CƯỚP CHÙA, CHIẾM ĐẤT XÂY NHÀ THỜ
VÀ CƯỚP ĐOẠT RUÔNG ĐẤT CỦA NHÂN DÂN
Tu sĩ Desmond Tutu, người chiếm giải Nobel về Hòa Bình vào
năm 1994, đã nói:
"Chúng tôi có đất đai và họ tới với cuốn Thánh Kinh
của họ. Chúng tôi tin họ, cầm cuốn Thánh Kinh trên tay, nhắm mắt cầu nguyện. Khi
chúng tôi mở mắt ra, chúng tôi có cuốn Thánh Kinh và họ có đất đai của chúng tôi."Nguyên
văn: "We have our lands and they came here with their Bible. We believed in
them and we pray with the Bible in our hands and our eyes closed. When we opened
our eyes, we have the Bible and they have our lands.")[50]
Chủ đích của chương này là trình bày những thành tích của
Giáo Hội La Mã về những hành động cướp chùa, chiếm đất xây nhà thờ và cưỡng đoạt
ruộng đất của nhân dân ta trong thời kỳ 1862-1945.
CƯỚP CHÙA, CHIẾM ĐẤT ĐỂ XÂY NHÀ THỜ
Nói về thành tích của Giáo Hội La Mã trong những hành
động cướp chùa và chiếm đất để xây nhà thờ trong thời gian từ khi Giám-mục
Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) cặp kè với Chúa Nguyễn Ánh vào giữa thập niên
1780 cho đến ngày 30/4/1975, tác giả Tường Minh - Chu Văn Văn Trình ghi lại
trong cuốn Rơi Mặt Nạ một số những vụ lừng danh với nguyên văn như sau:
1.- Cướp đất Chùa Bà Đá (Chùa Linh Quang).-
“Chùa Bà Đá (Chùa Linh Quang) ở thôn Tự Tháp, huyện Thọ Xương, nay là phố Nhà
Thờ, Hà Nội, chùa xây từ thời nhà Lý. Năm Tự Đức (Thứ Ba) Canh Tuất 1850, sư trụ
trì chùa là Giác Vượng quyên góp thập phương để tu sửa” [Ngô Đức Thọ: Tự Điển
Văn Hóa Việt Nam, 1993, tr. 418.]
Ngày 8/5/1883 (dịp Phật Đản), thời
Toàn Quyền Paul Bert, “nghĩa quân Sơn Tây dẫn quân Cờ Đen đánh mấy đồn dân Giáo
(Da-tô) ở ấp Giáp Bát. Tối hôm sau (9/5/1883), dân Nghĩa Hội phối hợp với quân
Sơn Dũng vây đánh lính tay sai của giặc ở nhà thờ Hàm Long là nơi giặc đã giao
cho nhiều vũ khí để bảo vệ vòng ngoài cho chúng….
Sau đó đánh khu Nhà Chung, vào đến bên trong Nhà Thờ.
Tức thì có tiếng súng từ các góc bắn ra. Cuộc chiến đấu trở nên ác liệt, bọn
giặc chạy đến tượng đức mẹ chui vào cửa sau tượng rồi chạy sang chùa Bà Đá. Gồm
9 tên: ba linh mục Pháp là Cố Lan, Cố Mỹ, Cố Phước (Landais, (Rival, Bertrand),
một quan một (thiếu úy) và mấy thủy thủ tầu Phăng Pha (Fanfare) cùng với con mụ
Be (Beirie).” [Chu Thiên, Bóng Nước Hồ Gươm Quyền 2 (Hà Nội: Văn Học, 1985), tr.
121-123.]
Sau khi được vị sư trụ trì của chùa Bà Đá cứu mạng, bọn
Da-tô đã trả ơn nhà chùa bằng cách chiếm ruộng đất nhà chùa và của dân làng Phú
Tô, chia hai cho Nhà Chung (Da-tô) và tên Jean Dupuis xây Nhà Thờ và nhà Gạch
như hiện nay.”
2.- Chùa Báo Thiên (Chùa Sùng Khánh Báo
Thiên) ở Hà Nội bị Da-tô phá, cướp đất xây Nhà Thờ Lớn .- “Chùa Báo Thiên
(Chùa Sùng Khánh Báo Thiên) ở phường Báo Thiên, Hà Nội xây dựng vào năm 1056 và
Tháp Bảo Thiên 12 tầng xây vào năm 1057 trong đời Lý Thánh Tông. Cuối thời Lê
(cuối thế kỷ 18) chùa bị hoang phế vì nạn Kiêu Binh. Đầu đời Tự Đức, Tổng Đốc
Tôn Thất Bật theo nền chùa cũ xây sửa lại.
Năm 1883, cố đạo thực dân Puginier
cấu kết với Tổng Đốc Hà Nội là Da-tô Việt gian Nguyễn Hữu Độ phá chùa, “thực dân
Pháp lấy lô đất thuộc thôn Tự Tháp, huyện Thọ Xương để xây Nhà Thờ Lớn Hà Nội.
Vị trí chùa cũ ở vào khoảng bên phải Chùa Lý Quốc Sư đến đầu phố Nhà Chung, quận
Hoàn Kiếm Hà Nội.” [Ngô Đức Thọ Tự Điển Di Tích Văn Hóa Việt Nam (Hà Nôi: NXB
Khoa Học Xã Hội, 1993), tr 76, và Bùi Thiết, Từ Điển Hà Nội Địa Danh (Hà Nội:
NXB Văn Hóa Thông Tin, 1993), tr 26-27.]
3.- Chùa Lá Vàng ở Quảng Trị bị Da-tô cướp đổi thành
Nhà Thờ La Vang.- La Vang là tên gốc của làng Cổ Vưu có từ thời Nhà
Lê, đến đời Gia Long đổi là phường Lá Vàng, nằm ở phía Tây đồn Dinh Cát, thủ phủ
địa đầu của Việt Nam từ năm 1307, khi vua Chiêm Thành Chế Mân hiến dâng Nhà Trần
hai châu Ô và Lý làm lễ cưới Huyền Trân Công Chúa. Hiện nay La Vang (Lá Vàng)
thuộc xã Hải Phú, quận Mai Lĩnh, tỉnh Quảng Trị, ở về phía nam Quảng Trị khoảng
6 km và ở về Bắc Phú Xuân (Huế) khoảng 58 km.
Năm 1797, “Vua Cảnh Thịnh Nhà Tây Sơn đã có lần bắt được
mật thư của Nguyễn Ánh gửi Giám-mục Labarlette, xin giám mục tổ chức một đạo
quân nội ứng gồm tín đồ Ki-tô Giáo tại chỗ, tiếp trợ cho lực lượng quân đội Pháp
chỉ huy đánh từ ngoài vào.” (Le roi Canh Thinh des Tay Son intercepta un jour
une lettre secrête que Nguyen Anh avait envoyé à Mgr Labarlette, lui demandant
d’organiser à l’interieur une armée de chretiens) pour seconder les forces
commandés par les francais.) - (Trần Tam Tinh , Dieu et César, Les Catholiques
Dans Lihistore du Vietnam, 1978, p. 29).
