Trước khi trình bày bộ máy cai trị của Đế
Quốc Kitô La Mã, thiết tưởng cũng nên tìm hiểu về các chế độ độc tài mà
chúng tôi thường sử dụng trong bộ sách này. Đó là các chế độ độc tài tôn
giáo và chế độ đạo phiệt Gia-tô.
I.- ĐỘC TÀI
Theo Việt Nam Tự Điển của ông Lê Văn Đức
cùng một số văn hữu thì
“Độc tài là chuyên chế, giành tất cả
quyền hành, quyền lợi cho mình hay nhóm của mình.”
Theo William H. Hartley và William S.
Vincnent, chế độ độc tài được định nghĩa như sau:
“Chế độ độc tài là một chính quyền
trong đó tất cả quyền chính đều nằm trong tay một người hay một nhóm
người.”(“Dictatorship: a government in which all the power is in the hands
of one man or a small group. of men.”)
[1]
.
Sách Civics Citizens And Society cũng có
định nghĩa về chế độ độc tài tương tự như trên:
“Chế độ độc tài là một chính quyền trong
đó một người nắm giữ hết tất cả mọi quyền chính.” (“Dictatorship: a
government in which one person seizes and holds total powers.”)
[2]
”
Các sử gia Jack Franenken, Frank Kane và
Alvin Wolf lại có một định nghĩa rộng rãi hơn
“Chế độ độc tài là một hình thức chính
quyền trong đó một người hay một nhóm người nắm trọn quyền chính và người
dân không có tiếng nói trong công việc cai trị.” (“Dictatorship: a form of
government in which an individual or a group rules, and where people have no
say in government.”)
[3]
Theo hai nhà sử học John O’ Connor và
Robert Goldberg:
“Chế độ độc tài là một hình thức chính
quyền mà một người đã không lên kế nghiệp một cách chính đáng (hợp lý và
hợp tình) nhưng lại nắm quyền chuyên chính tuyệt đối..” [“Dictatorship: A
form of government whereby one person who has not inherited power has
absolute power control.”[4]
Như vậy, một chế độ độc tài là một chế độ
trong đó những người cầm quyền và giai cấp thống trị đã tiếm đoạt quyền
chính trị, coi chủ quyền quốc gia như một tài sản riêng của họ. Họ nắm trọn
quyền làm ra tất cả những luật lệ và tự đặt ra những tục lệ nhằm để thỏa mãn
lòng tham không đáy về tình, tiền, quyền thế và danh vọng của họ mà không
cần biết đến phúc lợi của đại khối nhân dân bị trị. Trong một chế độ độc
tài, đại khối nhân dân bị trị chỉ là một bày nô lệ giống như những người
nông nô của bọn lãnh chúa ở Âu Châu trong thời Trung Cổ.
II.- ĐỘC TÀI TÔN GIÁO VÀ ĐẠO PHIỆT GIA TÔ
Căn cứ vào các định nghĩa trên đây, chúng
ta có thể có một cụm từ để nói về một chế độ độc tài tôn giáo như sau:
“Chế độ độc tài tôn giáo (cũng gọi là
đạo phiệt) là một hình thức chính quyền trong đó một người hay một nhóm
người cùng một tôn giáo nắm trọn quyền chính làm ra quốc luật với chủ trương
đưa tôn giáo của họ lên hàng quốc giáo và theo đuổi chính sách bách hại và
hủy diệt tất các tôn giáo và văn hóa khác trong toàn lãnh thổ cai trị.”
Về từ kép “đạo phiệt” là hai chữ “đạo”
và “phiệt” ghép lại. Chữ “đạo” đồng nghĩa với “tôn
giáo”. Chữ “phiệt”, theo học giả Đào Duy Anh có nghĩa bóng là “thế
giá đại tộc”. Cũng theo học giả họ Đào, “tài phiệt” có nghĩa
là “Bọn nhà giầu trải mấy đời, nắm thế lực kim tiền mà thành một giai
cấp riêng rất mạnh (clique des capitalistes = băng đảng tư bản), và “quân
phiệt” có nghĩa là “Bọn vũ nhân chiếm thế lực lâu ngày mà tự thành
một phái (le parti militaire).”
Từ những đỉnh nghĩa trên đây, chúng ta có
thể đi đến kết luận “Đạo phiệt là bọn người nhân danh một đạo giáo hành
nghề cúng lế trải qua nhiều đời nắm thế lực tôn giáo mà thành một giai cấp
rất mạnh.” Áp dụng định nghĩa này vào Giáo Hội La Mã, thiết tưởng thật
là vô cùng hợp lý.
Trên đây, chúng tôi đã đưa ra một số định
nghĩa đại cương về chế độ độc tài chính trị và độc tài tôn giáo. Trong thực
tế, mỗi loại chế độ độc tài đều có bản chất riêng của nó về hệ thống tổ
chức chính quyền cùng với những sản phẩm do nó tạo ra là luật pháp và tục
lệ. Chúng tôi sẽ trình bày đày đủ hơn ở một phần khác trong bộ sách này.
A.- CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ CỦA ĐẾ QUỐC VATICAN
Cũng nên biết rằng, Giáo Hội La Mã chỉ là
một danh xưng khác của Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Vatican. Về đế quốc này,
sách World Facts & Maps ấn bản 1995 do công ty Rand McNally phát hành cho
rằng “Vatican là một quốc gia danh xưng là State of the Vatican City, một
quốc gia độc lập nhỏ nhất trên thế giới, có lãnh thổ rộng là O.4 km2, và là
một quốc gia theo chế độ “tăng lữ quân chủ chuyên chế =
Monarchical sacerdotal state)”
Như vậy, ta có thể gọi Giáo Hội La Mã là
một tổ chức “độc tài tôn giáo” hoặc “đạo phiệt” hay “tăng
lữ quân chủ chuyên chế” hoặc "Chế độ đạo phiệt Gia-tô". Danh
xưng nào thì cũng chỉ là cái áo khoác ở bên ngoài. Quan trong hơn cả vẫn
là cái bản chất tức là chủ trương, chính sách, sách lược hành động cùng
những việc làm và cung cách hành xử của nó đối với người dân dưới quyền và
người đời. Riêng về phần Giáo Hội La Mã, chúng tôi đã trinh bày khá đầy đủ
ở các chương 3, 4, 5 và 6 ở trên, và sẽ được trình bày thêm về trong các
chương khác trong bộ sách này.
B.- BỘ MÁY CAI TRỊ CỦA ĐẾ QUỐC VATICAN
Đế Quốc Vatican thực sự là một quốc gia có
lãnh thổ, có nhân dân, có chủ quyền và chính quyền thì tất nhiên phải có bộ
máy cai trị. Nói về bộ máy cai trị của quốc gia Vaican, cựu giáo-sĩ Malachi
Martin viết trong cuốn Rich Church, Poor Church như sau:
"Bộ máy cai trị của Giáo Hội La Mã
thường được gọi là Tòa Thánh Vatican. Gọi như vậy là không đúng với sự thật
và chỉ là một cách gọi vắn tắt của danh xưng "Quốc Gia Thành Phố Vatican".
Giáo Hoàng là nhà lãnh đạo nắm quyền chuyên chế tuyệt đối của quốc gia này.
Là một quốc gia có đầy đủ chủ quyền, Vatican có lãnh thổ, cảnh sát, các tòa
án, nhà tù, hệ thống thuế khóa, sở bưu chính và con niêm, sở đúc tiền, báo
chí, văn phòng báo chí, sở cứu hỏa, sở an ninh, công chức, hệ thống ngân
hàng, đại sứ và ngọai giao đoàn. Tuy nhiên, vì bị bao quanh bởi kinh thành
La Mã cho nên các dịch vụ trong quốc gia này được phối hợp với các dịch vụ
của kinh thành La Mã."
Bộ máy cai trị của Vatican là cơ quan hành
pháp nằm dưới quyền chỉ huy trực tiếp của giáo hoàng và được coi như là
cánh tay mặt của ông. Cơ quan hành pháp này có hai chức năng: Chức năng thứ
nhất là quản lý các công việc chính quyền trong Quốc Gia Vatican và chức
năng thứ hai là trông coi tất cả các việc tôn giáo cùng mọi công viêc đời
của toàn thể Giáo Hội. Bộ máy cai trị của Vatican còn được gọi là giáo triều
hay triều đình Vatican và được tổ chức thành các bộ, phòng, sở, văn phòng và
ủy ban giống như các cơ quan chính quyền thế tục.
Trên nguyên tắc, hầu hết, trong thực tế,
các giáo khu đều độc lập đối với Tòa Thánh La Mã về vấn đề tài chánh và
quản trị tài chánh. Các ông giám mục đều có đầy đủ quyền hành trong giáo khu
của họ. Là những người đại diện của Giáo Hội tại giáo khu của họ, các ông
giám mục được tín nhiệm và trao cho quyền kiểm soát mọi tài sản, động sản,
bất động sản, v.v... của Giáo Hội. Dĩ nhiên, cứ 5 năm một lần, họ phải thân
hành đến Tòa Thánh Vatican để tâu trình về những việc làm trong giáo khu
của họ đã tiến hành như thế nào và kết quả ra sao. Họ phải giữ tình giao hảo
vời vị sứ thần của Tòa Thánh ở quốc gia của họ. Ở Hoa Kỳ, vị sứ thần của Tòa
Thánh Vatican cư ngụ trong thành phố thủ đô Washington. Điều đáng để ý là
các ông giám mục là một nhà cai trị trong giáo khu của họ. Hàng năm, mỗi
giáo khu phải gửi số tiền khổng lồ gọi là Peter's Pence về Vatican. Đây là
loại thu nhập hàng năm trong toàn thể Giáo Hội. Thỉnh thoảng, Tòa Thánh
Vatican lại đòi các giáo khu phải đóng góp thêm và còn đưa ra "chỉ tiêu"
nữa.... Tuy nhiên, về công việc quán lý nội bộ, Tòa Thánh để cho các giáo
khu được tự trị.
Từ năm 1947, các dòng tu và các giáo khu
đều sử dụng các cơ quan tài chánh của Tòa Thánh Vatican để đầu tư vào các
dịch vụ kinh tài."]
(That clerical bureaucracy is commonly
described as "the Vatican." But this is really a misnomer, being a shortened
form for the State of Vatican City. The pope is its absolute ruler. As a
full sovereign state, it has it own borders, police, judiciary, jails,
taxes, stamps, coinage, newspapers, press office, fire department, security
services, civil service, banking system, ambassador, and accredited
diplomatic corps. However, because it is surrounded by Rome and the State of
Italy, its municipal services necessarily work in conjunction with those of
Rome."
The bureaucracy of the Vatican is the
pope's executive right arm, and under his command, it has a double function:
to administer the temporal affairs of the State of Vatican City and to
administer the spritual and temporal affairs of the entire church. The
Vatican bureaucracy - called Curia - is organized into sections
corresponding to the ministries, offices, and services: tribunals,
secretariats, and commissions.
In principle and, very largely, in
practice, each diocese is independent of Rome in its fiscal and monetary
adminstration. Each bishop has complete power in his territory; as the
official representative of the Church there, he holds in trust and controls
the property of the Church - liquid asset, real restate, and so on. He must,
of course, visit the Vatican every five years in order to give an account of
how his diocese is doing, and he must maintain friendly relation with the
pope's representatives in his country - in the United States this is the
pro-Nuncio who lives in Washington. In the final account, the bishop is the
business manager of his his diocese. The largest amount of money that goes
to the Vatican from the diocese is Peter's Pence, and annual collection made
throughout the Church. From time to time, the Vatican will require
additional contributions and "quotas."... But between Rome and dioceses, the
business connection is not very tight. Each diocese is, in effect,
autonomous.
Since 1947, both religious orders as well
as diocese have made use of the Vatican' financial agencies in order to
obtain the best investment possible for their funds."
[5] .
Nói chung, hệ thống tổ chức bộ máy cai
trị của Giáo Hội La Mã không khác gì hệ thống tổ chức của Đế Quốc La Mã hay
bất kỳ một đế quốc thực dân xâm lược nào khác. Hệ thống này được tổ chức với
mức độ vô cùng tinh vi, sao cho thích nghi với "chủ trương phù thịnh"
dế dàng "xoay sở trở cờ đón gió" của Giáo Hội, hầu có thể thì hành
sách lược "cáo đội lốt hùm" và "lướt theo chiều gió". Nói về
đặc tính và thành tích trở cờ đón gió của Giáo Hội La Mã (để có thể dễ dàng
cấu kết với các thế lực mới đang lên), ông Charlie Nguyễn viết:
"Vatican trước đây đã đạt tới đỉnh cao
danh vọng do sự cấu kết chặt chẽ với các chủ nghĩa quân chủ phong kiến, chủ
nghĩa thực dân đế quốc, chủ nghĩa phát -xít (Ý) và chủ nghĩa Đức Quốc Xã. Nó
cấu kết với các bố già Mafia Ý và bọn khủng bố quốc tế."
[6]
Vì quốc gia này theo đuổi chủ nghĩa bá
quyền thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân loại về cả thể xác lẫn tâm linh
với chủ trương "thần quyền chỉ đạo thế quyền" để thi hành "chính
sách bất khoan dung" đối với các tôn giáo và văn hóa khác qua những
chiến dịch "làm sáng danh Chúa" bằng bạo lực cho nên các nhà viết sử
gọi nó là "Đế Quốc Thần Linh" (Spiritual Empire). Việc giáo triều
Vatican phát đông các cuộc Thập Tự Chiến khởi đầu vào năm 1096, việc thiết
lập các Toà Án Di Giáo khởi đầu vào năm 1232, việc ban hành các thánh lệnh
trong thế kỷ XV chứng tỏ Giáo Hội La Mã hay Quốc Gia Vatican không phải chỉ
là Đế Quốc Thần Linh thuần túy, mà còn là một đế quốc thực dân xâm lược
giống như tất cả các đế quốc thực dân xâm lược khác. Hơn thế nữa, nó còn có
những sách lược hành động ở mức độ đại quy mô hơn, tinh vi hơn và có những
đặc tính gian tham hơn, quỷ quyệt hơn, bạo ngược hơn, và dã man đến cùng độ
của dã man.
Vì là một đế quốc thực dân xâm lược có rất
nhiều thuộc địa ở rải rác khắp nơi trên thế giới và có cùng chung những
thuộc địa của các đế quốc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Pháp ở khắp các lục địa
Phi Châu, Mỹ Châu và Á Châu, cho nên đế quốc này cũng phải tổ chức bộ máy
cai trị giống như bộ máy cai trị của các đế quốc khác, và phải có một khối
nhân sự (cán bộ) vô cùng đông đảo để điều hành bộ máy cai trị khổng lồ này.
Nói về khối nhân sự hay cán bộ của Giáo Hội hiện nay, ông Charlie Nguyễn
cho biết:
"Giáo Hoàng là đầu não của cả một hệ
thống giáo sĩ dông đảo gồm 4000 (4 ngàn) hồng y và giám mục. Đội ngũ quản lý
hay cán bộ thjừa hành cấp dưới (managers) là các linh mục lên tới tổng số
400.000 (4 trăm ngàn)!"
