 |
02 Nov, 2007
|
Các bài trong chương 63: 1
2
CHƯƠNG 63
(tiếp theo)
V.- ĐẶC TÍNH CUỒNG TÍN CỦA NGÔ
ĐÌNH DIỆM
Những tướng
tinh như lùn, tướng đi lạch bạch, hay chân chữ bát, bạch diện vô tu, cắp mắt
trắng bệch, lòng trắng nhiều hơn lòng đen, hay nhìn trộm, v.v… là thiên bẩm hay
trời sinh và không có cách nào thay đổi được.
Trái lại, căn
bệnh cuồng tín về tôn giáo là nhân tạo. Nó là hậu quả của việc đương sự bị nhồi
sọ bởi chính sách ngu dân do thế lực tôn giáo của đương sự chủ trương. Bị nhồi
sọ càng lâu thì căn bệnh càng nặng và càng khó chữa trị. Càng ở vào địa vị có
quyền lực hay giầu có, càng khí trị. Tuy nhiến, căn bệnh này vẫn có thể chữa
trị được nếu được “tẩy não” (brainwashed) hay giải hoặc với điều kiện đương dự
còn có lý trí phân biệt được phải quấy và còn có thiện chí chịu khó lằng tai
nghe những “lời nói thuận lý” và tìm đọc những tài liệu nói lên sự thật về những
tín lý hay giáo điều và những lời dạy của Giáo Hội hay “lời Chúa” (nặng tính
cách bịp bợm) mà họ đã bị nhồi sọ. Những tác giả viết về những rặng núi tội ác
của Giáo Hội La Mã mà chúng tôi tham khảo để viết bộ sách này đều vốn là những
tu sĩ hay tín đồ Da-tô cuồng tín cả. Vì họ còn có lý trí và có thiện chí tìm đọc
những tài liệu nói về tín lý Ki-tô cũng như những lời dạy của Giáo Hội hay
“những lời Chúa” và những việc làm tội ác của Giáo Hội trong gần hai ngàn năm
qua, cho nên họ mới tỉnh thức và biết được họ đã bị Giáo Hội lừa bịp. Những tác
giả người Âu Mỹ nhiều lắm, nói không xuể. Một số khá nhiều những tác giả này đã
được Giáo-sư Trần Chung Ngọc liệt kê trong mục Tài Liệu Tham Khảo nơi mấy trang
cuối của hai cuốn Công Giáo Chính Sử và Đức Tin Công Giáo (Garden Grove, CA:
Giao Điểm, 2000). Trong số những trí thức Việt Nam vốn là những người cuồng tín
đã thức tỉnh, có một số nhân vật tên tuổi được nhiều người biết là Bác-sĩ Nguyễn
Văn Thọ, ông Bùi Văn Chấn tức Charlie Nguyễn, ông Giuse Phạm Hữu Tạo và còn rất
nhiều người khác nữa.
Cũng nên biết
hầu hết các nhà trí thức như John Wycliffe (1320-1384), John Huss (1372-1415),
Giordano Bruno (1548-1600), John Locke (1632-1704), Montesqiueu (1689-1775),
Denis Diderot (1713-1784), Jean Jacques Rousseau (1712-1778), Voltaire
(1694-1778),.Lamartine (1790-1869), Victor Hugo (1802-1885), Léon Gambetta,
Jules Ferry, Thomas Paine (1737-1809), Thomas Jefferson (1743-1826), v.v… đều
vốn là những tín đồ Da-tô cuồng tín (ngoan đạo) cả, nhưng vì biết sử dụng lý trí
để phấn biệt phải quấy, có thiện chí cố gắng tìm hiểu những tín lý Ki-tô, lời
dạy của Giáo Hội, “những lời Chúa” cũng như sách sử thế giới và lịch sử Giáo Hội
La Mã. Nhờ vậy, họ mới nhìn thấy rõ những việc làm tội ác của Giáo Hội trong
suốt chiều dài lịch sử từ thế kỳ 4, và đời sống phóng đãng, loạn luân, dâm loàn
của các ông tu sĩ Da-tô, cho nên họ mới biết rằng họ đã bị Giáo Hội lừa bịp.
Hầu hết những
người lãnh đạo, những người tham dự và những người nhiệt liệt ủng hộ các phong
trào phản kháng Giáo Hội La Mã mà chúng tôi trình bày trong Phần VII của bộ sách
này đều vốn là những người đã từng là tín đồ Da-tô cuồng tín (ngoan đạo) của
Giáo Hội La Mã. Nhưng họ biết sử dụng lý trí để phân biệt phải quấy, có thiện
chí cố gắng lắng tai nghe những lời nói phải (thuận lý), cố gắng tìm đọc sách
sử thế giới và lịch sử Giáo Hội La Mã, cho nên họ đã hăng say đứng lên làm cách
mạng và quyết tâm chống lại Giáo Hội.
Hầu hết những
người lãnh đạo, những người tích cực tham gia và những người nhiệt liệt ủng hộ
Cách Mạng Pháp 1789, Cách Mạng Ý Đại Lợi 1870, Cách Mạng Tây Ban Nha 1936-1939,
Cách Mạng Cuba đều vốn là tín đồ Da-tô ngoan đạo (cuồng tín) và xuất thân từ một
gia đình Da-tô ngoan đạo.
Trong tiểu mục
Sơ Lược Cuộc Đời của Ông Ngô Đình Diệm ở trên, chúng tôi có nêu lên sự kiện hiện
nay ở Pháp cũng như ở Anh và ở nhiều quốc gia Âu Châu khác, con số người đi nhà
thờ hàng tuần chỉ còn từ 1% đến 5% là nhiều. Như vậy là ở Âu Châu ngày nay, có
từ 95% đến 99% tín đồ Da-tô hoặc là đã thực sự bỏ đạo, hoặc là không còn tin
tưởng vào những tín lý Kitô và cũng không còn tin tường vào “những lời Chúa”
(bịp) hoặc những lời dạy (bịp) của Giáo Hội nữa.
Vấn đề đặt ra
là: Vì lý do hay động lực nào họ đã bỏ đạo hay không đi nhà thờ nữa?
Câu trả lời
chính xác nhất là chính họ đã thức tỉnh, đã nhìn ra tính cách bịp bợm trong
những tín lý Ki-tô và đã nhìn ra bộ mặt thật ghê tởm của Giáo Hội La Mã.
Một câu hỏi
khác được đặt ra là: Phương cách nào đã làm cho họ thức tỉnh khiến cho họ nhìn
ra tính cách bịp bợm trong tín lý Ki-tô và nhìn ra bộ mặt thật ghê tởm của Giáo
Hội La Mã?
Câu trả lời
chính xác nhất là nhờ chính sách giáo dục tự do và khai phóng, cho nên họ được:
1.- Tự do nêu
lên những thắc mắc về những việc làm bất minh và bất chính của Giáo Hội La Mã và
tự do thảo luận về những thắc mắc này mà không sợ bị vu cáo hay lên án là nói
xấu đạo Công Giáo hay chia rẽ tôn giáo.
2.- Tự do tìm
đọc sách sử thế giới nhất là thời Trung Cổ. Trong thời kỳ này Giáo Hội đã tàn
sát hàng trăm triệu người qua việc phát động các cuộc chiến thập tự, qua việc
thiết lập các tòa án dị giáo, qua việc phát động các cuộc chiến chống lại phong
trào Tin Lành từ năm 1517. Cũng trong thời gian này, các giáo hoàng và tu sĩ
Da-tô sống đời bê bối thối thối tha, loạn dâm, loạn luân dâm loàn còn khốn nạn
hơn cả bọn bạo quân bạo chúa trong thời Đông Châu Liệt Quốc ở Trung Quốc. Chính
vì vậy mà các nhà viết sử mới gọi thời kỳ này là Thơi Kỳ Đen Tối (the Dark
Ages).
Đây là lý do
TẠI SAO ở Âu Châu ngày nay, con số người đi nhà thờ hàng tuần chỉ còn từ 1% đến
5% là nhiều.
Còn một chuyện
khác nữa thiết tưởng cũng nêu lên ở đây là có một số các hồng y, giám mục và
linh mục ở Việt Nam bị những tín đồ Da-tô người Việt ở hải ngoại lên án hay tố
cáo là những hồng y, giám mục và linh mục quốc doanh.
Vấn đề đặt ra
là:
1.- Những người
tố cáo họ là linh mục, giám mục và hồng y quốc doanh không thể chối cãi được
rằng họ vốn đã từng là những con chiên ngoan đạo (cuồng tín) của Giáo Hội La
Mã, và cũng không thể chối cãi được rằng, họ được Giáo Hội đưa vào theo học tại
các chủng viện của Giáo Hội để đào tạo họ thành những linh mục theo ý của Giáo
Hộ và để phục vụ cho Giáo Hội. Đây là sự thật và sự thật này được Linh Mục
Trịnh Văn Phát kể cho chúng biết như sau:
“Trong suốt
thời gian ở Việt Nam tôi đã suy nghĩ và tự hỏi mình phải làm gì cho quê hương
và Giáo Hội. Giúp quê hương không phải là bổn phận trực tiếp của tôi, nhưng tôi
có bổn phận với giáo hội vì tôi là người của giáo hội và được đào tạo để sau
này phục vụ cho giáo hội. Có nhiều anh em yêu cầu tôi về giúp cho địa phận, tôi
thẳng thắn trả lời tôi không có tự do chọn lựa, tôi được huấn luyện để phục vụ
theo nhu cầu của giáo hội.” [1]
Rồi lại cũng
chính Giáo Hội đã phong chức linh mục, giám mục và hồng y cho họ.
2.- Tại sao hay
động lực nào đã khiến cho họ trở thành linh mục, giám mục và hồng y quốc doanh?
Phải chăng họ
đã thức tỉnh vì đã nhìn thấy rõ bộ mặt thật của Giáo Hôi?
Những bằng
chứng nêu lên trên đây cho chúng ta thấy căn bệnh cuồng tín của những tín đồ
Da-tô có thể chữa trị được với điều kiện là đương sự còn biết sử dụng lý trí để
phân biệt phải trái, tìm hiều và phân tách tín lý Ki-tô, những lời dạy của Giáo
Hội, “những lời Chúa” (do Giáo Hội bịa đặt ra), có thiện chí cố gắng lắng tai
nghe những lời nói phải, cố gắng tìm đọc sách sử thế giới, đặc biệt là thời
Trung Cổ, và những tài liệu nói về những việc làm tội ác của Giáo Hội trong gần
hai ngàn năm qua. Có như vậy, thì họ mới có thể bừng tỉnh, nhận thức được rằng
họ đã bị Giáo Hội lừa bịp, và khi đó họ mới cương quyết thoát ra khỏi cơn mộng
du mơ về nước Chúa bịp của Tòa Thánh Vatican. Khi đó, họ sẽ chống lại Vatican
kịch liệt như trường hợp Bác-sĩ Nguyễn Văn Thọ, ông Charlie Nguyên, ông Giu-se
Phạm Hữu Tạo (chủ bút tờ báo điện tử dongdưongthoibao.net hiện nay) và hàng
ngàn, hàng triệu các nhà trí thức khác ở khắp mọi nơi trên thế giới.
Nhân tiện đây,
người viết xin đề nghị chính quyền Việt Nam nên có một chính sách giúp đỡ những
tín đồ Da-tô thoát ra khỏi cơn mộng du mơ về nước Chúa Vatican bằng cách cho thi
hành chính sách giáo dục tự do khai phóng và cho phổ biến rộng rãi những tài
liệu lịch sử nói về:
1.- Những việc
làm bất minh và bất chính của Giáo Hội La Mã trong gần hai ngàn năm qua,
2.- Đời sống
phóng đãng loạn luân dâm loàn của các giáo hoàng, và
3.- Các phe
phái tu sĩ cao cấp trong Giáo Hội La Mã xấu xé thanh toán và tàn sát sát lẫn
nhau để tranh giành ngôi vị giáo hoàng và quyền lực trong giáo triều Vatican.
Vấn đề này đã
được người viết biên soạn khá đầy đủ trong Phần II, Mục V với tựa đề là Những Tệ
Nạn Tham Nhũng, Vơ Vét Tiền Bạc, Hủ Hóa, Loạn Dâm, Loạn Luân, Dâm Loan và Tàn
Sát lẫn Nhau để Tranh Giành Quyền Lực Trong Giáo Triều Vatican.

Về căn bệnh
cuồng tín của ông Ngô Đình Diệm, sử gia Bernard B. Fall ghi lại trong cuốn The
Two Vietnams với nguyên văn như sau:
"Tính hiếu
chiến của ông Ngô Đình Diệm thuộc loại như thế này: Lòng tin đạo đã biến ông ta
thành con người hiếu chiến đến độ tàn nhẫn như một vị Đại Pháp Quan của
Tòa Án Dị Giáo trong thời Trung Cổ ở Tây Ban Nha. Quan điểm của ông ta về
chính quyền là hình ảnh của một bạo chúa theo truyền thống quan lại phong
kiến hơn là hình ảnh của một tổng thống theo hiến định của một nước cộng hòa.
Một người Pháp theo đạo Kitô La Mã khi nói chuyện với ông ta cố ý cao giọng
những tiếng "tín ngưỡng của chúng ta" thì ông ta thản nhiên trả lời rằng:
"Ông biết mà, tôi tự coi tôi như là một tín hữu Kitô La Mã giống như người
Kitô Tây Ban Nha," thế có nghĩa ông ta là một đứa con tinh thần (của Giáo Hội La
Mã) với niềm tin hung hăng, dữ tợn và hiếu chiến hơn là một tín đồ dễ dãi và
khoan dung giống như người Pháp theo đạo Kitô La Mã." Nguyên văn:
"Ngo Dinh Diem's militancy is of that kind: His faith is made less of the
kindness of the apostles, than of the ruthless militancy of the Grand
Inquisitor; and his view of government is made less of the constitutional
strength of a President of the republic than of the petty tyranny of a
tradition-bound mandarin. To a French Catholic interlocutor who wanted to
emphazise Diem's bond with French culture by stressing "our common faith," Diem
was reported to have answered calmly: "You know, I consider myself rather as a
Spanish Catholic," i.e., a spiritual son of a fiercely aggressive and militant
faith rather than of the easygoing and tolerant approach of Gallican
Catholicism."[2]
Đặc tính cuồng
tín của ông Diệm cũng thường được thể hiện ra bằng hành động hàng ngày với hai
lần đến trước tượng Chúa để cầu khấn. Tình trạng này đã khiến cho bà Ngô Đình
Nhu châm biến bằng câu nói “mua tích kê (vé) để dành sau này lên thiên đường.”
Chuyện này được ông Hoàng Trọng Miên ghi lại trong cuốn Đệ Nhất Phu Nhân - Tập I
với nguyên văn như sau:
"- Dì (Bà
Nhu) cũng rõ: cháu theo đạo từ ngày về nhà chồng. Tin ở Chúa hay không, thật
tình cháu cũng không đặt thành vấn đề, vì cháu chỉ là người đạo mới. Lúc này,
cháu chỉ biết rằng gia đình chồng sùng đạo, và Công Giáo là một lực lượng quan
trọng, có thể làm hậu thuẫn mạnh cho chính quyền, cho địa vị họ Ngô "Noblesse
oblige" (phú quý sinh lễ nghĩa), cháu cũng phải tỏ ra là mình ngoan đạo.
