CHỦ TRƯƠNG VÀ LỘ ĐỒ CHINH PHỤC THẾ GIỚI
CỦA GIÁO HỘI LA MÃ ĐỂ NÔ LỆ HÓA NHÂN LOẠI
Tìm hiểu lịch sử Gíao Hội La Mã và lich sử thế giới, các
nhà viết sử đều nhận thấy rằng, Việt Nam chỉ là một trong những mục tiêu nằm
trong chủ trương thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân loại của Giáo Hội La Mã.
Có lẽ chủ trương này đã có (manh nha) từ thế kỷ thứ 4, nhưng vì hòan cảnh lúc đó
Giáo Hội La Mã chưa có ảnh hường lớn đối với các nhà lãnh đạo chính quyền thế
tục, cho nên nó chỉ là một khát vọng còn ấp ủ trong lòng. Theo thời gian, càng
ngày Giáo Hội càng trở nên có thế lực ở lục địa Âu Châu, nhờ vậy mà chủ trương
này đã thực hiện được tại nhiều các quốc gia ở Tây Âu, Nam Âu và các vùng ven
Biển Địa Trung Hải.
Vào khoảng giữa thế kỷ 15, Thái Tử Henry Navigator của nước
Bồ Đào Nha thành công trong việc thám hiểm các vùng bờ biển Tây Phi tiến lần
xuống tới Mũi Hảo Vọng (Cape of Good Hope). Thấy rằng Bồ Đào Nha thành công
trong việc thám hiểm này, Giáo Hội La Mã liền ban hành một loạt sắc chỉ để làm
món quà xã giao nhập cuộc chuẩn bị cấu kết với Bồ Đào Nha để cùng đi giết
người cướp của, chiếm đoạt tài nguyên ở các vùng đất mới được khám phá. Một
trong những sắc chỉ này là Sắc Chỉ Romanus Pontifex. Sắc chỉ này được ban hành
vào ngày 8 tháng Giêng năm 1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1455) và
được Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi mấy đoạn chính trong cuốn Thập Giá Và Lưỡi Gươm
với nguyên văn như sau:
"...., quyền lợi của Bồ Đào Nha đã được phân định rõ
ràng trong sắc chỉ "Romanus Pontifex" do Đức (Giáo Hoàng) Nicholas V (1447-1455)
ra ngày 8 tháng Giêng năm 1454. Theo quyền lực Chúa ban và quyền lực của Tòa
Thánh, Đức Giáo Hoàng ban cho triều đình Lisbon (Bồ Đào Nha) "toàn quyền tự do
xâm lăng, chinh phục, chiến đấu, đánh giặc và khuất phục tất cả các quân
Sarrasins (tức người Ả Rập), các dân ngoại đạo và các kẻ thù khác của Giáo Hội,
gặp bất cứ nơi nào: được toàn quyền chiếm cứ tất cả các vương quốc, lãnh địa,
vương hầu, đất đô hộ và tài sản của chúng; toàn quyền chiếm đoạt tất cả của nổi
và của chìm của chúng và bắt tất cả chúng nó làm nô lệ vĩnh viễn".
Khi ban quyền cho người Bồ Đào Nha được chiếm mọi thứ
lợi lộc kể trên, Giáo Hoàng đồng thời cũng muốn mở mang nước Chúa sang các miền
xa xôi. Và để nhà vua Bồ Đào Nha yên tâm hơn, Giáo Hoàng ra lệnh cấm không một
ai khác được phép đặt chân tới các vùng đất ấy nếu không có phép của nhà vua,
dành cho nhà vua độc quyền buôn bán và ra vạ tuyệt thông tức khắc cho bất kỳ ai
dám hành động ngược lại."[1]
Sắc Chỉ Romanus Pontifex chỉ là một trong hang
loạt sắc chỉ hay thánh lệnh mà Giáo Hội đã ban hành trong thế kỷ 15. Tất cả
những sắc chỉ hay thánh lệnh này đều có nội dung tương tự và nội dung Sắc Chỉ
Romanus Pontifex và xoay quanh sắc chỉ này. Nội dung cỏ một sắc chỉ khác
được được Tiến-sĩ Cao Huy Thuần ghi lại bằng mấy đoạn văn trong cuốn Đạo Thiên
Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam như sau:
1.- “Ngay từ thế kỷ 15, người ta đã thấy chính sách
Giáo Hoàng đưa ra cho tín đồ là nghĩa vụ xâm lăng để thu người vào đạo. Vì thế
với điều kiện mang theo các thày tư tế để “mang thông điệp của đấng Ki-tô”,
người Bồ Đào Nha được Giáo Hoàng Martin V, bằng một sắc lệnh năm 1449, cấp cho
tất cả đất đai họ tìm ra được giữa châu Phi gồm cả Ấn Độ nữa.”
2.- “Henry Martin viết: “Sắc lệnh được xuất
phát từ nguyên lý rằng đất thuộc về Chúa Ki-tô và người đại diện của Chúa Ki-tô
có quyền sử dụng tất cả những gì không do tín đồ của Chúa chiếm hữu. Những kẻ
ngoại đạo không thể là kẻ chiếm hữu hợp lý bất cứ một mảnh đất nào. Phần đất
được ban cấp (vốn – NMQ) nằm trong tay những kẻ đã mặc nhiên khiến cho họ tuân
phục trước hạnh phúc lớn hơn, trước việc họ đổi đạo dù tự ý hay bị cưỡng bách
theo luật Thiên Chúa.”
3.- “Sau này bằng Sắc Lệnh 1493, Giáo Hoàng Alexandre
VI đã chia thế giới cho người Bồ Đào Nha cùng Tây Ban Nha và buộc có nghĩa vụ
truyền đạo Chúa Ki-tô để biện minh cho mọi sự chiếm đóng. Sắc lệnh này đặt rõ
ràng bổn phận giảng đạo cho người bản xứ là điều kiện để chiếm hữu.”[2]
.
Trong đoạn văn 1, chúng ta thấy có một điểm sai lầm
trong cụm từ “người Bồ Đào Nha được Giáo Hoàng Martin V, bằng một sắc lệnh
năm 1449…” Giáo Hoàng Martin V tại ngôi trong những năm 1417-1431. Vậy
thì việc ban hành sắc Lệnh năm 1449 là do Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1455), chứ
không phải do Giáo Hoàng Martin V (1417-1431). Các nhà nghiên cứu lịch sử Giáo
Hội La Mã đều nhận thấy như vậy, cho nên họ ra cống tìm hiểu và đã tìm ra nguyên
nhân của sự sai lầm này. Vấn đề này được Tiến-sĩ sử gia Vũ Ngự Chiêu dưới bút
hiệu Nguyên Vũ ghi lại trong Ngàn Năm Soi Mặt với nguyên văn như sau:
“[Bartoleme] Las Casas trong cuốn Historia de las
Indias, nói đến việc năm 1442, sau khi Antonio Goncalves mang vàng và nô lệ từ
Rio del Oro (Phi châu) về Portugal, triều đình Portugal và Hoàng Tử Henry the
Navigator xin Giáo Hoàng “Martin V” ban cho một thánh lệnh độc quyền chiếm hữu
đất đai và nô lệ, và sau đó các Giáo Hoàng Eugene IV (1431-1447) Nicholas V
(1447-1455) Calixto III (1455-1458) đều tái xác nhận (I:185). Thực ra, Las
Casas bị lầm lẫn đôi chút, vì Martin V (1417-1431) đã chết trước đó 11 năm và
chính Eugene IV (1431-1447) ban thánh lệnh buôn nô lệ (Fi ke 1892, I:325n1).
Nhiều tác giả đã sao lại lỗi kỹ thuật của Las casa.