[7]
Với quyết tâm theo đuổi chủ nghĩa bá quyền
thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân loại cả về thế xác lẫn tâm linh bằng
sách lược bám chặt lấy thế quyền, cấu kết với các đế quốc hay siêu cường để
dựa hơi ăn có rồi nhập nhằng diễn trò "cáo đội lốt hùm", Giáo
Hội La Mã đã trở thành một đế quốc thực dân xâm lược với chính quốc là "Quốc
Gia Vatican" và các thuộc địa ở khắp các lục địa Âu Châu, Phi Châu, Mỹ Châu
và Á Châu. Các thuộc địa của Giáo Hội chính là các xứ đạo và giáo khu nằm
rải rác khắp nơi trên thế giới. Chính những xứ đạo và giáo khu này là những
"vốn quý" và cũng là những "phần hùn" để Giáo Hội sử dụng
trong việc thuyết phục các đế quốc thực dân xâm lược như Bồ Đào Nha, Tây Ban
Nha, Pháp và sau này là siêu cường Hoa Kỳ xuất quân đánh chiếm hay can
thiệp vào các vùng mục tiêu mà Giáo Hội chiếu cố.
C.- HỆ THỐNG TỔ CHỨC QUYỀN LỰC CỦA MỘT CHẾ ĐỘ ĐẠO PHIỆT GIA TÔ
Như trên đã trình bày, Giáo Hội La Mã
thực sự là một đế quốc thực dân xâm lược có danh xưng là Đế Quốc Vatican với
dã tâm thống trị toàn cầu và nô lê hóa nhân loại cả về thể xác lẫn tâm linh.
Là một đế quốc, tất nhiên là Giáo Hội La Mã hay Đế Quốc Vatican cũng phải
có những thuộc địa ở ngoài lãnh thổ chính quốc, phải có bộ máy cái trị theo
một mô thức chính trị nào đó, và phải có đội ngũ cán bộ nắm quyền chỉ huy
các cấp trong các cơ quan trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội. Như đã nói
ở trên, các thuộc địa của Đế Quốc Vatican là các giáo phận, giáo khu và giáo
xứ ở ngòai lãnh thổ chính quốc Vatican nằm rải rác trên khắp thế giới. Cơ
quan đầu não của hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã là giáo triều
Vatican (curia) còn gọi là Tòa Thánh Vatican, có trụ sở trung ương là điện
Lateran, nằm trong kinh thành Rome. Hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã
hay đế quốc Vatican mới đầu được tổ chức phỏng theo mô hình tổ chức quyền
lực của Đế Quốc Lã Mã. Theo thời gian, mô hình tổ chức quyền lực này được
thay đổi cho thích nghi với sự biến chuyển cúa tình hình thế giới. Đại cương
mô hình tổ chức chính quyền của Giáo Hội La Mã như sau:
1.- Chế độ đạo phiệt trực trị.- Chế
độ đạo phiệt này được áp dụng tại các xứ hay quốc gia nằm trực thuộc dưới
quyền cai trị của Tòa Thánh Vatican như các "papal states" (nằm trong lãnh
thổ nước Ý Đại Lợi vào thời kỳ trước ngày Giáo Hòang Pius IX (1846-1878)
kéo cờ trắng đầu hàng Quân Đội Cách Mạng Ý vào lúc 9:30 sáng ngày 20 tháng
9 năm 1870). và các lãnh thổ ở vùng Cận Đông mà Giáo Hội chiếm đọat được
trong cuộc Chiến Thập Tự Lần Thứ Nhất (1096-1099). Tại các lãnh thổ này,
giáo triều bổ nhậm một vị phó vương điều khiển công việc cai trị . Vị phó
vương này có thể là một giáo sĩ cao cấp hay một tín đồ Gia-tô có thế lực
(xuất thân từ giai cấp quý tộc và được giáo triều Vatican tin cẩn). Chính
quyền này chỉ là một cơ quan thừa hành thực thi những mệnh lệnh của triều
đình Vatican mà thôi. Chế độ này không còn tồn tại kể từ ngày Giáo Hoàng
Pius IX (1846-1878) đầu hàng Quân Đội Cách Mạng Ý vào ngày 20/9/1870 như đã
nói trên.
2.- Chế độ đạo phiệt quân chủ chuyên chế
tay sai của Giáo Hội.- Hình
thức chính quyền này được áp dụng ở Âu Châu cho đến đầu thế kỷ 20. Tại Âu
Châu, nhất là ở Tây và Nam Âu, nhờ có khối tín đồ Da-tô đông đảo, Giáo Hội
dựa vào khối tín đồ này để xách động và dùng mọi thủ đọan gian ác để đưa
một ông vua vừa là tín đồ Da-tô cuồng tín vừa phải tuyệt đối trung thành với
Giáo Hội lên nắm quyền với chủ đích làm tay sai đắc lực cho Giáo Hội tại
quốc gia đó. Thảng hoặc có một ông vua nào cũng là tín đồ Da-tô, nhưng còn
chao đảo không tin tưởng tuyệt đối vào quyền lực của Tòa Thánh Vatican thì
Giáo Hội sẽ dùng biện pháp "khử" để đưa một tín đồ khác tuyệt đối trung
thành với Giáo Hội lên thay thế hay một ấu quân lên ngôi, rồi đưa người của
Giáo Hội lên nắm quyền nhiếp chính, điều khiển công việc của chính quyền.
Đây là trường hợp Pháp Hoàng Henry IV (1589-1610). [Vấn đề này được trình
bày khá rõ ràng ở Chương 6]. Cái chết của Anh Hòang Edward VI (1547-1553)
cũng có thể nằm trong biện pháp "khử" này của Giáo Hội. Tại Á Châu, Giáo Hội
có khuynh hướng mon men len lỏi vào hoàng tộc tìm cách để bắt rễ với những
ông hoàng có triền vọng được đưa lên nối ngôi với hy vọng sẽ thiết lập một
chế độ đạo phiệt quân chủ chuyên chế làm tay sai cho Giáo Hội. Đây là
trường hợp Hòang Tử Cảnh được Giám -mục Pigneau de Béhaine chăm sóc tận
tình, cũng như trường hợp gài bọn gia-tô Việt gian Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu
Bài, Trương Như Cương, Ngô Đình Diệm vào triều đình Huế rồi ra lệnh cho
những tên Gia-tô Việt gian này vừa thuyết phục các ông vua bù nhìn nhà
Nguyễn theo đạo Gia-tô vừa đòi người Pháp phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp
Ước 1884.
(Điều
kiện "hết lòng trung
thành với hay tuyệt đối tin tưởng vào Tòa Thánh Vatican" là ưu tiên số 1
được Giáo Hội chọn lựa đưa lên cầm quyền làm tay sai cho Giáo Hội tại một
quốc gia mà Giáo Hội chiếu cố. Cũng vì thế mà khi được dẫn đến trình diện
với các nhân vật cao cấp của Bộ Ngọai Giao Hoa Kỳ và các vị chức sắc Da-tô
cao cấp ở Hoa Kỳ, trong bữa tiệc được tổ chức tại Khách Sạn Mayflower (Thủ
đô Washington D. C) vào tháng 10 năm 1950, tín đồ Da-tô Ngô Đình Diệm đã
phải tuyên bố thẳng thừng với các nhân vật trên đây rằng ông "tin tưởng vào
quyền lực của Vatican và ông chống Cộng một cách cực lực."
[COO, Tr. 242])
[8]
3.- Chế độ đạo phiệt Gia-tô mang hình thức
một chế độ dân chủ. Chế độ này
là con đẻ của chính sách cấu kết với các cường quốc và siêu cường đường thời
để đưa một tín đồ Da-tô bản địa lên cầm quyền làm tay sai cho Gíao Hội. Lọai
chế độ này mới bắt đầu có từ thập niên 1930 và được áp dụng lần đầu tiên tại
Tây Ban Nha với chế độ đạo phiệt Da-tô Francisco Franco (1936-1975). Tiếp
theo đó là chế độ đạo phiệt Da-tô Ante Palvelich ở Croatia trong những năm
1941-1945, chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm (1954-1963) , và chế độ quân
phiệt Da-tô Nguyễn Văn Thiệu (1967-1975) ở miền Nam Việt Nam. Đây là loại
chế độ chính trị được tổ chức theo hệ thống song quyền như sau:
a. -
Chính phủ chìm (informal government hay réel gouvernement) . Theo
nguyên tắc, chính phủ chìm này là Hội Đồng Giám Mục (của tòan quốc) cùng
với một số tín đồ tin cẩn đắc lực nhất hay thân thiết ruột thịt với các vị
chức sắc trong Hội Đồng Giám Mục. Chính phủ này nắm thực quyền quyết định
mọi vấn đề từ chính sách đối nội, đối ngọai, chính sách và chương trình giáo
dục, mở mang kinh tế, cho đến việc tổ chức các ngày lễ, quyết định và bổ
nhậm các nhân vật nắm giữ các chức vụ quan trọng trong chính quyền nổi
(formal government hay apparent gouvernment) như các chức vụ tổng bộ
trưởng cho xuống tới các chức vụ tổng giám độc, giám đôc, chánh sự vụ và
chủ sự.
b.- Chính phủ nổi hay còn gọi là chính phủ biểu kiến
(formal government hay apparent gouvernment). Chính phủ này gồm những
tín đồ tin cẩn và có thể có một vài thành phần thuộc các tôn giáo khác mà
Giáo Hội có thể dùng làm cảnh trang trí với mục đích tạo ra cái vẻ bề
ngòai để người đời lầm tưởng rằng chính quyền không theo chính sách kỳ thị
tôn giáo. Tất cả nhân vật được đưa lên nắm giữ các bộ và các nha sở trong
chính quyền có thể bị chính quyền chìm "bãi chức" hay "thay thế" bằng nhiều
hình thức khác nhau vào bất kỳ thời điểm nào. Chính quyền này chỉ là một
cơ quan thừa hành có nhiệm vụ thi hành những chính sách, những quyết định
và những chỉ thị của chính quyền chìm đưa ra mà không được có ý kiến gì cả.
Quý vị có thể kiểm chứng vấn đề này bằng
cách tìm hiểu hai chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm (1954-1963) và chế
độ quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu (1967-1975) thì sẽ thấy rõ.
III.- NHỮNG VAI TRÒ CỦA MỘT LINH MỤC
TRONG HỆ THỐNG QUYỀN LỰC
CỦA GIÁO HỘI LA MÃ
Với môt đế quốc rộng lớn như vậy, tất
nhiên là Giáo Hội cũng phải cần phải có tầng lớp cán bộ đắc lực và tuyệt
đối trung thành để quản lý các cơ quan trong bộ máy cai trị, điều khiển các
dịch vụ kinh tài, bảo quản những khối tài sản kếch sù đã bóc lột tín đồ và
thu vơ được tại các địa phương. Con số cán bộ này đã được trình bày ở trên.
Lãnh thổ đế quốc (gồm các xứ đạo và giáo khu) của Giáo Hội rộng lớn, rải
rác khắp năm châu bốn bể và công việc lại quá nhiều, cho nên con số "4000
hồng y và giám mục cùnh với con số 400.000 linh mục" của Giáo Hội cũng
vẫn không đủ đáp ứng cho nhu cầu nhân sự đảm đương các chức vụ chỉ huy
trong các cơ quan, các ngành chuyên môn và các nhiệm vụ đặc biệt của Giáo
Hội trong toàn thể đế quốc. Cũng vì thế mà Giáo Hội mới quyết định, tùy theo
nhu cầu và tùy theo hòan cảnh của địa phương, một cán bộ của Giáo Hội có
thể đảm nhiệm nhiều vai trò trong cùng một lúc.
Vì cần phải có khối nhân sự lớn lao như
trên đề đáp ứng cho nhu cầu của bộ máy cai trị dàn trải ra khắp nơi trên thế
giới, giống như bộ máy cai trị của một đế quốc có quá nhiều thuộc địa, cho
nên Giáo Hội La Mã phải có một chính sách đào luyện tu sĩ để đảm nhiệm rất
nhiều vai trò khác nhau mà bên Phật Giáo hoàn toàn không có. Trong khi
các tu sĩ Phật giáo coi nơi cửa Phật là nơi yên tịnh để lo việc trau dồi
kinh Phật, tu tâm dưỡng tính, diệt bỏ tham, sân, si, mong sao cho lòng thanh
thản, không vướng mắc vào vòng danh lợi, thì chủ đích của Giáo Hội La Mã
là đào tạo ra một giai cấp cán bộ mang danh nghĩa là "tu sĩ" được phỉnh nịnh
là "mang chức thánh", nhưng thực chất lại là một ông quan phong kiến nắm
quyền cai trị một lãnh địa trong hệ thống quyền lực của một đế quốc theo chế
độ quân chủ cực kỳ phong kiến. Ông quan phong kiến này được Giáo Hội giao
phó cho quản nhiệm một giáo phận, một giáo khu, hay một xứ đạo, đương nhiên
là trở thành một thứ một ông vua con hay lãnh chúa trong phạm vi quan nhiệm
của ông ta. Thí dụ như một ông linh mục quản nhiệm một họ đạo, ông ta trở
thành một nhà độc tài trong vương quốc (tức là xứ đạo) của ông ta. Tất cả
mọi quyền hành pháp, lập pháp, tư pháp, quân sự, tài chánh, kinh tế, quân
sự, ngọai giao, đối ngoại, thông tin tuyền truyền, cảnh sát, công an, và tất
cả mọi sinh họat trong đời sống hàng ngày của giáo dân trong họ đạo đều do
ông kiểm soát với sự giúp việc của hội đồng giáo xứ. Trách nhiệm của ông ta
là vừa phải lo công việc cai trị như một nhà hành chánh, vừa phải phân xử
các vụ tranh tụng giữa các giáo dân trong họ đạo giống như một ông quan tòa,
vừa phải tổ chức đội quân duy trì an ninh và trật tự trong họ đạo giống như
ông tướng tổng tư lệnh quân đội của một quốc gia, vừa phải lo việc kinh tài
và làm thế nào càng thu vơ được nhiều lợi nhuận cho Giáo Hội (nhà Chung)
càng tốt, giống như một ông bộ trưởng kinh tế, vừa phải lo bảo quản tài sản
làm sao không bị hư hao và thất thóat giống như ông bộ trưởng tài chánh.
Với những vai trò trên đây, ông ta (nhân
vật linh mục) đã thực sự đã trở thành một ông vua chuyên chế trong họ đạo
và có đủ mọi thứ mà người đời thường ước ao khao khát. Những thứ đó là "tình,
tiền, quyền thế và danh vọng". Trong bốn thứ trên đây, chắc chắn là một
ông linh mục quản nhiệm một họ đạo có tới ba thứ "quyền thế, danh vọng và
tiền tài". Còn vấn đề "tình dục và tình ái", người viết
xin nhường lời cho những giáo dân thuộc lọai người có lý trí, có khả năng
suy luận lên tiếng. Những người ngoài họ đạo chỉ biết được khi câu chuyện đã
trở thành những hũ mắm đã được phơi bầy ra nằm chình ình ở các nơi công cộng
giống như trường hợp của các ông Linh-mục Nguyễn Hữu D. ở Houston, Texas,
Đào Q. Ch. ở Houston Texas, Trịnh Th. H. ở Chicago, Illinois, Cao Đ. M ở
Portland, Oregon, Nguyễn Hữu T, Trần C. Ngh. ở California, v.v.. hay các
ngài mang chức thánh ở Hoa Kỳ được cơ quan truyền thông loan báo từ đầu năm
2002 cho đến nay, hoặc các giáo hoàng và các vị chức sắc cao cấp trong Tòa
Thánh Vatican đã được sách sử (như Babylon Mystery Religion (Riverside,
California: Ralph Woodrow Evangelistic Associaton, Inc., 1981), Vicars Of
Christ ( New York: Crown Publishers, Inc., 1988), The Bad Popes (USA: Barnes
& Noble Books, 1993), v.v...) đã nêu đích danh để cho người đời và hậu thế
nhìn thấy, và cũng là thấy rõ giá trị của câu nói, "Hãy nhìn những gì
các ngài mang chức thánh của Giáo Hội La Mã đã và đang làm, đừng tin những
gì họ nói."
