|
Nội Dung:
1. Sơ Lược Cuộc Đời Của cố TT. Ngô Đình Diệm
2. Cố Tổng Thống Ngô Đinh Diệm Bí Mật Tiếp Xúc Với Cộng Sản Việt Nam
3. Nghĩ Về Hai Dòng Họ Thông Gia Huế
4. Ngô Đình Diệm Và Bảo Đại
5. Bất Đắc Dĩ Khơi Lại Đống Tro Tàn
6. Đại Học Huế Tranh Đấu Chống Chế Độ Cũ
I- SƠ LƯỢC CUỘC ĐỜI CỦA NGÔ ĐÌNH DIỆM
Nguyễn Mạnh Quang
Theo sử gia Vũ Ngự Chiêu, ông Ngô Đình Diệm
"sinh ngày 21/7/1897, tại Đại Phong Lộc, Quảng Bình. Tuy
nhiên, từ năm 1954, ngày sinh chính thức đổi thành ngày 3/1/1954."[8]
Song thân của Ngô Đình Diệm là Ngô Đình Khả
và Phạm Thị Thân. Ngô Đình Khả có 6 người con trai là Ngô Đình
Khôi, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Luyện
và Ngô Đình Cẩn. Hai người con gái là bà Ngô Thị Hoàng và Ngô
Thị Hiệp (?).
Như đã trình bày ở trong chương sách nói về
Nhóm Thiểu Số Tín Đồ Da-tô (Mục XII, Phần IV) trước đây,
hầu hết tín Da-tô người Việt đều hoặc là những hạng người tham
lợi "đi đạo lấy gạo để ăn", hoặc là háo danh và thèm khát quyền
lực "theo đạo để tạo danh đời", hoặc là bị chèn ép hay cưỡng
bách phải theo đạo vì hôn nhân, không muốn mất người yêu hay
hạnh phúc gia đình bị tan vỡ, hoặc là những trẻ mồ côi trong đó
có những đưa con rơi của các ông giám mục và linh mục. Chuyện
con rơi của các hồng y, giám mục và linh mục được sách Vicars
of Christ ghi lại với nguyên văn như sau:
"Một bản thống kê cho biết: một xứ có
900 ngàn dân mà có tới 3 ngàn tu sĩ; và cứ 2 trong 5
(40%) đứa con hoang là con của các ông tu sĩ." ("One amazing
statistic emerges: in a country of 900,000 people, there were
3,000 clergy; and yet two out of five bastards were born
to the clergy.")
[9]
Đoạn văn trên đây cho chúng ta biết "cứ
2 trong 5 (40%) đứa con hoang là con của các ông tu sĩ."
Không biết tại sao sử gia Peter de Rosa lại gọi những đứa trẻ
này là "con hoang" (bastards). Thiết nghĩ rằng phải nên gọi
chúng nó là "những đứa con của các ngài mang chức thánh"
hay là "những ông thánh con" của Giáo Hội La Mã. Nói theo
ngôn từ của Bà Hồ Xuân Hương, thì "ông thánh con" này
chính là những đàn cá "thồng rồng" của các ngài "mang
chức thánh" mang đến thả vào "những cái giếng thánh tân"
của nữ tín đồ Da-tô.
Trở lại chuyện những người tân tòng mà
Vatican gọi là "những nguời mới trở lại đạo", như đã nói ở trên,
họ theo đạo chỉ vì danh vì lợi, hay vì bị cưỡng ép, chứ thực sự,
chẳng có ai muốn theo cái "đạo bạo lực" mà văn hào Voltaire gọi
là "cái tôn giáo ác ôn" này làm chi! Giáo Hội La Mã và các ông
truyền giáo Da-tô cũng biết như vậy, nhưng họ bất cần. Họ bất
cần vì họ tin rằng nếu đã theo đạo rồi, dù là bị dụ khị bởi
những miếng mồi vật chất, danh lợi, hay bị cưỡng ép vì hôn nhân,
hay ở vào bất kỳ trường hợp nào, thì sớm hay muộn, những người
này cũng được nhào nặn thành những tín đồ Da-tô cuồng tín bằng
chính sách ngu dân và giáo nhồi sọ với nhiều phương pháp khác
nhau được thi hành song hành với nhau. Vấn đề này sẽ được trình
bày đầy đủ trong Mục XXII với tựa đề là Thi Hành Chính Sách Ngu
Dân và Giáo Dục (của Giáo Hội La Mã) ở sau. Một trong những
phương pháp nhồi sọ này được nhà văn Da-tô Nguyễn Ngọc Ngạn ghi
lại với nguyên văn như sau:
"Toàn trại này, dường như ai cũng sùng
đạo như nhau, và sự sùng đạo ấy được thể hiện qua việc cầu
nguyện và đi lễ. Buổi sáng, năm giờ chuông đổ lần thứ nhất, họ
đã lục tục đánh thức cả nhà cùng dậy. Việc đầu tiên khi chưa
bước chân xuống đất, là phải làm dấu thánh giá và đọc vài kinh
nhật tụng. Sau đó, đánh răng rửa mặt, thay quần áo đi lễ. Trên
đường đến nhà thờ, họ không bỏ phí thì giờ, lấy tràng hạt ra vừa
lần chuỗi vừa cầu xin. Vào nhà thờ đọc kinh chung cả tiếng đồng
hồ rồi mời tham dự thánh lễ mà dường như vẫn chưa thấy đủ, họ
còn quì nán lại đọc kinh thêm cho đến lúc tới giờ đi làm. Buổi
trưa, đúng giờ ngọ, chuông nhà thờ lại cất lên, nhắc họ dù đang
làm gì, dù đang ở đâu, cũng phải tạm ngưng tay để làm dấu thánh
giá và cầu nguyện. Tối về, cơm nước xong lại vội vã đến nhà
thờ. Và khoảng 9 giờ tối, trước khi đi ngủ, mọi gia đình đều tụ
tập trước bàn thờ để đọc thêm một loạt kinh nữa trước khi lên
giường! Nói chung, một ngày không biết bao nhiêu lần nhớ đến
Chúa. Ăn củ khoai cũng làm dấu thánh giá. Nửa đêm mất ngủ cũng
ngồi lên lần tràng hạt! Vui cũng cám ơn Chúa, mà buồn cũng coi
là thánh giá Chúa trao cho mình gánh vác! Niềm tin mãnh liệt như
thế, cho nên chẳng lạ gì…."[10]
"Từ thuở chưa có trí khôn, cũng giống
như bao nhiêu người Công Giáo khác, anh (Thông) đã được nuôi
dưỡng trong bầu không khí thượng tôn tín ngưỡng, bằng những giáo
điều bất di bất dịch, theo thời gian ngấm dần vào trí óc anh,
khiến anh làm cái gì cũng sợ tội, sợ Chúa trừng phạt."
[11] .
Ông Ngô Đình Khả và đàn con đàn cháu của
ông ta cũng được nhồi sọ theo cái phướng trên đây của Giáo Hội
La Mã.
Tới đây xin nói về thêm về ông Ngô Đình
Khả, thân phụ của ông Ngô Đình Diệm.
Ông Ngô Đình Khả sinh năm 1856 và là một
tín đồ Da-tô đao gốc (có bố là Ngô Đình Niệm đã theo đạo). Năm
1870, ông được Giáo Hội La Mã gửi đi học làm nghề linh mục tại
một chủng viện ở Pénang. Thời gian theo học ở đây là tám năm.
Tám năm đèn sách để làm nghề linh mục, nhưng không biết tại sao
ông lại không thành công hay không muốn làm cái nghề khoác áo
chùng đen để làm cha thiên hạ. Năm 1778, ông được cho về nước
và sau đó ông được một linh mục người Pháp đưa vào làm thông
ngôn ở Huế. Vì hết lòng tận tụy với quan thày và được quan thày
tin tưởng, tháng 6 năm 1995, ông được cho làm phó tướng cùng với
ông Nguyễn Thân đem lính Việt Nam mà hầu hết là lính đạo (quân
thập tự Việt Nam) đi đánh phá và tiêu diệt lực lượng nghĩa quân
Văn Thân dưới quyền lãnh đạo của cụ Phan Đình Phùng ở Vụ Quang
và Ngàn Trươi. Nghĩa quân Văn Thân vừa am hiểu địa hình địa thế,
vừa quyết tâm chiến đấu, cho nên quân thập tự Việt Nam dưới
quyền của Nguyễn Văn Thân và Ngô Đình Khả bị tổn thất nặng, và
không tiến được vào căn cứ của nghĩa quân. Mấy tháng sau, cụ
Phan Đình Phụng qua đời vì bệnh kiết lỵ. Sau cái chết của cụ
Phan, nghĩa quân Văn thân như rắn mất đầu. Do đó, Nguyễn Thân và
Ngô Đình Khả mới mạnh bạo xua quân tiến vào đánh tan lực lượng
nghĩa quân,cho người đào mả cụ Phan Đình Phùng lấy xác đốt
thành tro, lấy tro trộn vào thuốc súng rồi bắn xuống sông Lam
Giang để trả thù cho những thất bại trước đó. Nhờ chiến công và
hành động dã man này, Liên Minh Pháp – Vatican cho ông lên làm
đến chức "Thái Thượng Tự Khanh" tương đương với hàng "chánh
tam phẩm". Năm 1905, ông lại được Liên Minh giặc Pháp -
Vatican cho nắm giữ chức Surintendent de Palais (Tổng Quản Cấm
Thành) và giao cho ông nhiệm vụ theo dõi Vua Thành Thái. Sự
kiện này được ông Lữ Giang ghi lại trong cuốn Những Bí Ẩn
Lịch Sử Đàng Sau Cuộc Chiến Việt Nam Quyển I với nguyên văn
như sau:
"Lúc đó, Pháp đã nắm hết quyền hành nên
Thành Thái chỉ lo ăn học và giải trí. Cụ Ngô Đình Khả được cử
làm Phụ Đạo và Cố Vấn cho vua Thành Thái. Năm 1904, cụ được cử
làm Tổng Quản Cấm Thành, trông coi tử Cấm Thành…
"Khi đưa cụ Ngô Đình Khả vào làm Phụ Đạo
cho vua Thành Thái, người Pháp muốn cụ theo dõi các hoạt động
của vua và báo cáo cho Pháp biết những ý định phản nghịch của
vua để có biện pháp kịp thời."[12]
Nhờ địa vị quan tước của thân phụ, ông Diệm
được phong "tập ấm" và được cho vào học tại trường đạo Pellerin
ở Huế, rồi lại được đặc cách đưa vào học trường Hậu Bổ cũng ở
Huế. Năm 1922, ngay khi vừa hoàn tất chương trình học tại trường
Hậu Bổ, ông Diệm được bổ nhậm làm tri huyện. Nhiệm sở đầu tiên
là huyện Hải Lăng (Quảng Trị).
Kể từ đó và cũng từ ở đây, ông đem hết tài
năng, trí óc, tìm mưu tính kế, làm đủ mọi cách tâng công và chạy
chọt với quan thày để leo lên nấc thang quyền lực. Kết quả là
mấy năm sau ông được thăng lên chức tri phủ phủ Hoa Đa (Bình
Thuận), ít lâu sau lại được thăng lên chức Tuần Vũ tỉnh Bình
Thuận.
Trong thời gian này, để tâng công với quan
thày, ông Diệm đã làm những việc vô cùng dã man với những quái
chiêu cực kỳ độc ác trong những hành động hành hạ nhân dân trong
vùng ông trị nhậm và tra tấn các nhà cách mạng chẳng may lọt vào
tay ông. Sự kiện này được cụ An Khê Nguyễn Bính Thinh ghi lại
như sau:
"Có người còn hiểu khi trước, ông Diệm
học lực chưa đủ sức thi vào ngạch quan lại, nhờ vai ấm sinh của
cha truyền mà khỏi phải thi, từ một chức tiểu lại đến 7 năm sau
trở thành một vị đường quan. Vì ông khéo luồn lõi, lập công với
thực dân Pháp, mau thăng chức hơn các bạn đồng liêu. Khi
ông làm tri phủ Hòa Đa đã nổi tiếng là tay sai đắc lực của Pháp,
lùng bắt và tra tấn các nhà cách mạng rất dã man bằng cách xông
lửa nến (đèn cày) dưới ghế ngồi. Ông cho trói chặt người bị lấy
khẩu cung vào ghế ngồi, mặt ghế có khoét lỗ ở ngay hậu môn chỗ
ngồi, bên dưới đốt ngọn đèn cầy cho lửa xông lên, dần ruột gan,
tim phổi người nọ (nạn nhân) bị sấy lửa, khô dần đi, không chịu
nổi, dù có khai để chấm dứt cực hình nhưng hậu quả về sau không
lường được. Lối tra tấn dã man này, ngay với các bót giam của
Pháp, như bót Catinat, cũng chưa dám dùng."[13]
Đoạn văn sử trên đây cho chúng thấy những
tên Việt gian làm quan trong thời bảo hộ 1885-1945 ác độc và tàn
ngược hơn cả chính những thằng Tây đối xử với dân ta.
Do những hành động tàn ác và dã man trên
đây, quan thày người Pháp rất thương yêu ông. Nhờ vậy mà năm
1933, ông được đưa về triều đình bù nhìn Huế giữ chức Thượng Thư
Bộ Lại. Chức vụ này được coi như cao trọng nhất trong triều đình
bù nhìn Huế lúc bấy giờ. Nhưng cũng chính cái địa vi cao trọng
này đã làm cho ông bắt đầu lao đao kể từ đây. Nguyên nhân như
sau:
Vì cùng có tham vọng đánh chiếm và thống
trị Việt Nam để cùng cướp đoạt tài nguyên và cùng cưỡng bách
nhân dân ta làm nô lệ cho chúng, hai thế lực vatican và thực dân
Pháp mới liên kết với nhau thành Liên Minh Pháp – Vatican. Như
vậy là hai thế lực Pháp và Vatican liên kết với nhau vì quyền
lợi bất chính.
Lịch sử cũng đã chứng minh rằng những kẻ vì
quyền lợi bất chính mà tụ lại với nhau, thì sớm muộn lại cũng
lại vì quyền lợi bất chính đó mà trở thành tương tranh thanh
toán lẫn nhau để độc chiếm quyền lực và quyền lợi. Đây là một
quy luật lích sử. Cái Liên Minh Pháp – Vatican đánh chiếm và
thống trị Đông Dương trong những năm 1858-1954 cũng không thoát
khỏi quy luật lịch sử này.
Một yêu tố khác cũng không kém phần quan
trọng làm cho hai thế lực này luôn luôn ở vào tình trạng lủng
củng. Nguyên do vì nhân dân Pháp đã từng là nạn nhân của Giáo
Hội La Mã cả hơn một ngàn năm và đã phải giẫy dụa cả một thời
gian dài từ cuối thế kỷ 8 [thời vua Charlemagne (768-814)] cho
đến khi Cách Mạng bùng nổ vào năm 1789 mới có thể vùng lên đối
đầu với Giáo Hội bằng những biện pháp mạnh để đòi lại quyền làm
người. (Vấn đề này sẽ được trình bày đầy đủ ở Phần VII).
Trước khi Cách Mạng 1789 bùng nổ, các bậc
trí giả Âu Châu đã thường luôn luôn viết sách, viết báo lên án
Giáo Hội bằng những lời lẽ vô cùng gay gắt. Trong số những bậc
trí giả đưa ra quan điểm tôn giáo và chính trị chống lại Giáo
Hội, có rất nhiều danh nhân như John Wycliffe (1320-1384), John
Huss (1372-1415), Giordano Bruno (1548-1600), John Locke
(1632-1704), Montesquieu (1689-1775), Denis Diderot (1713-1784),
Jean- Jacques Rousseau (1712-1778), Voltaire (1694-1778).
Sau thời Cách Mạng 1789, cũng vẫn còn có
nhiều học giả Âu Mỹ tiếp tục viết sách, viết báo, diễn thuyết
trình bày những quan điểm chính trị chống lại Giáo Hội hết sức
mãnh liệt. Trong số những người này, có những nhân vật nổi tiếng
như Lamartine (1790-1869), Victor Hugo (1802-1885), Léon
Gambetta, Jules Ferry, Thomas Paine (1737-1809), Thomas
Jefferson (1743-1826), v.v…
Theo chân các nhà trí thức trên đây, các
nhà trí thức sau này miệt mài nghiên cứu cả hai bộ Cựu và Tân
Ước Kinh, tìm đọc lịch sử của Giáo Hội, tìm hiểu về những việc
làm tộI ác của Tòa Thánh Vaticanvà đời sống bê bối thối tha của
các giáo hoàng và các tu sĩ Da-tô rồi biên soạn thành những tác
phầm lừng danh như The Decline and Fall of The Roman Church,
the Jesuits, Rich Church, Poor của giáo sĩ Malachi Martin,
Vietnam Why did we Go? và The Vatican's Holocaust
của giáo sĩ Avro Manhattan, The Thick Darkness of Romanism
của Tiến-sĩ Barnado, In Vatican: The Politics and
Organization of the Roman Catholic Church của Thomas J.
Reese, The Vatican's Last Crime của Joseph McCabe, Roman
Catholicism của Loraine Boettner, The Vicar Of Christ của
Peter de Rosa, The Dark Side of Christian History của
Hellen Ellerbe, The Babylon Mystery Religion của Ralph
Woodrow, Deceptions and Myths of The Bible của Lloyd M.
Graham, The Book Your Church Doesn't Want You To Read
của Tim C. Leedom. Đặc biệt nhất là Thomas Paine viết cuốn
The Age of Reason trong đó ông đem Cựu Ước và Tân Ước Kinh
ra phân tách rất là công phu, rồi đưa ra những luận cứ bất khả
phản bác về tính cách hoang đường của hai bộ thánh kinh này. Sau
đó, lại có triết gia Bertrand Russell viết cuốn Why I Am Not
A Christian cũng không ngoài mục đích nói cho người đời biết
rõ về những sai lầm căn bản của lý thuyết thần học Thiên Chúa
Giáo.
Những tác phẩm này đã ảnh hưởng rất lớn đến
tư duy và hành động của nhân dân Âu Châu và nhân dân thế giới,
khiến cho tinh thần chống Giáo Hội càng ngày càng trở nên mãnh
liệt, rồi bùng nổ thành các phong trào chống lại Giáo Hội.
Phong trào cách mạng chống Giáo Hội mãnh
liệt nhất bùng nổ ở Đức vào năm 1517 do Martin Luther
(1483-1546) chủ xướng. Phong trào này trở thành Phong Trào Tin
Lành lan rộng gần khắp Trung Âu và Bắc Âu, gây nên những cuộc
chiến tranh tôn giáo giữa Tin Lành và Da-tô La Mã, kéo dài trong
nhiều chục năm. Cho đến ngày nay, ở Ái Nhĩ Lan tình trạng căng
thẳng giữa những người theo đạo Tin Lành và những người theo đạo
Da-tô La Mã vẫn còn nguyên vẹn như mấy trăm năm về trước.
Giậu đổ bìm leo. Năm 1534, chính quyền Anh
trong thời Anh Hoàng Henry VIII (1491-1547), chống lại Vatican,
ly khai khỏi Giáo Hội, thành lập Anh Giáo, rồi tịch thu toàn bộ
tài sản của Vatican tại Anh Quốc. Năm 1691, Quốc Hội Anh lại ban
hành một đạo luật, cấm không cho người Anh theo đạo Da-tô La Mã
được lên cầm quyền.
Kể từ đó, không có một người Anh theo đạo
Da-tô La Mã (Catholic) nào được đưa lên cầm quyền.
Năm 1789, Cách Mạng Pháp bùng nổ. Các nhà
lãnh đạo cách mạng Pháp thường tự nhận là đứa con tinh thần của
Voltaire, người đã gọi đại Ki-tô La Mã là "cái tôn giáo ác ôn".
Giống như vết dầu loang, Cách Mạng Pháp
1789 trở thành tấm gương cho nhân dân thế giới theo đó mà tiến
lên hành động chống lại Giáo Hội La Mã. Ngay cả khi nước Pháp
liên kết với Giáo Hội La Mã xuất quân đánh chiếm và thống trị
Việt Nam vào giữa thế kỷ 19, nhữngchính khách có thế lực cầm
quyền ở Pháp cũng như ở Đông Dương, vẫn hành động theo tinh thần
Cách Mạng 1789, chống lại Vatican, khinh rẻ bọn giáo sĩ Pháp và
tín đồ Da-tô người Việt dù rằng trong thực tế và bề ngoài, họ
vẫn liên kết với Vatican như là một Liên Minh để cùng thống trị
Đông Dương.
Vatican cũng biết như vậy, nhưng Vatican
vẫn còn hy vọng bám lấy quyền lực ở Pháp vì có một nhóm thiểu số
tín đồ người Pháp chỉ biết tuyệt đối tuân phục Vatican và vì bọn
phản động còn nắm quyền tại các nước Áo, Phổ, Nga và Anh. Nhờ
đó, Giáo Hội đã sử dụng nhóm thiểu số tín đồ cuồng tín người
Pháp này và liên kết với các chính quyền phản động tại các quốc
gia trên đây chống lại Cách Mạng 1789 và nước Pháp. Chính vì thế
mà cuộc chiến của nhân dân Pháp chống lại Vatican ở vào thế
giằng co cho mãi tới năm 1905, người Pháp mới thực sự
loại được bàn tay quyền lực của Vatican ra khỏi chính quyền bằng
cách ghi vào trong Hiến Pháp điều khoản "tách rời tôn giáo
ra khỏi chính quyền."
Trong khi đó, tại Bắc Mỹ, Hoa Kỳ đã đưa
điều khỏan này vào Hiến Pháp ngay từ năm 1791. Kể từ đó,
càng ngày ảnh hưởng của Giáo Hội đối với quần chúng Pháp càng
ngày càng giảm thiểu. Hiện nay ở Pháp cũng như ở Anh và ở nhiều
quốc gia Âu Châu khác, con số người đi nhà thờ hàng tuần chỉ còn
từ 1% đến 5% là nhiều. Tuyệt đại đa số nhân dân Âu Châu ghê tởm
Giáo Hội và lánh xa Giáo Hội như lánh hủi. Sự kiện này được học
giả Da-tô Phan Đình Diệm ghi lại như sau:
"Giáo Hội Công Giáo Roma La-tinh trong
thời cực thịnh kinh bang tế thế, đội vương miện cho các hoàng
đế, tung hoành dọc ngang, làm mưa làm gió, thâu tóm cả thiên hạ
trong tay, tiền rừng bạc biển, đã không biết tự chế, không học
bài học khiêm hạ rửa chân, tự cao tự đại, coi bàn dân thiên hạ
như cỏ rác… Hôm nay hối bất cập, lịch sử còn nằm trơ ra đó.
Người Âu Châu khiếp sợ Giáo Hội và tránh xa như tránh hủi! Người
Á Châu có thành kiến ghép Giáo Hội với ông Tây thực dân và chống
thực dân! Người Mỹ Châu La-tinh đồng hóa Giáo Hội vào đại họa
diệt chủng! Và người Trung Đông làm sao quên được 250 cuộc thánh
chiến hãi hùng!.v.v…"
[14]
Vì nguyên nhân này mà trong thời gian từ
năm 1858 cho đến 1945, có rất nhiều nhân vật Pháp có thế lực ở
chính quốc Pháp như Jules Ferry, Léon Gambetta, Léon Blum cũng
như các tướng lãnh chỉ huy các đạo quân tấn chiếm Việt Nam như
Đô Đốc Page, Đô Đốc Bonard, Đô Đốc Rieunier, Đại Tá Bernard cho
đến các chính trị gia nắm quyền chủ chốt trong bộ máy cai trị
Đông Dương như Paul Beau, Paul Bert, Pierre Pasquier, v.v… đều
là những người hăng say chống Giáo Hội La Mã và thường tỏ ra
khinh rẻ các ông tu sĩ Da-tô hoạt động tại Đông Dương vào thời
bấy giờ. Sự kiện này được sách Các Vua Cuối Nhà Nguyễn -
Tập 2 ghi nhận như sau:
"Paul Bert là đảng viên "Cộng Hòa" từng
bị phe cực hữu và bảo thủ kết án như "kẻ chống Giáo Hội điên
cuồng," và "kẻ thù quyết liệt của Giáo Hội." Tội lỗi lớn nhất
của Bert là khi giữ ghế Bộ Trưởng Giáo Dục trong chính phủ
Ferry, Bert đã cổ võ và phát động một chính sách giáo dục quốc
gia phi tôn giáo. Theo Bert, nước Pháp không còn trách nhiệm
hoằng dương hay rao giảng một tôn giáo nào, và cũng không công
nhận một tôn giáo nào làm quốc giáo"[15]
Cũng nên biết là hai thế lực Pháp và
Vatican đều có những bọn Việt gian làm tay sai thân tín đắc lực
riêng và cả hai thế lực này đều muốn sử dụng bọn Việt gian này
trong chính sáchChia Để Trị. (Dùng người Việt đánh người Việt
và dùng người Việt cai trị người Việt.)