Dì muốn hỏi
cháu có tin Chúa không, vì nếu dì không lầm thì lẽ đạo có những điều mà cháu vần
phải lưu ý thận trọng.
Lệ bỗng phá
lên cười: "Xin lỗi dì cho phép cháu cười, vì trông vẻ mặt nghiêm trọng của dì,
cháu sực nhớ đến bộ điệu như thế của một ông cha mà cháu đã xưng tội, và sau đó
chính ông ta nhờ cháu để xin áp phe. Dì vì thương cháu mà chân thành nghiêm
nghị, còn ông linh mục kia....
Lệ lại cười,
rồi nói tiếp: "Cháu thấy ông anh chồng sáng tối cầu kinh, như là mua "tíc-kê"
(vé) để dành sau này lên thiên đàng, và cứ gặp việc khó khăn quan trọng gì cũng
ra ghế cầu nguyện một lúc rồi mới giải quyết.... Thật cháu lấy làm khó
hiểu quá.
Rồi như thắc
mắc điều gì, Lệ bỗng hỏi bà dì: "Dì có biết lịch sử gia đình Giáo Chủ Borgia?"
[3]
Đặc tính cuồng
tín về tôn giáo của ông Diệm cũng được thể hiện ra khi nói chuyện với Đại Tá
Edward G. Lansdale và được ông đại tá này ghi lại trong cuốn Hồi Ký Tôi Làm
Quân Sư Cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm với nguyên văn như sau:
"Tôi còn nhớ
có lần tôi hỏi về việc giáo huấn đạo Thiên Chúa đối với người Việt, ông Diệm đã
giảng cho tôi một hơi 5 giờ liền. Những buổi nói chuyện như vậy làm cho
thông dịch viên Redick phải mệt đừ, dù rằng sức hiểu biết sinh ngữ của tôi đã
dần dần khá hơn đủ để giúp cho Redick bớt chút gánh nặng.”"[4]
Đặc tính cuồng
tín của ông Diệm cũng được thể hiện ra qua lời lẽ của ông Diệm khi nói chuyện
với ông Tướng Da-tô Huỳnh Văn Cao về cái chết và chuyện rửa tội của ông Ba Cụt
Lê Quang Vinh. Chuyện này được chính cựu Tướng Huỳnh Văn cao kể lại với nguyên
văn như sau.
"Các chiến
dịch Trương Tấn Bửu, Đinh Tiên Hoàng, Hoàng Diệu, Nguyễn Huệ đã hoàn tất, mang
lại sự thống nhất cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa, nhưng đồng thời cũng gây nên
bao cảnh não lòng giữa những người quốc gia. Tổng Thống Diệm nói với tôi rằng:
"Vì phải lo chuẩn bị đối phó với Cộng Sản, đành phải mạnh tay, chứ biết làm sao
hơn được!"
Tuy nhiên,
hai sự kiện não nề không thể quên, đó là cái chết của Ba Cụt và cái chết của một
số anh em chiến sĩ giáo phái tại miền Trung và tại Quang Trung. Trên bình diện
chính trị, tôi phản đối những cái chết oan uổng ấy vì đó là những con người
chống Cộng. Tôi biết nhiều người quy trách nhiệm cho Tổng Thống Diệm, nhưng theo
tôi nghĩ, thì vì cạm bẫy của Cộng Sản muốn gây hận thù giữa Tổng Thống Diệm và
các giáo phái (sic). Thật sự, Tổng Thống Diệm thường nói, pháp luật trên hết,
cái gì tòa án phán quyết, thì tổng thống xem là phải, và có biết bao nhiêu cái
xẩy ra, mà người ta cố tình che giấu Tổng Thống Diệm.
"Vì ông Ba
Cụt mà tôi phải chạy đôn chạy đáo, dậy sớm thức khuya cả mấy hôm. Nguyên là từ
khi Ba Cụt bị án tử hình, tôi thấy cụ Diệm đầu tóc bù rối, ban trưa, ban tối,
cũng như tảng sáng, xem ra Tổng Thống băn khoăn lo nghĩ rất nhiều. Cụ gọi tôi
vào nói chuyện thiêng liêng mà thôi. Cụ bảo: "Án tử hình của Ba Cụt thì không
thể ân xá được, bây giờ phải làm sao mà cứu vớt linh hồn ông ấy. Sáng
mai, anh lấy máy bay xuống Cần Thơ gặp Tướng Minh và ông Quang, yêu cầu họ để
cho hai cha vào khuyên nhủ Ba Cụt trở lại (đạo), để cứu phần rỗi (hồn)
cho ông ta. Cha Hoàng và Cha Toán đã có mặt ở Cần Thơ rồi. Anh ghé
vào gặp Đức Cha Bình, và thưa chuyện cho Ngài biết. Bảo Đại Tá Quang phải đích
thân can thiệp với khám (nhà tù) để giúp phần hồn cho Ba Cụt. Nếu Ba Cụt thuận
thì tôi đỡ đầu cho."
Ngày mai tôi
thi hành đúng theo chỉ thị. Trở về Sàigòn lúc ban chiều, tôi trình Tổng Thống
nhiệm vụ hoàn tất. Lại phải lo làm công việc văn phòng bù lại cả ngày đi
vắng.Tối đến vừa mới và (ăn) một chén cơm, Tổng Thống điện thoại gọi vào Dinh.
Cụ lại giảng thuyết về thiêng liêng, thiên đàng, hỏa ngục, và xem
ra Cụ rất lo lắng về phần hồn của Ba Cụt. Nửa đêm mới ra về.
Tắm gội xong
lên giường ngủ là một giờ sáng. Tôi ngủ mê như cây gỗ. Thình lình điện thoại reo
vang, nghe bên kia ống nói là giọng Tổng Thống, “Ừ, vào đây có việc gấp”. Nhìn
đồng hồ mới 5 giờ 30 sáng. Tôi vội vàng rửa mặt, chải đầu, ăn mặc chỉnh tề đi
vào Dinh.
"Vừa bước
vào cửa phòng, Cụ tươi cười nở như hoa, đó là lần đầu tiên tôi trông thấy Cụ vui
cười cởi mở quá sức. Cụ bảo: "Ba Cụt chịu phép rửa tội rồi. Giờ đây,
Ba Cụt chết là về Thiên Đàng thẳng ro ro!" Tôi hỏi Cụ: "Con cũng cầu
cho Ba Cụt được lên Thiên Đàng, nhưng nếu mấy mươi năm trời phạm đủ mọi thứ tội,
mà bây giờ chịu phép rửa tội, thì đươc lên thẳng Thiên Đàng, như vậy có bất công
không". Cụ trợn mắt nhìn tôi, như quyết liệt bênh vực Ba Cụt, Cụ nói: "Thôi bị
trảm quyết là một hình phạt quá sức rồi. Chúa tha thứ hết, Ừ, thế mà Ba
Cụt hơn mình rồi. Lên Thiên Đàng hạnh phúc lắm".
Và Cụ nói
tiếp: "Chỉ có chừng ấy, tôi tin cho anh mừng, vì mới được tin Cha Toán cho hay,
thành tôi mới gọi anh đó". Tôi chào Cụ và trở về nhà ăn sáng. Vợ tôi hỏi: "Có
chi mà Cụ kêu sớm thế?" Tôi đáp gọn: "Cụ mới làm bọ (bố) đỡ đầu Ba Cụt theo
đạo, ông kêu vô tin cho biết bấy nhiêu.”"[5].
Bản văn trên
đây cho chúng ta thấy mức độ cuồng tín của ông Ngô Đình Diệm vượt xa mức độ
cuồng tín của ông Tướng Da-tô Huỳnh Văn Cao rất nhiều.
[Câu văn “Tôi
biết nhiều người quy trách nhiệm cho Tổng Thống Diệm, nhưng theo tôi nghĩ, thì
vì cạm bẫy của Cộng Sản muốn gây hận thù giữa Tổng Thống Diệm và các giáo phái ”
nghe không thuận lý chút nào cả vì nó không được chứng minh bằng một
bằng cớ nào cả. Đây là một trong những đặc tính chạy tội và đổ tội cho
người khác, xuyên tạc sự thật, hoặc bóp méo lịch sử cúa bất kỳ một tín đồ Da-tô
“ngoan đạo” nào.]
Với một người
có trình độ thông minh trung bình và nếu không tiếp nhận sở học qua chính sách
ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mã hay của một chế độ đạo phiệt
Da-tô tay sai của Giáo Hội, đều cho rằng chỉ có những người thuộc loại
siêu cuồng tín mới tin rằng, chuyện có thiên đường như Giáo Hội La Mã đã
bịa đặt ra, rằng hễ chịu phép rửa tội do một tu sĩ của Giáo Hội La Mã
chủ lễ thì “khi chết là về Thiên Đàng thẳng ro ro!" như trường hợp do ông
Huỳnh Văn Cao kể lại trên đây.
Người ta thường
nói, “Tư tưởng biến thành hành động” hay là “những suy tư hay tư tưởng
thuờng thường được thể hiện ra bằng những việc làm.” Do đó, đặc tính cuồng
tín của ông Diệm cũng được thể hiện ra bằng những hành động. Vì thế mà nhất cử
nhất động của bất kỳ một việc làm nào hàng ngày trong các công việc riêng tư của
cá nhân hay gia đình cũng như những việc làm công cộng của đất nước đều là phát
xuất từ những ác tính và đặc tính Da-tô đã có sẵn trong tâm tư của ông ta mà ra
cả.. Những việc làm như sai Linh-mục Toán, Linh-mục Hoàng và ông Tướng Da-tô
Huỳnh Văn Cao xuống Cần Thơ để lo việc cứu rỗi phần hồn cho ông Ba Cụt cũng như
việc sáng tối mỗi ngày đến trước tượng Chúa Jesus hay Đức Bà Maria cầu kinh là
những hành động cuồng tín của ông ta và xuất phát từ đặc tính Da-tô tiềm tàng
trong con người ông ta mà ra.
Trong số những
hành động cuồng tín này có cả những hành động vô cùng dã man khiến cho hơn ba
trăm ngàn người dân trong các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Qui Nhơn,
Khánh Hòa và Phú Yên phải bị thảm sát trong những chiến dịch “làm sáng danh
Chúa” ở vùng này vào những năm 1955-1963 (sẽ được trình bày đầy đủ ở một chương
sau.)
Cũng vì có
những suy tư của một tín đồ Da-tô cuồng tín, ông Diệm đã tổ chức một đại lễ vô
cùng long trong vào tháng 2 năm 1959, cho mời vị sứ thần Tòa Thánh Vatican là
Hồng Y Agagianian đến chủ tọa buổi lễ này để ông kính dâng nước Việt Nam cho
“Đức Mẹ Vô Nhiếm”, tức là dâng nước Việt Nam cho đế quốc Vatican dù rằng ông đã
biết rõ con số tín đồ Da-tô trong toàn quốc chỉ có khoảng 5% dân số.
Giả sử như con
số tín đồ Phật giáo ở Việt Nam chỉ có 5% trong tổng số dân toàn quốc và hơn 90%
là tín đồ Da-tô; giả sử như có một người Phật giáo nắm giữ chức vụ tổng thống,
rồi tổ chức một đại lễ vô cùng long trọng và mời một vị đại diện của tổ chức
Phật giáo thế giới đến chủ tọa buổi lễ này để ông tổng thống đó kính dâng nước
Việt Nam cho Đức Phật thì con số hơn 90% tín đồ Da-tô trong toàn quốc Việt Nam
sẽ có cảm nghĩ như thế nào về cái hành động xấc xược ngược ngạo và ngu xuẩn đến
cùng mức của ngu xuẩn này?
Có đặt vấn đề
ngược lại như vậy thì chúng ta mới có hy vọng làm cho tín đồ Da-tô người Việt
hiểu rõ được nỗi lòng cay đắng và công phẫn của đại khối trên 95% nhân dân Việt
Nam không phải là tín đồ Da-tô về hành động xấc xược ngược ngạo trong việc làm
dâng nước Việt Nam cho “Đức Mẹ Vô Nhiếm” như đã nói trên của ông Tổng Thống
Da-tô Ngô Đình Diệm.
Cũng nên biết
là vào năm 1960, ở Hoa Kỳ, một tín đồ Da-tô là Thượng Nghị Sĩ John F. Kennedy
được đảng Dân Chủ tuyển chọn đưa ra làm ứng cử viên Tổng Thống trong kỳ tuyển cử
được tổ chức vào tháng 11 năm đó. Vì yếu tố là tín đồ Da-tô, ứng cử viên Kennedy
liền bị ứng cử viên Tổng Thống của đảng Cộng Hòa là Phó Tổng Thống Richard M.
Nixon và quần chúng Hoa Kỳ “thắc mắc về trường hợp tín ngưỡng của ông John F.
Kennedy”. Việc này đã làm cho Thượng Nghị Sĩ John F. Kennedy phải long
trọng minh xác với nhân dân Hoa Kỳ về việc làm của ông nếu ông được đắc cử. Sự
kiện này được các nhà viết sử ghi nhận với nguyên văn như sau:
“… vì tôi là
một tín đồ Da-tô, và chưa có một một tín đồ Da-tô nào đắc cử Tổng Thống,…Do đó,
điều cần thiết cho tôi để khẳng định một lần nữa là – không phải tôi đặt đức tin
vào giáo Hội… mà tôi đặt đức tin vào nước Mỹ.
Tôi tin vào
một nước Mỹ, nơi mà Giáo Hội và Nhà Nước phân biệt một cách tuyệt đối, nơi mà
không có giáo sĩ Da-tô điều khiển Tổng Thống [nếu ông ta là một tín đồ Da-tô]
phải hành động như thế nào và nơi mà không một vị mục sư Tin Lành nào được phép
ra lệnh cho họ đạo đi bỏ phiếu cho ai….
Tôi không
phải là ứng cử viên Tổng Thống Da-tô. Tôi là ứng cử viên Tổng Thống của đảng Dân
Chủ, người mà NGẪU NHIÊN cũng là một tín đồ Da-tô.
Tôi không
biện hộ cho Giáo Hội trước công luận, và Giáo Hội cũng không làm phát ngôn viên
cho tôi…
Nhưng, nếu
bất cứ thời điểm nào đến… khi mà nhu cầu chức vụ đòi hỏi tôi phải bán rẻ lương
tâm hay vi phạm đến quyền lợi quốc gia thì tôi sẽ từ chức, và tôi hy vọng tất cả
các vị công bộc khác có lương tâm cùng sẽ hành xử như thế…”
Nguyên văn:
“… because I am a Catholic, and no Catholic has ever been elected President…….
So, it is apparently necessary for me to state once again – not what kind of
church I believe in… but what kind of America I believe in.