Tất cả những vai trò này được che giấu
bằng bức bình phong là vai trò tế lế với một danh xưng là nhà tu hành được
tôn vinh là "người mang chức thánh". Khi được Giáo Hội giao phó cho
những nắm giữ những vai trò như trên thì họ phải có trách nhiệm đối với Giáo
Hội. Những trách nhiệm đó là:
1.- Triệt để thi hành chính sách "bất
khoan dung" đối với các tôn giáo khác.
2.- kiểm soát chặt chẽ, không để cho
giáo dân "có tình ý riêng tư" (như đã trình bày ở Chương 4)
3.- Nhồi sọ giáo dân sao cho họ phải tuyệt
đối trung thành với Giáo Hội (tức là phải biến họ thành những người bị điều
kiện hóa giống như con chó trong phong thí nghịem của nhà bác học Pavlov. Có
như thế thi họ mới truyệt đối tin tưởng vào những tín lý Kitô quái đản
cũng như tuân hành những lệnh truyền của Tòa Thánh Vâtican và phục vụ cho
Giáo Hội bằng tinh thần "thà mất nước, chứ không thà mất Chúa".
Không nói đến những vấn đề khác, chỉ nói
tới ba vấn đề trên đây thôi, chúng ta cũng có thể thấy rõ các ông linh-mục
đều là những người vi phạm nhân quyền, đi ngược với tinh thần bác ái, đi
ngược với tinh thần dân chủ, đi ngược với quyền lợi quốc gia, đi ngược với
tất cả nguyên tắc đạo lý và công lý. Những việc làm phi pháp và ngược ngạo
này của họ và của Tòa Thánh Vâtican đều được bộ máy tuyên truyền của Giáo
Hội vo tròn bóp méo để bưng bít, biến hóa những điều tốt của những phần tử
và thế lực mà Giáo Hội không ưa thành xấu xa tội ác, và biến hóa những điều
xấu xa tội ác của Giáo Hội thành tốt đẹp. Những gì xấu xa của Giáo Hội và
giới tu sĩ Gia-tô đều được ém nhẹm bằng những lời dạy đã được nhồi sọ cho
giáo dần rằng rằng, "Các Cha là đại diện cho Chúa, Cha cũng như Chúa, tất
cả những gì Cha nói và Cha làm là nói và làm theo ý Chúa. Nếu cha có nói
sai hay làm sai thì đã có Chúa phán xét. Là tín đồ ngoan đạo, mình không
được phê bình (nói hành, nói tỏi). Phê bình các Cha là đắc tội với Chúa.".
Tùy theo hoàn cảnh và nhu cầu của từng địa
phương, một ông tu sĩ Gia-tô có thể phải đảm trách thêm những vai trò đặc
biệt khác. Muốn hiểu rõ vấn đề này, tốt hơn hết là chúng ta hãy tìm hiểu
những vai trò của họ ở các quốc gia mà quyền lực của Giáo Hội vươn tới như ở
Pháp trước thời Cách Mạng 1789, ở Việt Nam trong thời kỳ Liên Minh Pháp -
Thập Ác Vatican đánh chiếm và thống trị Việt Nam (1858-1954), và ở miền Nam
Việt Nam trong thời hai chế độ Ngô Đình Diệm và Nguyền Văn Thiệu (từ năm
1954 đến 1975). Từ đó, chúng ta có thể hiểu rõ họ được Giáo Hội giao phó cho
các ông linh mục nắm giữ những vai trò nào trong hệ thống quyền lực của Giáo
Hội La Mã. Trong bài viết "Cảm Nghĩ Một Chuyến Đi" đăng trong tờ Liên
Lạc Giáo Hoàng Học Viện Piô X Đàlạt số 2 tháng 7 năm 1995, Linh-mục Trịnh
Văn Phát cho chúng ta nhìn thấy rõ chủ tâm và phương cách mà Giáo Hội sử
dụng các ông linh mục trong bộ máy cai trị của Giáo Hội. Dưới đây là lời tâm
sự của Linh-mục Phát:
"Trong suốt thời gian ở Việt Nam tôi đã
suy nghĩ và tự hỏi mình phải làm gì cho quê hương và giáo hội. Giúp quê
hương không phải là bổn phận trực tiếp của tôi, nhưng tôi có bổn phận với
giáo hội vì tôi là người của giáo hội và được đào tạo để sau này phục vụ cho
giáo hội. Có nhiều anh em yêu cầu tôi về giúp cho địa phận, tôi thẳng thắn
trả lời là tôi không có tự do chọn lựa, tôi được huấn luyện để phục vụ theo
nhu cầu của giáo hội."
[9]
Đọan văn trên đây chỉ nói lên được phần
nào của cái thâm ý của Giáo Hội trong việc sử dụng người bản địa. Giáo Hội
huấn luyên giáo dân thành những linh mục (cán bộ) để làm tay sai phục vụ
cho nhu cầu của Giáo Hội. Nhu cầu này là tiến hành những "chiến dịch làm
sáng danh Chúa" và củng cố quyền lực của Giáo Hôi ở ngay tại quê hương
của họ. Công việc "làm sáng danh Chúa" của một người linh-mục tại quê
hương của họ thât là đa dạng. Tùy theo thời thế và hoàn cảnh địa phương, một
người linh mục có thể phải đảm nhiệm một hay kiêm nhiệm nhiều vai trò cùng
một lúc. Những vai trò đó là:
1.- Ông quan phong kiến trong chế độ đạo
phiệt Gia tô.
2.-Thày cúng và phù thủy
3.- Điệp viên nằm giữ vai trò trưởng lưới
tình báo và chỉ huy đạo quân thứ 5 trong xóm đạo trong một quốc gia mà phần
lớn nhân dân thuộc các tôn giáo khác và đặc biệt nhà lãnh đạo chính quyền
không phải là tín đồ tay sai của Giáo Hội hay chính quyền bất thân thiện với
Giáo Hội.
4.- Ông tướng chỉ huy các đạo quân thập tự
5.- Thuyết khách
6.- Cố vấn hay chỉ đạo chinh quyền thế
tục.
7.- Phán quan (quan tòa)
8.- Tham chính
9.- Chuyên viên kinh tài và quản thủ tài
sản của Giáo Hội trong phạm vi quản nhiệm
Vì giới hạn của tập sách này, phần dưới
đây, người viết chỉ trình bày 8 vai trò trên. Còn vai trò thứ 9, thiết tưởng
không cần phải nói, độc giả, nhất là giáo dân Gia-tô, cũng đều nhìn thấy rõ.
Vả lại, vai trò này cũng sẽ được trình bày khá đầy đủ trong hai Chương 13 và
14.
I.- MỘT ÔNG QUAN PHONG KIẾN TRONG CHẾ ĐỘ ĐẠO PHIỆT GIA TÔ
Vai trò này đã được Giáo Hội quy định từ
thời Trung Cổ và đuợc nhà trí thức Gia-tô Phan Đình Diệm ghi lại như sau:
"Giáo Hội hậu Trentô có hai bộ mặt, hai
hạng linh mục. Tại Âu Châu, 90% linh-mục chuyển sang ngành thày tế lễ và
nhà cai trị. Nơi cõi ngoài Âu Châu thì 10% linh mục theo chân phong trào con
buôn chiếm thuộc địa, đi truyền giáo phương xa, vừa là thày tế lễ vừa là nhà
truyền giáo. Linh mục nhà truyền giáo đi trước, linh mục thày tế lễ và cai
trị theo sau. Ấy vậy, bản tính Giáo Hội Trentô [Giáo Hôi La Mã từ sau Công
Đồng Trent (1545-1563)] là tế lễ và cai trị, chứ không phải là truyền giáo.
Tế lễ và cai trị là cứu cánh và là đỉnh cao sinh hoạt của Giáo Hội. Bộ tham
mưu chiến lược Trentô quyết định phương án thần học này."
[10]
Tại các quốc gia được Giáo Hội chiếu cố
gửi các nhà truyền giáo đến "mở rộng nước Chúa", ngay khi vừa
mới thâu nhân được một số tín đồ từ 4 hay 5 gia đình trở lên, các ông cán bộ
truyền giáo Gia-tô liền tìm cách cho họ cư ngụ quây quần chung với nhau
trong một khu xóm riêng gọi là xóm đạo để quản lý. Việc làm này nằm trong
sách lược đoàn ngũ hóa giáo dân Gia-tô của Giáo Hội La Mã. Sách lược này đã
được thi hành từ thời Trung Cở ở Âu Châu. Sách Living World History nói về
sách lược đoàn ngũ hóa như sau:
“Lúc đầu, những tín hữu Thiên Chúa Giáo
(La Mã) không có một tổ chức chính thức nào cả. Họ thường họp nhau thành
từng nhóm ở các tư gia. Vào khi có thêm nhiều tín hữu thì họ sắp đặt với
nhau thành tổ chức. Họ rập khuôn theo hệ thống quản trị của Đế quốc La Mã để
tổ chức hệ thống quản trị thành những đơn vị của Giáo Hội La Mã. Các ông tư
tế mà sau này gọi là tu sĩ được giao phó cho việc đảm trách điều khiển các
công việc và lễ vụ trong các thánh đường tại các làng mạc. Nhiều đơn vị
thánh đường trong các làng mạc trong một khu vực được gọi là một giáo khu và
đặt dưới quyền điều khiển của một vị giám mục. Nhiều giáo khu trong một vùng
nhỏ hợp lại được gọi là một tỉnh và đặt dưới quyền cai quan của một vị tổng
giám mục. Nhiều tỉnh gom lại thành một địa phận và đặt dưới quyền thống lãnh
của một ông giáo chủ. Tước hiệu giáo chủ được dành riêng cho các ông giám
mục của các thành phố lớn như Rome (La Mã), Constantinople (Thổ Nhĩ Kỳ) hay
Alexandria (Ai Cập). Dần dần, vị Giám Mục của kinh thành La Mã nắm quyền
lãnh đạo như một vị giáo chủ của toàn thể giáo hội gọi là “pope”. Chữ “pope”
trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “cha”. Sự phát triển quyền lãnh đạo của Giáo
Hội một phần là do uy tín của kinh thành La Mã vốn giữ vai trò như là một
thủ đô chính trị của đế quốc. Hơn nữa, việc miền Tây của đế quốc suy vong đã
giúp cho các ông giám mục ở kinh thành La Mã có cơ may nắm thêm quyền lãnh
đạo chính quyền khi mà các quyền hành này vuột khỏi tầm tay của các ông
hoàng đế bù nhìn. Cuối cùng, các ông giáo chủ (sau này gọi là giáo hoàng)
đòi nắm quyền tối cao trong đế quốc theo chủ thuyết của ông Peter. Ông Peter
là người lãnh đạo các Tông Đồ của Chúa Jesus và được coi như là người sáng
lập ra Giáo Hội La Mã. Vào khoảng năm 600, kinh thành La Mã mới được
nhìn nhận như là thủ đô của Giáo Hội và vị giáo chủ của kinh thành này được
coi như là vị thủ lãnh tối cao của Giáo Hội”.
(Nguyên văn: [“At first,
Christians had no organization. Believers met in small groups, often in
homes. In time, as Christtianity won more followers, an organization
evolved. Roman governmental forms serves as models for the units of the
Christian Church. Presbyters to be known later as priests, were ordained to
conduct the business and services of churches in villages. Several of these
units were placed under the direction of a bishop, who had charge of a
diocese, or district. A number of dioceses made up a province under the
authority of an archbishop, and a patriarchate was comprised a group of
provinces. The title of patriarch was given to the bishop of a large city,
such as Rome, Constantinople, or Alexandria. Gradually the Bishop of Rome
assumed leadership as pope, a word from Greek meaning father. The
development of Church leadership in Rome resulted partly from prestige held
by the Eternal City as the great political capital of the empire. In
addition, the decline of the western part ot the empire gave the Roman
bishops the opportunity to assume governmental leadership as it slipped from
the hands of the puppet emperors. Finally, the popes claimed supremacy
because of the Petrine Theory, a doctrine that the Roman Church had been
founded by Peter, leader of Jesus' Apostles. By the year 600, Rome was
acknowledged as the capital of the Church and the pope as the head of the
Church")
[11]
Sau khi ban hành thánh lệnh Romanus
Pontifex vào ngày 8 tháng 1 năm 1454 trong thời Giáo Hòang Nicholas V
(1447-1455) và các thánh lệnh kế tiềp trong thời các Giáo Hòang IV
(1471-1484), Alexander VI (1492-1503), Giáo Hội cấu kết với các đế quốc Bồ
Đào Nha, Tây Ban Nha và Pháp đem quân thập ác đi chinh phục các dân tộc ở
Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh và Châu Á Các dân tộc nạn nhân tại các lục địa
này bị cưỡng bách phải theo đạo và được đoàn ngũ hóa (tập trung) vào những
nơi gọi là "trung tâm truyền giáo" (mission ở Trung và Nam Mỹ)
hay các "xóm đạo" (ở Việt Nam) và giao phó trách nhiệm cho các ông linh mục
(cũng được gọi là các nhà truyền giáo) phụ trách quản lý. Vai trò của các
ông linh mục này (1) vừa là một ông quan phong kiến cai trị trung
tâm hay làng đạo tân lập (mới được thành lập) này, (2) vừa là
một ông thày giảng dạy giáo ly Kitô cho họ, (3) vừa là
một sĩ quan chỉ huy đạo quân thập tự tân tòng còn ô hợp, (4)
vừa là một ông chủ trong nom một bày nô lệ, (5)
vừa là một chuyên viên do thám theo dõi và kiểm soát không cho
những tin đồ tân tòng này có "tình ý riêng tư".
Vì kiêm nhiệm quá nhiều vai trò như vậy,
uy quyền của một giám mục trông coi một giáo khu hay uy quyền của môt ông
linh mục cai quản một xóm đạo không khác gì một ông lãnh Chúa trong giáo
khu hay xóm đạo đó. Người viết không biết rõ có giáo luật nào quy định
quyền hạn của một ông giám mục trông coi một giáo khu hay một ông linh mục
cai quản một xóm đạo. Nhưng căn cứ vào thực tế ở Bắc Vỉệt Nam trong những
năm trước tháng 7 năm 1954, một xóm đạo hay một giáo khu là một vương quốc
đóng kín, không giao dịch với các làng lương chung quanh. Về
phương diện hành chánh và an ninh, tất cả mọi công việc
quản trị về việc đạo cũng như về việc đời trong một làng hay xóm đạo đều do
ông linh mục quản nhiệm quyết định. Trong phạm vi quản nhiệm của ông, ông
nắm toàn quyền ban phát các chức vụ và quyền lợi cho người nào là hoàn tòan
theo ý riêng của ông, và ông cũng có toàn quyền truất phế viên chức (nhân
viên chính quyền địa phương dưới quyền) mà ông không vừa ý và cũng không
cần phải hỏi ý kiến ai hết. Về phương diện tư pháp,
mọi tranh tụng giữa giáo dân với nhau, nếu hai bên không giải quyết xong vấn
đề tranh chấp thì họ đưa nhau đến cửa Cha (linh-mục quản nhiệm) xét xử.