Phần lớn bọn Việt gian làm tay sai cho thực
dân Pháp không phải là tín đồ Da-tô và có thể là mang quốc tịch
Pháp như Nguyễn Văn Tâm, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Xuân, v.v… hay
không mang quốc tịch Pháp như bọn Hoàng Cao Khải, Nguyễn Thân,
Hoàng Trọng Phu, Hoàng Gia Mô, Nguyễn Duy Hàn, Phạm Quỳnh, v.v…
Hầu hết những bọn Việt gian làm tay sai cho
Vatican là những tín đồ Da-tô cuồng tín mang quốc tịch Vatican
(đều có tên thánh ở trước cái tên bình thường của chúng) như bọn
Trần Bá Lộc, Đỗ Hữu Phương (Đỗ Hữu Vị), Lê Phát Đạt (Huyện Sĩ),
Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Hữu Độ, Trần Lục, Pétrus Trương Vĩnh Ký,
Nguyễn Tường Tộ, Ngô Đình Khả, Lê Hoan, Nguyễn Hữu Bài, Ngô Đình
Khôi, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Bá Tòng, Hồ Ngọc Cẩn,
v.v…
Khi hai thế lực Pháp và Vatican không có
chuyện gì xích mích với nhau thì hai nhóm Việt gian này được yên
ổn lo việc đàn áp nhân dân ta để tâng công, lấy lòng quan thày
giặc với hy vọng sẽ được thăng quan tiến chức vù vù như trường
hợp Trần Lục, Ngô Đình Khả, Trần Bá Lộc, Ngô Đình Diệm, Nguyễn
Bá Tòng, v.v... Nhưng khi hai thế lực Pháp và Vatican mưu tính
chèn ép lẫn nhau để lấn quyền rồi hục hặc với nhau, thì hai nhóm
Việt gian này rơi vào tình trạng khốn đốn và chìm nổi với chủ
riêng của chúng. Sự kiện này được Cụ Phan Bá Kỳ nói sơ qua như
sau:
"Ai biết chút ít về lịch sử cũng phải
hiểu rằng chính sách, nhân sự ở Đông Dương hồi Pháp thuộc là do
nơi ba thế lực chính: Thực Dân, Giáo Hội (Vatican), Tam Điểm
(Free Mason), tùy theo tình hình chính quốc. Khi ở Pháp phe Tam
Điểm thắng thế thì thực dân ở Đông Dương về phe Tam Điểm. Khi
phe Công Giáo lên chân thì thực dân về phe Giáo Hội. Việc ông
Diệm bị cách tuột hết mọi thứ có thể là đang có một sự tranh
chấp giữa Tam Điểm và Giáo Hội, mà ông ta ngu ngơ, dại dột đi
vâng phục quá đáng cái thế lực thất thế vào thời điểm đó. Cứ tìm
xem Khâm Sư Léon Thibaudeau và Toàn Quyền Pierre Pasquier thuộc
nhóm nào là ra ngay. Chứ Bảo Đại, Phạm Quỳnh, ngoài chuyện thừa
hành, làm gì có quyền để trừng phạt oan ức một người… đáng quí
như ông Diệm…"[16]
Chuyện tranh chấp giữa ông Ngô Đình Diệm và
ông Phạm Quỳnh về chức vụ Tổng Lý Đại Thần tại triều đình Huế
được cụ Nguyễn Bính Thinh ghi lại như sau:
"Có một số người từng làm cách mạng,
hoặc có xem báo chí ở Huế, ở Hà Nội trước năm 1940, đều biết ít
nhiều về ông Diệm khi làm Thượng Thư Bộ Lại của triều đình Huế,
có óc quan lại phong kiến và nịnh quan thầy Tây. Ông tranh quyền
với ông Phạm Quỳnh, song quan thầy của ông là Khâm Sứ Thibaudeau
kém thế hơn quan thầy của ông Phạm Quỳnh là Toàn Quyền
Pasquier. Ông Diệm thua Phạm Quỳnh bất mãn từ quan."[17]
Theo sử gia Vũ Ngự Chiêu, Không phải ông
Diệm từ quan, mà là bị bãi chức và bị truất hết cả những chức
tước phẩm hàm. Hơn nữa, ông ta còn bị trục xuất khỏi Huế, bị cho
ra cư trú ở Quảng Bình. Dưới đây là bản văn củaTiến-sĩ Vũ Ngự
Chiêu viết về sự kiện này:
"Sau cuộc "đảo chính" 2/5/1933, Bài bị
loại khỏi vòng quyền lực. Toàn Quyền Pierre Pasquier
(12/1928-1/1934) gọi Diệm về làm Thượng Thư Bộ Lại kiêm Tổng Thư
Ký Ủy Ban Cải Cách. Quyền Khâm Sứ Léon Thibaudeau
(2/1933-7/1934) yêu cầu Diệm làm tờ trình về kế hoạch canh tân.
Diệm có lẽ với sự tiếp tay của Bài, đưa ra hai điều kiện:
Phải thống nhất Bắc và Trung Kỳ, và bổ
nhiệm một tổng trú sứ (resident général) cho Trung và Bắc Kỳ như
đã qui định trong Hòa Ước 6/6/1884.
Phải cho Viện Dân Biểu quyền thảo luận
(báo cáo ngày 10/5/1933, Pasquier gửi Colonies).
Lập trường này cũng giống Bài: Muốn cải
cách, việc đầu tiên là phải hủy bỏ hai chức thống sứ (ở Hà Nội)
và khâm sứ Huế; sau đó cho An Nam ngân sách riêng.
Ngày 9/7/1933: Diệm ra Quảng Trị gặp Bài
ít ngày. Trở lại Huế, ngày 12/7, Diệm nạp cho Thibaudeau một bản
sao đơn từ chức đã gửi lên Bảo Đại. Lý do Diệm nêu ra là cơ cấu
tổ chức hiện tại không phù hợp với Hiệp Ước 6/6/1884. Hiệp ước
này qui định rằng Pháp chỉ giữ một chế độ bảo hộ kiểm soát
(protectorat de contrôle) mà không phải là bảo hộ trực tiếp
(protectorat direct). Báo cáo số 303-A.P., 22/7/1933, Gougal gửi
Colonies; INF, c.366/d.2905).
Theo một mật báo viên (Luật-sư Lê Văn
Kim), tháng 12/1933, Diệm vào Sàigòn gặp Nguyễn Phan Long, Lê
Văn Kim, Jacques Lê Văn Đức, v.v… Tiếp đó, báo chí Sàigòn và cả
tờ La Lanterne ỏ Paris mở chiến dịch đòi thay Pasquier bằng cựu
Toàn Quyền Alexandre Varenne (7/1925-11/1927) và đưa cựu Khâm Sứ
Yves Châtel (6/1931-2/1933) trở lại Huế (INF, c.366/d.2905).
Biết được tin này qua Luật-sư Lê Văn Kim, Pasquier nổi giận
truất hết chức tước của Bài, Diệm và Đệ. Diệm còn bị trục xuất
khỏi Huế, chỉ định cư trú tại Quảng Bình. May mắn, ngày
15/1/1934, Pasquier chết vì tai nạn máy bay trên không phận
Paris. Năm sau, Bài cũng chết. Tân Toàn Quyền René Robin
(7/1934-1/1937) và Khâm Sứ Maurice Graffeuil (7/1934-5/1936,
4/1937-8/1941) đồng ý phục hồi tước vị cho Bài và Diệm. Diệm
được trở về Huế dạy học ở trường Providence của Thục,…"[18]
Chiến dịch "Đòi thay Pasquier bằng cựu
Toàn Quyền Alexandre Varennevà đưa cựu Khâm Sứ Yves Châtel trở
lại Huế" là do Vatican chủ mưu, mượn bọn tay sai Việt gian
cuồng tín để làm áp lựccho việc đòi thay thế những nhân vật có
tinh thần chống Giáo Hội La Mã bằng những nhân vật bảo thủ thân
Giáo Hội La Mã.
Trước đây Ngô Đình Khả cũng vì cuồng tín
nghe theo Vatican mà mất chức. Bây giờ đến lượt Nguyễn Hữu Bài,
Ngô Đình Diệm, và sau đó là Ngô Đình Khôi cũng ở vào tình trạng
này. Chúng ta đừng quên rằng Cường Để cũng là người mang quốc
tịch Vatican (đã theo đạo Da-tô). Đến đây, thiết tưởng độc giả
đã có thể hiểu tại sao mà bọn Việt gian làm tay sai tai mắt đắc
lực cho Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Vatican như bọn Ngô Đình Khả,
Nguyễn Hữu Bài, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Diệm, v.v… không những
bị cho về vườn, mà còn bị đám quan thày người Pháp khinh rẻ như
những phường phản phúc hèn hạ và những quân lưu manh vô lại. Bản
văn sử dưới đây nói lên thực trạng này:
"Chúng tôi chỉ có với mình", Đô Đốc
Rieunier sau này nói, "những giáo dân và bọn du thủ du
thực". "Bọn lang bạt bị trục xuất khỏi làng vì đói rét hoặc vì
tội phạm," Đại Tá Bernard viết, xô về đây với cái lưng mềm dễ
uốn, họ tham sống sợ chết; họ hoàn toàn hững hờ với cuộc đấu
tranh của dân tộc mình, sẵn sàng phụng sự bất cứ những ông chủ
nào… Người ta sẽ tuyển dụng trong số họ tất cả nhân viên hành
chính cần thiết cho nhà nước, hoặc những người giúp việc gia
đình: làm đầy tớ, làm khuân vác, làm người chạy giấy và cả những
tên phiên dịch, hoặc những người ghi chép được đào tạo thô sơ
qua các nhà trường của Hội Truyền Giáo. Chính là qua sự tiếp xúc
với những kẻ khốn nạn này mà bọn thực dân và công chức, vừa mới
đổ bộ lên, làm quen với dân tộc Việt Nam …"
Nhà sử học Cultru kết luận:
"Hoàn toàn hời hợt về cái gọi là giáo
dục phương Tây mà họ đã được tiếp thụ, những thanh niên Việt Nam
này đã trở thành những ông thông, ông phán, ông ký, kiểm soát,
phiên dịch.. ấy, lập thành tại xứ sở thuộc địa một tầng lớp
những người tha hóa, chuyên lợi dụng địa vị chính thức của chúng
để nhân danh chính phủ Pháp, lúc này không đủ biện pháp cai quản
họ, để áp bức, đục khoét dân chúng, buộc lòng phải nhờ đến sự
trung gian cuả họ…"
"Tại Nam kỳ, chính là từ trong những
người Công Giáo Annam mà người ta tuyển chọn những kẻ giúp việc
cho chính phủ Pháp, Phạm Quỳnh đã viết, "Họ có tài cán gì? …
Phần lớn là những tay dạy giáo lý Cơ Đốc, vì hạnh kiểm kém mà bị
các giám mục đuổi về, và dưới một cái tên La Tinh (bởi vì họ nói
lõm bõm tiếng La Tinh), là đại diện sơ lược của thủ đoạn, của sự
vô trách nhiệm, và sự thoái hóa của Châu Á."[19]
Từ năm 1931, Nhật bành trướng thế lực vào
lục địa Á Châu. Tháng 7 năm 1937, Nhật gây hấn tấn công và chiếm
đóng các vùng ven biển Thái Bình Dương của Trung Hoa, rồi năm
1940 Nhật cưỡng bách Liên Minh Pháp – Vatican để cho Nhật đưa
quân vào trú đóng ở Đông Dương.
Từ đó cho đến khi xẩy ra vụ Trân Châu Cảng
vào ngày 7/12/1941, đúng ra là cho đến năm 1942, thế lực Nhật
ngày càng trở nên hùng mạnh ở Đông Á và Đông Nam Á Châu. Đồng
minh của Nhật ở Âu Châu là Đức Quốc Xã và Phát Xít Ý (Phe Trục)
cũng đang thắng thếchiếm gần trọn Tây Âu và Nam Âu. Tại Âu
Châu, Vatican quay ra kết thân với Đức Quốc Xã và Phát Xít Ý để
củng cố chế độ đạo phiệt Da-tôFrancisco Franco (1892-1975) ở
Tây Ban Nha, và đưa tên Da-tô cuồng tín Ante Pavelich lên cầm
quyền, thiết lập chế độ đạo phiệt Da-tô tại Croatia.
Cũng nên biết vào năm 1936, Tây Ban Nha xẩy
ra cuộc nội chiến. Lúc đó, Tây Ban Nha đã có một chính quyền dân
chủ do ông Casares Quiroga làm thủ tướng.
Với tinh thần bảo thủ và suy tôn Vatican,
ông Tướng Da-tô Francisco Franco chống lại chính quyền dân chủ
của Thủ Tướng Casares Quiroga và được Tòa Thánh Vatican hậu
thuẫn. Việc làm này của Tướng Franco làm cho Tây Ban Nha rơi vào
tình trạng nội chiến. Cuộc chiến này chính thức bùng nổ vào ngày
17/7/1936, kéo dài gần 3 năm trời. Nhờ có Vatican tích cực vận
động Đức Quốc Xã và Phát Xít Ý viện trợ, phe Tướng Da-tô
Francisco Franco thắng thế và cuộc chiến chấm dứt vào ngày
1/4/1939, để lại không biết bao nhiêu đắng cay, căm phẫn, và thù
hận trong lòng người dân Tây Ban Nha đối với Vatican.
Trong thời gian chiến tranh, hàng ngàn nam
nữ tu sĩ Da-tô Tây Ban Nha bị phe dân chủ thẳng tay nghiêm trị
cho về nước Chúa vì họ đã tích cực tham gia hoạt đồng tiếp tay
cho phe Tướng Da-tô Franco, giống như nhóm thiểu số tu sĩ và
tín đồ Da-tô Việt Nam tích cực tiếp tay cho quân giặc xâm lăng
Pháp-Vatican trong nửa sau thế kỷ 19 và trong thời Kháng Chiến
1945-1954. Con số người bị nghiêm trị lên đến hàng ngàn.
Đối với nhân dân Tây Ban Nha, bọn người bị
nghiêm trị này là những quân phản quốc và phản dân tộc. Nhưng
đối với Tòa Thánh Vatican, hạng người vong bản phản quốc này lại
là những "thánh tử đạo". Cũng vì thế mà trước đây, một số trong
những "thánh tử đạo" này đã được Giáo Hoàng John Paul II phong
chân phước và phong thánh. Ngày 28/10/2007, lại có thêm 498 nam
nữ tu sĩ "thánh tử đạo" khác nữa cũng nằm trong số người bị
nghiêm trị này được Giáo Hoàng Benedict XVI phong chân phước.
Việc phong chân phước này được tờ The News Tribune,
Tacoma Thứ Hai, 28/10/2007 loan tin với nguyên văn như sau:
"Giáo Hoàng (Benedict XVI) phong chân
phước cho 498 nam nữ tu sĩ chết trong cuộc Nội Chiến Tây Ban
Nha. Những kỷ niệm cay đắng về cuộc Nội Chiến Tây Ban Nha là đề
tài chính tranh cãi vào ngày Chủ Nhật (28/10/2007) khi mà
Vatican phong chân phước cho 498 nam nữ tu sĩ Tây Ban Nha bị sát
hại trong thời kỳ nội chiến Tây Ban Nha. Buổi lễ phong chân
phước những nam nữ tín đồ Da-tô bị sát hại trong thời Nội Chiến
1936-1939 là một buổi lễ lớn nhất trong lịch sử Giáo Hội…. Tuy
nhiên, việc phong chân phước này đã gây nên những cuộc tranh
luận ở Tây Ban Nha, trong đó những người chỉ trích tố cáo
Vatican đã chơi đòn chính trị bằng cách chỉ nhìn nhận phe
Vatican ủng hộ mà thôi." Nguyên văn: "Pope beatifies 498
priests, nuns who died in Spanish's Civil War. Bitter memories
of Spain's Civil War were the center stage here on Sunday (Oct.
28/2007) as the Vatican put 498 slain Spanish preists and nuns
from that divisive era on the path to sainthood. The Mass
recognizing the Catholic men and women killed around the time of
the 1936-39 Civil War was the largest beatification ceremony in
church history… However the beatifications have stirred
controversy in Spain, where critics acuse the Vatican of playing
politics by promoting recognition of one side of the war
protagonist. - Los Angeles Times."[20]
Tại Á Châu, Giáo Hội ra lệnh cho bọn tu sĩ
kêu gọi tin đồ Da-tô người Việt triệt để ủng hộ con bài phòng hờ
của Giáo Hội là ông Da-tô Cường Để đang sống lưu vong ở Nhật và
đang cầu xin Nhật đưa về Việt Nam thay thế Bảo Đại làm vua gỗ
tại triều đình bù nhìn Huế.
Sự kiên bọn tu sĩ Da-tô kêu gọi giáo dân
ủng hộ Cường Để được sử gia Vũ Ngự Chiêu ghi lại trong bài viết
Sự Hình Thành Phong Trào Quốc Gia Mới: Từ "Trung Quân" sang
"Ái Quốc" với nguyên văn như sau:
"Nhờ chiêu bài Cường Ðể, một số giáo mục
và giáo dân từ Quảng Bình tới Nghệ An cũng ủng hộ. Ða số giáo
mục và giáo dân đều thuộc địa phận Bắc Ðàng Trong của Giám mục
Louis Pineau. Sau này, còn có những cộng đồng Ki-tô ở Xiêm La."
Vũ Ngự Chiêu. Sự Hình Thành Phong Trào Quốc Gia Mới: Từ Trung
Quân sang Ái Quốc.
[21]
Trong những giáo mục (tu sĩ) và giáo dân
ủng hộ ông Da-tô Cường Để, ông vua đón gió trở cờ Ngô Đình Diệm
là người đi hàng đầu và được coi như lãnh tụ của Phong Trào
Cường Để ở trong nước. Tại Việt Nam, từ đầu thập niên 1930, có
một số người Việt Nam xính hơi cố gắng học tiếng Nhật, rồi làm
việc hay hoạt động (chính trị) và làm tay sai cho Nhật. Trong
những năm 1940-1945, trong gia đình họ Ngô, không phải chỉ có
một mình Ngô Đình Diệm làm tay sai cho Nhật mà có cả người anh
của ông ta là Ngô Đình Khôi (người anh cả) và đứa con trai của
Ngô Đình Khôi là Ngô Đình Huân cũng hoạt động làm tay sai cho
Nhật. Ngô Đình Huân làm mật vụ cho Nhật và được Nhật cho "làm
bí thư cho đại sứ Nhật Yokohama, tức người thay thế khâm sứ Pháp
tại miền Trung sau đêm đảo chánh 9/3/1945."[22]
Nhật chống Pháp. Làm việc hay hoạt động làm
tay sai cho Nhật tức là chống Pháp. Vì lẽ này, anh em Ngô Đình
Diệm mới bị Pháp bắt giam, và vì thế mới có chuyện Giám-mục Ngô
Đình Thục viết lá thư đề ngày 21/8/1944 gửi Toàn Quyền Jean
Decoux để xin miễn tội chống Pháp (phản chủ) của Ngô Đình Khôi
và Ngô Đình Diệm. Dưới đây là bản chụp và bản dịch nguyên văn lá
thư này:
Tòa Truyền Giáo Vĩnh Long ngày 21 tháng
8 năm 1944
Vĩnh Long (Nam Kỳ),
Thưa Đô Đốc,
Một linh mục từ bổn Tòa được phái đi
Sàigòn để lo việc cho chủng viện vừa cho tôi biết rằng hai người
em của tôi đang bị truy tố tại Huế. Vì đã lâu không nhận được
tin tức gì từ Huế, tôi không biết là điều tôi được báo cáo có
đúng sự thực hay không.
Tuy nhiên, nghĩ đến nỗi đau đớn và sự
bất nhẫn rất đúng mà chắc là Đô Đốc đã cảm thấy - nếu sự truy tố
các em tôi là có thật, tôi vội viết thư này để bày tỏ với Đô Đốc
nỗi đau đớn lớn lao của tôi về việc này.
Nếu hoạt động của hai em tôi được chứng
tỏ là có hại cho quyền lợi nước Pháp thì - với tư cách của một
giám mục, của một người An Nam, và với tư cách là con của một
gia đình mà phụ thân đã phục vụ nước Pháp ngay từ khi mới tới An
Nam, và đã nhiều lần đưa mạng sống cho nước Pháp trong các cuộc
hành quân mà cha tôi cầm đầu, dưới quyền của Nguyễn Thân, chống
lại các kẻ nổi loạn do Phan Đình Phùng chỉ huy, tại Nghệ An và
Hà Tĩnh – tôi, tự đáy lòng, không chấp nhận [hoạt động của các
em tôi].
Thưa Đô Đốc, tôi tuyên bố như vậy không
phải với mục đích bảo toàn địa vị cá nhân của tôi: bởi vì nếu
xét rằng cá nhân hèn mọn của tôi có thể phương hại đến quyền lợi
của đạo [Thiên Chúa], tôi sẽ vui vẻ rời khỏi Tòa Giám Mục này
ngay.
Lời tuyên bố của tôi chỉ có mục đích là
tỏ cho Đô Đốc thấy rằng lòng tin tưởng trìu mến của Đô Đốc [đối
với tôi] đã không đặt vào một kẻ bất xứng hay vô ơn.
Thưa Đô Đốc, tôi chưa bao giờ tiếc là đã
xa Huế như thế này. Giá có mặt ở đấy, thì tôi đã có thể khuyên
răn các em tôi tốt hơn, và khi chuyện xẩy ra, tôi đã có thể
chống lại các chủ đích của em tôi, nếu quả thật các em tôi có
nghĩ đến những dự định có thể gây hại cho quyền lợi của nước
Pháp.
Có thể tôi lầm, tuy nhiên, thưa Đô Đốc,
tôi xin thú thực là không tin – cho đến khi được chứng minh
ngược lại - rằng các em tôi đã phản lại truyền thống của gia
đình chúng tôi đến như thế, một gia đình đã tự mình gắn liền với
nước Pháp từ lúc ban đầu, trong khi ông cha của những quan lại
bây giờ hầu hết đều chống Pháp và chỉ quyết định thiên về Pháp
khi thấy có lợi.
Ngay chính các em tôi đã từng liên tục
đưa mạng sống ra vì nước Pháp trong cuộc nổi loạn của Cộng Sản.
Diệm, người em kế tôi, suýt đã phải ngã gục dưới những phát súng
của một Hoa Kiều Chợ Lớn được phái đến Phan Rang với mục đích
hại Diệm, Phan Rang là nơi mà Diệm đã mãnh liệt chống giữ lối
xâm nhập vào An Nam của các cán bộ Cộng Sản từ Nam Kỳ phái đến.
Lẽ tất nhiên, sự tận tụy của các em tôi
trong quá khứ không phải là điều nêu ra để làm cớ mà biện hộ cho
hoạt động bất cẩn của họ ngày hôm nay, nếu sự bất cẩn này được
chứng tỏ là điều đã gây nên tội. Tuy nhiên, tôi không nghĩ là
tôi đã làm chuyện vô ích khi kêu gọi đến sự khoan hồng đầy xót
thương của Đô Đốc hầu xét với hảo ý trường hợp các em tôi. Đô
Đốc không phải là người chỉ xét đến hiện tại mà lại bỏ quên đi
quá khứ. Tôi nêu ra điều này khi xét thấy rằng Thân phụ tôi là
Ngô Đình Khả đã từng được vinh dự phục vụ nước Pháp dù sinh mạng
bị hiểm nguy, và khi xét đến quá trình lâu dài của các em tôi
đối với nước Pháp, mà không sợ phải hy sinh mạng sống của mình
cho nước Pháp.
Thưa Đố Đốc, một lần nữa bày tỏ với Đô
Đốc tất cả niềm đau đớn của tôi trong vụ này, tôi xin Đô Đốc vui
lòng nhận nơi đây lời kính chào trân trọng nhất của tôi,
Ngô Đình Thục[23]
Thời gian từ chiều tối ngày 9/3/1945 (khi
xẩy ra biến cố Nhật đảo chính Pháp) cho đến ngày17/4/1945, Ngô
Đình Diệm cho rằng chắc chắn là Nhật sẽ đưa ông Da-tô Cường Để
về Việt Nam thay Bảo Đại và nôn nóng ngóng trông được Nhật đưa
lên làm thủ tướng trong cái chính phủ bù nhìn mới do Nhật sắp
xếp. Lúc đó, Diệm cư ngụ ở Sàigòn. Có thể vì viên Khâm Sứ đại
diện Tòa Thánh Vatican ở Huế là Tổng Giám Mục Antoni Drapier đã
rỉ tai với Bảo Đại là phải nên cho mời Ngô Đình Diệm về Huế để
thành lập tân nội các thân Nhật, cho nên ông vua gỗ "playboy"
này mới sai ông Phạm Khắc Hòe soạn thảo một bức điện tín, rồi
nhờ ông Đại Sứ Nhật Yokoyama (ở Huế) đánh điện mời Diệm về Huế
để thành lập tân chính phủ thân Nhật.
Thế nhưng, người Nhật vốn đã có kinh nghiệm
máu với Giáo Hội La Mã trong thế kỷ 17 ở ngay chính quốc Nhật
(sẽ được trình bày đầy đủ trong một chương sách nằm trong Mục
XVI, Phần VII của bộ sách này), cho nên họ không đưa ông Da-tô
Cường Để về Việt Nam thay thế Bảo Đại và cũng không sử dụng ông
Da-tô Ngô Đình Diệm làm thủ tướng dù là vẫn giữ ông Bảo Đại làm
vua bù nhìn để cho họ sai khiến, bất kể là chính ông Bảo Đại đã
nhờ họ triệu ông Diệm về Huế để trao cho nắm giữ chức thủ tướng.
Vì vậy mà ông đại sứ Nhật Yokoyama tuy bề ngoài tỏ ra sốt sắng
nhận lời chuyển bức điện tín của Bảo Đại cho Ngô Đình Diêm,
nhưng lại cố tình ỉm đi, và mời cụ Trần Trọng Kim đứng ra thành
lập tân chính phủ. Sự kiện này được ông Phạm Khắc Hòe, Đổng Lý
Văn Phòng của Bảo Đại vào lúc đó, kể lại, và chính cựu hoàng Bảo
Đại cũng ghi lại trong sách hồi ký của ông. Sách Việt Sử Khảo
Luận Cuốn 4 ghi lạ lời ông Phạm Khắc Hòe kể lại trong cuốn hồi
Ký Từ Triều Đình Huế Đến Chiến Khu Việt Bắcnhư sau:
"Trong danh sách 14 người của bọn Hòe -
Phiệt (Phạm Khắc Hòe và Tôn Quang Phiệt) tiên liệu, cũng như
trong số 8 người trên 14 người ấy được vua Bảo Đại lựa chọn,
không có tên ông Trần Trọng Kim. Chiều tối ngày 21/3, Trần Đình
Nam từ Đà Nẵng vào,… tôi đưa vào yết kiến Bảo Đại, thì Bảo Đại
cũng đồng ý với Nam chỉ nên ra những lá bài thân Nhật, cụ thể là
nên giao cho Ngô Đình Diệm thành lập một nội các hẹp, ba, bốn
người thôi. Tôi lập tức đánh điện triệu tập Ngô Đình Diệm, lúc
ấy đang ở Sàigòn."
