 |
02 Nov, 2007
|
Các bài trong chương 63: 1
2
CHƯƠNG 63
NGÔ ĐÌNH DIỆM:
CON NGƯỜI VÀ TỘI ÁC
Từ cuối thập
niên 1960, nhân vật Da-tô Ngô Đình Diệm đã từng gây ra rất nhiều cuộc tranh
luận, bút chiến sôi nổi, nhiều khi đi đến tình trạng chỉ trích và chống đối nhau
dữ dội giữa một bên là những người vốn đã mang căn bệnh “thà mất nước, chứ
không thà mất Chúa”, lại được uốn nắn sống theo “cái ý niệm về trật tự
trên dưới: Nhất Chúa nhì cha, thứ ba Ngô Tổng Thống”[1],
cho rằng ông ta là “một chí sĩ yêu nước” và “một nhà ái quốc đã chết
vì dân” và một bên là đại khối nhân dân khẳng định rằng ông ta là một tên
tội đồ phản quốc xuất thân từ một gia đình có tới ba đời nối tiếp nhau làm tay
sai cho quân cướp ngoại thù chống lại tổ quốc và dân tộc. Với tình trạng như
vậy, thiết tưởng, nếu muốn viết về nhân vật này, thì phải viết cho rõ ràng, minh
bạch, rạch ròi, phải đưa ra những lập luận vững chắc và phải trưng dẫn đầy đủ
những tài liệu với những bằng cớ bất khả phủ bác để hỗ trợ và làm tăng thêm khẳ
năng thuyết phục. Vì thế mà chương sách này trở nên khá dài và được chia ra làm
nhiều tiểu mục như sau:
1.- Nhập
2.- Sơ luợc
cuộc đời của Ngô Đình Diệm.
3.- Tại Sao lại
gọi Ngô Đình Diệm là “Thằng Tam Đại Việt Gian”
4.- Diện mạo,
cặp mắt và dáng đi của Ngô Đình Diệm
5.- Đặc tính
cuồng tín của Ngô Đình Diệm
6.- Những đặc
tính chung của tín đồ Da-tô
7.- Những lời tuyên bố ngu dốt của Ngô Đình Diệm và những nhận xét của các nhà trí thức và chính khách
8.- Một số
những việc làm tàn ngược và thành tích phản trắc của Ngô Đình Dỉệm
A.- Một số
những việc làm tàn ngược của Ngô Đình Diệm
B.- Thành tích
phản trắc của Ngô Đình Diệm.
I. NHẬP
Tài liệu lịch
sử cũng như những chứng nhân sống đều cho biết rằng ông Da-tô Ngô Đình Diệm xuất
thân từ một gia đình có tới ba đời nối tiếp nhau làm Việt gian bán nước cho
Vatican, cho Pháp, cho Mỹ, và chính bản thân ông ta cũng là một thằng đại Việt
gian. Hơn nữa, sách sử lại còn khẳng định rằng ông ta là “một trong số 100
tên bạo chúa độc ác nhất trong lịch sử nhân loại.”[2]
Ấy thế mà từ
khi cái gọi là “Phong Trào Phục Hưng Tinh Thần Ngô Đình Diệm” được cho ra đời
vào khoảng cuối thập niên 1960, những người “thà mất nước, chứ không thà mất
Chúa” dưới quyền chỉ đạo của bộ máy tuyên truyền của thế lực ĐEN lại tôn
vinh ông Da-tô này bằng những mỹ từ tốt đẹp nhất mà dân tộc ta chỉ dành để vinh
danh những vi anh hùng của đất nước. Rồi hàng năm, cứ vào những ngày cuối tháng
10 Dương Lịch, các cộng đồng Da-tô hè nhau tổ chức lễ giỗ ông ta ở trong các nhà
thờ một cách vô cùng rầm rộ và hết sức trọng thể. Nhiều khi, những lễ giỗ này
cũng được tổ chức ở một điểm công cộng ngoài nhà thờ. Đồng thời, hàng năm, cũng
vào thời gian này, bọn văn nô Da-tô thi nhau trổ tài nặn óc viết những bài viết
với những lời chửi bới đê tiện nhất để hạ nhục tất cả những cá nhân, tổ chức và
thế lực nào đã có những thái độ, ngôn ngữ và hành động chống chính quyền Ngô
Đình Diệm bằng bất cứ hình thức nào, đặc biệt là những người trực tiếp tham dự
cuộc binh biến 11/11/1960 và cuộc Cách Mạng 1/11/1963. Song song với những bài
viết chửi bới hạ cấp này, họ còn thi nhau trổ tài moi óc sáng tác ra những bản
cung văn bốc thơm ông ta lên đến tận mây xanh, và khoác cho ông ta cái danh hiệu
“chí sĩ yêu nước” và “nhà ái quốc đã bỏ mình vì nước”.

Thậm chí,
họ còn sử dụng cả thủ đoạn lộn xòng bằng cách biên soạn một cuốn sách với tựa đề
là Anh Hùng Nước Tôi (San Jose, CA: Việt Tân Xuất Bản, 1986), trong đó, họ kể ra
cả gần 100 vị anh hùng dân tộc thực sự trong lịch sử nước ta từ thời Bà Trưng
tới thời Kháng Chiến Chống Pháp, rồi họ cho nhét cái tên Ngô Đình Diệm vào chỗ
gần áp chót. Hành động bất chính này giống y như dân buôn lậu khi đi qua cửa
thuế quan phải kẹp đồ hàng của họ một chỗ kín để khỏi bị lộ. Cũng vì thế mà
cuốn sách này đã trở thành một cuốn gian thư, tiêu biểu cho một loại sản phẩm
của nền văn hóa Da-tô.
Họ làm như vậy
với hy vọng có thể làm cho người đời và hậu thế lầm tường rằng ông ta là một nhà
ái quốc thực sự. Đúng là một trò hề đại bịp. Chúng ta chia những người làm cái
trò hề đại bịp này ra làm ba hạng người:
1- Thứ nhất là đại
đa số những người đồng đạo với ông Ngô Đình Diệm. Hầu hết những người này mang
căn bệnh cuồng tín đã bị điều kiện hóa thành những người chỉ biết tin theo những
lời dạy của Vatican và của các đấng bề trên của họ. Các đấng bề trên của họ dạy
họ rằng, Ngô Đình Diệm là “chí sĩ yêu nước”, “một nhà ái quốc đã chết
vì nước.” Bằng chứng hùng hồn cho sự kiện này đã được nhà văn Da-tô Nguyễn
Ngọc Ngạn ghi lại nơi trang 18 trong cuốn Xóm Đạo lvới nguyên văn như sau:
“Mấy ngàn
gíao dân ở đây, không ai bảo ai, nhưng trong lòng mỗi người đều ngầm mang một
cái ý niệm về trật tự trên dưới: Nhất Chúa, nhì Cha, thứ ba Ngô Tổng Thống.”
[3]
Vì vậy, họ
thành thực tin rằng ông Ngô Đình Diệm là “chí sĩ yêu nước”, “một nhà ái
quốc đã chết vì nước.”
2- Thứ hai là bọn
người cơ hội chủ nghĩa ở hải ngoại. Bọn người này có thể cũng đã biết rõ ông
Diệm thực sự là một thằng tam đại Việt gian và cũng biết rõ ông ta đã bị sách sử
ghi nhận là một trong 100 tên bạo chúa ác độc nhất trong lịch sử nhân loại.
Nhưng vốn mang cái bản chất chỉ biết hùa theo kẻ mạnh để kiếm chác chút danh hão
hay để dễ làm ăn vì rằng nếu chống lại thì sẽ bị thế lực ĐEN triệt đường sinh kế
như họ đã từng làm và đang làm đối với tờ tuần báo VietWeekly ở Wesminster,
California từ tháng 7.2007 cho đến ngày nay (29/10/2007). .
3- Thứ ba là bọn
người chủ mưu nằm trong bộ máy tuyên truyền của thế lực ĐEN trong đó có bọn văn
nô Da-tô. Ngoài đám người này ra, còn có nhóm thiểu số đã từng được hưởng ân huệ
của chính quyền miền Nam.
Dĩ nhiên là hầu
hết những người trong bọn người thứ ba này biểt rõ ông Da-tô Ngô Đình Diệm thực
sự là thằng tam đại Việt gian, và biết rõ sách sử đã khẳng định ông ta là một
trong số 100 thằng báo chúa độc ác nhất trong lịch sử nhân loại. Nhưng họ bất
chấp, tiếp tục nhắm mắt làm trò hề đại bịp này và họ thành thực tin rằng nếu cứ
tiếp thục làm như vậy và làm theo kế sách “Tăng Sâm giết người” và “cả
vú lấp miệng em”. Cuối cùng họ sẽ thành công trong việc làm cho người
đời và hậu thế không biết gì về tội ác phản quốc, làm Việt gian bán nước của ông
ta, và người ta sẽ lầm tưởng rằng ông ta thực sự là “một nhà ái quốc đã chết vì
nước”.
Sở dĩ họ quyết
tâm làm như vậy và tin tưởng rằng họ sẽ thành công là vì họ thấy rằng Giáo Hội
La Mã đã thành công trong việc trình diễn vở tuồng Đức Mẹ Đồng Trinh.
Vở tuồng hay
trò hề đại bịp Đức Mẹ Đồng Trinh như thế nao? Chúng ta hãy tìm hiểu xem nó ra
sao để suy diễn ra cái trò hề đại bịp “nhà ái quốc Ngô Đình Diệm đã chết vì
dân”.
Những người
thấu hiểu lịch sử đều biết rằng Bà Maria, vốn là một “cô gái ngoan” có chửa
(bầu) sinh ra ông Jesus từ khi mới 16 tuổi. Chuyện này được ông Charlie Nguyễn
viết rõ ràng nơi trang 253 trong cuốn Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm với nguyên văn
như sau:
“Theo sách
Talmud, một cổ thư của các tu sĩ Do Thái Giáo, thì Jesus là đứa con hoang. Vào
năm bà Maria lên 16 tuổi, trong dịp đến nhà ông cậu là Gioakim để săn sóc bà vợ
của ông ta là I-sa-ve (Elizabeth) lúc đó đang mang bầu Gioan – Baotixita được 6
tháng, thì bà Maria bị một người lính La Mã tên là Panthera hiếp dâm. Tên này
gốc người Sidon (tức Li Băng ngày nay) đi lính lê dương cho đế quốc La Mã và
được giữ chức vụ xạ thủ. Y chết tại Đức, lúc đó cũng là thuộc địa của La Mã,vào
năm 62 tuổi và được chôn tại Bingerbruck. Hiện nay người ta đã tìm thấy bia mộ
của tên lính này, trên đó có khắc hình một người lính La Mã với tên là Panthera.
Tấm bia mộ này hiện được lưu trữ tại Bảo Tàng Viện Bad Kreuzenach, Đức quốc.
Trường đại học của Dòng Tên tại Trung Tây Hoa Kỳ hiện dùng các tài liệu này để
giảng dạy “giáo lý mới” về gia phả của Jesus.”[4]
Sau đó, Bà
Maria lập gia đình với ông Joseph sinh ra một đàn con gồm 4 trai và ít nhất là
2 gái nữa. Sự thật là như vậy và sách sử cũng ghi rõ ràng là như vậy. Sách
Encyclopedia Britannica, Vol. 10 viết:
“Bốn người
anh em và nhiều chị em gái của ông Jesus đều được nói đến ở trong kinh sách của
ông Mark 6. (Không có căn bản nào trong bản văn này nói rằng những người anh
chị em này là những người cùng cha khác mẹ hay là anh em con chú con bác đối với
ông Jesus, và làm như vậy là phản lại động cơ giáo điều chủ nghĩa.) Tất cả các
danh tính bà con của ông Jesus chứng tỏ rõ ràng cái tính chất thuần túy Do Thái
của gia đình ông ta. Tên mẹ của ông Jesus là Mary (Miriam) , tên bố ông ta là
Joseph, và tên các người em của ông ta là James (Jacob), Joseph, Judas và Simon (tên của
những của những ông già đáng kính trong Cựu Ước) ”. Nguyên văn:
"Four of Jesus' brothers and several sisters are mentioned in Mark 6.
(There is no basis in the text for making them into half brothers and half
sisters or cousins, and to do so betrays a dogmatic motive.) All his relatives'
names testify the purely Jewish character of the family: his mother's name was
Mary (miriam), his father's, Joseph, and his brothers', James (Jacob), Joseph,
Judas, and Simon (names of Old Testament patriarchs)"[5]
Ây thế mà với
chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ bằng những kế sách “Tăng Sâm giết người”
và “cả vú lấp miệng em”, Giáo Hội La Mã đã làm cho tín đồ Da-tô tin rằng Bà già
xề Maria này là “Đức Mẹ Đồng Trinh” của họ. Điểm đặc biệt là họ lại tin cái trò
hề đại bịp này một cách thành thật và kính cẩn.
Nếu có người
nào đặt ra vấn đề về cái trò hề đại bịp này với họ, thì họ sẽ ứng xử tùy theo
hoàn cảnh:
1.- Nếu có
chính quyền ở trong tay họ, họ sẽ ban hành luật cấm báng bổ thần thánh để bịt
miệng người đời như họ đã làm ở Pháp trong thời Vua Louis XVIII (1815-1824) và
Charles X (1824-1830):
“Họ dám ban
hành một đạo luật trừng phạt những người bị kết tội là phạm thượng hay xúc phạm
thần thánh với những hình phạt hết sức tàn ác dành cho những người nào bị coi là
làm rối loạn hay phá vỡ các cuộc lễ lạc tôn giáo hay báng bổ thần thánh, dù đạo
luật này khó có thể thi hành được.” Nguyên văn: “They dared to
promulgate a law against "sacrilege" that fixed harsh penalties for anyone who
disrupted religious ceremonies or profaned "sacred vessels." although it proved
impossible to enforce.”[6]
2.- Nếu không
có hoàn cảnh để sử dụng bạo lực, họ đã có sẵn một câu trả lời lấp liếm cho qua mà
Giáo Hội đã mớm trước cho họ rằng “Niềm tin tôn giáo không thể dùng lý trí
hay khoa học để giải thích được.”
Thủ đoạn
gian manh và lươn lẹo của Giáo Hội La Mã và bọn văn nô Da-tô là như thế đó!
Đối với những
người thấu hiểu lịch sử thế giới và lịch sử Giáo Hội La Mã, họ đều biết rằng
chuyện biến chế bà già xề Maria thành Đức Mẹ Đồng Trinh là công trình của bộ máy
tuyền truyền của Giáo Hội La Mã. Công trình này được thực hiện bằng những thủ
đoạn gian dối hết sức trơ tráo nhưng cũng vô cùng tinh vi và siêu việt, luôn
luôn được thi hành theo sách lược “Tăng Sâm giết người” (nhắc đi nhắc loại hoài
hoài giống như tín đồ Da-tô lập đi lập lại những lời kinh cầu ở trong các nhà
thờ của họ) và “cả vú lấp miền em” (bằng những chiến dịch ồ ạt càng nhiều càng
tốt để lấn át những nguồn tin hay tài liệu có nội dung chống lại).
Trường hợp
“thằng tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm” cũng được bộ máy tuyên truyền của thế
lực ĐEN đang theo đuổi và tiến hành tương tự như cái trò hề đại bịp biến bà già
xề Maria có bảy (ít nhất) người con thành Đức Mẹ Đồng Trinh như đã nói ở trên.
Thế nhưng, nếu
trong chuyện Đức Mẹ Đồng Trinh đã có các nhà trí thức dám đứng ra chống đối và
đưa ra những bằng cớ để chứng minh rằng chuyên này chỉ là một trò hề NÓI LÁO VĨ
ĐẠI, thì cái mưu đồ biến thằng tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm thành một nhà ái
quốc cũng có những nhà trí thức dám cương quyết nói lên những sự thật chẳng tốt
đẹp gì về ông Diệm và về cái âm mưu đê hèn của những kẻ chủ mưu diễn cái trò hề
đại bịp này. Một trong những nhà trí thức đó là Giáo-sư Lý Chánh Trung và dưới
đây là nguyên văn những điều vị giáo sư này nói cho chúng ta biết:
“Nhìn lại
chín năm cầm quyền, tôi thành thực nghĩ rằng, ông (Diệm) chỉ là một huyền thoại
lớn do người Mỹ và một số tay chân bộ hạ tạo ra để lợi dụng. Người Mỹ lợi dụng
ông để thực hiện mưu đồ của họ, một số tay chân bộ hạ đã lợi dụng ông để bòn rút
những nguồn lợi béo bở của đất nước này và của viện trợ Mỹ.