Thánh Lệnh 8/1/1454, ban cho vua Portuguese tất cả
những lãnh thổ khám phá ra “trong vùng đại dương tới những vùng phía Nam và
Đông” mà các vua theo đạo Ki-tô chưa hề tìm thấy hay sở hữu. Alguns Documentos
do Archivo Nacional da Toorre do Tombo [Lisbon: 1892] tr. 15-6, dẫn trong Linden
1916, tr. 12).”[3]
Sau đó, Bồ Đào Nha lại thành công trong vỉệc tìm ra hải
lộ đi từ Tây Âu đến Á Châu bằng cách đi theo ven biển Tây Phi vòng qua Mũi Hảo
Vọng ngược lên phía Bắc theo ven biển Đông Phi, băng qua eo biển Mozambique, rồi
tới biển Á Rập đển Ấn Độ, Mã Lai và Quần Đảo Hồ Tiêu (Nam Dương). Vì những thành
công này, Giáo Hội lại ban hành thêm một loạt thánh lệnh tiếp theo xác nhận
những đặc quyền ăn cướp của Bồ Đào Nha ở tất cả nơi nào mà đế quốc này có thể
đem quân đến chinh phục với điều kiện là phải "mở mang nước Chúa",
nghĩa là phải cho Giáo Hội ăn có. (Xin xem Phụ Bản 1 ở dưới đẻ biết thêm về
loạt thánh lệnh ăn cướp như đã nói trên của Giao Hội La Mã đã ban hành trong
thế kỷ 15.)
Nhờ việc khám phá ra hải lộ này và nhờ được Giáo Hội ban
đặc quyền độc chiếm hải lộ này để làm ăn, Bồ Đào Nha trở thành một nước giầu có
nhất ở Âu Châu vào thời bấy giờ. Sự giầu có của Bồ Đào Nha khiến cho người dân
Âu Châu (mà đa số là Tây và Nam Âu), nghĩ rằng Ấn Độ và Trung Hoa hẳn là những
nơi vô cùng giầu có, ở đâu cũng có vàng, đầy dẫy những tơ lụa, gấm vóc. Cũng vì
thế thời đó có rất nhiều người Âu Châu đã tìm đường đi tới Á Châu bằng cả đường
bộ (gọi là con đười tơ lụa) và đường thủy hay đường biển (gọi là con đường hồ
tiêu). Do sự tiếp xúc với dân Đông Phương (Đông và Nam Á Châu), họh thấy đồ ăn
của người Á Châu có những hương vị thơm phưng phức rất là "khoái khẩu" và người
phụ nữ Đong Phương có vẻ đẹp dịu dàng, duyên dáng, dễ thương và có tinh thần
thuần phục người chồng hơn là người phụ nữ Âu Châu. Những thứ này quả thật là vô
cũng hấp dẫn đối với các đấng trượng phu người Âu Châu. Từ đó, ở Âu Châu nẩy
sinh ra phong trào đi đến tận Á Châu để được chứng kiến cảnh sự giầu có huy
hoàng ở Á Châu, được ăn những miếng ăn ngon của Á Châu, nhìn thấy tận mắt những
cảnh đẹp và người đẹp của Á Châu, và đặc biệt nhất là để bốc hốt của cải ở Á
Châu giống như Bố Đào Nha Mã đã làm.
Cũng nên biết là vào lúc đó, trong khi Giáo Hội La Mã và
tín đồ Da-tô vẫn còn khăng khăng tin rằng trái đất bằng phẳng và là trung tâm
của vũ trụ, thì hầu như tất cả mọi người đều tin rằng trái đất có hình tròn như
trái cầu, tự xoay quanh với một chu kỳ mõi ngày một vòng và di chuyển chung
quanh mặt trời theo một quỹ đạo hình bầu dục theo một chu kỳ 365 ngày và 6 giờ.
Vì biết rằng trái đất tròn, cho nên người ta cho rằng có thể dùng hải lộ từ bờ
biển Đại Tây Dương ở Âu Châu đi theo hướng Tây và cứ đi hoài sẽ đến Á Châu tức
là sẽ đến Trung Hoa và Ấn Độ. Một trong những người tin như vậy là nhà hàng hải
Christopher Columbus (1451-1506), người Ý Đại Lợi. Columbus đã soạn thảo một dự
án gồm ba chiếc tầu và một số thủy thủ để thực hiện chuyến đi này và đã đệ trình
lên một vài tiểu vương trong những tiểu vương của các tiểu quốc nằm trên bán đào
Ý Đại Lợi. Nhưng vì nước Ý lúc đó chưa thống nhất (có nhiều tiểu quốc riêng rẽ
và có nhiều tiểu quốc gọi là Papal States nằm dưới quyền thống trị của Tòa Thánh
Vatcian) vừa nhỏ vừa nghèo, không đủ khả năng tài trợ cho dự án của ông
Columbus. Thất vọng với các ông tiểu vương trên bán đao Ý Đại Lợi, nhà hàng hải
Columbus đành phải mang dự án của ông đến Tây Ban Nha trình lên triều đình Tây
Ban Nha và được Hoàng Đế Ferdinand V (1452-1516) và Hoàng Hậu I sabella I
(1451-1504) đồng ý tài trợ cho ông ba chiếc tầu Santa Maria, Nina và Pinta với
một thủy đoàn khoảng 90 người (40 người trong chiếc tầu chỉ huy Santa Maria, 25
người cho chiếc Nina và 25 người cho chiếc Pinta).
Khởi hành từ Tây Ban Nha vào ngày Thứ Sáu 3 tháng 8 năm
1492, mãi tới ngày Thứ Sáu 12 tháng 10 năm đó, đoàn tầu này mới đến Mỹ Châu và
đổ bộ lên đảo San Salvador (một trong những hòn đảo nằm ở phía Bắc hòn đảo Cuba
và Đông Nam bán đảo Florida).
Mục đích của đoàn tầu này là đi đến Ấn Độ ở Á Châu. Cũng
vì thế mà khi mới tới hòn đảo San Salvador họ tưởng lầm là họ đã đến đất Ấn Độ
cho nên họ gọi vùng này là West Indies (Tây Ấn) và gọi thổ dân ở đây là
"Indians" (người Ấn Độ).
Thấy rằng Tây Ban Nha đã tìm ra một vùng đất mới còn ngờ
là đất Ấn Độ và cũng tin rằng vùng đất mới này cũng giầu có, có nhiều vàng bạc,
châu báu, miếng ngon của lạ như ở Ân Độ và Trung Hoa, Giáo Hội La Mã lại tìm
cách "nhẩy vào ăn có" bằng cách ban hành một Thánh Lệnh vào
tháng 5 năm 1493 với chủ đích là ban cho Tây Ban Nha những đặc quyền y hệt như
những đặc quyền mà Giáo Hội đã ban cho Bồ Đào Nha ghi trong Thánh Lênh Romanus
Pontifex được công bố vào ngày 8 tháng 1 năm 1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas
V (1447-1454). Việc này gây nên sự tranh chấp giữa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha về
"cái quyền đem quân chiếm đất, giét người, đoạt của, hãm hiếp đàn bà con
gái và mở mang nước Chúa ở ngoài lục địa Âu Châu". Nội vụ được đưa lên Tòa
Thánh La Mã phân xử và được Giáo Hoàng Alexander VI (1492-1503) giải quyết bằng
cách chia đôi địa cầu cho hai quốc gia này, mỗi quốc gia được quyền chiếm một
nửa. Tính ra từ năm 1454 cho đến năm 1493, Tòa Thánh Vatican ban hành một loạt
gần 10 thánh lệnh liên quan đến việc ban phát các đặc quyền cho hai nước Bồ Đào
Nha và Tấy Ban Nha đem quân đi đánh chiếm đất đai ở ngoài Âu Châu để giết người,
đoạt của, hãm hiếp phụ nữ, cưỡng bách dân bản địa phải theo đạo Da-tô làm nô lệ
cho các hai đế quốc này và cho Giáo Hội La Mã. Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi lại
sự kiện này như sau:
"Năm 1492, Christophe Colombo khám phá ra những vùng
đất mới mà ông nghĩ là Ấn Độ. Một nửa thế kỷ trước đó, thương thuyền Bồ Đào Nha
cũng đã chạy dọc theo bờ biển phía Tây Châu Phi. Ít năm sau, năm 1497, Vasco de
Gama, người Bồ Đào Nha, đã phát hiện đúng con đường sang Ấn Độ.
Ngày 4 tháng 5 năm 1493, qua sắc chỉ "Inter caetera"
("giữa những điều khác"), Giáo Hoàng Alexander VI giao quyền chinh phục các
vùng đất kể trên mà các dân Phương Tây chưa từng biết, cho các triều đình nước
Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Tây Ban Nha có quyền đi chiếm tất cả các đất đai gặp
được ở một trăm dặm kể từ quần đảo Azores, còn Bồ Đào Nha, tất cả các nước nằm ở
mạn Đông đường ranh đó (quần đảo Azores ở mạn giữa cắt đôi Đại Tây Dương).