Xin nhắc rằng điện tín đều phải nhờ quân
đội Nhật đánh giùm, qua trung gian Đại Sứ Yokoyama (lời ông
Hoàng Xuân Hãn cho biết)…
"Năm ông ở ngoài Bắc (Vũ Văn Hiền đã
được Hoàng Xuân Hãn lựa chọn) vào tới Huế ngày 27/3 và được vua
tiếp kiến suốt ngày 28, sáng 2 người, chiều 3 người."
Rồi tất cả chờ tin tức Ngô Đình Diệm."[24]
Trong cuốn sách Con Rồng Việt Nam,
ông Bảo Đại viết nơi trang 165 như sau:
"Trong óc tôi, người tiêu biểu (thân
Nhật) nhất trong số này là Ngô Đình Diệm. Ông ta đang ở Sàigòn.
Tôi biết ông ta đang có liên lạc với người Nhật và sự có mặt của
ông ta sẽ giúp tôi mọi sự dễ dàng với nhà cầm quyền Nhật. Tôi
liền cho vời đại sứ Nhật tới, và nói cho biết ý định của tôi và
yêu cầu Đại Sứ làm mọi cách để Ngô Đình Diệm có thể tới kinh đô
Huế gặp tôi ngay. Đại Sứ Yokoyama nhận lời, và (cam) đoan với
tôi là sẽ cố gắng gặp ông ta. Ngày 19 tháng 3, tôi báo cho Phạm
Quỳnh biết tôi sẽ tự tay đảm trách quyền lãnh đạo quốc gia. Ý
thức được tình thế, Phạm Quỳnh đệ đơn xin từ chức tập thể của cả
nội các.
Ba tuần lễ trôi qua, mà chẳng thấy tăm
hơi Ngô Đình Diệm ở đâu. Trước thúc giục ngày càng khẩn thiết
của tôi, Đại-sứ Yokoyama trả lời là chưa thể tìm thấy vị thủ
tướng dự trù này. Sự chậm trẽ ấy làm tôi suy nghĩ. Người Nhật
rất thành thạo về những sự kiện xẩy ra ở Việt Nam. Cơ quan tình
báo của họ rất đắc lực, và họ biết chỗ và biết cách tìm thấy
nhân vật này. Về sau, tôi biết, qua ngay lời nói của Đại-sứ
Yokoyama là Ngô Đình Diệm không được cảm tình của chính phủ
Nhật.
Tôi hiểu ngay sự ngăn cách ấy. Giới thân
cận đề nghị nên gọi Trần Trọng Kim, tuổi đã sáu mươi, vị sử gia
này tỏ ra người liêm khiết, một nhà hiền giả chưa từng quan tâm
đến chính trị. Ái quốc chân thành, ông ta nhờ người Nhật đưa đi
lánh nạn ở Singapour do bị chính phủ Pháp đe doạ."
[25] .
Xin xem thêm các trang 1949-1951 trong sách
Việt Sử Khảo Luận - Cuốn 4 để biết rõ nỗi lòng thất vọng
của ông Diệm khi hay tin người Nhật bỏ rơi.
Sau ngày Cách Mạng 19/8/1945, Ngô Đình
Diệm vẫn ở Sàigòn. Tháng 6/1946, Diệm bí mật tìm đường trở về
Huế, dọc đường, ghé Tuy Hòa và nghỉ đêm tại nhà Cha Độ, bị Việt
Minh bắt đưa ra Bắc để giao cho chính quyền trung ương xử lý.
Cũng nên biết là vào thời điểm này, chính
quyền Việt Nam (Việt Minh) đang cố gắng làm hòa với Pháp không
muốn gây căng thẳng với Giáo Hội La Mã và giới tu sĩ Da-tô tại
Việt Nam. Lý do là Cụ Hồ và phái đoàn Việt Nam còn ở nước Pháp
và đang chuẩn bị thương thuyết với Pháp, và ở Bắc, Việt Minh
đang phải dồn nỗ lực vào việc đối phó với Việt Quốc và Việt
Cách, cho nên khi thấy Giám-mục Lê Hữu Từ (lúc đó là cố vấn của
chính phủ Hồ Chí Minh) đứng ra xin trả tự do cho ông Diệm, họ
không ngần ngại gì mà không trả tự do cho ông ta. Vấn đề này
được tác giả cuốn Giám Mục Lê Hữu Từ & Phát Diệm 1945-1954
viết như sau:
"Chính ông Ngô Đình Diệm cũng đã được
Đức Cha Lê Hữu Từ cứu thoát khỏi tay Việt Minh. Khoảng tháng
6/1946, khi ông Diệm tới Tuy Hòa ở nhà Cha Độ, chính xứ Tuy Hòa,
cán bộ VM đã khéo léo mời được ông Diệm đi theo chúng lên miền
Thượng (Mọi). Người gia nhân của ông thoát được chạy ra Phát
Diệm báo tin cho Đức Cha Lê và xin can thiệp gấp kẻo Ông sẽ bị
hại như ông Ngô Đình Khôi. Đức Cha liền đến Bắc Bộ Phủ có Cha
Phạm Quang Hàm và ông Ngô Tử Hạ cùng đi.
Gặp Hồ Chí Minh, Đức Cha đã nói cho ông
Hồ biết việc ông Diệm bị bắt ở Tuy Hòa. Chính ông Hồ cũng không
hay biết việc ấy và hứa sẽ hết sức thỏa mãn lời yêu cầu của Đức
Cha là giải thoát cho ông Diệm. Ông Diệm được đưa ra Hà Nội và
một tháng sau Võ Nguyên Giáp đã mời ông Ngô Đình Nhu đến lãnh
nhận. Hồ Chí Minh cũng đã liên lạc về Phát Diệm báo tin cho Đức
Cha: Ông Diệm đã về Hà Nội và được tự do."[26]
Bản văn trên đây gồm có hai đọan. Những
điều nói trong đoạn trên có thể là rất đúng với sự thật. Đoạn
văn dưới nói rằng, "Gặp Hồ Chí Minh…." hoàn toàn không
đúng với sự thực và chắc chắn là do tác giả cương ẩu bịa đặt ra.
Lý do: trong thời gian này, Cụ Hồ không có mặt ở Việt Nam. Cụ
đã khởi hành đị Pháp bằng máy bay vào ngày 31/5/1946 do lời mời
của chính phủ Pháp và mãi tới ngày 20/10/1946 Cụ mới về tới Hải
Phòng bằng tầu thủy. Như vậy thì là sao Giám mục Lê Hữu Từ có
thể gặp được Cụ Hồ?
Cái bệnh cương ẩu, bịa đặt, lắt léo, lươn
lẹo, không nói thành có, có nói thành không và nói ngược là bản
chất của Giáo Hội La Mã và các ông văn nô Da-tô. Cái bản chất
này giống như một thứ bệnh ung thư đã ăn sâu vào xương tủy của
họ mà chúng tôi đã trình bày khá đầy đủ trong Chương 11 (Mục IV,
Phần II) trong bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội
La Mã này và đã được đưa lên
sachhiem.net trong tháng 9/2007 vừa qua.
Trở lại chuyện việc Giám-mục Lê Hữu Từ xin
chính quyền Việt Minh trả tự do cho ông Diệm, chúng ta biết rằng
truyền thống của Tổng Bộ Việt Minh, có nguyên tắc"tập đoàn
chỉ huy, cá nhân phụ trách". Vậy thì Cụ Hồ chỉ là người được
Tổng Bộ Việt Minh giao cho thi hành những chính sách hay những
quyết định đã có sẵn. Trong trường hợp Cụ Hồ vắng mặt, không ở
trong nước như trường hợp trên đây, thì người được ủy nhiệm thay
Cụ Hồ lúc đó là Cụ Huỳnh Thúc Kháng cứ việc thi hành theo chỉ
thị của Tổng Bộ Việt Minh. Do đó, việc thể theo lời thỉnh cầu
của Giám Mục Lê Hữu Từ trả tự do cho ông Diệm là do quyết định
của Tổng Bộ Việt Minh.
Lại nói về ông Diệm, được Việt Minh thả cho
về rồi, kể từ đó cho đến 1950, ông ta lăng xăng xuôi ngược hết
ra Bắc lại vào Nam, hết bay đi Hồng Kông lại trở về Sàigòn để
vận động và cổ võ cho con bài Bảo Đại vì Bảo Đại là con bài do
Giáo Hội La Mã chủ xướng. Con bài này được gọi là Giải Pháp Bảo
Đại đã được viên Khâm sứ đại diện của Tòa Thánh Vatican ở Huế là
Tổng Giám Mục Antoni Drapier đề nghị và công khai tuyên bố vào
ngày 28/12/1945. Lời tuyên bố này sẽ được ghi lại rõ ràng trong
một mục khác ở sau. Nhà viết sử Chính Đạo ghi nhận những hoạt
động của ông Diệm trong thời gian này như sau:
"Đầu năm 1947, Diệm ra Hà Nội, ngụy
trang như một tu sĩ dòng tu Cứu Thế được người Pháp yêu cầu lập
chính phủ Chống Cộng, Diệm đưa một kế hoạch không thể chấp nhận
được. Diệm còn xin gặp lãnh sự Mỹ ở Hà Nội. Trong thời gian ở
Hà Nội, ngụ tại tu viện dòng Cứu Thế ở Thái Hà ấp. Vào Sàgòn một
thời gian ngắn, từ 11/4 tới 5/9/1947, rồi trở ra Hà Nội.
21/12/1947: Cùng Nguyễn Văn Xuân và Trần
Văn Lý (Da-tô) qua Hồng Kông gặp Bảo Đại.
24/12/1947: Bảo Đại lên đường qua
Geneva. Diệm gặp Tổng Lãnh Sự Mỹ tại Hong Kong là George D.
Hopper, trình bày về nội tình VN và Giải Pháp Bảo Đại. Mục đích
chính của Diệm, theo Hopper, là xin viện trợ Mỹ. Tuy nhiên
Hopper chỉ ghi nhận mà không có ý kiến hay hứa hẹn gì. (Ngày
18/12/1947, Tổng Lãnh Sự Charles Reed đã từ Sài Gòn điện trước
cho Hopper rằng có thể Diệm sẽ ghé thăm.[FRUS, 1947, VI:152-5]).
26/12/1947: Từ Hong Kong trở lại Saigon.
2/1948: Qua Hong Kong lần thứ ba.
5/1949: Diệm từ chối thành lập chính
phủ; nêu lý do sợ giáo dân Ki-tô bị Việt Minh ám sát. Thực ra,
Diệm không thỏa mãn với Hiệp Ước 8/3/1949.
21/9/1949: Diệm về Huế sống ở nhà Ngô
Đình Cẩn."
2/8/1950: Trở lại Sàigòn sau một chuyến
dừng chân ngắn ở Đà Nẵng.
14/8/1950: Diệm cùng Thục rời Saigòn qua
Roma trên tầu La Marseillaise. Trạm đầu tiên ghé chân là Nhật…"[27]
Nhờ có đặc tính cuồng tín, tuyệt đối trung
thành với Vatican đúng như lời ông tuyên bố với các chính khách
Hoa Kỳ trong một bữa cơm chiều tại Khách Sạn Mayfolwer vào tháng
10 năm 1950 ở Washington D.C. rằng, "ông tin tưởng vào quyền
lực Vatican và ông chống Cộng cực lực"[28],
ông được Vatican hết sức tin dùng. Cũng vì thế, ông mới được
Vatican cho người dẫn dắt sang Mỹ giao cho Hồng Y Spellman lo
lót và vận độngchính quyền Hoa Kỳ đưa ông về Việt Nam cầm quyền
để làm tay sai cho Vatican trong sứ mệnh tiến hành kế hoạch
Ki-tô hóa Việt Nam theo tinh thần Sắc Chỉ Romanus Pontifex.
Sắc chỉ này được ban hành vào ngày 8/1/1454 trong thời Giáo
Hoàng Nicholas V (1447-1455) và nội dung của nó được Linh-mục
nói rõ ràng ở trong cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm.[29]
Lúc đó, cuối năm 1950, chính quyền Hoa Kỳ
còn đang bận rộn phải đối phó với cuộc chiến Triều tiên vừa bùng
nổ vào ngày 25/6/1950.
Hơn nữa, lại không có tín đồ Da-tô La Mã
nào nắm giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền của Tổng
Thống Truman để có tiếng nói nặng ký giúp Vatican trong nỗ lực
vận động đưa ông Diệm về Việt Nam cầm quyền. Vì vậy mà cả
Vatican và ông Diệm đều không được toại nguyện.
Tuy vậy, Toà Thánh Vatican vẫn không nản
lòng, vẫn ẩn nhẫn rình chờ cơ hội mới.
Đầu năm 1953, chính trường Hoa Kỳ đã xoay
chiều. Ngày 20/1/1953, chính quyền Cộng Hòa của Tổng Thống
Eisenhower bắt đầu nhậm chức. Trong chính quyền mới này, có ông
Da-tô La Mã John Foster Dules nắm giữ chức vụ Tổng Trưởng Ngoại
Giao, người em của ông là Allen W. Dulles nắm giữ chức vụ Giám
Đốc Cơ Quan Tình Báo Trung Ương (Central Intelligence Agency hay
CIA), tại Thượng Viện, có hai ông Da-tô La Mã là Thượng Nghị Sĩ
John F. Kennedy và Thượng Nghị Sĩ Mike Mansfield, tại Hạ Viện
có ông Dân Biểu Da-tô La Mã Walter Judd, và tại Tối Cao Pháp
Viện có ông Da-tô La Mã Thẩm Phán William O. Douglas. Thấy rằng
có nhiều tín đồ nắm giữ chức vụ quan trọng trong chính quyền Hoa
Kỳ lúc bấy giờ, Tòa Thánh Vatican lại tích cực vận động cả ở Mỹ
và ở Pháp để đưa ông Diệm về Việt Nam cầm quyền.
Sử gia Chính Đạo ghi lại sự kiện này như
sau:
"Ngày 7/5/1953: Diệm được mời tham dự
bữa ăn trưa tại Tối Cao Pháp Viện để thảo luận về vấn đề Đông
Dương. Có mặt: Thẩm phán Tối Cao W. O. Douglas, TNS Mike
Mansfield, TNS John Kennedy, Newton (thuộc Ủy Ban Dịch Vụ Những
Người Bạn Mỹ) Costello (thuộc công ty truyền thông CBS), Gullion
(cựu Tổng Lãnh Sự Sàigòn) Gene Gregory (Bộ Ngoại Giao) và một
người chưa rõ tên."[30]
"Ngày 30/5/1953: Do lời mời của giáo dân
Ki-tô Paris, Diệm rời New York trở lại Paris."[31]
Do áp lực của Hoa Kỳ và của Đảng Da-tô là
Phong Trào Cộng Hòa Bình Dân Pháp (MRP) của ông Da-tô Georges
Bidault, ngày 19/6/1954, Quốc Trưởng Bảo Đại ký Sắc Lệnh 38/QT
bổ nhậm ông Ngô Đình Diệm giữ chức vụ thủ tướng "với toàn quyền
quyết định về dân sự lẫn quân sự". Ngày 24/6/1954, ông đáp máy
bay từ Ba Lê về Sàigòn và ngày 7/7/1954, ông chính thức nhậm
chức.
Người Anh đã ghê tởm tín đồ Da-tô, cho nên
vào năm 1691, họ đã ban hành đạo lụât cấm, không cho một người
Anh nào là tín đồ Da-tô La Mã được lên cầm quyền. Sách Living
World History đạo luật này quy định rằng:
"Không có một tín đồ Ki-tô La Mã có thể
trở thành nhà lãnh đạo nước Anh. Như vậy là luật này loại hẳn
tất cả những người con và cháu của vua James Đệ Nhị với người vợ
thứ hai của nhà vua, không cho họ lên cầm quyền." Nguyên
văn: "A third measure, the Act of Settlement of 1691, provided
that no Roman Catholic could be ruler of England, automatically
excluding the descendants of James II by his second wife."[32]
Kể từ đó, không một người nào theo đạo
Ki-tô La Mã được đưa lên cầm quyền ở nước Anh và ảnh hưởng Giáo
Hội La Mã bị coi như là bị tiêu diệt hoàn toàn ở Anh quốc, mặc
dầu quốc gia này là một nước dân chủ tự do và tôn trọng quyền tự
do tôn giáo của tất cả mọi người dân.
Ấy thế mà vào thời điểm 1954 (so với thời
điểm nước Anh ban hành đạo luật Settlement of 1691 là 263 gần 3
thế kỷ sau), miền Nam Việt Nam lại bị Vatican và Hoa Kỳ cưỡng
bách phải chấp nhận ông Da-tô Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền.
Khốn nạn hơn nữa, là ông Diệm không phải là một tín đồ Da-tô
bình thường như Tổng Thống John F. Kenndy, mà là một tín đồ
Da-to siêu cuồng tín. Xin xem tiểu mục nói về đặc tính cuồng tín
của ông Diệm ở sau.)
Chủ trương của Hoa Kỳ là duy trì Việt Nam
mãi mãi ở trong chia đôi để biến miền Nam thành tiền đồn chống
Cộng ở Đồng Nam Á Châu, rồi lại cấu kết với Vatican để đưa ông
Diệm lên cầm quyền ở miền Nam Việt Nam với mục đích cùng thống
trị miền Nam. Sau khi đưa ông Diệm về Việt Nam cầm quyền, Hoa Kỳ
dồn nỗ lực vào ba mục tiêu:
1.- Vận động ngoại giao cho chính quyền
miền Nam. Hồi đó, thế giới đang ở trong thời kỳ Chiến Tranh
Lạnh, chia làm ba phe:
A.- Phe thân Tây Phương do Hoa Kỳ lãnh đạo.
Phe này còn được gọi là phe chống Cộng hay Thế giới tự do. Vì
thân Hoa Kỳ, cho nên các quốc gia trong phe này đều cộng nhận
chính quyền mỉền Nam.
B.- Phe các nước theo Xã Hội Chủ Nghĩa hay
Cộng Sản. Phe này do Liên Xô chỉ đạo. Tất cả các quốc gia thuộc
phe này đều công nhận chính quyền miền Bắc.
C.- Phe các quốc gia không liên kết. Phe
này còn được gọi lả các quốc gia trung lập hay thế giới thứ ba
mà phần lớn là các quốc gia vốn là cựu thuộc địa của các đế quốc
Âu Châu. Hầu hết các quốc gia này nếu không trực tiếp chịu ảnh
hưởng của Mỹ đều công nhận cả hai chính quyền miền Bắc và chính
quyền miền Nam. Trong phe này, quốc gia lớn nhất và có ảnh hưởng
quan trọng trên sân khấu chính trị thế giới là Ấn Độ, kế đến là
Nam Dương.
2.- Tổ chức lại đạo quân đánh thuê Việt Nam
do Pháp chuyển giao lại để phát triển thành đạo quân hùng mạnh
nhất Đông Nam Á Châu. Kể từ đó, quân đội miền Nam được huấn
luyện và tổ chức theo tiêu chuẩn Mỹ, được trang bị bằng vũ khí
Mỹ, được Mỹ trả lương cho quân lính và đài thọ tất cả các khoản
phí khác để chiến đấu cho quyền lợi của Mỹ, và đặt dưới quyền
chỉ đạo của các cố vấn Mỹ luôn luôn sát cánh với các sĩ quan chỉ
huy trưởng các đơn vị từ cấp trung đoàn trở lên (có khi ngay ở
các đại đội và tiểu đoàn cũng có các cố vấn Mỹ). Vì vậy:
A.- Mới có chuyện 3 cố vấn Mỹ chết và 8 bị
thuơng trong Trận Ấp Bắc:
"2/1/1963: MỸ THO: Trận Ấp Bắc.- Hai đại
đội VC giữ một ấp chiến đấu, khoảng 14 cây số Tây Bắc Mỹ-tho, và
35 dặm Tây Nam Sàigòn, khiến quân lực VNCH, có thiết vận xa
M.113, phi cơ, pháo binh, và quân số gấp 4 lần bị thiệt hại
nặng. Dù chết 19 chết, 33 bị thương, kể cả một đại úy và 1 trung
sĩ cố vấn Mỹ, 5 trực thăng bị bắn rơi. (FRUS 1961-1963, III:1-2;
Sheehan 1988, tr. 261-2)
Nguyễn Mạnh Quang
[Nguồn: http://sachhiem.net/NMQ/HOSOTOIAC/CH63_1.php,
re. điện thư
from
Hoang Thuc An
hoangthucan@gmail.com
to PhoNang@yahoogroups.com dateWed, Oct 29, 2008 at 2:03 AM
subject Cuoc doi TT Ngo Dinh Diem mailed-by gmail.com]
II - CỐ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH
DIỆM BÍ MẬT TIẾP XÚC VỚI CỘNG SẢN
VIỆT NAM
LÊ XUÂN NHUẬN
Đến nay
thì việc họ Ngô bắt tay với ông Hồ Chí Minh cộng-sản Bắc Việt
không còn là một nghi-vấn, như vài nhân-vật thân-Diệm trước đây
đã cố che-giấu vụ này (xin xem thêm phần "PhụLục1"
dưới cùng).
Theo Ông QUÁCH TÒNG ĐỨC
(Cựu Đổng Lý Văn Phòng của Tổng Thống
Ngô Đình Diệm):
Theo tiến-sĩ Lâm Lễ Trinh, cựu Bộ-Trưởng Bộ
Nội-Vụ dưới thời Đệ-Nhất Cộng-Hòa, trong bài “Mạn Đàm với cựu
Đổng-Lý (Văn-Phòng Tổng-Thống Ngô Đình Diệm) Quách Tòng Đức”
thì:
[Ông Ngô Ðình Nhu đã tìm cách thương-lượng
với Bắc Việt để loại ảnh-hưởng của Hoa Kỳ. Ông Nhu đã mời
Manelli, Trưởng Phái-Đoàn Ba Lan trong Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát
Đình-Chiến để nhờ liên-lạc với Hà Nội qua Ðại-Sứ Pháp là Roger
Lalouette đưa đề-nghị mở cuộc tiếp-xúc giữa 2 bên. Bắc Việt
chấp-nhận ngay. Ông Nhu giả vờ đi săn với ông Cao Xuân Vĩ ở Cao
Nguyên rồi nửa đường rẻ xuống vùng Tánh Linh ở Phước Tuy để gặp
đại-diện của Bắc Việt. Cụ Cao Xuân Vĩ đã xác-nhận điều này.
Trong cuộc gặp-gỡ, 2 bên đồng ý tái-lập trước tiên về liên-lạc
bưu-điện và sau đó về giao-thương để tiến tới thống-nhất đất
nước trong hòa-bình. Sau cuộc tiếp-xúc đó, ông Nhu cố ý tiết-lộ
nội-dung cuộc tiếp-xúc cho báo-chí biết để ngầm thông-báo cho
Washington.
Ông Quách Tòng Đức xác-nhận là “chính ông
Nhu có đề-cập đến chuyện này trong vài phiên nhóm với tướng-lãnh
tại Bộ Quốc-phòng và ngày 23.7.1963 tại suối Lồ Ồ khi nóí chuyện
với các cán-bộ xây-dựng Ấp Chiến lược khoá 13.”
Một nguồn tin khác cho biết ông Nhu xử dụng
trung gian cuả bốn đại sứ: Roger Lalouette (Pháp), d’Orlandi
(Ý), Goburdhun (Ấn Độ) và Manelli (Ba Lan), (hai ông sau là
thành viên của Ủy ban Quốc tế kiểm soát đình chiến) cũng như
Tổng lãnh sự Pháp ở Bắc Việt Jacques de Buzon, để liên lạc với
Hànội. Ông QTĐ nói có nghe dư luận này nhưng không bieát rỏ chi
tiết. Ông cũng có nghe xầm xì rằng ông Nhu đã gặp một
đại diện Văn phòng Chính trị CS (Phạm Hùng?) trong lần đi săn
tại Quận Tánh Linh, Bình Tuy.
Song song với sự tiết-lộ của ông Nhu,
Tổng-Thống Pháp De Gaulle lên tiếng kêu gọi loại bỏ “ảnh-hưởng
ngoại-quốc” ra khỏi VN, còn Hồ Chí Minh lên tiếng nói rằng "một
cuộc ngưng bắn có thể được 2 bên thỏa-thuận.”
Ông Nhu đã hội kiến với Maneli lần đầu vào
ngày 25/8/63 tại Bộ Ngoại giao VNCH và kế đó là vào ngày 2/9/63
tại phòng đọc sách của ông (“War of the Vanquished”, Mieczyslaw
Maneli).
Ông Quách Tòng Đức xác-nhận: một Tết
Nguyên-Đán trước 1963, một cành đào đỏ lộng-lẫy được trưng-bày
nơi phòng khánh-tiết Dinh Độc-lập với tấm thiệp in tặng của “Chủ
tịch Nhà nước Cọng hoà Xã hội Miền Bắc”. Ông Đức kết-luận:
“hành-động độc-lập (không cho Mỹ biết) của ông Nhu đã làm
Washington tức-giận hơn. TT Kennedy bật đèn xanh cho Lodge
tiến-hành cuộc đảo-chánh nhanh chóng hơn."
Theo một tài-liệu cho là di-chúc của Hồ Chí
Minh, thì: “Ðầu năm 1963, hồi đó tôi (Hồ Chí Minh) còn chưa bị
bọn quanh tôi bao vây chặt-chẽ quá, tôi có nhờ mấy nhân-viên
Ủy-Hội Kiểm-Soát Quốc Tế Ðình-Chiến chuyển vào Nam bộ hai cành
đào lớn rất đẹp để tặng cụ Ngô đình Diệm, kèm theo một bức thư,
trong thư đó, tôi có chân tình yêu cầu cụ Ngô cùng tôi thảo luận
trong tình anh em, để hai bên cùng lo cho dân chúng hai miền,
trên căn bản thi đua làm cho dân giàu, nước mạnh, theo đường lối
riêng của từng người. Truyện này lộ ra, làm cụ Ngô bị giết
trong Nam.”]
