Vua Dực Tông nhà Nguyễn (tức
vua Tự Đức) hết sức chú trọng đến Lịch sử Việt Nam. Nhà vua đã giao cho
Quốc sử quán biên sọan bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục
và đích thân nhà vua đã sọan bộ Ngự Chế Việt Sử Tổng Vịnh
hòng quảng bá cho trăm họ suy nghiệm về những nhân vật và
giai thọai để rút tỉa những bài học về đạo đức đối với quốc gia dân tộc.
Mỗi đề tài ngâm vịnh đều có sử liệu giải thích. Ngự Chế Việt Sử
Tổng Vịnh có 10 quyển, gồm 212 bài thơ thất tuyệt
bao trùm lịch sử từ đời Lạc Long Quân đến nhà Hậu Lê, chia làm 11 mục:
Đế vương các triều đại, Hòang hậu và phi tần, tôn thần, hiền thần, trung
nghĩa, văn thần, võ tướng, liệt nữ, tiếm ngụy, gian thần, bổ vịnh.

Chân dung
vua Dực Tông nhà Nguyễn (1847-1883)
Bài thơ vua Dực Tông vịnh công đức của
vua Trần Nhân Tông in trong quyển 2, từ tr.3a đến tr.4b Ngự Chế
Việt Sử Tổng Vịnh .
Nguyên văn sử liệu và thơ vua Nguyễn Dực
Tông vịnh vua Trần Nhân Tông như sau:
“ Theo Sử ký bản chỉ chép, thì vua Trần
Nhân Tông tên húy là Khâm, là con trưởng của vua Trần Thánh Tông.
Năm thứ tư niên hiệu Thiệu Báu
[1]
(1282), người nhà Nguyên sai bọn Toa Đô đánh nước Chiêm thành. Nhà
Nguyên lại khiến Thái tử Thóat Hoan đem 50 vạn binh đánh tiếng mượn
đường nước ta để chinh phạt Chiêm thành, nhưng sự thực là họ tới để xâm
lấn nước ta.
Nhà vua ngự giá đến Bình than, nhóm họp
với các vị Vương Hầu và bách quan trong triều đình để bàn bạc sách lươc
công và thủ.
Ngài chọn Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
làm chức tiết chế thống lãnh các đạo quân của nước ta.
Tháng 12 năm Thiệu báu thứ sáu (1284),
quân nhà Nguyên xâm phạm biên cảnh nước ta, quan quân ta đánh nhau với
quân nhà Nguyên nhưng quân ta không thắng được địch, nhà vua phải dời
đến vùng Đông hải.
Năm đầu niên hiệu Trùng hưng (1285, niên
hiệu thứ hai của vua Trần Nhân Tông) quân nhà Nguyên đến phạm kinh thành
của ta, nhà vua rước đức Thượng hoàng (tức Trần Thánh Tông) đi vào tỉnh
Thanh Hóa.
Mùa hạ tháng 4 năm ấy (Trùng Hưng
nguyên niên) Chiêu văn Vương là Trần Nhật Duật đánh bại quân Nguyên ở
cửa sông Hàm tử.
Tháng 5 năm ấy (1285), sau khi nhà vua
rước đấng Thượng hòang vào Thanh hóa rồi, Ngài tự làm tướng đem binh
đánh quân Nguyên, đánh cho Toa Đô đại bại ở đất Tây kết và chém đầu Toa
Đô ở đấy.
Trần Quốc Tuấn lại đánh quân Nguyên thua
lớn ở Vạn kiếp, Thóat Hoan phải chạy trốn về Tàu.
Vua lại rước đứa Thượng hoàng trở về nơi
cung điện.
Lúc bấy giờ, xã tắc đã gần lâm nguy mà
trở lại yên ổn, thiên hạ đã phân ly mà trở lại hòa hợp, công đức nhà
Trần thật là to lớn vô cùng, kể từ đời họ Hồng Bàng trở xuống, chưa bao
giờ nước ta được thịnh trị như đời Trần Nhân Tông vậy.
(do NĐX nhấn mạnh)
Vua Trần Nhân Tông ở ngôi Hoàng đế được
14 năm.
Thơ vịnh Trần Nhân Tông:

Phân âm:
Lưỡng khước Nguyên binh điện cựu bang.
Trùng hưng công đức quán Hồng bàng
Đương niên nhị Đế hồi cung khuyết,
Tu sát Huy Khâm phụng biểu hàng
Tạm dịch:
Hai bận xua Nguyên giữ nước nhà,
Trùng hưng công nhất nước nam ta.
Trong năm hai Đế về cung khuyết
Hàng địch Huy
(a), Khâm (b) thẹn
lắm mà.
Bình
luận bài thơ trên:
“Trong bài thơ trên, tác giả đã áp dụng
những vần rất hiểm, mà những vần ấy đều vững vàng và thỏa đáng cả”.
Thần: Tùng Thiện công Miên Thẩm [2]
phụng duyệt.
“Trong bài thơ trên, phần nghị luận vốn
đã chính đại không thể nào thay đổi được, mà việc mượn kẻ nầy để hình
dung kẻ khác hay là mượn việc nầy để nói lên việc khác, lại càng tinh vi
kỹ lưỡng vô cùng”.
Thần: Nguyễn Tư Giảng [3]
phụng duyệt.
Hồng
Liên Lê Xuân Giáo và Nguyễn Quang Tô, phiên âm và dịch tòan bộ đọan sao
lục trên. Hai dịch giả đã chú thích và bình luận hai danh từ riêng Huy
(a) và Khâm (b) như sau:
(a) Huy: vua Tống Huy Tông, hiệu
Kiến trung, tức vị năm Tân tị (1101), bị người Kim truất phế và bắt về
phương Bắc. Huy Tông xin hàng người Kim mà cũng không được tha.
(b) Khâm: vua Tống Khâm Tông, hiệu
Tịnh Khang, tức vị năm Bính ngọ (1126) cũng bị người Kim truất phế và
bắt về phương Bắc. Khâm Tông xin hàng người Kim mà cũng không được tha.

