Chương này nói về bước 1 tức là
thời kỳ Giáo Hội gửi các điệp viên với danh nghĩa là các nhà truyền đạo
đến các vùng mục tiêu, điều nghiên nhân dân bản địa để biết rõ những
thành phần nào trong xã hội dễ phỉnh nịnh và mua chuộc nhất bằng vật
chất rồi móc nối, lôi cuốn họ vào đạo để họ giúp đỡ, bao che, cưu mang
và tiếp tay trong việc thiết lập màng lưới gián điệp thâu thập tin tức
tình báo chiến lược. Muốn thực hiện được kế sách này, các nhà truyền
giáo tiền phong khi mới nhập cảnh vào Việt Nam phải triệt để hành động
theo đúng như lộ đồ của kế sách mà họ đã điều nghiên rất cẩn thận trước
khi được phái đến Việt Nam hay bất kỳ vùng mục tiêu nào khác.
NHỮNG KẾ SÁCH ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM
TỪ NĂM 1533 ĐẾN NĂM 1954
Những kế sách thâu người vào đạo tùy thuộc vào
quyền lực của Giáo Hội tại vùng mục tiêu. Nói chung, những thủ đoạn căn
bản của Giáo Hội là dựa vào những thủ đoạn lừa bịp, lường gạt và sử dụng
quyền lực của nhà nước và chức vụ trong chính quyền hoặc thế thượng
phong của Giáo Hội hay của tín đồ để lùa con mồi đút đầu vào cái rọ
Da-tô (Catholic loop) để cho Giáo Hội siết cổ.
1.- Lân la tiếp xúc với những người dân cùng khổ
hay những người đang ở trong hoàn cảnh khó khăn rồi tùy theo hoàn cảnh
để mua chuộc họ bằng cách giúp đỡ thuốc men, vật chất trong lúc ngặt
nghèo khốn khó. Trong khi tiếp xúc với họ, các ông truyền giáo luôn luôn
nhắc nhở họ phải cầu xin Chúa ban ơn cứu giúp thì mới có hy vọng được
Chúa giúp cho tai qua nạn khỏi. Dĩ nhiên, những người cùng khổ đã được
giúp đỡ về vật chất thì chắc chắn là thoát khỏi cảnh khốn cùng, và họ dễ
dàng tin rằng vì họ đã theo đạo cho nên mới được Chúa giúp đỡ. Ta gọi
những tín đồ Da-tô thuộc loại này là những người “đi đạo lấy gạo
mà ăn”. Hầu hết những người này là những người ít học và dốt
nát. Được giúp đỡ thóat khỏi cảnh khó khăn, họ dễ dàng tin tưởng, và dễ
dàng bị mê hoặc và biến thành những tín đồ Da-tô cuồng tín.
Trước năm 1945, phần lớn những tín đồ Da-tô
người Việt Nam thuộc loại này. Sự kiện này được ông Hà Giang nói rõ
trong bài viết "Cứu Trợ Nhân Đạo" đăng trên www.giaodiem.com
tháng 7/2003, với nguyên văn như sau:
"Tình trạng xáo trộn chính trị và nạn đói vào
đầu thế kỷ 20 ở Việt Nam, nhất là ở các tỉnh như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà
Tĩnh, v.v... được giới truyền giáo Tây Phương xem như là một cơ hội lý
tưởng để bành trướng đạo Kitô.
Nhiều văn thư trao đổi giữa các giáo sĩ và các
quan chức Pháp thời đó cho thấy rõ ràng chiến lược lợi dụng sự nghèo khổ
của người Việt Nam để truyền đạo. Chẳng hạn như một lá thư của Đức Cha
Marcou, giám mục một địa phận miền biển Đàng Ngoài gửi cho "Bề Trên" (đề
ngày 14/ 9/1902) [trích đoạn]: "Hiện tại phương pháp họat động tông đồ
tốt nhất có lẽ là tăng gấp bội họat động từ thiện và giúp đỡ về vật chất
càng nhiều càng tốt." Một thư khác đề ngày 8/ 4/ 1889 của một nhóm 17
người xin phép bỏ đạo Công Giáo để trở lại với Phật Giáo viết [trích
đoạn]: "Chúng tôi trước đây là tín đồ Phật Giáo. Vào đạo năm 1886, người
ta nói chúng tôi được tự do làm người Phật Giáo hoặc Công Giáo. Hơn nữa,
vị cha xứ địa phương bảo chúng tôi rằng nếu chúng tôi đón nhận Công
Giáo, chúng tôi sẽ được miễn sưu thuế mà người Phật Giáo phải đóng. Đó
là lý do chúng tôi rửa tội theo Công Giáo."
[i]
2.- Tìm kiếm các gia đình đang ở trong hoàn cảnh
cùng cực nghèo khổ, làm thân với họ, rồi thuyết phục để mua con
em của họ đem về nuôi dưỡng, và hứa hẹn với họ rằng những em bé này
sẽ được đào tạo thành những người có tương lai xán lạn. Sự kiện các ông
truyền giáo bỏ tiền ra mua các trẻ em con nhà nghèo khổ như vậy được
Tiến-sĩ Vũ Ngự Chiêu ghi lại trong cuốn Ngàn Năm Soi Mặt như sau:
"Vào giữa thế kỷ XIX, "bán con" là một hủ tục
quen thuộc tại Đại Nam (cũng như Trung Hoa). Cho đến thập niên 1940, tức
khoảng 100 năm sau ngày Petrus Key làm con nuôi các cố đạo, vẫn còn tục
lệ bán con nói trên.
Trong khi đó, vì chính sách bài đạo của
nhà Nguyễn, các giáo sĩ Kitô tìm đủ mọi cách để gia tăng số tín đồ.
Trong kế họach gia tăng giáo dân trên có việc dùng tài lợi mua chuộc,
nuôi dưỡng trẻ mồ côi, và mua con nít của những gia đình Lương nghèo khổ
(như ăn mày) để huấn luyện làm thày kẻ giảng, và nếu đứa trẻ thông minh,
có thể huấn luyện làm giáo mục bản xứ. Tại Cao Miên, số tiền các giáo sĩ
bỏ ra để rửa tội cho mỗi người ngoại đạo lên tới 100 quan vào năm
1858..... Số trẻ em mồ côi hoặc con nhà nghèo bán cho các nhà tu hàng
năm cũng khá quan trọng. Đa số "các chú" trong các "nhà Chúa Blời" đều
là cô nhi hay con nhà nghèo được giáo sĩ bỏ tiền ra mua về."
[ii]
3.- Tìm kiếm những đứa trẻ mồ côi, không cha,
không mẹ lượm đem về nuôi ở trong các viện mồ côi rồi đem chúng ra
nhà thờ rửa tội.