۞
Ta thử so-sánh giữa 2 con đường, vì chỉ có
2 con đường mà thôi:
- Con đường thứ nhất là tạm uyển-chuyển
nhường-nhịn Đồng-Minh Hoa-Kỳ để đạt thắng-lợi diệt Cộng, rồi sẽ
tranh-đấu giành lại thế mạnh của mình, một việc dễ làm đối với
chú Sam trong bối-cảnh khai-phóng của Thế-Giới Tự-Do. Về điểm
này, ông Hồ Chí Minh có một câu nói để đời. Năm 1946, họ Hồ
rước Pháp, đuổi Tàu; được hỏi, ông trả lời: “Tôi thà chịu ngửi
cứt Tây 5 năm, còn hơn phải ăn cứt Tàu suốt đời”. Ông
giải-thích thêm: “Pháp là ngoại-bang, ở xa, sẽ cút; còn Tàu,
láng-giếng, sẽ ở lại luôn”. Vậy ta cũng có thể nói: “Mỹ là
ngoại-bang, ở xa, sẽ rút; còn Cộng, nội-thù, sẽ diệt chúng ta.”
- Con đường thứ hai là chịu hòa-giải
hòa-hợp với họ Hồ (nghĩa là nạp mạng cho địch) để rồi nếu không
bị họ thảm-sát như các nhân-vật Quốc-Gia trong vụ Ôn Như Hầu
(CSVN bất-thần tấn-công vào trụ-sở VN Quốc Dân Đảng ở Hà Nội
trong đêm 27-6-46 thảm-sát hầu hết các lãnh-tụ các đảng-phái
đối-lập) thì cũng trở thành bù-nhìn tay-sai cho họ nuốt gọn Miền
Nam; nhưng đã vào tròng cộng-sản độc-tài thì khó lòng mà tháo
cũi sổ lồng.
Ông Diệm đã chọn con đường thứ hai.
Mãi đến hôm nay, có người vẫn cho con đường
thứ nhất là sai (nghĩa là bị Mỹ cướp hết, hoặc đa-số, quyền-lợi
của quốc-gia mình.Vậy thì Nhật-Bản, Tây-Đức, Nam-Hàn (ngay cả
Pháp nữa)... thì sao? họ cũng bị Mỹ "chèn-ép" lúc đầu, sao họ
trở nên giàu mạnh từ bao lâu nay?
Thử hỏi: một người dân Việt miền Nam nào đó
mà có lời-lẽ hoặc cử-chỉ cho là xúc-phạm đến Ngô Tổng-Thống thì
người đó có yên thân hay không, huống gì tự ý hành-động
(độc-lập) ra ngoài chính-sách đường-lối của gia-đình họ Ngô thì
bị mất mạng là chuyện tất-nhiên. Vậy thì, khách-quan mà nói, họ
Ngô đơn-phương thương-lượng với kẻ thù chung là cộng-sản Bắc
Việt mà không hội-ý với Mỹ trước (điều mà Đồng-Minh cần làm với
nhau), lại với ý-đồ đầu-hàng cộng-sản, loại bỏ ảnh-hưởng của Hoa
Kỳ, tức là phản bội Đồng Minh, thì có lẽ nào Hoa-Kỳ khoanh tay
chịu đựng hay sao? (Huống chi then-chốt vẫn là lòng dân miền
Nam Việt-Nam).
Phản-bội Đồng-Minh tức cũng đồng-thời
phản-bội cử-tri, ân-nhân, và chí-hữu của mình.
Lê Xuân Nhuận
Phụ chú:
Vị nào muốn tin là cố Tổng-Thống
Ngô Đình Diệm, nếu không bị giết, có thể giữ vững Miền Nam; và
ông Hồ Chí Minh thật lòng khen ngợi, muốn "sống chung hòa-bình"
với ông Ngô Đình Diệm, cùng thành-tâm tiếc-thương khi ông Diệm
chết (chuyện này do một đồ-đệ của họ Ngô bịa ra), xin mời
đọc bài của Lê Chân-Nhân (một bút-danh khác của Lê Xuân Nhuận)
đã được phổ-biến trên các diễn-đàn liên-mạng mấy năm vào cuối
thế-kỷ thứ 20:
۞
Giã-Từ Thế-Kỷ Hai Mươi:
CỐ TỔNG-THỐNG NGÔ ÐÌNH DIỆM MUỐN DÂNG MIỀN NAM VIỆT-NAM CHO CỘNG-SẢN
BẮC-VIỆT
Trước khi giã-từ Thế-Kỷ 20, tôi tưởng chúng
ta cũng nên thử tìm giải-đáp cho một thắc-mắc vẫn còn tồn-đọng
từ thập-niên '60 của Thế-Kỷ 20:
1/ Cứ theo nhiều người (trong đó có tôi)
thì chúng ta phải đặt chủ-quyền quốc-gia lên trên hết; nói cách
khác, vì tinh-thần dân-tộc, chúng ta không chấp-nhận để cho
ngoại-bang lấn-lướt quyền quyết-định việc nước của chúng ta. Do
đó, việc cố Tổng-Thống Ngô Ðình Diệm chống lại Hoa-Kỳ trong
dự-định đổ thêm nhiều quân vào VNCH (Mỹ-hoá chiến-tranh
Việt-Nam) là một việc đúng.
2/ Cứ theo một số nhân-vật Hoa-Kỳ (trong
đó có cựu Bộ-Trưởng Quốc-Phòng McNamara, cựu Ngoại-Trưởng Henry
Kissinger) thì Mỹ không nên tán-đồng hay nhúng tay vào việc lật
đổ chế-độ Diệm, và họ rất tiếc là Hoa-Kỳ đã làm như thế.
3/ Một số nhân-vật Quốc-Gia thân-Diệm dựa
vào các ý-kiến trên của phiá Hoa-Kỳ để khẳng-định rằng nếu không
có cuộc chính-biến 1-11-1963, nghiã là nếu cố Tổng-Thống Diệm
vẫn còn sống và tiếp-tục lèo-lái công-cuộc chống Cộng của
quốc-dân Việt-Nam (bất-chấp thời-lượng nhiệm-kỳ, từ 1955 đến
1975 là 20 năm!), thì Việt-Nam Cộng-Hoà hẳn vẫn còn tồn-tại và
phát-triển, giàu-mạnh chứ không sụp-đổ như vào Tháng Tư Đen năm
1975.
4/
Thế nhưng, nếu ta đọc hết và đọc kỹ các ý-kiến của Mỹ chống
việc chống Diệm, nghiã là ước chi Hoa-Kỳ hồi đó không gia-tăng
lực-lượng và hoạt-động quân-sự mà cứ để cho ông Diệm trực-tiếp
tiếp-xúc với Bắc-Việt để cả hai miền Nam Bắc cùng tự giải-quyết
vấn-đề nội-bộ Việt-Nam với nhau, thì ta thấy rằng các nhân-vật
Mỹ tên-tuổi kể trên đã lý-luận khác hẳn, về kết-quả của việc ông
Diệm bắt tay với Bắc-Việt: Không phải là VNCH vẫn còn đứng
vững, mà là Bắc-Việt “thống-nhất Việt-Nam” (nuốt chửng Miền Nam)
sớm hơn, chiến-tranh Việt-Nam chấm dứt sớm hơn, và, quan-trọng
hơn hết là, Mỹ đã có thể tránh được thiệt-hại lớn-lao (về
vật-chất là lên đến hơn năm-vạn-tám mạng ngưòi, và trăm-tư-tỷ
đô-la; và về tinh-thần là ô-danh bại-trận, thay vì “được” ông
Diệm – ông Diệm sau ngày thỏa-hiệp với CSVN -- yêu-cầu rút ra,
rút ra trong danh-dự - xem
Phụ-Lục 2).
5/ Có một số người vẫn còn tin rằng: nếu
để cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm toàn-quyền và tự-lực lo lấy, thì
Mỹ đã khỏi tổn-thất như trên, mà Việt-Nam cũng đã thoát được các
thảm-cảnh đã xảy ra, nhất là không bị cộng-sản tràn ngập.
Vấn-đề tôi xin đặt ra hôm nay là: Về phiá cộng-sản thì họ đã có
quyết-tâm và kế-hoạch thôn-tính Miền Nam (qua việc cài lại
cán-bộ nằm vùng tại Miền Nam sau Hiệp-Định Geneva 1954, nhất là
qua Nghị Quyết 15 đầu năm 1959 chủ-trương bạo-lực cách-mạng
giải-phóng Miền Nam khiến Tổng-Thống Diệm phải ban-hành Luật
10-59, cụ-thể là việc thành-lập "Mặt Trận Giải-Phóng Miền Nam"
từ năm 1960) với sự viện-trợ tối-đa của Khối cộng-sản quốc-tế;
về phía Hoa-Kỳ thì họ hẳn thấy chỉ dùng chính-trị, kinh-tế,
ngoại-giao... thì vẫn chưa đủ, nên phải dùng đến quân-sự (đổ
thêm quân vào Việt-Nam). Vậy thì, về phiá VNCH, nghiã là về
phần cố Tổng-Thống Diệm, - người đã tin dùng cán-bộ tình-báo
chiến-lược Vũ Ngọc Nhạ của Bắc-Việt làm cố-vấn cho mình, cùng
với nội-tuyến-viên Phạm Ngọc Thảo được Tổng-Giám-Mục Ngô Đình
Thục nhận làm con nuôi - “chúng ta” làm cách thế nào mà thắng
cộng-sản (ít nhất thì cũng còn nguyên, không bị cộng-sản lấn
chiếm) khi mà cộng-sản chắc-chắn là quyết tiến lên, Hoa-Kỳ rút
ra, phủi tay, không còn phối-hợp và yểm-trợ về quân-sự, dĩ-nhiên
giảm-thiểu nếu không cắt hết viện-trợ kinh-tế và các mặt khác,
trong lúc chúng ta không được nước ngoài giúp đỡ (Mỹ mà rút đi
thì ai mà chịu nhảy vào?), thua sút Cộng-Sản cả về dân-số,
quân-số, vũ-khí, tiếp-liệu, viện-trợ, khả-năng tự-túc, nhất là
đoàn-kết và ổn-định nội-tình?
LÊ CHÂN-NHÂN
۞
Ông Hồ Chí Minh trả lời phái-bộ ngoại giao
Ấn-Độ rằng "He is a patriotic man”: ông Ngô Đình Diệm là một
người yêu nước (Cũng như sau này - thật không? - họ Hồ tỏ ý
thương tiếc trước cái chết của họ Ngô). Câu nói (khen) cuả họ
Hồ đối với họ Ngô chỉ là một câu nói "chính trị", và "ngoại
giao".
Ông Hồ Chí Minh cần (tự) đánh bóng thêm con
người của mình, nên phải học đòi nói-năng lịch-sự, nhất là khi
nói với một nhà ngoại-giao nước ngoài.(Ngày xưa, bên Tàu, tướng
của phe này bắt được tướng của phe kia, đã công-khai khen
tài-năng & tiết-tháo của kẻ thù, rồi mới ra lệnh chém đầu!)
Quan-trọng hơn hết, ông ấy còn mong thuyết-phục ông Ngô Đình
Diệm chịu tổ-chức tổng-tuyển-cử, và xa hơn nữa là chịu "về" với
mình, thì không lẽ chê-bai người ta để rồi mình lại sẽ ngồi
chung bàn hội-nghị, ký chung văn-bản với người ta? hoặc giả mình
sẽ thu-dụng người ta làm người hợp-tác với mình?
Câu nói (khen) cuả ông Hồ Chí Minh về ông
Ngô Đình Diệm thật ra là một câu nói cố ý "giết người".
a)Trước ông Ngô Đình Diệm: vào các năm
1945 và 1946, ông Hồ Chí Minh đã "khen" các ông Nguyễn Hải Thần,
Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam... nồng-nhiệt đến mức nào để các
ông ấy chịu đứng chung vào "Chính-Phủ Liên Hiệp" do ông Hồ Chí
Minh làm Chủ Tịch; để rồi sau đó, may mà họ trốn kịp chứ không
thì họ cũng đã bị giết cùng với các nạn-nhân khác trong vụ Ôn
Như Hầu rồi.
b) Sau ông Ngô Đình Diệm: vào các năm
1973, 1974, và đầu năm 1975, ông Hồ Chí Minh (qua các lãnh-tụ
Đảng thừa-kế chủ-trương đường-lối cuả mình) đã "khen" ông Dương
Văn Minh ngon-ngọt đến mức nào (Hà Nội tuyên bố chỉ nói chuyện
với ông DVM mà thôi, tức là công-nhận ông nầy là một "nhà yêu
nước") để ông Dương Văn Minh sa vào bẫy, nhận chức Tổng-Thống
miền Nam trong tình-hình đã nát bét vô-phương cứu-chữa rồi, tức
là giết chết ông ấy, vì đầu-hàng tức là tự-sát (thân-bại
danh-liệt, chết cả về mặt tinh-thần).
c) Đối với ông Ngô Đình Diệm: ông Hồ Chí
Minh biết chắc là những gì đại-sứ Ấn Độ nói với, và những gì ông
này nghe từ, ông Hồ Chí Minh, đều sẽ lọt vào tai CIA (Ấn Độ
trung-lập nghiã là "đu dây" giữa cộng-sản và tư-bản, chứ không
phải thuần-túy thân cộng-sản). Trong trại "cải-tạo", tôi có đọc
một cuốn sách dịch từ tác-phẩm của Liên-Xô, kể thành-tích Liên
Xô (chỉ một mình Liên Xô mà thôi) đánh thắng Đức Quốc-Xã, và
(cũng chỉ một mình) Liên Xô lôi được Đức Quốc-Xã ra Toà-Án Quốc
Tế, tác-giả đã để lộ ra là hầu hết phương-tiện tổ-chức TAQT, kể
cả từng chiếc xe Jeep cho các sĩ-quan Liên Xô đi, từng vật-phẩm
văn-phòng, v.v... đều do Hoa Kỳ cung-cấp. Trong chiến-tranh
Việt-Nam cũng thế, sau 1954 với Ủy-Hội Quốc Tế Kiểm-Soát Đình
Chiến, là 1973 với Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát Và Giám-Sát Ngưng
Bắn gồm Ba Lan, Hung Ga Ri, Iran, và Canada (sau đó thì
Indonesia thay thế) cũng như Ban Liên-Hợp Quân-Sự 4-Bên rồi
2-Bên (có Cộng-Sản Bắc-Việt và MTGPMN trong đó), tất cả trụ-sở
làm việc, phương-tiện di-chuyển (như tàu bay, xe hơi), tài-xế,
công-nhân, thậm chí lương-thực, v.v... đều do Hoa Kỳ đài-thọ.
Dĩ-nhiên tai + mắt cuả CIA đã được gài vào (xem hồi-ký Cảnh
Sát Hóa của Lê Xuân Nhuận).
Ông Hồ Chí Minh lại còn công-khai gửi vào
miền Nam biếu ông Ngô Đình Diệm một cành hoa đào để chúc Tết
nữa!
Do đó, ông Hồ mà "khen" (và làm thân với)
ông Ngô là một câu hỏi mà CIA cần tìm câu trả lời.
Rốt cuộc, ông Ngô Đình Diệm đã mắc mưu ông
Hồ Chí Minh, tìm cách lén-lút liên-lạc với đối-phương, và bị CIA
biết được, nên đã đánh mất tín-nhiệm và hậu-thuẫn cuả Hoa-Kỳ,
kết-quả là cái chết.
(Về phiá nội-bộ Miền Nam, chế-độ Ngô Đình
Diệm đã đánh mất lòng dân, nhiều nhất là kể từ đầu thập-niên
'60, cụ-thể với vụ 18 nhà chính-trị trong đó có đến 11
Tổng-Trưởng, Bộ-Trưởng cuả chính Đệ-Nhất Cộng-Hoà họp tại nhà
hàng Caravelle ra Tuyên-Ngôn đòi ông NĐD thay-đổi chính-sách vào
tháng 4-1960, cuộc đảo-chính hụt ngày 11-11-1960, vụ ném bom
Dinh Độc-Lập đầu năm 1962, rồi đến việc cấm treo cờ Phật-Giáo
vào ngày lễ Phật-Đản, nổ chết người tại Đài Phát-Thanh Huế tối
8-5-1963, tổng-tấn-công chuà-chiền đêm 20-8-1963, rồi Hoà-Thượng
Thích Quảng-Đức (và các vị khác) tự-thiêu, Phật-Tử khắp nơi
xuống đường, v.v... Chính ông + bà Trần Văn Chương, Đại-Sứ tại
Mỹ và Quan-Sát-Viên tại Liên-Hiệp-Quốc, là cha + mẹ đẻ của bà
Ngô Đình Nhu, thạc-sĩ Vũ Văn Mẫu, Ngoại-Trưởng và là
cộng-sự-viên lâu năm nhất của Tổng-Thống Diệm, mà cũng
quyết-liệt chống lại chế-độ họ Ngô. Đó là những tín-hiệu, những
cảnh-báo trước, từ phía người dân Miền Nam.
Hoa-Kỳ đã thấy rõ tính-chất độc-tài hại dân
của tập-đoàn họ Ngô và tinh-thần đối-kháng của sĩ-phu và
quần-chúng Việt-Nam từ lâu, cũng như biết trước về dự-mưu
đảo-chính của số tướng VNCH liên-hệ từ nhiều năm qua.Thế nhưng
mãi đến tháng 9-1963 Tổng Thống Kennedy mới trả lời báo-chí rằng
muốn chiến-thắng Việt-Cộng thì phải thay-đổi chính-sách và
nhân-sự cuả chính-phủ Ngô Đình Diệm, và đại-sứ Henry Cabot Lodge
mới trực-tiếp đề-nghị Tổng-Thống NĐD cải-tổ (nhưng ông Diệm vẫn
không nghe theo!).
Như thế, thái độ và quyết định cuả Hoa Kỳ
tùy-thuộc rất nhiều vào lòng dân Miền Nam Việt-Nam.
LÊ CHÂN-NHÂN
Phụ-Lục 1:
1-Theo ông NGUYỄN HƯNG ĐẠT
(Cựu đảng-viên cao-cấp Cộng-Sản Việt-Nam,
Moscow):
"Vì Mỹ muốn đổ quân vào, nên để thương
thuyết, cụ Hồ đã thông qua Đại tá Phạm Ngọc Thảo liên hệ với cố
Tổng thống Ngô Đình Diệm cho Đặc phái viên đặc biệt, Tướng
Nguyễn Tài - Thứ trưởng Bộ Công An (chứ không phải Nội vụ) của
chính phủ VNDCCH đến Sài Gòn. Ông Tài là em ruột nhà văn nổi
tiếng Nguyễn Công Hoan. Nhân chứng Đại tá Thảo nói rõ với ông
Diệm mình là người CS trước lúc môi giới thương thuyết. Tướng
Huỳnh Văn Cao (trong hồi ký Một Kiếp Người) đã viết :
‘Trung Tá Phạm Ngọc Thảo, hiện là sĩ quan của Miền Nam, diện hồi
chánh, nhưng đã từng là bạn thân của Lê Duẩn, ngày đám cưới của
Thảo tại Thiên Hộ Đồng Tháp thì Lê Duẩn đã đích thân đến dự. Khi
tôi còn là Tư Lệnh Sư Đoàn 7 kiêm Khu Chiến Tiền Giang thì Thảo
làm Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Kiến Hòa, người được Tổng
Thống Diệm tin cậy. Trong những giây phút thân tình, Thảo đã thỏ
thẻ với tôi: "Nếu Đại Tá Tư Lệnh muốn quen biết với ông Lê Duẩn
thì tôi có thể sắp xếp được." Cho nên đã có lần tôi thưa với cụ
Diệm: "Sao Cụ cứ để Trung Tá Thảo làm Tỉnh Trưởng Kiến Hòa lâu
vậy, Cụ không sợ Thảo rủ rê cháu theo Cộng Sản hay sao?" Cụ
Diệm đáp lại: "Ừ, để xem đứa nào rủ được đứa nào?" Lúc ấy, tôi
đã hiểu là Tổng Thống Diệm tin chắc không thể nào Thảo rủ rê tôi
được, nhưng đồng thời có nghĩa là Tổng Thống Diệm biết rõ Thảo
là Cộng Sản’.
Ông Diệm cho ông Tài ở ngay bên cạnh mình
trong Dinh Gia Long. Nhân vật mà Thiếu tướng Đỗ Mậu, Phụ trách
An ninh Quân đội, viết (trong hồi ký Làm Thế Nào Để Giết Một
Vị Tổng Thống là những nhân vật cao cấp cuả Chính phủ có
thấy một người mang một lá cờ đỏ sao vàng nhỏ bằng con tem trên
ve áo, chính là người này. Ông Nguyễn Tài bị bắt ngay sau Đảo
chính 11.1963, bị biệt giam đến cuối tháng 4.1975, may nhờ một
hạ sỹ không theo lệnh chỉ huy ném lựu đạn vào xà lim. Anh này
báo với Ủy ban Quân quản đến cứu con người liệt hai chân này.
Tết Việt nam 1963, thông qua Ủy hội Quốc
tế, chủ tịch Hồ Chí Minh gửi mang vào tặng Tổng thống Ngô Đình
Diệm một cành đào. Tiếc thay,vì không thay đổi được lập trường
thoả hiệp với CS mà Mỹ giết ông Diệm. Nhà độc tài Pinochett
không bị giết vì không làm điều này. (trong bài viết Tiểu sử
cuả Cụ Hồ Chí Minh cần phải được xem xét lại – BBC
05-05-2005)
2-Theo ông NGÔ KỶ
(Ký-giả):
(Tháng 9 năm 1963) .... Trong thời điểm
này, Hoa Thịnh Đốn bất mãn việc Pháp đứng làm trung gian giải
quyết chiến tranh Việt Nam.
Đại Sứ Pháp đến miền Nam Việt Nam thảo luận
bí mật với Hồ Chí Minh và Tổng Thống Diệm qua trung gian của
người Ba Lan tên Mieczyslaw Maneli, thành viên Polish Member of
the International Control Commission, cơ quan này được thiết lập
để quan sát Hiệp Định Genève. Trong suốt nhiều tháng, Maneli qua
lại Sài Gòn - Hà Nội nhiều lần để tìm giải pháp thương thảo.
Vào tháng 07 năm 1963, Bắc Việt đồng ý căn
bản là lập chính phủ Liên Hiệp cầm đầu bởi Tổng Thống Diệm để
miền Nam trở thành trung lập. Họ muốn Mỹ phải rút quân.(trong
bài Khui hồ sơ "Tối Mật": Mỹ chủ mưu thanh toán anh em Tổng
Thống Ngô Đình Diệm)
3-Theo ông VIỆT THƯỜNG
(Cựu đảng-viên cao-cấp Cộng-Sản
Việt-Nam):
"... Nguyễn công Tài đã dành nhiều thời
gian để nghiên cứu hàng núi hồ sơ về gia đình nhà ông Ngô Đình
Diệm và những người kế cận, cũng như những người đối lập. Tài
liệu cập nhật từ nhiều nguồn, nhưng phần đóng góp của nội gián
Phạm ngọc Thảo là rất quan trọng. Làm sao phải chọn người tiếp
xúc thật đúng mà lại bảo toàn bí mật. Cuối cùng, sau nhiều ngày
đêm suy nghĩ, Nguyễn công Tài đã lựa nhân vật Mã Tuyên, người
Tàu ở Chợ-lớn đang làm công việc kinh tài cho gia đình ông Ngô
Đình Diệm.
Thông qua dịch vụ buôn bán táo bạo, Nguyễn
công Tài đã tiếp xúc trực tiếp được với Mã Tuyên. Và, cái thời
điểm để đưa ý kiến cho Mã Tuyên "gợi ý" với anh em ông Ngô Đình
Diệm là sau tháng 2-1962, sau cái ngày mà hai trung uý của quân
đội ông Diệm là Phạm Phú Quốc và Nguyễn văn Cử ném bom dinh Độc
Lập làm đảo chính. Sự việc của hai trung uý Phạm Phú Quốc và
Nguyễn Văn Cử tuy không thành công nhưng nó lại là lý do hợp
thời để Nguyễn Công Tài làm cuộc tiếp xúc với anh em ông Diệm,
Nhu thông qua thương gia người Tàu ở Chợ-lớn là Mã Tuyên. Tín
hiệu có thuận lợi. Quả nhiên ông Nhu nhận sự tiếp xúc một cách
thận trọng và kéo dài thời gian để mặc cả cho cái giá đi đêm.
Nguyễn công Tài có nhận xét là anh em ông Diệm, Nhu tuy học ở
Pháp và Mỹ về nhưng óc bài ngoại cực đoan như "Tự Đức" và cũng
có mộng Việt Nam sẽ gồm cả Miên và Lào và phải là cường quốc ở
châu Á.
Sự việc tin đi mối lại chỉ dừng ở đó. Phải
cho đến lúc được phép của ông Line, Nguyễn công Tài cung cấp cho
ông Nhu một số tài liệu chứng minh người Mỹ muốn lưu lại ông
Diệm còn vợ chồng ông Nhu phải đi lưu vong nước ngoài, cũng như
họ trước sau cũng buộc ông Diệm phải từ bỏ chế độ độc tài, gia
đình trị, phải chia quyền lãnh đạo cho các đảng phái cũng như
phải có chính sách bình đẳng tôn giáo. Ông Nhu chấp nhận một
cuộc gặp gỡ với phái viên đặc biệt của ông Line. Có thể đây chỉ
là giải pháp phòng ngừa mà cũng có thể ông Nhu muốn hiểu rõ hơn
ý đồ của địch. Những điều này còn là bí ẩn đi theo ông Nhu xuống
tuyền đài.
