngày
Hoàng Đế Bảo Đại hồi loan về chấp chánh và Chánh Phủ Ngô Đình Diệm đã
phải đương đầu cùng một lúc với hai thế lực thực dân Pháp và lực
lượng Việt Minh cộng sản đang vào rừng lập chiến khu đánh phá sát hại
nhân dân.” (Trang xvii).
Đoạn
văn trên đây chứng tỏ các tác giả này có chủ tâm bóp méo lịch sử và cũng
không biết gì về những ý đồ và công việc chuẩn bị của Liên Minh Pháp –
Vatican tái chiếm Đông Dương từ tháng 3 năm 1945.
Những
người am tường lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại đều biết
rằng, không phải đợi đến năm 1946 khi được ông Hồ
Chí Minh mời rồi Đế Quốc Pháp mới đem quân tấn công và chiếm đóng
Việt Nam. Sự thật lịch sử là Đế Quốc Pháp đã có dã tâm tái chiếm Đông
Dương ngay từ cuối tháng 3 năm 1945 với lời tuyến bố của ông Charles de
Gaulle vào ngày 24/3/1945 (The March Declaration) theo đó ông ta khẳng
định rằng,“Tương lai Đông Dương nằm trong Cộng Đồng Pháp như là một
thuộc địa..” (The future of indochina within the French Community,
as the colonial empire were henceforth euphemistically called), Joseph
Buttinger, Vietnam: A Political History (New York:
Frederich A. Praeger, 1968), p. 212
7
[vi].
Rồi
sau đó, ngày 16/8/1945, Tướng Leclerc được lệnh đem quân
sang Việt Nam, và ngày 17/8/45, chính quyền de Gaulle thỏa thuận
(cấu kết) với Tòa Thánh Vatican bổ nhậm cựu Linh-mục Thierry D’
Argenlieu nắm giữ chức vụ Cao Ủy Đông Dương kiêm nhiệm chức vụ Tổng Tư
Lệnh Đoàn Quân Viễn Chinh tái chiếm Đông Dương. Sự kiện này được sử gia
Joseph Buttinger ghi nhận trong cuốn Vietnam: A Political History
như sau:
“Ngày
16 tháng 8, Tướng Leclerc được lệnh đem quân sang Việt Nam. Ngày
17 tháng 8. Paris bổ nhậm Đô Đốc Thierry d’ Argenlieu giữ chức Cao Ủy
Đông Dương lo việc quản lý Đông Dương.” Nguyên văn: “On
August 16, troops under the command of General Leclerc, a military hero
of the European war, were ordered to proceed from France Madagascar, and
Calcutta to Vietnam. On August 17, Paris appointed Admiral Thierry d’
Argenlieu High commissioner of the new Frenh administration for
indochina.” Joseph Buttinger. Ibid, 214
8
[vii]
Tháng
10/1945, một trung đoàn
quân Pháp dưới quyền chỉ huy của Tướng Massu đổ bộ vào miền Nam tăng
cường cho thế lực Liên Minh Pháp-Vatican đã có sẵn ở đây để chuẩn bị mở
những cuộc hành quân tiêu diệt các lực lượng Kháng Chiến Việt Nam ở miền
Nam. Sự kiện này được sử gia Bernard B. Fall ghi lại trong cuốn The
Two Vietnams như sau:
“Tướng
Massu lúc đó đang chỉ huy quân đội ở miền Đông nước Pháp, được
lệnh chỉ huy trung đoàn đầu tiên tiến vào lãnh thổ Việt Nam vào tháng
10 năm 1945.” Nguyên văn: “General Massu, who now
commmands French troops in eastern France, commanded the first
regimental combat team that landed in Vietnam in October , 1945.”)
Bernard B. Fall, The Two Vietnams (New York: Frederick A.
Praeger, 1967), p 69-70.