4.- Móc nối với những thành phần chống
đối chính quyền đương thời và hứa hẹn sẽ thỏa mãn những khát vọng chính
trị của họ. Trong những năm 1780 cho đến thập niên 1880, Giáo Hội
cho người đì tìm kiếm những hạng người sinh vô gia cư, tử vô
địa táng và những thành phần bất mãn với chính quyền đương thời rồi móc
nối và hứa hẹn giúp đỡ cho họ thỏa mãn khát vọng mà họ đang theo đuổi.
Đến đây, chúng ta nhớ lại, ngay sau khi “hai vạn quân và 300 chiến
thuyền của viện quân Xiêm sang giúp Nguyễn Vương” bị Nguyễn Huệ đánh
tan ở Rạch Gầm và Xoài Mút (gần Mỹ Tho) vào năm 1784, Giám-mục Pigneau
de Béhaine (Bá Đa Lộc) liền chụp lấy cơ hội ngàn năm một thuở này, lân
la đến làm quen với Nguyễn Ánh và hứa hẹn sẽ thân hành sang Pháp cầu cứu
viện binh đem về giúp Nguyễn Vương đánh bại nhà Tây Sơn. Nhờ vậy mà Bá
Đa Lộc đã lùa được Hoàng Tử Cảnh vào cái tròng Da-tô. Sau khi Hòang Tử
Cảnh đã trở thành tín đồ Da-tô, các đời con, đời cháu của ông hoàng này
tiếp nối nhau đến đời Cường Để và đàn con của Cường Để là Tráng Liệt
cũng vẫn tiếp nối nhau là tín đồ Da-tô. Dưới đây là một vài vụ điển hển
theo sách lược trên đây:
a.- Vụ nổi lọan của Lê Văn Khôi: Ông cố đạo
Joseph Marchand xúi giục Lê Văn Khôi nổi loạn. Cũng vì thê mà khi Lê
Văn Khôi nổi loạn chống lại triều đình Huế vào năm 1833, lúc đó Linh-mục
Joseph Marchand (cố Du) đã có mặt ở trong thành Phiên An làm cố vấn cho
Lê Văn Khôi để lôi cuốn đám lính nổi lọan và thân nhân họ theo đạo. Mấy
đoạn văn sử dưới đây trong cuốn Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân
Tại Việt Nam cho chúng ta thấy rõ vai trò quan trọng của ông cố Du
trong vụ loạn Lê Văn Khôi:
”Vụ Lê Văn Khôi và nhiều vụ khác đã trình bày rõ
rệt cho vua quan thấy rằng các người truyền giáo, thay vì đứng nguyên
trong vai trò thiêng liêng của mình lại xen vào chính trị, tìm cách thúc
đẩy các người đổi đạo chống lại chính quyền hợp pháp để chuẩn bị cho một
chính phủ thân Thiên Chúa giáo lên cầm quyền. Khôi là con nuôi của Tổng
Trấn Lê Văn Duyệt. Ông này là bạn và chiến hữu của Gia Long. Viên Tổng
Trấn chống đối việc chọn Minh Mạng làm Đông Cung Thái Tử, cho nên khi
lên ngôi, nhà vua đã thi hành những biện pháp cực kỳ nghiêm ngặt đối với
Lê Văn Duyệt, người đã sống và chết cùng với dòng họ ông ta. Do đó, Khôi
nổi dậy chống Minh Mạng từ 1833 đến 1835, chiếm toàn thể Nam Kỳ và bổ
nhiệm quan lại. Các người truyền giáo và các con chiên rất tích cực tham
gia vào cuộc nổi dậy này. Một bức thư bắt được trên chiếc tàu bị chặn
ngoài khơi Phú Quốc, trong thư Lê Văn Khôi yêu cầu Giám Mục Taberd lúc
đó đang trốn tránh tại Xiêm La trở lại Saigon. Những người đi Xiêm cầu
viện là những tín đồ Da Tô. Khi chiếm Saigon, triều đình thấy trong
thành có Linh Mục Marchand, người đã được một linh mục Việt Nam dẫn từ
Trà Vinh lên và chắc muốn đóng vai trò của Pigneau de Béhaine bên cạnh
các người nổi loạn, với hy vọng biến Nam Kỳ thành một vương quốc ly khai
đặt dưới quyền lãnh đạo của Da Tô giáo. Linh Mục Marchand cùng năm người
cầm đầu khác bị đưa về Huế và bị xử lăng trì.”
[iii]
Sách Lịch Sử Đạo Thiên Chúa Trong Lịch Sử Dân Tộc
Việt cũng nói rõ vai trò của tên cố đạo Marchand trong vụ Lê Văn Khôi
nổi loạn chống triều đình Huế với nguyên văn như sau:
"Mở đầu cho thời kỳ này được đánh dấu bằng cuộc
nổi dậy của Lê Văn Khôi, con nuôi Lê Văn Duyệt, chiếm thành Gia Định,
đánh lại triều Nguyễn suốt 3 năm. Tham dự tích cực vào cuộc (nổi loạn)
này có giáo sĩ Marchand - Cố Du và nhiều người Công Giáo Việt Nam. Tài
liệu Pháp đã công bố bức thư của Cố Du gửi cho Giám-mục Taberd ở Xiêm
khẳng định sự họat động tham gia nổi dậy của Cố Du và một bộ phận người
Việt Công Giáo, khẳng định việc cầu viện quân Xiêm…”
[iv]
b.- Vụ Hồng Bảo: Sau khi vụ Lê Văn Khôi nổi
loạn do tên cố đạo Marchand chủ mưu và xúi giục bị triều đình Huế đánh
tan, Vatican và bọn truyền giáo Da-tô bàn nhau tìm đủ mọi phương cách
tìm xúi giục những con mồi khác nổi loạn để đánh phá và lật đổ nhà
Nguyễn với ý đồ biến những con mồi này thành tín đồ Da-tô rồi đưa lên
làm thủ lãnh cầm quyền để biến Việt Nam thành một vương quốc Ki-tô thần
phục Vatican. Sự kiện này được nhà viết sử Huy Vũ thuộc Viện Sử Học Việt
Nam ghi lại như sau:
"Tháng 3 năm 1848, hai Giám -mục Retord và
Géantot từ Việt Nam gửi thư cho vua Louis Philippe (1830-1848) yêu cầu
nước Pháp chính thức can thiệp vào Việt Nam. Tháng 4 năm 1851, Giám-mục
Retord viết thư cho Giám-mục Foreade khằng định yêu cầu đó. Tháng 12 năm