Chính vì thế Nhà Tây Sơn buộc phải triệt hạ Da-tô, nên:
Ngảy 17/8/1798, Vua Cảnh Thịnh ra sắc dụ cấm đạo Da-tô
kể từ Phú Xuân đến Bắc Hà, vì đây chỉ là “đạo dạy mê tín, dối gạt dân chúng và
làm đảo lộn trật tự xã hội.” [Tạ Chí Đại Trường, Lịch Sử Nôi Chiến Ở Việt Nam
[California: An Tiêm, 1991), tr. 309.]
Năm 1823, dưới triều Minh Mạng, chùa Lá Vàng thờ Phật Bà
Quan Âm bị những người Da-tô cướp phá và đổi thành nhà thờ La Vang Phật Bà Quan
Âm đổi thanh Ma ria đồng trinh.” [51]
Ngoài những vụ ăn cướp chùa trên đây, sách này còn
ghi nhận những hành động cướp đất và tiền bạc dưới đây cũng do Giáo Hội La Mã
chủ trương, xin tóm lược như sau:
4.- "Chùa Thiên Mụ xây năm 1601 bị Da Tô đánh cướp 32
pho tượng vàng y.”
5.- Chùa Diệu Đế bị Da-tô cướp đất:
Năm 1885, Chính quyền Da-tô Thực Dân lấy Cát Tường Tư
Thất làm sở đúc tiền và lấy Trí Tuệ Tịnh Xá làm phủ đường Thừa Thiên - lấy một
tăng phòng làm Nhà Lao của tỉnh và một tăng phòng làm trụ sở cho trụ sở cho
Khám Thiên Giám.
Năm 1887, chính quyền Da-tô triệt hạ một số căn nhà khác
trong chùa..
Năm 1910, chính quyền Da-tô lại triệt hạ Đào Nguyên và
thay vào bằng hai nhà nhỏ thờ Kim Cang. [Nguyễn Quang Tuân, Những Ngôi Chùa Danh
Tiếng, 1991, tr.115] .
6.- Chùa Giác Hoàng bị cướp phá.- Chùa Giác Hoàng là “Một
trong hai mươi thắng cảnh Thần Kinh đã được Vua Thiệu Trị làm thơ ca tụng có ghi
trong Ngự Chế Thi Tập.”, đã bị Da-tô đánh cướp vào năm 1885.
7.- Da-tô cướp chuông chùa - cướp đất nghĩa trang anh hùng Văn Thân - Cần
Vương xây nhà thờ Da-tô. Chuông nhà thờ Phát Diệm. “Đây là một quả
chuông đồng pha vàng do Trần Lục ngày xưa đem quân đi đoạt ở một ngôi chùa nào
xa lắm – đem về dâng nhà thờ Phát Diệm.” [Chu Thiên: Bão Biển,1978, tập1, tr
149.]
Nhà thờ Da-tô đối diện với Tòa Hành Chánh tỉnh Quảng
Ngãi xây trên nền Nghĩa Trang các anh hùng liệt sĩ Cần Vương và Văn Thân.
8.- Nhà thờ Lớn ở Sàigòn: Nhà Thờ Lớn ở Sàigòn (hiện nay là nhà
thờ Đữc Bà, Vương Cung Thánh Đường) được xây trên nền một ngồi chùa bị phá. Sách
“Sàigòn Năm Xưa” xuất bản năm 1960, trang 218, tác giả Vương Hồng Sển viết:
“Từ ngày Pháp chiếm Sàigòn, Đức Cha hành lễ tại một ngôi
chùa hoang phế và sử tạm dùng làm thánh đường.”
Ngày 7/10/1877, Cố ĐạoThực Dân Colombert đặt viên đá đầu
tiên xây ngôi thánh đường tạm thành “nhà thờ Đức Bà” đến ngày 11/4/1880 lễ hoàn
thành.
Ngày 7-8 tháng 12/1960, dưới thời Da-tô phản quốc Ngô
Đình Diệm, Vatican phong cho nhà thờ lớn Sàigòn là “vương cung thánh đường”.
9.- GM Nguyễn Văn Thuận ăn cướp đất ở bờ biển Hòn Chồng để xây Giáo Hoàng
Chủng Viện.
10.- Linh-mục Ngân ở Quảng Ngãi cướp đất của thị xã
Quảng Ngãi để xây nhà thờ. Y cũng nuôi ý đồ cướp đất chùa Bút Tháp, âm mưu đang
tiến hành thì chế độ Diệm đổ…
11.- Linh-mục Vàng thuộc “Trung Tâm Nhân Vị” ở Vĩnh
Long đã cắm thập ác trên núi Ngũ Hành trong phạm vi Chùa Non Nước với ý đồ cướp
đất Chùa Non Nước.
12.- Linh-mục Đinh Xuân Hải lấn đất của một ngôi chùa ở
Hóc Môn (Nam Việt).
13.- Giám-mục Ngô Đình Thục và Trần Lệ Xuân ăn cắp 18 tỷ đô la gửi vào ngân
hành Vatican.”[52]
Trong số 13 vụ cướp chùa, cướp đất xây nhà thờ và cướp của
được nêu ra trên đây, có 8 vụ xẩy ra trước năm 1945 và 5 vụ xẩy ra trong những
năm 1954-1975 ở miền Nam Việt Nam.
CƯỠNG ĐOẠT RUỘNG ĐẤT CANH TÁC
CỦA NHÂN DÂN TA TRONG THỜI KỲ 1862-1945
Tại Việt Nam, trong những năm 1862-1940, dựa vào chính
quyền bảo hộ Pháp - Vatican, Giáo Hội La Mã đã cướp đọat được cả một khối bất
động sản khổng lồ, đặc biệt là ruộng đất canh tác của nhân dân ta. Trong cái
khối tài sản này, Giáo Hội đã chiếm đọat đến 25% (1/4) toàn thể diện tích ruộng
đất trồng trọt ở Nam Kỳ, chưa nói đến ở Trung Kỳ và Bác Kỳ. Sự kiện này được
Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi lại rõ ràng trong cuốn Thập Giá Và Lưỡi Gươm với
nguyên văn như sau:
"Việc phát triển Công Giáo trước hết là về mặt
kinh tế. Nhằm tỏ lòng tri ân đối với các hoạt động thừa sai, ngày 28-8-1862,
tức chỉ 2 năm sau khi chiếm được ba tỉnh ở Nam Kỳ, toàn quyền thực dân đã ra
nghị định dâng "nhưng không cho Nhà Chung mạn Tây Nam Kỳ, hoàn
toàn được chủ quyền về một sở đất tọa lạc tại Sàigon". Đàng khác, mặc dầu có
luật tách biệt nhà thờ khỏi nhà nước được bỏ phiếu vào năm 1905 và áp dụng tại
"mẫu quốc" rồi, luật đó vẫn không bao giờ được công bố và áp dụng tại đất thuộc
địa. Nhiều vụ nhượng đất đai đã được thực hiện cho Nhà Chung, chẳng hạn những
năm 1923, 1926, 1927, 1929, 1930, 1931, không nói tới các vụ hiến đất
"cách riêng tư", một số quan người Pháp đã lấy đất công dâng cho Nhà Chung thể
theo lòng đạo đức cá nhân của họ.