I believe in an
America where the separation of church and state is absolute – where no
Catholic prelate would tell the President [should he be a Catholic] how to act
and no Protestant minister would tell his parishioners for whom to vote…
I am not
Catholic candidate for President. I am the Democratic Party’s candidate for
President, who happens also to be a Catholic. I do not speak for MY CHURCH on
public matters – and the church does not speak for me…
But if the time
should should ever come… when my office would require me to either violate my
conscience or violate the national interest then I would resign the office, and
I hope any other conscientious public servant would do likewise….”[6]
Qua những
phần trình bày về những đặc tính cuồng tín ở trên, qua những việc làm tội ác
trong những năm làm quan cho Liên Minh Pháp- Vatican và qua việc hành xử quyền
hành trong những năm cầm quyền ở miền Nam (sẽ nói rõ ở phần sau), chúng ta thấy
rằng, Ông Ngô Đình Diệm quả thật xứng đáng được xếp vào “hạng ngưới súc sinh”
như nhà báo Long Ân đã nhận xét (sẽ nói rõ ở sau). Điều khôi hài là thằng súc
sinh này lại được một nhóm người thiểu số cuồng nô vô tổ quốc tôn thờ và vinh
danh nó như là một chí sĩ yêu nước và một nhà ái quốc đã chết vì dân. Qua hành
động ngu xuẩn này, chúng ta đi đến một kết luận là những thứ người tôn thờ và
vinh danh thằng súc sinh Ngô Đình Diệm như là chí sĩ yêu nước và nhà ái quốc còn
tệ hơn cả loài súc sinh.
Trong khi đó
thì sách sử đã khẳng định ông là một trong sô 100 nhà độc tài độc ác nhất
trong lịch sử nhân loại.[7]
Điều đáng
buồn là tên bạo chúa độc ác và bọn súc sinh này đã nắm quyền chính trị và làm
mưa làm gió ở miền Nam trong những năm 1954-1975, đã tiến hành chính sách ngu
dân và giáo dục nhồi sọ trong suốt thời kỳ này với dã tâm làm cho nhân dân miền
Nam không còn khả năng lý trí để nhìn ra cái bản chất súc sinh của họ. Cũng vì
thế mà những thế hệ tiếp nhận sở học của họ qua chính sách ngu dân ở miền Nam
trong thời kỳ này đã không nhìn thấy tính cách súc sinh trong những con người
tín đồ Da-tô cuồng tín (xin nhấn mạnh thuộc từ cuồng tín) đã từng cúi mặt gục
đầu bán nước cho Liên Minh giặc Pháp – Vatican từ năm 1858 cho đến 1954 và vẫn
còn tiếp tục bán nước cho Vatican ở miền Nam cho đến ngày 30/4/1975.
VI.- NHỮNG ĐĂC TÍNH CHUNG
CỦA NHỮNG TÍN ĐỒ DA TÔ
Căn bệnh cuồng
tín về tôn giáo trên đây của ông Diệm là căn bệnh chung của tất cả tín đồ Da-tô.
Tín đồ Da-tô cuồng tín thường hay nói rằng họ là người “ngoan đạo” hoặc “sống
đạo theo đức tin Ki-tô” hay “sống theo lương tâm người công giáo”. Căn bệnh này
là do công trình rèn luyện tín đồ theo chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ
của Tòa Thánh Vatican. Những người cuồng tín về tôn giáo như ông Ngô Đình Diệm
là mẫu người lý tưởng đối với xã hội Da-tô tại bất cứ nơi nào ở trên thế giới
từ thời Trung Cổ cho đến ngày nay. Vì thế, thiết nghĩ cũng nên tìm hiểu những
đặc tính Da-tô này của họ.
Nói đến đặc tín
cuồng tín về tôn giáo là phải nói đến đặc tính dốt nát và ngu xuẩn. Người viết
không biết cuồng tín sinh ra dốt nát và ngu xuẩn, hay dốt nát và ngu xuẫn là
nguyên nhân đưa đến cuồng tín. Có một điều chắc chắn là những người mang căn
bệnh cuồng tín về tôn giáo thường thường là dốt nát và ngu xuẩn, và mức độ dốt
nát và ngu xuẩn của họ tỉ lệ thuận với cường độ cuồng tín của họ. Do đó, khi
thấy người nào mắc bệnh cuồng tín về tôn giáo, ta có thể hình dung được tình
trạng dốt nát và ngu xuẩn cúa người đó. Tình trạng dốt nát và ngu xuẩn này nếu
không lên men trên nét mặt họ thì cũng thể hiện ra qua lời nói hay cung cách
hành xử của họ với những người xung quanh.
Trước khi nói
đến những đặc tính chung của những tín đồ Da-tô cuồng tín, chúng ta hãy tìm hiểu
các định nghĩa của các từ "cuồng tín", "dốt nát" và "ngu xuẩn". Theo Việt Nam Tự
Điển của ông Lê Văn Đức và một nhóm văn hữu thì:
1.- Cuồng tín
là lòng tin say xưa mù quáng không kể phải trái.
2.- Dốt là (a)
không biết chữ, (b) không hiểu, không thạo, tối dạ.
3.- Dốt nát là
tối tăm, không hiểu biết.
4.- Ngu là dại
dột, tối tăm, ít hiểu biết,
5.- Ngu dại là
ngu si.
6.- Ngu dốt là
ngu đần dốt nát.
7.- Ngu độn là
ngu đần.
8.- Ngu muội là
ngu si, tối tăm.
9.- Ngu tối là
ngu dại tối tăm.
10.- Ngu xuẩn
là ngu độn.
Trên đây là
những định nghĩa liên hệ đến cuồng tín, ngu và dốt.
Tìm hiểu sâu
rộng hơn nữa, chúng ta thấy là dốt là nói lên tình trạng không biết. Không
biết có thể vì không được học hỏi hay chưa được học hỏi. Những người dốt hay dốt
nát tuy là không biết những điều chưa học tới hay không được học hỏi, nhưng vẫn
có thể là người rất thông minh, nghĩa là hệ số thông minh (IQ) của họ rất có
thể từ 90 trở lên.
Còn ngu,ngu si,
ngu dốt, ngu đần, ngu xuẩn, v..v.. là nói về tình trạng kém thông minh của một
người nào đó. Trong cuộc sống hàng ngày, nếu chẳng may phải làm việc chung hay
sống chung với một hay một số người ngu,thường thường là người ta cảm thấy hết
sức bực mình, chứ ít có người bực mình vì phải sống chung hay làm việc chung với
những người dốt nát. Những câu ca dao và tục ngữ dưới đây là bằng chứng:
Rồng vàng
tắm nước ao tù
Người khôn ở
với ngừi khu bực mình.
hay là :
Trăm năm ở
với người đần
Không bằng một
lúc ở gần người khôn.
Hoặc là:
Làm đầy tớ
thằng khôn còn hơn làm thầy thằng ngu.
Về thuộc từ
cuồng tín, theo định nghĩa trên, cuồng tín là lòng tin say xưa mù quáng không kể
phải trái. Trong thực tế, như đã trình bày ở phần trên, khi một cá nhân nào đã
trở thành một tín đồ Da-tô cuồng tín (xin nhấn mạnh thuộc từ
cuồng tín), tất nhiên là người đó ở trong trạng thái ngu xuẩn, dốt nát, thiển
cận và có những đặc tính vong phản, phản quê hương, đội trên đạp dưới, háo danh,
hám lợi, tham lam, ưa thích vơ vào, quay quắt, lắt léo, lươn lẹo. Khi có quyền
lực trong tay hay ở vào thế thượng phong, người đó sẽ có những thái độ, cử chỉ
và hành động lố bịch, trịch thượng, hống hách, phách lối (đối với những người
lép vế, thế cô), dữ tợn, hiếu chiến, hiếu sát, khát máu, xấc xược, bạo ngược, dã
man (đối với những thành phần thuộc các tôn giáo hay nền văn hóa khác) và phản
trắc (đối với ân nhân và bạn bè). Khoa học gia Pháp Denis Dederot (1713-1784)
nói: "Sự cuồng tín chỉ cách sự man rợ có một bước." (Fanaticism is just
one step away from barnarism.) Như vậy, chúng ta có thể nói, “Những người
cuồng tín là những người ngu xuẩn, phản trắc, quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, hung
bạo, ác độc, tàn ngược, man rợ và dã man.”
Tất cả những ác
tình này đều có trong con người của các ông phán quan của các Tòa Án Dị Giáo và
những người lính đạo Âu Châu trong các đoàn quân thập tự trong thời Trung Cổ,
trong những viến chức chính quyền cũng như sĩ quan và bọn mật vụ trong chế độ
đạo phiệt Da-tô Ante Pavelich ở Croatia trong những năm 1941-1945, trong những
con người lính đạo Việt Nam dưới quyền chỉ huy của các linh mục hay những thằng
Việt gian Da-tô trong thời 1858-1945 và trong thời 1945-1954, trong con người
anh em ông Ngô Đình Diệm và bọn công an mật vụ của chính quyền miền Nam trong
những năm 1954-1975.
Ngoài những ác
tính trên đây, tín đồ Da-tô cuồng tín còn có căn bệnh hợm hĩnh, cao ngạo, tự cao
tự đại, huênh hoang, khoác lác (sự kiện Hồng Y Joseph Ratzinnger, Bộ Trưởng
Thánh Bộ Đức Tin của Giáo Hội công bố bà tuyên ngôn Dominus Jesus vào ngày 5
tháng 9 năm 2000 nói rằng "không có ơn cứu độ ở bên ngoài Giáo Hội",
sự kiện ông cựu Luật-sư Nguyễn Văn Chức kê ra hàng nửa tá chức vụ và nghề
nghịệp ở phần chót lá thư đề ngày 1/11/1995 gửi cho ông cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng
Hoa Kỳ McNamara, sự kiện ông Cao Thế Dung tự xưng là có bằng Tiến Sĩ, sự kiện có
quá nhiều tín đồ Da-tô thuộc loại cuồng tín khi gặp một người lạ hay đến trước
một số đông người tự xưng hay tự giới thiệu là thi-sĩ, văn sĩ, giáo sư hay tiến
sĩ (giả hay mua) hay một chức vụ quan trọng nào đó đi kèm theo danh tính của họ
là bằng chứng rõ ràng nhất cho lời khẳng định này.
Theo các nhà
nghiên cứu về đạo Thiên Chúa La Mã, tín đồ Da-tô cuồng tín thường có những đặc
tính sau đây:
1.- Tuyệt đối
tin tưởng và triệt để tuân hành lệnh truyền của Tòa Thánh Vatican.
2.- Tuyệt đối
vâng lời các đấng bề trên trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã.
3.- Vong bản,
phản dân tộc, phản tổ quốc. (Bằng chứng cho sự kiện này là những hành động của
tín đồ Da-tô cuồng tín người Pháp trong thời kỳ Cách Mạng từ tháng 7 năm 1789
cho đến đầu thế kỷ 20, những hành động của tín đồ Da-tô người Việt ở Việt Nam từ
năm 1858 cho đến ngày 30/4/1975, và ở hải ngoại từ năm 1975 cho đến ngày nay,
khẩu hiệu “nhất Chúa, nhì cha, thứ ba Ngô tổng thống” được lưu hành ở
trong các cộng đồng Da-tô người Bắc Kỳ di cư ở miền Nam trong những năm
1954-1963, lời hô hào “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” của Linh-mục
Hoàng Quỳnh vào mùa hè năm 1964 để kêu gọi và dạy dỗ giáo dân phải theo đó mà
hành xử.)
4.- Ít nhất đi
nhà thờ một tuần một lần hay đến bàn thờ Chúa cầu nguyện mỗi ngày.
5.- Coi tất cả
các ông tu sĩ Da-tô như là đại diện cho Chúa ngay cả vào khi họ không làm lễ, và
tin rằng các ông tu sĩ này đều có quyền năng giống như Chúa Bố Jehovah, Chúa con
Jesus.
6.- Nặng lòng
mê tín, dị đoan, thật lòng tin hết tất cả những chuyện hoang đường nhảm nhí do
Giáo Hội La Mã hay các ông tu sĩ Da-tô rao truyền hay phổ biến.
7.- Thiển cận,
chỉ tin vào những chuyện hoang đường láo khoét của Giáo Hội La Mã đưa ra, nhưng
lại khinh rẻ tất cả những lễ nghi cúng tế các vị thần của các nhóm văn hóa khác
và cho là nhảm nhí.
8.- Hợm hĩnh,
cao ngao, lố bịch, trịch thượng và nham nhở, coi ông thần Jehovah và ông Jesus
là Thiên Chúa Tòan Năng, Toàn Thiện và có mặt ở khắp mọi nơi", coi Giáo Hội La
Mã là "Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền", là "HiềnThê
của Thiên Chúa Làm Người" và tự phong là "dân Chúa", nhưng lại coi
các vị thánh tổ và các đấng thần linh của các tôn giáo khác là "tà thần"
và "ma quỷ".
9.- Nặng đầu óc
chia rẽ và nặng tinh thần kỳ thị, phân chia giai cấp, khinh rẻ các tôn giáo khác
là "tà giáo" hay "tà đao" và các thành phần thuộc các tôn giáo
khác là những quân "mọi rợ" hay "dã man" hoặc "man di".
10.- Nặng đầu
óc thiên vị và bất công. Luôn luôn cho rằng cái gì thuộc về Giáo Hội La Mã đều
tốt cả, cái gì thuộc về các tôn giáo khác đều xấu. Nếu có người nào chứng minh
các ngài mang chức thánh đại diện cho Chúa (linh mục, giám mục, tổng giám mục,
hồng y và giáo hoàng) làm bậy, sờ mó con nít, gian dâm với nữ tín đồ, hoặc là có
những hành động gian ác tàn ngược thì họ lại đổ lỗi cho là bị quỷ ám.
11.- Xun xoe,
khúm núm và quỵ lụy với các đấng bề trên hoặc những người có thế lực hay quyền
uy lớn hơn,
12.- Khinh thị,
vênh váo, nghênh ngang, làm oai, làm phách, hách dịch, trịch thượng đối với
những người lép vế, thế cô, nhất là đối với những người dưới cơ mà là những
người thuộc các tôn giáo khác. Việc đòi hòi những người thuộc các tôn giáo khác
phải theo đạo Da-tô khi họ muốn thành hôn với người yêu là tín đồ của Giáo Hội
là bằng chứng rõ ràng nhất cho sự kiện này.
13.- Hung dữ,
hiếu chiến, hiếu sát, khát máu, tàn ác và dã man đối với những người thuộc các
tôn giáo khác khi có quyền lực ở trong tay.
14.- Nhập nhằng
hay không có khả năng sử dụng lý trí để phân biệt được sự khác biệt giữa một bên
là việc công và một bên là việc riêng tư (cá nhân), không biết sự khác biệt giữa
việc đạo và việc đời hay giữa tôn giáo và chính quyền.
15.- Tùy theo
hoàn cảnh, phải cố gắng tối đa để thi hành nhiệm vụ biến cải những thành phần
thuộc các tín ngưỡng hay tôn giáo khác theo đao Da-tô bằng bất cứ thủ đoạn và
phương tiện nào dù là bất chính, đê tiện, lưu manh, độc ác và dã man đến mức nào
đi nữa họ cũng phải làm. Nhiệm vụ này được gọi là nhiệm vụ "làm sáng danh Chúa".