Cái lỗi căn
bản của ông là chính ông đã tin nơi cái huyền thoại “cứu tinh dân tộc, lãnh tụ
anh minh” đó. Ông đã tin nơi sứ mạng cứu nước của mình đến nỗi không còn chấp
nhận được bất cứ tiếng nói nào khác tiếng nói của ông, ngay cả những tiếng nói
thật ôn hòa và “xây dựng” như bức thơ trần tình của nhóm nhân sĩ Caravelle.
Cái lỗi căn
bản của ông là đã xem người Mỹ cũng như tay chân bộ hạ của ông là những phương
tiện để hoàn thành sứ mạng cứu nước trong khi chính ông mới là phương tiện của
người Mỹ và một số tay chân bộ hạ.
Và sứ mạng
cứu nước đã được ông đồng hóa sứ mạng chống Cộng, vì đối với ông, Cộng Sản là sư
xấu tuyệt đối phải tiêu diệt bằng mọi giá, kể cả cái giá lệ thuộc người Mỹ. Đó
là một lỗi căn bản khác và tất cả sự mâu thuẫn của chính sách chống Cộng nằm ở
chỗ này.
Tôi được
biết ông đã suy nghĩ và do dự rất lâu khi chính chánh phủ Kennedy đề nghị gửi
sang đây 14 ngàn quân để thí nghiệm cuộc “chiến tranh đặc biệt”, vì ông thấy rõ
nguy cơ mất chủ quyền. Nhưng cuối cùng ông đã nhận vì sự chống cộng đã được ông
xem như một cứu cánh tuyệt đối mà đó là cái giá phải trả để chống cộng, một cái
giá thật đăt đối với ông vì tôi tin ông yêu nước, dầu yêu nước theo cách
của ông.
Ông đã tưởng
mình có thể lệ thuộc Mỹ một phần nào thôi, còn phần kia thì vẫn “độc lập”, ông
đã tưởng mình có thể nhẩy vào vòng tay người Mỹ trong một giai đoạn ngặt nghèo
rồi thoát khỏi vòng tay đó khi tình hình sáng sủa hơn, ông đã tưởng có thể chấp
nhận làm con cờ trong một ván cờ rồi ngay trong ván cờ đó, có thể tự động đi một
nước cờ riêng của ông.
Khi ông nhìn
thấy đó chỉ là ảo tưởng thì đã quá trễ: Ông đã chết vì ảo tưởng đó. Và cái chết
bi thảm của ông cho thấy một sự thật hết sức tầm thường: Không một con cờ nào có
thể tự động đi một nước cờ cho riêng nó, dầu con cờ đó mang tên Ngô Đình Diệm,
và không một nước nhỏ nào có thể lợi dụng một nước lớn, nhất là nước đó mang
tên Hoa Kỳ.
Bẩy năm đã
qua và ngày nay, dư luận quần chúng có vẻ khoan hồng hơn đối với ông Diệm và chế
độ cũ của ông, ngay cả những nơi nạn nhân của chế độ ấy. Lý do giản dị: với
thời gian, kỷ niệm đã mờ nhạt, hận thù được xoa dịu, những ẩn ức dồn nén được
giải tỏa. Trong khi đó, cái thực trạng của xã hội miền Nam mỗi ngày thêm xấu xa
tệ hại, khiến cho người ta có khuynh hướng chỉ nhớ tới những nét tương đối dễ
coi của chế độ Ngô Đình Diệm, mỗi khi so sánh thời này với thời trước.
Nhưng từ đó
mà cho rằng chế độ ông Diệm là một thời đại hoàng kim và chỉ cần bắt chước ông
Diệm là có thể giải quyết những vấn đề đất nước, như một số chân tay bộ hạ của
ông đang tuyên bố rùm beng thì thật là lố bịch và vô liêm sỉ.
Những người
đang hò hét khóc lóc chung quanh cái tên Ngô Đình Diệm như bầy quạ trên một xác
chết. Với cái âm mưu tái lập một chế độ Diệm không Diệm trong đó họ sẽ phè phỡn
bòn rút như xưa, xin họ nhớ cho rằng giòng lịch sử không bao giờ chẩy ngược
chiều.
Và nếu họ
không còn một chút tự trọng, xin họ dầu sao cũng thương dùm ông Diệm, Tội nghiệp
ông! Tôi ứa nước mắt mà viết câu này, xin họ hiểu cho.”[7]
II.- SƠ LƯỢC CUỘC ĐỜI CỦA NGÔ ĐÌNH DIỆM
Theo sử gia Vũ
Ngự Chiêu, ông Ngô Đình Diệm “sinh ngày 21/7/1897, tại Đại Phong Lộc, Quảng
Bình. Tuy nhên, từ năm 1954, ngày sinh chính thức đổi thành ngày 3/1/1954.”[8]
Song thân của
Ngô Đình Diệm là Ngô Đình Khả và Phạm Thị Thân. Ngô Đình Khả có 6 người con
trai là Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình
Luyện và Ngô Đình Cẩn. Hai người con gái là bà Ngô Thị Hoàng và Ngô Thị Hiệp
(?).

Như đã trình
bày ở trong chương sách nói về Nhóm Thiểu Số Tín Đồ Da-tô (Mục XII, Phần IV)
trước đây, hầu hết tín Da-tô người Việt đều hoặc là những hạng người tham lợi
“đị đạo lấy gạo để ăn”, hoặc là háo danh và thèm khát quyền lực “theo đạo để tạo
danh đời”, hoặc là bị chèn ép hay cưỡng bách phải theo đạo vì hôn nhân, không
muốn mất người yêu hay hạnh phúc gia đình bị tan vỡ, hoặc là những trẻ mồ côi
trong đó có những đưa con rơi của các ông giám mục và linh-mục. Chuyện con rơi
của các hồng y, giám mục và linh mục được sách Vicars of Christ ghi lại với
nguyên văn như sau:
“Một bản
thống kê cho biết: một xứ có 900 ngàn dân mà có tới 3 ngàn tu sĩ; và cứ 2
trong 5 (40%) đứa con hoang là con của các ông tu sĩ." ("One amazing
statistic emerges: in a country of 900,000 people, there were 3,000 clergy; and
yet two out of five bastards were born to the clergy.")
[9]
Đoạn văn trên
đây cho chúng ta biết "cứ 2 trong 5 (40%) đứa con hoang là con của các
ông tu sĩ." Không biết tại sao sử gia Peter de Rosa lại gọi những đứa trẻ này là
"con hoang" (bastards). Thiết nghĩ rằng phải nên gọi chúng nó là "những đứa
con của các ngài mang chức thánh" hay là "những ông thánh con" của
Giáo Hội La Mã. Nói theo ngôn từ của Bà Hồ Xuân Hương, thì "ông thánh con"
này chính là những đàn cá "thồng rồng" của các ngài "mang chức thánh"
mang đến thả vào "những cái giếng thánh tân" của nữ tín đồ Da-tô.
Trở lại chuyện
những người tân tòng mà Vatican gọi là “những nguời mới trở lại đạo”, như đã nói
ở trên, họ theo đạo chỉ vì danh vì lợi, hay vì bị cưỡng ép, chứ thực sự, chẳng
có ai muốn theo cái “đạo bạo lực” mà văn hào Voltaire gọi là “cái tôn giáo ác
ôn” này làm chi! Giáo Hội La Mã và các ông truyền giáo Da-tô cũng biết như vậy,
nhưng họ bất cần. Họ bất cần vì họ tin rằng nếu đã theo đạo rồi, dù là bị dụ khị
bởi những miếng mồi vật chất, danh lợi, hay bị cưỡng ép vì hôn nhân, hay ở vào
bất kỳ trường hợp nào, thì sớm hay muộn, những người này cũng được nhào nặn
thành những tín đồ Da-tô cuồng tín bằng chính sách ngu dân và giáo nhồi sọ với
nhiều phương pháp khác nhau được thi hành song hành với nhau. Vấn đề này sẽ được
trình bày đầy đủ trong Mục XXII với tựa đề là Thi Hành Chính Sách Ngu Dân và
Giáo Dục (của Giáo Hội La Mã) ở sau. Một trong những phương pháp nhồi sọ này
được nhà văn Da-tô Nguyễn Ngọc Ngạn ghi lại với nguyên văn như sau:
“Toàn
trại này, dường như ai cũng sùng đạo như nhau, và sự sùng đạo ấy được thể hiện
qua việc cầu nguyện và đi lễ. Buổi sáng, năm giờ chuông đổ lần thứ nhất, họ đã
lục tục đánh thức cả nhà cùng dậy. Việc đầu tiên khi chưa bước chân xuống đất,
là phải làm dấu thánh giá và đọc vài kinh nhật tụng. Sau đó, đánh răng rửa mặt,
thay quần áo đi lễ. Trên đường đến nhà thờ, họ không bỏ phí thì giờ, lấy tràng
hạt ra vừa lần chuỗi vừa cầu xin. Vào nhà thờ đọc kinh chung cả tiếng đồng hồ
rồi mời tham dự thánh lễ mà dường như vẫn chưa thấy đủ, họ còn quì nán lại đọc
kinh thêm cho đến lúc tới giờ đi làm. Buổi trưa, đúng giờ ngọ, chuông nhà thờ
lại cất lên, nhắc họ dù đang làm gì, dù đang ở đâu, cũng phải tạm ngưng tay để
làm dấu thánh giá và cầu nguyện. Tối về, cơm nước xong lại vội vã đến nhà thờ.
Và khoảng 9 giờ tối, trước khi đi ngủ, mọi gia đình đều tụ tập trước bàn thờ để
đọc thêm một loạt kinh nữa trước khi lên giường! Nói chung, một ngày không biết
bao nhiêu lần nhớ đến Chúa. Ăn củ khoai cũng làm dấu thánh giá. Nửa đêm mất ngủ
cũng ngồi lên lần tràng hạt! Vui cũng cám ơn Chúa, mà buồn cũng coi là thánh giá
Chúa trao cho mình gánh vác! Niềm tin mãnh liệt như thế, cho nên chẳng lạ gì….”[10]
“Từ thuở
chưa có trí khôn, cũng giống như bao nhiêu người Công Giáo khác, anh (Thông) đã
được nuôi dưỡng trong bầu không khí thượng tôn tín ngưỡng, bằng những giáo điều
bất di bất dịch, theo thời gian ngấm dần vào trí óc anh, khiến anh làm cái gì
cũng sợ tội, sợ Chúa trừng phạt.”
[11] .
Ông Ngô Đình
Khả và đàn con đàn cháu của ông ta cũng được nhồi sọ theo cái phướng trên đây
của Giáo Hội La Mã.
Tới đây xin nói về thêm về ông Ngô Đình Khả, thân phụ của ông Ngô Đình Diệm.
Ông Ngô Đình
Khả sinh năm 1856 và là một tín đồ Da-tô đao gốc (có bố là Ngô Đình Niệm đã theo
đạo). Năm 1870, ông được Giáo Hội La Mã gửi đi học làm nghề linh mục tại một
chủng viện ở Pénang. Thời gian theo học ở đây là tám năm. Tám năm đèn sách để
làm nghề linh mục, nhưng không biết tại sao ông lại không thành công hay không
muốn làm cái nghề khoác áo chùng đen để làm cha thiên hạ. Năm 1778, ông được
cho về nước và sau đó ông được một linh mục người Pháp đưa vào làm thông ngôn ở
Huế. Vì hết lòng tận tụy với quan thày và được quan thày tin tưởng, tháng 6 năm
1995, ông được cho làm phó tướng cùng vơi ông Nguyễn Thân đem lính Việt Nam mà
hầu hết là lính đạo (quân thập tự Việt Nam) đi đánh phá và tiêu diệt lực lượng
nghĩa quân Văn Thân dưới quyền lãnh đạo của cụ Phan Đình Phùng ở Vụ Quang và
Ngàn Trươi. Nghĩa quân Văn Thân vừa am hiểu địa hình địa thế, vừa quyết tâm
chiến đấu, cho nên quân thập tự Việt Nam dưới quyền của Nguyễn Văn Thân và Ngô
Đình Khả bị tổn thất nặng, và không tiến được vào căn cứ của nghĩa quân. Mấy
tháng sau, cụ Phan Đình Phụng qua đời vì bệnh kiết lỵ. Sau cái chết của cụ
Phan, nghĩa quân Văn thân như rắn mất đầu. Do đó, Nguyễn Thân và Ngô Đình Khả
mới mạnh bạo xua quân tiến vào đánh tan lực lượng nghĩa quân, cho người đào mả
cụ Phan Đình Phùng lấy xác đốt thành tro, lấy tro trộn vào thuốc súng rồi bắn
xuống sông Lam Giang để trả thù cho những thất bại trước đó. Nhờ chiến công và
hành động dã man này, Liên Minh Pháp – Vatican cho ông lên làm đến chức “Thái
Thượng Tự Khanh” tương đương với hàng “chánh tam phẩm”. Năm 1905, ông
lại được Liên Minh giặc Pháp - Vatican cho nắm giữ chức Surintendent de Palais
(Tổng Quản Cấm Thành) và giao cho ông nhiệm vụ theo dõi Vua Thành Thái. Sự kiện
này được ông Lữ Giang ghi lại trong cuốn Những Bí Ẩn Lịch Sử Đàng Sau Cuộc
Chiến Việt Nam Quyển I với nguyên văn như sau:
“Lúc đó,
Pháp đã nắm hết quyền hành nên Thành Thái chỉ lo ăn học và giải trí. Cụ Ngô Đình
Khả được cử làm Phụ Đạo và Cố Vấn cho vua Thành Thái. Năm 1904, cụ được cử làm
Tổng Quản Cấm Thành, trông coi tử Cấm Thành…
"Khi đưa cụ
Ngô Đình Khả vào làm Phụ Đạo cho vua Thành Thái, người Pháp muốn cụ theo dõi các
hoạt động của vua và báo cáo cho Pháp biết những ý định phản nghịch của vua để
có biện pháp kịp thời.”[12]
Nhờ địa vị quan
tước của thân phụ, ông Diệm được phong “tập ấm” và được cho vào học tại trường
đạo Pellerin ở Huế, rồi lại được đặc cách đưa vào học trường Hậu Bổ cũng
ở Huế. Năm 1922, ngay khi vừa hoàn tất chương trình học tại trường Hậu Bổ, ông
Diệm được bổ nhậm làm tri huyện. Nhiệm sở đầu tiên là huyện Hải Lăng (Quảng
Trị).
Kẻ từ đó và
cũng từ ở đây, .ông đem hết tài năng, trí óc, tìm mưu tính kế, làm đủ mọi cách
tâng công và chạy chọt với quan thày để leo lên nấc thang quyền lực. Kết quả là
mấy năm sau ông được thăng lên chức tri phủ phủ Hoa Đa (Bình Thuận), ít lâu sau
lại được thăng lên chức Tuần Vũ tỉnh Bình Thuận. Trong thời gian này, để tâng
công với quan thày, ông Diệm đã làm những việc vô cùng dã man với những quái
chiêu cực kỳ độc ác trong những hành động hành hạ nhân dân trong vùng ông trị
nhậm và tra tấn các nhà cách mạng chẳng may lọt vào tay ông. Sự kiện này được cụ
An Khê Nguyễn Bính Thinh ghi lại như sau:
“Có người
cỏn hiểu khi trước, ông Diệm học lực chưa đủ sức thi vào ngạch quan lại, nhờ vai
ấm sinh của cha truyền mà khỏi phải thi, từ một chức tiểu lại đến 7 năm sau trở
thành một vị đường quan. Vì ông khéo luồn lõi, lập công với thực dân Pháp, mau
thăng chức hơn các bạn đồng liêu. Khi ông làm tri phủ Hòa Đa đã nổi tiếng
là tay sai đắc lực của Pháp, lùng bắt và tra tấn các nhà cách mạng rất dã man
bằng cách xông lửa nến (đèn cày) dưới ghế ngồi. Ông cho trói chặt người bị lấy
khẩu cung vào ghế ngồi, mặt ghế có khoét lỗ ở ngay hậu môn chỗ ngồi, bên dưới
đốt ngọn đèn cầy cho lửa xông lên, dần ruột gan, tim phổi người nọ (nạn nhân) bị
sấy lửa, khô dần đi, không chịu nổi, dù có khai để chấm dứt cực hình nhưng hậu
quả về sau không lường được. Lối tra tấn dã man này, ngay với các bót giam của
Pháp, như bót Catinat, cũng chưa dám dùng.”[13]
Đoạn văn sử
trên đây cho chúng thấy những tên Việt gian làm quan trong thời bảo hộ
1885-1945 ác độc và tàn ngược hơn cả chính những thằng Tây đối xử với dân ta.