Năm 1939, tài sản của Nhà Chung
thừa sai Pháp trị giá trên năm (5) triệu, tức năm mươi (50) triệu quan tiền
Pháp. Trị giá đó là chính thức, nhưng theo các luật gia thuộc địa Caratini và
Grandjean thì thấp hơn giá trị thực tế và không bao gồm tất cả các tài
sản của Giáo Hội, vì đã bỏ ra ngoài các của cải các xứ đạo và nhiều pháp
nhân giáo hội khác vốn có quyền sở hữu. Tài sàn Nhà Dòng Đa Minh Tây Ban Nha
cũng rất quan trọng. Nói cho đúng, một phần các tài sản của Dòng, nhất là đất
đai và ruộng vườn thường là của trối, hoặc của dâng cúng từ phía giáo dân.
Nhưng các Nhà Chung được liệt vào hạng địa chủ lớn nhất của thời ấy.
Cũng có thể nhắc đến một số đặc ân quan trọng.
Nhờ một nghị định ngày 8-2-1868, Giám-mục Sàigon được miễn cước phí về toàn bộ
thư tín chính thức gửi cho nhà cầm quyền và cho các thừa sai. “Năm 1877, người
ta cũng cho Tòa Giám Mục Sàigòn được miễn phí khi đánh điện tín theo nhu cầu
công việc của Nhà Chung. Ngày 22-8-1867, một quyết định của nhà nước thuộc địa
ra lệnh cấp cho Tòa Giám Mục Sàigòn 4000 (4 ngàn) quan. Sau cùng, theo nghị định
ngày 14-12-1868, "các phần tử giáo sĩ tại thuộc địa khi đi dưỡng sức thì được
trả cho 50% phí tổn trong 5 tháng nghỉ đầu". Năm 1872, chính quyền Nam Kỳ ban
cho Nhà Chung Sàigon một khoản trợ cấp hàng năm là 170,000 (170 ngàn) tiền Pháp.
Số tiền này bị cắt từ năm 1882 theo sau việc khiếu nại của những người ngoài
Công Giáo. Năm 1887, nhà nước Nam Kỳ đã cấp cho các Nhà Chung ở Bắc và Trung
Việt Nam số tiền là 50,000 (50 ngàn) quan Pháp.[53]
"Tháng 7 năm 1924, tại Đại Hội V
Cộng Sản Quốc Tế, thanh niên Hồ Chí Minh lúc đó gọi là Nguyễn Ái Quốc, đã lên
tiếng cảnh cáo chủ nghĩa thực dân bóc lột và vai trò của Giáo Hội trong chuyện
này. Chỉ một mình Nhà Chung Công Giáo mà chiếm hết một phần tư đất
trồng trọt ở Nam Kỳ. Phương thế chiếm hữu các đất đai đó rất là đơn giản:
Dùng tham nhũng, hối lộ và cưỡng ép. Đây là một vài ví dụ rõ ràng. Nhà
Chung lợi dụng khi mất mùa để cho nông dân vay tiền. Tiền lời cho vay rất nặng,
nên con nợ sẽ không thanh toán nổi khi tới ngày trả, và như thế là đất cầm trở
thành đất Nhà Chung. Giáo Hội không từ một việc nào để nắm những giấy tờ hệ lụy
bí mật và nhờ đó dọa dẫm các quan chức, bắt họ phải làm theo ý mình muốn. Giáo
Hội cũng liên minh với những tay tài phiệt để khai thác các vùng đất nhượng cho
không và những thửa ruộng cướp được của nông dân. Giáo Hội có người của mình nắm
giữ những vai trò thế giá trong chính quyền thuộc địa…"
"Ai cũng biết, những lời phê bình kể trên rất
phù hợp với một phần sự thật. "Paul Mené trong cuốn "Pháp và An Nam Giữa Hai Lằn
Đạn" (Paris 1928) không nói ngược lại. .Ông viết: "Hội Nhà Chung được tổ chức
hùng mạnh ở Nam Kỳ. Nhà Chung rất giầu có, chiếm hữu nhiều vùng đất bao la và có
nhiều bổng lộc quan trọng tại phần lớn các xí nghiệp địa phương, nhờ những
khoản tiền vốn Nhà Chung bỏ vào đó, nhân danh Nhà Chung hoặc phần nhiều là qua
trung gian người thứ ba. Trong thời gian Pháp xâm lăng Việt Nam, Nhà Chung đóng
một vai trò quan trọng như ai cũng biết. Nhà Chung đã tổ chức một hệ thống
tình báo hoàn bị, cung cấp tin tức cho biết tất cả những gì liên hệ tới những
con người, những công ty, những công cuộc, những hành động và phương án chính
trị tại Đông Dương. Nhà Chung đã đặt được người thân tín của mình vào tất cả các
cơ quan, vào hầu hết các xí nghiệp tại các trung tâm lớn cũng như tận cùng những
tỉnh xa xôi."
"Trong một báo cáo mật gửi lên Toàn Quyền Đông
Dương, viên Thống-sứ Nam Kỳ đã trình với quan thầy rằng: "Không nên quên
rằng từ những năm đầu cuộc chiếm đóng của chúng ta, Nhà Chung đã quan tâm cho
được chiếm cho được tại Nam Kỳ những tài sản khổng lồ. Nhà Chung có tất cả
28.500 hecta ruộng, không kể đất đai ở thành thị cũng như các bất động sản và
của cải khác. Tại Miền Tây Nam Kỳ, Nhà Chung làm chủ vùng đất lớn rộng tới ba
bốn hoặc sáu ngàn hecta". (Sàigon 14-12-1934)[54].