Trần Tam Tỉnh, Sđd, tr 14.[4]
KẾ HỌACH TIẾN CHIẾM MỤC TIÊU VÀ CHÍNH SÁCH CAI TRỊ
Việc ban hành những sắc chỉ hay thánh lệnh trên đây cho
chúng ta thấy rõ Giáo Hội La Mã đã có chủ trương theo đuổi chủ nghĩa bá quyền
nhằm thống trị toàn cầu và nô lê hóa nhân lọai. Việt Nam là một trong những vùng
mục tiêu mà Giáo Hội đã nhắm tới từ đầu thế kỷ 16. Vấn đề còn lại là Giáo Hội
phải làm những gì cần thiết trước khi tiến hành việc tấn chiếm và thống trị Việt
Nam mà thôi. Nói cho rõ hơn là Giáo Hội phải có một kế hoạch tiến chiếm mục
tiêu và thi hành những chính sách cai trị để có thể vừa duy trì được quyền lực
tại địa phương vừa biến người dân bản địa thành những bày nô lệ tuyệt đối trung
thành với Giáo Hội giống như bầy chó giữ nhà cho chủ.
Những sách lược hành động của Giáo Hội để tiến chiếm
Việt Nam là những sách lược chung để tiếm chiếm các vùng mục tiêu. Những sách
lược này được họach định vô cùng tỉ mỉ, hết sức tinh vi, cực kỳ thâm độc, được
thì hành và áp dụng từng bước và từng bước tùy theo địa phương và tình hình thế
giới. Mỗi một bước là một thời kỳ dài hay ngắn, tùy thuộc vào mối lien hệ hay sự
cấu kết giữa Giáo Hội và đế quốc đồng minh với Giáo Hội hay mức độ quyền lực của
Giáo Hội tại quốc gia nạn nhân. Trong phần này, xin hiểu quốc gia nạn nhân là
Việt Nam.
Bước 1 hay thời Kỳ thứ I: Trong thời kỳ
này, Giáo Hội chỉ gửi các điệp viện dưới danh nghĩa là các nhà truyền đạo đến
các vùng mục tiêu, điều nghiên nhân dân bản địa để biết rõ những thành phần nào
trong xã hội dễ phỉnh nịnh và mua chuộc nhất bằng vật chất rồi móc nối lôi cuốn
họ vào đạo để họ giúp đỡ, bao che, cưu mang và tiếp tay trong việc thiết lập hệ
thống gián điệp trong việc thâu thập tin tức tình báo chiến lược. Quan trọng hơn
nữa là tổ chức họ (tín đồ Da-tô bản địa) thành những đội ngũ, rồi biến các đội
ngũ này thành những đạo quân thứ 5 nằm tiềm phục chờ khi có lệnh thì nổi lên
tiếp ứng cho quân đội ngoại nhập do Giáo Hội vân động tiến đến tấn công.
Bước 2 hay thời kỳ thứ II: Đây là thời kỳ
Giáo Hội phái các nhà thuyết khách đến kinh thành Paris vận động Pháp liết kết
với Vatican và xuất quân đánh chiếm Việt Nam. Sau khi đã thâu thâp được
đầy đủ những tin tức tình báo chiến lược cần thiết cho kế hoạch tiến chiếm vùng
mục tiêu, Giáo Hội cho người đến triều đình Paris uốn lưỡi Tô Tần thuyết phục
chính quyền Pháp liên minh với Giáo Hội và xuất quân đánh chiếm Việt Nam làm
thuộc địa để cùng khai thác tài nguyền và chia nhau lợi nhuận. Sách lược này là
sở trưởng của Giáo Hội và được sử gia Avro Manhattan nói rõ như sau:
"Bản nghiên cứu về tiêu chuẩn lịch sử cho thấy rằng Giáo
Hội La Mã đã sử dụng một sách lược hành động trong nhiều thế kỷ là đồng hóa
(liên kết) các mục tiêu tôn giáo của Giáo Hội với mục tiêu của một cường quốc
thế tục đương thời. Như chúng ta đã thấy, Giáo Hội đã sử dụng sách lược này ở Á
Châu vào những thời kỳ Bồ Đào Nha, Tây Ban và Pháp đang là những đại cường đang
lên.
Ở Âu Châu, sách lược trên đây cũng được áp dụng nhiều
lần trong thế kỷ 20 này. Có lúc, Giáo Hội đã liên kết với nước Pháp, liên kết
với Đế Quốc Gia-tô Áo - Hung trong thời Đệ Nhất Thế Chiến, rồi trước và trong
thời Đệ Nhị Thế Chiến thì Giáo Hội lại liên kết với các chế độ độc tài Ý và Đức
của phe hữu. Bằng cách đồng hóa với các cường quốc trên đây vào thời đang lên về
các quyền lợi kinh tế, chính trị và chiến tranh, Giáo Hội đã thâu tóm được rất
nhiều quyền lợi.
Vì rằng không còn một siêu cường Da-tô nào kể từ khi Đệ
Nhị Thế Chiến chấm dứt mang theo sự hủy diệt của chế độ phát xít ở Âu Châu, Giáo
Hội La Mã quay ra chọn Hoa Kỳ để liên kết thành một liên minh chính trị. Đây là
hành động để đối phó với sự bành trướng của nghĩa Cộng Sản Bôn-sê-vích và siêu
cường Nga Sô sau thời Đệ Nhị Thế Chiến. Tình trạng này khiến cho cả Giáo Hội La
Mã lẫn Hoa Kỳ cùng lo sợ và bắt buộc hai thế lực này liên kết với nhau thành một
liên minh thực sự trong thời Chiến Tranh Lạnh.”
Nguyên văn: "The study of historical patterns
reveals a formula which the Catholic Church has used for centuries, namely
identification of her religious objectives with those of a major lay political
power of a given period. As we have seen, she used this formula in Asia when she
identified herself with the major powers of those days, Prortugal, Spain, and
France.
In Europe the formula was applied several times in this
century. She identified herself at vaious intervals with France, then with the
Catholic Empire of Austria-Hungry during the First World War, and with the right
wing dictatorships of Italy and Germany, before and during the Second World War.
She advanced her interests in the wake of these Powers by identified herself
with their economic, political and war interest.
Since the end of the Second World War and the annihilation
of European fascism she adopted the U.S. as her lay partner, in the absence of a
Catholic superpower. This was prompted by the grim reality of the appearance of
Boshevism and the growing military presence of Soviet Russia after World War II.
The menacing reality of these two compelled the Vatican and the U.S. together
and in due course force them into veritable alliance known as the Cold War."
Avro Manhattan, Vietnam why did we go? (Chino, CA: Chick Publications,
1984), p. 157.[5]
Qua phần trình bày về những việc làm trên đây của Giáo
Hội La Mã, chúng ta thấy rằng, NẾU gọi Giáo Hội La Mã là một tôn giáo thì đây là
một thứ "tôn giáo ăn cướp". Tất cả những đặc tính "ăn cướp"
của "cái đạo ăn cướp" này đã thể hiện ra trong nội dung của Sắc Lệnh
Romanus Pontifex như đã trình bày ở trên. Để đạt được mục đích ăn cướp này một
cách hữu hiệu, Giáo Hội đã điều nghiên để có một kế hoạch dạy dỗ và rèn luyện
tín đồ thành những lực lượng xung kích với những đặc tính ăn cướp dã man nhất
trong lịch sử loài người. Cái thâm độc và dã man của Giáo Hội là khơi động và
nuôi dưỡng lòng vị kỷ, tham lợi, háo danh và lợi dụng lòng thèm khát quyền lực
của tín đồ rồi khuyến khích họ tình nguyện gia nhập vào các đạo quân thập ác đi
đánh chiếm đất đai, khai thác tài nguyên, giết người, đọat của, tàn sát đàn ông
và thanh niên, hãm hiếp đàn bà con gái đúng như tinh thần Sắc-lệnh Romanus
Pontifex đã nói ở trên. Nhờ kế hoạnh này mà Giáo Hội dễ dàng có những đạo quân
xung kích tiền phong đi chinh phục đất đai để cưỡng bách các dân tộc nạn nhân
làm nô lệ cho Giáo Hội về cả linh hồn lẫn thể thể xác.