16.- Tỏ ra vô
cùng sợ hãi Tòa Thánh Vatican, tán thưởng và khen tụng hết mình tất cả những
lời dạy, quyết định và việc làm của Vatican. Tình trạng này đã khiến cho ngay cả
một linh mục Việt Nam ở Việt Nam đã phải thốt ra lời chua chát “Toà Thánh
đánh rắm cũng khen thơm.” (Nhiều tác giả, Tại Sao Không Theo Đạo Chúa -
Tuyển Tập 2 (Spring, TX: Ban Nghiên Cứu Đạo Giáo, 1998), tr 116.
17.- Khi viết
những bản văn cám ơn hay cảm tạ về các quan khách đã tham dự những buổi họp măt
hay lễ lạc về tang, hôn, hiếu, hỉ đều có hàng chữ “quý vị lãnh đạo tinh thần”
được đưa lên hàng đầu.
Xin gọi 17 đặc
tính trên đây là 17 Da-tô tính. Thực ra, bất kỳ một tín đồ Da-tô cuồng tín nào
cũng đều có hầu hết những đặc tính trên đây. Về nguồn gốc của 17 đặc tính Da-tô
này, học giả Phan Như Diệp cho rằng bắt nguồn từ thánh kinh và những lời dạy
của Vatican mà ra. Dưới đây là nguyên văn lời lẽ trình bày về vấn đề này của
tác giả Phan Như Diệp:
“Tất cả các
tôn giáo (Thiên Chúa Giáo) nầy đều nặng về những tín điều tuyệt đối, hoang
tưởng, và bảo thủ, tính bất khoan nhượng cao độ, thể hiện tràn đầy trong các
Kinh Thánh của họ (Bibles, Talmud, Koran, . . ) và trong lịch sử truyền đạo,
phát triển, với vô số xảo thuật đổi đạo, đầy rẫy hận thù, bạo lực, khủng
bố, và chiến tranh. Họ tuyệt đối hướng ngoại, nhị nguyên biện biệt, tranh thắng,
chấp trước với (những) cuốn Kinh Thánh cứng ngắc, một nhân vật “tuyệt đối vừa
siêu nhiên vừa có tính người”, và những “đức tin” vô điều kiện (Tin, phục tùng
vô điều kiện, thì được cứu rỗi, sau khi chết được lên thiên đàng; không tin là
ma qủi và phải bị tiêu diệt. . .). Sự “Vâng lời” hay “Biểu thị sự vâng lời, tuân
phục” một cách nô lệ là những trường hợp “lạm dụng”, “lạc dẫn”, hay “ngụy biện”!
Những trích thuật của họ thường cố ý nêu lên những điều (trích dẫn) mà ý nghĩa
và giá trị được họ mặc nhiên và giảo hoặc xem như đã được công nhân(!?). Kỹ
thuật nầy được xử dụng phổ thông trong những chế độ, tổ chức độc tôn, độc
quyền, chuyên chế; chấp trước và bất khoan nhượng, như trong các thời quân chủ
chuyên chế, các chế độ độc tài, và đặc biệt là trong các tổ chức tôn giáo độc
thần Tây phương – “Kinh thánh dạy rằng . .” (dầu là Bible, Talmud, hay Koran, .
.), “Giáo hội dạy rằng:..” đúng là một “tinh thần Tử viết” tối ư kịch liệt! - .
. Nhóm từ “Tinh thần Tử viết”, có tính khinh miệt, mĩa mai, là để chỉ trích cái
quỷ thuật trích biện ngụy dẫn nầy.. .Lẽ tự nhiên, trong thế giới tiến bộ mà con
người luôn luôn cần được khuyến khích tự do phát triển tư duy, đây là trường hợp
tối ư tiêu cực, và cần phải bị phê phán. Tất cả những đặc thù đó làm cho họ hoàn
toàn mâu thuẩn với những triết lý, đạo học Đông phương đầy tính nhất nguyên,
hướng nội, cởi mở, vị tha, vô cầu, vô tranh, vô trước, vô ngã (“Thành ý, chính
tâm”, “Chỉ ư chí thiện”, “Ngôn bất trúng lý, bất như vô ngôn”, “Nhất ngôn bất
trúng, thiên ngôn bất dụng”, “Quân tử nhất ngôn dĩ vi trí, nhất ngôn dĩ vi bất
trí”, “Ngôn bất khả bất thận dã.”, “Nhất ngôn nhi khả dĩ hưng bang; nhất ngôn
nhi khả dĩ tang bang”, “Ngôn bất khả diễn”, “Bất dĩ từ hại ý”, “Tận tín thư tắc
bất như vô thư“, “Y nghĩa bất y ngữ”, “Y Đạo bất y nhân”, “Ngôn vô ngôn, pháp vô
pháp”, “Bất lập văn tự”, “Trực chỉ nhân tâm”, . . )
Tất cả “đức
tin”, lịch sử, v.v. của các tôn giáo nầy đều bắt nguồn từ một cổ sử đầy truyền
thuyết, huyền thoại, pháp thuật, phù thủy, dị đoan, và các hình thức lễ nghi tôn
giáo man di, qua nhiều thế hệ nộ lệ, tràn đầy khát vọng tự do và ước mơ được
giải phóng bởi một “nhân vật” tưởng tượng có sức mạnh như “thiên thần”, của bộ
tộc du mục Babylon thuộc lãnh thổ Iraq hiện nay.
Đặc tính
thống hệ chuyên chế và thế quyền là điểm tuyệt đối chung nhất khác của những tôn
giáo nầy, là nguồn gốc của bao nhiêu mâu thuẩn chính trị xã hội, kỳ thị, chiến
tranh, bạo lực, khủng bố. Tượng trưng nhất là đạo Ky-tô La Mã, thường gọi là đạo
Công Giáo, là một hệ thống chấp chặc một niềm tin vô điều kiện vào một Chúa ở
trên trời, vào đại diện “chính thức” của ông ta ở thế gian, qua sự mặc khải(!?),
là Giáo hoàng, và vào hàng loạt các đại diện theo chiều dọc, Hồng y, Tổng giám
mục, Giám mục, Linh mục, qua các phép thông công(!?), v.v. Để có một ý niệm rõ
ràng hơn về tính chuyên chế và thế quyền, độc tôn và bạo lực, của các tôn giáo
nầy, xin nghiên cứu thêm: *Những cuộc chiến tranh tôn giáo (“Thánh chiến! – Holy
wars! Jihad! Crusades!”), Hai Thời đại tối tăm (Dark ages) trước và sau kỷ
nguyên, Hơn 400 năm kinh hoàng với các Tòa Án Dị Giáo (Inquisitions), *Những
cuộc diệt chủng (Crusades), Chế độ Nô lệ (Slavery),Chế độ Thực dân
(Colonialism), v.v...”[8]
Với 17 đặc tính
trên đây, người tín đồ Da-tô thật sự đã rơi vào tình trạng không biết sử dụng lý
trí vào việc phân tách và suy luận để tìm hiểu sự vật (“cách vật trí tri”), đặc
biệt nhất là để tìm hiểu và kiểm nghiệm những điều ghi chép trong thánh kinh,
những lời dạy dỗ của Giáo Hội La Mã xem xem nó “đúng” hay là “sai”. Họ chỉ
biết cúi đầu vầng lời, triệt để tuân phục những lời dạy và lệnh truyền của Giáo
Hội La Mã giống y như con chó trong phòng thí nghiệm của nhà bác học Pavlov. Có
thể vì tình trạng này mà nhà báo Long Ân mới đưa ra lời nhận xét chua chát như
sau:
"Con người
đã nhân danh tôn giáo để làm những chuyện điên cuồng nhất, đã nhân danh tôn
giáo để biện minh cho quyền lực phi nhân áp đặt lên đầu kẻ khác. Con người đã
phản lại tôn giáo, đã chặt đứt cây cầu đưa đến cuộc tìm kiếm chính mình, đã cúi
đầu đi trên bốn chân để từ con người trở về với nguồn gốc của con người súc
sinh." [9]
Để kiểm
nghiệm những lời trình bày trên đây, độc giả hãy theo dõi thái độ, ngôn ngữ,
phương cách lý luận và cung cách hành xử (tư cách, ngôn từ và hành động) của
những người Việt Da-tô ở hải ngoại làm việc trong các ngành truyền thông (viết
báo, viết các bài xã luận, bỉnh bút trong các tờ báo, xướng ngôn của các đài
truyền thanh và truyền hình, MC của các chương triìh ca nhạc, v.v…) và qua những
ấn phẩm hay bài viết của họ được phổ biến bằng các phương tiện truyền thông Việt
ngữ như báo chí, các đài phát thanh, các đài truyền hình, các nhóm điện thư
(E-mail groups).
VII.- NHỮNG LỜI
TUYÊN BỐ NGU DỐT CỦA NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ
NHỮNG LỜI NHẬN
XÉT CỦA CÁC NHÀ TRÍ THỨC VÀ CHÍNH KHÁCH
Người ta
thường nói “Văn tức là người”. Văn đây có nghĩa là những lời lẽ
hay ngôn tử sử dụng trong việc ứng xử hàng ngày với mọi người hay những lời văn
viết trong các tác phẩm của một người nào đó. Ông Ngô Đình Diệm là một chính
khách, không phải là một nhà văn, cho nên ông không để lại một lời văn viết nào
cả. Nhưng vì là chính khách đã từng nắm giữ chức vụ tổng thống miền Nam hơn chín
năm trời, ở vào địa vị này, ông đã tiếp xúc với rất nhiều nhân vật có thế lực ở
trong nước cũng như ở nước ngoài, với rất nhiều nhà báo trong các cơ quan truyền
thông ở trên thế giới và cũng đã từng đưa ra những lời tuyên bố mà sách sử đã
ghi lại. Dưới đây, Người viết xin ghi lại những lời tuyên bố ngu dốt của chính
ông và những lời nhận xét của các nhà trí thức hay chính khách quốc tế cũng như
chính khách hay trí thức người Việt nhận xét về tình trạng ngu và dốt của ông.
1.-
Trước hết, chúng ta trở lại chuyện bản văn do nhà viết sử Lương Minh Sơn ghi
nhận lời tuyên bố của ông Diệm trong bữa cơm được tổ chức tại Khách Sạn
Mayflower ở Washington D.C vào tháng 10 năm 1950 để cho các cán bộ của Giáo Hội
La Mã giới thiệu ông ta với các viên chức cao cấp trong Bộ Ngoại Giáo Hoa Kỳ mà
người viết đã trích dẫn ở trong chương sách nói về Những Tính Toán Của Vatican
Trong Năm 1950 ở trên. Xin ghi lại đây đoạn văn sử này trong đó có lời tuyên bố
để đời của ông Ngô Đình Diệm để độc giả suy nghiệm:
"...Mục
đích của buổi gặp gỡ xã giao này là để chính phủ Hoa Kỳ tìm hiểu về tình hình
Việt Nam và để xác định lập trường chính trị của ông Diệm và Đức Cha Thục. Sự
kiện 90% người dân Việt Nam không phải là tín đồ Thiên Chúa Giáo không làm ông
Diệm quan tâm vì ông đã tuyên bố tối hôm đó rằng ông "tin tưởng
vào quyền lực của Vatican và ông chống Cộng một cách cực lực.” …
“Điều còn lại sau cùng
cho kế hoạch chính trị hỗn hợp này là làm thế nào để giải thích cho Hội Đồng
Chính Phủ và Quốc Hội Hoa Kỳ và kinh nghiệm chính trị và khả năng lãnh đạo của
ông Ngô Đình Diệm? Tổng Thống Eisenhower cũng chỉ có thể trấn an Hội Đồng Chính
Phủ bằng câu nói, “Trong đám mù, thằng chột làm vua,”.[HER]. Điều này cho thấy:
một là ông Diệm không có một thành tích chính trị nào đáng kể, hai là ông Diệm
không có khả năng lãnh đạo, hoặc ba là người Mỹ hoàn toàn không biết gì về ông
Diệm.” [10]
2.-
Trong cuốn sách Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, tác giả Hoàng
Ngọc Thành và Thân Thị Nhân Đức ghi lại lời tuyên bố của ông Ngô Đình Diệm với
nguyên như như sau:
"Chế độ này
còn nhiều khuyết điểm, cũng còn hơn nhiều chế độ khác. Người ta chê là độc tài,
nhưng chỉ ngại còn những thứ độc tài khủng khiếp hơn.... Tôi tiến thì theo Tôi,
Tôi lùi thì bắn tôi, Tôi chết thì trả thù cho Tôi,.."[11]
Là một đồ Da-tô
thuộc loại bế ngửa (đạo gốc, rửa tội lúc còn bế ngửa), ông Diệm ít nhất mỗi ngày
đến bàn thờ Chúa Jesus cầu nguyện một hai lần (như đã nói ở trên). Ấy thế mà
ông vẫn không nhớ được lời Chúa dạy "Ta tha thứ cho kẻ thù của Ta", lúc
Ngài bị đóng đinh trên cây thập giá ở Núi Sọ, cho nên ông mới đưa ra lời tuyên
bố ngu xuẩn rằng, "Tôi chết thì trả thù cho tôi." Trong khi đó, cũng là
tín đồ Da-tô thuộc loại bế ngửa như ông, cũng mang đầy tội ác đối với nhân dân
như ông, cũng phải đền tội trước nhân dân như ông,nhưng khi bước lên đoạn đầu
đài đền tội vào ngày 21/1/1793, Vua Louis XVI lại nhớ lời dạy trên đây của Chúa
Jesus và đã tuyên bố rằng:"Tôi tha thứ cho những kẻ thù của tôi".
Sự kiện này được sách Cách Mạng Và Hành Động ghi lại như sau:
"Tới ngày
21/1/1793, Louis XVI lên đoạn đầu đài, theo sau có một tu sĩ không tuyên thệ với
Cách Mạng. Nhà vua tự tay cởi áo và cà vạt, rồi yên lặng để người ta trói tay
mình. Ông chỉ kêu lên: "Tôi vô tội. Tôi tha thứ cho những kẻ thù của tôi, và tôi
cầu Chúa để máu của tôi khỏi gây họa cho dân chúng." Rồi lưỡi dao hạ xuống Louis
Carpet rớt xuống thùng vôi..."[12]
3.-
Trong cuốn Hai Mươi Năm Qua 1945-1964 Việc Từng Ngày, cụ Đoàn Thêm ghi lại lời
tuyên bố của ông Ngô Đình Diệm với nguyên văn như sau:
"Sau lưng
Phật Giáo trong nước còn có Hiến Pháp, nghĩa là còn có tôi."[13]
Điều khôi hài
là trong khi và sau khi đưa ra lời tuyên bố ngu xuẩn và ngang ngược trên đây,
ông Diệm cũng không biết rằng lời tuyên bố trên đây là ngu xuẩn và ngang nguợc.