Trong lá thư gửi Giáo Hoàng John Paul II của ông Vũ Trọng
Minh đăng trong cuốn Đối Thoại Với Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ II, trong đó có mấy
đoạn nói về việc Giáo Hội đã chiếm đoạt ruộng đất và kinh tài bất chính ở Việt
Nam. Dưới đây những đoạn văn này:
"Khi thực dân Pháp chiếm xong Nam Kỳ (miền Nam nước
Việt) thì họ cho một công ty Pháp mở một đồn điền trồng cao su, chạy dài 14 cây
số từ cổng trường bay Tân Sơn Nhất xuống đến Chợ Lớn. Năm 1954, Pháp bị Cộng Sản
đánh bại, phải rút khỏi Việt Nam, họ liền bí mật bán cho nhà Chung, không ai
biết bao nhiêu, nhưng chắc chắn là rẻ mạt vì Hiệp Định Genève đang tiến hành
trước sau cũng mất. Đất bán cho nhà Chung cứ để y nguyên nên ai cũng tưởng là
đất của chính phủ lấy lại của Tây. Đến năm 1970, nhà Chung Công Giáo chia lô làm
nhà ra bán cho người ta mua làm nhà vì dân số đô thành lúc đó đã tăng gấp năm
lần, nhà bán chạy như tôm tươi. Mỗi lô bán trung bình hai trăm năm mươi ngàn
đồng bạc lúc đó. Số tiền bán nhà đất thu về sơ sơ cả mấy trăm triệu, không biết
có gửi về nhà băng Tòa Thánh hoặc các ngân hàng không? Chỉ biết một phần số tiền
đó các Ngài mở ngân hàng Đại Nam. Trước ngày Cộng Sản thống nhất toàn bộ đất
nước, có lẽ các Ngài biết rõ tình hình sắp sụp đến nơi nên thu vốn lại, không rõ
đem đi đâu vì ngân hàng Đại Nam không kèn không trống biến mất tiêu trước ngày
30-4-1975. Thế là đất nước Việt Nam bị kẻ cướp thực dân lấy khai thác chán chê
rồi bán cho bạn chí thiết của kẻ cướp là Giáo Hội Công Giáo. Chưa ai thấy ơn
cứu rỗi của Chúa và Giáo Hội Công Giáo đâu cả, chỉ thấy tài sản đất đai nước tôi
chuyển từ tay bọn ăn cướp ngày là thực dân sang tay bọn ăn cướp đêm là công ty
bán vé cứu rỗi của quý Ngài. Cũng chuyện đất đai... Tôi chỉ còn nhớ một việc là
thực dân Pháp cho Giáo Hội Công Giáo 200 ngàn mẫu ta đất ở Vĩnh Long. Trải qua
hai triều đại Công Giáo Diệm và Thiệu, số đất đó vẫn được miễn thuế. Tuy chính
quyền Diệm và Thiệu theo lời khuyến cáo của Mỹ có cải cách ruộng đất tất cả
hai lần, nhưng không ai dám đụng đến số 200 ngàn mẫu ruộng đó của Giáo Hội...
Quý vị đã bòn rút được bao nhiêu của cải của đất nước tôi đem về La Mã.
Ngoài số 200 ngàn mẫu đất này ở Vĩnh Long, Giáo Hội còn đầu tư bao nhiêu vốn vào
hàng trăm công ty lớn nhỏ khai thác tài nguyên nước tôi, chỉ kể ra đây ba công
ty lớn thôi:
1.- Công Ty Trồng Cao Su Đông Dương (Société des
Plantations d'Héveas de l'Indochine).
2.- Công Ty Mỏ Than Bắc Kỳ (Société des Charbonnages du
Tonkin).
3.- Nhà Băng Đông Dương (Banque de l'Indochine).
4.- Còn bao nhiêu công ty khai thác mỏ vàng, mỏ bạc,
đồng, thiếc, kẽm, chì, wolfram, tungsten, nước suối... và xuất nhập cảng ở khắp
nước không kể hết được.
Tòa Thánh và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đã đầu tư
lấy lời bao nhiêu máu mủ của đất nước tôi đem về La Mã, không ai biết cả. Chỉ có
một người Pháp, viên thanh tra chính trị phủ Toàn quyền, là Ông Aurousseau, đã
viết rằng tài sản của Giáo Hội Công Giáo ở Việt Nam (khi cuộc đô hộ Việt Nam vừa
mới vững chân) còn lớn hơn là tài sản của chính phủ Đông Pháp (gồm 3 nước Việt,
Mên và Lào). Quý vị cứu rỗi được bao nhiêu linh hồn. Qúy vị đem tiền bạc cướp
được đó cứu giúp được những ai đang sống? Không ai thấy cả. Còn mấy cái viện mồ
côi mà chính phủ thực dân bỏ tiền ra xây, trợ cấp hàng tháng hoặc hàng năm, giao
cho các "cha", các "bà sơ" trông nom để kiếm thêm tín đồ vì quá ít người theo
đạo...)"[55]
Không phải chỉ có Giáo Hội La Mã đã ăn cướp ruộng đất và
tài sản của nhân dân ta trong thời kỳ 1862-1945, mà bọn tín đồ Da-tô Việt gian
làm tay sai cho Vatican và Pháp cũng tung tác ăn cướp, vơ vét ruộng đất và của
cải của nhân dân ta, giống y hệt như Giáo Hội đã làm. Tiêu biểu cho nhóm Việt
gian này là Da-tô Lê Phát Đạt tức Huyện Sĩ. Sách Việt Sử Tân Biên viết về con
người Việt gian tiêu biểu này như sau:
"Lê Phát Đạt tức Huyện Sĩ, người Cầu Kho, thuở nhỏ
tên là Sĩ, có học tiếng La-tinh ở Cù Lao Pénang, sau đổi tên là Đạt vì trùng tên
với thày dạy (Sĩ). Sau Đạt được làm thông ngôn chữ La-tinh vì thời đó, Pháp chưa
kịp có thông ngôn bằng tiếng Pháp, phải dùng học trò trường nhà Dòng. Đạt làm
việc lâu năm ở tỉnh Tân An rồi buổi nhá nhem trở thành một đại địa chủ ở đất
Sàigòn.
Xin nhắc đất này năm xưa vì luôn luôn có chiến tranh,
dân cũ xiêu bạt. Khi Pháp lập bản đồ và sổ sách điền thổ, nhiều chủ cũ không
nhận. Một phần thuở đó còn tranh tối, tranh sáng, nếu họ nhận thì sợ quan ta
bắt tội theo Tây, một bề họ còn hy vọng một ngày kia Pháp sẽ bại trận mà rút
lui, chừng đó của ai vẫn trở về với người ấy, hấp tấp e có hậu họa. Rồi Pháp lập
hội đồng thành phố, ủy ban điền thổ đưa một số nhân viên đi xét từng vùng. Một
số thân Tây đi theo nhân cơ hội này nhận bừa ruộng đất của đồng bào. Chỗ nào tốt
đẹp thì họ "ủy" (oui tức là đúng), chỗ nào sình lầy thì họ "nông" (non tức là
không). Tóm lại chỉ tiếng "ủy", bọn đầu cơ này sau đó trở thành giầu có lớn. Các
quan thày tuy biết họ lưu manh cũng lờ đi vì họ chỉ cần những đất tạm thời vô
chủ có chủ để hàng năm nộp thuế là ổn. Dư luận của các vị già cả ngày nay cho
rằng họ Lê trở thành đại địa chủ là do sự may mắn này...
Cơ nghiệp vĩ đại của những kẻ tay chân thực dân có
được cấu tạo bằng mồ hôi nước mắt của những người dân lành hay dựa vào quyền
lực của chủ mới, thiết tưởng ai cũng có thể tự tìm hiểu được. Sau này, họ Lê bị
một số người Tầu giết bằng cách giả đem đồ lễ Tết đến biếu "quan lớn" vào một
ngày cuối năm. Nếu điều này trúng thì ta đã có một lời giải đáp về cái tư sản và
các tiền tích của họ Lê. Ngày nay thi ca Việt Nam còn ghi chép những hành động
dã man của bọn bán nước hùa với quân xâm lăng khiến đọc lên còn thấy lạnh
người...."[56]
Cũng nên biết con cháu Huyện Sĩ (lê Phát Đạt) sau này là
Lê Phát An và Lê Phát Vĩnh. Lê Phát Đạt tức Huyện Sĩ cũng là cậu ruột của Nam
Phương Hoàng Hậu, vợ Bảo Đại. Nam Phương Hòang Hậu là con gái của Da-tô Nguyền
Hữu Hào, có rất nhiều tài sản ở Sàigòn trước ngày 30/4/1975.