1855, Bá Tước De Courcy báo cáo với Bộ Ngọai Giao Pháp về ý kiến đề xuất
của hai linh mục Libois và Legrand de Liraye đề nghị giúp con cháu nhà
Lê làm cuộc nổi dậy lật đổ triều đình nhà Nguyễn bám vào tiền đề là Hòa
Ước Versailles 1787. Cùng lúc đó các tầu chiến Pháp tăng cường
"thăm viếng" Việt Nam, khiêu khích dọa nạt và nổ súng bắn phá đồn lũy
quân Nguyễn. Tháng 1 năm 1851, Hồng Bảo, anh Tự Đức, mưu lật ngôi em, bị
bại lộ, tuyên bố dựa vào sự gíup đỡ của những người Công Giáo. Cũng
trong năm 1851, xuất hiện hai nhân vật giáo sĩ đã thuyết phục thắng lợi
nước Pháp can thiệp vào Việt Nam. Đó là Linh-mục Huc người Trung Quốc và
Giám-mục Pellerin. Giám-mục Pellerin đã từ Việt Nam lén về Pháp rồi sang
cả Roma vận động, đề xuất cả một kế hoạch thiết lập chế độ bảo hộ Việt
Nam. Kế hoạch này được Linh-mục Le Grand de la Liraye và Giám-mục
Retord tích cực giúp sức. Trong việc vận động có cả ý kiến đưa một cuộc
nổi dậy của người Công Giáo Việt Nam làm nội ứng. Thế là chính phủ Pháp
chính thức công bố quyết định vũ trang can thiệp vào Việt Nam vào tháng
7 năm 1857." [v]
c.- Vụ Tạ Văn Phụng: Sau khi vụ Hồng Bảo
thất bại, Vatican và bọn truyền giáo quay ra xúi giục một tín đồ Da-tô
khác là Tạ Văn Phụng nổi loạn chống lại triều đình Huế với ý đồ tách
rời Bắc Kỳ ra khỏi nước Việt Nam (còn lại) để thành lập một Vương quốc
Ki-tô và tay sai cho Vatican. Sự kiện này cũng được sách sử ghi lại rõ
ràng như sau:
"Trước hết là những cuộc nổi loạn liên miên của
các cộng đồng giáo dân Kitô, tiêu biểu bằng tổ chức hải tặc Tạ Văn Phụng
(Lê Duy Minh), với khẩu hiệu thiết lập một vương quốc Kitô, và thổ phỉ
Lê Duy Huân, tức khôi phục nhà Lê."
[vi]
Về vụ Tạ Văn Phụng nổi loạn, Tiến-sĩ Cao Huy Thuần
viết trong sách Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam như
sau:
"Bắc Kỳ phải tách khỏi các vùng đất khác của
nước Việt Nam để trở thành một nước độc lập. Đó là đề nghị của Giám-mục
Retord, vị đại diện Tòa Thánh ở Tây Bắc Kỳ, đã nhờ quận Công Kleczkowski
trình bày cho Bộ Ngọai Giao.
Cần phải trục xuất triều vua này và đặt một
người thuộc dòng dõi nhà Lê lên thay thế; hiện nay ở Bắc Kỳ có một số
con cháu họ này mà người Bắc Kỳ rất thương tiếc. Các người này
theo đạo, đây là cơ hội tốt để đạo Thiên Chúa lên ngôi ở xứ An Nam qua
ông vua mới này. Nước Pháp trở thành người bảo vệ cho Vương Quốc và sẽ
tạo ra những hiệp ước tự do buôn bán, dân sự, tôn giáo nào mà nó muốn.
Nếu nước Pháp làm được tất cả những điều đó và nếu nước Pháp tách rời
Bắc Kỳ ra khỏi Nam Kỳ bằng cách lập một ông vua cai trị thủ đô cũ của
Bắc Kỳ, chúng ta sẽ thực hiện hạnh phúc lớn lao của người Bắc Kỳ mơ
tưởng. Nếu nước Pháp chinh phục cả nước (việc này chắc không khó và theo
tôi có đủ lý do để làm việc đó) và cai trị trực tiếp người Bắc Kỳ cũng
sẽ bằng lòng, nhưng họ thích chịu sự bảo hộ và ảnh hưởng của
người Pháp với một ông vua riêng của họ hơn."[vii]
Đọc các sách sử nói về thời kỳ từ cuối thập niên
1810 cho đến giữa thập niên 1880, chúng ta sẽ thấy các nhà truyền giáo
Da-tô đã sử dụng trăm phương ngàn kế để thi hành sách lược tạo loạn,
đánh phá và lật đổ triều đình Nhà Nguyễn với dã tâm đưa một tín đồ Da-tô
người Việt lên cầm quyền để làm tay sai cho Vatican. Một trong những
quái chiêu trong sách lược này là xúi giục những thành phần bất mãn với
nhà Nguyễn nổi lên đánh phá để gây hỗn loạn trong nhân dân, rồi Giáo Hội
thừa cơ nhẩy vào khai thác để thủ lợi. Đặc biệt là những hoạt động tiếp
sức cho những nhóm nổi loạn do bọn giáo sĩ giật dây đánh bại nhà Nguyễn,
rồi đưa nhóm tín đồ Da-tô lên nắm chính quyền và sau đó sẽ tiến hành kế
họach Kitô hóa nhân dân bằng những phương tiện của chính quyền.
Trong thời kỳ tiến quân đánh chiếm Việt Nam từ giữa
thế kỷ 19 và thống trị nước ta cho đến tháng 3 năm 1945, Giáo Hội La Mã
cũng đã đưa ra chính sách "Chia Để Tri" và chủ trương tiến hành
Kế Hoạch Kitô Hóa như trên, nhưng bị các nhà cầm quyền người Pháp bác
bỏ. Lý do là vì hầu hết những người Pháp có thế lực trong chính quyền ở
Pháp cũng như ở Đông Dương là những người thuộc Phe Cấp Tiến hay là
thành viên của Hội Tam Điểm ở chính quốc Pháp vốn không ưa Giáo Hội La
Mã. Vì thế mà Kế Hoạch Kitô Hóa Việt Nam của Giáo Hội La Mã do Giám-mục
Puginier biên soạn và đề nghị không được triệt để thi hành, mà chỉ được
áp dụng trong một phạm vi giới hạn và ngấm ngầm, chứ không công khai và
lộ liễu như ở miền Nam Việt Nam vào những năm 1954-1975.