[viii]
Việc
Pháp đem quân ra Bắc và việc ông Hồ Chí Minh cùng ông Vũ Hồng Khanh ký
bản Thỏa Hiệp Sơ Bộ 6/3/1946 được Giáo-sư Lê Xuân Khoa ghi nhận trong
cuốn Việt Nam 1945-1975 như sau:
“Ngày28 tháng 2 năm 1946, Trung Hoa ký với Pháp bản thỏa ước Trùng
Khánh, đồng ý cho quân đội viễn chinh Pháp tới thay thế quân đội Trung
Hoa ở miền Bắc Việt Nam để đổi lấy việc Pháp trả lại các đặc quyền và
nhượng địa đã chiếm đoạt từ thế kỷ trước. Ngoài ra, Trung Hoa cũng được
Pháp dành cho một số quyền lợi về kinh tế ở Việt Nam. Đại Tướng Leclerc,
tư lệnh Đoàn Quân Viễn Chinh Pháp tới Sàigòn, lập tức ra lệnh cho chiến
hạm chuyển quân ra Bắc, dự liệu sẽ tới cảng Hải Phòng ngày 6 tháng Ba.
Để tránh đụng độ quân sự, Hồ Chí Minh vội vã chấp thuận các điều
khỏan trong Hiệp Định Sơ Bộ, theo đó Việt Nam được nhìn nhận là một nước
“tự do” trong Liên Bang Ðông Dương và Liên Hiệp Pháp, có chính phủ riêng
nhưng chỉ được chia một phần cai trị về đối nội. Việt Nam bằng lòng cho
15 ngàn quân Pháp tới thay thế quân Trung Hoa. Pháp đồng ý tổ chức một
cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề thống nhất ba miền đất nước. Ngày ký Hiệp
Định Sơ Bộ là ngày 6 tháng Ba. Bộ trưởng Ngoại Giao Nguyễn Tường Tam
không chịu tham dự. Phó Chủ Tịch Quân Ủy Vũ Hồng Khanh phải ký tên cùng
với Hồ Chí Minh trên bản Hiệp Ðịnh. Mặc dù đã có sự chia sẻ trách
nhiệm như vậy, dư luận đă tỏ ra bất mãn và các đảng phái quốc gia
chỉ trích Hồ Chí Minh rất nặng, thậm chí lên án ông “bán nước cho
Pháp.” Ngày hôm sau, Việt Minh phải tổ chức một buổi mít tinh trước
Nhà Hát Lớn thành phố để Chủ Tịch Hồ Chí Minh giải thích thích. Ông kết
luận bằng một lời thề: “Tôi thà chết chứ không bao giờ bán nước.”
[ix]
Cũng nên biết là vào thời gian này
(cuối năm 1945), Toà Thánh Vatican đã có dã tâm chống lại chính quyền
Việt Nam dưới quyền lãnh đạo của cụ Hồ Chí Minh và Mặt Trận Việt Minh
với mưu đồ phục hồi vương quyền nhà Nguyễn bằng cách đưa ông vua gỗ Bảo
Đại trở lại chính quyền bằng một quái chiêu gọi là “Giải Pháp Bảo Đại”
được mạ kền bằng những danh xưng hào nhoáng như “Chính Quyền Quốc Gia”,
“Chính Nghĩa Quốc Gia” với ông Bảo Đại làm quốc trưởng và với lá cờ vàng
ba sọc đỏ làm biểu tượng đấu tranh hầu lừa gạt nhân dân làm tưởng rằng
ông Bảo Đại là người nắm được chính nghĩa tranh đấu cho quyền lợi tối
thượng của tổ quốc và dân tộc. Mưu đồ này được dự tính và tiến hành từ
tháng 12/1945 cho đến tháng 6/1948 trở thành cụ thể..Sự kiện lịch sử này
đều được sách sử ghi lại rõ ràng. Sách Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 -Tập
A: 1939-1946 ghi lại với nguyên văn như sau:
"Ngày 28/12/1945: HUẾ:
Tổng Giám Mục Antoni Drapier, đại diện Roma, tuyên bố:
"Gia đình Bảo Đại là gia đình thân
Pháp bậc nhất trong dân chúng Việt Nam (la plus francophile de tois les
annmites) và theo ý ông ta, nên cho Bảo Đại lên ngôi như trước
ngày 9/3 (À mon avis, il serait avantageux pour le calm de rétablir le
Roi comme chef régulier avant le 9 mars; DOM [aix], CP 125). DRAPIER
cũng đưa ra giải pháp là có thể sau đó sẽ cho Bảo Long kế vị, và Nam
Phương làm Giám Quốc [Phụ Chính]." Chính Đạo, Sách Việt Nam Niên Biểu 1939-1975
-Tập A: 1939-1946 (Hou ston, TX: Văn Hóa0, 1996), tr.295.