Người ta bảo rằng nó lú có chú nó khôn. Nhưng cái lũ chú của anh em ông Ngô Đình
Diệm cũng chẳng khôn chút nào cả. Cái lũ chú này là Giám Mục Ngô Đình Thục,
Giám-mục Pham Ngọc Chi, các Linh-mục Nguyễn Văn Thuận (sau này được phong chức
giám mục, rồi lại được chức hồng y nữa), Mai Ngọc Khuê, Đinh Xuân Hải, Tô Đình
Sơn, Nguyễn Lạc Hóa, Trần Đình Vận, Bửu Dưỡng, Cao Văn Luận, Nguyễn Quang Lãm,
Trần Du, Nguyễn Bá Lộc, Thanh Lãng, v v... và một số đông các nhà trí thức Da-tô
ngoan đạo có bằng cấp đại học. Vì ngu dốt, cho nên họ không biết rằng ở ngay
nước Hoa Kỳ (đã chủ mưu tạo nên miền Nam và chế độ Ngô Đình Diệm), tất cả mọi
người đều phải hành xử theo luật pháp và hiến pháp Hoa Kỳ, không có môt người
nào, dù là Tổng Thống Hoa Kỳ đi nữa cũng không được đứng trên hay sau lưng Hiến
Pháp và luật pháp. "No American is above the law".
Điều khôi hài
khác nữa là ông Diệm thường huênh hoang khoác lác khoe khoang rằng ông là một
nhà Nho đến nỗi một sử gia người ngoại quốc tên là Denis Warner lầm tưởng rằng
ông ta là một nhà Nho thật sự cho nên mới viết một cuốn sách nói ông ta và về
chế độ của ông ta với tựa đề là "The Last Confucian" (New York: The Macmillan
Company, 1963.). Tự xưng là một nhà Nho, nhưng ông Diệm lại không nhớ lời của
Thày Mạnh Tử dạy rằng "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh" và “Dân
chí sở ố, ố chi; dân chi sở hiếu, hiếu chi; sở vi dân chi phụ mẫu.” Vì không
nhớ (hay không biết) các lời dạy trên đây, cho nên ông mới tuyến bố một cách
ngang ngược và ngu xuẩn rằng "Sau lưng Phật Giáo trong nước còn có Hiến Pháp,
nghĩa là còn có tôi."
Từ ngàn xưa,
những hạng người ngu xuẩn và dốt nát, nhất là những hạng người cuồng tín về tôn
giáo, càng ở vào địa vị cao trọng, càng để lộ ra tình trạng ngu xuẩn và dốt nát
của họ khi họ tuyên bố một điều gì hay khi ứng xử với mọi người. Đây là một quy
luật về tâm lý. Quy luật này thể hiện ra rõ ràng nhất ở nơi con người Ngô Đình
Diệm. Như đã trình bày ở trên, tình trạng ngu đốt của ông Diệm được thể hiện ra
vào những dịp như khi tiếp xúc và nói chuyện với những nhân vật trong Bộ Ngoại
Giao Hoa Kỳ vào tháng 10/1950, khi tiếp xúc với các sinh viên Việt Nam đang du
học ở Âu Châu trong thời gian 1951-1954 (sẽ nói rõ trong một tiểu mục ở sau),
khi làm việc với ông cố vấn đặc biệt của Hoa Kỳ là Đại Tá Edward G. Lansdale,
khi tâm tình với những người đồng đạo thân tín như cựu Tướng Hùynh Văn Cao, và
những khi phải tuyên bố long trọng với nhân dân, bất kỳ lúc nào và ở bất kỳ
trường hợp nào, ông Diệm cũng để lộ ra tình trạng cuồng tín, ngu xuẩn và dốt nát
của ông ta.
4.-
Trong cuốn Tôi Làm Cố Vấn Cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cựu Tướng Edward G.
Lansdale kể lại nỗi bực mình của ông về cái ngu của ông Diệm bằng ngôn ngữ
ngoại giao là "kém khôn ngoan về chính trị". Nỗi bực mình này của
cựu Tướng Edward G. Lansdale quả thật là đúng với thành ngữ "Làm đầy tớ
thằng khôn còn hơn là thầy thăng ngu" của người Việt chúng ta. Dưới đây là
nguyên văn lời cựu Tướng Edward G. Lansdale:
"Tôi đã đề
nghị bên Bình Xuyên hãy đem gươm ra mà đúc lưỡi cày. Quân đội riêng của họ hãy
tự giải giới và đem số dung cụ, vật liệu họ thu thập được qua sự kinh doanh của
những cơ sở phi pháp ra mà kiến thiết một xa lộ tối tân cần thiết từ Sàigòn đi
Vũng Tầu (nơi có nhiều tài sản của Bình Xuyên). Xa lộ ấy vì là tặng vật của Bình
Xuyên cho quốc gia, nên sẽ được mang tên của lãnh tụ Bình Xuyên.
Đề nghị của
tôi về việc làm xa lộ khiến cho Bẩy Viễn thích thú. Tôi liền dàn xếp một cuộc
gặp gỡ giữa Bảy Viễn và ông Diệm. Sau khi gặp nhau, Bẩy Viễn giận dữ ra về và
trút cơn thịnh nộ lên đầu các tay cố vấn. Kết cuộc một người trong số cố vấn nầy
bị bắn lủng ngực. Nghe được câu chuyện tai hại ấy, tôi liền tức tối đến gặp ông
Diệm để tìm hiểu việc gì đã xẩy ra trong cuộc hội kiến với Bẩy Viễn. Ông Diệm
cho tôi biết viên lãnh tụ Bình Xuyên đã đưa ra một đề nghị "tầm bậy" là hắn sẽ
chấm dứt những hành vi sai lầm phi pháp và đem tiền của ra để kiến thiết một xa
lộ. Tôi nói với ông Diệm rằng: "Đó là lý do khiến tôi xin Thủ Tướng tiếp kiến
ông ta. Vậy Thủ Tướng đã trả lời ông ta ra sao? Ông Diệm nói: "Tôi bảo hắn rằng
tôi không tin điều đó. Tôi không chấp nhận. Trước sau gì thì hắn cũng chỉ là một
tên vô lại". Tôi điếng người vì sự kém khôn ngoan về chính trị của ông Diệm, và
nói thẳng với ông Diệm như vậy. Ông ta đã không áp dụng nổi một giải pháp xây
dựng cho một vấn đề khó khăn. Bình Xuyên kiểm soát ngành cảnh sát và một đạo
quân, được hậu thuẫn bằng tiền bạc của những hoạt động phi pháp. Thay vì khuyến
khích họ từ bỏ những hoạt động ấy, ông Diệm lại mua lấy sự oán ghét. Khi kẻ cướp
bị khinh bỉ thì chúng nguy hiểm không khác gì một người đàn bà. Một ngày nào đó,
ông Diệm sẽ phải trả giá đắt cho sự kém khôn ngoan ấy."[14].
5.-
Trong bài "Hoàng Xuân Hãn, Một Nhân Chứng Lịch Sử" đăng trong tờ Hợp Lưu số 29
tháng 6 & 7/1996 nơi các trang 74-75, tác giả ghi lại chuyện cụ Hoàng Xuân Hãn
cho rằng ông Diệm là hạng người đần độn với nguyên văn như sau:
"Hồi ấy, tôi
vào chấm thi đấy, tôi có một người bà con rất thân với ông Diệm, có thể nói là
thư ký riêng của ông Diệm. Ông Diệm hồi ấy viết cái gì hay nói cái gì thì cũng
cậu này làm cho cả. Cậu ta đậu bachot (Baccalauréat - thi tú tài), người đứng
đắn và nhiều chính kiến lắm, Cậu ta nói với tôi: "Cụ Diệm muốn gặp - gọi tôi
bằng chú - chú lắm. Làm thế nào để cháu đưa chú đến gặp cụ Diệm mà tụi Tây nó
không biết." Thế rồi, một tối, cậu ta đến dắt tôi đi qua một cái vườn, rồi qua
hàng rào, sang nhà ông ta. Ngồi đợi, tôi còn nhớ có cái đèn manchon sáng, không
có điện tuy là ở Huế. Ông cụ này một chốc xuống, mặc khăn áo chỉnh tề, khăn
đóng, tôi còn nhớ mặt trắng, người tăng tướng thì không tăng tướng, nhưng
người nho nhã lắm. Ông xuống ngồi với tôi một giờ rưỡi đồng hồ, chỉ hỏi một
câu thôi: Chào ông, hay cám ơn gì đó. Rồi thì ngồi, tôi ngượng quá, không thấy
ông hỏi một cái gì cả, rồi tôi phải gợi câu hỏi để ông ta giả nhời, mà ông
ấy giả nhời thì cũng lại vắn vủi. Thôi tôi chán hết sức. Tôi nói rằng từ
trước đến giờ nghe về đường réputation (tiếng tăm) người ta nói rằng ông... gì
lắm, sao mà ông ấy như thế? Sau tôi hỏi cháu tôi, thì cháu tôi nói: Cụ Diệm ở
đây ai cũng trọng cả, chứ mà tính cụ ấy như thế, kín lắm! Thế tôi hỏi: "Đã mời
tôi tới thì cũng phải hỏi cái gì cho nó có câu chuyện chứ?" Không! Cái cảm tưởng
của tôi về ông Diệm là thế này: "Một người đi tu mà nhiều khi lại đần độn là
khác nữa."[15]
6.-
Giáo-sư Lý Chánh Trung, một trí thức Da-tô, nói rõ về tình trạng kém thông minh,
dốt nát về chính trị của ông Diệm và tình trạng vừa ngu dốt vừa lưu manh của bọn
người đồng đạo bộ hạ của ông ta với nguyên văn như sau:
"Ngày 20
tháng 8 năm 1963, Phật Giáo bước vào "mùa pháp nạn" và dân chúng miền Nam bắt
đầu đếm từng ngày cái chuỗi ngày thật dài, nóng bỏng và nghẹt thở dẫn đến cuộc
đảo chánh lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Một sự dường như mới xẩy ra hôm qua đây,
hình ảnh các biến cố còn sáng rực trong ký ức, thế mà anh em Phật tử đã kỷ niệm
mùa Pháp nạn đến lần thứ bảy rồi đó.
Tôi không
phải là một Phật tử, cũng không bị ức hiếp điều chi dưới trào ông Diệm, nên
không có tư cách gì để nói lên cảm nghĩ của mình nhân ngày kỷ niệm này, mà chỉ
có thể chia xẻ phần nào sự đau xót mà chắc số đông đồng bào Phật tử đang cảm
thấy trong lòng, khi nhìn lại những thăng trầm biến đổi, những hoạn nạn gian
truân mà Phật giáo xứ này đã phải liên tiếp gánh chịu trong bảy năm qua, kể từ
mùa Pháp nạn đầu tiên.
Những cảm
nghĩ mà tôi có thể nói và thấy cần phải nói, là những cảm nghĩ về ông Diệm,
người đồng đạo của tôi và cũng là người chịu trách nhiệm trước lịch sử về cuộc
đàn áp Phật Giáo năm 1963, dù cho cuộc đàn áp này có thực sự do chính ông quyết
định hay không.
Tôi có gặp
ông Diệm một lần, khi còn là sinh viên ở Louvain. Lúc ấy, ông đang nằm chờ thời
trong một tu viện gần thành Bruges (Bỉ). Nhân dịp ông đến Louvain tiếp xúc với
giới Đại Học, Đoàn Sinh Viên Công Giáo Việt Nam có mời ông đến ăn cơm và nói
chuyện tại đoàn quán. Sau bữa cơm rất thanh đạm dưới bếp, ông được mời ngồi trên
chiếc ghế bành duy nhứt trong phòng khách, chúng tôi quây quần chung quanh.
Ông đã ngồi
im như không nhúc nhích trong mấy tiếng đồng hồ, đã hút gần hết bao thuốc lá
Belga của chúng tôi, đã nói thật nhiều và phần nhiều là nói một mình. Ông không
trả lời thẳng và đích xác một câu hỏi nào của chúng tôi, ngoại trừ một câu: Khi
được hỏi ông quan niệm thế nào về dân chủ, ông nói rằng ông không có học nhiều
về chính trị nên không được rõ lắm về các lý thuyết dân chủ, nhưng ông vừa đi
quan sát nước Mỹ cũng như vài nước Âu Châu và ông thấy nền dân chủ Hoa Kỳ là
tốt hơn hết.
Câu trả lời
đó đã làm một số anh em chúng tôi thất vọng. Lúc ấy, chúng tôi không có một chút
cảm tình đối với Mỹ vì Mỹ giúp tiền cho Pháp trong cuộc chiến tranh Đông Dương
và cũng đang nghi ngờ nền dân chủ Mỹ vì cái chính sách chống Cộng ngu xuẩn, đượm
nhiều hơi hám phát xít của nhà cầm quyền Mỹ (đặc biệt là cái phong trào "săn bắt
Cộng Sản" của Thượng Nghị Sĩ Joseph Mac Carthy) và vì sự can thiệp trơ trẽn của
Mỹ vào các nước Châu Mỹ La Tinh như vụ lật đổ Chính Phủ Cấp Tiến Guatemala.
Sau câu
chuyên, tôi đã cùng một anh sinh viên khác hộ tống ông Diệm về khách sạn. Đường
xa, trời lạnh, ông bước thật nhanh theo lối chữ bát và đã im lặng trong suốt
quãng đường. Không biết trong những câu hỏi của chúng tôi đêm đó, hoặc trên
những tờ báo của chúng tôi mà chắc ông có đọc, có điều chi làm ông không vừa
lòng, mà ông đã nói với ông viện trưởng Trương Đại Học Louvain rằng sinh viên
Việt Nam tại đây "đã bị mác-xít hóa ít nhiều", khiến cho ông viện trưởng phái
một người đến để hỏi thăm về việc đó.
Sau này, khi
cầm quyền, ông vẫn không ưa "bọn Louvain" và trong một phiên họp chính phủ, ông
nói rằng cái bọn Louvain chúng nó "lộn xộn" lắm, các ông bộ trưởng có dùng thì
phải coi chừng. Tuy nhiên, ông không có một hành động kỳ thị nào đối với chúng
tôi.
Riêng phần
tôi, cuộc tiếp xúc đầu tiên với ông Diệm đã không gây được một niềm hứng khởi
hay tin tưởng nào mà cũng không giúp tôi hiểu rõ thêm tình hình đất nước.
Những ý tưởng của ông rất lù mù mà sự diễn đạt lại càng lù mù hơn.
Tôi có cảm
tưởng ông là người hiền lành, yêu nước và có đức độ nhưng lại quá thân Mỹ và
không am hiểu gì hết về các vấn đề xã hội. Nói chung là tôi thất vọng không
những về quan niệm chính trị của ông mà còn vì khuynh hướng độc
thoại của ông. Hình như ông chỉ có thể nói một mình, chớ không đối thoại thật sự
được với ai.
Tuy thất
vọng, tôi vẫn có cảm tình đối với ông, vì có một cái gì đáng kính và dễ mến
trong cái tác phong đạo mạo, trong cái dáng điệu cứng ngắc và ngượng nghịu của
ông. Nhưng thiệt tình lúc ấy, tôi không ngờ rằng ông Diệm sẽ được suy tôn như là
lãnh tụ anh minh và cứu tinh của dân tộc.