Về phương diện văn hóa, giáo dân chỉ được phép sống theo
nếp sống mà Giáo Hội cho phép; những gì Giáo Hội cấm đóan, thì giáo dân
không được phép rớ tới hay bàn tới. Đây là chính sách ""không để cho giáo
dân có tình ý riêng tư" của Giáo Hội. Tình trạng thường được gọi là "mỗi
xóm đạo trở thành một quốc gia trong một quốc gia" và được Linh -mục
Trần Tam Tỉnh gọi là "một ốc đảo" trong cộng đồng dân tộc. Dưới đây
là nguyên văn lời viết của vị tu sĩ Da-tô này:
"Ngọai trừ các cụm nhà thành thị dân chúng
sống lẫn lộn, người Công Giáo thường được tập trung lại thành làng xóm
riêng, tách rời khỏi người lương, sống chen chúc quanh tháp nhà thờ xây theo
kiểu Tây, chọc lên trời, cao vượt khỏi lũy tre. Bị đóng khung và được đòan
ngũ hóa bởi hàng giáo sĩ, họ trở thành một lực lượng quần chúng, một lực
lượng đáng ghê sợ khi cha xứ kêu gọi họ đứng lên bảo vệ đức tin, bảo vệ nhà
thờ. Hệ thống ốc đảo đó tách biệt và cô lập phần lớn giáo dân khỏi liên hệ
với đồng bào, thúc đẩy họ từ khước, tẩy chay bất cứ điều gì không được Giáo
Hội chính thức phê chuẩn, chẳng hạn sách Truyện Kiều, một kiệt tác văn thơ
cổ điển của Việt Nam, hoặc các tài liệu cách mạng đều bị cho là ngược với
đạo. Cac sách của Voltaire, Montesquieu, khỏi nói tới Các Mac, vừa bị nhà
nước thuộc địa cấm, vừa bị giáo luật khai trừ, nhưng ngay cuốn sách thánh
đã dịch ra tiếng bản xứ mà cũng chẳng ai được biết đến (có một bản sách
thánh in bằng hai thứ tiếng La Tinh và Việt ngữ, khổ lớn, nằm trong thư viện
các chủng viện và một vài cha xứ, còn giáo dân thì không thể sờ tới)".
[12]
Tất cả những phần trình bày trên đây cũng
như trong thực tế cho chúng ta thấy rằng uy quyền của một ông giám mục cai
quản một giáo khu hay của ông linh mục cai quản một xóm đạo chẳng khác gì
một ông lãnh chúa lớn, lãnh chúa nhỏ trong phạm vi quản nhiệm của họ. Cũng
vì thế mà ngộn ngữ Việt Nam mới có những cụm từ "lãnh chúa áo đen".
Cái hình ảnh các ông lãnh chúa áo đen này hiện ra rõ rệt từ khi đạo Gia-tô
được du nhập vào Việt Nam, ở miền Bắc và Bắc Trung Việt kéo dài cho đến
tháng 7/1954, và ở miền Nam cho đến cuối tháng 4/1975 với những tên tuổi
lừng danh như Trần Lục (Phát Diệm), Nguyễn Bá Tòng (Phát Diệm), Lê Hữu Từ
(Phát Diệm), Phạm Ngọc Chi (Bùi Chu), Hoàng Quỳnh (Phát Diệm), Mai Đức Tín
(Phương Xá, Quỳnh Côi, Thái Bình), Vũ Đức Luật (Cao Mại, Kiến Xương, Thái
Bình), Anvarê Cao (Quỳnh Lang, Quỳnh Côi, Thái Bình), Nguyễn Quang Ân (Thân
Thượng, Kiến Xương, Thái Bình), Ngô Đình Thục, Vĩnh Long, sau đổi ra Huế),
Mai Ngọc Khuê (Tân Sa Châu, Tân Bình, Gia Định), Đinh Xuân Hải (Phú Thọ Hòa,
Tân Bình, Gia Định), Tô Đình Sơn (Phú Yên), Trần Đình Vận (Dốc Mơ, Kiệm
Tân, Long Khánh), Nguyễn Lạc Hóa (Biệt Khu Hải Yến, Cà Mậu), Nguyễn Bá Lộc
(Cái Săn Kiên Giang), v.v...
II.- THÀY CÚNG VÀ PHÙ THỦY
Vai trò thày cúng là vai trò tế lễ mà ông
Phan Đình Diệm đã nói ở trên. Còn vai trò phù thủy là căn cứ vào việc làm
của các ông linh mục khi hành xử công việc tế lễ. Theo Việt Nam Tự Điển của
ông Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ thì "phù thủy là thầy pháp hay đạo sĩ
chuyên dùng bùa phép trừ tà trừ bệnh, v.v..." và "bùa phép là tiếng
gọi chung những vật huyền bí, dùng không chính đáng".
Phần này được ghi lại theo kinh nghiệm của
người viết đã chứng kiến rất nhiều lần "rửa tội" cho các trẻ em sơ sinh hay
cho những người tân tòng và lễ làm phép "nhà mới" cho các tín đồ. Trong
những lễ rửa tội như vậy, vị linh-mục làm lễ vừa lẩm nhẩm đọc lời kinh gì
đó (lời kinh này có ghi rõ ràng trong sách mà các ông linh mục thường sử
dụng) vừa "xoa dầu thánh" lên đầu đứa bé hay người tân tòng để "đuổi ma quỷ"
ra khỏi người chịu phép. Khi làm lê phép "nhà mới", vào phần chót của lễ vụ,
vị linh mục hành lễ bắt đầu "làm bùa phép" bằng cách một tay cầm chén nước
phép, một tay nhúng vào chén nước đó, đồng thời, miệng thì lẩm nhẩm đọc
những lời kinh gì đó, vừa đi vừa vẩy nước phép này ở khắp hành lang và khắp
các phòng ở trong nhà. Sự kiện này chẳng khác gì hai định nghĩa của hai từ
"phù thủy" và "bùa phép" trên đây.
Có một điều khôi hài là bảo rằng các ông
linh mục trong đạo Gia-tô thường làm chuyện "bùa phép" giống như các ông
thày phù thủy thì tín đồ Gia-tô thuộc loại "ngoan đạo" sẽ cãi cối cãi chày
rằng các ông linh mục của họ không phải làm "bùa phép" giống như bọn phù
thủy. Họ cho rằng việc "sức dầu thánh" lên đầu các em bé hay những người
tân tòng cũng như việc vẩy "nước thánh" khi làm lễ phép "nhà mới" của tín đồ
không phải là "bùa phép" mà là một "bí tích" của Giáo Hội. Phải chăng đây là
cái truyền thống quay quắt, lắt léo, lươn lẹo và lật lọng của Giáo Hội La
Mã đã cấy vào đầu óc họ ngay từ lúc mới chào đời hay đã thám nhiềm vào tâm
hồn họ ngay từ lúc còn là cái bào thai ở trong bụng mẹ. Vấn đề này sẽ được
trình bày đầy đủ ở trong Chương 11.
Điều khôi hài thứ hai là trong khi chủ
động làm những việc nặng tính cách "phù thủy" và "bùa phép" của nghề phù
thủy, thì Giáo Hội lại rất thù ghét những người hành nghề phù thủy và ra
lệnh "diệt tận gộc, trốc tận rễ " những người hành nghề này. Bằng
chứng là khi bắt được bà Joan of Arc vào năm 1430, nhà cầm quyền Anh, tay
sai của Giáo Hội, kết tội bà là phù thủy rồi thiêu chết bà vào ngày
30/5/1431. Sự kiện này cũng giống như khi các ông truyền giáo Gia-tô đến các
nước ở ngòai lục địa Âu Châu trong đó có Việt Nam và Trung Hoa, đòi được
tự do truyền đạo, thì trong khi đó, trong vùng ảnh hưởng của Giáo
Hội ở Âu Châu, các tín ngưỡng khác bị cấm triệt để, không cho phép họat động
và những tín đồ của các tôn giáo khác tuyệt đối không được phép hành sử
quyền tự do tôn giáo của họ. Tình trạng này vẫn còn y nguyên ở trong các
cộng đồng người Việt Gia-tô ở hải ngoại. Ở hải ngọai (Bắc Mỹ, Áu Châu và
Âu Châu), những tín đồ Gia-tô người Việt lớn tiềng đòi tự do tôn giáo cho
Việt Nam, nhưng chính họ, gia đình họ, các ông linh mục Việt Nam và cả Giáo
Hòang John Paul II lại không tôn trọng quyền tự do tôn giáo của những thành
phần thuộc các tin ngưỡng khác. Bằng chứng là khi có một người nào
thuộc một tôn giáo khác muốn thành hôn với người yêu là tín đồ Gia-tô thì
người đó bị đòi hỏi phải từ bỏ tín ngưỡng cổ truyền của mình, phải học giáo
lý và làm lễ rửa tội theo đạo Gia-tô rồi mới nói đến chuyện cử hành hôn lễ ở
nhà thờ. Một bằng chứng khác là "Tòa Thánh Vatican đe dọa sẽ phạt vạ
tuyệt thông ông Emmanual Milingo nếu ông không bỏ rơi người vợ cúa ông vào
ngày 20/8; ra lệnh cho ông phải cắt đứt mối liện hệ với giáo phái của mục sư
Moon, phải công khai hứa sống đời độc thân, "phải biểu lộ lòng tuân phục đối
với Giáo Hòang.".(Sẽ được trình bày đầy đủ ở Chương 11).
III.- TRƯỞNG LUỚI GIÁN ĐIỆP
VÀ SĨ QUAN CHỈ HUY CÁC ĐẠO QUÂN THỨ 5
Trong cuốn Lột Mặt Nạ Những Con Thò Lò
Chính Trị, nơi trang 170, ông Lê Trọng Văn viết về những hoạt động gián điệp
của các nhà truyền giáo Gia-tô chống lại tổ quốc Việt Nam như sau:
"Việc nước Pháp sau này xâm chiếm nước ta
là do sự thúc đẩy, vận động của các nhà truyền giáo, nhất là các giáo sĩ
Huc, Retort, Libois, Pellerin.
Giáo sĩ Huc trước đã dâng lên vua Napoléon
III một kế hoạch thành lập một công ty lo việc chinh phục và khai thác các
xứ Cao Ly, Đà Nẵng, Madagascar. Năm 1857, (Huc) lại dâng một bức thư nhắc
lại Pháp- Nam Hiệp Ước và sự cần thiết phải thành lập gấp một căn cứ ở nước
Nam" (Việt Nam Pháp Thuộc Sử, trang 116 của Phan Khoang).
Việc làm của giáo sĩ Huc có tính cách của
một tên gián điệp, một tên chỉ điểm, một hướng đạo dẫn đường cho thực dân
Pháp xâm chiếm nước ta. Việc làm của giáo sĩ Huc hoàn toàn không dính dáng
gì đến vấn đề tôn giáo. Vì giáo sĩ Huc đã dâng lên Pháp Hoàng kế hoạch thành
lập một công ty để lo việc chinh phục và khai thác các xứ Cao Ly, Đà Nẵng...
và lập căn cứ tại nước Nam. Vì thế sử gia Phạm Văn Sơn viết:
"Các giáo sĩ ngoại quốc nào có phải là
những người truyền giáo không thôi đâu, họ dò xét tình thế nước họ giảng đạo
rồi báo cáo cho chính phủ họ biết để dùng vũ lực đến xâm lược. Thí dụ
Giám-mục Pellerin sau khi trốn khỏi nhà tù Đà Nẵng, xuống tàu về Pháp đã tỏ
bày tình thế nước Nam cho hai chính phủ Pháp và Tây Ban Nha và yêu cầu hai
chính phủ đó đem quân sang xâm chiếm nước ta." (Việt Nam Tranh Đấu Sử, trang
107 của Phạm Văn Sơn).
Giám-mục Pellerin, đại diện Tổng Tòa Giáo
Khu Bắc Đàng Trong, đã giữ một vai trò chính yếu bên cạnh chính phủ Napoléon
(III). Về Pháp vào tháng 5 năm 1857, ông đã đệ lên Napoléon III một bản trần
tình đề ngày 21/5/1857 bày tỏ "ý muốn sâu sắc, nhất trí của các giáo sĩ ở
Việt Nam là hạ bệ vua Tự Đức hiện đang trị vì, mà thay vào đó một ông vua
theo đạo Thiên Chúa, hay ít nhất có thiện cảm với tôn giáo của người Pháp.
Rồi ông xin vua Pháp can thiệp bằng quân sự để bảo đảm tự do hành đạo cho
Kitô giáo ở Việt Nam" (Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa của
Yoshiharu Tsuboi, trang 66). Và một bản tường trình của Giám-mục Pellerin đã
thúc đẩy Pháp Hoàng có quyết định đem quân sang xâm lấn nước ta như sau:
"600 ngàn giáo dân địa phương và một số
lớn chủng sinh đã được phái bộ truyền giáo huấn luyện nói và viết thông thạo
tiếng La Tinh, thông suốt đường lối của chúng ta. Các chủng sinh này có thể
làm thành nền tảng để từ đó chúng ta tạo ra những quan lại mới." (French
Catholic Missionaries, trang 44 Patrick J. Tuck)."
[13]
Sách Thời Đại Mới, nơi trang 266, nói về
việc làm do thám của một nhà tu hành Gia-tô khác như sau:
"Người theo đạo Gia-tô không
phản bội đế quốc thực dân Pháp, nhưng họ đã phản bội Dân Tộc của
chính họ. Năm 1908, ngày 27 tháng 8, kế hoạch đầu độc sĩ quan Pháp bằng cách
bỏ thuốc độc vào nước "súp" của Nghĩa Quân Hoàng Hoa Thám, bị bại lộ vì cai
Trương đã đem việc này mách với Tây. Lo sợ rằng làm như thế vẫn chưa đủ, ba
người bạn của Cai Trương còn đi báo với "Cố Ân" ở Nhà Thờ Lớn ở Hà
Nội. "Cố Ân" liền điện thoại cấp báo cho Tây biết." (Việt Sử Tân Biên
của Phạm Văn Sơn, trang 423).
Đó là kế hoạch mà các nhà viết sử gọi là
"Vụ Hà Thành Đầu Độc Năm 1908". Hậu quả của việc làm phản bội dân tộc của "Cố
Ân", là ba người yêu nước bị Pháp đem chém đầu bêu giữa chợ. Đó là các
Thánh "Tử vi Dân Tộc", Đội Bình, Đội Cốc, Đội Nhân."
[14]
Sách Các Vua Cuối Nhà Nguyễn 1884-1945
(Tập 2) viết:
"Tai Nghệ An, giáo dân huyện Quỳnh Lưu
đốt phá huyện lỵ và các xã thôn. Hơn một ngàn nóc nhà tại Quỳnh Đôi, Bào Hậu
bị thiêu hủy, nhiều thường dân bị chết. Nhóm Linh Mục Alphonse Klinger và
Martin tổ chức các đội võ trang "tự vệ" đánh phá các làng Lương, đốt phá
chùa miếu.