Dựa vào chính quyền bảo hộ Pháp – Vatican, bọn Việt gian
có cả trăm phương ngàn kế để cướp đoạt ruộng đất của nhân dân ta. Một trong
những phương kế này là thông đồng với quan thày rồi dùng quyền lực để cướp đoạt
ruộng đất của nhân dân. Tên Tri-huyện Hoàng Gia Mô (huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải
Dương) đã sử dụng phương kế này để ăn cướp ruộng đất của dân làng Dương Am.
Chuyện này được ông Hoàng Văn Đào ghi lại trong cuốn Việt Nam Quốc Dân Đảng với
nguyên văn như sau:
“Trần Quang Diệu tuyên bố: “Chúng tôi đến đây với mục
đích là đánh thực dân Pháp và tất cả những ai đã cúi đầu theo giặc làm hại đồng
bào.
Tên Tri-huyện Hoàng Gia Mô là một trong những tên đã
hà hiếp tàn nhẫn bóc lột đồng bào! (Nó) là một tay tôi tớ lợi hại của giặc. Chắc
đồng bào còn nhớ vụ Hoàng Gia Mô đã mưu mô với bọn thực dân mưu toan chiếm 6,000
(6 ngàn) mẫu ruộng của đồng bào ở làng Dương Am để làm tư kỷ. Bản thân nó đã có
tội với quốc dân rồi! Đến cha ông nhà nó lại còn đắc tội hơn! Toàn thể đồng chí
cũng như đồng bào có mặt tại đây đồng thanh yêu cầu xử tử Hoàng Gia Mô. Vợ Hoàng
Gia Mô giốc hết vàng, bạc, châu báu trong tủ sắt ra làm lễ dâng cách mạng quân,
xin tha tội chết cho chồng, nhưng bị cực lực khước từ. Còn Hoàng Gia Mô thì kêu
van: “Đó là tội của ông cha tôi làm, xin các ông tha chết cho tôi, tôi xin làm
công dân để phụng sự cách mạng, và xin dâng hết của cải cũng như ruộng đất cho
cách mạng…”
Hoàng Gia Mô tức thời bị giết chết bằng một phát súng
trường, vất xác xuống dòng sông Cầu Mục.”
[57]
Chuyện trên đây xẩy ra vào đêm khuya ngày 15 rạng ngày
16/2/1930.
Cả nước ta không phải chỉ có một Da-tô Lê Phát Đạt và
Hoàng Gia Mô trở thành đại địa chủ giầu có như vậy. Tìm hiểu lịch sử nước ta
trong thời kỳ 1862-1945, chúng ta sẽ thấy có rất nhiều người trở thành giầu có
giống như chuyện thằng Da-tô Lê Phát Đạt và thằng tri huyện
Hoàng Gia Mô trên đây, trong đó có
chuyện thằng Da-tô Ngô Đình Khả chủ mưu ăn cướp đất của dân ta để xây nhà thờ
Phú Cam.
Ngòai ra, chúng ta cũng nên biết, trong thực tế ở nước
ta vào thời điểm 1945, tại các địa phương, một huyện hay một tỉnh, ít nhất cũng
phải có từ 5 đến 10 đại địa điền chủ như Lê Phát Đạt hay Hoàng Gia Mô. Theo sự
tìm hiểu của người viết, vào thời điểm 1945, khắp nơi trong toàn quốc, ngoài Lê
Phát Đạt và Hoàng Gia Mô, còn có một số khá nhiều đại địa chủ không kém gì Lê
Phát Đạt và Hoàng Gia Mô. Những người đó là Trương Văn Bền, Nguyễn Hữu Châu tự
Hùynh Hữu Châu (chồng cũa của bà Trần Lệ Chi), Cao Triều Phát, Cao Triều Hưng
(Bạc Liêu), ông Cả Lớn (Rạch Giá), v.v.. Tại miền Bắc, trong huyện Phụ Dực,
tỉnh Thái Bình, địa chủ Nguyễn Bá Triệu ở làng Lý Xá làm chủ tới 600 mẫu (mẫu
ta, mỗi mẫu là 3.600 thước vuông), Ông Phạm Văn Xướng ở làng Đại Điền, chiếm tới
hơn 300 mẫu ta, ông Cửu Phu ở làng Dục Linh chiếm tới hơn 200 mẫu ta, ông Chánh
Kiện ở làng Quan Đình có cả hàng trăm mẫu ta. Các địa phương khác cũng có một số
đại địa chủ tương tự như ở huyện Phụ Dực.
Hầu hết những đại địa chủ này đều là những người đã dựa
vào thế lực của chính quyền bảo hộ Liên Minh Pháp – Vatican mà trở thành giầu
có, giống như trường hợp Lê Phát Đạt và Hoàng Gia Mô trên đây.
Chúng ta biết rằng dân số ngày một gia tăng, nhưng diện
tích ruộng đất canh tác tại các địa phương cũng như trong toàn quốc gần như cố
định, bất di bất dịch, ngọai trừ trường hợp đất bồi phải tính theo hàng thế kỷ.