5.- Chèn ép hay cưỡng bách những người muốn
thành hôn với người yêu là tín đồ Da-tô phải theo đạo. Đây là hành
động bắt cóc hạnh phúc gia đình của những cặp uyên ương yêu nhau muốn
sống đời đời kiếp kiếp với nhau dưới cùng một mái nhà. Sách lược này
giống y hệt như bọn ăn cướp bắt cóc con cái thân nhân các gia đình giầu
có làm con tin để đòi tiền chuộc mạng. Ở đây hạnh phúc của người khác
tôn giáo muốn thành hôn với người yêu là tín đồ Da-tô bị Giáo Hội La Mã
bắt cóc rồi đòi hỏi nạn nhân phải chuộc lại bằng cách phải chấp nhận
theo đạo Da-tô. Như vậy Giáo Hội là một nhà tù giam giữ hạnh phúc của
nạn nhân và viên quản ngục chính là người phối ngẫu của nạn nhân. Hành
động bỉ ổi, đê tiện, và khốn nạn này của Giáo Hội La Mã đã trở thành
nguồn cảm hứng cho dân ta có những vần thơ châm biếm như:
Lạy Chúa Ba Ngôi,
Tôi lấy được vợ tôi thôi đi nhà thờ.
Giáo Hội và giáo dân cuồng tín đều biết việc làm
này là bỉ ổi và cũng biết cả thực trạng “Lạy Chúa Ba Ngôi, Tôi lấy được
vợ, tôi thôi đi nhà thờ”. Nhưng họ bất cần, họ vẫn lì lợm làm như vậy.
Họ tin rằng họ đã có người phối ngẫu làm quản ngục cầm giữ nạn nhân và
sẽ bắt những đứa con của nạn nhân phải rửa tội ngay khi còn bế ngửa.
Trong những giờ lễ trong các nhà thờ cũng như trong các lớp học ở các
bậc tiểu và trung học (do Giáo Hội làm chủ - trường đạo), trẻ em bị nhồi
nhét vào đầu óc ngây thơ trong trắng những tín lý Ki-tô hoang đường nhảm
nhí và những giáo luật độc đoán nặng tính cách áp bức, bóc lột và bốc
hốt. Lòng trẻ em như tờ giấy trắng, những thứ rác ruởi nhảm nhí trên đây
giống như một thứ mực đen nhuộm vào rồi, thì sau đó không còn có cách gì
tẩy xóa được nữa.
6.- Tìm cách dụ khị và mê hoặc những thành phần
ngu dốt. Một số trẻ em vì theo học trường đạo từ tuổi còn nhỏ, nên
dễ dàng bị bị mê hoặc vì vui với bạn học cùng lớp là tín đồ Da-tô rồi
theo đạo. Đây là lọai những người theo đạo hoặc vì mê tín hoặc vì
thiếu thông minh. Sau năm 1975, tại hải ngoại, có một số thuyền nhân
ở vào trường hợp này. Khi còn đang lênh đênh trên mặt biển, mọi người
đều lo sợ những rủi ro có thể xẩy đến bất cứ lúc nào. Giữa lúc đó, có
người đến hiến kế, nói rằng, "Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp linh thiêng lắm,
nếu cầu xin Mẹ, thì Mẹ sẽ giúp cho đến bờ đến bến.” Trong hoàn cảnh
lo sợ bị hải tặc đến cướp của giết người và hãm hiếp đàn bà con gái, hay
trong hoàn cảnh gần như tuyệt vọng ở giữa đại dương mênh mông, người ta
dễ xiêu lòng và tin vào một sức mạnh huyền bí đến bất cứ từ đâu. Thế
rồi, trong suốt hải trình, may mắn cho họ là không có gì xẩy ra, rồi họ
đến được trại tỵ nạn, sau đó lại được vào định cư ở Hoa Kỳ hay ở một
quốc gia nào khác. Người bạn đi cùng tầu vượt biển đã từng đưa ra lời đề
nghi cầu xin Đức Mẹ Hăng Cứu Giúp (để được cứu giúp) vẫn bám sát hay
liên lạc thường xuyên với họ và luôn luôn nhắc nhở họ phải (nên) theo
đạo để tỏ lòng tạ ơn Đức Me. Dĩ nhiên là chỉ những người ngu dốt hay
không có lý trí mới tin như vậy và làm như vậy. Người viết được biết một
ông bác sĩ ở Federal Way (Washington) có chủ tâm "theo đạo để làm ăn
được dễ dàng với khách hàng là tín đồ Da-tô" đã viện cái "cớ"
này khi theo đạo Da-tô để cho nó có vẻ "danh chính ngôn thuận" và
cũng là để tỏ ra là người biết giữ "chữ tín". Đúng ra, ông bác-sĩ
này phải được xếp vào loại số 8 ở dưới (mượn đạo để tạo danh đời)
vì rằng chủ tâm của ông ta theo đạo Da-tô để câu nhử hay lôi cuốn tín đồ
Da-tô người Việt đến phòng mạch của ông ta. Cũng nhờ đã theo đạo Da-tô,
mà sau đó thế lực đen vốn khống chế các hội đoàn và các phương tiện
truyền thong ở hải ngoại đã bố trí cho ông ta trở thành chủ tịch cộng
đồng tại thành phố lớn đứng hàng thứ nhì ở miền Tây tiểu bang Washington
vào những năm 1999-2001. Vì là một người mới trở lại đạo (tân tòng), ông
bác sĩ này phải theo cái thói quen vu khống hay chụp mũ (vốn là truyền
thống của đạo Da-tô) của các ông chủ tịch cộng đồng các địa phương ở Bắc
Mỹ. Cũng vì thế, ông bác sĩ này trở thành một trong mấy người chủ động
việc chụp “cái mũ Cộng Sản” cho bà Minh Anh Hodge, Giám Đốc Chương trình
Ngọai Ngữ và Tiểu Học tại Nha Học Chánh Tacoma, một phụ nữ hiền thục và
mẫn tiệp, được nhiều người Việt trong vùng quý mến vì bà luôn luôn giúp
đỡ tận tình cho những người gặp phải hòan cảnh khó khăn.
7.- Khủng bố và hù dọa khiến cho nạn nhân sợ quá
mà phải theo đạo để khỏi bị chụp mũ là “Cộng Sản” hay “Cộng Sản nằm
vùng”.- Trong những năm 1954-1963, tại miền Nam Việt Nam, đặc biệt
là ở các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Qui Nhơn và Khánh Hòa,
có tới khỏang 300 ngàn người bị chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm
thủ tiêu hay sát hại trong các chiến dịch “làm sáng danh Chúa”. Các
chiến dịch này được tiến hành theo tinh thần thập tự quân thời Trung Cổ
và Sắc-chỉ Romanus Pontifex (như đã nói trên) được ngụy trang và được
chính quyền đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm hợp pháp hóa bằng Sắc Luật 47
ban hành vào ngày 21/8/1956 và Luật Số 10 ban hành vào ngày 6/5/1959.