Tại miền Bắc, Linh Mục Trần Lục -
được cơ quan ngôn luận của Hội Truyền Giáo mô tả như một "courtisan" (người
thân tín, kẻ xu nịnh) của (Giám Mục) Puginier - không những bảo vệ được họ
đạo Kim Sơn mà còn tăng cường lực lượng "thập tự quân" tiếp tay bất cứ cuộc
hành quân nào của Pháp đánh vào các tỉnh lân cận, đặc biệt là Thanh Hóa. Một
trong những công lớn của Trần Lục với chính phủ Bảo Hộ là chiến thắng Ba
Đình. Ngoài ra, Trần Lục cũng cung cấp cho Pháp hàng ngàn cu li, mật báo
viên, lính tập và viên chức hành chính...."
[15]
"Qua sự "cố vấn" của các giáo
sĩ, đặc biệt là (Giám Mục) Puginier, cùng Nguyễn Hữu Độ - Courcy mới quyết
định gạt bỏ Hàm Nghi đưa Đồng Khánh lên ngôi, sử dụng chiêu bài "trung hưng"
dòng chính thống (Tự Đức) để đương đầu với một ông vua bị các "gian thần"
đặt lên ngôi..."
[16]
"Moulié, qua sự giới thiệu của Hội
Truyền Giáo, cũng bổ nhiệm Ngô Đình Khả làm Tổng Quàn Thị Vệ, trông coi an
ninh Cấm Thành. Khả có nhiệm vụ kiểm soát vua, nhưng tính hạnh vua
càng ngày càng xấu hơn."
[17]
Về thành tích họat động trong các điệp vụ
thâu thập tin tức tình báo chiến lược tại các vùng đất bị Tòa Thánh Vatican
chiếu cố để chuẩn bị cho cuộc phiêu lưu quân sự đánh chiếm làm thuộc địa,
thiết tưởng tất các hoạt động các nhà truyền giáo Gia-tô tại Việt Nam từ
năm 1533 cho đến ngày nay đều được các sách sử ghi lại đầy đủ và rõ ràng.
Những tên tuổi các ông tu sĩ Gia-tô như Alexander de Rhodes, Pigneau de
Béhaine, Joseph Marchand, Huc, Le Grand de La Liraye, Pellerin, Retord,
Libois, Puginier, Gauthier, Diaz, Lefèbre, Materon, Charbonnier, v. v... đều
có gắn liền với các hoạt động do thám chống lại tổ quốc Việt Nam.
IV.- ÔNG TƯỚNG CHỈ HUY CÁC ĐẠO QUÂN THẬP TỰ
Ngoài những hoạt động do thám trên đây,
các ông tu sĩ Gia-tô còn nắm giữ vai trò của một ông tướng chỉ huy các đạo
quân thập tự trong thời Trung Cổ, trong các đòan quân viễn chinh của các đế
quốc thực dân xâm lược Âu Châu cấu kết với Giáo Hội La Mã như Tây Ban Nha,
Bồ Đào Nha, Pháp, Đức Quốc Xã và trong một giáo khu hay trong một làng đạo.
A.- Trong thời Trung Cổ:
Trong những vị tướng chỉ huy các đạo quân thập tự đi tấn chiếm vùng
Palestine và miền Nam nước Pháp, có rất nhiều người là linh mục và giám mục.
Những đọan văn sử dưới đây là bằng chứng:
1.- Sách Lòng Tin Âu Mỹ viết:
"Rất đông tín đồ phe giáo hòang tới trợ
lực thập tự quân. Đám quân này dưới quyền giáo sĩ Armaud Amauri, đại
diện giáo hoang, bao vây thành Béziers. Thành bị hạ ngày 22 tháng 7 năm
1209, toàn dân ở trong thành đều bị giết, kể cả đàn bà vàn trẻ con...."
[18]
2.- Trong bài viết Bài Học Chiến Tranh
Việt Nam Nhìn Từ Hậu Trường Chính Trị Hoa Kỳ, ông Lương Minh Sơn viết:
"Năm 1483, Vua Ferdinand (Ferdinand V
(1452-1516) of Castile) và Hoàng Hậu Isabella I (1451-1504) cử giáo sĩ
Tomas de Torquemada của dòng tu Spanish Dominican lên nắm quyền tư lệnh để
thi hành chương trình "Inquisition" trên toàn lãnh thổ và những vùng thuộc
địa của Tây Ban Nha. Năm 1487, Giáo Hòang Innocent VIII (1484-1492)
phong thưởng cho giáo sĩ de Torquemada danh hiệu "The Grand Spanish
Inquisitor", một "Inquisitor" vĩ đại, và ra lệnh khởi động chương trình
"Inquisition" trên toàn thế giới."
[19]
Ngòai hai trường hợp trên đây, còn nhiều
trường hợp khác nữa. Nguời viết xin tạm ngưng ở đây để chuyển sang thời cận
và hiện đại.
B.- Trong thời cận và hiên đại:
Trong thời kỳ này, các ông linh mục và giám mục của Giáo Hội nắm giữ vai
trò chỉ huy quân đội trong các chiến dịch "càn quyết và tiêu diệt"
các nhóm dân thuộc các tín ngưỡng khác trong ở Croatia và ở Việt Nam để
"làm sáng danh Chúa" giồng y như các ông linh mục và giám mục đã làm trong
các cuộc chiến thập tự trong thời Trung Cổ.
1.- Ở Croatia trong thời Đệ Nhị Thế
Chiến: Những sự kiện xẩy ra ở Croatia đã được rất nhiêu sách sử và báo
chí trinh bầy đầy đủ. Những người quan tâm đến thời cuộc cũng như lịch sử
thế giới thời cận đại và hiện đại đều có thể tìm hiểu thảm cảnh của những
khối dân Chính Thống Giáo, Do Thái Giáo và Hồi Giáo ở xứ này cũng như vai
trò của các ông linh mục và giám mục Gia-tô trong chế độ đạo phiệt Gia-tô
Ante Pavelich (1941-1945). Một số trong những chuyện này đã được người
viết trình bày khá đầy đủ ở trong cuốn Thực Chất Của Giáo Hội La Mã Quyển
Môt, nơi Chương 11. Ở đây chúng tôi chi xin ghi lại một số những tài liệu đã
được trích dẫn ở trong đó đế chứng minh vai trò "chỉ huy quân sự"
của các Ngài mang chức thánh của Giáo Hội La Mã.
a.- Dưới đây là bản văn do Tuần Báo Việt
Nam Mới (phát hành tại Seattle, Washington), chuyển dịch một bài báo từ Tuần
Báo US New & Report, nói về chuyện tên đồ tể cuồng tín Pavelich phục vụ cho
Vatican và được Vatican che giấu và giúp đỡ cho tẩu thoát sau khi Đức Quốc
Xã bị đánh bại vào mùa xuân năm 1945. Bài viết này đăng trong hai số liên
tiếp 411 ra ngày 27-11-1998 và 412 ra ngày 4-12-1998) và đã được ghi lại ở
trên. Xin xem lại Chương 6
Người Việt Nam ta có hai thành ngữ nói về
những sự thật xấu xa bỉ ổi đã được cố tình bưng bít và che giấu, nhưng cuối
cùng cũng bị phơi bày ra ánh sáng. Hai thành ngữ đó là "Cái kim buộc
(trong) giẻ, lâu ngày cũng lòi ra" và "Cháy nhà mới lòi ra mặt chuột".
Con chuột này là "con chuột cống" cho nên mới có tên là "đường dây
chuột cống".
b.- Ông Chu Văn Trình viết trong cuốn Sách
Lược Gia Tô Thực Dân Thống Trị Toàn Cầu như sau:
"Các tuyên úy Gia Tô và lính
Ustashi cũng đòi hỏi điều kiện tiền bạc để cứu mạng cho những kẻ đổi đạo.
Thí dụ như Linh-mục Canon Ivan Mikan ở Ogulin đòi 180 đồng dinans cho mỗi
người bị ép đổi đạo. Chỉ riêng một làng Chính Thống Giáo ở Jasenak, ông
ta đã thu được 80 ngàn đồng dinans. Các tu viện Gia Tô đã trở thành những
nhà kho chứa chấp những tài sản giá trị và những vật dụng của Chính Thống
Giáo. Nhiều thứ trong số này đã được gửi đến cho các giám mục Gia Tô để
sử dụng… (trang 76).
Ngày 20-8-1941, bọn Ustashi bắt giữ tất cả
những người Chính Thống Giáo Serb đưa đến khu rừng Koprivnica, giữa Bugojno
và Kupres, và trước khi tàn sát, đàn bà bị cắt vú, chặt gẫy chân tay. Một số
người bị mù vì mắt bị móc bằng dao…Suốt đêm 31-7 và 1-8-1941, tai thành phố
Prijedor, bọn Ustashi đã tàn sát 1, 400 người... (trang 88).
Công cuộc diệt chủng Chính Thống Giáo sắc
tộc Serb do Giáo Hội Gia Tô chủ động, ủy nhiệm cho Phát Xít Đức - Ustashi
tiến hành tại Nam Tư, mãi 8 tháng sau mới bị thế giới biết đến qua một bài
báo xuất bản tại Anh quốc (trang 88)…"
[20]
.
2.- Tại Viêt Nam, ngòai những vai trò
khác, suốt trong thời kỳ từ năm 1858 cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, việc
các ông linh mục và giám mục công khai nắm giữ các chức vụ trực tiếp chỉ
huy các đạo quân thập tự chống lại các lực lượng nghĩa quân kháng chiến và
nhân dân các làng lương tiếp cận các xóm đạo hay các giáo khu là một sự
thật lịch sử mà bất kỳ tác phẩm lịch sử Việt Nam trong thời kỳ này cũng đều
nói tới. Sự kiện này cũng được chính Linh-mục Việt Châu tuyên bố và được
sách Lột Mặt Nạ Những Con Thò Lò Chính Trị ghi lại như sau:
"(L.M) Việt Châu tuyên bố:"Dân tộc Việt
Nam ta không còn lãnh tụ tại hải ngoại. Nhưng người Công Giáo Việt Nam hải
ngoại có lãnh tụ. Đó là các vận mệnh của quê hương, của đất nước. " Lãnh tụ
đó là các ông "Cha" của một họ đạo:
"Họ đạo này phải là một nước Việt Nam thu
gọn... và người lãnh đạo của anh chị em đó là tướng. Tướng ở đây không có
nghĩa là một ông tướng, một ông tá, một ông chỉ huy trong hàng ngũ quân đội.
Nhưng là một người đứng đầu để phất cờ.
Theo công thức trên, "Người Công Giáo Việt
Nam sẽ có nhiều nước Việt Nam, nhiều ông tướng lãnh đạo nước Việt Nam ấy,
xuất phát từ hàng giáo sĩ thì phải đưa đến kết quả là các nước Việt Nam ấy
tha hồ giết nhau vì những tham vọng riêng tư của mỗi ông tướng, thí dụ như
tình, tiền, chức vị.... Tất cả được ngụy trang dưới danh nghĩa chống Cộng!
Tất cả các ông Cha mang hàm tướng đều được
đặt dưới quyền lãnh đạo của một đảng Công Giáo, phó sản của ĐẢNG TỔNG GIÁM
MỤC LA MÃ [Archiepiscopal]. Đảng Công Giáo Việt Nam rất mạnh, theo lời Việt
Linh Nguyên Lão, vị Cha già của đảng này thì:
"Trên 200 giáo sĩ (Việt Nam) làm việc toàn
thời gian, lại sáp nhập với tổ chức Công Giáo sở tại vốn sẵn có cơ sở và
tiện nghi, nên càng mạnh gấp bội.."[21]
Đảng Công Giáo không phải mới được thành
lập trong thời gian sau năm 1945, mà nó đã được thành lập từ thời Tòa Thánh
Vatican cấu kết với Pháp đem quân sang đánh chiếm Việt Nam vào cuối thập
niên 1850..Rõ rệt nhât là trong thời liên quân xâm lăng Pháp -Vatican đánh
chiếm Bắc Việt và Trung Việt vào cuối thế kỷ XIX, Linh-mục Trần Lục chỉ huy
đạo quân Gia-tô hơn 5 ngàn người từ Phát Diệm đi tiếp viện cho đạo quân của
Trung Tá Metzinger chỉ huy chiến dịch tiêu diệt lực lượng nghĩa quân kháng
chiến của nhân dân ta tại căn căn cứ Ba Đình dưới quyền lãnh đạo của cụ Đinh
Công Tráng. Sự kiện này được Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi lại như sau:
"Cho tới ngày chết, 25-4-1892, Giám-mục
Puginier chẳng bỏ qua bữa nào để củng cố thêm vị trí nước Pháp tại xứ sở con
nuôi này của ông. Người ta đang giữ được hàng chục điệp văn và bản tin tình
báo mang chữ ký của ông trong văn khố của Bộ Thuộc Địa. Và một phần nhờ ở
các bản tin đó mà quân Pháp đã có thể đập tan cuộc kháng chiến vũ trang của
người Việt Nam. Cuộc kháng cự hùng mạnh nhất đã xẩy ra tại Ba Đình, Thanh
Hóa, dưới sự chỉ huy của Đinh Công Tráng. Bề ngoài, đó là một loại làng được
biến thành căn cứ, được lũy tre bảo vệ, có thành, có đường hầm và hệ thống
giao thông hào được bố trí rất thông minh. Tinh thần các chiến sĩ lúc đó rất
cao. Nhằm "bình định" cứ điểm này, quân Pháp đã gửi tới một lực lượng gồm
2250 tên lính, 25 đại bác, 4 pháo hạm dưới quyền chỉ huy của Trung Tá
Metzinger. Cuộc tấn công ngày 16-12-1886 bị đầy lui. Quân Pháp phải tổ chức
bao vây để tìm hiểu chiến thuật mới. May cho chúng, vì có một sĩ quan trẻ,
đại úy Joffre (sau này là thống chế Pháp trong Chiến Tranh Thế Giới Thứ
Nhất) nghĩ tới việc nhờ Linh-mục Trần Lục, quản xứ Phát Diệm và là Phó
Vương, tiếp trợ cho cuộc bình định các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh.
Ông linh mục này đã nhận phép lành của Giám-mục Puginier, rồi đi tiếp viện
cho quân Pháp với 5 ngàn giáo dân. Ba Đình đã thất thủ."
[22]
Cũng tại giáo khu Phát Diệm này, trong
thời Kháng Chiến 1945-1954, vai trò của một vị tướng lãnh tổng chỉ huy đạo
quân thập tự của giáo khu này được chuyển sang Linh-mục Hoàng Quỳnh mà giáo
dân ở đây thường gọi là Cha Tổng (có nghĩa là tổng chỉ huy các đạo quân thập
tự trong giáo khu này). Trong cuốn Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa
Foundation, nơi Chương 5, trong tiểu mục "Bữa Tiệc Rượu Mật Người Nhậu Với
Gan Người Của Bọn Lính Gia-tô Phát Diệm" có mấy câu nói về quyền lực của Cha
Tổng Quỳnh này như sau:
"Sáng lại, có mấy chiếc xe nhà binh chở
những người võ trang của Cha Tổng mà sau này tôi mới biết là Cha Tổng Hoàng
Quỳnh cùng toán lính tự vệ của ông ở Phát Diệm đến vào nhà tên trưởng đồn.