Tôi đã kể
lại dài dòng bữa gặp gỡ đầu tiên với ông Diệm, vì hôm nay tôi nhớ tới ông với
thật nhiều thương xót, mà cũng vì tôi muốn cho những phán đoán của tôi về ông
được hiểu rõ là không do nơi ác cảm hay một sự bất mãn cá nhân nào đối với ông.
Nhìn lại
chín năm cầm quyền, tôi thành thực nghĩ rằng, ông chỉ là một huyền thoại lớn do
người Mỹ và một số tay chân bộ hạ tạo ra để lợi dụng. Người Mỹ lợi dụng ông để
thực hiện mưu đồ của họ, một số tay chân bộ hạ đã lợi dụng ông để bòn rút những
nguồn lợi béo bở của đất nước này và của viện trợ Mỹ.
Cái lỗi căn
bản của ông là chính ông đã tin nơi cái huyền thoại “cứu tinh dân tộc, lãnh tụ
anh minh” đó. Ông đã tin nơi sứ mạng cứu nước của mình đến nỗi không còn chấp
nhận được bất cứ tiếng nói nào khác tiếng nói của ông, ngay cả những tiếng nói
thật ôn hòa và “xây dựng” như bức thơ trần tình của nhóm nhân sĩ Caravelle.
Cái lỗi căn
bản của ông là đã xem người Mỹ cũng như tay chân bộ hạ của ông là những phương
tiện để hoàn thành sứ mạng cứu nước trong khi chính ông mới là phương tiện của
người Mỹ và một số tay chân bộ hạ.
Và sứ mạng
cứu nước đã được ông đồng hóa sứ mạng chống Cộng, vì đối với ông, Cộng Sản là sư
xấu tuyệt đối phải tiêu diệt bằng mọi giá, kể cả cái giá lệ thuộc người Mỹ. Đó
là một lỗi căn bản khác và tất cả sự mâu thuẫn của chính sách chống Cộng nằm ở
chỗ này.
Tôi được
biết ông đã suy nghĩ và do dự rất lâu khi chính chánh phủ Kennedy đề nghị gửi
sang đây 14 ngàn quân để thí nghiệm cuộc “chiến tranh đặc biệt”, vì ông thấy rõ
nguy cơ mất chủ quyền. Nhưng cuối cùng ông đã nhận vì sự chống cộng đã được ông
xem như một cứu cánh tuyệt đối mà đó là cái giá phải trả để chống cộng, một cái
giá thật đăt đối với ông vì tôi tin ông yêu nước, dầu yêu nước theo cách của
ông.
Ông đã tưởng
mình có thể lệ thuộc Mỹ một phần nào thôi, còn phần kia thì vẫn “độc lập”, ông
đã tưởng mình có thể nhẩy vào vòng tay người Mỹ trong một giai đoạn ngặt nghèo
rồi thoát khỏi vòng tay đó khi tình hình sáng sủa hơn, ông đã tưởng có thể chấp
nhận làm con cờ trong một ván cờ rồi ngay trong ván cờ đó, có thể tự động đi một
nước cờ riêng của ông.
Khi ông nhìn
thấy đó chỉ là ảo tưởng thì đã quá trễ: Ông đã chết vì ảo tưởng đó. Và cái chết
bi thảm của ông cho thấy một sự thật hết sức tầm thường: Không một con cờ nào có
thể tự động đi một nước cờ cho riêng nó, dầu con cờ đó mang tên Ngô Đình Diệm,
và không một nước nhỏ nào có thể lợi dụng một nước lớn, nhất là nước đó mang
tên Hoa Kỳ.
Bẩy năm đã
qua và ngày nay, dư luận quần chúng có vẻ khoan hồng hơn đối với ông Diệm và chế
độ cũ của ông, ngay cả những nơi nạn nhân của chế độ ấy.. Lý do giản dị: với
thời gian, kỷ niệm đã mờ nhạt, hận thù được xoa dịu, những ẩn ức dồn nén được
giải tỏa. Trong khi đó, cái thực trạng của xã hội miền Nam mỗi ngày thêm xấu xa
tệ hại, khiến cho người ta có khuynh hướng chỉ nhớ tới những nét tương đối dễ
coi của chế độ Ngô Đình Diệm, mỗi khi so sánh thời này với thời trước.
Nhưng từ đó
mà cho rằng chế độ ông Diệm là một thời đại hoàng kim và chỉ cần bắt chước ông
Diệm là có thể giải quyết những vấn đề đất nước, như một số chân ta bộ hạ của
ông đang tuyên bố rùm beng thì thật là lố bịch và vô liêm sỉ.
Những người
đang hò hét khóc lóc chung quanh cái tên Ngô Đình Diệm như bầy quạ trên một xác
chết. Với cái âm mưu tái lập một chế độ Diệm không Diệm trong đó họ sẽ phè phỡn
bòn rút như xưa, xin họ nhớ cho rằng giòng lịch sử không bao giờ chẩy ngược
chiều.
Và nếu họ
không còn một chút tự trọng, xin họ dầu sao cũng thương dùm ông Diệm, Tội nghiệp
ông! Tôi ứa nước mắt mà viết câu này, xin họ hiểu cho.”[16] .
7.-
Trong cuốn Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, tác giả ghi lại
lời nhận xét của Đại Sứ Cabot Lodge viết trong công điện gửi về chính phủ Hoa
Kỳ bằng những lời lẽ nói về tình trạng ngu dốt cũng như não trạng phong kiến lạc
hậu lỗi thời, phản tiến hóa của anh em ông Diệm với nguyên văn như sau:
"Chủ yếu
chúng nó là một chế chuyên chính Á Châu thời Trung Cổ của loại gia đình cổ điển,
không hiểu gì cả hay rất ít, về các ngành nghề của chính quyền vì dân. Chúng
không thể ăn nói với dân chúng, không thể gây cảm tình với báo chí, chúng không
thể ủy thác quyền hành hay tạo ta niềm tin, chúng không thể hiểu được tư tưởng
chính phủ là công bộc của dân. Chúng nó chỉ quan tâm đến an ninh vật chất
và sự sống còn của chúng, chống lại bất cứ mối đe dọa nào cộng sản hay không
cộng sản."[17]
8.-
Trong bài viết “Tôi đọc Truyện Kiều Và Tuổi Trẻ” đăng giaodiem.com, tháng
2/2006, Giáo-sư Trần Chung Ngọc ghi nhận lại lời nói về ông Ngô Đình Diệm như
sau: “
“Tôi nhớ đến
lời Tổng Thống Lyndon Johnson khen ông Ngô Đình Diệm là Winston Churchill của
Đông Nam Á. Khi ký giả Stanley Karnow hỏi Johnson có phải Tổng Thống thực sự
nghĩ như vậy không? Johnson đã trả lời thẳng thừng: "Cục phân, nó là
thằng nhóc duy nhất mà chúng ta có ở đó" (Shit, he is the only boy we
got there).”[18]
.
Tạm kể ra 8
trường hợp trên đây và 8 trường hợp này đều nằm trong những đặc tính chung của
những tín đồ Da-tô cuồng tín mà người viết đã trình bày ở trên.
Qua phần trình
bày trên đây, chúng ta thấy rằng ông Ngô Đình Diệm quả thật là một tín đồ siêu
cuồng tín với đầy đủ 17 đặc tính Da-tố đã nói ở trên và xứng đáng được nhà báo
Long Ân xếp loại vào hạng người “đã cúi đầu đi trên bốn chân để từ con người
trở về với nguồn gốc của con người súc sinh.” Điều đau buồn cho dân tộc
Việt Nam là “hạng người súc sinh này” lại được Vatican và siêu cường Hoa
Kỳ đưa về Việt Nam cầm quyền ở miền Nam Việt Nam hơn chín năm trời. Quyền hành
sinh tội ác. Cũng vì thế mà thằng súc sinh Ngô Đình Diệm đã trở thành thiên cổ
tội nhân đối với dân tộc Việt Nam ta và sách sử khẳng định rằng thằng súc sinh
này là một trong số 100 tên bạo chúa độc ác nhất trong lịch sử nhân loại.
VIII.- MỘT SỐ NHỮNG VIỆC LÀM TÀN
NGƯỢC
VÀ THÀNH TÍCH PHẢN TRẮC CỦA NGÔ ĐÌNH DIỆM
Thông thường,
người Việt Nam thường hiểu rằng:
1.- Đàn ông mà
có cặp mắt “trắng bệch” là hạng người gian tham và ác độc, và những nguời “vô
tu” là hạng người “bất nghì”,
2.- Bất kỳ
người nào có cặp mắt hay “nhìn trộm”, “tròng trắng nhiều hơn tròng
đen”, “láo liên” hay “tròng đen chạy long xòng xọc trong tròng
trắng” hoặc “chớp chớp” khi nói chuyện với một người nào, thì tất
nhiên là người đó là quân lưu manh gian ác, tàn ngược và có bản chất phản trắc.
Ông Ngô Đình
Diệm có những ác tướng thể hiện ra trên diện mạo như “bạch diện vô tu” và cặp
mẳt “trắng bệch, tròng trắng nhiều hơn tròng đen” lại hay “nhìn trộm”.
Tất nhiên là những ác tính này sẽ biến thành hành động vào những khi có hoàn
cảnh hay cơ hội, đặc biệt nhất là khi có quyền lực trong tay. Ông Diệm đã từng
hành xử quyền hành trong những năm làm quan với quan thày Pháp và Vatican trong
những năm 1922-1933 và hơn chín năm được Liên Minh Mỹ - Vatican cho nắm giữ
chức vụ Tổng Thống ở miền Nam Việt Nam. Với một quá trình nắm giữ quyền lực
trong tay như vậy, tất nhiền những ác tính Da-tô và ác tính bẩm sinh tiềm tàng
trong con người của ông ta đã có hoàn cảnh thuận lợi và những phương tiện để
biến thành không biết bao nhiêu tôi ác chống lại tổ quốc và nhân dân Việt Nam.
Nguời viết xin
chia những tội ác này của Ngô Đình Diệm ra làm hai loại: (a) Những việc làm tàn
ngược dã man đối với dân tộc, (b) Tâm địa và hành động phản trắc của ông đối với
mọi người.
A.- MỘT SỐ NHỮNG VIỆC LÀM TÀN
NGƯỢC VÀ DÃ MAN CỦA NGÔ ĐÌNH DIỆM
Căn cứ vào sách
sử, ông Ngô Đình Diệm đã phạm tội ác chống lại tổ quốc, chống lại dân tộc Việt
Nam bằng những hành động “cõng rắn cắn gà nhà” và bạo ngược đối với nhân
dân khi làm quan trong chính quyền bảo hộ Pháp - Vatican trong những năm
1922-1933 và khi Hoa Kỳ và Vatican cho nắm giữ các chức vụ thủ tướng và tổng
thống ở miền Nam trong thời gian 1954-1963 ở cầm quyền ở miền Nam. Dưới đây là
một số bằng chứng về những hành động tội ác của ông ta:
1.- Khi mới
được bổ nhậm làm tri huyện ở miền Trung, ông Diệm đã có những hành động tàn
ngược và dã man hết sức là kinh tởm. Sự kiện này được cụ An Khê Nguyễn Bính
Thinh ghi lại như sau:
“Khi ông làm
tri phủ Hòa Đa đã nổi tiếng là tay sai đắc lực của Pháp, lùng bắt và tra tấn các
nhà cách mạng rất dã man bằng cách xông lửa nến (đèn cày) dưới ghế ngồi. Ông cho
trói chặt người bị lấy khẩu cung vào ghế ngồi, mặt ghế có khoét lỗ ở ngay hậu
môn chỗ ngồi, bên dưới đốt ngọn đèn cầy cho lửa xông lên, dần ruột gan, tim phổi
người nọ (nạn nhân) bị sấy lửa, khô dần đi, không chịu nổi, dù có khai để chấm
dứt cực hình nhưng hậu quả về sau không lường được. Lối tra tấn dã man này, ngay
với các bót giam của Pháp, như bót Catinat, cũng chưa dám dùng.”[19]
2.- Trong thời
gian nắm giữ chức vụ thủ tướng và tổng thống ở miền Nam Việt Nam từ ngày
7/7/1954 cho đến 1 giờ trưa ngày 1/11/1963, ông Diệm đã cho thi hành kế hoạch
Ki-tô hoá miền Nam bằng bạo lực khiến cho hơn 300 ngàn người bị sát hại, cùng
với hơn nửa triệu người bị bắt giam và tra tấn một cách hết sức dã man. Vấn đề
này đã được người viết trình bầy đầy đủ trong nơi các trang 124-133 trong cuốn
Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên,
2004), và sẽ được nói rõ trong mấy chương sách nằm trong Mục XX ở sau.
3.-
Ngày 30/11/1961, ông Diệm đã hí hửng và hồ hởi đồng loã với quân đội Mỹ trong
việc sử dụng chất độc da cam rải xuống đồng ruộng và rừng cây trong lãnh thổ
miền Nam Việt Nam. Sự kiện này được sách sử ghi lại như sau:
“Ngày
30/11/1961, Tông Thống John F. Kennedy phê chuẩn cho quân đội Mỹ tiến hành chiến
dịch khai quang đồng cỏ Việt Nam. Quyết định này được Ngô Đình Diệm, lúc đó là
Tổng Thống Nam Việt Nam ủng hộ nhiệt liệt. Diệm cho rằng ông ta “biết cộng sản ở
đâu” và tin rằng chiến dịch này sẽ thành công mĩ mãn.”[20]
Vì thế mà
chiến dịch khai quang này được quân đội Mỹ cho tiến hành trên đất nước Việt Nam
và hậu qủa ghê gớm của chiến dịch này được sách sử ghi nhận như sau:
“Quân đội Mỷ
rải 77 triệu lít chất độc da cam xuống miền Nam và Trung Việt Nam, gây ảnh
hưởng và tác hại đến môi truờng của 2,630,000 mẫu Tây và gần 5 triệu người sống
trong 35,585 thôn ấp.”[21]
Việc làm dã
man này không biết đã sát hại bao nhiêu trăm ngàn hay hàng triệu nạn nhân, và
hậu quả của việc làm này cho đến ngày nay vẫn còn gây hại cho đất đai, cây cối,
mùa màng, sinh vật và nhân dân ta trong vùng bị ảnh hưởng. Hiện nay, chính phủ
Việt Nam đã và đang kiện đòi chính phủ Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm về hậu quả
ghê gớm của việc làm tàn ngược và dã man này, nhưng lại bị những người đồng đạo
của ông Diệm chống đối cực lực. Sự kiện này càng chứng minh cho chúng ta thấy
rằng một khi đã trở thành tín đồ Da-tô thì họ trở thành những phường vong bản
phản dân tộc, thành hạng người “cúi đầu đi trên bốn chân để từ con người trở
về với nguồn gốc của con người súc sinh.”
Tạm kể ra ba
tội ác này cũng đủ cho chúng ta thấy thằnt tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm quả
thật là hạng người “thiên cổ tội nhân” đối với dân tộc Việt Nam ta, và
đúng là một trong số 100 tên bạo chúa độc ác nhất trong lịch sử nhân loại.