Cũng nên biết là bà Nam Phương Hoàng
Hậu (vợ Bảo Đại) và Bảo Long đều là những tín đồ Da-tô bị đem đến nhà
thờ để rửa tội từ thuở còn bế ngửa.
Bản văn này cho chúng ta thấy rõ ý
đồ của Vatican là dùng ông Da-tô Bảo Đại trong chính sách dùng người
Việt đánh người Việt và dùng tín đồ Da-tô cai trị đại khối nhân dân
thuộc các tôn giáo khác. Ý đồ đã có sẵn trong chủ trương cố hữu của
Giáo Hội La Mã và nó chỉ lộ ra cho chúng ta thấy trong câu nói: “nên
cho Bảo Đại lên ngôi như trước ngày 9/3 (À mon avis, il serait
avantageux pour le calm de rétablir le Roi comme chef régulier avant le
9 mars…” Qua lời tuyên bố trên đây của Tổng Giám Mục Antoni Drapier
vào ngày 28/12/1945, chúng ta thấy, Giáo Hội công khai tuyên bố ý đồ
này từ cuối tháng 12/1945.
Sau
đó, Giáo Hội La Mã ra lệnh cho Khâm Mạng Toà Thánh tại Đông Dương là
Frater Antoninus Drapier công bố lá thư luân lưu mang số 827/61 đề ngày
15/5/1946 với mục đích răn đe giáo dân Việt Nam không được ủng hộ hay
tham gia hoạt động trong các đoàn thể hoặc chính quyền hay quân đội
kháng chiến Việt Nam. Dưới đây là nguyên văn một vài đoạn của lá thư:
"Mọi
người đã hẳn đều có nguyện vọng được người đồng chủng cai trị mình. Con
nhà Công Giáo ao ước có những đấng chăn chiên bản quốc... Nhưng chỉ có
một mình Giáo Hội mới minh xét cho biết đã đến thời phải thực hiện
nguyện vọng đó hay chưa. Vậy ai dùng lời nói hay báo chí để đưa dư luận
đi quá cấp tốc kẻ ấy tự thị muốn đi trước Tòa Thánh Roma và tỏ thái độ
xấc ngạo và bất tuân với đức giáo hoàng.... Nhận thấy ít nhiều giáo hữu
Việt Nam, trong thời buổi ấy đã ăn ở phạm đến quyền của Tòa Thánh, nên
chỉ định mấy điều sau đây:
1.-
Chiểu khoản 2.334 luật giáo hội: kẻ nào nhờ đến thế lực phần đời mà làm
ngăn trở quyền cai trị của đấng bề trên phần đạo hoặc trực tiếp hay gián
tiếp thì phải vạ tuyệt thông.
2.-
Chiếu khoản 2.331 luật giáo hội: kẻ xúc phạm đến đức giáo hòang, đức
khâm mạng, hay bề trên địa phận chính thức thì tức khắc phải vạ tuyệt
thông.
3.-
Các hội đòan Công Giáo bất kỳ lấy tên nào làm danh hiệu đều buộc phải
nhân quyền bề trên trong đạo. Nếu mà chối thì phải kể là người ngọai
đạo, tội nhân và phải vạ tuyệt thông nữa.”