Bên này, tôi nghe cuộc nói chuyện giữa Cha Tổng và tên trưởng đồn không mấy
rõ, tiếng được, tiếng mất. Hình như Cha Tổng ra lệnh bắn bỏ mấy tên Việt
Minh vừa bị bắt, giết xong thì chặt đầu rồi bêu ở ngõ ra vào làng để làm
gương và để hù dọa những người theo Việt Minh. Thế rồi, chỉ một lúc sau là
Cha Tổng và toán lính ra về."[23]
Chính Linh-mục Trần Tam Tỉnh kể lại ở
trong cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm (nơi trang 93-96) những việc làm của các
đạo quân thập tự (công giáo), trong đó, chúng ta thấy các đao quân thập tự
này của các đảng Công Giáo dưới quyền lãnh đạo của các ông giám mục và linh
mục (trong thời kỳ từ năm 1858 cho đến ngày 20/7/1954) đã làm những việc mà
những người còn có lương tâm của một người Việt Nam không thể nào tha thứ
được nếu nghe thấy hay biết được những việc làm "trời không dung đất không
tha" này. Dưới đây là nguyên văn lời Linh-mục Trần Tam Tỉnh viết:
"Từ năm 1950, nhiều làng Công Giáo vùng
đồng bằng được vũ trang, nhận súng ống của Pháp, dưới quyền chỉ huy trực
tiếp của các linh mục. Đội quân vũ trang của Phát Diệm gồm 10 ngàn người, ở
dưới quyền chỉ huy của Giám-mục Lê Hữu Từ, còn quân Bùi Chu thì do Giám-mục
Phạm Ngọc Chi điều khiển.. Vai trò của đội quân tự vệ vượt qua tư cách gọi
là chỉ để tự vệ khi bị Cộng Sản tấn công, bởi vì nó được tung ra các hoạt
động chủ yếu là hành quân càn quét, có khi bao trùm cả vùng, có lúc chỉ ở
địa phương nhỏ. Chẳng hạn trong trận Ký Con ở Nam Định, một bộ tham mưu liên
quân gồm có Trung Tá Candou ở Nam Định, Trung Đoàn Trưởng Mollat đồn Phát
Diệm và Linh-mục Hoàng Quỳnh, tổng tư lệnh đội quân Công Giáo, đã thành công
loại khỏi vòng chiến cả tiểu đoàn Việt Minh ở đây. Lính Công Giáo có lúc
tham dự các cuộc hành quân gồm nhiều tiểu đoàn của Pháp.
Nhưng ở cấp địa phương, quân lính Công
Giáo mới là đội quân hung hăng nhất. Nhằm lo cho các xứ được bảo vệ hữu hiệu
hơn, bọn chúng tổ chức ruồng bố liên tiếp các làng lương chung quanh, bắt
giam hoặc giết chết, khỏi cần tòa án, tất cả các chiến sĩ du kích và
những ai bị tình nghi là Việt Minh. Theo gương lính Pháp, chúng
cướp bóc các làng, lấy trộm, tàn sát, thiêu rụi tất cả những gì bị coi là ổ
kháng chiến. Nực cười hết cỡ, có những linh mục - đại úy nghĩ
rằng giờ đem cả nước theo đạo Kitô đã tới: Họ ra lệnh cho lính đi
cướp phá các chùa Phật Giáo, mang hết các tượng Phật về làm củi chụm, rồi
cắm thánh giá lên chùa hay là đặt Đức Mẹ vào trong đó. Thật phải rùng
mình, khi nhắc lại tên tuổi của một số linh mục như Khâm, Tôn, Luật...
Các bản tin về những vụ Cộng Sản tàn sát
Công Giáo do báo chí Pháp hoặc hãng thồng tấn Fides (của Tòa Thánh Vatican)
đưa ra phải được đặt trong bối cảnh lịch sử nói trên. Chẳng hạn Beena Phan,
trích dẫn tờ báo tiếng Pháp Viễn Đông xuất bản tại Sàigòn, đã viết; " Người
ta kể lại rằng tại Cao Mại, 180 người Công Giáo, gồm nam nữ và trẻ con bị
thiêu sống trong nhà thờ làng theo sau vụ đồn lính Pháp cạnh đó không chịu
đầu hàng."
Sự thật hoàn toàn khác thế. Cao Mại là một
làng thuộc huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, ở 5 km cách sông Hồng, nơi chia
đôi Thái Bình với Nam Định, và cũng là ranh giới giữa hai địa phận Thái Bình
và Bùi Chu. Cao Mại có hai thôn, một Công Giáo và một Phật Giáo. Đang là mùa
xuân 1950, giáo dân Bùi Chu lúc đó đã được võ trang, còn Thái Bình thì quân
Pháp chỉ đóng ở thành phố và những vùng lân cận. Một hôm Cha Luật, chính
xứ Cao Mại, tiếp một cha bạn người Bùi Chu sang thăm, có mấy tiểu đội
mang vũ khí tháp tùng. Bọn lính này đi lùng sục các làng chung quanh, bắt
các du kích quân và cán bộ Việt Minh bất ngờ gặp được và giết chết mấy
người. Được báo động, du kích toàn vùng đó kéo về hướng Cao Mại. Bọn lính
Công Giáo vừa đánh vừa rút lui, có chừng 50 thanh niên Cao Mại và các linh
mục tham gia. Khi thấy quân
du kích kéo tới, giáo dân Cao Mại hoảng sợ, chạy vào nhà thờ đóng cửa lại,
chờ cha xứ trở về mang theo tiếp viện. Du kích tổ chức bao vây, đòi phải thả
các đồng chí bị bắt ra. Đám người bị bao vây cứ cầm cự. Khi đêm về, nhà thờ
bốc cháy và những người bị nhốt trong đó chết thiêu. Người ta loan tin rằng
vụ hoả hoạn đó là do nhóm người bao vây gây ra, hay chỉ là một chuyện rủi
ro. Sau đó, cha Luật và quân lính của ông trở về, ông chỉ còn biết khóc
trước đóng tro tàn của nhà thờ và cái tang của dân chúng. Ông quyết định trả
thù cho giáo dân. Cuộc báo thù hết sức kinh khủng. Các du kích quân bị
lính của cha bắt được đều bị chôn sống trước nhà thờ. Từ đó, Cao Mại
trở nên một nơi kinh hoàng cho cả vùng.
"Cao Mại là một trường hợp điển hình trong
thảm kịch Việt Nam hồi đó. Máu đổi máu, những cuộc thanh toán tiếp theo
những vụ trả thù. Vì không biết nghệ thuật quân sự và chiến lược của Kháng
Chiến - do chính phủ Hồ Chí Minh vạch ra từ năm 1940 - quá tự tin vào những
thắng lợi lúc đầu, người Công Giáo cứ đi bố ráp tại các làng không Công
Giáo, thường đâu có chống cự lại họ."
[24].
Mang danh nghĩa "diệt Cộng", những ông
linh-mục kiêm nhiệm vai trò ông tướng chỉ huy các đạo quân thập tự (Công
Giáo) này đã tàn sát bao nhiêu dân chúng Việt Nam, bao nhiêu người dân bên
lương đã bị dập vùi và đã bị cưỡng bách phải theo đạo Gia-tô để tồn tại hay
để cưu mang cho thân nhân ruột thịt trong gia đình. Hai nhà biên khảo Quang
Toàn và Nguyễn Hoài ghi lại ở trong cuốn Những Họat Động Của Bọn Phản Động
Đội Lốt Thiên Chúa Giáo về thảm cảnh đau thương này của nhân dân ta ở vùng
Đồng Bằng Bắc Việt trong thời Kháng Chiến 1945-1954 tương đối khá rõ ràng
và đầy đủ. Dưới đây là với nguyên văn của những đọan văn này:
"Quỳnh Lang Đẫm Máu:
Quỳnh Lang là một thôn thuộc xã Quỳnh Lâm (Toàn
Thắng), huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình. Dân số trong thôn có hơn 1.000
người, phần lớn theo đạo Thiên Chúa. Thôn này ở về phía Tây Bắc huyện Quỳnh
Côi. Giữa thôn có một nhà xứ (nhà thờ) thường gọi là nhà thờ Quỳnh Lang. Nhà
thờ này thường có 2 (hai) cha cố (linh mục), 7 (bẩy) thày giáo và một số cô
mụ.
Ngay từ ngày đầu sau thắng
lợi của cuộc Cách Mạng tháng 8 năm 1945, bọn phản động đội lốt Thiên Chúa
Giáo đã ngấm ngầm tổ chức hoạt động chống lại chính quyền dân chủ nhân dân.
Đứng đầu bọn này là tên Anvarê Cao, người Tây Ban Nha. Là Linh-mục chánh xứ,
Anvarê Cao đã cai quản nhà xứ Quỳnh Lang từ năm 1941-1942. Khi chính quyền
về tay nhân dân, chúng đã lợi dụng tòa giảng của các nhà thờ và các lớp giáo
lý để tuyên truyền xuyên tạc mọi chủ trương chính sách của chính phủ ta. Khi
kháng chiến bùng nổ, chúng ngấm ngầm tổ chức những đội "Thanh Niên Diệt
Cộng" trong các họ thuộc xứ, dưới những hình thức "Đội Âm Nhạc", "Đội
Chầu"...
Năm 1948, 1949, quân Pháp
đánh rộng ra Hải Dương, Hưng Yên thì Anvarê Cao tổ chức "Liên Đoàn Thanh
Niên Công Giáo" toàn xã Quỳnh Lang. Ban chấp hành của Liên Đoàn này do
Anvarê Cao đứng đầu và mỗi họ này được cử một đại biểu vào ban đó. Từ đó,
bọn phản động đội lốt Thiên Chúa Giáo hoạt động ngày càng ráo riết hơn, có
kế hoạch và tổ chức hơn. Anvarê Cao còn chọn một số tay sai đắc lực đưa vào
Quốc Dân Đảng như tên Mậu tức Ái (Quỳnh Lang), Tuyên (Tân Mỹ) để nắm lấy tổ
chức này. Sau đó, bọn này đi tuyên truyền phát triển đảng viên. Tên nào tổ
chức được một đảng viên thì được thưởng 100 đồng Đông Dương. Dần dần chúng
thu hút được những tên Ruy, Trị, Rẫn... (Quỳnh Lang)... Những tên này đều
trở thành tay sai đắc lực của bọn Thiên Chúa Giáo phản động ở đây.
Tháng 11 năm 1949,
giặc Pháp đem quân về đóng ở Bến Trại và La Tiên (bắc sông Luộc), gần Quỳnh
Lang. Anvarê Cao bèn tập họp thanh niên Thiên Chúa Giáo ở các thôn Đông
Châu, Tân Mỹ, Quỳnh Lang bí mật cho đi kiểm soát khu tứ xã. Y cho một thanh
niên sang liên lạc với giặc Pháp ở Bến Trại và La Tiên, cử tên Luân (Tân
Mỹ) sang Bến Trại cầu cứu Pháp cho quân về càn đồng bào Thiên Chúa Giáo đi
tản cư. Y còn dùng thị Hồng
người Việt Yên (gái điếm) liên lạc với giặc Pháp ở Hưng Yên và La Tiến.
Tháng 1 năm 1950, giặc Pháp từ Bến Trại vượt sông Luộc về dẫn đồng
bào theo đạo Thiên Chúa ở khu tứ xã tản cư. Khi giặc đến, Anvarê Cao ra lệnh
cho các trùm trưởng các họ ở ba thôn Quỳnh Lang, Đông Châu và Tân Mỹ phải
tập họp giáo dân đến Tân Mỹ. Tên Ký Giáp và Trùm Vĩ vâng lệnh Anvarê Cao
doạ nạt giáo dân: "Đồng bào tới đây sẽ có quân Pháp đón và theo cha xứ đi
tản cư, chứ ở nhà Việt Minh đến đánh nhau, đồng bào không chạy được thì nó
cắt tiết (Tài liệu của Ty Văn Hoá Thái Bình).
Dưới mũi súng hỗ trợ của
giặc, Anvarê Cao cùng bọn trùm trưởng đã dẫn hơn 1.000 gáo dân sang Bến Trại
(Hải Dương). Hơn một tháng ở đó, Anvarê Cao bắt giáo dân đì càn quét cướp
phá thóc gạo, lợn gà của nhân dân quanh vùng về tập trung. Hàng ngày y ra
lệnh phát từng bơ (lon) gao, miếng thịt cho từng gia đình. Gia đình nào bị
chúng tình nghi có liên lạc với kháng chiến thì lập tức mất khẩu phần thịt
gạo, cho nên nhiều gia đình rất khốn khổ.
Sau hơn 30 ngày sống bằng của
cướp giật của nhân dân quanh vùng Bến Trại, gây tội ác đã nhiều, Anvarê Cao
cho giáo dân chuyển sang làng Tranh (Ninh Giang), cũng vẫn luận điệu lừa
bịp: "Sang đây sẽ có nhà cửa ruộng vườn cầy cấy". Ở đây, y bắt giáo dân đi
càn quét, cướp bóc của cải, trâu, bò lợn, gà của nhân dân quanh vùng. Những
người không đi càn quét thì phải đi phu gánh gạch., gánh cát xây bốt cho
giặc ở Ninh Giang.
Để chuẩn bị kéo về Quỳnh Lang
lập tề, ngụy, Anvarê Cao nài xin giặc Pháp vũ trang và huấn luyện quân sự
cho hơn 60 thanh niên Thiên Chúa Giáo. Đồng thời, y tổ chức bầu các ban quản
trị, xã uỷ.
Tháng 2/ 1950, địch đánh rộng
ra Thái Bình, Anvarê Cao đưa lực lượng vũ trang về Quỳnh Lang lập bốt (đồn).
Bốt Quỳnh Lang chiếm một khu đất rộng ngay trước cửa nhà thờ. Chúng cho xây
nhiều lô cốt và hàng rào dây thép gai vây quanh. Trong bốt có trên 100 vệ sĩ
do tên đồn trưởng Bùi Hữu Lùn chỉ huy. Y là tay sai đắc lực của Anvarê Cao.
Mọi việc của đồn đều do Anvarê Cao quyết định. Hàng ngày, chúng bắt vệ sĩ đi
càn quét các vùng lân cận như Bương Hà, Hỷ Hà, Đông Quynh để giết người,
cướp của nhằm phá vỡ cơ sở kháng chiến của nhân dân ta.
Ngày 16/3/1950, Pháp cho thêm
một tiểu đoàn về đóng ở Quỳnh Lang. Nhân dịp đó Anvarê Cao xin thêm súng đạn
của giặc, vũ trang cho thanh niên Thiên Chúa Giáo ở Tân Mỹ và Đông Châu để
làm tiền đồn án ngữ cho vị trí Quỳnh Lang. Lực lượng được tăng cường, chúng
chiếm đóng khu tứ xã, càng ra sức hà hiếp các thôn xung quanh hòng bình định
cả khu vực này. Chúng lập trại giam, tổ chức phòng mật thám, cho vệ sĩ hàng
ngày đi lùng bắt cán bộ và nhân dân.
Quỳnh Lang, ngay từ những
ngày đầu lập bốt (đồn), đã khét tiếng về những hành động giết người man rợ.
Suốt trong nửa năm đầu 1950, mỗi buổi chiều tà lại có một chiếc xe
ca-mi-ông chở hàng chục người vô tội ra bến đò La Tiến. Tới bến, những người
yêu nước bị dồn thành hàng, những lưỡi kiếm sáng loáng vung lên, hàng loạt
thân người ngã gục và bị hất xuống dòng nước. Có hôm, dùng kiếm để
giết đã chùn tay, chúng trói những người bị bắt lại thành từng xâu (có xâu
tới 24 người), rồi dùng tiểu liên bắn xả vào họ. Cũng như mọi lần, xác
họ bị hất xuống sông. Man rợ hơn nữa, có lần chúng bắt hàng chục người
xếp dọc theo thành bể (hồ chứa nước) thả cá giống, rồi dùng súng tiểu liên
bắn chết, xác họ đổ gục chồng chất trong bể.
