|

Tôi ra Huế được một tuần,
tuy không có phương tiện đi lại, không quen phố phường, nhưng cũng được một
số huynh đệ cho đến thăm một vài chùa, tìm hiểu tình hình sinh hoạt nội bộ,
gặp gỡ một số tăng ni cư sĩ trí thức, nhờ thế mới hiểu được tâm tư nguyện
vọng của PG núi Ngự sông Hương!
Qua bài Oi bức và Hiu
quạnh, ta thấy hoạt cảnh của Từ Hiếu trong những ngày qua. Người trong
cuộc cảm thấy buồn và trách sự hửng hờ của cái nôi PGVN. Sư ông đã trên 80,
lặn lội từ nửa vòng trái đất để đem hy vọng thổi luồng gió mới cho đạo Phật
mà mấy thập niên qua, sư ông luôn ước vọng Hiện Đại Hoá PG, sư ông đã thành
công trên xứ sở công nghiệp. Năm 2005, lần đầu sau 40 năm xa quê, sư ông
mong được có ngày đặt chân lên đất mẹ, ngày ấy, mãnh đất Thăng Long được sư
ông bước đi bằng những cảm xúc bồi hồi của người con viễn xứ hồi quy, và
biết rằng, không phải chiêm bao, không phải là người tù lưu đày biệt xứ, sư
ông đã nhìn dân tộc mình, anh em mìinh bằng ánh mắt trìu mến thân thương, đã
hiểu đất nước mình, thương đất nước mình! Vì thế , sư ông gọi là Xuân đoàn
tụ, Xuân bên nhau, ước vọng siết tay nhau trong ngôi nhà PGVN đã được đáp
lại bằng sự nghinh tiếp của chư tôn đức, nhất là tại Huế, thậm chí, tăng
đoàn thuộc GHTN, quý thầy cũng hoan hỷ chúc mừng sư ông, họ cũng đã Bố Tát
chung lần đầu tiên gần 3 thập niên không nhìn mặt nhau! Như thế, cho dù hệ
phái tông môn nào, ý hệ nào, họ cũng tôn kính sư ông bằng tình đồng đạo và
bậc trưởng thượng, một thạch trụ trong ngôi nhà PGVN hiện nay.
Thế nhưng tại sao chuyến về
lần nầy, Huế mộng mơ mà Huế lại làm ngơ? Đối với sư ông chẳng là gì để phải
bận tâm, vì khi lấy Từ Hiếu làm chốn tu học theo làng Mai, cho dù còn một
người chấp nhận ở lại với những điều kiện tinh chuyên, cũng là tốt. Nhưng
chẳng lẻ sư ông từ vạn dặm quay về chỉ để độ một người mà bỏ mọi người?
Có nhiều người, từ SG cho
đến Huế, họ bảo: “Pháp tu của sư ông không thích hợp tại VN”; tám vạn bốn
ngàn pháp môn, ai thích pháp nào theo pháp ấy đâu nhất cứ phải pháp của sư
ông, thật ra cũng rất nhiều người tại VN đã tìm thấy an lạc trong pháp của
sư ông. Thuở Phật tại thế, không thiếu chi người chống Phật, bỏ Phật ra đi,
vì pháp phật nói không hợp căn cơ họ.Tinh thần môn phái là tinh thần hẹp
lượng, nhưng không vì thế mà người ta chống đối, quay lưng, bằng cớ họ đã
đến với sư ông trong buổi đầu. Và tại VN cũng đã tồn tại nhiều môn phái dị
biệt mà có ai chống ai.
Vậy tại sao sư ông bị chống
đối?
Ngoài cuốn HTNH của Quách
Thị Song Phu tức Quách Mạc Nhiên, tục gọi là Giản, xuất thân từ Huế, không
ai chống sư ông cả, theo tâm sự của một số tu sĩ tại Huế, họ chỉ buồn sư
ông, khi sư ông nêu lên: Hiểu và Thương mà sư ông không chịu thương và hiểu
họ!