Tượng đá vua Trần Nhân
Tông
trong vườn tháp Huệ
Quang (Hoa Yên, Yên Tử) - Ảnh tư liệu
Trái lại vua Trần Thánh Tông và vua Trần
Nhân Tông đánh đuổi quân Nguyên rồi trở về cung khuyết một lần. Đem Trần
Thánh Tông, Trần Nhân Tông mà so sánh với Huy Tông, Khâm Tông thì Huy,
Khâm có thể chết thẹn được [4].
Các sử thần triều Nguyễn biên sọan bộ
Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục với quan điểm lịch sử
của vua Dực Tông nêu trên. Đọc các sự kiện vua quan triều Trần chiến
thắng quân Nguyên trong Cương Mục, vua Dực Tồng châu phê
một lời bình rằng:
“Lúc bấy giờ nhà Nguyên mới nổi lên, khi
thế rất ngang ngược; nhà Trần cũng may gặp lúc mới nổi lên được các vua
Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông và tướng văn tướng võ phần nhiều người
tài, mới có thể đánh bại được giặc, giữ được nước, chứ nếu gặp người
khác thì chưa biết thế nào”.
Dịch lời phê nầy từ chữ Hán, các dịch giả
của Viện Sử học Việt Nam đã chú thích thêm rằng:
“Lời phê kết thúc bằng tám chữ “nhược
ngộ kỳ tha, vị khả chí dã” Tám chữ nầy nghĩa không được rõ cho
lắm, vì chữ “tha” có thể là người khác hoặc lúc khác. Vậy
tám chữ nầy ý nói nếu gặp vua tôi khác không anh dũng được như vua tôi
nhà Trần hoặc lúc khác không được hưng thịnh như lúc nhà Trần mới nổi
lên , thì chưa biết tình thế sẽ biến chuyển ra sao”[5].
*
* *
Vua Dực Tông là một người sùng Đạo Nho,
giỏi thơ văn kinh sử, tự hào về sự huy hòang thịnh trị của triều Nguyễn
thế mà ông đã phải hạ bút viết:
“Công đức nhà Trần thật là to lớn vô
cùng, kể từ đời họ Hồng Bàng trở xuống, chưa bao giờ nước ta được thịnh
trị như đời Trần Nhân Tông vậy.”
Có lẽ không còn lời thán phục công đức của
Trần Nhân Tông nào sáng giá hơn thế nữa. Công đức giữ nước của Trần Nhân
Tông đánh dấu một cái mốc lịch sử quan trọng. Nếu không có hòan cảnh,
tài năng, công đức của vua quan triều Trần Nhân Tông thì sự thể nước ta
sau đó không thể đóan định được sẽ suy sụp đến như thế nào. Sự xuất hiện
của triều đại Trần Nhân Tông là một hồng phúc của dân tộc Việt.
Vua Dực Tông nhà Nguyễn không những đặt
công đức của vua Nhân Tông nhà Trần đứng đầu trong lịch sử Việt Nam từ
xưa cho đến đời Trần mà còn so sánh với các ông vua nổi tiếng của Thượng
quốc là Huy Tông và Khâm Tông nhà Tống nữa. Hai ông Huy Tông, Khâm Tông
có cùng hòan cảnh đất nước bị người ngòai chinh phục như Trần Nhân Tông.
Nhưng Huy Tông và Khâm Tông đã đầu hàng giặc và đã bị giết một cách nhục
nhã. Vua Trần Nhân Tông quyết đánh và đã thắng lợi vẻ vang. Như thế sự
nghiệp giữ nước của vua Trần Nhân Tông hơn xa nhiều Hòang đế của Trung
Quốc.
Vẻ vang thay sự nghiệp giữ nước của vua
Trần Nhân Tông.
Huế- Gác Thọ Lộc, cuối tháng
10-2008
Chú thích
[*]
Nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa triều Nguyễn và Huế. Hiện ở tại 9/1B
Nguyễn Công Trứ, Huế. Đt: 054.3823009, DĐ: 0914.20.39.44, e-mail:
gactholoc@yahoo.com
[1]
Có sách phiên âm là Thiệu bảo
[2]
Tùng Thiện công Miên Thẩm (tức Nguyễn Phúc Miên Thẩm, 1819-1870),
hòang tử thứ 10 của vua Minh Mệnh, hiệu là Thương Sơn, giỏi thơ văn, tác
giả Thương Sơn thi tập, gồm 54 quyển với trên 2.000 bài.
Năm 1854 ông được phong tước Công, mãi đến năm 1929 dưới thời vua Bảo
Đại ông mới được truy phong Tùng Thiện Vương.
[3]
Nguyễn Tư Giảng (1823-1890), hiệu Thạch Nông, người Bắc Ninh, nổi
tiếng hay chữ đỗ Hòang Giáp, làm quan đến Thượng thư bộ Lại, có đi sứ,
tác giả Thạch Nông Thi văn tập hơn 10 quyển
[4]
Dực Tông Anh Hòang Đế, Ngự Chế Việt Sử Tổng Vịnh, tập
Thượng, bản dịch của Lê Xuân Giáo và Nguyễn Quang Tô, Phủ QVK đặc trách
VH xuất bản, Sg. 1970, tr.117-119
[5]
Viện Sử học, Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông
Giám Cương Mục, tập I, Nxb Giáo Dục, HN 1998, tr.526
Các bài cùng tác giả