Những hành động giết người không gớm tay của bọn công an, mật vụ, cảnh
sát và lính đạo theo tinh thần thập tự quân trong các chiến dịch này gây
nên một tâm lý kinh hoàng trong nhân dân khiến cho một số nhiều người
khiếp sợ và tìm cách theo đạo để được an thân, nếu không, thì sẽ bị chụp
mũ là “Cộng Sản” hay “Cộng Sản nằm vùng” và sẽ bị thủ tiêu hay bị sát
hại giống như số phận của 300 ngàn nạn nhân như đã nói trên. Sự kiện này
được Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghị lại như sau:
“Bên cạnh chủ nghĩa hiếu thắng bề ngoài đó, phải
nói thêm một thứ hiếu thắng khác về "mục vụ" như là đặc điểm của Giáo
Hội trong thời kỳ này, đó là việc đưa dân ngọai vào đạo. Giám-mục Ancel
phụ tá địa phận Lyon (Pháp), đã nhắc lại lời Giám-mục Thục: "Có những
làng nguyên vẹn xin chịu phép rửa. Người ta không làm sao dạy giáo lý
kịp cho họ...! Và ông kết luận: "Đây là nước duy nhất tại Viễn Đông
(không kể Philippines) đang trên đà trở lại đạo cả nước". Những con số
người lớn chịu rửa tội, nhất là tại địa phận Qui Nhơn xem ra phù hợp với
cảm tưởng của vị giám mục Pháp: 16.323 năm 1956-1957, 27.385
năm 1958-1959, 37.429 năm 1960-1961. Năm 1959, tại Qui Nhơn, chỉ
trong một tháng, 61.000 người xin chịu phép rửa. Ơn Chúa hình như
đùng một phát tuôn xuống như mưa trên địa phận của Giám-mục Chi, giám
mục phụ trách di cư những năm 1954-1955, ông đã nhận được từ cơ quan
Viện Trợ Công Giáo Hoa Kỳ 38 triệu đô la, và của tổ chức viện trợ Pháp
cũng như Caritas quốc tế còn nhiều triệu khác nữa.
Phong trào trở lại đạo hàng loạt như thế vừa
là kỳ diệu vừa gây khó chịu, bởi vì dân chúng các vùng đó đã sống dưới
quyền kiểm soát của Việt Minh trong thời chiến tranh Pháp - Việt.
Giám-mục Chi đã cho chúng tôi biết rằng phép lạ đó, một phần đã nhờ có
việc tuyên truyền "thuyết nhân vị" của chính phủ, dọn đường cho quần
chúng tới đây tìm gặp được đạo công giáo và đàng khác nhờ các việc từ
thiện công giáo, các trường học, cô nhi viện, nhà thương, điểm phát quần
áo, bánh mì và lương thực. Có người cho rằng việc theo đạo hàng lọat đó
chỉ lặp lại theo ngạn ngôn đã có từ thời Pháp, "đi đạo lấy gạo mà ăn"
thôi. Quả thế, viện trợ Công Giáo từ ngoài vào đều do các linh mục tự
tiện thao túng và thường chỉ để phân phát cho người Công Giáo. Dân chúng
miền Trung này là vùng nghèo nhất miền Nam, chẳng qua đã tìm nơi việc
theo đạo Công Giáo là một phương thế kiếm ăn. Có người cho rằng họ vào
đạo để khỏi bị sách nhiễu về chính trị. Quần chúng ở đây, vì đã từng
sống lâu năm dưới chế độ Việt Minh, nên bị tình nghi có liên hệ với "kẻ
địch", bây giờ vào đạo là gặp được con đường để tỏ lòng trung thành với
chế độ (Diệm), hoặc ít ra cũng tránh được những quấy nhiễu của cảnh sát.
Đó là ơn Chúa hay chỉ do động cơ khác của con người?.
Điều chắc chắn là phong trào trở lại đạo này
đã chấm dứt vào cuối năm 1963, ngay khi Tổng Thống Công Giáo Diệm bị lật
đổ."[viii]
8.- Liên kết với các thế lực đế quốc thực dân
xâm lực hay chính quyền chuyên chế địa phương rồi dựa vào thế lực
của nhà nước thi hành kế họach Ki-tô hóa nhân dân bằng những phương tiện
của chính quyền. Xin gọi đây là sách lược “cáo đội lốt hùm”. Nhờ
có thể dựa vào thế lực chính quyền, các ông truyền giáo liền cho người
đi tìm kiếm những người thèm khát quyền lực và chức vụ trong chính quyền
để móc nối và hứa hẹn sẽ giúp đỡ cho họ được toại nguyện. Sau đó, Giáo
Hội lại tìm cách móc nối với những người có thế lực trong chính quyền để
giúp đỡ cho con mồi mà Giáo Hội đã hứa hẹn. Nếu công việc thành công
thì coi như là cá đã cắn câu. Nói cho rõ hơn, con mồi đã lọt vào cái
tròng Da-tô (the Catholic loop). Người Việt Nam ta gọi những người này
là “những người mượn danh đạo tạo danh đời”. Loại người này theo
đạo chỉ có một mục đích duy nhất là dựa vào thế lực của đạo để leo lên
bước thang danh vọng hay quyền lực. Đây là trường hợp của những người
như Lâm Văn Phát, Lâm Lễ Trinh, Tôn Thất Thiện, Huỳnh Hữu Nghĩa, Đặng
Văn Quang, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Văn Y, Nguyễn Đình Thuần, v…v. Nói
về những hạng người này, Giáo Sư Vũ Văn Mãu nêu đích danh một số những
nhân vật có chủ tâm theo đạo Da-tô để được thăng quan tiến chức trong
chính quyền đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm. Dưới đây là mấy đoạn văn của
Giáo-sư Vũ Văn Mẫu nói về sự kiện này:
"Trong Tiết 1, tôi đã nói đến trường hợp Bộ
Trưởng Phủ Tổng Thống là Nguyễn Đình Thuần đã quỳ trong Dinh Độc
Lập để hôn nhẫn Hồng Y Giáo Chủ Agagianian. Người ta cho rằng nhờ rửa
tội theo Thiên Chúa Giáo, Nguyễn Đình Thuần đã được bổ nhiệm (thăng) từ
Đổng Lý Văn Phòng lên Chức Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống.