Vấn đề tông môn, tổ đình:
Huế là mãnh đất đa tình nặng nghĩa, người dân Huế sâu sắc thâm trầm, khi
thương để dạ, khi ghét rát da! Tánh tình người Huế lặng lờ như sông Hương,
tâm hồn thoáng đạt như núi Ngự; điều Huế nghĩ không ai biết, điều Huế làm
chả ai ngờ. Sư ông xuất thân từ cố đô, tâm tư tình cảm người đất Thần Kinh
sư ông đã hiểu, cho dù gần nửa thế kỷ lưu lạc xứ người; vì thế sư ông thể
hiện nghĩa tình qua một số trường hợp khá chu tất, ứng xử khá tinh tường, và
nhạy bén trước hiện tượng mà người đương thời không bắt kịp. Nhưng, một số
thầy tại Huế đã nói lên được nguyên nhân nổi buồn của chư tôn túc hầu hết
các tổ đình tồn tại trong cái nôi PGVN đối với sư ông trong chuyến tái lâm.
Họ nghĩ: cho dù sư ông là cổ thụ của PGVN, nhưng nguyên tắc, hiện sư ông là
khách khi buớc chân về xứ Hò Mái Nhì, chư tôn túc các tổ đình vẫn là thổ địa
sở tại, đáng ra sư ông phải ngỏ lời mời các ngài quang lâm Từ Hiếu để vấn an
trong tình huynh đệ; cùng nhau bàn bạc những Phật sự trong thời gian sư ông
lưu trú. TT Giác Quang, phó BTS PGTT-Huế ra đón sư ông mà thay vì phải là
vị chánh và toàn BTS cùng các khuôn hội, thành hội. Về lễ tân, như thế vẫn
chưa đúng với tầm vóc đón đoàn quốc tế, chưa nói đến tình thầy trò mà đạo
nghĩa nhà Phật quá thâm sâu, đủ cho thấy thái độ phản ứng ngầm của một dân
tộc mọi thứ buồn vui ít khi biểu lộ. Phía tăng thân thì nghĩ khác: sư ông là
khách, làm sao khách lại mời chủ, lỡ mời không ai đến thì ăn nói làm sao với
cái thể diện quốc tế đó! vả lại mời là do HT Chí Mậu, trụ trì tổ đình Từ
Hiếu chứ sư ông lấy tư cách gì mời!
Về lý thì ai cũng phải,
nhưng trong đạo không lấy tình mà xử, chỉ dùng lý giữ kẽ nhau sao, liệu có
vướng phải tà kiến để anh em xa cách nhau? Sư ông đã dạy, thầy trò, anh em
không hóa giải nhau được thì làm sao hoá giải cho tín đồ! Và sư ông cũng
dạy, người lớn phải đi trước một bước để gở những mắc mứu đó.
Một số khác, vì ảnh hưởng
quyền lợi nên bất mãn, một vị tâm sự: Tiền viện trợ cho các trường và các
cô giáo, với điều kiện họ phải lên Từ Hiếu để tu tập, nếu không chấp nhận là
cắt ngay. Điều nầy chưa biết thật hư thế nào, đúng mấy mươi phần trăm,
nhưng tôi đã biện hộ cho từ thiện làng Mai:Biết đâu đó là thiện ý, vì sợ
nhận đồng tiền với tâm niệm đời thường, không tu tập thì xử dụng thiếu chính
đáng mang tội…Người ta phản bác ý kiến tôi; tôi cũng không tiện gặp các
vị có thẩm quyền làng Mai để hiểu thêm cho chính xác.
Những người tu pháp Tịnh Độ,
họ nói: ông bà cha mẹ thầy tổ tôi lưu truyền nhiều đời quen tu Tịnh Độ,
giờ đây khuyến khích thở và cười nghe xa lạ quá, ai mà không thở, ai chẳng
phải cười trước cái ngộ nghĩnh đó.
Nghe đến đây tôi sực nhớ một
tờ báo tại TP HCM nói biếm pháp thoại sư ông tại khu du lịch Văn Thánh dành
cho doanh nghiệp: không thở có mà chết à, làm ăn giao dịch mà cái mặt
chầm dầm ai thèm ký hợp đồing…
Thở và cười hay mọi hành
trạng trong cuộc sống, sư ông muốn chúng ta trở về chánh niệm trong từng
động thái đó.Nhưng họ vẫn không đồng ý, họ nói: các pháp tu khác không có
chánh niệm à?
Nhưng thưa quý ngài,
chúng ta đã đi quá xa chánh pháp suốt nhiều thế kỷ, cha ông thầy tổ chúng ta
cũng không nắm bắt được pháp hành hiệu quả để biến nhiều thế hệ tu sĩ thành
những nạn nhân của nghiệp vụ tôn giáo, vắng mặt sự an lạc hiện tiền, không
có một thiền sư đúng nghĩa, sư ông khôi phục lại con đường khởi nguyên từ An
Ban Thủ Ý có gì xa lạ đâu! họ vẫn lắc đầu quầy quậy.