Cũng vì thế mà từ thời Vua Tự Đức trở về trước, công điền và công thổ chiếm một
tỉ lệ khá cao (lên tới 20% ở Bắc Kỳ và 26% ở Trung Kỳ), và cứ khoảng từ 2 đến 3
năm, chính quyền địa phương lại phải phân chia lại ruộng đất cho nhân dân với
mục đích giúp cho những dân đinh trong làng mới lớn lên đến tuổi trưởng thành có
ruộng đất canh tác để mưu sinh. Sự kiện tái phân ruộng đất này được cụ Ngô Văn
ghi lại trong sách Việt Nam 1920--1945 như sau:
“Trong cả ba xứ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ) đều có
hình thức sở hữu tập thể theo truyền thống. Làng xóm nào cũng có công điền, công
thổ: 20% ở Bắc Kỳ, 26% ở Trung Kỳ và 2,5% ở Nam Kỳ vào thời Pháp thuộc. Các vua
Gia Long và Minh Mạng đã ấn định chặt chẽ quyền hưởng dụng những công điền công
thổ qua những chỉ dụ năm 1803-1804 và 1840 như sau: Công điền công thổ phải được
chia “đều” qua từng thời kỳ cho các dân làng để cày cấy, không được chuyển
nhượng và chỉ có thể đem cho thuê trong một thời hạn rất ngắn trong truờng hợp
“cần kíp” để phục vụ lợi ích công. Một chiếu chỉ của Minh Mạng làm giảm nhẹ tình
cảnh của nông dân nghèo là buộc các nông dân giầu phải tặng 3/10 đất đai của họ
cho làng xã. (Lệnh này bị toàn quyền Pháp bãi bỏ vào năm 1897). Chính quyền
thuộc địa không lưu ý tới tính chất xã hội của cái thể chế này là “tài sản tập
thể nhằm tránh cho cá nhân khỏi rơi vào tình cảnh khốn khổ tuyệt vọng”
(Schreiner, Institutions Annamites [Những Thể Chế của Người Việt], II,
289 do Edgar Mathieu trích dẫn trong La propriété foncière et ses modalités en
droit annamites. [Sở hữu ruộng đất và những thể thức về luật của người Việt],
Paris, 1909, p.76), làm cho ruộng đất công trở thành miếng mồi ngon cho các hào
lý và điền chủ lớn sau cuộc chinh phục. “Tại sao chỉ còn lại có 2,5% đất
công ở Nam Kỳ, trong khi mà trước cuộc chinh phục của chúng ta ở miền Tây Nam Kỳ
các làng xã sở hữu đất đai của họ, làng xã là chủ toàn bộ tại một số vùng lân
cận với Cao Mên?” (Jobbé Duval, La Commune Annamite, tr 42, do E. Mathieu trích
dẫn, sđd., tr 75). Rồi trong thời kỳ thuộc địa, đất công được đem cho thuê theo
kiểu đấu thầu, vì thế người nghèo không với tới được.”[58]
Nhưng khi Liên Minh Pháp - Vatican đến làm chủ nhân ông
đất nước ta, họ áp dụng chính sách tư điền, hữu sản hóa tất cả công điền và công
thổ để theo đó mà tính thuế. Đây là thói quen của người Âu Châu. Tìm hiểu lịch
sử Hoa Kỳ và Châu Mỹ La-tinh, chúng ta thấy người Âu Châu khi đến làm chủ nhân
ông ở đây, họ cũng làm như vậy. Chính vì vậy mà khi "giang sơn ta đổi chủ"
vào cuối thế kỷ 19, phần lớn ruộng đất canh tác bị tập trung vào trong tay nhóm
thiểu số phú hào. Nhóm người thiểu số này lại là những người có thế lực trong
nông thôn. Nhiều người thuộc những gia đình có ông cha hay chính bản thân họ đã
có công với nhà nước bảo hộ trong công cuộc đánh phá và tiêu diệt các lực lượng
nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta tại các địa phương. Trường hợp Lê Phát
Đạt (Huyện Sĩ) và Hoàng Gia Mô đã nói ở trên là bằng chứng rõ ràng cho sự kiện
này. Tình trạng ruộng đất canh tác của đất nước bị nhóm người thiều số cộng tác
với chính quyền liên minh Pháp – Vatican chiếm đọat được sách Việt Nam 1920-1945
ghi nhận như sau:
“Giới địa chủ hợp thành một tầng lớp hữu sản ở nông
thôn, số người rất ít lại chiếm giữ phần lớn ruộng đất nhưng lại không tự tay
cày cấy mà thuê tá điền. Họ sống nhờ vào địa tô và cho vay nặng lãi…
Theo Y. Henry, L’ Économie Agricole de l’ Indochine
(Kinh Tế Nông Nghiệp Ở Đông Dương), Hà Nôi 1932, tại Nam Kỳ và Tây Nam Kỳ diện
tích canh tác vào năm 1930 cps tới 2.400.000 hecta (mẫu Tây) thuộc 255.000 địa
chủ. Loại địa chủ có từ 50 hecta trở lên – 2.5% trong toàn số người có ruộng đất
- chiếm 45% diện tích nói trên. Trung nông và bần nông (những nông dân có từ 5
hecta trở xuống) – 71,7% trong toàn số người có ruộng đất - chỉ làm chủ 12,5%
diện tích trên.
Số diện tích còn lại (42,5% - trừ diện tích công điền
công thổ) thuộc về phú nông (có từ 5 đến 10 hecta) và địa chủ nhỏ (từ 10 đến 50
hecta)
Tại miền Tây Nam Kỳ là nơi có
nhiều đại điền trang, mênh mông cò bay thẳng cánh. Trần Trình Huy, con cháu của
nhà đại phú Trần Trình Trạch, đã khoanh vùng để làm sân bay cho máy bay riêng
của mình tại vùng Cà Mâu. (P. Brocheux. Những Đại Điền Chủ Ở Miền Tây, trong
Tradition et Révolution au Vietnam (Truyền Thống và Cách Mạng ở Việt Nam),
Paris, 1971, tr 147).
Ở Bắc Kỳ, ngòai 37% diện tích
ruộng đất do địa chủ nắm giữ, 1.200.000 hecta đất cày và trồng tỉa bị chia nhỏ
đến cùng cực. Chỉ riêng tỉnh Bắc Ninh đã có tới một triệu ruỡi mảnh ruộng (mỗi
hecta có 14 mảnh). Trong tỉnh Thái Bình, 253 địa chủ lớn chiếm giữ 24.280 hecta
(trong đó 14.280 hecta ghi danh trong địa bạ tên những chủ đất cũ bị tước đọat
và trở thành tá điền trong các điển trang, trong khi 122.000 gia đình nông dân
nghèo chỉ có tổng số là 21.960 hecta, mỗi nhân khẩu có chưa tới 0,36 hecta.
Ở Trung Kỳ, đất đai cũng bị chia
nhỏ như ở Bắc Kỳ, nhất là tại miền Bắc và Trung, nơi mà 65% số gia đình không có
½ hecta ruộng để sống, buộc phải đi làm thuê như những nông dân ở Bắc Kỳ. (Ch.
Robequain, L’Indochine Francaise, Pa ris, 1935, tr 109). “Người nông dân Trung
kỳ luôn luôn là một nông nô của một chúa đất lớn hay nhỏ.” L. Roubaud, Sđd.,
tr 189). Địa chủ chiếm 24.6% diện tích canh tác.”[59]
Nước ta là nước nông nghiệp có tới hơn 97% dân số sống bằng
nghề nông bám lấy đồng ruộng để sinh nhai. Nhưng từ khi Liên Minh Pháp - Vatican
làm chủ giang sơn, hơn 25% diện tích canh tác ở Nam Kỳ bị Giáo Hội
La Mã chiếm đoạt.
Nhóm thiểu số Việt gian cướp đoạt tới trên 20%. Còn lại hơn 50% là những ruộng
đất “khỉ hò cò gáy” dành cho đại khối nhân dân. Ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ lại càng tệ
hơn vì đất hẹp người đông và vì cũng bị Giáo Hội La Mã và bọn quan lại Việt gian
cướp đoạt ruộng đất như trường hợp Hoàng Gia Mô đã nói ở trên.
Khi mà ruộng đất càng tập trung vào trong tay một nhóm
thiểu số thì đại khối nhân dân bị trị càng không có hay có rất ít ruộng cày.