[x]
Bản
văn này nói lên cái dã tâm của Giáo Hội La Mã trong việc Liên Minh Pháp
– Vatican đem quân ra Bắc lúc bấy giờ.
Phần
trình bày trên đây cho chúng ta thấy rõ các tác giả cuốn sách Việt Nam
Cuộc Chiến Tranh Quốc Gia - Cộng Sản đã:
1.-
Không thấu hiểu lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam trong thời cận và
hiện đại.
2.-
Không hiểu rõ những biến cố xẩy ra ở trên thế giới có ảnh hưởng đến Việt
Nam và cũng không hiểu rõ chính tình Việt Nam trong những năm 1940-1945.
3.-
Không hiểu rõ những hoạt động của các đảng phái cách mạng Việt Nam và
thực lực của các đảng phái này trong thời gian từ 1940 cho đến khi Quốc
Quân Trung Hoa tràn vào lãnh thổ Việt Nam để giải giới quân đội Nhật
khởi đầu vào những ngày chót cúa tháng 8 năm 1945. Và mãi tới ngày
11/9/1945, Tướng Tiêu Lư Hán đến Hà Nội bằng đường hàng không.
4.-
Không hiểu rõ nỗi thống khổ của nhân dân ta trong suốt thời kỳ 1885-1945
nằm dưới ách thống trị bạo tàn của Liên Minh Đế Quốc Xâm Lăng Pháp –
Vatican.
5.-
Không hiểu rõ uất khí căm phẫn thù ghét của nhân dân Việt Nam đối với
Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp - Vatican cấu kết với bọn phong
kiến phản động bản địa và bọn Việt gian phản quốc “cõng rắn cắn gà nhà”.
6.-
Không hiểu rõ ý chí và khí thế bừng bừng sôi sục của nhân dân ta vào
những ngày tháng mùa thu trong năm 1945 như thế nào!
Các
điều 4, 5 và 6 trên đây được ông Hoàng Văn Đào viết trong cuốn Việt Nam
Quốc Dân Đảng như sau:
“Sau
80 năm bị lệ thuộc, dân tộc Việt Nam chỉ thèm khát độc lập, và không
biết gì đến khuynh hướng chính trị của phe này với nhóm khác. Người dân
Việt Nam nghĩ rằng: miễn là nước được độc lập, còn đảng phái nào lãnh
đạo cuộc tranh đấu giành độc lập hay cầm chính quyền cũng vậy, cốt là
“Nước Việt Nam của người Việt Nam!”
Một
yếu tố khác nữa, ngót hai triệu đồng bào chết đói vừa qua, là chết để
đem linh hồn thức tỉnh ý chí những kẻ còn sống cũng phải phục thù rửa
hận cho toàn dân. Đó là hoàn cảnh tạo nên cuộc cách mạng
âm ỷ trong đầu óc mọi người dân Việt, khác nào như một kho thuốc nổ, chỉ
còn đợi người nào hoặc đoàn thể nào châm ngòi lửa là nổ bùng. Lò thuốc
súng đã có người châm, ngòi đã nổ, quần chúng ùa chạy theo Việt Minh
Cộng Sản.
Sáng
ngày 19/8/1945 vào hồi 8 giờ hơn, đoàn cán bộ Việt Minh, tất cả chưa
tới con số 30 người với 17 khẩu súng lục, tiến đến Nhà Hát Lớn Hà
Nội. Mấy cán bộ lên đọc ngập ngừng những bài hiệu triệu yếu ớt trước máy
phóng thanh với rất đông quần chúng tay cầm lá cờ giấy đỏ sao vàng từ 5
cửa ô tiến vào, hợp với số dân chúng thủ đô đã đứng đợi từ sớm. Đến hồi
10 giờ bắt đầu biến cuộc biểu tình thành tuần hành thị uy tiến về phía
Khâm Sai Phủ.