Từ những sự kiện trên đây, chúng ta suy ra mà biết được
những người được Giáo Hội La Mã thâu nhận vào đạo rồi rèn luyện họ thành những
hạng người vừa là những phường ăn cướp vừa là những quân vong bản phản lại quê
hương và phản lại dân tộc của chính họ. Bất kỳ tín đồ Da-tô nào cũng phải có
những đặc tính trên đây thì mới có thể phục vụ hữu hiệu cho quyền lợi của Giáo
Hội và mới được Giáo Hội gọi là "những con chiên ngoan đạo".
Bước 3 hay thời kỳ thứ III: Đây là thời kỳ
Giáo Hội củng cố và duy trì quyền lực tại các vùng đã chiếm được chính quyền.
Sau khi đã chiếm được chính quyền (như ở miền Nam Việt Nam), Giáo Hội liền cho
tiến hành hay thi hành triệt để đồng lọat các chính sách dưới đây:
1.- Chính sách ngu dân và giáo dục nhồi.- Mục đích
của chính sách này là làm cho nhân dưới quyền cũng dốt nát và ngu xuẩn như những
tín đồ Da-tô cuồng tín của Giáo Hội. Hậu quả là người dân không biết sử dụng lý
trí để tìm hiểu sự vật, không biết phân biệt sự khác nhau giữa một bên là ý kiến
(opinions) và một bên là sự kiện (facts), giữa một bên là nguyên nhân và một bên
là hậu quả, không biết gì về quốc sử nhất là những thời kỳ mà Giáo Hội đã bắt
đầu có những hành động tội ác chống lại tổ quốc và dân tộc bản địa. Ngoài ra,
môn lịch sử thế trở thành môn học cấm kị đối với các quốc gia bị áp đặt phải
sống dượi các chế độ đạo phiệt Da-tô. Vì thế người dân ở các quốc gia này hầu
như không biết gì về toàn bộ lịch sử thế giới. Với tình trạng như vậy, dĩ nhiên
là họ không biết lại CÓ Chủ Nghĩa Nhân Bản ra đời vào đầu thế kỷ, rồi các thời
Kỳ khác nối tiếp nhau xuất hiện như Thời Kỳ Phục Hưng (1300-1650), Thời Đại Cải
Cách Tôn Giáo (1309-1648), Thời Kỳ Khoa Học Và Lý Trí (1500-1789) Thời Kỳ Cách
Mạng Dân Chủ (1603-1815), và Thời Kỳ của các Phong Trào Phản Kháng Xã Hội
(1800-1900. Họ cũng không biết là TẠI SAO lại có những thời kỳ này. Đây là tình
trạng của những lớp người tiếp nhận sở học của họ ỏe bậc tiểu học và trung học
(từ Cấp 1 đến hếp Cấp 3) ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975. Dưới các
chế độ đạo phiệt Da-tô, người dân dưới quyền cũng không được phép đọc các tư
tưởng tiến bộ của các danh nhân và vĩ nhân trên thế giới vì nhà nước cấm, không
cho phổ biến những sách báo có những tư tưởng này. Cả đến Lịch Sử Giáo Hội Công
Giáo, họ cũng không được đọc những bản sử do các nhà viết sử chân chính biên
soạn, mà chỉ được đọc những cuốn ngụy thư do bọn sử nô Da-tô biên soạn. Thí dụ
như bộ sác Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo (Sàigòn, Chân Lý, 1972) do Linh-mục Bùi
Đức Sinh biên soạn, bộ Việt Nam Giáo Sử (Sàigòn, Cứu Thế Tùng Thư, 1965) do
Linh-mục Phan Phát Huồn biên Soạn.(Chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của
Vatican được thi hành ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 sẽẽ được
trình bày đầy đủ ở Phần VI).
2.- Chính sách chia để trị.- Đây là chính sách dùng
người bản địa đánh người bản địa và đưa tín đồ bản địa thuộc loại khả tín lên
cầm quyền, thiết lập chế độ đạio phiệt Da-tô làm tay sai đắc lực cho Vatican.
(Sẽ được trình bày đầy đủ ở Phần V).
3.- Chính sách kinh tài và tích lũy tài sản. Đây là
chính sách tận tinh bóc lột tận tình vơ vét và tích lũy tài sản. (Đã được trình
bày đầy đủ trong Phần II và sẽ tình bày thêm ở Phần IV và Phần VI). Chính sách
này được cựu Giáo sĩ Malachi Martin ghi lại trong cuốn Rich Church, Poor Church
như sau:
“Về các vấn đề tôn giáo, trước khi Kitô giáo ra đời, các
tôn giáo trên thế giới đều có đặc tính khoan dung. Một trong những thông điệp
của Delphic Oracle là “Mọi người đều đúng cả. Chẳng có ai quấy.” Nguyên tắc của
người La Mã thời bấy giờ là “Tôn giáo ở trong vùng (nơi bạn cư ngụ) là tôn giáo
của bạn.” Trong tâm trí và trong cách ứng xử của người đời thời bấy giờ là không
có sự liên hệ gì giữa tôn giáo và chân lý. Tôn giáo không được coi như là một sự
vật có thật. Vì thế cho nên, trước khi có đạo Kitô, không có chiến tranh tôn
giáo, không có chuyện bách hại tôn giáo, và cũng không có người nào gọi là tử
đạo cho niềm tin tôn giáo của họ cả. Lúc bấy giờ, không có ai cố gắng áp đặt tôn
giáo hay cưỡng bách bắt buộc người khác phải theo tôn giáo của mình. Chỉ có
những người Kitô giáo mới sản xuất ra chiến tranh tôn giáo, gây nên những vụ
bách hại tôn giáo và tạo nên những người tử đạo.
Ngay từ lúc đầu, người Kitô giáo khăng khăng cho rằng
tôn giáo của họ là chân lý, rằng tôn giáo của họ nói về thực tế. Họ đưa ra lập
luận rằng tôn giáo của họ là một chân lý toàn cầu, rằng chỉ có Kitô giáo mới là
tôn giáo đích thực. Vì thế cho nên mọi hệ thống triết lý khác và mọi hệ thống
kiến thức khác - bất kỳ ngành họat động nào của con người có liên hệ với chân
lý – đều phải hài hòa với tôn giáo đích thực là Kitô giáo. Trái lại, đó chỉ là
một hệ thống triết lý giả, một kiến thức giả. Tất nhiên là mọi tính cách đạo
đức đều từ Kitô giáo mà ra.. Kitô giáo thấm nhập vào tất cả mọi lãnh vực
trong đời sống thế tục từ kinh tế, chính trị, tài chánh, nghệ thuật, giáo dục
cho đến các cơ cấu khác trong xã hội. Tôn giáo và chính trị, tôn giáo và tài
sản, tôn giáo và chính quyền, tôn giáo và nghệ thuật, tôn giáo và sự học hỏi –
giữa những liên hệ cơ cấu này, không có sự chống đối nào mà không hòa giải được.
Những cơ cấu này không thể tách rời được và cũng không thể giữ nó ở trong tình
trạng tách rời nhau.. Các vấn đề như quân sự chính trị, tài sản, nghệ thuật và
chính quyền, tất cả đều phải bị tôn giáo thống trị tuốt luốt.”
Nguyên văn “In religious matters, the
pre-Christian world was ecumenical tolerant. “Everybody is right. Nobody is
wrong,” was one message of the Delphic Oracle, “Whatever be the region of the
earth where you find yourself,” went the Roman principle, “that region’s
religion is your religion.” In men‘s minds and in the way they conducted their
affairs, there was no connection between religion and truth. Religion was not
considered a true thing. Hence, prior Christianity, there was no religious wars
and no religious persecutions. There was no religious martyrs for their faith.
No one tried to impose religion as such on anyone else. Only Christians produced
such wars, persecutions and martyrs.