Do những hành
động tàn ác và dã man trên đây, quan thày người Pháp rất thương yêu ông. Nhờ vậy
mà năm 1933, ông được đưa về triều đình bù nhìn Huế giữ chức Thượng Thư Bộ Lại.
Chức vụ này được coi như cao trọng nhất trong triều đình bù nhìn Huế lúc bấy
giờ. Nhưng cũng chính cái địa vi cao trọng này đã làm cho ông bắt đầu lao đao kể
từ đây. Nguyên nhân như sau:
Vì cùng có tham
vọng đánh chiếm và thống trị Việt Nam để cùng cướp đoạt tài nguyên và cùng
cưỡng bách nhân dân ta làm nô lệ cho chúng, hai thế lực vatican và thực dân Pháp
mới liên kết với nhau thành Liên Minh Pháp – Vatican. Như vậy là hai thế lực
Pháp và Vatican liên kết với nhau vì quyền lợi bất chính. Lịch sử cũng đã chứng
minh rằng những kẻ vì quyền lợi bất chính mà tụ lại với nhau, thì sớm muộn lại
cũng lại vì quyền lợi bất chính đó mà trở thành tương tranh thanh toán lẫn nhau
để độc chiếm quyền lực và quyền lợi. Đây là một quy luật lích sử. Cái Liên Minh
Pháp – Vatican đánh chiếm và thống trị Đông Dương trong những năm 1858-1954 cũng
không thoát khỏi quy luật lịch sử này.
Một yêu tố khác
cũng không kém phần quan trọng làm cho hai thế lực này luôn luôn ở vào tình
trạng lủng củng. Nguyên do vì nhân dân Pháp đã từng là nạn nhân của Giáo Hội La
Mã cả hơn một ngàn năm và đã phải giẫy dụa cả một thời gian dài từ cuối thế kỷ 8
[thời vua Charlemagne (768-814)] cho đến khi Cách Mạng bùng nổ vào năm 1789 mới
có thể vùng lên đối đầu với Giáo Hội bằng những biện pháp mạnh để đòi lại quyền
làm người. (Vấn đề này sẽ được trình bày đầy đủ ở Phần VII). Trước khi Cách Mạng
1789 bùng nổ, các bậc trí giả Âu Châu đã thường luôn luôn viết sách, viết báo
lên án Giáo Hội bằng những lời lẽ vô cùng gay gắt. Trong số những bậc trí giả
đưa ra quan điểm tôn giáo và chính trị chống lại Giáo Hội, có rất nhiều danh
nhân như John Wycliffe (1320-1384), John Huss (1372-1415), Giordano Bruno
(1548-1600), John Locke (1632-1704), Montesqiueu (1689-1775), Denis Diderot
(1713-1784), Jean Jacques Rousseau (1712-1778), Voltaire (1694-1778). Sau thời
Cách Mạng 1789, cũng vẫn còn có nhiều học giả Âu Mỹ tiếp tục viết sách, viết
báo, diễn thuyết trình bày những quan điểm chính trị chống lại Giáo Hội hết sức
mãnh liệt. Trong số những người này, có những nhân vật nổi tiếng như Lamartine
(1790-1869), Victor Hugo (1802-1885), Léon Gambetta, Jules Ferry, Thomas Paine
(1737-1809), Thomas Jefferson (1743-1826), v.v…
Theo chân các
nhà trí thức trên đây, các nhà trí thức sau này miệt mài nghiên cứu cả hai bộ
Cựu và Tân Ước Kinh, tìm đọc lịch sử của Giáo Hội, tìm hiểu về những việc làm tộI
ác của Tòa Thánh Vatican và dời sống bê bối thối tha của các giáo hoàng
và các tu sĩ Da-tô rồi biên soạn thành những tác phầm lừng danh như The Decline and Fall of The
Roman Church, the Jesuits, Rich Church, Poor của giáo sĩ Malachi Martin,
Vietnam Why did we Go? và The Vatican's Holocaust của giáo sĩ Avro Manhattan,
The Thick Darkness of Romanism của Tiến-sĩ Barnado, In Vatican: The Politics and
Organization of the Roman Catholic Church của Thomas J. Reese, The Vatican's
Last Crime của Joseph McCabe, Roman Catholicism của Loraine Boettner, The Vicar
Of Christ của Peter de Rosa, The Dark Side of Christian History của Hellen
Ellerbe, The Babylon Mystery Religion của Ralph Woodrow, Deceptions and Myths
of The Bible của Lloyd M. Graham, The Book Your Church Doesn’t Want You To Read
của Tim C. Leedom. Đặc biệt nhất là Thomas Paine viết cuốn The Age of Reason
trong đó ông đem Cựu Ước và Tân Ước Kinh ra phân tách rất là công phu, rồi đưa
ra những luận cứ bất khả phản bác về tính cách hoang đường của hai bộ thánh kinh
này. Sau đó, lại có triết gia Bertrand Russell viết cuốn Why I Am Not A
Christian cũng không ngoài mục đích nói cho người đời biết rõ về những sai lầm
căn bản của lý thuyết thần học Thiên Chúa Giáo.
Những tác phẩm
này đã ảnh hưởng rất lớn đến tư duy và hành động của nhân dân Âu Châu và nhân
dân thế giới, khiến cho tinh thần chống Giáo Hội càng ngày càng trở nên mãnh
liệt, rồi bùng nổ thành các phong trào chống lại Giáo Hội. Phong trào cách mạng
chống Giáo Hội mãnh liệt nhất bùng nổ ở Đức vào năm 1517 do Martin Luther
(1483-1546) chủ xướng. Phong trào này trở thành Phong Trào Tin Lành lan rộng gần
khắp Trung Âu và Bắc Âu, gây nên những cuộc chiến tranh tôn giáo giữa Tin Lành
và Da-tô La Mã, kéo dài trong nhiều chục năm. Cho đến ngày nay, ở Ái Nhĩ Lan
tình trạng căng thẳng giữa những người theo đạo Tin Lành và những người theo đạo
Da-tô La Mã vẫn còn nguyên vẹn như mấy trăm năm về trước.
Giậu đổ bìm
leo. Năm 1534, chính quyền Anh trong thời Anh Hoàng Henry VIII (1491-1547),
chống lại Vatican, ly khai khỏi Giáo Hội, thành lập Anh Giáo, rồi tịch thu toàn
bộ tài sản của Vatican tại Anh Quốc. Năm 1691, Quốc Hội Anh lại ban hành một đạo
luật, cấm không cho người Anh theo đạo Da-tô La Mã được lên cầm quyền. Kể từ
đó, không có một người Anh theo đạo Da-tô La Mã (Catholic) nào được đưa lên cầm
quyền.
Năm 1789, Cách
Mạng Pháp bùng nổ. Các nhà lãnh đạo cách mạng Pháp thường tự nhận là đứa con
tinh thần của Voltaire, người đã gọi đại Ki-tô La Mã là “cái tôn giáo ác ôn”.
Giống như vết dầu loang, Cách Mạng Pháp 1789 trở thành tấm gương cho nhân dân
thế giới theo đó mà tiến lên hành động chống lại Giáo Hội La Mã. Ngay cả khi
nước Pháp liên kết với Giáo Hội La Mã xuất quân đánh chiếm và thống trị Việt Nam
vào giữa thế kỷ 19, những chính khách có thế lực cầm quyền ở Pháp cũng như ở
Đông Dương, vẫn hành động theo tinh thần Cách Mạng 1789, chống lại Vatican,
khinh rẻ bọn giáo sĩ Pháp và tín đồ Da-tô người Việt dù rằng trong thực tế và bề
ngoài, họ vẫn liên kết với Vatican như là một Liên Minh để cùng thống trị Đông
Dương.
Vatican cũng
biết như vậy, nhưng Vatican vẫn còn hy vọng bám lấy quyền lực ở Pháp vì có một
nhóm thiểu số tín đồ người Pháp chỉ biết tuyệt đối tuân phục Vatican và vì bọn
phản động còn nắm quyền tại các nước Áo, Phổ, Nga và Anh. Nhờ đó, Giáo Hội đã sử
dụng nhóm thiểu số tín đồ cuồng tín người Pháp này và liên kết với các chính
quyền phản động tại các quốc gia trên đây chống lại Cách Mạng 1789 và nước Pháp.
Chính vì thế mà cuộc chiến của nhân dân Pháp chống lại Vatican ở vào thế giằng
co cho mãi tới năm 1905, người Pháp mới thực sự loại được bàn tay quyền
lực của Vatican ra khỏi chính quyền bằng cách ghi vào trong Hiến Pháp điều khoản
“tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền.” Trong khi đó, tại Bắc Mỹ,
Hoa Kỳ đã đưa điều khỏan này vào Hiến Pháp ngay từ năm 1791. Kể từ đó,
càng ngày ảnh hưởng của Giáo Hội đối với quần chúng Pháp càng ngày càng giảm
thiểu. Hiện nay ở Pháp cũng như ở Anh và ở nhiều quốc gia Âu Châu khác, con số
người đi nhà thờ hàng tuần chỉ còn từ 1% đến 5% là nhiều. Tuyệt đại đa số nhân
dân Âu Châu ghê tởm Giáo Hội và lánh xa Giáo Hội như lánh hủi. Sự kiện này được
học giả Da-tô Phan Đình Diệm ghi lại như sau:
“Giáo Hội
Công Giáo Roma La-tinh trong thời cực thịnh kinh bang tế thế, đội vương miện cho
các hoàng đế, tung hoành dọc ngang, làm mưa làm gió, thâu tóm cả thiên hạ trong
tay, tiền rừng bạc biển, đã không biết tự chế, không học bài học khiêm hạ rửa
chân, tự cao tự đại, coi bàn dân thiên hạ như cỏ rác… Hôm nay hối bất cập, lịch
sử còn nằm trơ ra đó. Người Âu Châu khiếp sợ Giáo Hội và tránh xa như tránh hủi!
Người Á Châu có thành kiến ghép Giáo Hội với ông Tây thực dân và chống thực dân!
Người Mỹ Châu La-tinh đồng hóa Giáo Hội vào đại họa diệt chủng! Và người Trung
Đông làm sao quên được 250 cuộc thánh chiến hãi hùng!.v.v…”
[14]
Vì nguyên nhân
này mà trong thời gian từ năm 1858 cho đến 1945, có rất nhiều nhân vật Pháp có
thế lực ở chính quốc Pháp như Jules Ferry, Léon Gambetta, Léon Blum cũng như các
tướng lãnh chỉ huy các đạo quân tấn chiếm Việt Nam như Đô Đốc Page, Đô Đốc
Bonard, Đô Đốc Rieunier, Đại Tá Bernard cho đến các chính trị gia nắm quyền chủ
chốt trong bộ máy cai trị Đông Dương như Paul Beau, Paul Bert, Pierre Pasquier,
v.v… đều là những người hăng say chống Giáo Hội La Mã và thường tỏ ra khinh rẻ
các ông tu sĩ Da-tô hoạt động tại Đông Dương vào thời bấy giờ. Sự kiện này được
sách Các Vua Cuối Nhà Nguyễn - Tập 2 ghi nhận như sau:
"Paul Bert
là đảng viên "Cộng Hòa" từng bị phe cực hữu và bảo thủ kết án như “kẻ chống Giáo
Hội điên cuồng," và "kẻ thù quyết liệt của Giáo Hội." Tội lỗi lớn nhất của Bert
là khi giữ ghế Bộ Trưởng Giáo Dục trong chính phủ Ferry, Bert đã cổ võ và phát
động một chính sách giáo dục quốc gia phi tôn giáo. Theo Bert, nước Pháp không
còn trách nhiệm hoằng dương hay rao giảng một tôn giáo nào, và cũng không công
nhận một tôn giáo nào làm quốc giáo"[15]
Cũng nên biết
là hai thế lực Pháp và Vatican đều có những bọn Việt gian làm tay sai thân tín
đắc lực riêng và cả hai thế lực này đều muốn sử dụng bọn Việt gian này trong
chính sách Chia Để Trị. (Dùng người Việt đánh người Việt và dùng người Việt cai
trị người Việt.) Phần lớn bọn Việt gian làm tay sai cho thực dân Pháp không phải
là tín đồ Da-tô và có thể là mang quốc tịch Pháp như Nguyễn Văn Tâm, Trần Văn
Hữu, Nguyễn Văn Xuân, v.v… hay không mang quốc tịch Pháp như bọn Hoàng Cao Khải,
Nguyễn Thân, Hoàng Trọng Phu, Hoàng Gia Mô, Nguyễn Duy Hàn, Phạm Quỳnh, v.v…
Hầu hết những bọn Việt gian làm tay sai cho Vatican là những tín đồ Da-tô cuồng
tín mang quốc tịch Vatican (đều có tên thánh ở trước cái tên bình thường của
chúng) như bọn Trần Bá Lộc, Đỗ Hữu Phương (Đỗ Hữu Vị), Lê Phát Đạt (Huyện Sĩ),
Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Hữu Độ, Trần Lục, Pétrus Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Tường Tộ,
Ngô Đình Khả, Lê Hoan, Nguyễn Hữu Bài, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Thục, Ngô Đình
Diệm, Nguyễn Bá Tòng, Hồ Ngọc Cẩn, v.v…
Khi hai thế lực
Pháp và Vatican không có chuyện gì xích mích với nhau thì hai nhóm Việt gian này
được yên ổn lo việc đàn áp nhân dân ta để tãng công, lấy lòng quan thày giặc với
hy vọng sẽ được thăng quan tiến chức vù vù như trường hợp Trần Lục, Ngô Đình
Khả, Trần Bá Lộc, Ngô Đình Đình Diệm, Nguyễn Bá Tòng, v.v... Nhưng khi hai thế
lực Pháp và Vatican mưu tính chèn ép lẫn nhau để lấn quyền rồi hục hặc với nhau,
thì hai nhóm Việt gian này rơi vào tình trạng khốn đốn và chìm nổi với chủ riêng
của chúng. Sự kiện này được Cụ Phan Bá Kỳ nói sơ qua như sau:
"Ai biết
chút ít về lịch sử cũng phải hiểu rằng chính sách, nhân sự ở Đông Dương hồi Pháp
thuộc là do nơi ba thế lực chính: Thực Dân, Giáo Hội (Vatican), Tam Điểm (Free
Mason), tùy theo tình hình chính quốc. Khi ở Pháp phe Tam Điểm thắng thế thì
thực dân ở Đông Dương về phe Tam Điểm. Khi phe Công Giáo lên chân thì thực dân
về phe Giáo Hội. Việc ông Diệm bị cách tuột hết mọi thứ có thể là đang có một sự
tranh chấp giữa Tam Điểm và Giáo Hội, mà ông ta ngu ngơ, dại dột đi vâng phục
quá đáng cái thế lực thất thế vào thời điểm đó. Cứ tìm xem Khâm Sư Léon
Thibaudeau và Toàn Quyền Pierre Pasquier thuộc nhóm nào là ra ngay. Chứ Bảo Đại,
Phạm Quỳnh, ngoài chuyện thừa hành, làm gì có quyền để trừng phạt oan ức một
người… đáng quí như ông Diệm…"[16]
Chuyện tranh
chấp giữa ông Ngô Đình Diệm và ông Phạm Quỳnh về chức vụ Tổng Lý Đại Thần tại
triều đình Huế được cụ Nguyễn Bính Thinh ghi lại như sau:
“Có một số
người từng làm cách mạng, hoặc có xem báo chí ở Huế, ở Hà Nội trước năm 1940,
đều biết ít nhiều về ông Diệm khi làm Thượng Thư Bộ Lại của triều đình Huế, có
óc quan lại phong kiến và nịnh quan thầy Tây. Ông tranh quyền với ông Phạm
Quỳnh, song quan thầy của ông là Khâm Sứ Thibaudeau kém thế hơn quan thầy
của ông Phạm Quỳnh là Toàn Quyền Pasquier. Ông Diệm thua Phạm Quỳnh bất mãn từ
quan.”[17]
Theo sử gia Vũ
Ngự Chiêu, Không phải ông Diệm từ quan, mà là bị bãi chức và bị truất hết cả
những chức tước phẩm hàm. Hơn nữa, ông ta còn bị trục xuất khỏi Huế, bị cho ra
cư trú ở Quảng Bình. Dưới đây là bản văn của Tiến-sĩ Vũ Ngự Chiêu viết về sự
kiện này:
"Sau cuộc
"đảo chính" 2/5/1933, Bài bị loại khỏi vòng quyền lực. Toàn Quyền Pierre
Pasquier (12/1928-1/1934) gọi Diệm về làm Thượng Thư Bộ Lại kiêm Tổng Thư Ký Ủy
Ban Cải Cách. Quyền Khâm Sứ Léon Thibaudeau (2/1933-7/1934) yêu cầu Diệm làm tờ
trình về kế hoạch canh tân. Diệm có lẽ với sự tiếp tay của Bài, đưa ra hai điều
kiện:
Phải thống
nhất Bắc và Trung Kỳ, và bổ nhiệm một tổng trú sứ (resident général) cho Trung
và Bắc Kỳ như đã qui định trong Hòa Ước 6/6/1884.