Khâm
Sai Phủ lúc bấy giờ chỉ còn lại một mình bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ và 50
binh sĩ Bảo An. Bác sĩ Chữ cho gọi lấy máy phát thanh để nói chuyện với
dân chúng một vài lời thì được trả lời các máy phong thanh đã cho Việt
Minh mượn hết.”
[xi]
Bản
văn sử trên đây của tác giả Hoàng Văn Đào cùng với những phần trình bày
ở trên cho chúng ta thấy rằng những gì được các tác giả trình bày trong
cuốn Việt Nam Cuộc Chiến Tranh Quốc Gia - Cộng Sản mà chúng tôi đã nêu
lên ở trên đều không đúng với sự thật lịch sử. Nói cho rõ hơn, tất cả
những sự kiện này đều bị các ông tác giả của cuốn ngụy thư này bóp méo
một cách hết sức trắng trợn với một ý đồ bất chính để tô vẽ cho bọn Việt
gian tay sai của Giáo Hội La Mã mà các ông khoác cho họ cái danh nghĩa
là “những người quốc gia chân chính”.
Tóm
lại, phần trình bày trên đây cho chúng ta thấy rằng:
Tất cả những sai lầm về lịch sử được
viết ra hay phát biểu bởi các ông tu sĩ và tín đồ Da-tô hay bởi các văn
nô và sử nô Da-tô đều do ảnh hưởng của chính sách ngu dân và giáo dục
nhồi sọ do Giáo Hội La Mã ở hậu trường sân khấu chính trị chủ trương mà
ra cả. Nói cho rõ hơn, tất cả những thành tích nói láo trên đây đều do
Giáo Hội La Mã chủ mưu, rồi rèn luyện cho bọn văn nô và sử nô trở thành
những hạng người có bản chất nói láo như cuội để làm tay sai viết sử
phục vụ cho nhu cầu tuyên truyền của Giáo Hội, cho nên mới có tình trạng
viết láo, viết ẩu, viết bậy. Cũng vì thế mà Giáo Hội La Mã đã trở
thành một tổ chức chuyên môn nói láo, nói láo chuyên nghiệp. Kinh nghiệm
lịch sử cũng như kinh nghiệm trong cuộc sống hành ngày cho chúng ta thấy
rằng cái quy luật tội ác sinh ra tội
ác và sinh sản theo cấp số cộng hay cấp số nhân" quả thật là có giá trị
gần như là tuyệt đối. Sự kiện này cũng được học giả Da-tô Phan Đình Diệm
ghi nhận trong bài viết "Những Lời Bàn về
"Mea Culpa Bài 3" (Giáo Hội Công Giáo Roma La-tinh Cáo Thú Tội Lỗi Ngàn
Năm vào ngày Chủ Nhật 12/3/200) với nguyên văn như sau:
“LỜI TÁM: Trong 7 Chương tội mà Giáo
Hội Công Giáo Roma La-tinh cáo thú, có nhiều tội danh phải kể là "vượt
tội" mang cấp số cộng hay cấp số nhân. Ví dụ: Giáo Hội phạm tội A, muốn
giấu kín và bưng bít tội A, Giáo Hội nhắm mắt phạm thêm tội B để bảo vệ
tính bí nhiệm của tội A. Giáo Hội bị cuốn hút vào quy luật đổ giây
chuyền của những con bài dominos, Giáo Hội phạm thêm tội C để bảo vệ các
tội A và tội B... Thử tưởng tượng từ ngày Giám-mục Pierre Cauchon (đồng
âm với con heo) thiêu sống Bà thánh Jeanne d' Arc, cho đến ngày Bà được
phong thánh là hơn 400 năm, các tòa giảng của Giáo Hội trên khắp cõi Âu
Châu phải ăn gian nói dối và vu oan giá họa cho Bà bao nhiêu lần? Giết
Bà cũng một tay Giáo Hội, phong thánh cho Bà cũng một tay Giáo Hội,
