SƠ LƯỢC BỘ MÁY VÀ CHÍNH SÁCH CAI TRỊ CỦA
LIÊN MINH PHÁP–VATICAN TẠI ĐÔNG DƯƠNG
Nói về bộ máy cai trị
của Liên Minh Pháp – Vatican ở Đông Dương, Giáo-sư Bửu Kế nhận
xét như sau:
“Trước Cách mạng
Tháng tám năm 1945 [(1885 – 1945) – TXA. chua thêm :ct)], tuy
nước ta là một nước quân chủ, vua là bậc chí tôn, nhưng thật ra
uy quyền kém hẳn viên khâm sứ.
Dưới ông khâm sứ, còn
có các ông công sứ, các ông cố vấn bộ Lại, Hộ, Binh, Hình, Công.
Các quan thượng thơ của ta muốn làm việc gì, nhất nhất đều phải
gởi dâng bản đến để họ xem trước. Họ có chấp thuận mới được thi
hành, bằng không thì phải gác lại. Cho đến những quyền hành nhỏ
mọn như bổ dụng một viên thừa phái hạng bét hay chi tiêu một món
tiền cỏn con cũng phải qua tay người Pháp.
Cái uy quyền đó đã
tiêu tan theo cuộc đảo chánh Nhật Bản ngày 9.3.1945, còn Tòa
Khâm sứ Pháp thì phần lớn đã bị đổ nát theo bom đạn trong cuộc
chiến tranh chống Pháp, những căn nhà còn lại thì mái trụt tường
xiêu, cỏ cây hoang dại ăn lan từ sân trước đến sân sau, diễn ra
cảnh thê lương sau hơn 80 năm đô hộ [(1862? –
1945?) – TXA. ct.]. Nay Trường Đại học Sư phạm Huế được xây
dựng ở đó.”[i]
Song song với việc đánh
chiếm Việt Nam, Liên Minh Pháp – Vatican cũng cưỡng chiếm đuợc
hai xứ Cao Miên và Ai Lao. Sau đó, cả ba quốc gia này được nhập
lại được gọi là Đông Dương thuộc Pháp (L’Indochine Francaise).
TỔ CHỨC BỘ MÁY CAI TRỊ
TẠI ĐÔNG DƯƠNG
Đông Dương gồm Việt
Nam, Cao Miên và Ai Lao, bị đặt dưới quyền cai trị của vị Tòan
Quyền (Gouverneur Général) có văn phòng tại Hà Nội. Tại Ai Lao
và Cao Miên, Liên Minh Pháp – Vatican vẫn giữ nguyên vương triều
cũ ngồi làm cảnh. Thực quyền cai trị nằm trong tay một vị Khâm
Sứ (Resident Superieur) người Pháp. Vị khâm sứ này nhận lệnh
trực tiếp từ văn phòng của vị Toàn Quyền Đông Dương.
Riêng Việt Nam thì bị
chia ra làm 3 xứ với ba chính sách cai trị khác nhau:
1.- Nam Kỳ.-
Nam Kỳ gồm vùng đất từ tỉnh Bà Rịa (giáp ranh với Bình Thuận tức
Phan Thiết) trở vào Nam tới mũi Cà Mâu, hoàn toàn thuộc Pháp
nằm dưới quyền cai trị trực tiếp của người Pháp. Đứng đầu bộ
máy cai trị ở Nam Kỳ là một viên chức gọi là thống đốc
(gouverneur), các tỉnh và các huyện cũng đều nằm dưới quyền cai
trị của người Pháp hoặc người Việt quốc tịch Pháp. Đơn vị hành
chánh nhỏ nhất là các xã, đặt dưới quyền cai trị của các viên
chức gọi là cai tổng và hương quản.