From their beginnings, Christians insisted that their
religion was true, that it did speak about reality. They drew the logical
conclusion from that: that it was universally true. That there could be only one
true religion. Theirs. Hence all philosophy and all knowledge - any branch of
human activity that dealt with the truth – had to be, would be reconcilable with
the true religion, Christianity. Otherwise, it was a false philosophy, a false
knowledge. Automatically, an all embracing morality from this Christianity. It
permeated al aspects of temporal life:economics, politics, finance, the arts,
education, social structures. Religion and politics, religion and wealth,
religion and government, religion and art, religion and learning – between these
there was no irrececoncilable opposition. They were not separate or to be kept
separate. Military matters, matters of politics, wealth, art, government – all
became dominated by religion.”] Malachi Martin, Rich Church Poor Church
(New York: G. P. Putnam’s Sons, 1984) p. 90.[6]
Sự kiện này cũng được sử gia Loraine Boettner ghi nhận
trong cuốn Roman Catholicism như sau:
“Trước thời có Phong Trào Đòi Cải Cách Tôn Giáo
(1500-1648), các ông giáo hoàng khống chế Âu Châu và các ngài nói rằng chỉ có
một con đường duy nhất là thờ phượng Thượng Đế. Thời kỳ này được gọi là “Thời Kỳ
Đen Tối” là thích hợp nhất. Trong thời kỳ này, trong Giáo Hội cũng như
trong chính quyền, tất cả mọi pham vi họat động và quyền lực đều nằm trong tay
giáo sĩ của Giáo Hội. Họ đàn áp và tước đọat hết tất cả mọi quyền sống của nhân
dân. Họ cho người rình mò dò xét, theo dõi những việc làm riêng tư của người
dân. Với việc đặt ra giáo luật đòi hỏi tín đồ phải đến nhà thờ “xưng tội”, họ
xoi mói vào cả đời sống riêng tư giữa vợ với chồng và giữa cha con với nhau. Tất
cả việc hôn nhân đều nằm ở trong tay họ. Họ can thiệp cả vào các công việc của
chính quyền, can thiệp vào việc tố tụng và xử lý các vụ án tại pháp đình, xía
vào việc quản trị và xử lý tài sản trong nước, họ sử dụng ngân qũy quốc gia để
xây cất các nhà thờ và trả lương cho giới tu sĩ, giống y như nước Tây Ban Nha
ngày nay (trong thập niên 1960 thời chế độ đạo phiệt Da-tô Franco trong những
năm 1936-1975 - NMQ). Người nào dám chống lại họ thì sẽ bị nguy hiểm mất công ăn
việc làm, mất cả tài sản và có thể mất luôn cả sinh mạng. Chúng ta không thể nào
dung thứ cho một chế độ chuyên chế bạo ngược như vậy. Vì thế mới phát sinh ra
Phong Trào Đòi Cải Cách Tôn Giáo để giải thoát cho nhân dân cái thảm họa này.”
Nguyên văn: “For more than a thousand years before the Reformation the
popes had controlled Europe and had said that there was only one way to worship
God. That period is appropriate known as the “Dark Ages.” In the church and, to
a considerable extent, in the state, too, the priests held the power. They
suppressed the laity until practically all their rights were taken away. They
constantly pried into private affairs, interfering even between husband and
wife, and between parents and children by means of the confessional. All
marriage was in their hands. They interfered in the administration of public
affairs, in the proceedings of courts, and in the disposition of estates. The
revenues of the state built new churches and paid the salaries of the priests in
much the same manner as in present day Spain. Anyone who dared resist ran the
risk of losing his job, his property, and even his life. Life under such tyranny
was intolerable. From that condition the Reformation brought deliverance.”
[7]
Hai bản văn sử trên đây cho chúng ta thấy rõ Giáo Hội La
Mã có chủ trương nắm quyền kiểm soát hết mọi phương tiện sản xuất và tất cả mọi
phạm vi sinh hoạt trong đời sống trong xã hội với dã tâm bần cùng hóa nhân
dân để biến họ thành những người vô sản nghèo đói và ngu dốt để cho Giáo Hội
dễ bề khống chế và sai khiến.
Chủ trương độc chiếm tất cả những phương tiện sản xuất và
kiểm soát tất cả các phạm vi sinh họat trong đời sống xã hội như vậy là có dã
tâm làm cho nhân dân phải trông cậy vào Giáo Hội (theo đạo và tuân phục Vatican
vô điều kiện) thì mới có đường mưu sinh. Ai muốn làm việc gì hay muốn kinh doanh
bất cứ công việc làm ăn nào hay trong lãnh vực hoạt động nào cũng phải quan bàn
tay của Giáo Hội.
4.- Chính sách Ki tô hóa nhân dân dưới quyền.
Chính sách này gồm những chiến dịch mà Vaican gọi là “làm sáng danh Chúa” và
sử dung tất cả những phương tiện của nhà nước như (1) sử dụng bạo lực của chính
quyền để cưỡng bách nhân dân phải theo đậo Da-tô, nếu không thì sinh mạng và
công việc làm ăn không được bảo đảm, (2) dùng chức vụ trong chính quyền và
những lợi lộc khác ở trong các phạm vi sinh họat ở ngòai xã hội làm những miếng
mồi để câu nhử những phường tham lợi, háo danh và them khát quyền lực chạy theo
bắt mồi mà mà đút đầu và cái rọ Da-tô (Catholic một cách hết sức tinh vi và
được Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi nhận trong cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm với nguyên
văn như sau:
“Bên cạnh chủ nghĩa hiếu thắng bề ngoài đó, phải nói
thêm một thứ hiếu thắng khác về "mục vụ" như là đặc điểm của Giáo Hội trong thời
kỳ này, đó là việc đưa dân ngọai vào đạo. Giám-mục Ancel phụ tá địa phận Lyon
(Pháp), đã nhắc lại lời Giám-mục Thục: "Có những làng nguyên vẹn xin chịu phép
rửa. Người ta không làm sao dạy giáo lý kịp cho họ...! Và ông kết luận: "Đây là
nước duy nhất tại Viễn Đông (không kể Philippines) đang trên đà trở lại đạo cả
nước". Những con số người lớn chịu rửa tội, nhất là tại địa phận Qui Nhơn xem ra
phù hợp với cảm tưởng của vị giám mục Pháp: 16.323 năm 1956-1957, 27.385 năm
1958-1959, 37.429 năm 1960-1961, Năm 1959, tại Qui Nhơn, chỉ trong một tháng,
61.000 người xin chịu phép rửa. Ơn Chúa hình như đùng một phát tuôn xuống như
mưa trên địa phận của Giám-mục Chi, giám mục phụ trách di cư những năm
1954-1955, ông đã nhận được từ cơ quan Viện Trợ Công Giáo Hoa Kỳ 38 triệu đô la,
và của tổ chức viện trợ Pháp cũng như Caritas quốc tế còn nhiều triệu khác nữa.
Phong trào trở lại đạo hàng loạt như thế vừa là kỳ diệu
vừa gây khó chịu, bởi vì dân chúng các vùng đó đã sống dưới quyền kiểm sóat của
Việt Minh trong thời chiến tranh Pháp - Việt. Giám-mục Chi đã cho chúng tôi biết
rằng phép lạ đó, một phần đã nhờ có việc tuyên truyền "thuyết nhân vị" của chính
phủ, dọn đường cho quần chúng tại đây tìm gặp được đạo Công Giáo và đàng khác là
nhờ các việc từ thiện Công Giáo, các trường học, cô nhi viện, nhà thương, điểm
phát quần áo, bánh mì và lương thực. Có người cho rằng việc theo đạo hàng lọat
đó chỉ là lặp lại theo ngụ ngôn "đi đạo lấy gạo mà ăn" thôi. Quả thế, viện trợ
Công Giáo từ ngòai vào đều do các linh mục tự tiện thao túng và thường chỉ dành
để phân phát cho người Công Giáo. Dân chúng miền Trung này, là vùng nghèo nhất
miền Nam, chẳng qua đã tìm nơi việc theo đạo Công Giáo một phương thế kiếm ăn.
Có những người cũng cho rằng họ vào đạo để khỏi bị
sách nhiễu về chính trị. Quần chúng ở đây, vì đã từng sống lâu năm dưới chế độ
Việt Minh, nên bị tình nghi có liên hệ với "kẻ địch", bây giờ vào đạo là gặp
được con đường để tỏ lòng trung thành với chế độ, hoặc ít ra cũng tránh được
những quấy nhiễu của cảnh sát.” [8].