Một số khác cố chấp vào hạ
lạp, cho rằng sư cô Chân Không mới tu, làm sao những sư bà năm bảy chục tuổi
hạ phải tuân thủ sư cô! Thật ra là sự tôn trọng nhau, có ai bắt ai tuân thủ
đâu. Những sư bà không thể hoà nhập được lối sinh hoạt tươi trẻ của làng
Mai, họ không đứng ra ca hát, không quen sinh hoạt từng nhóm mệnh danh gia
đình Mít, Xoài, Ớt Ổi…Họ ăn có nơi, chơi có chỗ, không thể bưng bát đến lấy
cơm như một selfservice, rồi ngồi ngoài trời thoải mái thong dong, vì họ
từng được đệ tử cung phụng hầu hạ theo giai cấp phong kiến mà truyền thống
thiền môn nhiều đời đã un đúc thứ lớp trật tự.
Những người khác họ không
chấp nhận thái độ độc đoán, kẻ cả của sư cô Chân Không, dù họ là tu sĩ thất
học, nhưng họ không cho biết cụ thể thế nào là độc đoán, kẻ cả, có lẽ họ nói
theo cảm tính và mặc cảm, phần lớn tu sĩ làng Mai rất khiêm hạ! Nếu thật sự
sư cô Chân Không có những đức tính đó cũng dể hiểu, vì phong cách làm việc
tháo vác, quán xuỵến mọi thứ cho làng Mai sinh hoạt hiệu quả, đều do cô Chân
Không, không quyết đoán làm sao thành tựu! Không phải họ mới chống cô Chân
Không lần nầy, mà 2005 cũng đã có, do hiểu lầm nào đó mà họ bảo sư cô thao
túng và nắm quyền sư ông! Một số nghe không rõ khi sư cô trả lời phỏng vấn
của đài nước ngoài.
Tại SG, chuyến về trước của
sư ông tại chùa Hoằng Pháp, nhiều người phản ảnh về việc quy y cho những
người mà họ đã quy y, đã có sư phụ!
Một ít tăng ni trẻ, họ ra
đời sau chiến tranh, uy tín sư ông chỉ qua sách vở, họ chưa cảm nhận mối
huyết thống tâm linh mà chư tôn đức hiện diện tại các tổ đình có sự ràng
buộc, vì thế, khi sư ông trở về lấy tổ đình Từ Hiếu làm đạo tràng tu tập
theo pháp làng Mai, một số tăng sĩ trẻ chưa hội nhập và chưa cảm thông được
Hiện Pháp Lạc Trú đó, họ ra khỏi Từ Hiếu, nơi gắn bó quá trình tu tập từ
bé, bằng sự đau buồn mà không có sự chia xẻ cảm thông để hiểu và thương! Và
mới hôm qua đây thôi, chùa Diệu Nghiêm trước Từ Hiếu, làm lễ bàn giao lại
cho Từ Hiếu, vốn cũng là của Từ Hiếu, do sư bà Diệu Trí trụ trì, chưa họp
chúng đả thông tư tưởng, tạo sự ngỡ ngàng cho một số ni trẻ, các ni hỏi: Thầy giao chùa rồi chúng con ở mô? sư bà đáp - thầy đã xin 2 cái phòng ở
chùa Diệu Đức cho các con ở.- còn mấy em con đi học xa khi họ nghe như vậy
làm sao họ biết mô mà về!
Quý cô như bầy gà con mất
mẹ, vì chưa giáp mặt cuộc đời, chưa đối diện với những khó khăn, quý cô còn
rất trẻ, rất nhỏ, như những tiểu thư luôn được sự bảo bọc của mẹ cha, thế
là quý cô quyết định ra góc vườn che chòi tá túc!
Đó là những khó khăn vụn vặt
thuộc tâm lý mà không tế nhị sẽ dẫn đến những bất mãn, và lây lan khá nhanh.
Chưa nói đến những đồn đại mà kẻ nhẹ dạ cả tin đã không có mặt đông đủ như
chuyến về lần trước của sư ông và tăng thân làng Mai.