Phải cho
Viện Dân Biểu quyền thảo luận (báo cáo ngày 10/5/1933, Pasquier gửi Colonies).
Lập trường
này cũng giống Bài: Muốn cải cách, việc đầu tiên là phải hủy bỏ hai chức thống
sứ (ở Hà Nội) và khâm sứ Huế; sau đó cho An Nam ngân sách riêng.
Ngày
9/7/1933: Diệm ra Quảng Trị gặp Bài ít ngày. Trở lại Huế, ngày 12/7, Diệm nạp
cho Thibaudeau một bản sao đơn từ chức đã gửi lên Bảo Đại. Lý do Diệm nêu ra là
cơ cấu tổ chức hiện tại không phù hợp với Hiệp Ước 6/6/1884. Hiệp ước này qui
định rằng Pháp chỉ giữ một chế độ bảo hộ kiểm soát (protectorat de contrôle) mà
không phải là bảo hộ trực tiếp (protectorat direct). Báo cáo số 303-A.P.,
22/7/1933, Gougal gửi Colonies; INF, c.366/d.2905).
Theo một mật
báo viên (Luật-sư Lê Văn Kim), tháng 12/1933, Diệm vào Sàigòn gặp Nguyễn Phan
Long, Lê Văn Kim, Jacques Lê Văn Đức, v.v… Tiếp đó, báo chí Sàigòn và cả tờ La
Lanterne ỏ Paris mở chiến dịch đòi thay Pasquier bằng cựu Toàn Quyền Alexandre
Varenne (7/1925-11/1927) và đưa cựu Khâm Sứ Yves Châtel (6/1931-2/1933) trở lại
Huế (INF, c.366/d.2905). Biết được tin này qua Luật-sư Lê Văn Kim, Pasquier nổi
giận truất hết chức tước của Bài, Diệm và Đệ. Diệm còn bị trục xuất khỏi Huế,
chỉ định cư trú tại Quảng Bình. May mắn, ngày 15/1/1934, Pasquier chết vì tai
nạn máy bay trên không phận Paris. Năm sau, Bài cũng chết. Tân Toàn Quyền René
Robin (7/1934-1/1937) và Khâm Sứ Maurice Graffeuil (7/1934-5/1936,
4/1937-8/1941) đồng ý phục hồi tước vị cho Bài và Diệm. Diệm được trở về Huế dạy
học ở trường Providence của Thục,…”[18]
Chiến dịch "Đòi
thay Pasquier bằng cựu Toàn Quyền Alexandre Varenne và đưa cựu Khâm Sứ Yves
Châtel trở lại Huế" là do Vatican chủ mưu, mượn bọn tay sai Việt gian cuồng
tín để làm áp lực cho việc đòi thay thế những nhân vật có tinh thần chống Giáo
Hội La Mã bằng những nhân vật bảo thủ thân Giáo Hội La Mã. Trước đây Ngô Đình
Khả cũng vì cuồng tín nghe theo Vatican mà mất chức. Bây giờ đến lượt Nguyễn Hữu
Bài, Ngô Đình Diệm, và sau đó là Ngô Đình Khôi cũng ở vào tình trạng này. Chúng
ta đừng quên rằng Cường Để cũng là người mang quốc tịch Vatican (đã theo đạo
Da-tô). Đến đây, thiết tưởng độc giả đã có thể hiểu tại sao mà bọn Việt gian làm
tay sai tai mắt đắc lực cho Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Vatican như bọn Ngô Đình
Khả, Nguyễn Hữu Bài, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Diệm, v.v… không những bị cho về
vườn, mà còn bị đám quan thày người Pháp khinh rẻ như những phường phản phúc hèn
hạ và những quân lưu manh vô lại. Bản văn sử dưới đây nói lên thực trạng này:
"Chúng tôi
chỉ có với mình", Đô Đốc Rieunier sau này nói, "những giáo dân và bọn du
thủ du thực". "Bọn lang bạt bị trục xuất khỏi làng vì đói rét hoặc vì tội
phạm," Đại Tá Bernard viết, xô về đây với cái lưng mềm dễ uốn, họ tham sống sợ
chết; họ hoàn toàn hững hờ với cuộc đấu tranh của dân tộc mình, sẵn sàng phụng
sự bất cứ những ông chủ nào… Người ta sẽ tuyển dụng trong số họ tất cả nhân viên
hành chính cần thiết cho nhà nước, hoặc những người giúp việc gia đình: làm đầy
tớ, làm khuân vác, làm người chạy giấy và cả những tên phiên dịch, hoặc những
người ghi chép được đào tạo thô sơ qua các nhà trường của Hội Truyền Giáo. Chính
là qua sự tiếp xúc với những kẻ khốn nạn này mà bọn thực dân và công chức, vừa
mới đổ bộ lên, làm quen với dân tộc Việt Nam …"
Nhà sử học
Cultru kết luận:
"Hoàn toàn
hời hợt về cái gọi là giáo dục phương Tây mà họ đã được tiếp thụ, những thanh
niên Việt Nam này đã trở thành những ông thông, ông phán, ông ký, kiểm soát,
phiên dịch.. ấy, lập thành tại xứ sở thuộc địa một tầng lớp những người tha hóa,
chuyên lợi dụng địa vị chính thức của chúng để nhân danh chính phủ Pháp, lúc này
không đủ biện pháp cai quản họ, để áp bức, đục khoét dân chúng, buộc lòng phải
nhờ đến sự trung gian cuả họ…"
"Tại Nam kỳ,
chính là từ trong những người Công Giáo Annam mà người ta tuyển chọn những kẻ
giúp việc cho chính phủ Pháp, Phạm Quỳnh đã viết, "Họ có tài cán gỉ? … Phần lớn
là những tay dạy giáo lý Cơ Đốc, vì hạnh kiểm kém mà bị các giám mục đuổi về, và
dưới một cái tên La Tinh (bởi vì họ nói lõm bõm tiếng La Tinh), là đại diện sơ
lược của thủ đoạn, của sự vô trách nhiệm, và sự thoái hóa của Châu Á."[19]
Từ năm 1931,
Nhật bành trướng thế lực vào lục đia Á Châu. Tháng 7 năm 1937, Nhật gây hấn tấn
công và chiếm đóng các vùng ven biển Thái Bình Dương của Trung Hoa, rồi năm 1940
Nhật cưỡng bách Liên Minh Pháp – Vatican để cho Nhật đưa quân vào trú đóng ở
Đông Dương.
Từ đó cho
đến khi xẩy ra vụ Trân Châu Cảng vào ngày 7/12/1941, đúng ra là cho đến năm
1942, thế lực Nhật ngày càng trở nên hùng mạnh ở Đông Á và Đông Nam Á Châu. Đồng
minh của Nhật ở Âu Châu là Đức Quốc Xã và Phát Xít Ý (Phe Trục) cũng đang thắng
thế chiếm gần trọn Tây Âu và Nam Âu. Tại Âu Châu, Vatican quay ra kết thân với
Đức Quốc Xã và Phát Xít Ý để củng cố chế độ đạo phiệt Da-tô Francisco Franco
(1892-1975) ở Tây Ban Nha, và đưa tên Da-tô cuồng tín Ante Pavelịch lên cầm
quyền, thiết lập chế độ đạo phiệt Da-tô tại Croatia.
Cũng nên
biết vào năm 1936, Tây Ban Nha xẩy ra cuộc nội chiến. Lúc đó, Tây Ban Nha đã có
một chính quyền dân chủ do ông Casares Quiroga làm thủ tướng. Với tinh thần bảo
thủ và suy tôn Vatican, ông Tướng Da-tô Francisco Franco chống lại chính quyền
dân chủ của Thủ Tướng Casares Quiroga và được Tòa Thánh Vatican hậu thuẫn. Việc
làm này của Tướng Franco làm cho Tây Ban Nha rơi vào tình trạng nội chiến. Cuộc
chiến này chính thức bùng nổ vào ngày 17/7/1936, kéo dài gần 3 năm trời. Nhờ có
Vatican tích cực vận động Đức Quốc Xã và Phát Xít Ý viện trợ, phe Tướng Da-tô
Francisco Franco thắng thế và cuộc chiến chấm dứt vào ngày 1/4/1939, để lại
không biết bao nhiêu đắng cay, căm phẫn, và thù hận trong lòng người dân Tây Ban
Nha đối với Vatican. Trong thời gian chiến tranh, hàng ngàn nam nữ tu sĩ Da-tô
Tây Ban Nha bị phe dân chủ thẳng tay nghiêm trị cho về nước Chúa vì họ đã tích
cực tham gia hoạt đồng tiếp tay cho phe Tướng Da-tô Franco, giống như nhóm
thiểu số tu sĩ và tín đồ Da-tô Việt Nam tích cực tiếp tay cho quân giặc xâm lăng
Pháp-Vatican trong nửa sau thế kỷ 19 và trong thời Kháng Chiến 1945-1954. Con số
người bị nghiêm trị lên đến hàng ngàn. Đối với nhân dân Tây Ban Nha, bọn người
bị nghiêm trị này là những quân phản quốc và phản dân tộc. Nhưng đối với Tòa
Thánh Vatican, hạng người vong bản phản quốc này lại là những “thánh tử đạo”.
Cũng vì thế mà trước đây, một số trong những “thánh tử đạo” này đã được Giáo
Hoàng John Paul II phong chân phước và phong thánh. Ngày 28/10/2007, lại có thêm
498 nam nữ tu sĩ “thánh tử đạo” khác nữa cũng nằm trong số người bị nghiêm trị
này được Giáo Hoàng Benedict XVI phong chân phước. Việc phong chân phước này
được tờ The News Tribune Tacoma Thứ Hai, 28/10/2007 loan tin với nguyên văn như
sau:
“Giáo
Hoàng (Benedict XVI) phong chân phước cho 498 nam nữ tu sĩ chết trong cuộc Nội
Chiến Tây Ban Nha. Những kỷ niệm cay đắng về cuộc Nội Chiến Tây Ban
Nha là đề tài chính tranh cãi vào ngày Chủ Nhật (28/10/2007) khi mà Vatican
phong chân phước cho 498 nam nữ tu sĩ Tây Ban Nha bị sát hại trong thời kỳ nội
chiến Tây Ban Nha. Buổi lễ phong chân phước những nam nữ tín đồ Da-tô bị sát
hại trong thời Nội Chiến 1936-1939 là một buổi lễ lớn nhất trong lịch sử Giáo
Hội…. Tuy nhiên, việc phong chân phước này đã gây nên những cuộc tranh luận ở
Tây Ban Nha, trong đó những người chỉ trích tố cáo Vatican đã chơi đòn chính trị
bằng cách chỉ nhìn nhận phe Vatican ủng hộ mà thôi.” Nguyên văn:
““Pope beatifies 498 priests, nuns who died in Spanish’s Civil War. Bitter
memories of Spain’s Civil War were the center stage here on Sunday (Oct.
28/2007) as the Vatican put 498 slain Spanish preists and nuns from that
divisive era on the path to sainthood.The Mass recognizing the Catholic men and
women killed around the time of the 1936-39 Civil War was the largest
beatification ceremony in church history… However the beatifications have
stirred controversy in Spain, where critics acuse the Vatican of playing
politics by promoting recognition of one side of the war protagonist. - Los
Angeles Times.”[20]
Tại Á Châu,
Giáo Hội ra lệnh cho bọn tu sĩ kêu gọi tin đồ Da-tô người Việt triệt để ủng hộ
con bài phòng hờ của Giáo Hội là ông Da-tô Cường Để đang sống lưu vong ở Nhật và
đang cầu xin Nhật đưa về Việt Nam thay thế Bảo Đại làm vua gỗ tại triều đình bù
nhìn Huế. Sự kiên bọn tu sĩ Da-tô kêu gọi giáo dân ủng hộ Cường Để được sử gia
Vũ Ngự Chiêu ghi lại trong bài viết “Sự Hình Thành Phong Trào Quốc Gia Mới: Từ
“Trung Quân” sang “Ái Quốc” với nguyên văn như sau:
“Nhờ chiêu
bài Cường Ðể, một số giáo mục và giáo dân từ Quảng Bình tới Nghệ An cũng ủng hộ.
Ða số giáo mục và giáo dân đều thuộc địa phận Bắc Ðàng Trong của Giám mục Louis
Pineau. Sau này, còn có những cộng đồng Ki-tô ở Xiêm La.” Vũ Ngự Chiêu.“Sự Hình
Thành Phong Trào Quốc Gia Mới: Từ Trung Quân sang Ái Quốc.”[21]
Trong những
giáo mục (tu sĩ) và giáo dân ủng hộ ông Da-tô Cường Để, ông vua đón gió trở cờ
Ngô Đình Diệm là người đi hàng đầu và được coi như lãnh tụ của Phong Trào Cường
Để ở trong nước. Tại Việt Nam, từ đầu thập niên 1930, có một số người Việt Nam
xính hơi cố gắng học tiếng Nhật, rồi làm việc hay hoạt động (chính trị) và làm
tay sai cho Nhật. Trong những năm 1940-1945, trong gia đình họ Ngô, không phải
chỉ có một mình Ngô Đình Diệm làm tay sai cho Nhật mà có cả người anh của ông ta
là Ngô Đình Khôi (người anh cả) và đứa con trai của Ngô Đình Khôi là Ngô Đình
Huân cũng hoạt động làm tay sai cho Nhật. Ngô Đình Huân làm mật vụ cho Nhật và
được Nhật cho “làm bí thư cho đại sứ Nhật Yokohama, tức người thay thế khâm
sứ Pháp tại miền Trung sau đêm đảo chánh 9/3/1945.”[22]
Nhật chống
Pháp. Làm việc hay hoạt động làm tay sai cho Nhật tức là chống Pháp. Vì lẽ này,
anh em Ngô Đình Diệm mới bị Pháp bắt giam, và vì thế mới có chuyện Giám-mục Ngô
Đình Thục viết lá thư đề ngày 21/8/1944 gửi Toàn Quyền Jean Decoux đẽ xin miễn
tội chống Pháp (phản chủ) của Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Diệm. Dưới đây là bản
chụp và bản dịch nguyên
văn lá thư này:


(xem thêm bản đánh máy Pháp văn đăng trong hàng nối
http://sachhiem.net/LICHSU/BuiKha.php của tác giả Bùi Kha)
Tòa
Truyền Giáo Vĩnh Long ngày 21 tháng 8 năm 1944
Vĩnh Long
(Nam Kỳ),
Thưa Đô
Đốc,
Một linh mục
từ bổn Tòa được phái đi Sàigòn để lo việc cho chủng viện vừa cho tôi biết rằng
hai người em của tôi đang bị truy tố tại Huế. Vì đã lâu không nhận được tin tức
gì từ Huế, tôi không biết là điều tôi được báo cáo có đúng sự thực hay không.