Đại Tá Nguyễn Văn Y cũng nhờ chịu rửa tội theo
Thiên Chúa Giáo mà được bổ nhậm làm Tổng Giám Đốc Nha Cảnh Sát Công An,
một chức vụ mà ai cũng rõ phải được sự tin cẩn tột bực của Tổng Thống
Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Nguyễn Văn Thiệu cũng rửa
tội theo đạo khi mới đóng cấp tá dưới nền Đệ Nhất Cộng Hòa. Ngòai ra,
các chức vụ quan trọng đều giao phó cho người Thiên Chúa Giáo. Các người
tân tòng bị chế diễu là "đạo đứng" vì các người đạo gốc được rửa tội
ngay khi mới sinh, còn ẵm ngửa.
Trả lời phái đoàn Liên Hiệp Quốc sang điều tra
vụ đàn áp Phật Giáo, nhân chứng số 43 đã đề cập đến trường hợp ông Trần
Văn Lắm: " Ông Trần Văn Lắm trước kia là Đại Biểu Chính Phủ tại Nam
Phần, bây giờ là Đại Sứ Việt Nam ở nước nào tôi cũng không rõ. Người ta
muốn loại trừ ông vì ông là một Phật tử. Ông tỏ vẻ lo sợ, thật hèn nhát.
Một lần tắm ở Vũng Tầu, ông la lớn: "Đức Mẹ đã cứu tôi sắp chết đuối."
Sau đó, ông theo Công Giáo và được giữ lại chức Đại Biểu Chính Phủ Nam
Phần."[ix]
Lời thú nhận của cựu Tướng Lâm Văn Phát nói lên sự
kiện về những người theo đạo Da-tô vì bị lôi cuốn bởi miếng mồi quyền
lực (chức vụ và địa vị quyền cao chức trọng trong chính quyền). Lời thú
nhận này được sách Chân Dung Tướng Ngụy Sàigon ghi lại với nguyên văn
như sau:
"Từ năm 1948- đến 1954, tôi vẫn loanh quanh dẫm
chân với cái lon trung tá giả định vì cái "án" có cha và chị đi kháng
chiến làm cán bộ Việt Minh. Sang thời Ngô Đình Diệm lại cái bảng đen
ngầm "gia đình Việt Cộng", trong lúc đó thì bọn sĩ quan đàn em như
Nguyễn Văn Thiệu, Đặng Văn Quang, Nguyễn Hữu Có... có thời cơ leo
lên vùn vụt. Lúc này, tôi nẩy ra cách thoát thân để được lòng tin cậy
của triều đình họ Ngô. Cuối năm 1957, tôi xin vô đạo Thiên Chúa, xin
"cậu út" Ngô Đình Cẩn nhận làm bố đỡ đầu (parrain) mặc dầu Cẩn chỉ hơn
tôi dăm bẩy tuổi..."[x]
Trong cuốn Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, tác giả
Chính Đạo, tức sử gia Vũ Ngự Chiêu, ghi nhận việc theo đạo của ông Hùynh
Hữu Nghĩa cũng tương tự như vậy với nguyên văn như sau:
"Thư đề ngày 17/2/1962, Fishel gửi Hamah; FRUS,
1961-1963 II: 149. The Fishel, một bộ trưởng (Huỳnh Hữu Nghĩa) đã cải
đạo; (Ibid, II: 46) và nhiều sĩ quan cải đạo để mong được thăng cấp.
(Ibid., II: 56, 45") Chính Đạo, Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng
(Houston, TX: Văn Hóa, 2004), tr. 45.
[xi]
Sách Sáu Tháng Pháp Nạn viết:
"... số người a dua chạy theo chính quyền để
trục lợi vẫn còn là đại đa số. Vào đầu năm 1963, tất cả tỉnh trưởng được
bổ nhiệm tại miền Nam đều là đệ tử của Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục hay
của cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu. Tại miền Trung, các tỉnh trưởng đều
là các thủ túc của Ngô Đình Cẩn, em út của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Tuy
không giữ chức vụ gì chính thức, Ngô Đình Cẩn tự ban cho mình chức Cố
Vấn chỉ đạo các đoàn thể chính trị tại Trung Việt, Cao Nguyên và Hải
Ngọai.
"Ngoài ta, các dân biểu trong Quốc Hội cũng đều
là tay sai trung thành của chế độ. Hơn nữa, các phong trào chính trị
toàn quốc đều do họ Ngô thành lập để tạo hậu thuẫn trong dân chúng.
Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia của Ngô Đình Diệm, Đảng Cần Lao và Phong
Trào Thanh Niên Cộng Hòa của Ngô Đình Nhu, Phong Trào Liên Đới Phụ Nữ
của vợ Nhu là Trần Lệ Xuân, và không kể biết bao nhiêu đoàn thể chầu rìa
khác chạy theo voi để hít bã mía!"
[xii]
Theo sự hiểu biết của người viết, ngòai ra, còn có
rất nhiều người trong giới tướng lãnh, sĩ quan cấp tá và cấp úy cũng như
có rất nhiều viên chức trong chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm và
quân phiệt Nguyễn Văn Thiệu cũng "vô đạo" vì "động lực"
giống y như "động lực theo đạo" của cựu Tướng Lâm Văn
Phát, Đại Tá Nguyễn Văn Y, Nguyễn Đình Thuần và Trần Văn Lắm. Trong cuốn
Xóm Đạo, nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn kể lại một ông quận trưởng (có lẽ là
trong tỉnh Hậu Nghĩa) theo đạo cũng chỉ vì muốn duy trì cái ghế quận
trưởng và ông ta muốn leo lên những chức vụ lớn hơn trong chính quyền.
Tác giả Nguyễn Ngọc Ngạn viết:
“Cũng giống như nhiều vị công chức cao cấp khác,
ông quận trưởng tự cảm thấy rằng, thời này là thời của đạo Thiên Chúa,
bởi vì gia đình Ngô Tổng Thống rất sùng đạo! Cái ghế của ông có vững hay
không, tương lai của ông ta có leo lên được nữa hay không, đều tùy thuộc
cách xử sự khéo léo của ông, chứ không phải nhờ tài năng hay đức độ. Nhà
ông đời đời theo Phật giáo. Nhưng người khôn ngoan lúc này phải biết
thức thời, bỏ đạo Phật để rửa tội theo Công Giáo thì mới được Ngô Tổng
Thống tín nhiệm! Ông tin như thế, cho nên ông hay tìm đến làm thân với
các vị linh mục, những người mà ông cho là cửa ngõ thênh thang nhất để
giắt ông trên đường danh vọng. Một tiếng nói, một đề nghị của một linh
mục, sẽ có sức mạnh gấp trăm lần ý kiến của quan! Tương tự như thế, một
lời dèm pha của một linh mục, có thể làm ông bay chức trong nháy mắt!