Đây là chính sách vô cùng độ các của Vatican. Độc ác và
ghê gớm hơn nữa, Vatican còn sử dụng cả những người than thương ruột thịt trong
gia đình để do xét lẫn nhau rồi báo cáo cho nhà thờ để nhà thời xử lý. Sự kiện
này được học giả Da-tô Phan Đình Diệm ghi nhận như sau:
“Công Đồng Chung thứ 19 Tridentinô (Trentô
1545-1564), Giáo Hội đã ra tay củng cố "quyền giáo huấn" là một "chân lý tuyệt
đối". Công Đồng đưa ra tín lý và giáo điều vào canon hình luật (thánh luật), một
lời nói phạm vào điều cấm của một canon (thánh luật) là thụ án hỏa thiêu sống dễ
như chơi. Cha con tố cáo nhau, vợ chồng tố cáo nhau, anh em tố cáo nhau, bạn
hữu tố cáo nhau, hàng xóm láng giềng tố cáo nhau, v.v... trước tòa án của Giáo
Hội. Giáo Hòang Paul IV (1555-1559) tuyên bố: "Nếu bố tôi là dị
giáo đồ, tôi sẽ chụm củi thiêu sống ông ta luôn" v.v... Ví dụ canon
thứ nhất nói về tội bị thiếu sống, viết: "Nếu bất cứ ai nói rằng, con người có
thể tự biện minh trước Thiên Chúa bằng việc làm của chính nó, bất kể việc làm
qua giáo huấn nhân bản tự nhiên, hay giáo huấn của luật, nhưng không qua ân sủng
của Thiên Chúa, (không) thông qua Đức Jesus Kitô, nó phải tuyệt thông (let him
be anathema)...Hàng trăm "canon anathema chi li vụn vặt như thế", giáo điều được
"huấn quyền tuyệt đối của Giáo Hội" đưa vào hình luật, giết hại cơ man nào là
người trong 8 thế kỷ (năm 1232, Giáo Hòang Gregory IX (1227-1241) thiết lập tòa
án xử bọn dị giáo, gọi là Inquisition). Một phương ngôn của khoa thần học Roma
là: "Khi Giáo Hội Roma nói, mọi tiếng nói khác phải câm đi". Một Giáo Hội tự
"tuyệt đối hóa" mình nắm cực quyền trên sinh mạng sống đồng loại như thế, người
ta không thể nói đến dân chủ." Phan Đình Diệm. “Tuyên Cáo 6” Ngày
15/6/1999. Tanvien@kitohoc.com Ngày 19/9/1999. [9]
Bản văn trên đây cho chúng ta thấy rõ Vatican hay Giáo
Hội La Mã và Giáo Hoàng Giáo Hoàng Paul IV (1555-1559) đã hành xử đúng như lời
dạy của ông Chúa Con Jesus như được ghi lại trong Tân Ước (Matthew 10: 34-36:
“Ta đến đây không phải mang lại sự bình an, mà là
mang gươm dáo. Ta đến để con trai chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu
chống lại mẹ chồng và làm cho người trong nhà trở thành thù địch chống lại nhau.
Kẻ nào yêu kính cha mẹ hơn ta thì không đáng gì đối với Ta, và kẻ nào yêu thương
con cái hơn Ta cũng không đáng gì đối với Ta. ” Nguyên văn: “Do not
think that I came to bring peace on earth. I did not come to bring peace but a
sword.” “For I have com to set a man against his father, a daughter against her
mother, and a daugher-in-law against her mother-in–law.” “And a man’ s foe will
be be of his own household.” “He who loves father or mother more than Me is not
worthy of Me. And he who loves son or daughter more than Me is not worthy of
Me.”
Chính sách sử dụng những người thân thương trong gia
đình để rình mò dò xét lẫn nhau rồi báo cáo cho nhà thờ, đã gây nên thảm hoạ
ghê gớm: Chất keo sơn kết chặt tình yêu giữa vợ chồng với nhau và giữa cha mẹ
với con cái bị làm cho hư rữa, khiến cho nền tảng gia đình của giáo dân rơi vào
tình trạng bi thảm. Dưới đây là một số trường hợp mà người viết được biết:
1.- Trường hợp vợ và các con ông Charlie Nguyễn đã đứng
về phía nhà thờ hay Giáo Hội mà lôi ông ra đấu tố. Xin xem lá thư của ông
Charlie Nguyễn gửi cho người bạn thân của ông là Bác-sĩ Nguyễn Thanh Giản đăng
nơi các trang 321-329 trong cuốn Công Giáo Và Huyền Thoại (Garden Grove, CA:
Giao Điểm, 2001).
2.- Trường hợp bé Mai thơ dại 16 tuổi bị thày Bốn Phán
dụ dỗ làm mất cái trinh nguyên trong trắng của người con gái mới lớn lên, rồi
lại bị nhà thờ đem ra đấu tố và đánh đập tàn nhẫn giữa thanh thiên bạch nhật vào
sau giờ lễ trong một buổi sáng ngày Chủ Nhật ở ngay trong sân nhà thờ có sự
chứng kiến của cha mẹ nhưng lại không dám nhào ra bênh vực và bảo vệ cho người
con gái ruột vị thành niên của họ. (Nguyễn Ngọc Ngạn, Xóm Đạo (Đông Kinh,
Nhật Bản: Tân Văn, 2003, tr. 42-44), và sẽ được ghi lại đầy đủ trong Chương 18 ở
sau.
3.-Trường hợp phá nát hạnh phúc gia đình của vợ
chồng ông Giam-mục Emmanuel Milingo vào tháng 8 năm 2001. Trong vụ này,
Giáo Hòang John Paul II cưỡng bách nạn nhân phải bỏ vợ dù là lễ thành hôn của
cặp vợ chồng này đã được cử hành long trọng trước bàn thờ chúa Jesus Kitô thuộc
hệ phái Kitô khác do Mục-sư Sun Myung Moon chủ lễ.
Đối với nền văn hóa Đông Phương, những kẻ nào có
dã tâm làm cho vợ chồng người ta bỏ nhau hay phá nát hạnh phúc gia đình của
người khác là hạng người độc ác dã man tệ hại hơn cả loài súc sinh. Như vậy là
dưới con mắt của người dân Đông Phương, Giáo Hoàng John Paul II nói riêng, Giáo
Hội La Mã nói chung, chỉ la tổ chức của cả một tập đoàn gồm toàn những hạng
người độc ác và dã man hơn cả loài súc sinh.
Ngoài ra, kinh nghiệm lịch sử còn cho chúng ta thấy rằng
bất cứ nơi nào có quyền lực của Giáo Hội La Mã vươn tới, thì nơi đó sẽ trở thành
một xã hội nghèo đói, ngu dốt, lạc hậu, chậm tiến, trong đó con người cư xử với
nhau bằng những thủ đoạn hết sức là đê tiện và hèn hạ. Bài viết “Một Số Tình
Hình Đặc Biệt Của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam” của Giáo-sư Nguyễn Văn Trung cho
chúng ta thấy rõ một vài khía cạnh của thực trạng này. Dưới đây là một vài đoạn
trong bài viết của ông:
“Điểm lại tình hình của Giáo Hội Việt Nam, có những
điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Thực vậy, chuyện giáo dân bị coi như cỏ rác là
chuyện thường ngày ở huyện. Chuyện đau lòng hơn cả là chuyện các chủ chăn
chơi nhau thay vì chơi với nhau ngày càng phơi trần ra. Sự sa đọa trong Giáo
Hội ngày càng tăng thêm.
Trong Giáo Hội, người giáo dân ở địa vị thấp nhất, nữ
giáo dân luôn luôn nằm dưới. Thật là nghich lý trong khi Đức Mẹ lại được các
cha, nhất là các cha dòng Chúa Cứu Thế “ga lăng hết cỡ!
Người giáo dân chỉ có quyền vâng lời, đóng góp và hầu
hạ các Đấng, các bậc trong Hội Thánh. Ai vâng lới dưới 100% có thể bị coi là rối
đạo và bị loải trừ dưới mọi hình thức, nhất là không vâng lời về chuyện chính
trị và tiền bạc thì xem như lúa đời, phạm tội cực trọng, đáng sa hỏa ngục đời
đời chẳng cùng Amen.