Tuy nhiên,
nghĩ đến nỗi đau đớn và sự bất nhẫn rất đúng mà chắc là Đô Đốc đã cảm thấy - nếu
sự truy tố các em tôi là có thật, tôi vội viết thư này để bày tỏ với Đô Đốc nỗi
đau đớn lớn lao của tôi về việc này.
Nếu hoạt
động của hai em tôi được chứng tỏ là có hại cho quyền lợi nước Pháp thì - với tư
cách của một giám mục, của một người An Nam, và với tư cách là con của một
gia đình mà phụ thân đã phục vụ nước Pháp ngay từ khi mới tới An Nam, và đã
nhiều lần đưa mạng sống cho nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi cầm
đầu, dưới quyền của Nguyễn Thân, chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đình Phùng
chỉ huy, tại Nghệ An và Hà Tĩnh – tôi, tự đáy lòng, không chấp nhận [hoạt
động của các em tôi].
Thưa Đô Đốc,
tôi tuyên bố như vậy không phải với mục đích bảo toàn địa vị cá nhân của tôi:
bởi vì nếu xét rằng cá nhân hèn mọn của tôi có thể phương hại đến quyền lợi của
đạo [Thiên Chúa], tôi sẽ vui vẻ rời khỏi Tòa Giám Mục này ngay.
Lời tuyên bố
của tôi chỉ có mục đích là tỏ cho Đô Đốc thấy rằng lòng tin tưởng trìu mến của
Đô Đốc [đối với tôi] đã không đặt vào một kẻ bất xứng hay vô ơn.
Thưa Đô Đốc,
tôi chưa bao giờ tiếc là đã xa Huế như thế này. Giá có mặt ở đấy, thì tôi đã có
thể khuyên răn các em tôi tốt hơn, và khi chuyện xẩy ra, tôi đã có thể chống lại
các chủ đích của em tôi, nếu quả thật các em tôi có nghĩ đến những dự định có
thể gây hại cho quyền lợi của nước Pháp.
Có thể tôi
lầm, tuy nhiên, thưa Đô Đốc, tôi xin thú thực là không tin – cho đến khi
được chứng minh ngược lại - rằng các em tôi đã phản lại truyền thống của gia
đình chúng tôi đến như thế, một gia đình đã tự mình gắn liền với nước Pháp từ
lúc ban đầu, trong khi ông cha của những quan lại bây giờ hầu hết đều chống Pháp
và chỉ quyết định thiên về Pháp khi thấy có lợi.
Ngay chính
các em tôi đã từng liên tục đưa mạng sống ra vì nước Pháp trong cuộc nổi loạn
của Cộng Sản. Diệm, người em kế tôi, suýt đã phải ngã gục dưới những phát súng
của một Hoa Kiều Chợ Lớn được phái đến Phan Rang với mục đích hại Diệm, Phan
Rang là nơi mà Diệm đã mãnh liệt chống giữ lối xâm nhập vào An Nam của các cán
bộ Cộng Sản từ Nam Kỳ phái đến.
Lẽ tất
nhiên, sự tận tụy của các em tôi trong quá khứ không phải là điều nêu ra để làm
cớ mà biện hộ cho hoạt động bất cẩn của họ ngày hôm nay, nếu sự bất cẩn này được
chứng tỏ là điều đã gây nên tội. Tuy nhiên, tôi không nghĩ là tôi đã làm chuyện
vô ích khi kêu gọi đến sự khoan hồng đầy xót thương của Đô Đốc hầu xét với hảo ý
trường hợp các em tôi. Đô Đốc không phải là người chỉ xét đến hiện tại mà lại bỏ
quên đi quá khứ. Tôi nêu ra điều này khi xét thấy rằng Thân phụ tôi là Ngô
Đình Khả đã từng được vinh dự phục vụ nước Pháp dù sinh mạng bị hiểm nguy,
và khi xét đến quá trình lâu dài của các em tôi đối với nước Pháp, mà không sợ
phải hy sinh mạng sống của mình cho nước Pháp.
Thưa Đố Đốc,
một lần nữa bày tỏ với Đô Đốc tất cả niềm đau đớn của tôi trong vụ này, tôi xin
Đô Đốc vui lòng nhận nơi đây lời kính chào trân trọng nhất của tôi,
Ngô Đình Thục[23]
Thời gian từ
chiều tối ngày 9/3/1945 (khi xẩy ra biến cố Nhật đảo chính Pháp) cho đến
ngày17/4/1945, Ngô Đình Diệm cho rằng chắc chắn là Nhật sẽ đưa ông Da-tô Cường
Để về Việt Nam thay Bảo Đại và nôn nóng ngóng trông được Nhật đưa lên làm thủ
tướng trong cái chính phủ bù nhìn mới do Nhật sắp xếp. Lúc đó, Diệm cư ngụ ở
Sàigòn. Có thể vì viên Khâm Sứ đại diện Tòa Thánh Vatican ở Huế là Tổng Giám Mục
Antoni Drapier đã rỉ tai với Bảo Đại là phải nên cho mời Ngô Đình Diệm về Huế để
thành lập tân nội các thân Nhật, cho nên ông vua gỗ “playboy” này mới sai ông
Phạm Khắc Hòe soạn thảo một bức điện tín, rồi nhờ ông Đại Sứ Nhật Yokoyama (ở
Huế) đánh điện mời Diệm về Huế để thành lập tân chính phủ thân Nhật.
Thế nhưng,
người Nhật vốn đã có kinh nghiệm máu với Giáo Hội La Mã trong thế kỷ 17 ở ngay
chính quốc Nhật (sẽ được trình bày đầy đủ trong một chương sách nằm trong Muc
XVI, Phần VII của bộ sách này), cho nên họ không đưa ông Da-tô Cường Để về Việt
Nam thay thế Bảo Đại và cũng không sử dụng ông Da-tô Ngô Đình Diệm làm thủ
tướng dù là vẫn giữ ông Bảo Đại làm vua bù nhìn để cho họ sai khiến, bất kể là
chính ông Bảo Đại đã nhờ họ triệu ông Diệm về Huế để trao cho nắm giữ chức thủ
tướng. Vì vậy mà ông đại sứ Nhật Yokoyama tuy bề ngoài tỏ ra sốt sắng nhận lời
chuyển bức điện tín của Bảo Đại cho Ngô Đình Diêm, nhưng lại cố tình ỉm đi, và
mời cụ Trần Trọng Kim đứng ra thành lập tân chính phủ. Sự kiện này được ông Phạm
Khắc Hòe, Đổng Lý Văn Phòng của Bảo Đại vào lúc đó, kể lại, và chính cựu hoàng
Bảo Đại cũng ghi lại trong sách hồi ký của ông. Sách Việt Sử Khảo Luận Cuốn 4
ghi lạ lời ông Phạm Khắc Hòe kể lại trong cuốn hồi Ký Từ Triều Đình Huế Đến
Chiến Khu Việt Bắc như sau:
“Trong danh
sách 14 người của bọn Hòe - Phiệt (Phạm Khắc Hòe và Tôn Quang Phiệt) tiên liệu,
cũng như trong số 8 người trên 14 người ấy được vua Bảo Đại lựa chọn, không có
tên ông Trần Trọng Kim.
Chiều tối
ngày 21/3, Trần Đình Nam từ Đà Nẵng vào,… tôi đưa vào yết kiến Bảo Đại, thì Bảo
Đại cũng đồng ý với Nam chỉ nên ra những lá bài thân Nhật, cụ thể là nên giao
cho Ngô Đình Diệm thành lập một nội các hẹp, ba, bốn người thôi. Tôi lập tức
đánh điện triệu tập Ngô Đình Diệm, lúc ấy đang ở Sàigòn.”
Xin nhắc
rằng điện tín đều phải nhờ quân đội Nhật đánh giùm, qua trung gian Đại Sứ
Yokoyama (lời ông Hoàng Xuân Hãn cho biết)…
“Năm ông ở
ngoài Bắc (Vũ Văn Hiền đã được Hoàng Xuân Hãn lựa chọn) vào tới Huế ngày 27/3 và
được vua tiếp kiến suốt ngày 28, sáng 2 người, chiều 3 người.”
Rồi tất cả
chờ tin tức Ngô Đình Diệm.”[24]
Trong cuốn sách
Con Rồng Việt Nam, ông Bảo Đại viết nơi trang 165 như sau:
“Trong óc
tôi, người tiêu biểu (thân Nhật) nhất trong số này là Ngô Đình Diệm. Ông ta đang
ở Sàigòn. Tôi biết ông ta đang có liên lạc với người Nhật và sự có mặt của ông
ta sẽ giúp tôi mọi sự dễ dàng với nhà cầm quyền Nhật. Tôi liền cho vời đại sứ
Nhật tới, và nói cho biết ý định của tôi và yêu cầu Đại Sứ làm mọi cách để Ngô
Đình Diệm có thể tới kinh đô Huế gặp tôi ngay. Đại Sứ Yokoyama nhận lời, và
(cam) đoan với tôi là sẽ cố gắng gặp ông ta. Ngày 19 tháng 3, tôi báo cho Phạm
Quỳnh biết tôi sẽ tự tay đảm trách quyền lãnh đạo quốc gia. Ý thức được tình
thế, Phạm Quỳnh đệ đơn xin từ chức tập thể của cả nội các.
Ba tuần lễ
trôi qua, mà chẳng thấy tăm hơi Ngô Đình Diệm ở đâu. Trước thúc giục ngày càng
khẩn thiết của tôi, Đại-sứ Yokoyama trả lời là chưa thể tìm thấy vị thủ tướng dự
trù này. Sự chậm trẽ ấy làm tôi suy nghĩ. Người Nhật rất thành thạo về những sự
kiện xẩy ra ở Việt Nam. Cơ quan tình báo của họ rất đắc lực, và họ biết chỗ và
biết cách tìm thấy nhân vật này. Về sau, tôi biết, qua ngay lời nói của Đại-sứ
Yokoyama là Ngô Đình Diệm không được cảm tình của chính phủ Nhật.
Tôi hiểu
ngay sự ngăn cách ấy. Giới thân cận đề nghi nên gọi Trần Trọng Kim, tuổi đã sáu
mươi, vị sử gia này tỏ ra người liêm khiết, một nhà hiền giả chưa từng quan tâm
đến chính trị. Ái quốc chân thành, ông ta nhờ người Nhật đưa đi lánh nạn ở
Singapour do bị chính phủ Pháp đe doạ.” [25]
.
Xin xem thêm
các trang 1949-1951 trong sách Việt Sử Khảo Luận - Cuốn 4 để biết rõ nỗi lòng
thất vọng của ông Diệm khi hay tin người Nhật bỏ rơi.
Sau ngày Cách
Mạng 19/8/1945, Ngô Đình Diệm vẫn ở Sàigòn. Tháng 6/1946, Diệm bí mật tìm đường
trở về Huế, dọc đường, ghé Tuy Hòa và nghỉ đêm tại nhà Cha Độ, bị Việt Minh bắt
đưa ra Bắc để giao cho chính quyền trung ương xử lý. Cũng nên biết là vào thời
điểm này, chính quyền Việt Nam (Việt Minh) đang cố gắng làm hòa với Pháp không
muốn gây căng thẳng với Giáo Hội La Mã và giới tu sĩ Da-tô tại Việt Nam. Lý do
là Cụ Hồ và phái đoàn Việt Nam còn ở nước Pháp và đang chuẩn bị thương thuyết
với Pháp, và ở Bắc, Việt Minh đang phải dồn nỗ lực vào việc đối phó với Việt
Quốc và Việt Cách, cho nên khi thấy Giám-muc Lê Hữu Từ (lúc đó là cố vấn của
chính phủ Hồ Chí Minh) đứng ra xin trả tự do cho ông Diệm, họ không ngần ngại gì
mà không trả tự do cho ông ta. Vấn đề này được tác giả cuốn Giám Mục Lê Hữu Từ &
Phát Diệm 1945-1954 viết như sau:
“Chính ông
Ngô Đình Diệm cũng đã được Đức Cha Lê Hữu Từ cứu thoát khỏi tay Việt Minh.
Khoảng tháng 6/1946, khi ông Diệm tới Tuy Hòa ở nhà Cha Độ, chính xứ Tuy Hòa,
cán bộ VM đã khéo léo mời được ông Diệm đi theo chúng lên miền Thượng (Mọi).
Người gia nhân của ông thoát được chạy ra Phát Diệm báo tin cho Đức Cha Lê và
xin can thiệp gấp kẻo Ông sẽ bị hại như ông Ngô Đình Khôi. Đức Cha liền đến Bắc
Bộ Phủ có Cha Phạm Quang Hàm và ông Ngô Tử Hạ cùng đi.
Gặp Hồ Chí
Minh, Đức Cha đã nói cho ông Hồ biết việc ông Diệm bị bắt ở Tuy Hòa. Chính ông
Hồ cũng không hay biết việc ấy và hứa sẽ hết sức thỏa mãn lời yêu cầu của Đức
Cha là giải thoát cho ông Diệm. Ông Diệm được đưa ra Hà Nội và một tháng sau Võ
Nguyên Giáp đã mời ông Ngô Đình Nhu đến lãnh nhận. Hồ Chí Minh cũng đã liên lạc
về Phát Diệm báo tin cho Đức Cha: Ông Diệm đã về Hà Nội và được tự do.”[26]
Bản văn trên
đây gồm có hai đọan. Những điều nói trong đoạn trên có thể là rất đúng với sự
thật. Đoạn văn dưới nói rằng, “Gặp Hồ Chí Minh….” hoàn toàn không đúng
với sự thực và chắc chắn là do tác giả cương ẩu bịa đặt ra. Lý do: trong thời
gian này, Cụ Hồ không có mặt ở Việt Nam. Cụ đã khởi hành đị Pháp bằng máy bay
vào ngày 31/5/1946 do lời mời của chính phủ Pháp và mãi tới ngày 20/10/1946 Cụ
mới về tới Hải Phòng bằng tầu thủy. Như vậy thì là sao Giám-mục Lê Hữu Từ có
thể gặp được Cụ Hồ?
Cái bệnh cương
ẩu, bịa đặt, lắt léo, lươn lẹo, không nói thành có, có nói thành không và nói
ngược là bản chất của Giáo Hội La Mã và các ông văn nô Da-tô. Cái bản chất này
giống như một thứ bệnh ung thư đã ăn sâu vào xương tủy của họ mà chúng tôi đã
trình bày khá đầy đủ trong Chương 11 (Mục IV, Phần II) trong bộ sách Lịch Sử và
Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã này và đã được đưa lên sachhiem.net trong tháng
9/2007 vừa qua.
Trở lại chuyện
việc Giám-mục Lê Hữu Từ xin chính quyền Việt Minh trả tự do cho ông Diệm, chúng
ta biết rằng truyền thống của Tổng Bộ Việt Minh, có nguyên tắc“tập đoàn chỉ
huy, cá nhân phụ trách”. Vậy thì Cụ Hồ chỉ là người được Tổng Bộ Việt Minh
giao cho thi hành những chính sách hay những quyết định đã có sẵn. Trong trường
hợp Cụ Hồ vắng mặt, không ở trong nước như trường hợp trên đây, thì người được
ủy nhiệm thay Cụ Hồ lúc đó là Cụ Huỳnh Thúc Kháng cứ việc thi hành theo chỉ thị
của Tổng Bộ Việt Minh. Do đó, việc thể theo lời thỉnh cầu của Giám Mục Lê Hữu Tử
trả tự do cho ông Diệm là do quyết định của Tổng Bộ Việt Minh.