2.- Bắc Kỳ.-
Bắc Kỳ được gọi là xứ bảo hộ (Protectorat) đặt dưới quyền cai
trị của một viên quan người Pháp gọi là Thống Sứ (Resident
Supérieur). Mỗi tỉnh có một viên quan công sứ (Resident) người
Pháp đứng đầu, bên cạnh viên quan này, có một viên quan người
Việt gọi là Tổng Đốc giữ vai trò như một người quản lý thi hành
những lệnh hay chỉ thị của viên Công Sứ. Mỗi tỉnh lại chia ra
làm nhiểu phủ hay huyện hoặc châu và đặt dưới quyền của một viên
quan cai trị người Việt gọi là Tri Phủ, hay Tri Huyện hoặc Tri
Châu. Mỗi huyện được chia ra là nhiểu tổng dưới quyền cai trị
của một viên Chánh Tổng và Phó Tổng. Mỗi tổng được chia ra làm
nhiều làng hay thôn và đặt dưới quản trị của một viên Lý Trưởng
và viên Phó Lý. Giúp việc viên Lý Trưởng và Phó Lý có một viên
thư ký (gọi tắt là ông Ký) phụ trách về việc hộ tịch, sổ bạ
ruộng đất, và viên thủ quỹ phụ trách quản thủ tiền bạc của chính
quyền làng. Bên cạnh viên lý trưởng, có hội ồng kỳ mục gồm
những nhân sĩ (cựu viên chức và những người khoa
bảng trong làng) quản trị việc tế tự và trùng tu
các đình, quán, đền, miếu, chùa ở trong làng.
Riêng tại các xóm đạo,
mọi chức vụ Lý Trưởng, Phó Lý, Thư Ký, Thủ Quỹ và tất cả mọi
việc khác về quản trị nhân dân cũng như việc tế tự về tôn giáo
đều nằm trong tay vị linh mục quản nhiệm sở tại quyết định và xử
lý theo tín lý Kitô và giáo luật của Giáo Hội La Mã. Trong thực
tế, mỗi một xóm đạo là một quốc gia theo chế độ đạo phiệt Da-tô
trong lãnh thổ Việt Nam. Vị linh mục quản nhiệm họ đạo nắm quyền
cai trị giống như một vị lãnh chúa địa phương trong một chế độ
quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền. Quyền uy của vị
linh-mục này vượt ra ngòai cả xóm đạo và bao trùm cả các vụ phụ
cận, và ngay cả viên tri huyện hay tri phủ địa phương cũng phải
khúm núm khi phải đối diện với ông ta. Bản văn sử dưới đây cho
chúng ta thấy rõ sự kiện này:
"Phải nói rằng các
cố thừa sai, do mầu da và chiếc áo chùng thâm của họ, họ đứng ở
một vị trí rất cao trên chiếc thang xã hội. Người ta phải cung
kính họ ngang với các quan đầu tỉnh (gọi là công sứ tại hai miền
Trung và miền Bắc). Và nhiều ông đã lợi dụng vị trí của họ như
thế để cai quản theo kiểu bạo chúa. Một vài thí dụ, Cố Antôn đi
qua một làng lương, trên người mang áo chùng thâm và các áo
phép. Một số thiếu niên người lương thấy cố ăn mặc kỳ cục thì
cười diễu, có vài trẻ dám chửi rủa cố. Trở về nhà cố tức giận,
tập hợp giáo dân lại, ra lệnh cho họ đi ruồng qua làng lương
kia, trừng phạt đích đáng mấy đứa có tội, nghĩa là đánh đập tất
cả những người họ bắt gặp ngoài đường. Họ tung hoành trong làng
ấy như đối với quân thù vậy. Các cụ bô lão trong làng lương bèn
gửi đơn khiếu nại lên huyện. Và thật là ngỡ ngàng khi
thấy quan huyện bắt họ phải mua lễ vật, theo phong tục Việt Nam
mà đến sắp mình lạy trước mặt cố, xin tha thứ cho những gì đã
xúc phạm cố. Quan huyện còn nói thêm: Đó là bản án còn nhẹ đấy,
bởi đây là lần đầu tiên dân tụi bay đã phạm lỗi như thế. Chớ
quên rằng, nếu còn tái phạm, thì bô lão sẽ vào tù, còn phạm nhân
thì sẽ bị tử hình".
Cố Giăng, nằm trong
một cái cáng do 2 giáo dân khiêng đi tới một thành phố cách nhà
18 kilomet. Vừa ra khỏi xứ đạo, một trong hai người khiêng cáng
thưa rằng mình bị bệnh, xin cố kiếm ai thay thế. Cố bảo: Cứ bắt
được ai thì bắt! Có một người đi qua, cố kêu: Bớ anh kia, đến
khiêng ta đi tỉnh! Người kia lắc đầu: "Không, tôi không thể và
tôi không muốn". - Thằng xấc láo, mày không muốn hả? Thằng giặc!