Phạm Hùng nhận những chỉ thị toàn quyền
hành động từ ông Line tại phủ toàn quyền Đông Dương ở Ba-Đình
(Hà-nội) và cấp tốc đi Nam bằng cả ba thứ phương tiện: thủy, bộ
và hàng không.
Đầu tháng 2-1963, cuộc họp "bí mật" giữa
ông Ngô Đình Nhu và Phạm Hùng diễn ra tại một địa điểm kín đáo ở
quận Tánh Linh, tỉnh Bình Tuy. Trong cuộc họp này có cả Nguyễn
công Tài cũng được dự. Khi chia tay, cả hai bên đều hỷ hả. Nội
dung cuộc họp vẫn còn nằm trong bí mật cho đến nay.
Đầu tháng 11-1963, các tướng trong quân đội
của ông Diệm làm đảo chánh thành công. Anh em ông Diệm, Nhu theo
đường hầm trốn vào Chợ-lớn ở nhà Mã Tuyên. Phải chăng hai anh em
ông Diệm, Nhu định chờ người của Phạm Hùng và Nguyễn công Tài
đến đón ra bưng biền?
Người duy nhất còn lại là Nguyễn công Tài,
sau này "tình cờ" làm cái việc xét căn cước, cảnh sát của miền
Nam đã bắt được Nguyễn công Tài. Người Mỹ đã cho giam Nguyễn
Công Tài ở Bạch Đằng (Sài-gòn), cho hưởng mọi tiện nghi vật chất
rất cao và cũng được ngồi xe hơi (tất nhiên có bảo vệ) đi "tham
quan" phố xá Sài-gòn. Đến 1975, trước khi đứt phim miền Nam, Mỹ
đã thả Nguyễn công Tài ra...
4-Theo ông QUANG PHỤC
(Ký giả, chủ nhiệm “Góp Gió”):
Chúng tôi nhận định rằng chính gia đình ông
(Ngô Đình Diệm), cụ thể là ông bà Ngô Đình Nhu, và Đảng Cần Lao
của ông ta đã làm hại ông, khi âm mưu thỏa hiệp với CS Hà Nội từ
năm 1958 khi ra lệnh cho các Tỉnh trưởng ngưng bắt các cán bộ
cộng sản và thu hồi vũ khí tự động của Bảo An, Dân Vệ, thay vào
đó bằng súng mousqueton và dao găm.” (Hồi ký Công và Tội
của Nguyễn Trân, trang 269)
(trích từ cuốn “Hãy Trả Lại Sự Thật cho
Lịch Sử” của Quang Phục Võ Văn Sáu, 2004, trang 39)
5-Theo Trung Tướng HUỲNH VĂN CAO:
“Đọc hồi ký Một Kiếp Người của Trung
tướng Huỳnh Văn Cao, tới đây thì vấn đề ông Nhu có liên hệ với
CS không cần bàn cãi nữa. Cả tướng (Trần Văn) Đôn, tướng Huỳnh
Văn Cao và Nha An Ninh Quân Đội của Đại tá Đỗ Mậu đều báo cáo
(rằng) Đại tá Phạm Ngọc Thảo là VC nằm vùng, nhưng cả 2 ông
Diệm và Nhu lẫn cha Thục vẫn cứ cố ý bảo vệ cho Thảo. Trong hồi
ký Một Kiếp Người của Huỳnh Văn Cao cho biết Đ/tá Thảo
còn dám cả gan “móc nối” ông Cao (lúc còn Đại tá), đòi giới
thiệu để ông Cao làm quen với Tổng bí thư Lê Duẫn, các sĩ quan
dưới quyền ông Cao rất tức giận vì biết Thảo là VC nằm vùng, đòi
giết Thảo (các trang 79-80). Ông Nhu nghe Thảo báo cáo bèn dọa
“Kẻ nào đụng tới Thảo (tôi) sẽ bỏ tù rục xương” (trang 90).
Đồng thời, nơi trang 84, Tướng Huỳnh Văn Cao còn cho biết cả Đại
tướng Harkins cũng nghi ngờ TT Diệm. Bởi vì cuộc hành quân nào
của QLVNCH sắp mở ra mà báo cho Tổng Thống phủ thì VC đều biết
trước! Cho thấy người Mỹ, CIA đã biết và theo dõi bám sát ông
Ngô Đình Nhu từ lâu. Và người Mỹ nhiều lần đòi Tổng Thống Diệm
loại trừ ông Nhu. Các tướng lãnh cũng đòi loại trừ ông Nhu
nhưng ông Diệm cương quyết giữ ông Nhu! (trích từ hồi ký Một
Kiếp Người của tướng Huỳnh Văn Cao - theo Quang Phục trong cuốn
Hãy Trả Lại Sự Thật cho Lịch Sử của Quang Phục Võ Văn Sáu, 2004,
trang 30)
6-Theo NEW YORK TIMES và THE WASHINGTON
POST:
Hồ sơ tối mật của Ngũ Giác Đài: Người Mỹ
Làm Thế Nào Để Giết Tổng Thống Việt Nam? Ba tác giả Lan Vi,
Hồng Hà và Dương Hùng đã sưu tầm, phiên dịch các bài báo đăng
trên 2 tờ báo kể trên, trong đó có tiết lộ về những cuộc thảo
luận bí mật giữa Tổng Thống Diệm và Hà Nội đằng sau lưng người
Mỹ...
(trích từ cuốn Hãy Trả Lại Sự Thật cho
Lịch Sử của Quang Phục Võ Văn Sáu, 2004, trang 41)
7-Theo Trung Tướng TÔN THẤT ĐÍNH
(Cựu Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ, Thượng Nghị Sĩ
VNCH):
Trong khi đó, Tổng Thống Ngô Đình Diệm và
ông Ngô Đình Nhu lại phạm vào một lỗi lầm ngoại giao to lớn là
khước từ sự giúp đỡ về an ninh của Đại Sứ Mỹ Cabot Lodge, chạy
vào nhà Mã Tuyên là Trung Tâm Liên Lạc xưa nay của ông Nhu với
Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Không phải cuộc binh biến 1-11-63
đã đưa đến cuộc thảm sát 2 ông, mà chính quyết định liều lĩnh
này đã làm cho 2 ông gánh lấy thảm họa! Sao lại đi đến một
trung tâm liên lạc với cộng sản mà Mỹ đã biết từ lâu rồi!
(trích trong cuốn hồi-ký Nghĩa Bỉển Tình Sông (Hai Mươi Năm Binh
Nghiệp của Tôn Thất Đính, trang 443)
8-Theo Luật Sư HOÀNG DUY HÙNG
(Nhà văn, nhà báo, nhà hoạt-động
cộng-đồng tại Texas):
(Phỏng dịch:) "Các cuộc gặp họp bí mật với
Cộng Sản. Sau Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 15 vào năm
1959, Lê Duẫn cấu kết với Lê Đức Thọ và Trần Quốc Hoàn để củng
cố quyền lực ở Miền Bắc. Do đó, họ gây sức ép với Hồ Chí Minh,
và kể từ năm 1965 trở đi thì quyền lực thực sự đã nằm trong tay
họ. Năm 1963, Hồ đã hai lần gửi người vào tiếp xúc với Ngô Đình
Nhu. Hồ muốn liên minh với chính phủ Diệm để chống lại áp lực
của Duẫn. Diệm và em là Nhu cũng muốn nhân cơ hội này để chống
lại áp lực của Hoa Kỳ. Ngô Đình Nhu giả vờ đi săn ở các khu
rừng Tánh Linh, Khánh Hòa và Bình Long, nhưng trong thực tế là
hội họp với các cán bộ cao cấp của Miền Bắc do Hồ Chí Minh phái
vào. Có một lần Phạm Hùng, người mà sau năm 1975 thì được cử
làm Thủ Tướng, đã mang vào trao cho Nhu những thông điệp trực
tiếp của Hồ Chí Minh. Các cuộc thương thảo đã phải ngưng lại vì
vài tháng sau thì Diệm và Nhu bị sát hại. Vì các cuộc họp mật
này mà Hoa Kỳ đâm ra nghi ngờ Diệm và Nhu. Ngày 1-11-1963, các
tướng QLVNCH phổ biến trên đài tin tức về các cuộc gặp mật giữa
Nhu và cộng sản để mong dân chúng hậu thuẫn trong việc lật đổ
chính phủ Diệm... Nhiều năm sau đó, vào ngày 1-11-2001, tờ
Newsweek đã đăng tải một bài với hình của Tổng Thống Diệm,
bình luận rằng Hành Pháp Kennedy vào năm 1963 đã khám phá ra
rằng Diệm và Nhu là "công cụ của cộng sản" nên kết quả là họ
phải lật đổ chính phủ Diệm..." (trích từ bản thảo tác phẩm A
Common Quest for Vietnam's Future - a brief of Vietnam War, the
First and Second Republic of Vietnam của Hoàng Duy Hùng)
9-Theo ông MINH VÕ
(Nhà bình luận thời sự):
Ngô Đình Nhu: Hiệp thương Nam-Bắc -
Đài Tiếng nói VNHN – Phỏng vấn Minh Võ
Người hỏi là nhà báo Hồng Phúc Lê Hồng
Long, chủ nhiệm báo Thế Giới Ngày Nay. Cuộc phỏng vấn này
đã được phát thanh ngày chủ nhật 07/10/2007 trên đài phát thanh
Tiếng Nói Việt Nam Hải Ngoại.
Hỏi: Trong cuộc mạn đàm giữa ông và ông Cao
Xuân Vỹ đăng trên DCVOnline mới đây, ông Cao Xuân Vỹ có nói đến
cuộc tiếp xúc giữa ông Ngô Đình Nhu với... Phạm Hùng, cán bộ cao
cấp của Việt Cộng.
Hỏi: Về phía nhà cầm quyền miền Bắc, phản
ứng của họ ra sao, và những đìều kiện họ đưa ra là gì?
Đáp: Theo bà Hammer, tác giả cuốn A
Death In November, thì khi ông Goburghun, đại sứ Ấn đi Hà
Nội với tư cách chủ tịch Ủy Ban Kiểm Sóat Đình Chiến, đến gặp
ông Hồ Chí Minh thì thấy ông ta chẳng những không thấy có gì
ngăn cản cuộc hiệp thương với Saigon...Khi Maneli đến Hà Nội
trình bày kế hoạch theo sự hướng dẫn của các ông Lalouette và
Goburghun, thì chỉ hai ngày sau Hà Nội đã có đáp ứng: Hà Nội sẵn
sàng khởi sự thương thuyết bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, bí
mật hay công khai. Bộ trưởng ngoại giao Xuân Thủy, theo chỉ thị
của chủ tịch và thủ tướng sẽ sẵn sàng trình lên một danh sách
những hàng hóa có thể trao đổi giữa hai miền. Còn điều kiện, Hà
Nội chỉ cần thấy Mỹ rút khỏi miền Nam, thì sẵn sàng bàn thảo về
bất cứ vấn đề gì?
(trích từ Tài liệu ĐÀN CHIM VIỆT –
30-10-2007)
10-Theo Linh Mục An-Tôn TRẦN VĂN KIỆM
(Bạn thân của Tổng Thống Ngô Đình Diệm):
Về sau khá lâu, tôi nghe một nguồn tin nói
rằng: Khi bị Hoa kì dồn ép tới đường cùng, ông Diệm có nhờ giáo
sư Bửu Hội làm trung gian mở một vài cuộc hoà đàm bí mật với đại
diện ông Hồ tại Tánh Linh, khiến cho một số chính khách Mĩ đã
dựa vào đó mà gỡ tội cho ông Cabot Lodge, đại sứ Tổng Thống
J.F.Kennedy… (trích từ bản thảo cuốn hồi-ký Có phải Hoa thịnh
đốn đã đưa ông Diệm về làm Tổng thống Đệ nhất Cộng hoà Việt Nam?
của L.m. An-tôn Trần văn Kiệm)
Phụ
Lục 2:
11-Theo báo Mỹ Chicago Tribune (June
1, 1997):
While the coup against him was being
plotted, Diem was negotiating a political compromise with Ho,
who was just as troubled by his dependence on Chinese support in
the North as Diem was by the growing American presence in the
South. In retrospect, the elimination of Diem destroyed the
only realistic prospect for a negotiated settlement and the
honorable withdrawal of the U.S. from the conflict. (trích từ
bài viết A Fatal Mistake: Looking anew at Ngo Dinh Diem's
1963 ouster as president of South Vietnam)
۞
1- Ý Kiến CỦa Lê Xuân Nhuận
Kính gửi Bs. Nguyễn Thị Thanh (thư số 1)
Kính cô Nguyễn Thị Thanh,
Trước hết, tôi xin cám ơn cô đã gửi email
phản hồi, khen ngợi loạt bài của tôi về Đức Mẹ La Vang (Sự
Thật về Đức Mẹ La Vang www.LaVang.info).
Để đáp lễ, tôi cũng xin có bài phản hồi, về
một bài viết của cô.
Sau một loạt các bài viết của cô về
tôn-giáo (Ky-Tô-Giáo), mà thái-độ quá hăng-say của cô đã khiến
ít nhất là chính một Ky-Tô-Hữu kiên-cường là cô Ngô Túy Phượng
(tuyphuongngo56@yahoo.com) phải nhiều lần lên tiếng khuyên-nhắc
cô, nay cô tiến sang lãnh-vực chính-trị, bắt đầu với bài TT
Ngô Đình Diệm với Hòa Giải Dân Tộc, mà quan-điểm cũng khá
chủ-quan của cô đã gây nên một loạt tranh-cãi gay-gắt trên nhiều
diễn-đàn.
Chính-Trị và Tôn-Giáo là hai đề-tài
“cấm-kỵ” đối với một số tổ-chức và phương-tiện truyền-thông của
Người Việt Hải-Ngoại hiện nay, nên tôi chưa tiện phân-tích
cặn-kẽ mọi khía-cạnh trong bài viết nói trên của cô, mà chỉ
tạm-thời góp ý với cô về 3 trong nhiều điểm chính, mà các vị
khác chưa đề-cập đến, như dưới đây.
Nhưng trước hết là chúng ta hãy đọc lại bài
viết của cô (những chữ màu xanh, tô đậm và có gạch dưới là chữ
của cô mà tôi đặc-biệt chú ý, còn các kiểu chữ và màu sắc khác
là nguyên của cô):
“From: Dr Nguyen Thi Thanh Date: 13 sep. 2008 12:40
Subject: TONG THONG NGO DINH DIEM LA NGUOI
YEU NUOC YEU DAN
NĂM 1962, TT NGÔ ĐÌNH DIỆM NGƯỜI CHỦ
TRƯƠNG HÒA GIẢI ĐẦU TIÊN VỚI CSBV,
ĐỂ TRÁNH LỆ THUÔC NGOẠI BANG VÀ CHIẾN
TRANH NỒI DA XÁO THỊT
Nhiều người cho rằng giải hòa với CQ CSVN
là tự sát, đó là một sự sai lầm nguy hiểm. Tôi thật rất lấy làm
lạ, không biết họ hiểu chữ hòa giải là làm sao. Hòa giải là làm
nô lệ hay theo ý kiến đơn phương một bên hay sao ?
Hòa giải nghĩa là một cuộc đối thoại công
bằng giữa hai phe, tôn trọng lẩn nhau, chấp nhận lắng nghe ý
kiến và nhu cầu của hai nhau để đi đến một đường hướng chung
công bằng, có lợi cho cả đôi bên.
Mọi người đều biết các nước Đông Âu và nước
Nga là nơi đã phát sinh ra XHCN, đã từ bỏ thể chế cở lổ sỉ sai
lầm để trở nên những nước dân chủ tự do đa đảng đa nguyên. Nước
việt Nam chúng ta tuy chưa bỏ CNXH chỉ vì ảnh hưởng TC. Nhưng VN
đã tiến gần lại với các nước tư bản phương Tây và cũng đã bắt
đầu coi trọng quyền tự do dân chủ nhân quyền đa đảng đa nguyên
tuy chưa thực hiện chính thức được vì TC ngăn chặn. Năm 1961-
1962 Cụ Diệm cho rằng dầu Mỹ có viện trợ gì đi nữa thì mình phải
giữ chủ quyền. Cụ Diệm muốn thay đổi những tướng tá mà Pháp đã
bán cho Mỹ 50 triệu đồng, rồi Mỹ giao cho Cụ Diệm xữ dụng, nên
Mỹ không muốn thất lời hứa với Pháp mà buộc Cụ Diệm giữ họ lại.
Cụ Diệm cũng bất bằng về việc Mỹ lấy dân tộc thiểu số Miền Cao
nguyên lập quân đội Fulro, cho ăn mặt, lĩnh lương y hệt quân đội
Mỹ để sinh ra một sự chia rẻ giữa quân nhân Việt và Thượng. Sau
nầy khi Mỹ trao quân đội Fulro lại cho QLVNCH thì sinh lắm lôi
thôi.
Việc mà Cụ Diệm hằng trăn trở luôn là quyền
tự chủ của một dân tộc, quyền tự quyết của Vị Tổng Thống VNCH
thường bị tòa đại sứ Mỹ đụng chạm một cách quá đáng. Nhất là Mỹ
đòi đồ quân vào VN, đòi thả bom Bắc Việt . Cụ Diệm trã lời: "
Không thể để cho quân lính Mỹ đổ bộ trên đất nước chúng tôi. Vì
đó là hành động chúng tôi rất kiêng kỵ "cỏng rắn cắn gà nhà."
Vấn đề thả bom Bắc Việt là một chuỗi ngày
tranh luận dữ dội. Cụ Diệm và ông Cố vấn Nhu và ông Cẩn rất buồn
rầu lo toan. Cụ Diệm than: "Đánh giặc thì phải có kế hoạch chi
chớ, đem bom mà thả thì còn gì đất nước, còn gì sinh mạng và tài
sản đồng bào, răng thì răng, chớ còn thả bom Bắc Việt thì tôi
nhất quyết không chịu."
Vậy là có chuyện lôi thôi với Hoa Kỳ rồi.
Chúng ta phải hiểu vào thời gian ấy Mỹ rất coi thường người Việt
Nam, văn hóa Việt Nam chứ không như sau 1975, hay hơn nữa như
bây giờ. Và cũng vào thời ấy đường lối CSBV rất sắt máu. Vậy mà
TT Ngô Đình Diệm đã cương quyết đi theo đường lối dân tộc. Người
đã phát biểu một câu nói lịch sử với ba tôi: "Thà rằng mình chịu
nhục với anh em còn hơn bị nhục nhã với ngoại bang…" Ba tôi là
dân biểu Ban Mê Thuộc, trông coi Dinh điền rừng cấm, đàn em thân
tín của cụ Diệm, người nghĩ rằng sớm muộn Cụ Diệm sẽ bắt tay với
Cụ Hồ, nhưng chưa biết khi mô, và với hình thức ra răng đây, khó
quá.
Một ngày kia ba tôi đi họp Sài gòn về Ban
Mê Thuộc báo tin cho mạ tôi rằng cuối tuần ông Cụ Diệm và ông
Nhu sẽ lên Ban Mê Thuộc đi săn (Ban Mê Thuộc thời ấy là thủ đô
Miền Cao Nguyên).
Tôi nghe chuyện nhà nước BMT tổ chức cho TT
Diệm đi săn, thì vui thích quá, bèn xin ba tôi cho tôi đi theo.
Ba tôi nói rằng "Đi săn thì phải cưởi ngựa" "Con biết cưởi
ngựa." "Nếu có cọp nhảy, ngựa sợ hất con chết thì không sao,
nhưng nếu gảy chân gảy lưng, gảy cổ thì phiền lắm, thôi con
không đi." tôi hết hy vọng.
Sáng thứ bảy quảng vào mùa hè 1961 hay 1962
tôi không nhớ rõ (xin vị nào công cán chính, trong QLVNCH có mặt
hôm đó cho tôi được biết.) cả tỉnh Ban Mệ Thuôc chộn rộn dậy
thật sớm. Toàn thể quân cán chính tấp nập sửa soạn, đi đón cụ
Diệm và ông Nhu lúc 5 giở sáng đế cùng thẳng tiến vào rừng xanh
BMT đi săn. Tôi tuy không được đi săn nhưng hồi hộp theo dỏi.
Rồi đoàn người quân cán chính, nào xe hơi
nào ngựa. Nhất là quân đội sẵn sàng bao vây tứ phía cuộc săn bảo
vệ ông Cụ Diệm. Vậy là đoàn người đông đảo, tấp nập, họp lại
trước tòa Tỉnh, hớn hở kéo nhau ra đi khi trời chưa hừng sàng.
Tôi chỉ đứng trên lầu thượng của hảng SCIB (Société Commerciale
et Industrielle de Banmêthuôt) nơi ba tôi làm Giám đốc nhìn lên
Tòa tỉnh mà thôi.
Rồi suốt cả ngày hôm đó gia đình ba mạ tôi
và các gia đình khác chỉ điện thoại cho nhau chia sẽ lo lắng.
Đến chiều tối, mọi người thấp thỏm chờ mong. 5 giờ, rồi 6 giờ
vẩn không tin tức. Chúng tôi lo quá, đến 7 giờ cũng không tin gì
cả.
Đến gần 8 giờ ba tôi mới về đến nhà, người
bơ phờ, xất ba xất bất, mặt tái mét nhưng vẩn cười gượng. Tôi
gấp rút muốn biết chuyện gì đã xảy ra. Ba tôi điềm tỉnh không
nói. Sau khi tắm rửa, ăn uống xong, vào phòng nằm nghỉ một hồi,
ba tôi mới nhỏm dậy, tôi và mạ tôi chờ đợi. Ba tôi cho hay đây
là cuộc đi săn tráo trộn. Ba tôi kể:
"Một điều quá sức ngạc nhiên là đi săn mà
ông Cụ và ông Nhu đều mặt đồ tây complet, cravate đàng hoàng,
ông cụ mặc bộ đồ tơ tằm 'Tussor', tay cầm baton. Mọi người vào
rừng, lúc đầu đi xe hơi một đoạn, sau bỏ lại xe đi ngựa và đi
bộ. Quân đội tỏa ra bao vây khắp nơi. Đi từ 6 giờ sáng đến chừng
hơn 11 giờ trưa đến một khoảng xa rừng cấm thì ông Cụ ra lệnh
ngưng lại dùng cơm trưa. Ăn uống vui vẻ nghỉ ngơi chừng hơn một
giờ.
Sau đó ông Cụ quay lại nói với mọi người
rằng: "Chúng tôi mời quý vị ngồi nghĩ cho khỏe ở đây, tôi và ông
cố vấn sẽ đi với nhau mà thôi." Mọi người phản kháng. Quân đội
đòi bao vây bảo vệ. Ông cụ dẹp hết. Ông Cụ Diệm mặc Veste, đội
mủ, tay xách baton cùng ông Nhu cuốc bộ đi sâu vào rừng. Mọi
người vừa ngạc nhiên vừa tê tái lo sợ, xầm xì to nhỏ nói chuyện
với nhau. Họ chờ đợi và lo sợ đến tiều tụy xanh xao. Vì mãi đến
4 giờ tối, 5 giờ tối vẩn chưa thấy ông Cụ trở vể. Trời gần sập
tối, mọi người mướt mồ hôi lo sợ thì đến 6 giờ hơn ông Cụ Diệm
và ông Nhu lủi thủi từ trong rừng đi ra. Mọi người đều im lặng
không một tiếng nói. Tất cả đều nhanh chóng ra về, và đưa ông Cụ
thẳng lên tàu bay chờ sẵn về thủ đô Sài Gòn.
Ba tôi kết luận: "Rõ ràng đây là ông Cụ
thực hiện lời ông Cụ đã nói với tui nhiều lần, thà chịu nhục với
anh em, còn hơn nhục với ngoại bang. Rõ ràng là ông Cụ đi nói
chuyện với CSBV và với Mặt Trận giải Phóng miền Nam, chưa biết
ra răng đây." Sau đó, ba tôi được ông Cụ gọi về Sài Gòn ba tôi
mới được biết hôm đó ông Cụ Diêm và ông Nhu gặp đại diện đảng
CSBV và đại diện MTGPMN nói chuyện, hai bên thỏa thuận nhiều
điểm. Vì CSBV cũng rất ngại Mỹ thả bom BV. Đó là lần độc nhất Cụ
Diệm gặp gở phe bên kia không công khai, qua mặt Mỹ. Ông Cụ cũng
cho hay Mỹ tỏ thái độ lạnh lùng, không bằng lòng quyết định của
ông Cụ và ông Nhu."
Đây là lần gặp gở đầu tiên đích thân Cụ
Diệm đi gặp mà tôi biết rõ ràng và là nhân chứng. Rất nhiều vị
sĩ quan QLVNCH có mặt trong buổi hôm ấy, nay hẳn còn sống và nhớ
rõ về buổi đi săn và ngày tháng năm. Việc ra đi đối thoại với
CSBV như vậy rõ ràng Cụ Diệm thực hành lời Cụ đã nói: "Thà chịu
nhục với anh em còn hơn chịu nhục với ngoại bang". Sau đó còn
vài cuộc gặp gở khác ở Di Linh v.v... Cụ Diệm không đi gặp ai
nữa. Coi như có sự đồng thuận giữa hai bên, đặt biệt là giữa TT
Ngô Đình Diệm và chủ tịch Hồ Chí Minh.
Vào dịp Tết đầu năm 1963 cụ Hồ Chí Minh gởi
tặng Cụ Diệm 2 cành đào kèm theo môt bức thư đã công khai việc
giao hòa với nhau. Tôi còn nhớ trong bức thơ cụ Hồ viết:"…Liên
Bang Việt Nam gồm 2 miền. Miền nào theo đường lối chủ thuyết xã
hội của đường ấy. Mục đích là chúng ta phải sống ḥa b́nh lo
phát triển đất nước làm cho dân no ấm, đất nước thịnh vượng …."