nhưng có mấy ai được may mắn như Bà. Hầu hết các trọng tội mà Giáo Hội
phạm tại các "Tòa Điều Tra Dị Giáo" là tội đẻ ra tội theo cấp số cộng
và cấp số nhân." Phan Dình Diệm. "Mea Culpa Bài 3 - Giáo
Hội Công Giáo Roma La Tinh Cáo Thú Tội Lỗi Ngàn Năm" http://
www.kitohoc.com/Bai/Net066.html
ngày 19/9/2000
Nhất
sự bất tín, vạn sự bất khả tín. Chỉ nói láo có một lần cũng đã tự làm
cho mình mất tín nhiệm và tự biến mình thành “thằng cuội” trước mắt mọi
người. Ấy thế mà trong gần hai ngàn năm qua, Giáo Hội đã có thành tích
với cả rừng chuyện nói láo để biện minh cho những chuyện hoang đường như
chuyện Chúa Cha Jehovah là “Đấng Toàn Năng, Toàn Thiện, có mặt ở khắp
mọi nơi”, chuyện “tội tổ tông” bịp bợm, những chuyện nói láo để thần
thánh hóa ông thợ mộc Jesus thành một vị Chúa Cứu Thế cùng với hàng rừng
chuyện nói láo tiếp theo để bảo vệ những rừng chuyện nói láo trước đó và
cứ thế mà nói láo cho đến ngày nay. Tính ra, Giáo Hội La Mã đã nói láo
có cả hàng triệu triệu lần để lừa gạt người đời. Đặc tính nói láo của
Giáo Hội đã trở thành bản chất, không nói láo thì không phải là Giáo Hội
La Mã.
Tu sĩ
và tín đồ Da-tô thường hãnh diện coi Giáo Hội như là cha mẹ của họ. Cha
nào con ấy và con hơn cha nhà có phúc. Vì thế, họ cũng nói láo giống y
hệt như Giáo Hội và có khi còn siêu việt hơn cả Giáo Hội. Cũng vì thế mà
các nhà viết sử mới cho rằng những gì các nhà truyền giáo loan truyền
hay kể ra đều là chuyện nói láo cả. Sự kiện này được chính Linh-mục Phan
Phát Huồn ghi lại trong bộ sách Việt Nam Giáo Sử (Quyển I) với nguyên
văn như sau:
“Phần
đông các sử gia cho những chuyện của Giáo-sĩ thuật lại là những chuyện
hoang đường…”
[xii]
(Hết - xin đọc thêm phần Phụ
Lục)
[i] Nguyễn Hiên Lê,
Đời Viêt Văn Của Tôi (Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1986), tr. 99-101.
[ii] Phạm Văn Sơn,
Việt Sử Toàn
Thư (Sàgòn: Thu Lâm ?n thu Quán, 1960), tr 706-707
[iii] Đoan Thêm, 1945-1964
Việc
Từng Ngày (Los Alamitos. CA: Xuân Thu, 1980?), tr 10-11
[iv] Nghiêm Kế Tổ, Việt Nam Máu
Lửa (Los Alamitos. CA: Xuân Thu, 1989), tr 42-44,
[v] Ngô
Văn, Việt Nam 1945-1945, (Amarillo, TX: Hải Mã, 2000), tr. 314.
[vi]
Joseph Buttinger, Vietnam: A Political History
(New York:
Frederick A Praeger, 1968), p. 212
[vii]
Joseph Buttinger, ibid., p 215
[viii]
Bernard B. Fall, The Two Vietnams (New York: Frederick A. Praeger
inc., 1967), tr 69-70
[ix] Lê
Xuân Khoa, Việt Nam 1945-1995 Tập I (Bethesda, MD, 2004), tr.
66-67.
[x]
Quang Toàn & Nguyễn Hoài, Những Hoạt Động Của Bọn Phản Động Đội Lốt
Thiên Chúa Giáo (Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học, 1965), tr.17
[xi]
Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng (Sàigon: TXB, 1970), tr.255-256.
[xii] Phan Phát Huồn,
Việt Nam Giáo Sử - Quyển I (Sàigòn: Cứu Thế Tùng Thư, 1965), tr 39