Thật ra, chính trị và tiền bạc đã và đang là nguyên
nhân chính gây nên sự mất bình an, sa đọa và làm hoen ố hình ảnh tươi đẹp của
Giáo Hội Việt Nam…
Thượng bất chính, hạ tắc loạn.- Ai có
dịp gần gũi các giám mục Việt Nam đều có chung nhận xét rằng, các ngài có vẻ đạo
mạo, cởi mở, dễ mến, trừ một ít vị tỏ ra cao ngạo, khép kín, quan liêu. Nhưng
trong lề lối làm việc của các giám mục thường rất độc tài, độc đoán. Trong
đối xử thường tỏ ra kỳ thị, ban phát ân huệ, coi thường bề dưới, ganh tị và kèn
cựa với đồng liêu để lập công với Tòa Thánh. Những điểm nổi bật nhất là tiền hậu
bất nhất, việc làm không đi đôi với lời rao giảng, trọng ngoại khinh nội, tham
phú phụ bần, vô cùng sợ hãi Tòa Thánh, đến nỗi có những linh mục nói rằng “Tòa
Thánh đánh rắm cũng khen thơm”, và tuân giữ “tín điều chống Cộng đến cùng”,
vì Cộng Sản Việt Nam nó không chịu làm “cánh tay đời” cho các ngài dễ trị giáo
dân và mở mang nước Chúa.
Quan cách như thế của giám mục Việt Nam là điều dễ
hiểu, cần phải thông cảm với các ngài. Các ngài đào tạo để làm quan đạo, làm vua
đạo, và chưa bao giờ được đào tạo để phục vu anh em đồng đạo, đồng bào, mà chỉ
được đào tạo để cai trị và để được hầu hạ, ăn trên ngồi trước, kể từ khi bước
chân vào chủng viện… Việc đào tạo này xuất phát từ yêu cầu của một tầng lớp xã
hội để phục vụ cho tầng lớp xã hội ấy.”[10]
Cường độ tiến hành 4 chính sách trong (Bước 3 hay thời
kỳ thứ 3) trên đây tùy thuộc vào mức độ quyền lực của Giáo Hội tại vùng mục
tiêu. Quyền lực của Giáo Hội càng nhiều thì cường độ tiến hành 4 chính sách này
càng mạnh. Chúng ta có thể kiểm nghiệm sự kiện này qua những việc làm của Giáo
Hội tại Việt Nam, tại Phi Luật Tân và tại các quốc gia ở Châu Mỹ La Tinh:
1.- Tại Việt Nam, trong thời thời kỳ 1862-1945, quyền
lực của Giáo Hội bị giới hạn bởi các nhà cầm quyền Pháp cấp tiến tại Đông
Dương, cho nên việc tiến hành 4 chính sách trến đây của Giáo Hội ở mực độ hạn
chế. Tuy nhiên, cũng thời kỳ này, trong các giáo khu và trong các xóm đạo là
những nơi quyền lực Giáo Hội mạnh nhất và lên đến tuyệt đỉnh. Chúng ta thấy, các
ông giám mục tại các giáo khu Phát Diệm, Bùi Chu và các ông linh mục quản nhiệm
các xóm đạo rải rác khắp nơi trên toàn lãnh thổ Việt Nam đã hành xử như những
ông lãnh chúa trong lãnh địa của họ. Ở những nơi này, nếp sống và di tích văn
hóa cổ truyền của dân tộc gần như bị tiêu diệt hoàn toàn và được thay thế bằng
nền văn hóa Da-tô vô cùng ngược ngạo. Những nguyên tắc đạo lý Đông Phương như
ngũ thường (những mối liên hệ của người dân đối với đất nước là trung
với nước – Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách, hiếu với cha mẹ,
anh nhường em, em phải kính anh chị, chồng phải có trách nhiệm
lo cho vợ con no ấm và dạy dỗ chúng nên người có nhân có nghĩa, vợ phải
nghe lời chồng khi chồng hành xử đúng theo lẽ phải và lương tâm, v.v…) gần
như hoàn toàn bị xóa bỏ. Ba trường hợp đã nêu lên ở trên và những hành động của
tín đồf Da-tô người Việt chống lại dân tộc và chống lại tổ quốc Việt Nam trong
suốt chiều dài lịch sử từ thập 1780 cho đến ngày nay mà điển hình nhất là hành
động phá rối an ninh trật tự chống lại chính quyền của Giám Mục Ngô Quang Kiệt
bằng cách huy động giáo dân đến tập trung cầu nguyện tại số 42 phố Nhà Chung,
Hà Nội (không phải là nơi thờ tự, trái phép với ý đồ châm ngòi nổi loạn) trong
những ngày chót cúa tháng 1/2008 lễ là bằng chứng rõ ràng nhất bất khả phủ bác
cho sự thật này.
2.- Tại miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975,
chính quyền Hoa Kỳ thả rổng cho Giáo Hội tự do lo việc nội trị, miễn là đừng quá
trớn, cường độ tiến hành 4 chính sách trên đây hết sức là mãnh liệt.
a.- Tại các trại định cư của những người di cư miền Bắc
cũng như tại các khu dinh điền và các ấp chiến lược, các ông linh mục trưởng
trại định cư và các linh mục quản nhiệm các xóm đạo hay ở các khu dinh điền
hoặc ấp chiến lựợc cũng hành xử như là những ông lãnh chúa trong lãnh địa của
họ, nếp sống và di tích văn hóa cổ truyền của dân tộc cũng ở trong tình trạng đã
bị hủy diệt hoàn tòan (trong các trại định cư và các khu dinh điền), hoặc là ở
trong tình trạng đang bị hủy diệt (trong các ấp chiến lược) và được thay thế
bằng nền văn hóa Da-tô, y hệt như ở Bùi Chu, Phát Diệm và các xóm đạo ở miền
Bắc trong những năm 1885-1945. Tình trạng này đã được nhà văn Da-tô Nguyễn Ngọc
Ngạn trình bày khá đầy đù trong cuốn Xóm Đạo (Đông Kinh, Nhật: Tân Văn, 2003).
Đồng thời, trong các cơ quan chính quyền, trong bất cứ
ngành nào, cũng tràn ngập những tín đồ Da-tô. Tại các đại học, đặc biệt là Đại
Học Huế, Đại Học Đà Lạt, và trường Đại Học Văn Khoa Sàigòn, con số tín đồ Da-tô
nắm giữ vụ các chức vụ chỉ huy và trong ban giảng huấn chiếm tỉ lệ khá cao,
trong đó có những người chỉ học mấy năm thần học như Linh-mục Thanh Lãng,
Linh-mục Bửu Dưỡng, Nguyễn Văn Trung, v.v... và có cả những người kiến thức lam
nham như trường hợp ông Lê Hữu Mục, Phạm Vỉệt Tuyền. Riêng trong các ngành
công an, mật vụ, và cảnh sát, những chức vụ chỉ huy cao cấp như giám đốc, chánh
sự vụ, chủ sự, trưởng phòng, trưởng ban cho đến những nhân viên thuộc lọai bạch
đinh hầu như đều là những tín đồ Da-tô và những người đã có thành tích làm việc
cho Liên Minh Pháp - Vatican từ thời 1945-1954. Ai đã từng sống ở miền Nam trong
những năm 1954-1963 cũng đều biết đến những những nhân vật khét tiếng như Trần
Kim Tuyến, Lê Quang Tung, Lê Quang Triệu, Trần Khắc Kính, Trân Khắc Nghiêm, Ngô
Thế Linh, Dương Văn Hiếu, Phan Quang Đông, Trần Thiện Dzai, Nguyễn Văn Hay,
Nguyễn Văn Y, Khưu Văn Hai, Đào Quang Hiển v.v…. Đã có người cho rằng nếu miền
Nam không bị miền Bắc thống nhất, thì chỉ trong vòng một thời gian rất ngắn
chừng vài ba năm, mỗi một tín đồ Da-tô sẽ trở thành một hung thần đối với người
dân phi - Da-tô ở trong cùng một lối xóm, còn ghê gớm hơn cả ông lãnh Chúa Ngô
Đình Cẩn ở Miền Trung, Linh-mục Nguyễn Lạc Hóa ở Biệt Khu hải Yến ở Cà Mâu,
Linh-mục Đinh Xuân Hải ở Phú Thọ Hòa (Tân Bình, Gia Định), Linh-mục Tô Đình Sơn
ở Phú Yên, Linh-mục Trần Đình Vận ở Dốc Mơ ( Long Khánh), Linh-mục Nguyễn Bá Lộc
ở Cái Săn (Kiên Giiang), v.v….