Người kia vẫn không chịu khiêng: "Tôi là lý trưởng, tôi không
thể khiêng được". Đứng trước sự khước từ dứt khoát như thế, ông
cố xuống khỏi cáng, cầm gậy nhẩy bổ tới đánh đập viên lý trưởng,
miệng nguyền rủa:… "Lý với không lý, liệu mà khiêng cáng cho
tao. À thằng giặc Cộng Sản! Mày sẽ biết tay tao!"
Hôm đó, cố Tây đến
nhà quan đầu tỉnh và tố cáo rằng làng bên lương cạnh xứ đạo của
ông đang nổi loạn mà chính tên lý trưởng cầm đầu. Qua ngày hôm
sau, viên lý trưởng bị cách chức và bị tống vào ngục. Không hiểu
cố Tây có tạ ơn Chúa cho mình chiến thắng tên ngoại đạo kia
chăng, nhưng chắc cố phải rất thích thú thấy rằng phong trào
chống giáo sĩ bên chính quốc Pháp chưa được du nhập sang các
vùng thuộc địa."[ii]
Nói chung, ngọai trừ các
xóm đạo hay các giáo khu Phát Diệm và Bùi Chu, luật pháp đều do
các quan tri Tri Phủ, Tri Huyện, Tri Châu nắm trọn quyền hành xử
lý dựa theo luật bảo hộ của Pháp.
3.- Trung Kỳ.-
Tại Trung Kỳ, ngôi vua của nhà Nguyễn còn được giữ lại ngồi làm
cảnh. Bên cạnh ông vua gỗ này, Liên Minh Pháp - Vatican đặt một
viên quan người Việt theo đạo Da-tô “ngoan đạo” tuyệt đối trung
thành với Giáo Hội La Mã ở bên cạnh với nhiệm vụ dò xét canh
chừng và cố gắng biến đổi ông vua bù nhìn này theo đạo Da-tô. Từ
năm 1904 cho đến năm 1933, hai tín đồ Da-tô Ngô Đình Khả và
Da-tô Nguyễn Hữu Bài được giao phó cho giữ vai trò này. Ngòai
ra, bộ máy cai trị ở Trung Kỳ được tổ chức giống như hệ thống tổ
chức cai trị ở Bắc Kỳ, nhưng việc bổ nhậm các viên chức người
Việt như Tổng Đốc, Tri Phủ và Tri Huyện còn phải mang danh nghĩa
của triều đình Huế dù rằng trong thực tế đều do người Pháp và
các ông cố đạo người Âu quyết định. Bên cạnh triều Đình Huế, có
viên Khâm Sứ (Resident Supérieur) người Pháp với danh nghĩa là
làm cố vấn cho nhà Vua mà thực tế là nắm thực quyền cai trị ở
miền Trung và chỉ để cho nhà vua lo việc tế tự. Mỗi tỉnh, cũng
đều có một viên Công Sứ (Resident), Mỗi phủ, huyện, tổng và xã
hay làng cũng đều có những viên chức giống y như các phủ,
huyện, tổng và làng xã ở Bắc Kỳ. Về luật Pháp, một phần
theo luật pháp của nhà nước Bảo Hộ của người Pháp và một phần
theo luật nhà Nguyễn.