B.- NHỮNG THÀNH TÍCH PHẢN TRẮC CỦA NGÔ ĐÌNH DIỆM
Trong tiểu mục
này, người viết chỉ nói đến ác tính phản trắc của ông Diệm mà thôi. Ác tính này
có thể là theo truyền thống hay dòng máu di truyền của gia đình họ Ngô. Do đó,
chúng ta cũng nên tìm hiểu xem gia đình ông Diệm có đặc tính phản trắc này
không, rồi sau đó sẽ nói đến thành tích phản trắc của chính cá nhân ông Diệm.
B-1.- Về
truyền thống gia đình của ông Diệm,
Theo tác giả Giuse Phạm Hữu Tạo, chủ bút
mang lưới dongduongthoibao,net và cũng là tác giả bài viết Quốc Kỳ Việt Nam đăng
trong dongduongthoibao.net,tháng 12/2005, dòng họ Ngô Đình khởi đầu làm Việt
gian bán nước cho cả hai đế quốc Vatican và Pháp từ đời ông Ngô Đình Niệm, tức
là ông nội của ông Ngô Đình Diệm. Dưới đây là nguyên văn lời ông Giuse Phạm Hữu
Tạo viết:
“Chiến
thuyền Pháp bắn phá và tấn chiếm Đà Nẵng vào năm 1858, có số giáo sĩ Tây và giáo
dân Việt gian đón tiếp và xúi tấn công dứt điểm Huế. Trong số giáo sĩ có
Gauthier (tên Việt là Ngô Gia Hậu có linh mục Nguyễn Trường Tộ cởi áo dòng theo
hầu), linh mục Pellerin, linh mục Huc, Caspar (tên Việt là Lộc có giáo dân Ngô
Đình Niệm là cha Ngô đình Khả theo hầu), linh mục Nguyễn Hoàng…..đại quan thuyền
trưởng Pháp đã không thấy vài trăm ngàn giáo dân Việt gian đón tiếp theo như
những linh mục Tây phúc trình.“ [22]
Đến đời thân
phụ của ông Ngô Đình Diệm là Ngô Đình Khả thì lại còn ghê gớm hơn nữa. Đặc tính
ghê gớm này được sách sử ghi lại rõ ràng. Sách Tài Liệu Soi Sáng Sự Thật ghi lại
việc làm ghê gớm của ông Ngô Đình Khả như sau:
“Theo tài
liệu sử, Ngô Đình Khả được Triều Nguyễn thời Pháp thuộc trọng dụng là nhờ công
lao giúp Nguyễn Thân tiêu diệt lực lượng chống Pháp của nhà ái quốc Phan Đình
Phùng và đặc biệt là đã đào mả cụ Phan (đốt thành tro, lấy tro) nhồi vào thuốc
súng để bắn cho tiêu tan hài cốt cụ Phan: quả thật là một tên đại thần, đại
gian đại ác.”[23]
.
B-2.- Về
những việc làm phản trắc của ông Diệm.-
Những việc làm phản trắc của ông
Diệm đối với nhiều người đều được sách sử ghi lại rõ ràng. Dưới đây là một số
những việc làm phản trắc của ông ta:
1.- Phản
lại lời thề trung thành với Quốc Trưởng Bảo Đại và Nam Phương Hoàng Hậu khi được
bổ nhậm làm thủ tướng với toàn quyền quyết định về cả dân sự lẫn quân sự vào
ngày 19/6/1954. Khi về Việt Nam cầm quyền và sau khi đã củng cố xong quyền lực,
ông Diệm cho tổ chức ngày Trưng Cầu Dân Ý vào ngày 23/10/1955 để truất phế ông
Bảo Đại, người mà chính ông ta đã làm tôi hai lần : (a) những năm tháng trước
ngày 12/7/1933 và (b) những năm tháng sau ngày 19/6/1954. Ta gọi
hành động này là phản thần.
2.- "Phản
quốc và hại dân” qua những hành động tra tấn các nhà cách mạng chống Liên
Minh Xâm Lược Pháp - Vatican: Khi được Liên Minh Pháp – Vatican cho làm tri
huyện ở Hoa Đa, ông Diệm đèn cầy sấy hậu môn để lấy khẩu cung hầu tâng công với
quan thày Vatican và Pháp như đã kể trên. Trong thời kỳ nắm quyền cai trị miền
Nam từ tháng 7 năm 1954 cho đến trưa ngày 1/11/1963, ông đã phạm những tội ác
chống lại tổ quốc và nhân dân Việt Nam như đã nói ở trên. Ta gọi hành động này
là phản quốc và người phạm tội phản quốc là Việt gian.
3.- "Phản
trắc" và "tráo trở". Trong năm 1933, ông Diệm có liên hệ đến âm mưu
vận động cựu Toàn Quyền Alexandre Varenne thân Giáo Hội La Mã trở lại Đông Dương
để thay thế Toàn Quyền Pierre Pasquier (có tinh thần bất thân thiện với Giáo Hội
La Mã). Sau đó, ông lại mưu toan liên kết với tín đồ Da-tô Cường Để ở Nhật để
chống lại Pháp trong hồi đầu thập niên năm 1940. Âm mưu bị bại lộ nên bị Pháp sa
thải. Hành động được gọi là phản chủ.
4.- Phản
lại Hoa Kỳ: Hoa Kỳ đã cưu mang, lo lót chạy chọt cho ông về Việt Nam làm thủ
tướng chính quyền chống Cộng ở miền Nam Việt Nam, nhưng rồi ông trở mặt, chỉ
biết đến nghĩa vụ phải triệt để tuân hành lệnh truyền của Tòa Thánh Vatican,
tiến hành chính sách "Da-tô hóa miền Nam Việt Nam" bằng bạo lực. Khi Hoa Kỳ ra
chỉ thị cho ông phải sửa sai và thay đổi chính sách, ông tìm cách bắt tay với
chính quyền miền Bắc để tháu cáy Hoa Kỳ. (Giống như trường hợp 3 và gọi là
phản chủ).
5.- Phản
lại bạn bè: Cac ông Trần Văn lý, Tạ Chương Phùng, Lê Quang Luật, v.v… là
những người đã ủng hộ và hy sinh công lao, thì giờ cũng như tiền bạc để cưu mang
khi ông Diệm còn long đong lận đận. Sau khi lên cầm quyền, ông phản lại những
người này (sẽ được nói rõ hơn ở sau). Hành động này gọi là phản bạn.
6.- Phản lại
tướng Trình Minh Thế. Ông Diệm cho người thuyết phục ông Trình Minh Thế đem lực
lượng Cao Đài võ trang về hàng. Ông Thế đã nghe theo, về hàng và được gắn lon
thiếu tướng. Sau đó, ông lại ám sát ông Thế. Đây là một trong hành động
phản trắc.
7.- Phản lại
Đại Tá Edward G. Lansdale: Đại Tá Edward G. Lansdale là người được Tổng Thống
Eisenhower cử sang Việt Nam làm cố vấn đặc biệt cho ông Diệm ở Sàigòn và đã sang
Việt Nam trước khi ông Diệm về nước cầm quyền. Vai trò và công ơn của Đại Tá
Edward G. Lansdale đối với ông Diệm như một vị sư phụ đối với một đệ tử yêu quý
nhất trong truyền thống võ lâm Trung Hoa. Đại Tá Edward G. Lansdale đã lo cho
ông Diệm đủ mọi thứ, từ miếng ăn, vấn đề an ninh ở trong dinh Độc Lập, lập kế
hoạch đưa cả hơn 600 ngàn người Công Giáo Bắc Kỳ vào miền Nam làm lực lượng hậu
thuẫn cho ông, đến cả việc dạy dỗ ông cách ăn nói và hành xử với nhân viên cấp
dưới, cách phân biệt những người xu thời nịnh bợ và những người mộc mạc chân
thành ủng hộ ông, phải đối đãi tử tế với những người cộng tác chân thành như
Tướng Trình Minh Thế, chỉ bảo cho ông biết cung cách hành xử của một vị tổng
thống ở một nước dân chủ, v v… Khi địa vị chưa vững, ông đã tỏ ra ngoan ngoãn
nghe lời Đại Tá Edward G. Lansdale như một môn sinh ngoan ngoãn nghe lời vị
lương sư chỉ dạy. Những khi có hoàn cảnh, những ác tính tiềm ẩn trong con người
của ông đã biến thành hành động, cho người ám sát Tướng Thế bất kể gì cả lời
khuyên dạy của Đại Tá Edward G. Lansdale . Hành động này gọi là phản thày.
8.- Phản lại
lời cam kết với quốc dân miền Nam Việt Nam và những người chỉ huy cuộc đảo chánh
11/11/1960. Khi dinh Độc Lập bị quân đội Nhẩy Dù dưới quyền chỉ huy của Đại-tá
Nguyễn Chánh Thi bao vây ngẳt nghèo vào sáng sớm ngày 11/11/1969 và gửi tối hậu
thư cho ông phải cải tổ chính quyền, ông tuyên bố với quốc dân rằng ông “quyết
định giải tán chính phủ hiện thời để các tướng lãnh Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa
thành lập chính phủ lâm thời để có thể chiên đấu tiếp tục chống Cộng…”
(Nguyễn Chánh Thi, Việt Nam: Một Trời Tâm Sự (Los Alamitos, CA: Xuân Thu, 1987),
tr. 145. Nhưng chưa đầy 24 giờ sau, khi viện quân của Đại Tá Trần Thiện Khiêm từ
miền Tây kéo về tới Phú Lâm, ông liền trở mặt, xóa bỏ hết những gì ông tuyên bố
ngày hôm trước. Đây là hành động phản dân.
9.- Phản
lại lời cam kết vào ngày 16/6/1963 với Phật Giáo. Việc tiến hành kế hoạch
Ki-tô hoá miền Nam bằng bạo lực đã làm nẩy sinh phong trào Phật Giáo tranh đấu
để đòi bình quyền về tôn giáo. Dưới áp lực của Hoa Kỳ, ông đã cho thành lập một
Ủy Ban Liên Bộ nói chuyện với phái đoàn Liến Phái của Phật Giáo:
“Ngày
16/6/1963: Hai Uỷ Ban Liên Bộ và Liên Phái, sau 3 ngày và đêm thảo luận,
ra một thông cáo chung xác định những điểm đã thỏa hiệp về cách treo cờ Phật
Giáo và Quốc Kỳ; xét lại Dụ số 10 về phần quy chế tôn giáo; điều tra về các vụ
bắt bớ, và khoan hồng cho những người tranh đấu cho Phật giáo; dành mọi sự dễ
dàng cho các hoạt động tôn giáo; trừng trịn những nân viên có lỗi, bồi thường
cho các gia đình nạn nhân.” [24]
Bản thỏa hiệp
vừa ký xong được mấy này, ông trở mặt. Báo chí và đài phát thanh của Sàigon trở
giọng mạt sát Phật giáo, cảnh sát và mật vụ vẫn tiến hành những chiến dịch truy
lùng bắt giam và tra tấn Phật tử, học sinh và sinh viên, các truờng học được
lệnh đóng cử. Bản thỏa hiệp giữa Ủy Ban Liên Bộ và Liên Phái Phật giáo được ký
kết vào ngày 16/6/1963 tại giữa thủ đô Sàigòn bị ông Diệm kiệng vào xọt rác.
Đây là một hành động tráo trở hay phản phé.
10.- Phản
lại lời hứa đã hứa với Đại-sứ Frederick Nolting: Việc chính quyền Ngô Đình
Diệm bách hại Phật Giáo khiến cho Hoa Kỳ lo ngại và bị lên án vì rằng vào năm
1954, chính Hoa Kỳ đã đưa ông Diệm về Việt Nam cầm quyền rồi cưu mang chính
quyền này kể từ đó. Cũng vì vậy mà Đại-sứ Hoa Kỳ ở Sàigòn là ông Frederick
Nolting được lệnh đến gặp Tổng Thống Ngô Đình Diệm phải giải quyết vấn đề Phật
Giáo cho êm đẹp. Lần nào nói chuyện với Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Đại-sứ Nolting
cũng được Tổng Thống Diệm hứa rằng sẽ giải quyết vấn đề Phật Giáo theo tinh thần
hòa giải. Tuy là hứa như vậy, chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn vi phạm những điều
đã cam kết trong bản thỏa hiệp mà Ủy Ban Liên Bộ và Liên Phái Phật Giáo đã ký
kết vào ngày 16/6/1963. Có thể vì tình trạng này, đầu tháng 8/1963, Đại-sứ
Noilting nhận được lệnh bị triệu hồi về Mỹ và chức vụ đại sứ Hoa Kỳ tai Sàigòn
sẽ được ông Cabot Lodge sang thay thế. Trước ngày 15 tháng 8 năm 1963, Đại-sứ
Frederick Nolting đến Dinh Gia Long gặp Tổng Thống Diệm để từ biệt về Mỹ và yêu
cầu ông Diệm hứa với ông rằng chính quyền ông Diệm không được dùng vũ lực tấn
công các chùa chiền của Phật giáo. Tổng Thống Diệm đã long trọng cam kết với ông
Noltting rằng ông sẽ không bao giờ tấn công Phật giáo. Được lời cam kết này của
ông Diệm, ông Nolting yên trí trở về Hoa Kỳ và dự tính rằng sẽ báo cáo với Tổng
Thống Kennedy bằng những lời lẽ bao dung cho anh em ông Diệm. Thế nhưng, trên
đường về nước, mới về đến Hawaii, ông Nolting được tin các chùa chiền ở trong
các thành phố lớn ở Việt Nam bị quân chính phủ tấn công vào đêm ngày 20/8/1963
và ông Nolting đã tỏ ra vô cùng phẫn nộ về hành động phẳn trắc này của ông Diệm.
Sự kiện này được sử gia John Newsman, người Hoa Kỳ, ghi nhận như sau:
“Ngày 19/7,
ông Diệm lên đài phát thanh nói với đồng bào trong hai phút, bày tỏ ý muốn hòa
giải với phe Phật Giáo, nhưng ông nói với vẻ lạnh lùng và nhân nhượng rất nhỏ
nhoi, chỉ vừa đủ làm cho tình hình dịu bớt. Hậu quả, vào tháng 8, cuộc đấu tranh
của Phật Giáo bộc phát trở lại: Khán giả truyền hình Mỹ được nhìn thấy các vụ tự
thiêu vào những ngày 5, 15, và 18 (tháng 8) của 7 nhà sư và một ni cô. Tình hình
gia tăng đến mức căng thẳng từ giữa tháng 8 tưởng chừng như sắp nổ tung, qua đến
sáng ngày 21/8, “Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ bị cô lập hoàn toàn,” và khuya hôm ấy, ông
Diệm tuyên bố tình trạng thiết quân luật trên toàn lãnh thổ và ông Nhu cho Cảnh
Sát Chiến Đấu, một thứ Lực Lượng Đặc Biệt của riêng ông, tiến hành cuộc bố ráp
các chùa và bắt giữ 1,400 Phật tử. Ông Nhu lợi dụng thiết quân luật để bắt bớ
những che đạy bằng lệnh của các tướng vùng.