Lại nói về ông
Diệm, được Việt Minh thả cho về rồi, kể từ đó cho đến 1950, ông ta lăng xăng
xuôi nguợc hết ra Bắc lại vào Nam, hết bay đi Hồng Không lại trở về Sàigòn để
vận động và cổ võ cho con bài Bảo Đại vì Bảo Đại là con bài do Giáo Hội La Mã
chủ xướng. Con bài này được gọi là Giải Pháp Bảo Đại đã được viên Khâm-sứ đại
diện của Tòa Thánh Vatican ở Huế là Tổng Giám Mục Antoni Drapier đề nghị và công
khai tuyên bố vào ngày 28/12/1945. Lời tuyên bố này sẽ được ghi lại rõ ràng
trong một mục khác ở sau. Nhà viết sử Chính Đạo ghi nhận những hoạt động của ông
Diệm trong thời gian này như sau:
“Đầu năm
1947, Diệm ra Hà Nội, ngụy trang như một tu sĩ dòng tu Cứu Thế được người Pháp
yêu cầu lập chính phủ Chống Cộng, Diệm đưa một kế hoạch không thể chấp nhận
được. Diệm còn xin gặp lãnh sự Mỹ ở Hà Nội. Trong thời gian ở Hà Nội, ngụ tại
tu viện dòng Cứu Thế ở Thái Hà Ấp. Vào Sàgòn một thời gian ngắn, từ 11/4 tới
5/9/1947, rồi trở ra Hà Nội.
21/12/1947:
Cùng Nguyễn Văn Xuân và Trần Văn Lý (Da-tô) qua Hồng Kông gặp Bảo Đại.
24/12/1947:
Bảo Đại lên đường qua Geneva. Diệm gặp Tổng Lãnh Sự Mỹ tại Hong Kong là George
D. Hopper, trình bày về nội tình VN và Giải Pháp Bảo Đại. Mục đích chính của
Diệm, theo Hopper, là xin viện trợ Mỹ. Tuy nhiên Hopper chỉ ghi nhận mà không
có ý kiến hay hứa hẹn gì. (Ngày 18/12/1947, Tổng Lãnh Sự Charles Reed đã từ Sài
Gòn điện trước cho Hopper rằng có thể Diệm sẽ ghé thăm.[FRUS, 1947, VI:152-5]).
26/12/1947:
Từ Hong Kong trở lại Saigon.
2/1948: Qua
Hong Kong lần thứ ba.
5/1949: Diệm
từ chối thành lập chính phủ; nêu lý do sợ giáo dân Ki-tô bị Việt Minh ám sát.
Thực ra, Diệm không thỏa mãn với Hiệp Ước 8/3/1949.
21/9/1949:
Diệm về Huế sống ở nhà Ngô Đình Cẩn.”
2/8/1950:
Trở lại Sàigòn sau một chuyến dừng chân ngắn ở Đà Nẵng.”14/8/1950: Diệm cùng
Thục rời Saigòn qua Roma trên tầu La Marseillaise. Trạm đầu tiên ghé chân là
Nhật…”[27]
Nhờ có đặc tính
cuồng tín, tuyệt đối trung thành với Vatican đúng như lời ông tuyên bố với các
chính khách Hoa Kỳ trong một bữa cơm chiều tại Khách Sạn Mayfolwer vào tháng 10
năm 1950 ở Washington D.C. rằng, “ông tin tưởng vào quyền lực Vatican và ông
chống Cộng cực lực”[28], ông được
Vatican hết sức tín dùng. Cũng vì thế, ông mới được Vatican cho người dẫn dắt
sang Mỹ giao cho Hồng Y Spellman lo lót và vận động chính quyền Hoa Kỳ đưa ông
về Việt Nam cầm quyền để làm tay sai cho Vatican trong sứ mệnh tiến hành kế
hoạch Ki-tô hóa Việt Nam theo tinh thân Sắc Chỉ Romanus Pontifex. Sắc chỉ này
được ban hành vào ngày 8/1/1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1455) và
nội dung của nó được Linh-mục nói rõ ràng ở trong cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm.[29]
Lúc đó, cuối
năm 1950, chính quyền Hoa Kỳ còn đang bận rộn phải đối phó với cuộc chiến Triều
tiên vừa bùng nổ vào ngày 25/6/1950. Hơn nữa, lại không có tín đồ Da-tô La Mã
nào nắm giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền của Tổng Thống Truman để
có tiếng nói nặng ký giúp Vatican trong nỗ lực vận động đưa ông Diệm về Việt
Nam cầm quyền. Vì vậy mà cả Vatican và ông Diệm đều không được toại nguyện.
Tuy vậy, Toà
Thánh Vatican vẫn không nản lòng, vẫn ẩn nhẫn rình chờ cơ hội mới. Đầu năm 1953,
chính trường Hoa Kỳ đã xoay chiều. Ngày 20/1/1953, chính quyền Cộng Hòa của Tổng
Thống Eisenhower bắt đầu nhậm chức. Trong chính quyền mới này, có ông Da-tô La
Mã John Foster Dules nắm giữ chức vụ Tổng Trưởng Ngoại Giao, người em của ông là
Allen W. Dulles nắm giữ chức vụ Giám Đốc Cơ Quan Tình Báo Trung Ương (Central
Intelligence Agency hay CIA), tại Thượng Viện, có hai ông Da-tô La Mã là Thượng
Nghị Sĩ John F. Kennedy và Thượng Nghị Sĩ Mike Mansfield, tại Hạ Viện có ông
Dân Biểu Da-tô La Mã Walter Judd, và tại Tối Cao Pháp Viện có ông Da-tô La Mã
Thẩm Phán William O. Douglas. Thấy rằng có nhiều tín đồ nắm giữ chức vụ quan
trọng trong chính quyền Hoa Kỳ lúc bấy giờ, Tòa Thánh Vatican lại tích cực vận
động cả ở Mỹ và ở Pháp để đưa ông Diệm về Việt Nam cầm quyền. Sử gia Chính Đạo
ghi lại sự kiện này như sau:
“Ngày
7/5/1953: Diệm được mời tham dự bữa ăn trưa tại Tối Cao Pháp Việt để thảo luận
về vấn đề Đông Dương. Có mặt: Thẩm phán Tối Cao W. O. Douglas, TNS Mike
Mansfield, TNS John Kennedy, Newton (thuộc Ủy Ban Dịch Vụ Những Người Bạn Mỹ)
Costello (thuộc công ty truyền thông CBS), Gullion (cựu Tổng Lãnh Sự Sàigòn)
Gene Gregory (Bộ Ngoại Giao) và một người chưa rõ tên.”[30]
“Ngày
30/5/1953: Do lời mời của giáo dân Ki-tô Paris, Diệm rời New York trở lại
Paris.”[31]
Do áp lực của
Hoa Kỳ và của Đảng Da-tô là Phong Trào Cộng Hòa Bình Dân Pháp (MRP) của ông
Da-tô Georges Bidault, ngày 19/6/1954, Quốc Trưởng Bảo Đại ký Sắc Lệnh 38/QT bổ
nhậm ông Ngô Đình Diệm giữ chức vụ thủ tướng “với toàn quyền quyết định về dân
sự lẫn quân sự”. Ngày 24/6/1954, ông đáp máy bay từ Ba Lê về Sàigòn và ngày
7/7/1954, ông chính thức nhậm chức.
Người Anh đã
ghê tởm tín đồ Da-tô, cho nên vào năm 1691, họ đã ban hành đạo lụât cấm, không
cho một người Anh nào là tín đồ Da-tô La Mã được lên cầm quyền. Sách Living
World History đạo luật này quy định rằng:
“Không có
một tín đồ Ki-tô La Mã có thể trở thành nhà lãnh đạo nước Anh. Như vậy là luật
này loại hẳn tất cả những người con và cháu của vua James Đệ Nhị với người vợ
thứ hai của nhà vua, không cho họ lên cầm quyền.” Nguyên văn: “A
third measure, the Act of Settlement of 1691, provided that no Roman
Catholic could be ruler of England, automatically excluding the descendants of
James II by his second wife.”[32]
Kể từ đó, không
một người nào theo đạo Ki-tô La Mã được đưa lên cầm quyền ở nước Anh và ảnh
hưởng Giáo Hội La Mã bị coi như là bị tiêu diệt hoàn toàn ở Anh quốc, mặc dầu
quốc gia này là một nước dân chủ tự do và tôn trọng quyền tự do tôn giáo của tất
cả mọi người dân.
Ấy thế mà vào
thời điểm 1954 (so với thời điểm nước Anh ban hành đạo luật Settlement of 1691
là 263 gần 3 thế kỷ sau), miền Nam Việt Nam lại bị Vatican và Hoa Kỳ cưỡng bách
phải chấp nhận ông Da-tô Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền. Khốn nạn hơn nữa, là
ông Diệm không phải là một tín đồ Da-tô bình thường như Tổng Thống John F.
Kenndy, mà là một tín đồ Da-to siêu cuồng tín. Xin xem tiểu mục nói về đặc tính
cuồng tín của ông Diệm ở sau.)
Chủ trương của
Hoa Kỳ là duy trì Việt Nam mãi mãi ở trong chia đôi để biến miền Nam thành tiền
đồn chống Cộng ở Đồng Nam Á Châu, rồi lại cấu kết với Vatican để đưa ông Diệm
lên cầm quyền ở miền Nam Việt Nam với mục đích cùng thống trị miền Nam. Sau khi
đưa ông Diệm về Việt Nam cầm quyền, Hoa Kỳ dồn nỗ lực vào ba mục tiêu:
1.- Vận động
ngoại giao cho chính quyền miền Nam. Hồi đó, thế giới đang ở trong thời kỳ Chiến
Tranh Lạnh, chia làm ba phe:
A.- Phe thân
Tây Phương do Hoa Kỳ lãnh đạo. Phe này còn được gọi là phe chống Cộng hay Thế
giới tự do. Vì thân Hoa Kỳ, cho nên các quốc gia trong phe này đều cộng nhận
chính quyền mỉền Nam.
B.- Phe các
nước theo Xã Hội Chủ Nghĩa hay Cộng Sản. Phe này do Liên Xô chỉ đạo. Tất cả các
quốc gia thuộc phe này đều công nhận chính quyền miền Bắc.
C.- Phe các quốc gia không liên kết. Phe này còn được gọi lả các quốc gia
trung lập hay thế giới thứ ba mà phần lớn là các quốc gia vốn là cựu thuộc địa
của các đế quốc Âu Châu. Hầu hết các quốc gia này nếu không trực tiếp chịu ảnh
hưởng của Mỹ đều công nhận cả hai chính quyền miền Bắc và chính quyền miền Nam.
Trong phe này, quốc gia lớn nhất và có ảnh hưởng quan trọng trên sân khấu chính
trị thế giới là Ấn Độ, kế đến là Nam Dương.
2.- Tổ chức lại
đạo quân đánh thuê Việt Nam do Pháp chuyển giao lại để phát triển thành đạo quân
hùng mạnh nhất Đông Nam Á Châu. Kể từ đó, quân đội miền Nam được huấn luyện và
tổ chức theo tiêu chuẩn Mỹ, được trang bị bằng vũ khí Mỹ, được Mỹ trả lương cho
quân lính và đài thọ tất cả các khoản phí khác để chiến đấu cho quyền lợi của
Mỹ, và đặt dưới quyền chỉ đạo của các cố vấn Mỹ luôn luôn sát cánh với các sĩ
quan chỉ huy trưởng các đơn vị từ cấp trung đoàn trở lên (có khi ngay ở các đại
đội và tiểu đoàn cũng có các cố vấn Mỹ). Vì vậy:
A.- Mới có
chuyện 3 cố vấn Mỹ chết và 8 bị thuơng trong Trận Ấp Băc:
“2/1/1963:
MỸ THO: Trận Ấp Bắc.- Hai đại đội VC giữ một ấp chiến đấu, khoảng 14 cây số Tây
Bắc Mỹ-tho, và 35 dặm Tây Nam Sàigòn, khiến quân lực VNCH, có thiết vận xa
M.113, phi cơ, pháo binh, và quân số gấp 4 lần bị thiệt hại nặng. Dù chết 19
chết, 33 bị thương, kể cả một đại úy và 1 trung sĩ cố vấn Mỹ, 5 trực thăng bị
bắn rơi. (FRUS 1961-1963, III:1-2; Sheehan 1988, tr. 261-2)
Trong đêm,
lực lượng Việt Cộng an toàn rút khỏi Tân Thới về Đồng Tháp Mười.
Phía VNCH, khoảng 80 binh
sĩ chết, 100 bị thương, 3 cố vấn Mỹ chết và 8 bị thương. [Tin chính thức của
VNCH: 63 chết, 109 bị thương]. Xem báo cáo của Trung Tá John P. Vann ngày
9/1/1963: Kennedy Library, NSF, Vietnam country Series, 1/63)
Đây là trận
đánh được cơ quan tuyên truyền Cộng Sản và giới báo chí Mỹ - điển hình là NEIL
SHEEHAN, phóng viên của hãng thông tấn UPI – coi như một chiến thắng lớn và kiểu
mẫu của Cộng Sản trong cuộc chiến Việt Nam. Theo Sheehan, người tự nhận là học
trò của Trung Tá Vann, Cố Vấn Sư Đoàn 7 BB lúc đó, các sĩ quan VNCH hèn nhát,
không chịu tấn công. Cấp tư lệnh - đặc biệt là Đại Tá Bùi Đình Đạm, tư lệnh Sư
Đoàn 7 và Thiếu Tướng Cao, tư lệnh Quân Đoàn IV từ tháng 12, 1962, những người
mà Vann và Sheehan gọi là “raggedy- ass little bastards” (1988, tr.262) – đã chủ
trương tránh chạm trán với Việt Cộng; và khi đụng trận, chỉ bày vẽ sao
cho Việt Cộng rút lui êm thắm. (Sheehan 1988, tr. 271-7).” [33]
B.- Anh em ông
Diệm muốn mà không thể loại thải hết những sĩ quan từ cấp đại úy trở lên mà ông
thù ghét, đặc biệt là các sĩ quan đã từng gia nhập Đảng Con Ó của Trung Tướng
Nguyễn Văn Hinh và đã tùng tham dự vào âm mưu lật đồ ông Diệm vào đầu tháng 11 năm
1954 Nói về chuyện này, cựu Đại-tá Phạm Văn Liễu kể lại trong cuốn Trả Ta Sông
Núi 1 như sau:
“Ngày 5
tháng 11 (954) tôi đến Bộ Tư Lệnh Quân Khu II để dự buổi họp về cuộc hành quân
tiếp thu Quảng Nam và Quảng Ngãi,… Tôi tới dự phiên họp, có mặt: Cấp đại-tá có
Trương Văn Xương, Tư Lệnh Quân Khu. Cấp trung tá có Tôn Thất Đính, Nguyễn Hữu
Có, Trần Thiện Khiêm. Cấp thiếu-tá có Nguyễn Văn Thiệu, (còn vài người nữa không
nhớ tên) Cấp đại úy có Nguyễn Văn Mạnh, Hồ Văn Tố, Lê Như Hùng, Hoàng Xuân Lãm,
Phạm Anh, Bác-si Ngô Văn Dũng (Y sĩ trưởng, bạn cùng trường LQ/TQT với tôi),
nhiều người mà tôi không nhớ tên, và tôi. (Tôi tham dự với tư cách đơn vị trưởng
đơn vị sẽ dự cuộc hành quân tiếp thu Quảng Nam, Quảng Ngãi). Cấp trung uý có nha
sĩ Các.
Gần mãn
phiên họp, Đại-úy Nguyễn Văn Mạnh, cầm một tờ giấy đi lại chỗ tôi nói: Anh Liễu,
anh em đã ký hết, đến lượt anh ký vào đây.”…
Tôi đọc mảnh
giấy Đại-úy Mạnh trao cho tôi. Đây là một tờ “motion” [tuyên cáo], nội dung là
“triệt để ủng hộ” Trung Tướng Nguyễn Văn Hịnh, “đả đảo và bất tín nhiệm” Thủ
Tướng Ngô Đình Diệm”. Đọc xong, tôi cười nói với Đại-úy Mạnh: “Xin lỗi tôi không
thể ký được…”
Từ năm 1952,
ông Hinh được thăng chức thiếu tướng và ngồ vào ghế Tổng Tham Mưu Trưởng Quân
Đội Quốc Gia Việt Nam. Từ mùa hè năm 1954, được người Pháp khuyến khích và các
sĩ quan trong Đảng Con Ó (do Trung-tá Trần Đình Lan đứ đầu) yểm trợ, ông Hinh ra
mặt chống đối ông Diệm. Đài phát thanh Quân Đội ngày đêm ra rả đả kích chính phủ
độc tài của ông Diệm, và còn mang cả đời tư của ông Diệm ra mà mỉa mai. Nào là
ông Diệm ngày về nước chỉ có một bọc áo quần và hai bàn tay trắng, nay lên mặt
lên mày. Đài phát thanh của ông Hinh (Đài Quân Đội) còn tung ra những tin kiểu
ông Diệm và vợ chồng ông Nhu là một thư “thần bếp” hai ông một bà. Cay độc nhất
là những câu: “Nực cười cho họ Ngô Đình, Trai không có vợ, mượn tình em dâu.”