Cái thành kiến ấy nằm sâu trong đầu ông, cho nên ông đã từng trợ giúp
vật liệu cho cha Xuân lúc xây nhà thờ, từng xuống dự lễ Noel, quì mỏi
gối chung với giáo dân ở trại, và hai năm liên tiếp ngồi ghế quận
trưởng, cứ mỗi độ xuân về, ông đều không quên sai lính chở xuống tặng
nhà xứ một cành mai thật lớn!…”
[xiii]
Chuyện ông Nguyễn Văn Thiệu theo đạo Da-tô được ông
Phạm Liễu kể lại trong cuốn Trả Ta Sông Núi 2 với nguyên văn như sau:
"Sau năm 1954, ông Thiệu đã được lên tới cấp
Thiếu Tá, phục vụ tại Bộ Tư Lệnh Đệ Nhị Quân Khu ở Huế, dưới quyền Đại
Tá Trương Văn Xương. Mùa Thu năm 1954, khi cuộc tranh chấp giữa Tướng
Nguyễn Văn Hinh và Thủ Tướng Diệm bùng nổ, Thiếu Tá Thiệu gia nhập Đảng
Con Ó, cùng với Trung Tá Trần Thiệm Khiêm, Thiếu Tá Hoàng Xuân Lãm, Đại
Úy Trần Văn Trung, Nguyễn Văn Mạnh, v.v... để yểm trợ Nguyễn Văn Hinh.
Sau khi Tướng Hinh phải rời nước, nhóm Thiếu Tá Thiệu bị đưa về Sàigòn
điều tra. Để thoát khỏi sự nghi kỵ của chế độ Diệm, Thiếu Tá Thiệu xoay
qua đường giây Thiên Chúa Giáo của nhà vợ.
Nguyên ông Thiệu lấy bà Kim Anh, người Mỹ Tho,
có đạo Thiên Chúa, đã lâu nhưng không chịu rửa tội.... Nhưng sau ngày
ông Diệm cầm quyền, đạo Thiên Chúa biến thành một thứ chìa khóa danh
vọng và quyền lực cho những ai tham vọng. Bởi thế ông Thiệu quyết tâm
"trở lại với đạo". Trung Tá Thiệu cẩn thận năn nỉ Linh-mục Bửu Dưỡng, lý
thuyết gia bản xứ của Đảng Cần Lao, đích thân rửa tội cho ông ta ở Đà
Lạt. Nhờ vậy, ông Thiệu được thăng cấp Đại Tá và được giao cho nắm Sư
Đoàn 1 rồi Sư Đoàn 5 ở Biên Hòa. Đại Tá Thiệu còn được vào Quân Ủy của
Đảng Cần Lao." [xiv]
Trong bài viết Sự Hèn Hạ Và Xảo Trá Của Ông Lâm Lễ
Trinh, Cựu Bộ Trưởng Nội Vụ Đệ Nhất Cộng Hòa, đăng trên trang nhà
www.chuyenluan.com tháng 5 năm 2004, tác giả Phạm Phú Bổn viết về chuyện
ông Lâm Lễ Trinh theo đạo Da-tô như sau:
"Trước hết là suy nghĩ về hai chi
tiết rất sâu sắc của ông Trần Vĩnh Long về cấu trúc văn hóa và căn cước
chính trị của ông Lâm Lễ Trinh. Ông theo đạo Công giáo La Mã vào năm
1958, thời điểm cực thịnh của hiện tượng “theo đạo có gạo mà ăn” dưới
nền Đệ nhất Cộng hòa. Đó cũng là thời điểm khi chính quyền Ngô Đình Diệm
bắt đầu tiến hành ý đồ Công giáo hóa miền Nam qua hai chính sách đàn áp
trù dập Phật giáo, lực lượng văn hóa nền móng và đa số của xã hội Việt
Nam, và phân phát đặc quyền đặc lợi cho những người đồng đạo Công giáo
cả ở trong lẫn ngoài chính quyền. Các kế sách Dinh Điền, Khu Trù Mật,
(và sau nầy là Ấp Chiến Lược); các tiêu chuẩn kỳ thị về tôn giáo
trong chính sách nhân dụng của bộ máy hành chánh và quân đội, trong các
lãnh vực kinh tế, giáo dục, xã hội, và quốc phòng, ... đã làm cho không
thiếu người từ bỏ truyền thống tâm linh của dân tộc, đổi đạo để tìm bổng
lộc và/hoặc để bảo toàn mạng sống. Ông Lâm Lễ Trinh đổi đạo đúng vào
thời gian đó! Và ông đã làm đến chức Bộ trưởng bộ Nội vu, một chức vụ
cực kỳ quan trọng trong một chế độ độc tài với mạng lưới công an mật vụ
dày đặc của miền Nam.".
[xv]
Thực ra, con số những người theo đạo thuộc lọai này
(theo đạo vì danh lợi, theo đạo để dựa hơi, dựa thế) nhiều lắm. Mục đích
theo đạo của những người háo danh hay thèm khát quyền lực là khi theo
đạo rồi thì họ sẽ dựa hơi hay nhờ vả vị linh mục rửa tội hay gia đình
của nhân vật đỡ đầu chạy chọt giúp đỡ cho họ được thăng quan tiến chức
hay dễ dàng chạy "affaires" hoặc làm ăn trong cộng đồng của những người
Da-tô. Sự kiện này được ông Phạm Văn Liễu ghi nhận trong cuốn Trả ta
Sông Núi (Tập 2) nhu sau:
"Thực ra, đa số các sĩ quan hay công chức của
nền Đệ Nhất Cộng Hòa đã theo Cần Lao hay "rửa tội" chỉ vì muốn được an
thân, nhất là tiến thân. Cái thói phù thịnh là lẽ thường tình của người
đời. Với những cá nhân tham vọng, bất cứ phương tiện nào cũng tốt, miễn
hồ giúp họ đạt được mục đích. Hai tiếng "trung thành" hay "nhân nghĩa"
là những tiếng cười dài mỉa mai."[xvi]
Con số người theo đạo thuộc lọai này (theo đạo tạo
danh đời) có thể lên đến hàng mấy chục ngàn người trở lên.