Một số khác vì quan điểm
chính trị, nghĩ rằng sư ông về để trang điểm cho chế độ, nghĩa là dìm những
kẻ chống đối CS, giải tán tăng đoàn, phá hoại cơ sở GHTN. Lấy tâm nhỏ hẹp và
phẩn hận của chính trị làm sao hiểu được đại hạnh của người từng làm việc
lớn như sư ông.
Cũng không loại trừ những vị
chưa làm gì cho PG ra hồn, sanh tâm đố kỵ và sợ uy tín của sư ông làm hại
quyền lợi của họ, địa vị của họ, nên ngấm ngầm yểm trợ cho kẻ chống đối.
Có tăng trẻ tự hỏi: Bồi
đắp gốc rễ, khai thông suối nguồn, Gốc rể nào, nếu gốc rễ là một truyền
thống thì truyền thống PGVN không thể như thế. Khai thông suối nguồn thì
suối nguồn nào bị bế tắt mà khai thông, nếu khai thông tại sao sư ông không
chủ động hạ mình giao tiếp đả thông tư tưởng với tăng ni quần chúng Huế,
nhất là chư tôn túc hiện tại để bắt họ phải tự động tới quỳ bên chân Người?
với tinh thần câu móc như thế, tôi đành im lặng.
Tóm lại, Huế đã dành cho sư
ông một cảm tình sâu đậm, đã hãnh diện có một nhân tài từ đất mẹ mà ra,
nhưng vì chưa hiểu nhau, đã mặc cảm cho nhau, buồn tủi nuôi trong lòng,
không có cơ hội giải kết, cái im lặng đáng sợ đó tạo thành bức màn ngăn
cách, cho dù mỏng như sương khuya trên sông Hương, cũng đủ thấm lạnh tình
người.
Trong khóa tu Từ Hiếu, tuy
phần lớn PG Huế ngoảnh mặt, nhưng Kito giáo Thừa Thiên lại đến với ngài bởi
hai thầy dòng Đan Viện Thiên An, họ chăm chú học tập và phát biểu, pháp tu
nầy không khác gì tôn giáo họ, họ đến học để về bổ sung cho những khiếm
khuyết của giáo lý Thần học như họ nói.
Suốt cuộc đời của sư ông
luôn bị nội bộ PG chống đối, trong quá khứ cũng như hiện tại, phải chăng một
thiền sư nổi trội nhờ sự chống đối? Ngài vẫn im lặng mà tiến, bát phong xuy
bất động, ngoãnh mặt mà đi thì có gì để nói, nhưng với tâm từ của một Bồ Tát
Qúan Thế Âm, ngài lắng nghe sự chống báng, bất mãn, biết nguyên nhân của sự
thể để dang đôi tay siết chặt cãm thông như ngài từng nói, nhìn, lắng nghe
để hiểu và thương thì bài tán Quán Thế Âm và Nhành Dương Liễu sẽ xoá tan bầu
không khí u ám hiện nay. PG Huế đang chờ Ngài mở lời, vì sự im lặng chỉ là
chờ đợi một sự quan tâm, không khó khăn lắm đâu để cùng hát:
Dear friends, dear friends,,
let me tell you how I feel, you have given me such treasures, I love you so!
Nếu những suy tư trên của PG
TT Huế có thật, là một tà kiến như quan điểm của su ông, thì cần một đả
thông trí tuệ của sư ông, bởi vì tấm lòng Hiểu và Thương chưa đủ thẩm thấu
làm mềm nhủn mãnh đất khô khốc đó. Những tà kiến khô khốc đó đang bị đóng
băng, lan nhanh như một hội chứng trầm cảm biểu lộ một thái độ thụ động, bất
hợp tác. Chúng ta buồn và trách cứ Huế lạnh lùng, nhưng ta chưa hoà nhập vào
sự lạnh lùng đó để biết lý do nào Huế đã làm ngơ…vì chúng ta chỉ biết trách
cứ mà chưa biết cảm thông.
Hoàng hôn xứ Huế, phủ lớp
sương mờ cho giòng sông Hương thêm huyền ảo, che bớt nét uy hùng của dãy
Trường sơn; hàm tàng nét quyến rũ đa tình lãng mạn của đất cố đô, nhưng
không dấu được sự thủy chung và buồn tủi từ những mái cong cổ tự mà hàng
Thích tử phải góp phần trùng hưng Phật Pháp.
MINH MẪN
30/3/07
Các bài Tôn Giáo cùng tác giả
|