Hành động
của ông Nhu rõ ràng đã tạo ra bế tắc trong quan hệ Việt Mỹ. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ
lên án các cuộc bố ráp các chùa chiền như sau:
“Dựa trên
những tin tức từ Sàigòn, rõ ràng chính phủ VNCH đã dùng những biện pháp đàn áp
nghiêm trọng các nhà lãnh đạo Phật Giáo Việt Nam. Hành động này tiêu biểu cho sự
vi phạm trắng trợn các bảo đảm của chính phủ Việt Nam đã hứa theo đuổi chính
sách hòa giải với Phật Giáo. Hoa Kỳ muốn phàn nàn về các hành động đàn áp như
vậy.”
Ông Nhu cho
cắt các đường dây điện thoại của Tòa Đại Sứ. Các tướng lãnh giận dữ đến Tòa Đại
Sứ và hỏi xem Hoa Kỳ có chịu ủng hộ đảo chánh hay không?
Lúc bấy giờ
(Frederick) Nolting cùng (Henri Cabot) Lodge và (Roger) Hillsman đang có mặt ở
Honululu, cảm thấy choáng váng vì các biến chuyển ở Sàigòn. Ông liền đánh điện
trách ông Diệm rằng: “Đây là lần đầu tiên Tổng Thống đã tự phản bội với những
lời hứa trước mặt tôi.” Hillsman mô tả giây phút Nolting trố mắt nhìn những
dòng chữ từ từ hiện ra trên máy viễn ấn ký như sau:
“Tôi nghe có
tiếng chửi đổng lúc chúng tôi đọc từng chữ trên máy. Cuộc tấn công được sắp xếp
vào thời gian giữa hai đại sứ cũ và mới thay đổi công việc. Ông Diệm đã cả
gan dám bội ước và không dành một hành động nào để cứu vãn danh dự cho Hoa Kỳ.
Ông ta đã đặt chúng ta trước một chuyện đã rồi mà ông ta biết rõ đã làm tổn
thương đến tinh thần thượng võ và sự công minh của chúng ta, và ông ta đã có
những hành động kiêu căng, ngạo mạn vì cho rằng chúng ta sẽ phải ngậm đắng nuốt
cay như chúng ta đã từng chịu đựng trong quá khứ. Lúc ấy nét đau khổ lộ ra trên
khuôn mặt của Nolting.”
Tuy nhiên,
lần này Hillsman sẽ cố làm sao để không phải nuốt một viên thuốc đắng nào hết.”
[25]
.
Đây là một hành
động phản bạn vì rằng ông Đại Sứ Nolting được coi như là một người bạn
khá thân với ông Diệm và đã che chở rất nhiều cho ông Diệm khi báo cáo về chính
quyền Hoa Kỳ.
Trên đây, người
viết mới liệt kê ra có 10 lần ông Diệm đã có hành động phản trắc. Có thể còn có
rất nhiều lần phản trắc khác nữa mà người viết không biết. Với quá nhiều lần
phản trắc như vậy, ta có thể nói đặc tính phản trắc của ông Diệm là bẩm sinh và
cũng có thể gọi là bản chất. Giang sơn dẽ đổi, bản chất khó chừa. Vì khó chừa,
cho nên ông Diềm mới có nhiều lần phản trắc như vậy.
Không biết cái
bản chất phản trắc này có hiện ra ở chỗ nào trên cơ thể của ông không? Được biết
trong truyện Tam Quốc, cái tướng phản trắc của thằng Ngụy Diên hiện ra thành một
cái bướu (cục u) ở nửa đầu phía sau, trên gáy của nó.
Nói về thành
tích phản trắc của ông Ngô Đình Diệm, sách Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi viết:
“Thái độ bất
trung với nước và bất tín với dân của anh em ông Diệm như thế, chả trách nào ông
Trần Văn Lý, một nhân sĩ Thiên Chúa Giáo miền Trung còn biết rõ xuất xứ, tôn
tộc, sự nghiệp và cuộc đời của nhà Ngô, đã lên án nhà Ngô là những kẻ mang mười
chữ “bất”: Bất hiếu, bất trung, bất nhân, bất nghĩa,
bất tài, bất trí, bất công, bất minh, bất tín
và bất hòa”.
Hơn ai hết,
ông Trần Văn Lý có đủ tư cách để lên án anh em nhà Ngô mang mười chữ “bất”. Ông
Diệm với ông Lý từng là đôi bạn chí thân từ ngày mới vào quan trường, lại là
đồng đạo và đồng hương (Trị Thiên), cùng là môn đệ của Thượng Thư Nguyễn Hữu
Bài. Ông Diệm và ông Lý cùng ở trong Phong Trào Cường Để; năm 1945, ông Diệm đã
cùng sống với ông Lý tại Đà Lạt một tháng sau khi bị Nhật Bản bỏ rơi. Năm
1947-1948, cùng qua Hồng Kông xây dựng “Giải Pháp Bảo Đại”, cùng chủ trương thể
chế “Quân Chủ Lập Hiến”. Thời làm Thủ Hiến, ông Lý đã từng giúp đỡ bạc tiền cho
anh em ông Diệm họat động chính trị. Ngày ông Diệm mới về cầm quyền, ông Lý bị
Ngô Đình Cẩn cho bộ hạ ném lựu đạn vào nhà khi ông còn ở gần nhà ga Huế, đến năm
1960 bị anh em ông Diệm bắt giam vì đã ở trong nhóm “Caravelle”.[26]
“Quân bất hí ngôn.”
Làm vua hay tổng thống hoặc là nhà lãnh đạo chính quyền phải “nhất ngôn cử
đình”, “lời nói như dao chém đá”, không được nói láo, không được nói
chơi, không được hứa cuội và phản phé với bất cứ người nào. Ấy thế mà ông Ngô
Đình Diệm, đường đường là một vị tổng thống của miền Nam Việt Nam lại nói láo
còn hơn cả cuội. Là một tổng thống của một nước có hơn bốn ngàn năm văn hiến mà
bạ đâu ông cũng hứa cuội, cũng nói láo và cũng phản phé. Không những ông chỉ nói
láo, hứa cuội và phản phé với người Việt Nam, mà ông còn hứa cuội, nói láo và
phản phé với cả nhà ngoại giao đại diện cho Hoa Kỳ ở Miền Nam Việt Nam. Hành
động vô liêm sỉ này của ông đã khiến cho ông Đại Sứ Nolting đã phải “chửi
đổng”. Như vậy là ông Tổng Thống Diệm đã làm nhục quốc thể.
Thuộc từ “cuội” và danh
từ “thằng Cuội” dành cho ông thiết tưởng rất đúng nhưng vẫn chưa đủ. Đúng là chỉ
đúng với cái ác tính hứa cuội và nói láo của ông ta mà thôi. Chưa đủ là vì trong
con người ông, còn có không biết bao nhiêu ác tính ghê tởm gấp ngàn lần ác tính
hứa cuội và nói láo. Tất cả những ác tính này đều nằm trong 17 ác tính Da-tô mà
người viết đã trình bày ở trên, trong đó có ác tính phản trắc, bạo ngược và hiếu
sát là ghê tởm nhất. Đối với những tín đồ Da-tô khác, ác tính phản trắc, hiếu
sát và bạo ngược là ác tính Da-tô, nhân tạo, do chính sách ngu dân và giáo dục
nhồi của Giáo Hội La Mã tạo nên. Trái lại, riêng về trường hợp ông Ngô Đình
Diệm, như đã trình bày ở trên, những ác tính này là bẩm sinh. Chính vì vậy mà
ông mang trong người không biết bao nhiêu là thứ “phản”: phản thần, phản quốc,
phản dân, phản thày, phản chủ, phản bạn, phản cấp trên, phản những người thuộc
cấp. Xin tạm gọi là “bát phản”. Ác tính “phản” của ông còn vượt xa cả ác tính
“phản” của nhân vật Ngụy Diên trong sách Tam Quốc Chí. Vậy thì ta phải gọi ông
ta là “Thằng Cuội Ngụy Diên Ngô Đình Diệm”.
Đối với Giáo Hội La Mã
và xã hội Da-tô, thằng Cuội Ngụy Diên Ngô Đình Diệm được coi là mẫu người lý
tưởng và được suy tôn lên là “nhà chí sĩ yêu nước” và “nhà ái quốc”
(của Đế Quốc Vatican). Nhưng đối với xã hội Đông Phương, thằng Cuội Ngụy Diên
Ngô Đình Diệm này đã được ghi vào lịch sử là “một tên thiên cổ tội nhân”
của dân tộc, và các nhà viết sử ở ngoài xã hộ Da-tô đa ghi nhận ông ta là một
trong số một tên bạo chúa ác độc nhất trong lịch sử nhân loại.
CHÚ THÍCH
[1] Trịnh Văn Phát. Cảm Nghĩ Một Chuyến Đi. (Đăng trong Giáo Hoang
Học Viện? PIÔ - Liên Lạc Số 2 - Nhóm Úc Châu thực hiện, tháng 7 năm 1995, tr 72
[2] Bernard F. Fall, The Two Vietnams (New York: Frederick A.
Praeger, 1964), p. 236.
[3] Hoàng Trọng Miên, Đệ Nhất Phu Nhân - Tập I (Los Alamitos,
CA: Nhà Xuất Bản Việt Nam, 1889), tr. 521-522.
[4] Edward G. Lansdale,Tôi Làm Quân Sư Cho Tổng Thống Ngô Đình
Diệm (Hoa Kỳ: Đại Nam in lại ấn bản Sàigon 1971), tr 220.
[5] Huỳnh Văn Cao, Một Kiếp Người (Chantilly: Virginia: Thu
Minh Huỳnh, 1993) trang 52-53.
[6] Chu Văn Trình – Thái Vân - Trần Quang Anh, Việt Nam Với Cuộc
Dấy Loạn Hòa Bình Của Giáo Chủ John Paul II - Tập 1 (Mt. Dora, FL: Ban Tu
Thư Tự Lực, 1994), tr.64-65.
[7] Nigel Cawthorne, Sđd., tr. 167-68.
[9] Nguyễn Mạnh Quang, Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư
1954-1963 (Houston, TX: Văn Hóa, 2000), trg 340.
[10] Lê Hữu Dản, Sự Thật - Đặc San Xuân Đinh Sửu 1997 (Fremont,
Calìornia, 1997), trang 23-24.
[11] Hoàng Ngọc Thành & Thân Thị Nhân Đức, Những Ngày Cuối Cùng
Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm [Hoàng Ngọc Thành & Thân Thị Nhân Đức,
Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm (San Jose, CA: Quang
Vinh & Kim Loan & Quang Hiếu, 1999), trang 405.
[12] Nghiêm Xuân Hồng, Cách Mạng Và Hành Động (Sàgòn: Quan
Điểm, 1964), trang 70.
[13] Đoàn Thêm, Hai Mươi Năm Qua 1945-1964 Việc Từng Ngày (Los
Alamato CA: Xuân Thu in lại ấn bản 1965), trang 351.
[14] Edward G. Lansdale , Sđ d., tr. 55.
[15] Chính Đạo, Nhìn Lại Biến Cố 11/11/1960 (Houston, Texas:
Văn Hóa, 1997), trg 116-117.
[16] Lý Chánh Trung, Những Ngày Buồn Nôn (Sàigòn: Đối
Diện,1972), trang 133-138.
[17] Hoàng Ngọc Thành & Thân Thị Nhân, Sđd.,. 282.
[18] Trần Chung Ngọc. “Tôi đọc Truyện Kiều Và Tuổi Trẻ.”
www.giaodiem.com, tháng 2/2006
[19] Lê Hữu Dản, Tài Liệu Soi Sáng Sự Thật Tập Hai
(Wesminster, CA: Văn Nghệ,1996),, tr. 327.
[20] Nguyễn Văn Tuấn, Chất Độc Màu Da Cam và Cuộc Chiến Việt Nam
(Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2005), tr. 35
[21] Nguyễn Văn Tuấn, Sđd., tr 171.
[22] Phạm Hữu Tạo. “Quốc Kỳ Việt Nam.” dongduongthoibao.net Tháng
12/2005.
[23] Lê Hữu Dản, Tài Liệu Soi Sáng Sự Thật - Tập Hai , tr 18
[24] Đoàn Thêm, Sđd., tr. 351.
[25] John Newsman & Trần Ngọc Dung dịch, John F. Kennedy và Chiến
Tranh Việt Nam (San Jose, CA: Nhà Xuất Bản Thế Giới, 1993), tr. 327-329
[26]
Đỗ Mậu, , Viêt Nam Máu Lửa Quê Huong Tôi (Wesminster, CA: Văn Nghệ,
1993), tr. 591. © sachhiem.net
Xem các chương khác:
VATICAN:CH06- Cấu Kết Với Cường Quyền (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH11- Bản Chất Lươn Lẹo (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH11- Bản Chất Nhận Vơ (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH11- Cưỡng Từ Đoạt Lý (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH11- Diễn Biến Sự Rã Đám của Chính Quyền Miền Nam (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH11- Thói Quen Tiếm Quyền (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH11- Đảo Lộn Lịch Sử (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH18- Lộ Đồ Chinh Phục Thế Giới (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH19- Thiết Lập Các Đạo Quân Thứ 5 (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH20- Đoàn Ngũ Hóa Tín Đồ (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH21- Vận Động Pháp Lần Thứ Nhất (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH22- Lần Thứ Hai Vận Động Pháp Chiếm Việt Nam (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH23- Lần Thứ Ba Vận Động Pháp Chiếm Việt Nam (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH24- Sách Lược Nội Công Ngoại Kích (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH25- Bộ Máy Cai Trị Của Liên Minh (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH26- Đời Sống Dân Ta Trong Thời Pháp-Vatican Đô Hộ (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:Ch27- Tiền Bạc, Châu Báu Bị Vatican Cướp Đoạt(Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH28- Chính Sách Thuế Khóa và Sưu Dịch (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH29- Cướp Chùa, Ruộng Đất, Xây Nhà Thờ (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH30- Hậu Quả Của Chính Sách Thuế Khóa (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH31- Hai Cảnh Đời Trái Ngược (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH63- NGÔ ĐÌNH DIỆM Con Người và Tội Ác (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH63- NGÔ ĐÌNH DIỆM Cuồng Tín (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH7- Bộ Máy Đế Quốc Gia Tô La Mã (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH8- Hủy Diệt Nền Văn Minh Nhân Loại (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH8- Phụ Bản (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH92-1: Vấn Nạn Giáo Hội La Mã (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH92-2: Vấn Nạn Giáo Hội La Mã (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH92-3: Vấn Nạn Giáo Hội La Mã (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:CH92-4: Vấn Nạn Giáo Hội La Mã (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:Chương Dẫn Nhập (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:Chương Dẫn Nhập tt (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:Mục X- Vatican Cướp Đoạt Tài Sản Việt Nam (Nguyễn Mạnh Quang) VATICAN:Sơ Lược Hồ Sơ GHLM (Nguyễn Mạnh Quang)
|