“Trai không có vợ” đây là ông Diệm. “Em dâu” là Trần Thị Lệ Xuân, vợ ông Nhu,
nhưng là người tình của rất nhiều người.”[34]
C.- Anh em ông Diêm muốn mà không thể thực hiện được ý đồ thay hết tất cả các
sĩ quan nắm giữ các chức vụ đơn vị trưởng từ cấp đại đội trở lên bằng sĩ quan
tín đồ Da-tô, nhưng cũng đã thực hiện được một số nào đó.
3.- Để mặc cho
anh em ông Diệm và nhóm thiểu số tu sĩ Da-tô Việt Nam tha hồ tung tác quản lý
các công việc nội chính ở miền Nam Việt Nam, miễn là đừng quá trớn, đừng quá
trắng trợn và quá lộ liễu khỉến cho nhân dân thế giới công phẫn, gây phiền toái
và làm mất mặt Hoa Kỳ như trường hợp bách hại Phật Giáo và đàn áp học sinh, sinh
viên vào mùa hè năm 1963 (sẽ nói ở sau).
Quyền hành sinh
tội ác, quyền hành càng cao, tội ác càng nặng, quyền hành càng nhiều nắm quyền
càng lâu, tội ác càng chồng chất. Trong lịch sử Việt Nam, chưa bao giờ, có một
tín đồ Da-tô lên cầm quyền như ông Da-tô Ngô Đình Diệm. Cái khốn nạn cho dân
miền Nam là ông Diệm vốn là một tín đồ Da-tô cuồng tín với tất cả ác tính của
một tín đồ Da-tô cuồng tín trong đó có những đặc tính hung dữ và bạo ngược đối
với những người thuộc các tôn giáo khác. Với thực trạng như vậy, khi quyền lực
đã lọt vào trong tay ông ta, tất nhiên là nó sẽ trở hành những phương tiện cho
ông ta biến những ác tính Da-tô của ông ta thành những hành động bạo ngược bách
hại đại khối nhân dân thuộc các tôn giáo khác. Cũng vì thế, ông ta mới nhắm mắt
lao đầu vào việc đẩy mạnh Kế Hoạch Ki-tô Hóa miền Nam bằng bạo lực và bằng tất cả phương
tiện của chính quyền. Hậu quả là hơn 300 ngàn người dân miền Nam bị tàn sát, hơn
nửa triệu người bị tra tấn và cầm tù, Phật Giáo bị bách hại, học sinh, sinh viên
bị truy lùng, bị bắt giam, bị tra tấn và đánh đập tàn nhẫn.(Sẽ nói rõ nơi Mục
XX ở sau).
Do những việc
làm tàn ngược này, các nhà viết sử mới gọi ông Diệm là một thứ Spanish
Inquisitor, liệt kê ông vào danh sách 100 tên bạo chúa ác độc nhất trong lịch sử
nhân loại (như đã nói ở trên), nhân dân thế giới chỉ trích Hoa Kỳ đã nuôi dưỡng
một chế độ độc tài bạo ngược không khác gì các chế độ đạo phiệt Da-tô Tây Ban
Nha trong thời Trung Cổ và chế độ đạo phiệt Da-tô Ante Pavelich ở Croatia trong
những năm 1941-1945. Chính vì vậy mà nhân dân Hoa Kỳ mới cương quyết đòi hỏi
chính quyền Hoa Kỳ phải có một biện pháp tích cực để giải thoát cho nhân dân
miền Nam Việt Nam cái chế độ bạo ngược khốn nạn này.
Con dại cái
mang. Vì cảm thấy có trách nhiệm đã tạo nên và nuôi dưỡng chế độ đạo phiệt Da-tô
tham tàn này, chính quyền Hoa Kỳ mới ra lệnh cho Đại Sứ Nolting phải sử dụng tất
cả khả năng của một nhà ngoại giao để thuyết phục, cảnh cáo, răn đe anh em ông
Diệm và đòi anh em ông ta phải ngưng ngay chính sách bách hại Phật Giáo và đàn
áp học sinh, sinh viên. Có như vậy thì mới có thể xoa dịu lòng căm phẫn của nhân
dân thế giới đối với Hoa Kỳ. Đồng thời, Hoa Kỳ cũng nhắc nhở cho anh em ông ta
biết rằng nhân dân và chính quyền Hoa Kỳ không thể chấp nhận được một chính
quyền do Hoa Kỳ tạo ra và nuôi dưỡng lại có thể đi ngược với đường lối của Hoa
Kỳ và thi hành những chính sách bạo trị bách hại Phật giáo như vậy được.
Thế nhưng, đối
với những tín đồ Da-tô, nhất là khi họ đã có quyền lực, thì việc nói chuyện
thay đổi chính sách bách hại Phật Giáo đối với họ, chỉ là nói chuyện với đầu
gối. Chình vì thế mà những lời thuyết phục, răn đe và cảnh cáo của ông Đại Sứ
Hoa Kỳ Nolting chỉ chuyên nước đổ lá khoai. Thấy rằng ông Đại-sứ Nolting bất
lực, vào khoảng đầu tháng 8/1963, Tổng Thống Kennedy liền triệu hồi ông Nolting
về nước và gửi ông Henry Cabot Lodge thuộc loại diều hâu sang thay thế để cảnh
cáo anh em ông Diệm.
Vốn là loại tín
đồ Da-tô có tất cả những thủ đoạn quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, ăn không nói có
và nói ngược giống như Giáo Hội La Mã, anh em ông Diệm tính kế đặt ông tân Đai
Sứ Hoa Kỳ Henry Cabot Lodge vào tình trạng “đã rồi” bằng cách tối khuya ngày
20/8/1963, ra lệnh cho lực lượng đặc biệt dưới quyền chỉ huy của tên Đại-tá
Da-tô Lế Quang Tung tấn công vào tất cả các chùa chiền khả nghi ở Sàigòn – Gia
Định - Chợ Lớn để bắt hết tất cả các sư sãi và Phật tử khả nghi - mà ai cũng
đáng nghi cả. Các chủa chiến khả nghi tại các tỉnh khác trên toàn lãnh thổ miên
Nam cũng bị những đạo quân thập ác tấn công và càn quét như vậy. Con số nạn nhân
bị bắt và bị giam lên đến hàng ngàn người. Sách Việt Nam Niên Biểu ghi nhận là
1420 người:
“ANDRÉ ĐÔN
(Tướng Trần Văn Đôn) yêu cầu đài VOA loan tin là không phải quân đội đã tham gia
cuộc đàn áp, tấn công các chùa chiền, mà chính là Cảnh Sát Đặc Biệt của Nhu.
Theo Đôn, khoảng 1,420 tăng ni bị bắt giữ khắp miền Nam trong đêm 21/8/1963.”
[35]
Đồng Thời,
chính quyền cũng mở những chiến dịch tổng cản lùng bắt học sinh và sinh viên vì
lúc đó những lớp người trẻ này hàng ngày thường tụ tập tại các sân trường rồi
kéo nhau đi tham dự những cuộc biểu tình chống lại chính sách bách hại Phật Giáo
của chính quyền. Hàng ngàn học sinh , sinh viên bị bắt bị đánh đập tàn nhẫn, lớp
bị giam, lớp bị đưa đi xuống trại Huấn Luyện Quang Trung làm lính. Sự kiện này
được sách 1945-1965 Việc Từng Ngày Hai Mươi Năm Qua ghi nhận:
“Ngày
25/8/1963: Sinh viên, học sinh biểu tình rất đông trước chợ Bến Thành ủng hộ
Phật Giáo. Cảnh sát can thiệp. Có xô xát. Một số người bị thương. Một thiếu nữ
bị chết (Quách Thị Trang), 1,380 người bị bắt đưa xuống trại Huấn Luyện Quang
Trung.”
[36]
Vào ngày này,
người viết, lúc đó là sinh viên năm thứ ba Trường Đại Học Sư Phạm Sàigòn, cũng
tham dự cuộc biểu tình ở Bùng Binh Saigòn. Cô Quách Thị Trang bị cảnh sát bắn
chết ở đây. Khi bị giải tán, anh em kéo nhau chạy đến Trường Luật nằm trên Đường
Duy Tân. Tới nơi, chúng tôi thấy anh em sinh viên đang xúm vào công kêng ông Vũ
Văn Mẫu. Khi đó, ông đã cạo đầu để phản đối chính sách bách hại Phật Giáo của
chính quyền.
Những việc làm
tàn ngược và dã man này của anh em ông Diệm chỉ làm cho ông tân Đại-sứ Hoa Kỳ
Cabot Lodge càng thêm khinh bỉ cái bản chất cuồng tín và ngu xuẩn của anh em ông
Diệm. Trong bức điện tín gửi về Washington, ông Đại-sứ Cabot Lodge tỏ ra hết sức
khinh bỉ anh em nhà Ngô. Dưới đây là nguyên văn bức điện tín này:
"Chủ yếu
chúng nó là một chế chuyên chính Á Châu thời Trung Cổ của loại gia đình cổ điển,
không hiểu gì cả hay rất ít, về các ngành nghề của chính quyền vì dân. Chúng
không thể ăn nói với dân chúng, không thể gây cảm tình với báo chí, chúng không
thể ủy thác quyền hành hay tạo ta niềm tin, chúng không thể hiểu được tư tưởng
chính phủ là công bộc của dân. Chúng nó chỉ quan tâm đến an ninh vật chất
và sự sống còn của chúng, chống lại bất cứ mối đe dọa nào cộng sản hay không
cộng sản."[37]
Tuy nhiên, vì
vào thời điểm này, Hoa Kỳ chưa hòa giải với chính quyền Trung Hoa Lục Địa, miền
Nam Việt Nam còn cần cho Hoa Kỳ dùng làm tiền đốn ở Đông Nam Á để ngăn chặn ảnh
hưởng của phong trào Cộng Sản Thế Giới từ phương Bắc. Cũng vì thế mà Hoa Kỳ
không muốn thay ngựa giữa đường. Cho nên, Tổng Thống Kennedy mới cử phái đoàn
McNamara đến tận Dinh Gia Long vào ngày 29/9/1963 để trực tiếp mặt đối mặt
khuyên bảo, răn đe, cảnh cáo và bảo ông Diệm phải hủy bỏ chính sách bách hại
Phật Giáo và đàn áp học sinh sinh viên, thả hết những người đang bị giam giữ,
nhận lãnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho những nạn nhân do những việc làm
bạo ngược của chính quyền đã gây ra từ ngày 9/5/1963, và dân chủ hóa chính quyền
để cho nhân dân Hoa Kỳ và nhân dân thế giới không còn có lý do chỉ trích và lên
án chính quyền Hoa Kỳ được nữa. Có như vậy, chính quyền Hoa Kỳ mới có thể tiếp
tục hậu thuẫn (hiểu ngầm là để yên) cho ông ở lại chính quyền.
Thế nhưng, vì
quá cuồng tín, ông Diệm đã không nhìn ra những việc làm tội ác của ông ta, và
cũng quến cả chuyện hơn mười năm trước, chính ông đã được Vatican cho người dẫn
đến nước Mỹ thỉnh nhờ Hồng Y Francis Spellman đưa đi giới thiệu với các nhân vật
có thế lực trên sân khấu chính trị để cầu xin họ vận động chính quyền Hoa Kỳ
đưa ông về Việt Nam cầm quyền. Vì không nhớ chuyện cũ như vậy, cho nên anh em
ông Diệm mới nhất định không nghe theo những lời khuyên bảo, răn đe và cảnh cáo
của Phái Đoàn McNamara. Phái đoàn này nói với ông bao nhiêu đi nữa cũng chỉ là
nước đầu vịt. Chúng ta hãy đọc những lời do chính ông McNamara kể lại:
“Tôi bảo
ông Diệm rằng Hoa Kỳ thật tâm muốn giúp miền Nam Việt Nam đánh bại Việt Cộng. Và
tôi nhấn mạnh đến bản chất cuộc chiến là của người Việt Nam; Hoa Kỳ chỉ đến trợ
giúp. Tôi đồng ý với ông rằng có tiến bộ về mặt quân sự, nhưng tôi cố tình và
mạnh mẽ nhắc đến sự bất ổn chính trị của miền Nam Việt Nam, và rằng sự bất ổn
cùng sự đàn áp đã gây nguy hại không nhỏ cho nỗ lực chiến tranh và cho sự hậu
thuẫn của Hoa Kỳ. Do đó cần phải chấm dứt mọi sự đàn áp và tái lập sự ổn định
chính trị.
Ông Diệm
thẳng thừng bác bỏ lời đề nghị của tôi. Ông nói những công kích của báo chí vào
chính phủ và gia đình ông là do sự hiểu lầm về thực trạng của miền Nam Việt Nam.
Mặc dầu
tôi nhìn nhận báo giới có sai lầm, nhưng không thể phủ nhận sự khủng hoảng
nghiêm trọng về niềm tin vào chính phủ miền Nam và vào chính phủ Hoa Kỳ. Ông ta
lại phủ nhận. Ông cáo buộcnhững sinh viên ”thiếu trách nhiệm, thiếu rèn luyện và
chưa chín chắn” bị bắt trong các đợt ruồng bố gần đây. Đáng kính (sợ) thay! Ông
còn nói ông chịu trách nhiệm về sự bất ổn, về vụ Phật Giáo, và làm như vậy là
ông ”quá nhân từ” với họ.
Tôi cũng
ép ông về vụ Bà Nhu, rằng lời tuyên bố không hay và thiếu suy nghĩ của bà ta gây
cho công chúng Hoa Kỳ phẫn nộ. Tôi liền rút trong túi ra một bài báo trích đăng
lời tuyên bố của bà nói về các sĩ quan cấp thấp của Hoa Kỳ tại Việt Nam có ”hành
động như những tên lính cầu may”. Tôi cho ông Diệm biết, nói vậy, tức là lăng
nhục công chúng Hoa Kỳ.
Lối ông
nhìn và thái độ ông lúc ấy cho thấy lần đầu tiên ông tỏ ra thông cảm với tôi,
nhưng rồi, ông lại lên tiếng bênh vực cho bà Nhu. Tôi tiếp: ”Như vậy chưa đủ”.
Vấn đề này rất nghiêm trọng và phải được giải quyết trước khi cuộc chiến chấm
dứt. Max nhắc lại ý kiến của tôi. Ông ta nhấn mạnh cho ông Diệm thấy sự cần
thiết phải có đáp ứng để xoa dịu nỗi bất bình mỗi lúc một gia tăng tại Hoa Kỳ
trước những biến cố gần đây. .”[38]
Đứng trước thái độ ngoan cố của
anh em ông Ngô Đình Diệm, Hoa Kỳ ở vào thế kẹt. Tình trạng này của Hoa Kỳ, khiến
cho người viết nhớ lại câu ngạn ngữ của người Việt Nam ”Làm đầy tớ thằng khôn
còn hơn làm thầy thằng ngu”. Quả thật, vào lúc đó Hoa Kỳ đã làm thầy thằng
ngu Ngô Đình Diệm đã hơn chín năm trường.
Tệ hơn nữa, cái
bản chất phản trắc của Ngô Đình Diệm lại trỗi lên khiến cho ông tính kế phản lại
ông chủ Hoa Kỳ của ông bằng cách cho Ngô Đình Nhu đi thương lượng bí mật với đại
diện chính quyền miền Bắc là ông Phạm Hùng ở một địa điểm trong tỉnh Bình Tuy
vào mùa xuân năm 1963. Dĩ nhiên là việc làm phản trắc này đều được Hoa Kỳ biết
hết. Từ ngàn xưa, ở bất cứ nơi nào, trong bất cứ tổ chức hay cộng động nào,
những phường phản trắc đều bị người đời khinh bỉ, ghê tởm và cần phải khử diệt.