Đó chính là nguyên nhân chính yếu làm Hoa
Kỳ mắc cở mà ra tay giết hại ba anh em TT Ngô Đình Diện, để sau
đó Mỹ lại theo đường lối của Cụ Diệm nhưng với tư thế vô cùng
nhục nhả cho Mỹ và VNCH.
Như vậy từ năm 1963 là thời chế độ CSBV còn
ác liệt, mà TT Ngô Đình Diệm đã quyết tâm giao hòa với CSBV,
ngày nay qua bao nhieu đổi mới, tại sao chúng ta còn dám nói
giải hòa với CSVN là tự sát. Phải chăng trí óc chúng ta còn hủ
lậu quá chăng ? Tài năng chúng ta yếu kém quá chăng ?
Ts. Bs. Nguyễn Thị Thanh”
2008/9/26 Dr Nguyen Thi Thanh <docteurthanh07@sympatico.ca>
THƯA TOÀN THỂ QUÝ VỊ
THƯA ÔNG LÊ XUÂN NHUẬN
Thường tôi bỏ gần hết Email trên net, trừ
bài nào hay thì xem qua. Tôi cám ơn ông Nhuận có ý kiến về bài
của tôi. Nhưng ông hiểu lầm. Tôi sẽ phản bác bài Đức Mẹ La
Vang của ông.
Tôi đã có lời kêu gọi quí vị quân cán chính
nhớ gì thì giúp, tôi cám ơn. Và đây tôi chỉ trình bày 3 điểm
chính trong bài của ông:
I- Vấn đề Quân đội:
a- Mỹ lập quân đội Fulro : Vào những mùa
hẻ các năm 60, 61, 62 là sinh viên đi học nước ngoài, nhưng mạ
tôi đau nặng đòi có mặt tôi bên cạnh mới mau lành, tôi được
hưởng những mùa hè ở Ban Mê Thuộc.
Câu chuyện Mỹ lập quân đội Fulro một cách
khái quát là sự thật cho 1 người SV, còn nội bộ tổ chức chỉ
người trong cuộc như anh Nhuận mới rõ. Bài nầy tôi chỉ phớt qua
chuyện Fulro chứ đâu phải là 1 đề tài mà cần đi sâu. Vậy chuyện
Mỹ lập quân đội Fulro là điều tôi nói không sai. Ngày Mỹ bàn
giao quân đội Fulro xẩy ra trên BMT, ba tôi lo tổ chức với 2 vị
là tỉnh trưởng và ông Tướng Quân khu BMT. Y kiến tôi nghe từ ba
tôi như sau: "Ông Nhu cứng thật (vì ông Nhu thay Cụ Diệm nhận
bàn giao), ông thuyết trình nẩy lửa trước mặt tướng tá Mỹ. Ông
kêu gọi Fulro là "chúng ta là dân nước VN, có bổn phận bảo vệ
đất nước... Hởi Quân lực Fulro hãy hướng vể Sài Gòn (ông hét lên
chỉ tay về Sài Gòn) chứ không hướng về Washington !!!...".
Ít lâu sau tôi nghe Fulro không bằng lòng
lảnh lương ít ỏi, ăn mặc áo quần, quân trang quân dụng như quân
đội Việt Nam. Ông Nhuận là sĩ quan trong cuộc nói rõ chi tiết là
điều tốt.
b- Vụ Quân cán chính đi săn tụ lại trước
Tòa Tỉnh mà tôi đứng trên lầu hảng SCIB làm sao biết hết? Những
điều tôi biết là do tôi và cả gia đình.
Nhưng trong chuyện nầy đó là một cái khung
nhỏ để kể lại cho có đầu đuôi thôi, nó không phải là vấn đề quan
trọng, nên qua loa là đủ. Hơi đâu anh Nhuận bắt bẻ những chi ểu vô ích, nó đâu phải là vấn đề có tầm liên quan thiết yếu
trong bài. Nếu tôi viết kỷ như ý anh thì thành ra lạc đề, mà rồi
nó thành tiểu thuyết.
II- Việc hai anh em Cụ Diệm có lên Ban Mê
Thuột đi săn không ?
a- Vì những người gặp Cụ Diệm trong rừng là
CSBV nên họ là nhân chứng. Phim của CSVN với mục đích bôi nhọ
danh dự một tổng thống: "Trong cuốn phim được kể lại đời sống Cụ
Diệm họ đã nói chuyện hai anh em TT Diệm vào rừng BAMT với mục
đích hòa giải với quân Fulro." Câu nói tuy xuyên tạc nhưng rõ
ràng CSVN nhìn nhận TT Diệm và ông Cố vấn Nhu có vào rừng BMT.
Dầu Cụ Diệm có vào rừng gặp CSBV và MTGPMN thì vẫn là vấn đề
danh dự cho phe CSBV bầy giờ. Các nhà đạo diễn VN thích xuyên
tạc để bôi nhọ anh em Cụ Diệm: Một vị nguyên thủ quốc gia mạo
hiểm vào rừng gặp bọn lính thiểu số! Cứ liệu cho thấy anh em Cụ
Diệm đã vào rừng BMT, đó là sự thật. Phim VN thường lấy bộ sườn
là sự thật còn chi tiết hư cấu thật xấu để mạ lỵ kẻ thù xưa là
thường.
b- Hai anh em Cụ Diệm có tổ chức đi săn
không ? Những chi tiết trong cuộc đi săn của ông Cụ Diệm và ông
Nhu là một sự thật như sự tồn tại của chính con người tôi đang
viết những dòng nầy. Tôi xác quyết đó là sự thật, vì sự hiện
diện của chính tôi là một SV Y khoa năm thứ tư. Mỗi lần có Cụ
Diệm lên Ban Mê Thuột là cả CQ BMT chộn rộn, trong đó ba tôi giữ
một vai quan trọng dầu ba tôi chỉ là dân biểu nhưng là đàn em
thân tín của cụ lo về dinh điền và quản lý rừng cấm. Bây giờ tôi
hoàn toàn sống lại với giờ phút lịch sử nói trên. Trí óc tôi rất
sáng suốt trong từng câu nói và từng vấn đề.
Qua Canada tôi còn gặp nhiều người biết về
liên hệ giữa ba tôi với Cụ Diệm và Cậu Cẩn kể lại cho tôi nghe
thêm nhiều việc lạ nữa, tôi vô cùng biết ơn.
Câu trả lời hai anh em Cụ Diệm có lên BMT
nói là đi săn không ? Có thật.
c- Cụ Diệm vào rừng mặc bộ đồ Tussor. Đồ
Tussor may bằng tơ tằm thô, bền dai không nhăn, khó dơ, Người
Miền Trung mặc nó vào dịp đi chơi tầm thường chứ chẳng quí báu
gì. Tôi mặc một chiếc áo dài tơ tằm đi học hằng ngày có chi là
quí giá, đó là hàng nội hóa rẻ tiền. Khi tôi xin ba tôi đi săn
tôi biết ba tôi tìm cớ không cho vì nhiều lý do: Không muốn con
gái lợi dụng cha. Không muốn con gái giao thiệp với đoàn người
hộ tống Cụ Diệm, không muốn có việc rắc rối chỉ vì con gái của
dân biểu, không muốn mọi dị nghị, sợ gặp nguy hiểm vv…
d- Hai anh em Cụ Diệm có dắt nhau mạo hiểm
và rừng không? Thưa có thật. Trước những lời kể lại tường tận
của ba tôi thì tôi coi như chính bản thân tôi trông thấy, tôi
tin lời ba tôi hoàn toàn. Nhất là khi ba tôi kể nỗi lo lắng toát
mồ hôi, tê cứng người của quân cán chính theo bảo vệ. Ba tôi còn
nói suốt nhiều giờ đồng hồ mọi người như đứng tim, ngơ ngẩn
trong rừng không biết câu chuyện lành dữ thế nào, đến nổi ba tôi
chỉ biết kêu cấp cứu 3 chữ luôn miệng " Giêsu Maria Giuse" chứ
không cầu nguyện gì nổi.
Thật ra Cụ Diệm khi báo tin lên là đi săn
như có ý dấu, nhưng thật tình Cụ không dấu khi ăn mặc bình
thường, và khi cùng ông Nhu dắt nhau vào rừng không cho Quân đội
bảo vệ.
Ngoài người cha mà tôi tin vững vàng 100%,
còn thêm một người thầy nhân chứng quan trọng, đó là Phó tỉnh
trưởng Nguyễn Đãi là thầy giáo dạy tôi tại trường nữ trung học
Đồng Khánh Huế.
Câu nói mà Ông Cụ nói với ba tôi :"Thà nhục
với anh em còn hơn nhục với ngoại bang." Đó là câu nói Ông Cụ
thốt ra không phải một lần. Đó là một sự thật, vụ đi săn BMT có
lẻ là một vụ kết thúc chính cuối cùng, tuy rằng sau nầy còn vài
lần gặp gở nhưng ông Cụ không đi nữa.
Chúng ta nhớ lại lúc mới 23 tuổi, làm
thượng thư bộ lại (như thủ tướng) của vua Bảo đại, chỉ bất bằng
với Tây là Cụ Diệm cổi áo ra đi. Nay chính vua Bảo Đại buộc Cụ
thề trước tượng Thánh Giá lo cho dất nước, Cụ lãnh trách nhiệm
lớn cho quốc gia. Thành cụ dứt khoát không chịu làm TT bù nhìn
của Mỹ.
Luôn tiện ở đây tôi xin kể 2 câu chuyện
nhỏ.
Chuyện căn phòng ngủ của cụ Diệm. Ba tôi
vân vào phòng nói chuyện riêng với Cụ.
Ba tôi kể: "Cụ ngủ trên bộ ghế ngựa nguyên
tấm, rộng, đẹp (ván dày). Trong phòng có 1 bàn viết cũng dùng
làm bàn ăn và độc một chiếc ghế. Đến giờ ăn một thanh niên vào
trãi khăng bàn và dọn cho cụ một mâm cơm đơn sơ.
Trên cao bức tường sát bộ ghế ngựa có viết
câu sau: " Xin Chúa cho con đem hết lòng trí, tình yêu, sức lực
lo cho dân cho nước, nếu con không làm tròn bổn phận thì xin cho
con lấy cái chết đền tội".
Câu chuyện thứ hai là việc Cụ Diệm có phản
vua Bảo Đai không?
Nguyên khi người Pháp thấy Cụ Diệm chống
Pháp, tịch thu hết mọi cơ sở của Pháp, người Pháp xúi vua Bảo
Đại lật cụ Diệm đưa ông Hinh hay ai đó lên thay. Cái chủ tâm đê
hèn mọi người và vua Bảo đại đều biết. Phải nghe lời Pháp, Bảo
Đại kêu Cụ Diệm qua Pháp để truất phế. Dù biết rõ như vậy, Cụ
Diệm vẫn tuân lệnh ra đi. Cả một chính phủ ra sức ngăn cản Cụ
vẫn một mực quyết định ra đi. Hoảng quá người ta báo cho dân Bắc
kỳ di cư lên Tân Sơn Nhất ngăn chận. Mọi người báo tin cho Cụ
hay Tân Sơn Nhất nghẹt cứng BKDC không còn lối đi. Cụ lên họ sẽ
bắt cụ lại. Do đó Cụ Diệm không đi Pháp được. Bảo Đại tiếp tục
ra lệnh phải qua nhiều lần, dân chúng và chính phủ quyết giữa
lại. Do đó qua năm 1955 mới có cuộc bầu cử lựa chọn vua Bảo Đại
hay Cụ Ngô Đình Diệm. Chứ thật tình Cụ Diệm là người thánh thiện
không hề có tâm phản Bảo Đại mà Bảo Đại cũng chẳng muốn truất
phế Cụ Diệm, chỉ có bọn Tây thực dân là điếm đàng.
Để kết luận: Giữa lời chứng của ông Nhuận,
và lời chứng rành rành của ba tôi cùng sự giám định hoàn cảnh
bên ngoài của cá nhân tôi thì tôi tin ai. Tôi tin ba tôi và
tin tôi. Tôi không nói rằng ông Nhuận nói láo, nhưng có thể
ông Nhuận gặp một công tác nào đó hay nghỉ phép nên vắng mặt hôm
Ông Cụ lên BMT đi săn, vì việc nầy xẩy ra rất bất ngờ.
Tôi xin khẳng định đây là một sự thật
lịch sử. Tôi vẫn tìm cơ hội nói ra điều nầy từ lâu, nhưng
tôi vẫn ngại có người biết rồi nói rồi, mình nói ra vô duyên,
nên nay mới nói ra một sự thật lịch sử.
III- Đề tài đa dạng:
A- Tôi đã xin ông Nhuận toàn bộ những bài
ông viết về Đức Mẹ La Vang để làm tài liệu, tôi khen là khen ông
đã có công nghiên cứu chứ tôi đâu đồng ý với ông. Tôi nói là sẽ
phản bác lại lý luận bài của ông khi tôi có thì giờ. Chính
tôi có hẹn với ông như thế, vì bệnh hoạn mà ông quên rồi.
B- Ông viết :"…một loạt các bài viết của cô
về tôn-giáo (Ky-Tô-Giáo), mà thái-độ quá hăng-say của cô đã
khiến ít nhất là chính một Ky-Tô-Hữu kiên-cường là cô Ngô Túy
Phượng (tuyphuongngo56@yahoo.com)
phải nhiều lần lên tiếng khuyên-nhắc cô …." Đó là bài về Đức Mẹ
Medjugorje mà Ngô Túy Phượng phải nhiều lần lên tiếng !!!
Ôi chao ! NTP là cái chi chi, có quyền gì
mà lên tiếng chứ, mà nó không thích kệ xác nó; bà lớn không bằng
lòng là sai lính ông kiểm điểm cấm kỵ tôi hà, hổn láo quá quắt.
Các LM phải vâng lời bề trên khi làm việc gì quá đáng. Còn về
Đức Mẹ Medjugorje, nhiều LM và Giáo hữu đã viết sách và dã dịch
ra tiếng Việt từ trên 20 năm nay. Tôi xin kể các sách tôi biết
sau: - Medjugorje: Giới thiệu Đức Mẹ Mể Du – Mẹ đến lần cuối
(quyển căn bản) – Các Chứng Từ Về Mẹ - Sống Sứ Điệp của Mẹ
(3 tập) – Suy niệm và sống Sứ điệp (Trọn bộ: 2001, 2002,
2003) – Đâu là sự thật Đức Mẹ hiện ra ở Mễ Du (R.
Laurentin: Khảo sát mặt khoa học) – Bà là Ai (Chứng từ
của ký giả Tin Lành Wayne Weible) Nxb: Giờ của Mẹ, USA,
www.Memaria.org,
www.Medjugorje.com – Đức Mẹ hiện ra tại Medjugorje, Nam
Tư - Ơn lành Đức Mẹ tại Medjugorje, Nam Tư – Phép lạ tại
Medjugorje, Nam Tư.
NTP là tên không biết gì hết và không biết
tôn trọng tự do ngôn luận của tôi, nhưng vì là việc nhỏ, nên tôi
bỏ qua. NTP như con cóc nhỏ ngồi đáy giếng, làm tàng, làm phách
tấu ta đây là CG kỳ cựu. Tôi coi NTP đáng thương hơn đáng trách
và tôi tha thứ.
C- Ông Nhuận viết : "… nay cô tiến sang
lãnh-vực chính-trị, bắt đầu với bài TT Ngô Đình Diệm với Hòa
Giải Dân Tộc, mà quan-điểm cũng khá chủ-quan của cô đã gây
nên một loạt tranh-cãi gay-gắt trên nhiều diễn-đàn …."
Ôi chao! Xin lỗi, đâu phải mới nay đau, ông
Nhuận cũng là 'cóc ngồi đáy giếng luôn'. Ghê gớm thật! Tôi thấy
ông Nhuận còn hơn Mafia ra tay trừng trị đàn em dám sai trái.
Khá lắm, ráng lên em.
Tôi viết về nhiều đề tài: Khoa học, đặc
biệt là "Phát minh về Nguồn gốc siêu nấm của ung thư và siêu vi"
với "Bằng Phát Minh Canada và Mỹ về trị liệu ung thư tận gốc
bằng những thuốc chống nấm", Văn Hóa Cổ truyền, Lịch sử, Khảo
Cổ, Chính trị, Tôn giáo, Đức Mẹ La Vang, Đạo Đức, Luân Lý dân
tộc, Y khoa thường thức, Giao thông vận tải, Môi sinh, Tình yêu
và hôn nhân, Phá Thai là Giết người, Chống Ấu Dâm, Lên án Ấu
Dâm, Kế hoạch gia đình, Sinh con theo ý muốn, Thơ phú tình cảm,
Thơ phú yêu nước, Vè vv…., là do sự hiểu biết và nghiên cứu
đa dạng của cá nhân tôi, ông Nhuận có biết gì đâu.
Mỗi đề tài đầy đủ tài liệu chứng minh và
riêng biệt của nó. Không hề có sự lạm dụng từ đề tài nầy qua đề
tài khác. Và đó là sự tự do của tôi. Không phe phái, đoàn thể
hay cá nhân nào có quyền cấm kỵ được tôi, nói chi là ở xứ tự do
mà dám ra lệnh cấm đoán ! Gan dữ á!.
Ông Nhuận nói rằng: "Chính-Trị và Tôn-Giáo
là hai đề-tài "cấm-kỵ" đối với một số tổ-chức và phương-tiện
truyền-thông của Người Việt Hải-Ngoại hiện nay". Ủa, sao tôi
phải sợ tổ chức nào hay phương tiện truyền thông vô văn hóa nào
mà dám đi cấm kỵ người ta ghê tởm như rứa há ? Riêng ông Nhuận,
trí óc ông nghĩ sao mà dám ra lệnh cho tôi còn hơn CA CSVN vậy.
Ông tưởng tôi là ma mới ngây thơ cho ông bắt nạt há : "
Chính-Trị và Tôn-Giáo là hai đề-tài "cấm-kỵ" đối với một số
tổ-chức (của ông) và phương-tiện truyền-thông của Người Việt
Hải-Ngoại (của ông)" sao dám mở miệng nói chữ "cấm kỵ" như vậy,
chớ thì ông chỉ trích CSVN độc tài đãng trị là cái chi chi rứa.
Họ còn đảng trị còn ông thì cá nhân trị. Xin lỗi ông, cho phép
tôi nói nhỏ câu khó nghe nầy nhé 'trí óc ông sao hẹp hòi, nông
cạn, dốt nát quá xấc láo !'. Ông muốn dùng uy dũng đàn ông để ức
hiếp một người đàn bà mà ông cho là cô độc là ma mới ư ? Hảo
huyền. Tôi viết về hàng mấy chục đề tài là ít. Tất cả đều nằm
trong một mục đích, một tôn chỉ Yêu thương con người, yêu thương
dân tộc, tung hô Tổ Quốc. Thôi nói gần nói xa chẵng qua nói
thiệt. Không phải khoe khoan, hoàn cảnh bắt buộc tôi phải cho
ông biết để ông hạ hỏa cái kiêu ngạo của óc nảo hẹp hòi của ông
xuống.
C.1-Tôi đã làm chính trị từ trẻ lúc còn là
SV tại Paris để ủng hộ TT Ngô Đình Diệm. Ông muốn biết cứ hỏi
những cựu SV VN vào thời 1963 tại nhà Đông Dương và tại Viện
Pháp Việt thì biết. Tên thực dân Mayon bao chục năm ăn hiếp nữ
SVVN tại Viện Pháp Việt đã bị tôi đánh tan óc thực dân của ông
ta. Tôi một mình, đơn thương độc mã cực kỳ chống lại cựu LM
Nguyễn Ngọc Lan và nhóm sinh viên CG của NGL quấy phá chế độ của
TT Ngô đình Diệm đến độ chúng gọi tôi là Diemiste.
C.2- Lúc tôi đang làm GS Sinh Lý học tại
đai học Moncton, Moncton, New Brunwick Canada thì được mời về
nước làm việc, tôi bỏ dạy học với lương cao, để nhận lời về VN
làm Phụ tá Tổng trưởng Trần Lữ Y, trông coi nguyên bộ Xã Hội và
Cứu trợ với lương chết đói năm 1968. Tôi làm chính trị, tôi
chống tham những ầm ầm trong bộ Xã hôi và Cứu trợ đến độ BT. Trần
Lữ Y phải ôm đầu khóc.
C.3- Tôi đã coi nhẹ Y khoa hơn chánh trị
rồi đó. Y khoa trị được vài ngàn người, chính trị cứu Tổ quốc và
toàn dân. Nhưng chính trị của tôi là chính trị đạo đức: Đó chính
là cao vọng của đời tôi. Nhưng khổ nổi là tôi sinh bất phùng
thời đành chịu.
C.4- Tháng 1/1973, TT Trần Thiện Khiêm mời
tôi làm Thủ lãnh 11 triệu Phụ nữ Nhân Dân Tự Vệ với 'Carte
blanche" ông TT Khiêm giao mọi thẩm quyền cho tôi. Tôi chẳng
những làm chính trị mà còn bị kéo vào quân sự. Tôi nhận lời.
C.5- Năm 1974, tôi đã từng viết bài Cáo
Trạng Số 1 chống Thiệu tham những, và bị nó bao vây nhà,
nhưng tôi trốn thoát cho đến lúc Thiệu từ chức.
C.6- Ngay khi tôi thuyết trình trong Đại
Chủng Viện Thánh Giuse tại đường Cường Để về Kế hoạch hóa gia
đình theo đường lối CG 'Cấm kỵ phá thai, cấm kỵ đặt vòng xoắn'
trước mặc 400 LM địa phận Sài Gòn và trước mặt ký giả Du Miên
báo Trắng Đen mà tôi cố tình đem theo vào. Tôi muốn làm
gì tôi có chân lý để làm. Chính ký giả Du miên báo Trắng Đen
của Sài gòn VNCH ngày nay đang sống ở Cali. làm chứng là tôi đã
lên tiếng trách cứ mạnh mẽ đời sống không trong sạch của một số
LM làm gương xấu cho giáo dân. Du Miên đã theo tôi nhiều phen để
kiếm tin tức sốt dẻo và hấp dẫn cho báo Trắng Đen.
C.7- Dưới thời VNCH tôi cũng đã viết và
đăng báo nhiều, tôi chưa nghe ai khuyên tôi làm theo họ được.
Ngay các LM tôi cũng chống đời sống sa đọa của họ và tôi bút
chiến với 1 ông LM nhiều tháng trên các báo Sài Gòn vào năm 1974
về đời sống sa đọa của hàng ngủ LM.
C.8- Việc viết "Cáo trạng số 1"
chống TT Thiệu, cũng chính tôi viết và tìm chứng cứ với các đồng
chí và LM Thanh đã tung ra từ trường Việt Hương Huế. Sau
mới đăng các báo Sài Gòn. Các nhà báo đều bị đóng cửa và bị bắt
(VNCH có tự do ngôn luận đó !!). Chính chúng tôi đã tổ chức biểu
tình trước Tòa Án Sài Gòn nhận mình là tác giả Cáo Trạng Số 1 để
xin vào tù thay cho các ký giả. Sau đó PTNDCTN bị bắt gần hết.
C.9- Chính tôi đã đi thuyết trình cùng LM
Thanh và nhiều người khác tại Nhà Thờ Tân Sa Châu: Công an của
VNCH đã đánh LM Trần Hữu Thanh ngã giữa đường bể mắt kính (có dã
man không!) Tôi mau chân khi bước xuống diễn đàn thay áo rồi ra
xe về nhà ngay. Một Sĩ quan lên phát biểu cũng bị bắt. LS Phạm
Nam Sách chỉ đến dự cũng bị bắt và nhiều người khác bị bắt. Cha
Thanh khuyên tôi tránh đi. Mặc dầu vậy chúng tôi vẫn trở về họp
tại Trụ sở là nhà Thờ Tân Chí Linh.
C.10- Dưới thời XHCHVN, tôi cũng đã viết 6
bài tố cáo tham nhũng về thuốc men, gạo, xăng, thực phẩm vv...
tại những nơi tôi làm việc từ tháng 9/1975 đến 30/8/1980 thì tôi
bị bắt giam tại Chí hòa.
C.11- Nay tôi ở xứ tự do, tôi đưa lên DĐ
tự do bài viết tự do của tôi. Có ai có cái quyền chi khuyến nhắc
tôi. Họ có ý kiến của họ, tôi có ý kiến của cá nhân tôi và
hành ðộng theo ý tôi.
C.12- Ra tù Chí hòa là tôi đi Canada với
giấy tờ có sẵn. Tới Montreal 1990. Qua năm 1991, tôi qua Houston
thuyết trình cho 41 nhà lãnh đạo các đảng phái, hội đoàn, tôn
giáo vv.... về " Đường Lối Nhu Thuận (Đại đoàn kết dân
tộc)Để Chấn Hưng Đất Nước VN Băng Hoại Từ Tay CSVN". Các nhà
lãnh đạo đi nghe tôi thuyết trình đều đồng thuận. Nhiều người
biết chuyện, nhất là nhóm Matthew Trần lấy cớ đó chụp mủ tôi và
em Diễn tôi là CS làm nó đâm ra lo sợ mang tiếng. Bằng chứng tôi
vẫn còn. Nếu ông muốn tôi sẽ đưa tất cả tài liệu đó lên
DĐ. Nhiều quá, ai mà đọc chuyện từ 17 năm về trước chi cho mệt.
Hôm nay tôi đưa một chút xíu cứ liệu đính kèm theo đây về việc
tôi thuyết trình kêu gọi Đại Đoàn kết dân tộc tại Houston 17 năm
trước (nó có nghĩa như là Hòa Hợp Hòa Giải đó, nhưng tôi không
thích dùng mấy chữ HH HG làm tôi và nhiều người bị dị ứng).
C.13- Vậy là ông có thấy tôi thẳng thừng
làm chính trị không? Tôi làm chính trị đạo đức vì tôi yêu mến
Chúa, vì tôi yêu mến đồng bào tôi, vì tôi càng tha thiết với Đức
Tin của tôi.