Theo công trình nghiện cứu của nhà sử học Yves Henri trong cuốn Economic
Agricole de l' Indochine (Hanoi, 1932) được cụ Hòang Văn Chí ghi lại trong cuốn
Từ Thực Dân Đến Cộng Sản (Tokyo, Nhật Bản: Tổ Hợp Xuất Bản Việt Nam, không đề
năm xuất bản, tr 206), thì số phần trăm trong dân số Việt Nam của mỗi thành
phần trên đây vào năm 1932 được ghi nhận như sau:
| |
BẮC KỲ |
TRUNG KỲ |
NAM KỲ |
| Ruộng đất |
Địa chủ % |
Diện tích % |
Địa chủ % |
Diện tích % |
Địa chủ % |
Diện tích % |
| Trên 50 Ha |
0.10 |
20 |
0.13 |
10 |
2.46 |
45 |
| Từ 5 - 50 Ha |
8.35 |
20 |
6 |
15 |
25.77 |
37 |
| Dưới 5 Ha |
90.58 |
40 |
95.80 |
50 |
71.73 |
15 |
| Công điền |
20 |
25 |
3 |
Nhìn vào bản tài liệu trên đây, chúng ta thấy rằng:
1.- Ở Bắc Kỳ, chỉ có 1/10 phần trăm tức 1/1000 dân số
là thành phần địa chủ chiếm hữu tới 20% ruộng đất canh tác, và 8.35 % dân số
khác chiếm hữu tới 20% ruộng đất canh tác. Như vậy là 8.45% dân số chiếm hữu
tới 40% diện tích ruộng đất canh tác. Còn lại 60% diện tích ruộng đất canh tác
phân phối cho hơn 91% dân số.
2.- Tại Trung Kỳ, chỉ có 0.13 % dân số chiếm hữu tới
10% diện tích ruộng đất canh tác và 6% dân số chiếm hữu 15 % diện tích ruộng
đất canh tác. Cộng chung lại, ta thấy rằng 7.13% dân số chiếm tới 25% diện tích
ruộng đất canh tác. Còn lại 75% diện tích ruộng đất canh tác phân phối cho hơn
92% dân số.
3.- Tại Nam Kỳ, chỉ có 2.46% dân số chiếm tới 45% diện
tích ruộng đất canh tác, và 25.77% dân số chiếm tới 37% diện tích canh tác.
Cộng chung lại, chúng ta thấy rằng 28.23% dân số chiếm tới chiếm tới 82% diên
tích ruộng đất canh tác. Còn lại 18% ruộng đất canh tác phân phối đồng đều cho
gần 71. 67%" dân số.
Sự kiện này cho chúng ta thấy rõ tình trạng hết sức bất
công về kinh tế ở nông thôn trong thời Pháp thuộc. Với tình trạng bất cống này,
vào những năm mưa thuận gió hòa, trúng mùa, nông dân thuộc thành phần trung nông
và bấn cố nông không lâm vào cảnh đói khổ. Nhưng nếu chẳng may gặp phải khi có
thiên tai như bão, lụt, hạn hán, sâu rày phá hoại mùa màng hay xẩy ra chiến
tranh thì chắc chắn là ba thành phần trung nông, bần nông và cố nông (từ 72% đến
92% dân số) không thể nào thoát khỏi cảnh đói khổ điêu đứng lầm than. Tức nước
vỡ bờ, đói khổ quá, tất nhiên là anh em nông dân phải đứng lên tranh đấu đòi lại
quyền sống, đòi lại ruộng đất mà tiền nhân ta đã đổ ra không biết bao nhiêu công
lao huyết hãn và xương máu mới có, mà bây giờ lại bị Giáo Hội La Mã cùng với bọn
ngọai nhân và bọn Vịệt gian chiếm đoạt gần hết. Đau buồn là nhà nước bảo hộ luôn
luôn đứng về phía Giáo Hội La Mã và bọn điền chủ Việt gian chống lại đại khối
nhân dân ta. Cụ Ngô Văn ghi lại sự kiện này ở trong cuốn Việt Nam 1920-1945 với
nguyên văn như sau:
“Tại vùng quê, tưởng chừng như tình hình đã êm dịu,
thế mà vẫn có vài trăm nông dân biểu tình vào tháng 8 (1938) tại tòa bố Chợ Lớn
chống việc đấu thầu ruộng đất ở Chợ lớn và Cần Giuộc, và đòi phân bố đất đai cho
dân cày nghèo. Kết quả vài chục người bị bắt.
Vào cuối năm (1938), tại tỉnh Bạc Liêu, nông dân đói
lao vào cướp kho thóc, một cuộc nổi dậy chất phác không đổ máu.
Bộ máy đàn áp vận hành chậm chạp, không can thiệp đến
mức triển khai hết cỡ dữ dội như những năm 1930-1931 nữa. Nhưng bao giờ trên bàn
cân (công lý) vẫn có hai mức độ nặng nhẹ khác nhau: Khoan hòa đối với bọn tước
đọat ruộng đất, và tàn ác đối với những nạn nhân nghèo đói. Trong khi những
người cướp kho thóc bị án, có người bị tới 5 năm tù, thì tòa thượng thẩm xử một
kẻ tước đoạt ruộng đất làm chết người, chỉ kết án ở mức độ tối thiểu: 3 năm cấm
cố và 300 franc bồi thương.”[60]
KẾT LUẬN
Đọc qua những đoạn văn sử trên đây, chúng ta thấy
rằng Giáo Hội La Mã đã không từ nan bất kỳ một thủ đọan hay hành động lưu manh
nào kể cả những thủ đoạn và hành động đê tiện nhất, khốn nạn nhất để bốc hốt, vơ
vét của cải và tích lũy cho đầy túi tham của Giáo Hội:
“Chỉ một mình Nhà Chung Công Giáo mà
chiếm hết một phần tư đất trồng trọt ở Nam Kỳ. Phương thế chiếm hữu các
đất đai đó rất là đơn giản: Dùng tham nhũng, hối lộ và cưỡng ép. Đây là
một vài ví dụ rõ ràng. Nhà Chung lợi dụng khi mất mùa để cho nông dân vay tiền.
Tiền lời cho vay rất nặng, nên con nợ sẽ không thanh toán nổi khi tới ngày trả,
và như thế là đất cầm trở thành đất Nhà Chung. Giáo Hội không từ một việc nào để
nắm những giấy tờ hệ lụy bí mật và nhờ đó dọa dẫm các quan chức, bắt họ phải làm
theo ý mình muốn. Giáo Hội cũng liên minh với những tay tài phiệt để khai thác
các vùng đất nhượng cho không và những thửa ruộng cướp được của nông dân. Giáo
Hội có người của mình nắm giữ những vai trò thế giá trong chính quyền thuộc
địa…”
“Nhà Chung đã tổ chức một hệ thống tình báo
hoàn bị, cung cấp tin tức cho biết tất cả những gì liên hệ tới những con người,
những công ty, những công cuộc, những hành động và phương án chính trị tại Đông
Dương. Nhà Chung đã đặt được người thân tín của mình vào tất cả các cơ quan, vào
hầu hết các xí nghiệp tại các trung tâm lớn cũng như tận cùng những tỉnh xa xôi."
“Từ những năm đầu cuộc chiếm đóng của chúng
ta, Nhà Chung đã quan tâm cho được chiếm cho được tại Nam Kỳ những tài sản khổng
lồ. Nhà Chung có tất cả 28.500 hecta ruộng, không kể đất đai ở thành thị cũng
như các bất động sản và của cải khác. Tại Miền Tây Nam Kỳ, Nhà Chung làm chủ
vùng đất lớn rộng tới ba bốn hoặc sáu ngàn hecta". (Sàigon 14-12-1934.”