KẾT LỤÂN:
Phần trình bày trên đây cho thấy rằng, tất cả 5 xứ Nam Kỳ, Bắc
Kỳ, Trung Kỳ, Cao Miên và Ai Lao bị coi như là 5 quốc gia
riêng biệt. Tất cả đều nằm dưới quyền cai trị của viên Toàn
Quyền Đông Dương (Gouverneur Général) có văn phòng đặt tại Hà
Nội. Đối với Đế Quốc Pháp và Giáo Hội La Mã, Đông Dương là một
đơn vị thuộc địa của họ, những đối với người dân bản đia, thì 5
xứ này bị coi như là 5 thuộc địa riềng biệt. Dân bản địa muốn đi
qua xứ khác phải có giấy thông hành. Triều đình nhà Nguyễn ở Huế
cũng như triều đình Ai Lao ở Kinh Đô Luang Prabang và triều
đình Cao Mên ở Nam Vang chỉ là hư vị, được giặc giữ lại làm bình
phong để lừa gạt người dân bản địa với mục đích làm cho nhân dân
ta lầm tưởng rằng đất nước vẫn còn độc lập và có nhà vua đang
tại vị. Đây chính là thủ đoạn hay kế sách làm mất đi cái chính
nghĩa của các tổ chức kháng chiến của nhân dân ta. Có như vậy,
chúng mới dễ dàng gán cho các tổ chức kháng chiến của nhân dân
ta là những “quân phản lọan”. Cho đến ngày nay, chúng ta
vẫn còn thấy, bọn sử nô Da-tô hay bọn Việt gian có liên hệ khắng
khít với Pháp và Giáo Hội La Mã vẫn còn sử dụng cụm từ “quân
phản lọan” để nói về những lực lượng nghĩa quân của nhân dân
ta để chạy tội hay bào chữa cho những hành động “rước voi về
giầy mà tổ” của ông cha chúng hay chính bản thân chúng. Đây
là một trong những thủ đoạn thâm độc trong chính sách chia để
trị của Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican.
CHÚ THÍCH
[i]
Bửu Kế. “Tòa Khâm Sứ Pháp.”
www.giaodiem.com. Tháng 5/2005.
[ii]
Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr 51-52.
© sachhiem.net
Xem các chương khác:
VATICAN:CH06- Cấu Kết Với Cường Quyền (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH11- Bản Chất Lươn Lẹo (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH11- Bản Chất Nhận Vơ (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH11- Cưỡng Từ Đoạt Lý (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH11- Diễn Biến Sự Rã Đám của Chính Quyền Miền Nam (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH11- Thói Quen Tiếm Quyền (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH11- Đảo Lộn Lịch Sử (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH18- Lộ Đồ Chinh Phục Thế Giới (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH19- Thiết Lập Các Đạo Quân Thứ 5 (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH20- Đoàn Ngũ Hóa Tín Đồ (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH21- Vận Động Pháp Lần Thứ Nhất (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH22- Lần Thứ Hai Vận Động Pháp Chiếm Việt Nam (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH23- Lần Thứ Ba Vận Động Pháp Chiếm Việt Nam (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH24- Sách Lược Nội Công Ngoại Kích (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH25- Bộ Máy Cai Trị Của Liên Minh (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH26- Đời Sống Dân Ta Trong Thời Pháp-Vatican Đô Hộ (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:Ch27- Tiền Bạc, Châu Báu Bị Vatican Cướp Đoạt(Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH28- Chính Sách Thuế Khóa và Sưu Dịch (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH29- Cướp Chùa, Ruộng Đất, Xây Nhà Thờ (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH30- Hậu Quả Của Chính Sách Thuế Khóa (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH31- Hai Cảnh Đời Trái Ngược (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH6- Cấu Kết Với Cường Quyền (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1a NGÔ ĐÌNH DIỆM: Con Người và Tội Ác (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1b Sơ Lược Cuộc Đời của NGÔ ĐÌNH DIỆM (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1c Tại Sao Gọi Là Tam Đại Việt Gian (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1d Cuồng Tín (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1e Những Đặc Tính Chung của Các Tín Đồ Ca-tô (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1f Tình Trạng Ngu Dốt Của Ông Diệm (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1g Những Việc Làm tàn Ngược Của Ông Diệm (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1g Những Việc Làm tàn Ngược Của Ông Diệm (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1g Những Việc Làm tàn Ngược Của Ông Diệm (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH7- Bộ Máy Đế Quốc Gia Tô La Mã (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH7- Bộ Máy Đế Quốc Gia Tô La Mã (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH8- Hủy Diệt Nền Văn Minh Nhân Loại (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH8- Hủy Diệt Nền Văn Minh Nhân Loại (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH8- Phụ Bản (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH8- Phụ Bản (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH92-1: Vấn Nạn Giáo Hội La Mã (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH92-2: Vấn Nạn Giáo Hội La Mã (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH92-3: Vấn Nạn Giáo Hội La Mã (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH92-4: Vấn Nạn Giáo Hội La Mã (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:Chương Dẫn Nhập (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:Chương Dẫn Nhập tt (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:Mục X- Vatican Cướp Đoạt Tài Sản Việt Nam (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:Sơ Lược Hồ Sơ GHLM (Nguyễn Mạnh Quang)