Nay thời thế thay đổi, nhiều thuận lợi hơn
17 năm trước, nhưng tôi lớn tuổi nên hết có ý nghĩ làm chính
trị. Nhưng lại thấy TC xâm chiếm đất đai biển cả quần đảo của
VN, tôi đã đau khổ rồi, nay lại thấy TC muốn thôn tính cả nước
VN, tôi hốt hoảng nêu lại vấn đề Đại đoàn kết dân tộc dưới chiêu
bài mới là giải hòa đễ cứu nước khỏi xâm lăng giặc Tàu phù.
Nói trắng ra là tôi chủ trương hòa hợp hòa giải thật sự đó.
Đó là quyền tự do của tôi, là chân lý sống trong hoàn cảnh
thiên thời địa lợi nhân hòa hiện tại của tôi. Trường hợp có
người cùng quan điểm thì tôi xin đóng góp. Ai không cùng quan
điểm thì thôi.
C.14- Nếu người VNHN đã cùng tôi làm
được nên Đại đoàn kết dân tộc từ trước thì chắc chắn không có vụ
Tòa Khâm sứ và DCCT-GX Thái Hà. Vì như tôi đã từng nói, chưởi
bới người ta thì người ta chơi lại. Nhưng trong cái rủi chắc
chắn sẽ có cái may cho GHCG, tôi xác tín như vậy.
C.15- Vì ông Nhuận độc đoán coi ông là
trời con của các DĐ. Tôi biết rõ thâm tâm ông ganh tị với tôi
quá quắt, ông đừng quên tôi là hậu duệ của Trưng Vương, Triệu
Soái nghe. Ông tưởng ra oai như với lính của ông khi trước là
tôi vặn lưng ông há ?
C.16- Ông nghĩ chỉ có ông làm chủ các
quyền tự do ngôn luận trên DĐ trong xứ tự do khi ông di tản qua
đây hí. Ông không muốn người khác nói và làm những gì không cùng
ý kiến của ông hí. Ông không thấy đó là vi phạm tự do và nhân
quyền người khác hí. Có thể bị kiện ra tòa ông biết
không? Tôi đã có mặt trên đất Pháp từ năm 1959 và tại Canada
1967.
C.17- Tôi yêu cầu ông để yên tôi với tự do
ngôn luận về Tôn giáo, Y học, Chính Trị vv.... của tôi, tôi
không thuê ông làm 'thầy đời' mệt!. Nếu tôi nói điều gì sai thì
ông cứ phản bác, đó là điều tôi mong mỏi, và hết lòng biết ơn.
Nếu ông nghi ngờ lời gì tôi nói, ông cứ buộc tôi đưa ra bằng
chứng và nhân chứng (đừng để lâu, người ta bị lú lẩn vì bệnh mà
quên, hay chết hết), tôi sẵn sàng.
C.18- Tôi đề nghị ông gôi tôi bằng chị tôi
gọi ông bằng anh cho công bằng. Hoặc tôi gọi ông bằng ông thì
ông gọi tôi bằng bà, chứ tôi không phải là em ông cũng không
phài là Mademoiselle.
C.19- Cuối cùng, tôi xin thưa với ông là
những điều tôi đưa ra trên là để các ông và bọn 'lau nhau lẩu
chẩu' đừng lải nhải kiếm cớ khích bác thô bỉ tục tỉu xúc phạm
danh dự một người ĐÀN BÀ là tôi. Nếu người ta xúc
phạm tôi, chút đỉnh cho vui tôi còn trã lời, quá quắt tục tỉu
thì tôi xa lánh vì khinh bỉ và ghê tởm DĐ thôi.
Trân trọng kính chào ông
Ts. Bs. NguyễnThị Thanh
Trả Lời bà Nguyễn Thị Thanh
Kính gửi bà Nguyễn Thị Thanh,
Tôi xin tóm-tắt trả lời bài viết của bà
(Date: Thursday, September 25, 2008, 3:47 AM) như sau.
A- Về hình-thức:
1/ Bà Nguyễn Thị Thanh thiếu tỉnh-táo:
Sở dĩ tôi viết “Chính-Trị và Tôn-Giáo là
hai đề-tài “cấm-kỵ” đối với một số tổ-chức và phương-tiện
truyền-thông của Người Việt Hải-Ngoại hiện nay” là vì: nói
chung, có một số diễn-đàn đã ân-cần nhắc-nhở thành-viên tránh
đề-cập đến hai lãnh-vực ấy, và, nói riêng, tôi thấy sau khi bà
phổ-biến một số bài viết về tôn-giáo rồi về chính-trị thì có
nhiều vị đã lên tiếng kịch-liệt phản-bác bà, và bà cũng đã
gay-gắt trả lời. Cho nên, khi tôi bắt đầu góp ý với bà thì tôi
viết lên câu đó, để vừa “thông cảm” với bà, vừa tự “trấn an”
chính mình (và quả là tôi viết đúng).
Có thể nói là, với câu viết đó, tôi có
“thiện cảm” với bà, thay vì ác-cảm như bà đã nghĩ.
Thế mà bà viết: “Ôi chao! Ghê gớm thật! Tôi
thấy ông Nhuận còn hơn Mafia ra tay trừng trị đàn em dám sai
trái.”, “Riêng ông Nhuận, trí óc ông nghĩ sao mà dám ra lệnh cho
tôi còn hơn CA CSVN vậy” và “Tôi yêu cầu ông để yên tôi với tự
do ngôn luận về Tôn giáo, Y học, Chính Trị vv.... của tôi, tôi
không thuê ông làm 'thầy đời' mệt!. Nếu tôi nói điều gì sai thì
ông cứ phản bác, đó là điều tôi mong mỏi, và hết lòng biết ơn.”
Tôi không hề không “để yên” bà “với tự do
ngôn luận về Tôn giáo,... Chính Trị... của” bà, mà tôi chỉ “phản
bác” những “điều gì sai” trong bài viết của bà mà thôi;
Bà lại viết “Cuối cùng, tôi xin thưa vối
ông là những điều tôi đưa ra trên là để các ông và bọn 'lau nhau
lẩu chẩu' đừng lải nhải kiếm cớ khích bác thô bỉ tục tỉuxúc
phạm danh dự một người ĐÀN BÀ là tôi.”
Bà thấy là tôi không hề góp thêm ý-kiến
(reply) hay là phổ-biến (forward) các bài viết của các vị khác
liên-quan đến bà, tức là tôi đứng một mình, một mình góp ý với
bà, và tôi toàn dùng lời-lẽ nhã-nhặn; bà đọc lại bài viết của
tôi thì sẽ thấy rõ. Thế mà bà lại viết như trên để trả lời
riêng tôi thì quả là bà đã thiếu tỉnh-táo.
Vậy tôi đề-nghị bà hãy tỉnh-táo nếu muốn
tiếp-tục thảo-luận với tôi.
B- Về Nội-Dung:
2/ Mỹ không “bàn giao quân đội Fulro” (cho
VNCH) tại Ban Mê Thuột.
Bà Nguyễn Thị Thanh viết: “Ngày Mỹ bàn giao
quân đội Fulro xẩy ra trên BMT, ba tôi có nhiệm vụ trong biệc tổ
chức với 2 vị là tỉnh trưởng và ông Tướng của Quân khu BMT”.
Ý-Kiến của Lê Xuân Nhuận:
21. Về vụ “Fulro” nổi loạn tại Trại Sarpa
năm 1964 thì tôi đã có đề-cập trong “thư số 1”, ở chỗ nối kết
“Fulro nổi loạn” rồi.
22. Về việc “Mỹ bàn giao quân đội Fulro
(tại Ban Mê Thuột)” thì tôi là một nhân-chứng, với vai trò
tích-cực trong đó. Đại-ý:
221. Mỹ chỉ là “tác-giả” tổ-chức Dân Sự
Chiến-Đấu (CIDG). Nếu nói trắng-trợn, là “Who pays governs”
(người trả tiền, là người chỉ-huy), thì Mỹ chi tiền cho DSCĐ (vì
do sĩ-quan Lực-Lượng Đặc-Biệt Mỹ làm cố-vấn nên DSCĐ gốc Thượng
cũng được gọi là LLĐB). Còn “Fulro” thì là tổ-chức của một số
người Thượng “đòi tự-trị (không ở dưới quyền người Kinh)” do các
phần-tử dân-sự “thượng-lưu” lớn tuổi gốc Thượng cầm đầu và
khích-động một số phần-tử “trung và hạ-lưu” trẻ tuổi gốc Thượng
trong các trại DSCĐ hay LLĐB (trong đó họ được Mỹ vũ-trang), xúi
họ nổi loạn xong chạy trốn vào rừng. Cho nên Mỹ chỉ vô-tình
chỉ-huy các phần-tử DSCĐ hay LLĐB gốc Thượng vốn trong một
giai-đoạn nào đó đã bị “Fulro” bí-mật móc nối và đang còn ở
trong các Trại, chứ Mỹ không chỉ-huy “Fulro” (nhất là các
phần-tử đã nổi loạn chạy trốn vào rừng theo “Fulro” rồi); cho
nên Mỹ không có tư-cách gì để “bàn giao” “quân đội Fulro”.
222. Sau vụ Sarpa năm 1964, đến năm 1967
thì Chính-Quyền VNCH đã thành-công trong việc kêu gọi các
lãnh-tụ “Fulro” đưa các phần-tử cựu DSCĐ/LLĐB còn trốn trong
rừng, cùng với các phần-tử thuần-túy “Fulro” lâu nay ở trong
rừng (riêng ở Tỉnh Darlac là trên 2,000 người), về “hồi-chánh”.
223. Trong buổi lễ trình-diện 2,000
phần-tử “Fulro” về “hồi chánh” này, diễn ra tại Ban Mê Thuột,
viên đại-diện của Y Bham (lãnh-tụ “Fulro”) là người đứng ra bàn
giao; BTL Quân Đoàn II và Vùng II Chiến-Thuật (Tư-Lệnh là
trung-tướng Vĩnh Lộc) cùng Chính-Quyền Tỉnh Darlac (Tinh-Trưởng
kiêm Tiểu Khu Trưởng là đại-tá Nguyễn Văn Thành) đứng ra
tiếp-nhận; và sau đó là phía Việt Nam chuyển-giao cho Ban
Chỉ-Huy Lực-Lượng Đặc-Biệt Hoa-Kỳ (cố-vấn DSCĐ tức LLĐB gốc
Thượng) nhận đưa về lại các Trại những ai còn muốn phục-vụ trong
đó (ngoại-trừ một số xin trở về Buôn, một số xin nhập QLVNCH).
Như thế, các sĩ-quan LLĐB Mỹ có mặt trong buổi lễ là với tư-cách
tiếp-nhận chứ không phải “bàn-giao”.
23. Muốn biết rõ hơn về nguyên-nhân ra đời
của “Fulro”, cách đối-phó của Chính-Quyền VNCH (ưu hay khuyết),
v.v..., xin bấm nút nối kết “Fulro Hồi-Chánh” hoặc xem bạch-văn
ở cuối bài này (trích trong cuốn hồi-kư của tôi nhan để
“Cảnh-Sát-Hóa: Quốc-Sách Yểu-Tử của Việt-Nam Cộng-Hòa” do
Xây-Dựng xuất-bản năm 2002).
3/ TT Ngô Đình Diệm
Không hề “Vào Rừng Hòa Giải
Bà Nguyễn Thị Thanh viết: “Trong cuốn phim
được kể lại đời sống Cụ Diệm họ đã nói chuyện hai anh em TT Diệm
vào rừng với mục đích hòa giải với quân Fulro.” Câu nói tuy
xuyên tạc nhưng rõ ràng CSVN vẫn nhìn nhận TT Diệm và ông Cố vấn
Nhu có vào rừng BMT”.
Ý-Kiến của Lê Xuân Nhuận:
31. Sau đây là phương-thức của
(Chính-Quyền) TT Diệm đối-phó với “Fulro”:
311. Từ sau khi Thủ-Tướng Ngô Đình Diệm
truất-phế Cựu-Hoàng Bảo-Đại, vùng đất Cao Nguyên mà dưới thời
Hoàng-Đế Bảo Đại là “Hoàng Triều Cương Thổ” đã được sáp-nhập vào
lãnh-thổ Việt-Nam Cộng-Hòa. Do đó, các sắc-tộc Thượng cảm thấy
bị mất “sông núi” của mình, nên một số phần-tử Thượng trước kia
là công-chức, sĩ-quan, nghiệp-chủ dưới thời Pháp lẫn dưới thời
Bảo Đại, ở khắp Miền Nam, đã đứng lên công-khai hoặc ngấm-ngầm
chống-đối người Kinh, thực ra là chống-đối chế-độ Ngô Đình Diệm.
312. Chính-Quyền TT Diệm đã tóm bắt hầu
hết các kẻ cầm đầu mưu-đồ nói trên, gọi chung là “Phong Trào
Thượng Tự Trị”, và đưa ra tập-trung học-tập trong một khu trại
bên bờ sông An Cựu tại Huế. Sau đó họ đã lần-lượt được trả
tự-do, cho trở về nhiệm-sở cũ, hoặc trả về nguyên-quán để chịu
biện-pháp khác. Thời-gian 1954-1956, tôi làm Trưởng Đài
Phát-Thanh “Tiếng Nói Quân-Đội tại Miền Trung”, có thời-gian đặt
một trụ-sở cạnh cầu Tiệm Rượu (Phủ Cam), gần đó, nên đã có thấy
và biết về khu trại ấy.
313. Nhóm cầm đầu “Thượng Tự Trị” bị
tập-trung học-tập này gồm có cả người ở một số Tỉnh nằm ngoài
Cao Nguyên, thí-dụ Tỉnh Quảng-Ngãi (mà một phần-tử là Đinh Ngô,
trước cuộc Cách Mạng 1-11-1963 đã là thiếu-tá QĐVNCH, sau này là
một bạn thân của tôi – xem “Đinh Ngô”).
32. Cho nên không hề có việc TT Ngô Đình
Diệm “Vào Rừng Hòa Giải Với Quân Fulro”.
Nếu xem việc làm của TT Diệm là “hòa giải”
thì:
a) Trước năm 1963 danh-xưng “Fulro” chưa
được phổ-biến, Chính-Quyền chưa ghi nhận như là một tổ-chức
(Front= Mặt Trận), mà chỉ gọi chung là “Phong Trào Thượng (Đòi)
Tự Trị” cho nên không có hòa giải với “Fulro”.
b) Hồi đó, người Thượng liên-hệ chỉ có
cung+tên, dao, giáo, mác; ai thủ-đắc súng (kể cả người Kinh)
bất-hợp-pháp đều bị tử-hình; cho nên chưa có “Quân Fulro”.
c) Việc tóm bắt các phần-tử ấy thì chỉ do
nhân-viên Công-An cấp Tỉnh và cấp Quận thi-hành, chứ không cần
đến Tỉnh-Trưởng, nói chi Quốc-Trưởng (Tổng-Thống).
4/ Ông Ngô Đình Nhu Không Phát-Biểu Gì Cả
trong Buổi Lễ “Bàn Giao” kể trên.
Bà Nguyễn Thị Thanh viết: “ý kiến tôi nghe
từ ba tôi là như sau: Ba tôi nói mạnh mẽ: “Ông Nhu cứng thật (vì
ong Nhu thay Cụ Diệm nhận bàn giao), ông thuyết trình nẩy lửa
trước mặt tướng tá Mỹ. Ông kêu gôi Fulro là chúng ta là dân nước
VN, có bổn phận bảo vệ đ61t nước…. Hởi Quân lực Fulro hãy hướng
vể Sài Gòn (ông hét lên chỉ tay về Sài Gòn) chứ không hướng về
Washington !!!...”
Ý-Kiến của Lê Xuân Nhuận:
41. Lễ “bàn giao” mà bà Thanh đang nói đến
là lễ qui-thuận của 2,000 phần-tử Thượng tại Ban Mê Thuột, như
đã kể trên. Lễ này diễn ra vào năm 1967, mà ông Cố Vấn Ngô Đình
Nhu thì đã cùng với TT Ngô Đình Diệm từ-trần từ năm 1963 (4 năm
trước) rồi; ông Nhu đâu còn sống mà dự lễ.
42. Có thể là ông Nhu đã có phát-biểu gì
đó trong một buổi lễ kết-thúc đợt tập-trung học-tập của số
phần-tử Thượng “đòi Tự-Trị” ở Huế trước năm 1963. Nhưng về câu
nói “chứ không hướng về Washington !!!...” thì không hợp
luận-lý, bởi lẽ Mỹ đã bật đèn xanh cho TT Diệm thành-lập một
chính-quyền nhất-thống, tiếp tay và yểm-trợ cho TT Diệm
thanh-toán các giáo-phái, giải-tán các tổ-chức còn lại từ thời
Pháp, Bảo Đại, nghĩa là Mỹ chống “Hoàng Triều Cương Thồ”, Mỹ
chống “Phong-Trào Thượng Tự-Trị”, Mỹ chống “Fulro”; làm sao có
chuyện “Thượng Tự-Trị” hay “Fulro” “hướng về Washington” để ông
Nhu “hét lên” như thế?
5/ Ông Ngô Đình Diệm Không Làm Thượng Thư
vào năm 23 tuổi.
Bà Nguyễn Thị Thanh viết: “Chúng ta nhờ lại
lúc còn trai 23 tuổi, làm thượng thư bộ lại (như thủ tướng) của
vua Bảo đại”.
Ý-Kiến của Lê Xuân Nhuận:
Ông Ngô Đình Diệm không làm Thượng Thư vào
năm 23 tuổi. Cứ theo các tài-liệu do nhiều tác-giả hiện-đại
thực-hiện thì ông Diệm (sinh năm 1901) làm Thượng Thư Bộ Lại vào
năm 1933 tức 32 tuổi (xem “Thượng-Thư” để biết nhiều chi-tiết
liên-quan.
Kết-Luận:
Tôi chỉ “ phản bác” “ điều gì sai” như bà
đã viết, nhưng:
1. Tôi chỉ nói về các điểm bà đã viết ra,
tức là thảo-luận về “việc” (không nhắm “hơn thua” với bà, mà chỉ
nhân dịp trình-bày những gì tôi biết, để tùy mọi người đối-chiếu
tìm hiểu Sự Thật Lịch-Sử. Nếu bà không đồng-ý thì thôi, bà vẫn
có quyền bảo-thủ ý-kiến của bà).
2. Tôi không đả-động gì đến đời tư/con
người của bà, tức là không thảo-luận về “người” (không “xúc phạm
danh dự một người ĐÀN BÀ” là bà.
3. Tôi chỉ sử-dụng lời-lẽ hòa-nhã, viết ra
trong lúc “tỉnh-táo” (hẳn bà đã thấy), ước mong nhận được những
ý-kiến phản-hồi đúng-đắn và đứng-đắn, để học hỏi thêm.
Trân-trọng kính chào bà.
LÊ XUÂN NHUẬN
www.Thanh-Thanh.com
www.LeXuanNhuan.com
Tôi xin tạm-thời góp ý với cô về 3 trong
nhiều điểm chính, mà các vị khác chưa đề-cập đến, như sau:
1) MỸ LẬP QUÂN ĐỘI FULRO
a/ Cô Nguyễn Thị Thanh viết: “Mỹ lấy dân
tộc thiểu số Miền Cao nguyên lập quân đội Fulro, cho ăn mặt,
lĩnh lương y hệt quân đội Mỹ để sinh ra một sự chia rẻ giữa quân
nhân Việt và Thượng. Sau nầy khi Mỹ trao quân đội Fulro lại cho
QLVNCH thì sinh lắm lôi thôi”
b/ Ý-Kiến:
Tôi xin trình-bày tóm-tắt: Trong cuộc
Chiến-Tranh Việt-Nam, song-song với Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa,
Hoa Kỳ đã tuyển-mộ một số thanh-niên gốc thiểu-số tại vùng
Cao-Nguyên, huấn-luyện, trang-bị, tổ-chức thành các Toán CIDG
(Civilian Irregular Defense Group: Toán Dân-Sự Phòng-Vệ Không
Chính-Quy, được gọi là Dân-Sự Chiến-Đấu), lập trại, dựng chốt,
dọc theo biên-giới Việt-Lào-Miên, cố-vấn, tiếp-vận, và yểm-trợ
cho họ thám-sát và hành-quân chống sự xâm-nhập và hoạt-động của
cộng-sản tại vùng rừng núi các Tỉnh & Quận thượng-du Miền Nam.
Toán-viên là người Thượng, nhưng chỉ-huy là sĩ-quan người Kinh,
bên cạnh có cố-vấn người Mỹ thuộc Lực-Lượng Đặc-Biẹt Hoa Kỳ (do
đó, trại-viên Dân-Sự Chiến-Đấu cũng được gọi là Lực-Lượng
Đặc-Biệt). Về sau, trong tình-hình mới, họ được Hoa Kỳ
chuyển-giao cho Việt-Nam, và họ nhập vào Lực-Lượng Đặc-Biệt của
Quân-Lực VNCH. Mọi sự trôi tròn, không có gì là “sinh lắm
lôi-thôi”.
Cái mà cô Nguyễn Thị Thanh gọi là “lôi
thôi” là vụ Fulro. Fulro (lúc đầu là “Front Unifié de Lutte de
la Race Opprimée”: Mặt Trận Thống Nhất Chiến Đấu của Sắc Dân Bị
Áp Bức) là một tổ-chức của một số người Thượng gốc Édé tức Rhadé
ở Tỉnh Darlac, do Y Bham cầm đầu, nhằm chống lại người Kinh (họ
muốn Cao Nguyên là của người Thượng, không cho người Kinh lên
đây lập-nghiệp). Về sau, một số người Thượng gốc khác ở các
Tỉnh khác cũng hưởng-ứng theo, nên họ sửa câu tiếng Pháp ghi
trên thành “Front Unifié de Lutte des Races Opprimées” (Mặt Trận
Hợp Nhất Chiến Đấu của Các Sắc Dân Bị Áp Bức). Fulro đã
khích-động một số toán-viên Dân-Sự Chiến-Đấu nổi loạn, cụ-thể là
trong đêm rạng ngày 20-9-1964, lính Thượng trong trại Sarpa ở
Quận Đức-Lập, Tỉnh Quảng-Đức, bất-thần nổi dậy giết hết các
sĩ-quan chỉ-huy người Kinh, rồi bỏ trốn vào rừng (không phải để
theo Việt-Cộng). Cùng lúc, việc ấy cũng xảy ra tại các trại Bu
Prang và B. Miga thuộc Tỉnh Quảng-Đức, và trại B. Briêng thuộc
Tỉnh Darlac (Xem thêm). Chính-quyền VNCH can-thiệp, cùng các
cố-vấn Hoa Kỳ kêu gọi các phần-tử ấy trở về, trong một buổi lễ
có đại-tướng Nguyễn Khánh (nửa Quốc-Trưởng, nửa Thủ-Tướng) từ
Saigon ra chủ-tọa. Ngoài việc Tòa Án Quân-Sự, nhóm ngay ở Ban
Mê Thuột, do đại-tá Nguyễn Văn Mạnh (về sau là trung-tướng
Tham-Mưu-Trưởng Liên-Quân) làm chánh-thẩm, xét xử những kẻ
chủ-mưu, chính-sách ưu-đãi đồng-bào Thượng (giảm bớt điều-kiện
để học ra làm Phó Tỉnh-Trưởng, Phó Quận-Trưởng, Trưởng Ty
Thượng-Vụ, Chánh Án Tòa Án Sắc-Tộc, sĩ-quan cấp úy, cấp tá, trên
có Bộ-Trưởng Phát-Triển Sắc-Tộc, dưới có các cơ-sở quần-chúng,
v.v...) đã giúp thỏa-mãn đa-số nguyện-vọng của đồng-bào Thượng,
nên sau vụ đó th́ Fulro xem như lắng yên... Cho đến sau Tháng
Tư Đen 1975 thì Fulro (có cả người Kinh tham-gia) đồng loạt nổi
lên chống Cộng tại khắp các Tỉnh Tây Nguyên.
Tóm lại, Hoa Kỳ không lập “quân đội Fulro”
như cô Thanh viết.
2) CHUYẾN ĐI SĂN CỦA TT NGÔ ĐÌNH DIỆM TẠI
BAN MÊ THUỘT
a/ Cô Nguyễn Thị Thanh viết: “Ba tôi là
dân biểu Ban Mê Thuộc,... đàn em thân tín của cụ Diệm, người
nghĩ rằng sớm muộn Cụ Diệm sẽ bắt tay với Cụ Hồ... Một ngày kia
ba tôi đi họp Sài gòn về Ban Mệ Thuộc báo tin cho mạ tôi rằng
cuối tuần ông Cụ Diệm và ông Nhu sẽ lên Ban Mê Thuộc đi săn ...
Tôi nghe chuyện nhà nước BMT tồ chức cho TT Diệm đi săn, thì vui
thích quá... Sáng thứ bảy quảng vào mùa hè 1961 hay 1962... cả
tỉnh Ban Mệ Thuôc chộn rộn dậy thật sớm. Toàn thể quân cán chính
tấp nập sửa soạn, đi đón cụ Diệm và ông Nhu lúc 5 giở sáng đế
cùng thẵng tiến vào rừng xanh BMT đi săn... Rồi đoàn người quân
cán cính, nào xe hơi nào ngựa. Nhất là quân đội sẵn sàng bao vây
tứ phía cuộc săn bảo vệ ông Cụ Diệm. Vậy là đoàn người đông đảo,
tấp nập, họp lại trước tòa Tỉnh, hớn hở kéo nhau ra đi khi trời
chưa hừng sàng... Rồi suốt cà ngày hôm đó gia đình ba mạ tôi và
các gia đình khác chỉ điện thoại cho nhau chia sẽ lo lắng...Ba
tôi cho hay đây là cuộc đi săn tráo trộn. ba tôi kể: "Một điều
quá sức ngạc nhiên là đi săn mà ông Cụ và ông Nhu đều mặt đồ tây
complet, cravate đàng hoàng, ông cụ măc bộ đồ tơ tằm 'Tussor',
tay cầm baton. Mọi người vào rừng, lúc đầu đi xe hơi một đoạn,
sau bỏ lại xe đi ngựa và đi bộ. Quân đội tỏa ra bao vây khắp
nơi... Ông Cụ Diệm mặc Veste, đội mủ, tay xách baton cùng ông
Nhu cuốc bộ đi sâu vào rừng... đến 6 giờ hơn ông Cụ Diệm và ông
Nhu lủi thủi từ trong rừng đi ra. Mọi người đều im lặng không
một tiếng nói. Tất cả đều nhanh chóng ra về, và đưa ông Cụ thẵng
lên tàu bay chờ sẵn về thù đô Sài Gòn. Ba tôi kết luận: "... Rõ
ràng là ông Cụ đi nói chuyện với CSBV và với Mặt Trận giải
Phóng miền Nam, chua biết ra răng đây." Sau đó, ba tôi được ông
Cụ gọi về Sài Gòn ba tôi mới được biết hôm đó ông Cụ Diêm và ông
Nhu gặp đại diện đảng CSBV và đại diện MTGPMN nói chuyện, hai
bên thỏa thuận nhiều điềm. Vì CSBV cũng rất ngại Mỹ thả bom BV.