Chúng tra tấn những người bị
bắt cực kỳ dã man. Một trong những cách tra tấn đó là: nạn nhân bị lột
trần truồng, ngồi gọn trong một cái hố đất đào sẵn cạnh sân nhà thờ, rồi
chúng thi nhau dội nước sôi vào đầu vào lưng.. Nhiều nạn nhân đã chết
ngay sau một hồi giẫy giụa. Có lần chúng lôi người bị dội nước sôi chưa chết
hẳn lên sân nhà thờ để mặc cho quằn quại rên la. Trước cảnh thê thảm đó,
Anvarê Cao chỉ buông ra một câu cộc lốc: "Chúa chưa cho nó đi khỏi"!
Những tội ác kinh khủng và
ghê rợn ấy cũng chưa phải là tột cùng. Dã man nhất và cũng là điều dã man
cho bốt Quỳnh Lang trở thành nổi tiếng khắp miền là vụ thảm sát hàng trăm
người trong một hầm người dưới đáy lô cốt.
Một ngày tháng 8 năm 1951,
bọn phản động Thiên Chúa Giáo Quỳnh Lang cho quân đi vây làng Bường, làng
Hia và những làng lân cận. Chúng dồn dân các làng ra đình để nghe "quan về
hiểu dụ". Khi đình đã chật người, chúng liền kéo trên 200 thanh niên trai
tráng trói lại thành từng xâu giải về bốt. Đến bốt, trời đã xế chiều. Không
cần xét hỏi một
câu, chúng dồn tất cả xuống một cái hầm ngầm dưới đáy lô cốt. Chiếc hầm kiên
cố mỗi bề rộng bốn mét, sâu bằng một người với, cửa hầm dài, rộng gần một
mét, có nắp gỗ kín mít. Những người bị bắt, vẫn nguyên dây trói, bị đẩy lộn
cổ xuống hầm. Người đè người. Đã có người chết ngay lúc đó . Hầm đầy quá
rồi, những người sau không thể lọt vào được nữa, chúng liền dùng báng súng
nhồi (đẩy) túi bụi vào hầm để dồn cho kỳ hết. Nắp hầm đóng lại. Chỉ một lát
sau, trong hầm, người nghẹt thở, nhốn nháo. Họ kêu gào, van xin, mặc (kệ)!
Thấy van xin vô hiệu, họ gào thét chửi rủa ầm ĩ. Anvarê Cao liền sai tên
Nhự, chỉ huy quân sự của đồn, đến hé nắp hầm và chĩa súng liên thanh bắn xả
vào. Tiếng kêu thét lắng dần rồi tắt hẳn. Một đêm dài nặng nề trôi qua,
người tiếp người lả đi, chồng chất lên nhau mà chết. Khi mở nắp hầm, vừa kịp
rút được then cài, thì nắp hầm bật tung lên vì tử khí thoát ra. Người trong
hầm chết hầu hết. Mấy xác người hấp hối ở sát miệng hầm được kéo lên, có bảy
người tỉnh lại. Lúc này, nhân dân chung quanh đã kéo đến nên ý định thủ tiêu
nốt của chúng không thực hiện được. Chính bảy người thoát chết này lại phải
xuống hầm lôi những xác chết lên đem đi chôn cất.
Một tuần lễ "trả thù cho đồng
bào bị giết hại ở bốt Quỳnh Lang" được tổ chức rầm rộ ở khắp tỉnh. Bọn phản
động Thiên Chúa Giáo ở Quỳnh Lang rất sợ hãi. Anvarê Cao được bọn cầm đầu
Giáo Hội Thiên Chúa Việt Nam cho phép đổi đi nơi khác!
Từ đó bọn vệ sĩ Quỳnh Lang
cũng ít dám thò ra ở ngoài cướp phá. Các đồn bốt quan trọng của địch trong
tỉnh liên tiếp bị tiêu diệt, khu du kích được mở rông, bốt Quỳnh Lang bị cô
lập. Nửa đêm 4/4/1953, bốt Quỳnh Lang bị bộ đội và du kích ta tiến đánh. Sau
gần sáu giờ chiến đấu ác liệt, bốt Quỳnh Lang bị hạ. Tên đồn trưởng Bùi Hữu
Lùn và 78 vệ sĩ bị ta bắt sống. Ta thu được 7 trung liên, 2 moóc chi-ê và
hơn 100 súng trường cùng nhiều đạn dược trong trận này."
[25]
Những bản văn sử trên đây cho
chúng ta nhìn thấy rõ vai trò một ông tướng hay một sĩ quan của một ông linh
mục trong trách nhiệm chỉ huy các đạo quân thập tự Gia-tô tấn công vào những
nhóm dân thuộc các tôn giáo khác hay thế lực không nằm trong hệ thống
quyền lực của Giáo Hội La Mã. Tính cách tàn bạo và dã man của các đạo quân
thập tự này đã thể hiện đúng theo cái bản chất thâm độc, bạo ngược, tàn ác
và dã man của Giáo Hội. Những câu chuyện trên đây chỉ là môt vài chuyện lẻ
tẻ trong muôn ngàn chuyện tương tự nói về tội ác dã man của bọn tu sĩ và tín
đồ Gia-tô "sống đạo theo tinh thần Kitô" ở các tỉnh trong vùng đồng
bằng Bắc Việt trong thời Kháng Chiến 1945-1954. Nếu kể ra cho hết thì phải
dùng đến cả mấy ngàn trang giấy cũng không nói hết.
Đau lòng thay! Những tín đồ
Gia-tô người Việt hiện nay không hề hay biết gì về những "thành tích" kinh
tởm như trên. Hằng ngày, họ thường được nghe thuyết giảng và nhắc đi nhắc
lại một cách trơn tru những từ ngữ như bác ái, nhân từ, hiền lành, khiêm
nhường, v.v.... Nhưng họ không hề nghĩ hay nhớ tới những hành động kinh tởm
của các đạo quân thập tự dưới quyền chi huy của các đáng bề trên của họ đã
diễn ra trong lịch sử ở ngay trên đất nước Việt Nam này của chúng ta.
V.- THUYẾT KHÁCH
Theo Hán Việt Từ Điển của học
giả Đào Duy Anh thì "thuyết khách là người vận động cuộc đời chỉ nói bằng
miệng lưỡi". Theo Việt Nam Tự Điển của ông Lê Văn Đức thì "thuyết
khách là người dùng tài ăn nói làm cho người ta nghe theo mình." Học giả
Nguyễn Văn Khôn dịch chữ "thuyết khách" sang tiếng Anh là "propagandist"
(chuyên viên tuyên truyền).
Nói một cách nôm na, thuyết
khách là người đi vận động bằng cách xúi giục, khuyến khích, khích lệ hay
mua chuộc người khác làm việc gì theo ý muốn của mình hay của thế lực mà
người đó đang phục vụ.
Tìm hiểu về nhừng công việc
làm của các ông giáo sĩ hay tu sĩ Gia-tô trong lịch sử, quả thật họ đã được
Giáo Hội La Mã giao phó cho đảm trách vai trò thuyết khách rất là phổ quát.
Trong ba lần vận động đế quốc Pháp xuất quân đánh chiếm và thống tri Việt
Nam, và sau Đệ Nhị Thế Chiến việc vận động siêu cường Hoa Kỳ đưa ông Ngô
Đình Diệm về Việt Nam thiết lập chế độ đạo phiệt Gia-tô ở miền Nam, Giáo
Hội La Mã đều ủy thác cho các ông tu sĩ Gia-tô vai trò thuyết khách đi làm
nhiệm vụ uốn lưỡi Tô Tần thuyết phục chính quyền Pháp và chính quyền Hóa Kỳ
làm theo ý muốn của Giáo Hội.
Lần thứ nhất,
trong việc thuyết phục nước Pháp liên kết với Giáo Hội xuất quân đánh chiếm
Việt Nam, Giáo Hội đề bạt ông Linh-mục Alxandre de Rhodes vừa là nhà truyền
giáo, vừa là một điệp viên thượng thăng vừa là một nhà thuyết khách được
chỉ định đến kinh thành Paris vận động chính quyền Vua Louis XIV
(1643-1715) làm theo ý muốn của Giáo Hội. Sự kiện này được Giáo-sư Võ Thành Long viết nư sau:
"Trong
cuốn Vietnam's will to live (tạm dịch Ý Chí Quyết Sống Của Việt Nam), trang
38-39, Tiến-sĩ Helen B. Lamb trích một đoạn trong cuốn Le Phénomène
National Vietnmien: De l'Indépendance Unitaire à l'Indépendance Fractioné,
1961, p. 85 của tác giả Paul Isoart để chứng dẫn giấc mộng thuộc địa hóa
Việt Nam của giáo sĩ điệp viên Alexandre de Rhodes:
"Alexandre de Rhodes ôm ấp niềm mơ ước
rằng nước Pháp sẽ đóng vai trò chính trong việc thuộc địa hóa Việt Nam:
("Tôi tin rằng nước Pháp, một vương quốc sùng đạo nhất trong số các vương
quốc hiện nay, sẽ cung cấp cho tôi binh lính để đảm nhiệm việc chinh phục
toàn cõi Đông Phương, và tôi sẽ tìm cách để có được một số giám mục và giáo
sĩ người Pháp để cung ứng cho các ngôi nhà thờ mới cất. Tôi đến La Mã với kế
sách này trong đầu vào ngày 11 tháng 9 năm 1652." ("Alexandre
de Rhodes held to his dream that France should play the key role in
colonizing Vietnam: "I believed that France, as the most pious of all
kingdoms, would furnish me with soldiers who would find the means would
undertake the conquest of the whole Orient, and that I would find the means
for obtaining bishops and priests who were Frenchmen to man the new
churches. I went to Rome with this plan in mind on Septempber 1, 1652.")
Để thực hiện mưu đồ biến Việt Nam thành
một vương quốc Kitô, giáo sĩ gián điệp Rhodes tích cực tuyển mộ một số lớn
giáo sĩ để họat động ở Việt Nam và đạt được sự ủng hộ của Giáo Hội Pháp, ông
quyên tiền từ giới quý tộc Pháp để thực hiện kế họach của mình và tìm được
phương tiện vận chuyển từ các nhóm trông mong vào phần ăn chia của Pháp ở
dịch vụ mậu dịch ở Á Châu (After
Rhodes had enlisted a great number of priests for work in Vietnam and had
gained the support of the French Church, he also raised the money for his
project from the aristocracy and secured the means of transportation from
the circles on the lookout for a French share in the Aisan trade.) ( Joseph
Buttinger, The Small Dragon (New York: Frederick . Praeger, 1967),
p.217].
Ông cũng vận động bằng cách khích động
đầu óc cuồng tín của giới lãnh đạo tôn giáo Pháp và lòng tham vật chất của
đám con buôn đầu sỏ Pháp, ông vẽ vời rằng nước Việt Nam đã đến lúc chín
mùi cho việc cải đạo [người Việt] thành Kitô hữu và ông mô tả nước Việt Nam
như là một El Dorado (một xứ tưởng tượng có nhiều vàng) với tài
nguyên vô tận.. (To
succeed, however, he would have to persuade French religious and
commercial leaders to underwrite his project.Thus he lobied with both [the
French religious and commercial leaders], depicting Vietnam as ripe for
Christian conversion and portraying it as an Eldorado of boundless wealth...[Stanley
Karnow, Viet Nam: A History (New York" Voking Press, 1983) p. 60],
Trong cuốn Divers Voyages et Missions
(Hành Trình Truyền Giáo) ấn hành ở Ba Lê vào năm 1653, Rhodes viết rằng
người Việt Nam giầu lắm vì đất đai phì nhiêu, rằng họ có các mỏ vàng,
rất nhiều hồ tiêu, và quá nhiều tơ lụa đến nỗi họ dùng nó làm giây lưới cá
và dây buồm. (The
Vietnamese, he wrote, were very rich, because the earth in Vietnam
was fertile. They had gold mines. he added, and quantities of
pepper, and so much silk that they used it even for their fishing lines and
sailing cords." [Joseph Buttinger. Ibid., pp. 216-217]..
Rhodes không những là một điệp viên thượng
thăng đội lốt giáo sĩ truyền giáo mà còn là một tên đầu sỏ thâm độc, chủ
trương hủy diệt nền văn hóa bản địa và áp đặt giáo thuyết Kitô phi dân tộc ở
những nơi ông cùng đồng bọn đến truyền giáo. Phương thức truyền giáo ở Việt
Nam được thực hiện bằng cách dùng kiến thức về khoa học để gây ấn tượng,
dùng bả vật chất để cám dỗ, mua chuộc, dụ dỗ những người dốt nát, nhẹ dạ về
một bánh vẽ thiên đàng huyễn hoặc, về sự khiếp sợ bởi sự dọa nạt của Chúa
như Ngày Phán Xét kẻ sống người chết, lửa địa ngục, và cuối cùng, bất chấp
luật lệ của nhà đương quyền Việt Nam."
[26]
Lần vận động này của Giáo Hội thất bại,
vì rằng chính quyền Pháp luc bấy giờ đang còn bận tâm với các cuộc chiến ở
Âu Châu và nền tài chánh cúa nước Pháp đang rơi vào tình trạng trì trệ và
kiệt quệ vừa do chiến tranh gây nên vừa do việc chi phí cho việc xây cất
Điện Versalles.
Lần thứ hai,
Giáo Hội cho Giám-mục Pigneau de Béhaine mang theo Hòang Tử Cảnh (đứa con
trai đầu lòng của Chúa Nguyễn Ánh mới 5 tuổi) đến kinh thành Paris vận động
chính quyền Vua Louis XVI (1774-1792) viện trợ quân sự cho phe Nguyễn Ánh
chống lại nhà Tây Sơn với dã tâm nếu cuộc phiêu lưu quân sự này thành công,
Nguyễn Ánh sẽ phải đền ơn cho Giám-mục Bá Đa Lộc (đúng ra là Giáo Hội La
Mã) bằng cách ưu đãi cho một thế đứng trong chính quyền; rồi từ đó sẽ lần
lần "được đằng chân, lân đằng đầu", thi hành sách lược "cáo đội
lốt hùm" để "mượn gió bẻ măng".
Công lao vận động chính quyền Pháp lần thứ
hai này của Giáo Hội tuy thành công mà hóa ra thất bại. Thành công là vì đã
được chính quyền Pháp của Vua Louis XVI (1774-1792) thuận theo ý muốn của
Giáo Hội La Mã ký kết Thỏa Hiệp Versailles vào ngày 28/11/1787 giữa một
bên là Bá Tước Montmorin đại diện cho chính quyền Pháp và một bên là
Giám-mục Pigneau de Béhaine đại diện cho Chúa Nguyễn Ánh. Thất bại là vì sau
khi ký kết xong cái thỏa hiệp quái đản này thì nước Pháp rơi vào tình trạng
khủng hoảng tài chánh (do sư tiêu sài huy hoắc của triều đình Vua Louis XVI
và giai cấp thống trị gây nên). Sau đó, cuộc khủng hoảng tài chánh này biến
thành cuộc khủng hoảng chính trị, rồi nhân dân Pháp vùng lên làm Cách Mạng
Pháp 1789 đập tan chế độ đạo phiệt Gia-tô của Vua Louis XVI.