b.- Ngay tại giữa Thủ Đô Sàigòn, chúng ta đã thấy có rất
nhiều trường học và đường phố đã được chính quyền cho mang tên những danh tính
các nhà truyền giáo người Âu Châu như Alexandre de Rhodes, Pellerin, Puginier,
v.v.. (đã từng thành tích ác ôn chống lại tổ quốc Việt Nam) và tên những tín đồ
Da-tô Việt gian như Petrus Trương Vĩnh Ký, Trần Lục, Trần Bá Lộc, (Tổng Đốc
Lộc), Đỗ Hữu Phương (Tổng Đốc Phương), Ngô Đình Khôi, Nguyễn Trường Tộ, Hồ Ngọc
Cẩn, Nguyễn Bá Tòng, Lê Bảo Tịnh, Nguyễn Duy Khang, v.v…. Ngoài ra, lại còn có
những con đường mang tên các địa danh Phát Diệm, Bùi Chu (những nơi này đã từng
là sào huyệt của các đạo quân thứ 5 của Liên Minh Pháp – Vatican chống lại tổ
quốc Việt Nam trong thời kỳ 1858-1954.) Đây cũng chỉ là một phần rất nhỏ trong
kế hoạch Ki-tô hóa miền Nam Việt Nam trong thời bấy giờ.
3.- Tại các quốc gia ở Châu Mỹ La-tinh và Phi Luật Tân,
Hoàng Đế Tây Ban Nha và các ông phó vương (toàn quyền) cai trị các quốc gia địa
phương ở đây đều là tín đồ Da-tô cuồng tín như thằng phản thần tam đại Việt
gian Da-tô Ngô Đình Diệm, cường độ tiến hành 4 chính sách trên mãnh liệt hết sức
kinh khủng! Kinh khủng đến độ:
a.- Nhân dân tại các quốc gia Châu Mỹ La-tinh đã trở
thành những người dân nghèo đói nhất và chậm tiến nhất nếu so với các nước khác
ở Mỹ Châu (Bắc Mỹ).
b.- Nhân dân Phi Luật Tân cũng đã trở thành những người
nghèo khổ nhất và chậm tiến nhất nếu so với các dân tộc khác ở ở Châu Á. Phi
Luật Tân cũng là nước có nhiều người nhất đi sang các nước Á Rập, Singapore, Âu
Châu và Bắc Mỹ làm lao công phục dịch trong các gia đình những người khá giả.
c.- Nếp sống và di tích văn hóa bản địa tại Phi Luật Tân
và tại các quốc gia Châu Mỹ La-tinh gần như hoàn toàn bị hủy diệt và được thay
thế bằng nền văn hóa Da-tô.
d.- Ở Châu Mỹ La-tinh, ngôn ngữ của người dân bản địa
hầu như bị hủy diệt hoàn toàn và được thay thế bằng tiếng Tây Ban Nha. Ở Phi
Luật Tân, tình trạng này cũng tương tự như vậy.
e.- Ở Châu Mỹ La-tinh và Phi Luật Tân, danh tính các nhà
truyền giáo Da-tô và những tến ác ôn Da-tô vong bản phản quốc tay sai đắc lực
của Giáo Hội được vinh danh đặt tên cho những đường phố, trường học và công viên
giống như trường hợp những tên ác ôn Da-tô phản quốc Trần Bá Lộc, Đỗ Hữu Phương,
Trần Lục, Ngô Đình Khôi, Nguyễn Bá Tòng, Hồ Ngọc Cẩn, v.v… ở miền Nam Việt Nam
được hai chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Da-tô Nguyễn Văn
Thiệu vinh danh trong những năm 1954-1975.
[1]
Trần Tam Tỉnh,
Thập Giá và Lưỡi Gươm (Paris: Sudestasie, 1978),
trang 14-15.
[2]
Cao Huy Thuần, Đạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam
(Los Angeles, CA: Hương Quê, 1988), tr. 7. Tác giả Cao Huy Thuần ghi rõ
đoạn văn 1 lấy ý từ trong trang 61 trong Sociologie Coloniale – Tập II
(Paris, Domat – MontChrétien, 1936) của tác giả Rến Maunier, đoạn văn 2
lấy ý từ trang 293 trong cuốn Histoire de France – Tập VII (Paris,
Fune), và đoạn 3 lấy ý từ trong trang 6-63 trong cùng cuốn sách
Sociologie Coloniale – Tập II của tác giả René Maunier ở trên
[3]
Nguyên Vũ, Ngàn Năm Soi Mặt (Houston, TX: Văn Hóa, 2002), tr.
389-390.
[4]
Trần Tam Tỉnh, Sđd., trang 14.
[5]
Manhattan, Avro.
Vietnam - Why Did We Go? (Chino, CA: Chick
Publication, 1984), p. 157
[6]
Malachi Martin, Rich Church, Poor Church (New York: G.P.
Putnam’s Sons, 1984), p 90.
[7]
Loraine Boettner,
Roman Catholicism (Phillipsburg , New Jersey:
The Presbyterian & Reformed Publishing., Company, 1962), p. 2.
[8]
Trần Tam Tỉnh, Sđd., trang 128-130
[10]
Nhiều tác giả, Tại Sao Không Theo Đạo Chúa, Tập 2 (Spring, TX:
Ban Nghiên Cứu Đạo Giáo, 1998, tr.115-125.
© sachhiem.net
Xem các chương khác:
VATICAN:CH06- Cấu Kết Với Cường Quyền (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH11- Bản Chất Lươn Lẹo (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH11- Bản Chất Nhận Vơ (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH11- Cưỡng Từ Đoạt Lý (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH11- Diễn Biến Sự Rã Đám của Chính Quyền Miền Nam (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH11- Thói Quen Tiếm Quyền (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH11- Đảo Lộn Lịch Sử (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH18- Lộ Đồ Chinh Phục Thế Giới (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH19- Thiết Lập Các Đạo Quân Thứ 5 (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH20- Đoàn Ngũ Hóa Tín Đồ (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH21- Vận Động Pháp Lần Thứ Nhất (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH22- Lần Thứ Hai Vận Động Pháp Chiếm Việt Nam (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH23- Lần Thứ Ba Vận Động Pháp Chiếm Việt Nam (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH24- Sách Lược Nội Công Ngoại Kích (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH25- Bộ Máy Cai Trị Của Liên Minh (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH26- Đời Sống Dân Ta Trong Thời Pháp-Vatican Đô Hộ (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:Ch27- Tiền Bạc, Châu Báu Bị Vatican Cướp Đoạt(Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH28- Chính Sách Thuế Khóa và Sưu Dịch (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH29- Cướp Chùa, Ruộng Đất, Xây Nhà Thờ (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH30- Hậu Quả Của Chính Sách Thuế Khóa (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH31- Hai Cảnh Đời Trái Ngược (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH6- Cấu Kết Với Cường Quyền (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1a NGÔ ĐÌNH DIỆM: Con Người và Tội Ác (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1b Sơ Lược Cuộc Đời của NGÔ ĐÌNH DIỆM (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1c Tại Sao Gọi Là Tam Đại Việt Gian (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1d Cuồng Tín (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1e Những Đặc Tính Chung của Các Tín Đồ Ca-tô (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1f Tình Trạng Ngu Dốt Của Ông Diệm (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1g Những Việc Làm tàn Ngược Của Ông Diệm (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1g Những Việc Làm tàn Ngược Của Ông Diệm (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1g Những Việc Làm tàn Ngược Của Ông Diệm (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH7- Bộ Máy Đế Quốc Gia Tô La Mã (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH7- Bộ Máy Đế Quốc Gia Tô La Mã (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH8- Hủy Diệt Nền Văn Minh Nhân Loại (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH8- Hủy Diệt Nền Văn Minh Nhân Loại (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH8- Phụ Bản (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH8- Phụ Bản (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH92-1: Vấn Nạn Giáo Hội La Mã (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH92-2: Vấn Nạn Giáo Hội La Mã (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH92-3: Vấn Nạn Giáo Hội La Mã (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH92-4: Vấn Nạn Giáo Hội La Mã (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:Chương Dẫn Nhập (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:Chương Dẫn Nhập tt (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:Mục X- Vatican Cướp Đoạt Tài Sản Việt Nam (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:Sơ Lược Hồ Sơ GHLM (Nguyễn Mạnh Quang)