Giáo Hội chuyên môn sử dụng những thủ đoạn lưu
manh, đê tiện và khốn nạn như trên để cướp đoạt ruộng đất và các nguồn tài
nguyên khác của dân ta để làm của riêng khiến cho trên 90% dân ta trở thành
người dân vô sản và đói khổ. Ấy thế mà Giáo Hội cũng như các nhà truyền giáo và
tín đồ của Giáo Hôi lúc nào cũng lớn tiếng cao rao rằng Giáo Hội La Mã là “Hội
Thánh duy nhất thánh thiện, công giáo và tông tuyền”, là “Hiền Thế
của Thiên Chúa Làm Người” và đạo Kitô là “đạo của bác ác”, “đạo của tình
thương“ đem “Tin Mừng” và “Hồng Ân Thiên Chúa” đến “khai
hoá văn minh” cho nhân dân ta. Giáo Hội và tín đồ của Giáo Hội bô bô
cái miệng như vậy mà không biết ngượng mồm. Sự kiện này nói lên cái bản chất bịp
bợm, quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, lật lọng, tráo trở, đổi trắng thay đen, ăn
không nói có của Giáo Hội La Mã và của tín đồ ngoan đạo của Giáo Hội, đúng như
học giả Da-tô Phan Đình Diệm ghi nhận:
“Giáo Hội giả trá, gian manh, buôn thần bán thánh, vô
đạo đức",… “Giáo Hội Công Giáo Rôma đào tạo sản xuất hàng triệu triệu
“cái lưỡi không xương” để tuyền truyền nhồi sọ một nền “thần học không xương
nhiều đường lắt léo vòng vo”. “Nghề thầy cúng Men-ki-sê-đê”, “cái nghề
thầy cúng tồi tàn, giả hình, bất lương, vừa thất học, vừa ham danh lợi, vừa lười
biếng…”, “Cái nghề thày cúng bịp bợm, cướp cạn, vô luân, làm đảo điên gia đình
và xã hội…” [61]
.
Trên đây là bản chất “bịp bợm”và “tin tưởng vào
bạo lực”, dùng bạo lực làm phương tỉện để đạt được mục tiêu và cũng là những
thành tích cướp nước, cướp của giết người của Giáo Hội, thành tích của tu sĩ và
tín đồ Da-tô dựa vào quyền lực của các đạo quân Liên Minh Pháp – Vatican để
chiếm đoạt tài nguyên quốc gia, đốt nhà, đốt miếu, phá đình, phá chùa, giết
người, hãm hiếp đàn bà con gái và cướp của, vơ vét tiền bạc của đất nước và nhân
dân ta trong thời kỳ 1858-1945 đem về làm giầu cho kho nhà Chúa của Vatican.
[50]
Nhiều tác giả, Đối Thoại Với Giáo Hoang Gioan Phao Lồ II
(Garden Grove, CA: Giao Điểm, 1995), tr 280.
[51]
Chu Văn Trình & Tường Minh, Rơi Mặt Nạ (Tavares, Fl: Ban Tu Thu T? l?c,
1996), tr 187-190.
[52]
Chu Văn Trinh & Tường Minh, Sđd., tr 196-198.
[53]
TrầnTam Tỉnh, Sđd., tr 48-49.
[54]
Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr 76-78.
[55]
Nhiều tác giả, Đối Thoại Với Giáo Hoang JP II (Garden Grove: CA:
Giao Điểm, 1995), tr. 242-244.
[56] Phạm Văn Son, Việt Sử Tân Biên - Tập 5
(Glendale, CA: Đại Nam, 1980? ), tr 217-218.
[57]Hoàng
Van Ðào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, (Saigon: TXB, 1970), tr. 129.
[58] Ngô Văn, Sđ d., tr 393.
[59]
Ngô Văn, Sđd., 392-393.
[60]
Ngô Văn, Sđd., tr. 249.
[61]
Phan Đinh Diệm. “Tuyen Cáo Về 50 Năm Linh-mục Của Kẻ Sĩ Bùi Tu?n” "DIEM
PHAN" <pddiem@hotmail.com> . Ngày 30/7/2005.
© sachhiem.net
Xem các chương khác:
VATICAN:CH06- Cấu Kết Với Cường Quyền (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH11- Bản Chất Lươn Lẹo (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH11- Bản Chất Nhận Vơ (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH11- Cưỡng Từ Đoạt Lý (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH11- Diễn Biến Sự Rã Đám của Chính Quyền Miền Nam (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH11- Thói Quen Tiếm Quyền (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH11- Đảo Lộn Lịch Sử (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH18- Lộ Đồ Chinh Phục Thế Giới (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH19- Thiết Lập Các Đạo Quân Thứ 5 (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH20- Đoàn Ngũ Hóa Tín Đồ (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH21- Vận Động Pháp Lần Thứ Nhất (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH22- Lần Thứ Hai Vận Động Pháp Chiếm Việt Nam (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH23- Lần Thứ Ba Vận Động Pháp Chiếm Việt Nam (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH24- Sách Lược Nội Công Ngoại Kích (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH25- Bộ Máy Cai Trị Của Liên Minh (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH26- Đời Sống Dân Ta Trong Thời Pháp-Vatican Đô Hộ (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:Ch27- Tiền Bạc, Châu Báu Bị Vatican Cướp Đoạt(Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH28- Chính Sách Thuế Khóa và Sưu Dịch (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH29- Cướp Chùa, Ruộng Đất, Xây Nhà Thờ (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH30- Hậu Quả Của Chính Sách Thuế Khóa (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH31- Hai Cảnh Đời Trái Ngược (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH6- Cấu Kết Với Cường Quyền (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1a NGÔ ĐÌNH DIỆM: Con Người và Tội Ác (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1b Sơ Lược Cuộc Đời của NGÔ ĐÌNH DIỆM (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1c Tại Sao Gọi Là Tam Đại Việt Gian (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1d Cuồng Tín (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1e Những Đặc Tính Chung của Các Tín Đồ Ca-tô (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1f Tình Trạng Ngu Dốt Của Ông Diệm (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1g Những Việc Làm tàn Ngược Của Ông Diệm (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1g Những Việc Làm tàn Ngược Của Ông Diệm (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1g Những Việc Làm tàn Ngược Của Ông Diệm (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH7- Bộ Máy Đế Quốc Gia Tô La Mã (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH7- Bộ Máy Đế Quốc Gia Tô La Mã (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH8- Hủy Diệt Nền Văn Minh Nhân Loại (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH8- Hủy Diệt Nền Văn Minh Nhân Loại (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH8- Phụ Bản (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH8- Phụ Bản (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH92-1: Vấn Nạn Giáo Hội La Mã (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH92-2: Vấn Nạn Giáo Hội La Mã (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH92-3: Vấn Nạn Giáo Hội La Mã (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH92-4: Vấn Nạn Giáo Hội La Mã (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:Chương Dẫn Nhập (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:Chương Dẫn Nhập tt (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:Mục X- Vatican Cướp Đoạt Tài Sản Việt Nam (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:Sơ Lược Hồ Sơ GHLM (Nguyễn Mạnh Quang)