Tuy là thất bại vì chính quyền Cách Mạng
1789 không xuất quân giúp Nguyễn Ánh trong cuộc chiến chống lại nhà Tây Sơn,
nhưng Giáo Hội La Mã cũng vẫn không bỏ cuộc. Theo lệnh của Giáo Hội, Giám
Mục Pigneau de Béhaine lại chạy đôn chạy đáo kiếm tiền mua súng đạn, sắm tầu
thuyền và tuyền mộ tín đồ Gia-tô xung vào đạo quân thập tự đến giúp Nguyễn
Ánh chống lại nhà Tây Sơn. Thế nhưng, ngay khi sắp sửa thành công đánh tan
nhà Tây Sơn thì Giám-mục Pigneau de Béhaine qua đời. Đây cũng là lúc
Nguyễn Ánh chợt nhớ ra cái tội "cõng con rắn độc Vatican về cắn gà nhà"
để rồi ông tỉnh ngộ và lảng xa "những con rán độc truyền giáo Gia-tô."
đã từng giúp quân viện cho ông đánh bại nhà Tây Sơn.
Bị vua Gia- Long trở mặt, Giáo Hội La Mã
cũng vẫn không bỏ cuộc. Một mặt, Giáo Hội ra lệnh cho bọn truyền giáo vừa
sử dụng đám bọn tín đồ bản địa thâu thập những tín tức tình báo cần thiết,
vừa tổ chức họ thành đạo quân thứ 5 nằm hờ chờ khi có quân đội viễn chinh
liên minh với Giáo Hội tiến vào thì nổi lên làm nội ứng. Giáo Hội cho người
xúi gịuc và mua chuộc những thành phần có thế lực nổi lọan chống lại
chính quyền và đứng ở đằng sau làm cố vấn và làm hậu thuẫn, hô hào giáo
dân gia nhập vào hùa. (Vụ nổi lọan của Lê Văn Khôi vào những năm
1833-1835 do giáo sĩ Joseph Marchand (cho Du) chủ mưu là thí dụ điển hình
mưu đồ đại đại gian đại ác này của Giáo Hội La Mã.
"Mở đầu cho thời kỳ này được đánh dấu
bằng cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi, con nuôi Lê Văn Duyệt, chiếm thành Gia
Định, đánh lại triều Nguyễn suốt 3 năm. Tham dự tích cực vào cuộc (nổi loạn)
này có giáo sĩ Marchand - Cố Du và nhiều người Công Giáo Việt Nam. Tài liệu
Pháp đã công bố bức thư của Cố Du gửi cho Giám-mục Taberd ở Xiêm khẳng định
sự họat động tham gia nổi dậy của Cố Du và một bộ phận người Việt Công Giáo,
khẳng định việc cầu viện quân Xiêm.."
[27]
Sau đó, Giáo Hội còn âm mưu và liên hệ với
vụ Hồng Bảo và nụ nổi lọan của tín đồ Gia-tô Tạ Văn Phụng nữa. Tất cả các
sách sử đều nói đến hai vụ này.
Lần thứ ba,
Giáo Hội dùng cả "sách lược nội công" từ chốn phòng the là Hòang Hậu
Eugenie trẻ đẹp (mới có 26 xuân xanh) ngày đêm ỏn thót thủ thỉ với ông
chồng già là Hòang Đế Napoléon III tuồi gần ngũ thập, và "sách lược ngọai
kích" bằng sử dụng cả một binh đoàn tu sĩ Gia-tô kẻ trước người sau
thay phiên nhau theo sách lược "xa luân chiến" thuyết phục chính
quyền Pháp liên kết với Giáo Hội xuất quân đánh chiếm và thống trị Việt Nam.
Sự kiên này được nhà viết sử Huy Vũ (Viện Sử Học Việt Nam) ghi lại như sau::
"Tháng 3 năm 1848, hai Giám -mục Retord
và Géantot từ Việt Nam gửi thư cho vua Louis Philippe (1830-1848) yêu cầu
nước Pháp chính thức can thiệp vào Việt Nam. Tháng 4 năm 1851, Giám-mục
Retord viết thư cho Giám-mục Foreade khằng định yêu cầu đó. Tháng 12 năm
1855, Bá Tước De Courcy báo cáo với Bộ Ngọai Giao Pháp về ý kiến đề xuất của
hai linh mục Libois và Legrand de Liraye đề nghị giúp con cháu nhà Lê làm
cuộc nổi dậy lật đổ triều đình nhà Nguyễn bám vào tiền đề là Hòa Ước
Versailles 1787. Cùng lúc đó các tầu chiến Pháp tăng cường "thăm viếng" Việt
Nam, khiêu khích dọa nạt và nổ súng bắn phá đồn lũy quân Nguyễn. Tháng 1 năm
1851, Hồng Bảo, anh Tự Đức, mưu lật ngôi em, bị bại lộ, tuyên bố dựa vào sự
gíup đỡ của những người Công Giáo. Cũng trong năm 1851, xuất hiện hai
nhân vật giáo sĩ đã thuyết phục thắng lợi nước Pháp can thiệp vào
Việt Nam. Đó là Linh-mục Huc người Trung Quốc và Giám-mục Pellerin.
Giám-mục Pellerin đã từ Việt Nam lén về Pháp rồi sang cả Roma vận động, đề
xuất cả một kế hoạch thiết lập chế độ bảo hộ Việt Nam. Kế hoạch này được
Linh-mục Le Grand de la Liraye và Giám-mục Retord tích cực giúp sức.
Trong việc vận động có cả ý kiến đưa một cuộc nổi dậy của người Công Giáo
Việt Nam làm nội ứng. Thế là chính phủ Pháp chính thức công bố quyết định
vũ trang can thiệp vào Việt Nam vào tháng 7 năm 1857."
[28]
Qua những sự kiện trình bày trên đây,
chúng ta thấy rằng sách lược cố hữu của Tòa Thánh Vatican là sử dụng các
đạo quân thập tự nội gián địa phương làm các công việc do thám, cung cấp tin
tức cho bọn cán bộ gián điệp của Giáo Hội với danh nghĩa là các nhà truyền
giáo được phái đến các vùng mục tiêu. Trong khi chờ đợi, Giáo Hội còn phải
vận động để được cấu kết với một đế quốc xuất quân tiến vào quốc gia bị
chiếu cố, tất cả tổ chức giáo dân bản địa dưới quyền lãnh đạo của các cán bộ
truyền giáo phải cố gắng tối đa để tổ chức tin đồ Gia-tô thành những đạo
quân thứ 5 nằm hờ chờ giờ hành động và mỗi một xóm đạo là một sào huyệt của
các đạo quân thứ 5 này. Đồng thời, các ông tu sĩ Gia-tô tại quốc gia bị
chiếu cố cũng tích cực tăng cường những họat động gây rối bằng cách "xui
nguyên giục bị", "đâm bị thóc, chọc bị gạo" nhằm tạo nên tình
trạng bất ổn để cho Giáo Hội nhẩy vào thi hành sách lược "thừa nước đục
thả câu". (Việc Giáo Hội La Mã đã kiên trì cố gắng tới ba lần vận động
chính quyền Pháp xuất quân đánh chiếm và thống trị Việt Nam sẽ được trình
bày đầy đủ ở Phần II trong bộ sách này).
Lần thứ tư,
Giáo Hội chính thức vận động với chính quyền Hoa Kỳ. Lần này, Giáo Hội sử
dụng Giám-mục Ngô Đình Thục dẫn ông Ngô Đình Diệm sang Hoa Kỳ giao
cho Hồng Y Francis Spellman làm thuyết khách vận động các nhân vật có
thế lực trên sân khấu chính trị ở Hoa Kỳ đưa ông Diệm về Việt Nam cầm quyền.
Vấn đề này sẽ được trình bày rõ ràng trong một chương sách trong Phần nói
về Tội Ác Của Giáo Hội Tại Việt Nam của bộ sách này.
Qua phần trình bày trên đây, quý vị đã
nhìn thấy rõ vai trò thuyết khách các ông giáo sĩ hay tu sĩ Gia-tô quan
trọng như thế nào!
VI.- CỐ VẤN CHO CHÍNH QUYỀN
TRUNG ƯƠNG
VÀ CÁC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
Ngoài những vai trò trên đây, các ông giám
mục và linh mục Gia-tô còn tìm cách tham dự vào các phe đảng chính trị và
đóng vai trò quân sư (cố vấn) cho các nhà lãnh đạo của các phe đảng chính
trị nữa. Bằng chứng hiển nhiên là (1) Giám Mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa
Lộc) làm quân sư cho Nguyễn Ánh trong cuộc chiến chống lại nhà Tây Sơn từ
đầu thập niên 1780 cho đến ngày ông qua đời vào năm 1799, (2) Linh-mục
Joseph Marchand (Cố Du) làm quân sư cho Lê Văn Khôi dấy binh nổi loạn ở
thành Phiên An (Gia Định) chống lại triều đình Vua Minh Mạng trong những năm
1833-1835, rồi bị triều đình tóm cổ ở ngay trong thành Phiên An và bị hành
hình theo quốc pháp, (3) Giám mục Lê Hữu Từ làm cố vấn chính trị cho chính
phủ Hồ Chí Minh trong những năm 1946-1949, (4) nhiều giám-mục và linh mục
làm cố vấn chính trị cho hai chính quyền đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và
quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu. Sự kiện này cũng được ông trí thức
Gia-tô Nguyễn Văn Trung xác nhận trong bài viết "Một Số Tình Hình Đặc
Biệt Của Giáo Hội Công Giáo Tại Việt Nam" (do
chính Giáo Sư Nguyễn Văn Trung gửi cho người viết cùng với lá thư đề ngày 1
tháng 5 năm 2001 và ở dưới lại đề ngày 22/5/2001 - Có thể là bắt đầu viết
vào ngày 1/5/2001 và mãi đến ngày 22/5/200 mới viêt xong hay mới gửi đi).
Dưới đây là nguyên văn lời Giáo-sư Nguyễn Văn Trung viết:
"Giáo Hội Công Giáo chúng ta kể cũng
lạ. Thời nào, nước nào, chế độ nào cũng có những giám mục, linh mục mang
biệt danh là quốc doanh. Các linh mục lên Ti Vi, linh mục cố vấn cho Tổng
Thống, cho Tướng này, Tướng kia, các linh mục Tuyên Úy Quân Đội
chẳng phải quốc doanh là gì. Các giám mục, linh mục quốc doanh trong những
chế độ tư bản theo Mỹ 100% thì được trọng vọng, được Tòa Thánh ban phép
lành. Nhưng quốc doanh dưới các chế độ khác, nhất là dưới chế độ Cộng Sản
lại bị Tòa Thánh lên án và bị Giáo Hội truy tà. Có linh mục nổi tiếng là
thân Cộng rồi lại nổi tiếng là chống Cộng, nói là để bảo vệ đạo, là thế nào?
Thế nên, có Phật tử nói rằng Công Giáo của các anh khôn bỏ mẹ, phân thân tài
quá, phe nào cũng có, thời nào cũng được ngồi chiếu trên."
[29]
Nhân tiên đây, cũng nên nói rõ về vai
trò cố vấn của Linh-mục Cao Văn Luận và Linh-mục Raymond de Jaegher cho Tổng
Thống Ngố Đình Diệm. Linh-mục Cao Văn Luận được chính quyền Ngô Đình
Diệm giao cho chức vụ cố vấn đặc trách mọi vấn đề liên hệ đến sinh viên du
học và cấp học bổng cho sinh viên du học. Linh-mục Raymond de Jaegher gốc Bỉ
mang quốc tịch Hoa Kỳ, một chuyên viên "biệt kích văn hóa" và cũng
là cán bộ nòng cốt của Giáo Hội La Mã đã từng đóng vai trò thuyết khách
uốn lưỡi Tô Tần vận động chính quyền Hoa Kỳ đưa ông Diệm về Việt Nam cầm
quyền. Sau khi ông Diệm được Hoa Kỳ đưa lên cầm quyền, ông linh mục này
được chính quyền Ngô Đình Diệm giao cho nắm giữ chức vụ cố vấn đặc trách
viềc điều nghiên sửa lại chương trình giáo dục về môn sử địa và công dân ở
bậc tiểu học và trung học với chủ đích làm hạ giá các vị anh hùng dân tộc
của đất nước ta. Để thay thế vào chỗ những anh hùng dân tộc bị hạ bệ, họ
cho vào đó bằng những tín đồ Gia-tô đã bị hành hình trong thời các chính
quyền Việt Nam thời nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn và thời Kháng Chiến 1945-1954
vì tội đã triệt để tuân hành lệnh truyền của Tòa Thánh Vatican chống lại
tổ quốc Việt Nam. Trong số những tên Việt gian bán nước cho Vatican này, có
Trần Lục, Trần Bã Lộc, Lê Phát Đạt (Huyện Sĩ), Nguyễn Bá Tòng, Hồ Ngọc Cẩn,
Trần Bá Lộc, Ngô Đình Khôi, Pétrus Ký, v.v... Nói về Linh-mục Raymond de
Jaegher, ông Chu Bằng Lĩnh viết trong cuốn Đảng Cần Lao như sau:
"Cha (Raymond de) Jaegher là một linh
mục người Bỉ, đã ở Mỹ lâu năm và là người làm chính trị hơn là làm linh
mục. Ông đã hướng dẫn ông Diệm từ thời Bảo Đại thúc đẩy ông Diệm làm Thủ
Tướng thời Nhật đảo chánh Pháp. Và cũng chính ông đã ngăn cản ông Diệm tham
dự nội các Trần Trọng Kim. Đến khi ông Diệm bị Việt Minh bắt xộ khám, chính
cha (Jaegher) đã tích cực vận động với Tòa Thánh La Mã yêu cầu Hồ Chí Minh
phóng thích ông Diệm. Sau đó, ông Diệm đã được Tòa Thánh La Mã đưa đi Pháp,
rồi Mỹ. Trong khi ông Diệm nằm tại Nhà Dòng tại Mỹ, thì cha Jaegher đã hoạt
động với các chính giới Âu Châu, nhất là tại Bỉ, để chính phủ Hoa Thịnh Đốn
đưa ông Diệm về nước làm Thủ Tướng Việt Nam. Cũng nhờ cha này làm áp lực
với bà Nam Phương Hoàng Hậu mà Bảo Đại đã phải tấn phong ông Ngô Đình Diệm".
[30]
VII.- QUAN TÒA HAY PHÁN QUAN
Như đã trình bày trước đây, thực chất
của Giáo Hội La Mã là một đế quốc thực dân xâm lược mà danh xưng đích thực
của nó là quốc gia Vatican với đầy đủ những yếu tố lãnh thổ, nhân dân, chính
quyền và được công pháp quốc tế công nhận. Đế quốc Vatican theo chế độ tăng
lữ quân chủ trung ương tập quyền. Đế quốc này còn có những thuộc địa rải rác
khắp các lục địa Âu, Phi, Mỹ, Á và Úc Châu. Những thuộc địa này được gọi là
giáo phận và đặt dưới quyền cai trị của một phó vương hay tòan quyền mà
Giáo Hội gọi là "Prelate nullius" (giám mục, tổng giám mục hay hồng y cai
quản một địa phận tực thuộc quyền Tòa Thánh Vatican). Dưới mỗi giáo phận, có
những giáo xứ hay giáo khu mà ngôn ngữ Việt Nam thường gọi là các làng đạo
hay xóm đ