9.- Gạ gẫm để bảo lãnh những người muốn sang Hoa
Kỳ định cư. Sau năm 1975, khi biết rõ đời sống khá giả của người
Việt hải ngoại ở Mỹ, những người truyền đạo Thiên Chúa Giáo (cả Công
Giáo và Tin Lành) phao tin rằng nếu theo đạo, thì sẽ dễ dàng được Giáo
Hội bảo đảm và giúp đỡ lo cho di cư sang Hoa Kỳ mưu sinh. Vì lý do này,
kể từ đó, ở Việt Nam có nhiều người theo đạo để nuôi hy vọng. Một cặp vợ
chồng bạn của người viết ở Cần Thơ đã theo đạo vì lý do này. Con số
những người Thượng ở vùng cao Nguyên Trung Việt mới theo đạo Tin Lành từ
1985 trở đi cũng là những người trong số này. Đây là mánh khóe lừa gạt
của họ. Cặp vợ chồng người bạn ở Cần Thơ của người viết đã theo
đạo từ trước
năm 1995, cho đến nay (tháng 2/2008) cũng vẫn còn ở Cần Thơ và vẫn không
có hy vọng gì di cư sang Mỹ định cư theo cái diện mà các nhà truyền
giáo đã hứa hẹn với cặp vợ chồng người bạn này của người viết. Thủ đoạn
lưu manh của những người truyền đạo Ki-tô (bất kể là Ki-tô La Mã hay Tin
Lành) lưu manh như thế đó!
10.- Dân đạo gốc. Qua
các phần trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, ngoại trừ tín đồ Da-tô
vốn là những con cái của những gia đình nghèo khổ bị cha mẹ bán cho các
nhà truyền giáo và những thành phần vốn là những trẻ em cô nhi hay mồ
côi được các nhà truyền giáo lượm về nuôi ở cô nhi viện riêng của Giáo
Hội, Giáo Hội luôn luôn sử dụng miếng mồi vật chất, các chức vụ trong
chính quyền và những lời hứa hẹn hão huyền (bánh vẽ) để câu nhử những
người tham lợi, háo danh hoặc thèm khát quyền lực chạy theo bắt mồi rồi
theo đạo để được toại nguyện cho thoả mãn dục vọng thấp hèn đê tiện của
họ, hoặc là dùng bạo lực chính quyền hay lợi dụng thế thượng phong để
cưỡng bách hay chèn ép nạn nhân phải theo đạo để thoát nợ. Đây là 9
loại người theo đạo trên đây. Những người này, khi sinh con thì phải đem
con đến nhà thờ rửa tội ngay khi nó còn bế ngửa. Những tín đồ Da-tô
thuộc lọai này được Giáo Hội gọi là dân “đạo gốc” hay “đạo dòng”. Trong
cuốn Trả Ta Sông Núi, ông Phạm Văn Liễu gọi họ là lọai đạo “bế ngửa”
vì họ được đem đến nhà thờ rửa tội khi còn bế ngửa. Còn những tín đồ
Da-tô khác (9 loại trên) thì được gọi là dân “đạo đứng” vì khi
làm lế rửa tội ở nhà thờ thì họ đứng, chứ không phải ở trong tình trạng
còn bế ngửa.
Vấn đề đặt ra là tín đồ “đạo dòng"
hay đạo “bế ngửa” sẽ có những ác tính giống như những tín đồ
Da-tô cuồng tín đúng như chủ trương của Giáo Hội không?
Để tìm ra lời giải đáp cho vấn đề này,
chúng ta hãy nhớ đến hai thành ngữ “Cha nào con ấy” và “Ở bầu
thì tròn, ở ống thì dài” của người Việt Nam ta. Thiển nghĩ, chắc
chắn là dân “đạo gốc”, “đạo dòng” hay “đạo bế ngửa”
sẽ có những đặc tính theo quy luật di truyền “cha nào con ấy” và
quy luật môi sinh “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Một em bé
có trình độ thông minh trung bình và hoc qua lớp ba tiểu học cũng có thể
nhìn ra vấn đề này. Hơn nữa, vì là được nhồi sọ ngay từ khi mới chào
đời, cho nên những người này sẻ trở thành những tín đồ Da-tô với tất cả
những đặc tính của căn bệnh cuồng tín giống như những tín hữu Ki-tô
người Tây Ban Nha trong thời Trung Cổ.
Tính chung, con số những người tân tòng (thuật ngữ
của Giáo Hội La Mã gọi là “những người mới trở lại đạo”) trong
thời kỳ này phải lên đến hàng triệu. Vì thế mà vào năm 1975, con số tín
đồ Da-tô lên đến hơn 5 triệu.
CHÚ THÍCH
[i]
Hà Giang."Cứu Trợ Nhân Đạo." tháng 7 năm 2003www.giaodiem.com Ngày 16/7/2003.
[ii]
Nguyên Vũ, Ngàn Nam Soi Mặt (Houston, Texas: Văn Hóa,
2002), tr 196-197.
[iii]
Cao Huy Thuần, Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt
Nam (Los Angeles, CA: Hương Quê, 1989), tr 53-54.
[iv]
Ủy Ban Khoa Học Xã Hội, Một Số Vấn Đề Lịch Sử Đạo Thiên Chúa
Trong Lịch Sử Dân Tộc (Thành Phố Hồ Chí Minh: Ủy Ban Tôn
Giáo, 1988), tr 109-110.
[v]
Ủy Ban Khoa Học Xã Hội, Sđd., tr 111-112.
[vi]
Vũ Ngự Chiêu, Các Vua Cuối Nhà Nguyễn 1883-1945 -Tập 1 (Houston, TX: Văn Hóa, 1999), tr 191
[vii]
Cao Huy Thuần, Sđd., tr 224.
[viii]
Trần Tam Tỉnh,Thập Giá Và Lưỡi Gươm (Paris: Sudestasie,
1978), tr 128-130.
[ix]
Vũ Văn Mẫu, Sáu Tháng Pháp Nạn (Garden Grove, CA: Giao
Điểm, 2003), tr 53-54
[x]
Nguyễn Đình Tiên, Chân Dung Tướng Ngụy Sàigòn (Hà Nội:
Nhà Xuất Bản QÐND, 2002), tr 344
[xi]
Chính Đạo, Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng (Houston, Texas:
Văn Hóa, 2004), tr 45
[xii]
Vũ Văn Mẫu, ,Sđd.,.tr 8
[xiii]
Nguyễn Ngọc Ngạn, Xóm Đạo (Đông Kinh, Nhật Bản: Tân
Văn,1998), tr 152-53.
[xiv]
Phạm Văn Liễu, Trả Ta Sông Núi 2 (Houston, Texas: Văn
Hóa, 2003), tr 307-308
[xv]
Phạm Phú Bổn. "Sự Hèn Hạ Và Xảo Trá Của Ông Lâm Lẽ Trinh Cựu Bộ
Trưởng Nội Vụ Ðệ Nhất Cộng Hòa"
www.chuyenluan.com tháng 5 năm 2004
[xvi]
Phạm Văn Liễu, Sđd., tr 56