Đây là quy luật chính trị và cách mạng, và thằng tam đại Việt gian Ngô
Đình Diệm cũng không đi ra ngoài cái quy luật chính trị và cách mạng này.
Cũng nên biết
ông Diệm đã từng phản nước, phản dân tộc, phản vua Bảo Đại, phản lại người Pháp
tức là phản chủ, phản bạn là ông Trần Văn Lý. Vấn đề này sẽ được trình bày đầy
đủ trong một tiểu mục khác ở sau.
Như vậy là
việc anh em ông Ngô Đình Diệm đang thực hiện âm mưu bắt tay với chính quyền Miền
Bắc để đuổi Hoa Kỳ ra khỏi Miền Nam Việt Nam. Có giả thuyết cho rằng sự kiện anh
em ông Ngô Đình Diệm bắt tay với chính quyền Miền Bắc là một sự kiện có thật,
không ai có thể chối cãi, nhưng họ lại cho rằng đây chỉ là một sách lược của nhà
Ngô và cũng có thể là của phe Bảo Thủ trong Đế Quốc Vatican sử dụng để bắt chẹt
(blackmail) Hoa Kỳ với hy vọng Hoa Kỳ sẽ nhượng bộ, không làm áp lực, đòi chính
quyền Ngô Đình Diệm phải thay đổi chính sách bách hại Phật Giáo, đàn áp học
sinh, sinh viên và các thành phần đối lập về chính trị. Nhưng cả anh em ông Ngô
Đình Diệm và phe Bảo Thủ trong Đế Quốc Vatican có ngờ đâu làm như vậy là dồn Hoa
Kỳ vào bước đường cùng, đường cùng trong cảnh đã lỡ “Làm thày thằng ngu”. (Châm
ngôn: Làm đầy tớ cho thằng khôn còn hơn làm thầy cho thằng ngu).
Vô kế khả thi,
Hoa Kỳ phải bỏ rơi ông ta như bỏ đi một đôi giầy rách. Hành động này của Hoa Kỳ
không khác nào Hoa Kỳ đã để mặc cho quân dân miền Nam tự do xử trí anh em ông
Diệm và băng đảng Cần Lao Công Giáo. Vì thế, cả ba anh em ông mới phải đền tội
trước nhân dân Sàigòn vào sáng sớm ngày 2/11/1963 và ngày 9/5/1964. Đúng là trời
cao có mắt. Lưới trời tuy thưa mà khó lọt “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất
lậu”.
Ông Ngô Đình
Diệm là một tín đồ Da-tô cuồng tín. Cuồng tín là tổng hợp của tất cả những đặc
tính ngu, dốt, thỉển cận và nếu có quyền lực thì trở nên hung dữ, bạo ngược và
ác độc. Thế nhưng, đối với Giáo Hội La Mã, tín đồ càng cuồng tín thì càng tốt,
được gọi là con chiên ngoan đạo, và càng khả dụng, vì rằng những hạng người này
luôn luôn tỏ ra tuyệt đối trung thành với Vatican và triệt để thi hành những
lệnh truyền của các đấng bề trên của họ. Nói như thế, có nghĩa là họ luôn luôn
tuân thủ chủ trương tôn giáo chỉ đạo chính quyền. Cái “ý niệm trật tự trên
dưới: Nhất Chúa, nhì Cha, thứ ba Ngô Thổng Thống” mà nhà văn Da-tô Nguyễn
Ngọc Ngạn nêu lên nơi trang 18 trong cuốn Xóm Đạo chính là chủ trương “tôn giáo
chỉ đạo chính quyền” đã được triệt để thì hành ở miền Nam Việt Nam trong những
năm ông Diệm cầm quyền.
Chính vì vậy mà
anh em ông Diệm mới hồ hởi tiến hành chính sách Ki-tô hóa miền Nam bằng bạo lực
và bằng tất cả phường tiện của chính quyền theo đúng tinh thần Sắc Chỉ Romanus
Pontifex như đã nói ở trên. Cũng vì thế mà Phật Giáo ở miền Nam mới bị bách hại.
Thế nhưng, đối
với Hoa Kỳ, việc ông tỏ ra vô cùng hồ hởi theo đuổi chủ trương “tôn giáo chỉ đạo
chính quyền” và triệt để tuân hành những lệnh truyền của Vatican một cách hết
sức thô bạo như vậy đã trở thành hết sức phiền toái cho Hoa Kỳ. Phiền
toái ở chỗ Hiến Pháp Hoa Kỳ quy định rõ ràng rằng “tôn giáo phải tách
biệt rời khỏi chính quyền”, ấy thế mà chính quyền của ông Diệm do chính
quyền Hoa Kỳ tạo nên và nuôi dưỡng lại thi hành chủ trương “Tôn giáo chỉ đạo
chính quyền”. Phiền toái ở chỗ là Hoa Kỳ cứ 4 năm lại có cuộc bầu cử
để thay đổi người lãnh đạo cơ quan hành pháp, và mỗi vị tổng thống không được
tái cử quá một lần, thì ông Diệm lại chủ trưởng ở lại ngôi vị tổng thống trọn
đời. Phiền toái ở chỗ đối với người Hoa Kỳ, quyền hành của người lãnh đạo
cơ quan hành pháp cũng bị giới hạn bởi hiến pháp và bất kỳ người dân Hoa Kỳ nào
kể cả tổng thống cũng phải tuân hành luật pháp và không được làm điều gì phi
hiến, thì Tổng Thống Diệm lại tuyến bố “đằng sau hiến pháp còn có tôi”.
Và phiền toái ở chỗ là chính quyền Hoa Kỳ chỉ có thể hậu
thuẫn và bao che cho ông khi những việc làm của ông tại Việt Nam
không gây phiền toái cho họ, và chính quyền Hoa Kỳ cũng không thể để cho ông ở
lại chính quyền khi ông trở thành cái gai trước mắt họ. Một khi những việc làm
của ông trở thành phiền toái khiến cho dư luận Hoa Kỳ phải lên tiếng và đặt vấn
đề với chính quyền (Hoa Kỳ), thì họ phải có hành động đòi hỏi ông phải sửa sai
hay thay đổi chính sách cai trị để khỏi gây phiền toái cho họ nữa. Có như vậy
thì họ mới để cho ông tiếp tục làm việc cho họ.
Vì ít học, vì
cuồng tín về tôn giáo, vì không đọc và không học lịch sử thế giới, cho nên ông
Diệm không hiểu được trào lưu tiến hóa của nhân loại. Tình trạng này đã làm cho
ông trở thành một thứ “ếch ngồi đáy giếng”. Vì là ếch ngồi đáy giếng,
ông ta không có đủ khả năng nhìn thấy việc ông triệt để thi hành những lệnh
truyền của Giáo Hội La Mã một cách quá thô bạo như vậy đã gây ra không biết bao
nhiêu đau thương khốn khổ cho nhân dân miền Nam. Tình trạng này khiến cho nhân
dân Hoa Kỳ và nhân dân thế giới vô cùng khinh bỉ ông, hết sức công phẫn đối với
ông và đối với chính quyền Hoa Kỳ (vì đã tạo nên và nuôi dương chế độ của ông).
Nhiên hậu, những việc làm của ông trở thành phiền toái cho chính quyền Hoa Kỳ.
Cũng vì thế mà ông mới bị quan thày Hoa Kỳ ngoảnh mặt để cho các vị tướng lãnh
chỉ huy cuộc Cách Mạng 1/11/1963 bứt đi cái gai cho họ, và cũng là giúp cho anh
em ông được “lên thiên đường thẳng ro ro” như ông đã giúp ông Ba Cụt vào
ngày 13/7/1956.
III.- TẠI SAO LẠI GỌI NGÔ ĐÌNH DIỆM LÀ:
“THẰNG TAM ĐẠI VIỆT GIAN?”
Thế hệ thứ
nhất, trong lá thư đề ngày 21/8/1944 gửi cho Toàn Quyền Jean Decoux, Giám-muc
Ngô Đình Thục khẳng địng rằng thân phụ ông, tức là ông Ngô Đình Khả “đã phục
vụ nước Pháp ngay từ khi Pháp mới đến An Nam, và đã nhiều lần đưa mạng sống cho
nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi cầm đầu, dưới quyền của Nguyễn
Thân, chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đình Phùng chỉ huy, tại Nghệ An và Hà
Tĩnh.”

Thế hệ thứ hai,
Ngô Đình Khôi là đứa con đầu lòng của Ngô Đình Khả cũng làm quan cho liên minh
giặc Pháp - Vatican và làm đến chức Tuần Vũ Quản Ngãi vào năm 1926, Tổng Đốc
Quảng Nam vào năm 1930, và từ năm 1933 được thăng lên chức Kinh Lược các tỉnh
miền Nam Trung Kỳ.
Ngô Đình Diệm
được quan thày Pháp – Vatican cho nắm giữ chức tri huyện huyện Hải Lăng vào năm
1922. Năm 1928, ông được thăng lên chức Tuần Vũ Bình Thuận, và năm 1933, ông
được thăng lên chức Lại Bộ Thượng Thư tại triều đình bù nhìn Huế.
Thế hệ thứ ba,
Ngô Đình Huân, con trai của Ngô Đình Khô,i làm mật vụ đắc lực cho giặc Nhật và
được Nhật cho làm bí thư cho Đại Sứ Nhât Yokoyama tại Huế
Một sự kiện cần
phải biết là lịch sử đã khẳng định rằng (2) Liên Minh Pháp – Vatican là một thế
lực xâm lăng cưỡng chiếm nước ta làm thuộc địa, và (2) nhân dân ta đã liên tục
nổi lên tổ chức những lực lượng nghĩa quân để đánh đuổi cái liên minh giặc xâm
lăng này từ năm 1858 cho đến năm 1954. Như vậy, không ai có thể chối cãi được
những người Việt Nam làm việc hay làm quan cho quân giặc xâm lăng này đều bị lên
án là phản quốc và gọi là Việt gian. Hoàng Gia Mô làm tri huyện Vĩnh Bảo (Hải
Dương) bị Việt Nam Quốc Dân Đảng dưới quyền lãnh đạo của nhà ái quốc Nguyễn Thái
Học lên án phản quốc, bị gọi là Việt gian và bị xử tử vào đêm ngày 15/2/1930.
Không phải chỉ có một mình Hoàng Gia-Mô mới bị lên án phản quốc và gọi là Việt
gian, mà tất cả những người làm quan hay làm việc đắc lực cho giặc như Trần Bá
Lộc, Lê Hoan, Linh-mục Trần Lục, Hoàng Cao Khải, Lê Phát Đạt, Đỗ Hữu Phưong,
Hoàng Trọng Phu, Nguyễn Duy Hàn, Petrus Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn
Bá Tòng, Nguyễn Hữu Bài, Cung Đình Vận, Vi Văn Định, v.v… đều bị người Việt
Nam và lịch sử lên án là phản quốc và gọi là Việt gian.
Nhìn vào thành
tích làm tay sai cho liên minh giặc xâm lăng Pháp – Vatican và giặc Nhật của
ông Ngô Đình Khả, các con của ông là Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Diệm, và người cháu
của ông ta là Ngô Đình Huân, chúng ta có thể khẳng định rằng gia định họ Ngô
Đình có tới ba đời nối tiếp nhau làm Việt gian bán nước cho quân cướp ngoại thù.
Chính vì lẽ này mà lịch sử mới gọi Ngô Đình Diệm là thằng “tam đại Việt gian”.
IV.- DIỆN MẠO: CẶP MẮT VÀ DÁNG ĐI
Những phần
trình bày ở trên cho chúng ta thấy rằng đặc tính cuồng tín về tôn giáo đã trở
thành yếu tố vô cùng quan trọng trong cuộc đời lên voi xuống chó của ông Ngô
Đình Diệm. Vì lý do này, khi viết về cuộc đời của ông, các nhà viết sử không thể
bỏ sót yếu tố cuồng tín về tôn giáo này của ông. Thế nhưng, viết về cuộc đời một
nhân vật lịch sử mà chỉ nói đến yếu tố cuồng tín về tôn giáo, một yếu tố hoàn
toàn có tính cách nhân tạo, nếu không nói đến những yếu tố bẩm sinh khác như
tướng mạo (nhân hiền tại mạo), cặp mắt (con mắt là cửa sổ của tâm hồn) dáng đi
(người làm sao, chiêm bao làm vậy) thì quả thật là thiếu sót hết sức lớn lao.
Người Việt Nam
ta có hai câu ca dao:
“Trông mặt mà
bắt hình dong.
Con lợn có béo
thì lòng mới ngon.”.
Ngoài hai câu
ca dao trên đâu, dân ta lại còn có những thành ngữ như “Nhân hiền tại mạo,
trắng gạo ngon cơm” và “Người làm sao, chiêm bao làm vậy”. Mấy
câu ca dao và thành ngữ trên đây là để nói lên cái tâm tính bẩm sinh của con
người được thể hiện ra diện mạo và tuớng tinh của họ. Như vậy, diện mạo và tướng
tinh của mỗi người là ngôn ngữ hay dấu hiệu để nói lên cái tâm tính ẩn tàng ở
bên trong con người đó, và tâm tính của mỗi người sẽ được bộc phát ra thành
hành động vào những khi có cơ hội.
Ông Ngô Đình
Diệm đã từng nắm giữ chức vụ tổng thống ở miền Nam với quyền lực sinh sát trong
tay ròng rã hơn chín năm trời. Như vậy, tâm tính và hành động của ông tất nhiên
có liên hệ đến đời sống và sinh mạng của gần 20 triệu người dân miền Nam Việt
Nam. Do đó, chúng ta cũng cần phải nên biết đến tướng mạo, cặp mắt và dáng đi
của ông để suy đoán ra tâm tính của con người ông ta, và đặc biệt nhất là những
hành động khi ông hành xử chức vụ tổng thống của Miền Nam Việt Nam trong thời
gian hơn chín năm trời.
Nói tới ông
Diệm là người ta thừong nói “Diệm lùn.” Thực ra, trong xã hội loài người có rất
nhiều người lùn như ông. Trong những người lùn này, có những danh nhân lừng danh
trong lịch sử nhưông Án Anh nước Tề đời Tề Cảnh Công (trước Đức Khổng Tử độ mấy
chục năm), Hoàng Đế Napoléon Đệ Nhất (1769-1821) trong thời Cách Mạng Pháp 1789,
ông Đặng Tiểu Bình của nước Trung Hoa trong thời hiện đại (1904-1997), Đại Tướng
Võ Nguyên Giáp (1912 - ) của Việt Nam, v.v… Theo sự hiểu biết của người viết,
tại miền Nam vào những năm 1954-1975, ngoài ông Ngô Đình Diệm ra, còn có nhiều
người khác cũng lùn như ông Diệm hay còn lùn hơn nữa. Những nguời đó là
Bác-sĩ Trần Kim Tuyến, Bác-sĩ Nguyễn Tiến Hỷ, Bác-sĩ Lý Trung Dung, Giáo-sư Vũ
Quốc Thông, Giáo-sư Hoàng Gia Lịnh (Giám Đốc Ban Văn Chương Trương Đại Học Sư
Phạm Sàigòn trong những năm 1961-1965), Thiếu Tá Trần Bá Quý (Không Quân), v.v…
.
Tìm hiểu tiểu
sử của họ, người viết được biết những nhân vật lùn trên đây, ngoài cái thân hình
lùn bé nhỏ ra, họ không có một nét khác thường nào được gọi là “ác tướng” hiện
ra trên khuôn mặt, nơi cặp mắt hay dáng điệu khi cất bước di chuyển. Trái lại,
ông Ngô Đình Diệm, ngoài cái tướng lùn ra, còn có những ác tướng hay tướng xấu
khác. Các ác tướng hay tướng xấu này được chính những nhà trí thức hay những
người đã từng tiếp xúc và đã đối diện với ông ghi lại. Đó là cái tướng “đi
lạch bạch hai cánh tay bơi như rùa”, cái tướng “bạch diện vô tu”,
cái tướng “cặp mắt trắng bệch, tròng trắng nhiều hơn tr |