Đó là lần độc nhất Cụ Diệm gặp gở phe bên kia không công khai,
qua mặt Mỹ... Đây là lần gặp gở đầu tiên đích thân Cụ Diệm đi
gặp mà tôi biết rõ ràng và là nhân chứng. ...”
b/ Ý-Kiến:
Trong một email của cô gửi ông Hoàng Nam
vào ngày Sat, 6 Sep 2008 7:15 am (Subject: [Thao Luan] TRA LOI
CAU HOI CUA ANH HOANG NAM), cô viết: “tôi, tuy vẫn làm Y khoa
và xã hội, vẫn không từ nan đóng góp ý kiến vào chính trị như
ông Khương Thương đã 81 tuổi ngày xưa ngồi câu cá ở sông vị, rồi
ra giúp nhà Châu dẹp loạn. Tôi còn thua KT hơn cả chục tuổi thì
góp ý kiến cho hậu duệ đâu phải là không hữu ích.” Vậy tôi có
thể đoán tuổi của cô năm nay, 2008, là vào khoảng/gần 70. Năm
2008 mà 70 tuổi thì năm 1962 (46 năm về trước) là (70-46=) 24
tuổi. Trẻ hơn nữa thì cũng vào khoảng 20, trên 18 tuổi, tức là
đã thành-niên rồi.
Do đó:
1- Tôi nghĩ rằng cô đã không thật-sự
đích-thân thấy biết mọi điều, mà đã nghe theo người khác kể lại,
và họ thêm mắm dặm muối, tiểu-thuyết-hóa, huyền-thoại-hóa, nên
bài cô viết gây nhiều thắc-mắc:
1. Cô “chỉ đứng trên lầu thượng của hảng
SCIB nhìn lên Tòa Tỉnh” (nhìn về hướng Tòa Hành-Chánh Tỉnh, phía
bên kia đường và ở tít đằng xa), “khi trời chưa hừng sàng” mà
thôi, thì làm sao mà cô thấy được “đoàn người quân cán cính, nào
xe hơi nào ngựa. Nhất là quân đội sẵn sàng bao vây tứ phía cuộc
săn bảo vệ ông Cụ Diệm. Vậy là đoàn người đông đảo, tấp nập, họp
lại trước tòa Tỉnh, hớn hở kéo nhau ra đi khi trời chưa hừng
sàng... ”?
2. Cô viết: “Mọi người vào rừng, lúc đầu
đi xe hơi một đoạn, sau bỏ lại xe đi ngựa và đi bộ”.
Thông-thường, người ta đã bố-trí sẵn, nơi nào phải rời xe hơi để
leo lên ngựa thì cho ngựa chực tại đó, chứ đâu có bắt ngựa phải
“họp lại trước tòa Tỉnh” rồi mới chạy không, theo đoàn xe hơi
kéo nhau ra đi?
3. TT Diệm ở Saigon, sử-dụng phi-cơ để lên
Ban Mê Thuột, phi-trình nhanh nhất cũng hơn một tiếng đồng-hồ,
đáp xuống phi-trường Phụng Dực, rồi ghé Tòa Tỉnh, rồi mới “kéo
nhau ra đi khi trời chưa hừng sàng”. Vậy th́ “ông Cụ” phải thức
dậy, chuẩn-bị, và rời khỏi Dinh Độc-Lập từ giờ nào? Đi săn chi
mà khổ rứa?
4. Nếu đi kinh lý (thăm dân cho biết sự
tình) thì huy-động dân nghênh đón là chuyện dễ hiểu; đằng này đi
săn mà bắt “Toàn thể quân cán chính ” BMT phải nhọc vì mình, thì
có đắc-sách hay không?
5. Đi săn (dù là giả vờ) mà hai ông lại ăn
mặc sang trọng như thế thì mong đánh lừa được ai? (Chính ba của
cô cũng đã ngạc-nhiên cơ mà!)
6. Đi gặp đối-phương một cách lén-lút,
trong rừng, thì có cần phải trưng-diện theo kiểu mà địch gọi là
“phồn vinh giả tạo” hay không?
7. Không lẽ không thể vi-hành; hoặc giả
du-hành bí-mật (hai ông cùng với nhân-viên an-ninh cải-trang làm
người dân thường, lực-lượng bảo-vệ được lệnh ngẫu-nhiên
hành-quân ở vùng liên-hệ với mục-tiêu khác mà thôi)?
8. Vào rừng gặp địch mà tự mình đi
khơi-khơi, chứ không có người dẫn đường (trung-gian, giao-liên,
v.v...)?
9. Ngay chính “ông Cụ” cũng đã từng bị
mưu-sát, thế mà tin-tức về chuyến đi săn đã được tiết-lộ từ
nhiều ngày trước (“ông Cụ” có biết bao nhiêu “đàn em thân tín”
như ba của cô, kể cả điệp-viên VC Vũ Ngọc Nhạ, Phạm Ngọc
Thảo...), như thế có an-toàn không?
10. Đi săn (dù là giả vờ) mà khi xuống
ngựa vào rừng thì không mang theo súng săn, và khi “lủi thủi từ
trong rừng đi ra” lại không xách theo ít nhất là một... con thỏ,
thì ai mà không thắc-mắc về cuộc đi săn (bí-mật quốc-gia)!
11. Nếu cô là phía Cộng-Sản Việt-Nam, cô
sẽ ôn-hòa tiếp-xúc, thảo-luận, rồi sẽ gặp lại, bàn thêm, thư qua
tin lại, mặc-cả này kia, đi từng bước một, để tiến đến chỗ hai
bên công-khai hội-họp, ký-kết văn-bản, thi-hành thỏa-hiệp, tháng
này năm khác, để cho Miền nào theo dường lối chủ thuyết xã hôi
của đường ấy...; hay là cô sẽ chớp lấy thời-cơ ngàn năm một thuở
(Quân đội đòi bao vây bảo vệ. Ông cụ dẹp hết. Ông Cụ Diệm mặc
Veste, đội mủ, tay xách baton cùng ông Nhu cuốc bộ đi sâu vào
rừng), mà “thịt” hai ông tức-thời, đúng với đuờng-lối (vào thời
ấy đường lối CSBV rất sát máu) và chính-sách “giải phóng Miền
Nam” (hai ông mà chết bất-thần lúc ấy [1961-1962] thì cả Miền
Nam như rắn mất đầu, cộng-sản tiến chiếm nhanh-chóng dễ-dàng
biết bao)? Vậy việc “ông Cụ” vào rừng như thế là một tính-toán
khôn ngoan?
Thế thì:
Tôi đề-nghị cô, nếu cô chỉ viết theo lời
người khác kể lại, thì nếu cô muốn kể lại chuyện này trong sách
hồi-ký hay sách tự-sự gì đó của cô, thì cô nên lược bỏ các
chi-tiết bịa đặt, để khỏi bị nghi là cô giả vờ viết khen nhưng
thật ra thì cô có dụng-ý bôi-bác Tổng-Thống Ngô Đình Diệm và ông
Cố-Vấn Ngô Đình Nhu, nói chung là tầng-lớp lãnh-đạo Đệ-Nhất
Cộng-Hòa, mà cô kính yêu.
2- Còn nếu quả thật những gì cô viết là
đúng sự thật, thì hẳn là cô phải tự nhận-chân rằng các lãnh-đạo
Đệ-Nhất Cộng-Hòa quả quá non-nớt, trong một việc lớn như vụ “đi
đêm” (cuộc đi săn) kể trên, mà phạm sơ-khuyết như thế thì còn
mong gì hoàn-thành các đại-sự khác?
3) TT NGÔ ĐÌNH DIỆM CÓ ĐI BAN MÊ THUỘT GẶP
GỠ CSBV VÀ MTGPMN HAY KHÔNG?
Đây là câu hỏi và lời giải-đáp dứt khoát
cho vấn-đề “Cụ Diệm gặp gở phe bên kia không công khai” tại Buôn
Mê Thuột vào năm 1992 (có đoạn cô viết là “vào mùa hè 1961 hay
1962”). Tôi xin tóm-tắt kể lại những lần Tổng-Thống Ngô Đình
Diệm đến Ban Mê Thuột, như sau:
Lần thứ nhất:
22-2-1957.- Khánh thành long trọng Hội Chợ
Ban Mê Thuột. 8g30 T.T. Ngô Đình Diệm tới, gần đến khán đài, bị
một thanh niên bắn bằng tiểu liên Mas-49 dấu dưới áo blouson.
Nhưng đạn lại trúng Bộ Trưởng Cải Cách Điền Địa là ông Đỗ Văn
Công; ông Công bị thương nặng ở tay và ngực. Người bắn bị bắt
ngay... Thanh niên bị bắt là Hà Minh Chí, tức Phạm Ngọc Phú, đã
từng làm việc ở Ty Thông Tin Tây Ninh (trích Hai Mươi Năm Qua
- Việc Từng Ngày (1945-1964) của Đoàn Thêm (Xuân Thu,
Saigon, 1965) trang 2
Lần thứ hai:
17-3-1961.- Đồng bào Thượng làm lễ biếu TT
NDD bạch-tượng vừa bắt được tại Ban Mê Thuột (trích Hai Mươi
Năm Qua - Việc Từng Ngày (1945-1964) của Đoàn Thêm (Xuân
Thu, Saigon, 1965) trang 291.
Trong lần thứ hai này, tôi có mặt tại chỗ.
Tôi bị đày lên Cao Nguyên (vùng “nước độc và nguy-hiểm”),
phụ-trách Cảnh-Sát Tư-Pháp tại Nha Cảnh-Sát Công-An Cao-Nguyên
Trung-Phần trụ-sở tại Ban Mê Thuột, và ngụ tại đây từ 1960 đến
1963.
Trong buổi lễ dâng bạch-tượng kể trên,
toàn-thể viên-chức CSCA đều được huy-động tham-gia giữ-gìn
an-ninh trật-tự, nhất là bảo-vệ cho Ngô Tổng-Thống, vì cũng tại
đây “ông Cụ” đã từng bị bắn vào năm 1961.
Từ phòng của tôi, có một nhân-viên người
Thượng, sắc dân Édé (Rhadé), tên Y Tlung M’Lô, được chọn sung
vào một toán đặc-biệt, cùng với một số quân-nhân gốc Thượng,
đảm-trách công-tác bí-mật. Anh ấy kể lại với tôi: về việc làm
cho bộ lông của con voi con có được màu trắng (voi trắng theo
phong-tục Thượng là một biểu-tượng thiêng-liêng đem lại
khương-ninh, thịnh-vượng, trường-thọ cho ai bắt đuợc và làm chủ
nó) để dâng tặng Ngô Tổng-Thống, thì người khác lo; anh ấy
đích-thân giữ-gìn chậu nước dùng để một viên Tù-Trưởng
niên-trưởng đại-diện đồng-bào sắc-tộc rửa chân cho Ngô
Tổng-Thống (để chứng-tỏ sự thần-phục và lòng trung-thành), và
gài một chai nước ngọt vào trong đáy vò, gắn một cái cần vào
trong chai đó, thắt mấy sợi chỉ làm dấu, để khi Tổng-Thống được
mời cùng uống rượu cần theo phong-tục Thượng (mỗi vò rượu cần có
nhiều cái cần, mỗi người dùng một cái cần mà hút một lần với
nhau) thì dùng cái cần đã có làm dấu để hút... nước ngọt, thay
vì rượu cần (mùi vị khó uống, vả lại không đuợc vệ-sinh).
Lễ-đài được dựng ngay tại Ngã Năm (không xa
“hảng SCIB” của thân-phụ cô).
Tóm lại, TT Ngô Đình Diệm chỉ đến Ban Mê
Thuột hai lần kể trên mà thôi. Tôi là nhân-chứng, chứng-nhận
rằng không hề có lần nào “đích thân Cụ Diệm” lên Ban Mê Thuột để
“gặp gở phe bên kia không công khai” như cô đã kể.
Còn về đề-tài “từ năm 1963 là thời chế độ
CSBV còn ác liệt, mà TT Ngô Đình Diệm đã quyết tâm giao hòa với
CSBV, ngày nay qua bao nhieu đổi mới, tại sao chúng ta còn dám
nói giài hòa với CSVN là tự sát” thì tôi sẽ xin góp ý với cô
trong “thư số 2” vào đầu tháng sau.
Lần nữa, xin cám ơn cô, và kính chúc cô
khỏe mạnh.
LÊ XUÂN NHUẬN
www.Thanh-Thanh.com
www.LeXuanNhuan.com
KÍNH GỬI BÀ NGUYỄN THỊ THANH
(thư số 2)
Như tôi đã hứa với bà, hôm nay tôi xin gửi “thư số 2” đến bà,
để góp ý về vấn-đề mà bà nêu lên:
Năm 1962, TT NgôđìnhDiệm người chủ trương hòa giải đầu tiên
với CSBV
Như vậy từ năm 1963 là thời chế độ CSBV còn ác liệt, mà TT
Ngô Đình Diệm đã quyết tâm giao hòa với CSBV...
Ts. Bs. Nguyễn Thị Thanh
Đây chỉ là một bài viết đã cũ, nhưng có liên-quan đến điều mà
bà nêu lên, nên tôi chép lại gửi bà như một ý-kiến phản-hồi.
[Nguồn:
From
Matthew Tran
hi5forhrinvn@yahoo.com
reply-to
BTGVQHVN-2@yahoogroups.com
date Mon, Oct 27, 2008 at 5:58 PM
subject [BTGVQHVN-2] Matthew Trần góp ý ....// LeXuanNhuan: TT
Diệm tiếp xúc với CSVN
mailing list <BTGVQHVN-2.yahoogroups.com>]
III - NGHĨ VỀ HAI DÒNG HỌ THÔNG GIA HUẾ
Nguyễn Hạnh Hoài Vy
Hai dòng họ Nguyễn Hữu và Ngô Đình nhờ vào mối liên hệ thông
gia tôn giáo-chính trị (Nguyễn Thị Giang, con gái của Nguyễn Hữu
Bài kết hôn với Ngô Đình Khôi) đã đưa dòng họ Ngô Đình bồng bềnh
với quyền lực đến hơn nửa thế kỷ, mang một nét độc đáo vượt trội
hơn cả, bao gồm các đặc tính sau:
- dòng dõi vốn xuất thân từ khố rách áo ôm, nhờ 'rửa tội'
mà mấy đời con cháu no cơm ấm cật.
- cung cúc phục vụ cho ngoại nhân (thế quyền lẫn giáo
quyền).
- tâm chất thì bán nước cầu vinh, nhưng lúc nào cũng cố
mang chiếc áo quốc gia, dân tộc.
- đạo đức qua bộ mặt cuồng tín tôn giáo.
- cả hai đều phải "vào ra" cánh cửa các nhà tu Công giáo
mà tạo quyền thế về sau.
Theo "Nhân Vật Giáo Phận Huế", tập I (tác giả Lê Ngọc Bích,
tài liệu lưu hành nội bộ), cho rằng "Nguyễn Hữu Bài vốn
nguyên quán Thanh Hóa, là hậu duệ của Nguyễn Trãi" (trang
110). (Theo bảng phụ chú "Thế hệ dòng họ" (trang 111), Hoài Vy
ghi nhận có rất nhiều dấu hỏi cần phải được đặt ra trên phương
diện sử liệu về mối liên hệ dòng họ của ông Bài với Nguyễn Trãi,
nhưng đây là một vấn đề khác cần được trình bày ở một bài viết
khác).
Phêrô Giuse Nguyễn Hữu Bài, sinh ngày 18-9-1863 tại làng Cao
Xá, phủ Vĩnh Linh, Quảng Trị. Thời thiếu niên, cha mất sớm, năm
lên 10 tuổi mẹ ông xin linh mục Gioan Châu bảo trợ vào tiểu
chủng viện An Ninh. Chính Linh mục Caspar (tên Việt: Lộc) có lần
khen "Bài là một thanh niên tuấn tú, tương lai thành tài, đạt
đức." (trang 112), sau đó gời ông đi học chủng viện Pénang
(Mã Lai).
Học xong, Bài về nước vào đúng lúc hòa ước Patenôtre
Việt-Pháp vừa được ký kết, Bài được giới thiệu làm thừa phái Nha
Thương Bạc (chức nhỏ tùng sự tại cơ quan ngoại giao của triều
đình, việc chính là làm thông ngôn).
Năm 1887, ông được cử đi đánh giặc "thổ phỉ" miền thượng du
Bắc kỳ trong 5 năm (sách đd, trang 113). Đây mới là chỗ có vấn
đề! Giữa lúc thực dân dân Pháp tác oai tác quái trên khắp lãnh
thổ Việt Nam, giai tầng "phục dịch ngoại nhân bản địa" thăng
quan tiến chức, trong lúc các phong trào Cần Vương yêu nước nổi
lên kháng chiến khắp nơi.
Ở Bãi Sậy có Nguyễn Thiện Thuật, Tạ Hiện, Phạm Bành.
Ở Thanh Hóa có Đinh Công Tráng với căn cứ Ba Đình.
Ở Bắc Giang có Hoàng Hoa Thám với chiến khu Yên Thế.
Ở Hưng Sơn (Hà Tây) có Phan Đình Phùng, Cao Thắng... Cao trào
kháng chiến bùng nổ năm 1887, là kết quả một chuổi tiếp nối từ "Sau
biến cố 1885, tầng lớp "ký lục" kiêm "thông sự" được đeo thẻ bài
ở Tòa Khâm, cái giai tầng được sự đỡ đầu bằng đề cử của các giáo
sĩ ở ngoại quốc. Họ thành lập giai tầng trung gian bản xứ thay
thế giai tầng Văn Thân nho sĩ và thường biện minh cho sự hợp tác
với Pháp qua chiêu bài "thánh chiến" lập tân trào." (Vũ Ngự
Chiêu, sách đd, tập 2, trang 484)
Ngược lại với cảnh tượng nhốn nháo trên, hàng hàng lớp lớp
sĩ phu trên lãnh thổ phía Bắc, các anh hùng kháng Pháp nổi lên
khắp nơi, thì ông Nguyễn Hữu Bài lại được triều đình (tất nhiên
là qua mật lệnh của Pháp) được cử đi đánh dẹp "thổ phỉ" (theo Lê
Ngọc Bích, sách đd).
Thổ phỉ thật ra là một lối chơi chữ để tránh phải gọi là các
anh hùng nghĩa quân chống Pháp, một lối chơi chữ 'xách mé' vô
trách nhiệm, không biết hổ thẹn với lương tâm, không sợ phải
mang tội với lịch sử dân tộc. Biết bao nhiêu anh hùng kiểu 'thổ
phỉ' này đã bị bọn người bản xứ được "rửa tội" và đeo "thánh
giá" vào người gài bẫy, giết hại để lập công với nước Đại Pháp !
Và cũng nhờ các công trạng đó, Bài được thăng tiến từ Bố
chánh Thanh Hóa rồi ngóc đầu lên tới Thị lang Bộ Lại, Thượng tá
Cơ Mật, Tham tri Bộ Hình, sau cùng là Thượng thư triều đình.
Năm 1922, được đi sứ sang pháp, tháp tùng vua Khải Định với
chức Hộ giá Đại thần, Bài ghé thăm kinh đô của con dân Chúa là
Vatican, được Giáo hoàng Piô XI cho quỳ xuống hôn chân, tâm hồn
Bài bốc lên tận mây xanh, làm bài thơ ca ngợi "Nước Thánh" như
sau:
"Nghe rằng La mã, nước văn minh,
Rằng mới qua xem thấy hiện hình.
Cung điện Giáo hoàng còn vị trí,
Thành trì Ý quốc đã kinh dinh.
Thần đồ, từ vũ, nên kỳ tuyệt,
Cổ tích lâu đài thật khủng kinh.
Yết kiến mông ơn chầu Thánh tọa,
Trăm phần danh giá, bội thêm vinh."
("Lịch Sử Giáo Phận Huế", 'Vịnh đi La mã', trang 116. Theo
chú thích của Lê Ngọc Bích, "thần đồ": tượng ảnh, "từ vũ": đền
đài ).
Bài thơ 'xuất thần' ca tụng Vatican này đáng được Giáo hội
Công giáo Việt Nam khắc bảng vàng để ghi nhớ tấm lòng sắt son
của những kẻ biết "hiếu nghĩa".
Bản chất của Bài rất đáng được xếp loại vào giai tầng "trung
gian" mà Vũ Ngự Chiêu đã mô tả rất cụ thể : "Vào thời điểm
1885, đây không còn là những lời cáo buộc vô bằng chứng nữa. Vì
lý do này hay lý do khác, đa số tín đồ Ki-tô đã bị lọt vào vòng
ảnh hưởng của Pháp, và một thiểu số khác – vì cuồng tín hay vì
danh lợi bản thân, hoặc cả hai – tích cực hợp tác hoặc phục vụ
quân viễn chinh Pháp. Trên khắp chiến trường từ Bình Thuận ra
tới thượng du Bắc Việt, đại đa số thông sự, nho, lính tập, điềm
chỉ, dẫn đường cho Pháp là giáo dân Ki-tô." (sách đd, tập 2,
trang 456).
Và danh lợi muốn bền vững cũng cần sự kết hợp gắn bó: "Ông
Nguyễn Hữu Bài có một người bạn đồng liêu lớn hơn ông chừng một
con giáp: ông Ngô Đình Khả (1857-1923). Hai vị đều là lương đống
của triều đình, đồng hương, đồng đạo và đồng chí. Mỗi vị có
những hoạt động khác nhau, nhưng hỗ trợ nhau." (Theo Lê Ngọc
Bích, sách đd – tập I, trang 125).
Khá khen cho cụ Lê Ngọc Bích dùng chữ để mô tả khá cụ thể:
hai họ có rất nhiều cái "đồng", nhưng đồng chí mang một nét "độc
đáo" nổi bật. Ông Khả và ông Bài đã đồng chí ở những điểm nào ?
Trước hết, hãy nhắc lại tông tích của ông Khả là ai? – Micae
Ngô Đình Khả sinh năm 1857 nguyên quán làng Đại Phong, huyện Lệ
Thuỷ, tỉnh Quảng Bình. Thuở nhỏ, Khả được cha là Giacôbê Ngô
Đình Niêm hay cho đi giúp lễ với một vị linh mục Pháp ở họ đạo
Mỹ Duyệt Hạ (tổng Thạnh Xá, Lệ Thuỷ). Năm 1870, Khả được Linh
mục Caspar (Lộc) cho đi học chủng viện Pénang. Học được 8 năm,
đến năm 1878, nhưng "không thấy ơn Chúa gọi", nên lấy vợ
cho ấm thân. Lấy vợ lần thứ nhất với Madelêna Chĩu, bà này qua
đời, lấy vợ lần nữa (năm 1889) với Anna Phạm Thị Thân. (Theo Lê
Ngọc Bích, sách đd, trang 105-109, tập I).
Chúng tôi chưa biết có tài liệu nào nói đến việc ông có con
cái gì với bà Chĩu hay không, riêng với bà Thân, đã đẻ ra một
loạt quý tử Ngô Đình, có người về sau làm tới tổng thống. Cũng
như Bài, ông Khả đã "vào ra" chủng viện Pénang, làm thông ngôn,
Cơ Mật viện triều đình, quan hàm Chánh Tứ Phẩm, thăng đến Thượng
Thư Bộ Công. Nét giống nhau độc đáo nữa, là 12 năm sau (1895) kể
từ ngày Phêrô Giuse Bài ra Bắc trừng phạt "thổ phỉ", Micae Khả
được cử làm Phó tướng cho Nguyễn Thân ra Bắc đánh dẹp nghĩa quân
"phản loạn" Cần Vương ở Vụ Quang (căn cứ kháng chiến của Phan
Đình Phùng). Khả thắng trận, nhưng chưa hả dạ, đào mã lấy xác cụ
Phan trộn thuốc súng làm đạn, bỏ vào súng đại bác bắn cho tiêu
xác trên sông Lam giang.
Đây là "trò chơi" độc đáo nhất của "cụ" Khả, đúng là "Đức
lớn tài cao, trí có thừa; Đại thần Thị vệ tiếng khi xưa..."
('Nhân Vật Giáo Phận Huế', Lê Ngọc Bích, sách đd, trang 109).
Cái tâm chất "trí có thừa" này hẳn là một nhiễm-sắc-thể di
truyền khó thoát : các hậu duệ của ông Khả như Ngô Đình Khôi –
đã từng nổi danh với cách dùng mãnh sành và nước lạnh để tra
khảo những người làm cách mạng lúc ông làm Tổng đốc Quảng Nam,
hay "cụ Ngô" hồi làm quan lớn cũng từng dùng đèn cầy hơ nóng hậu
môn tù nhân ngay lỗ khoét của ghế ngồi để tra khảo tù nhân cách
mạng. Có người đã cho rằng, một kẻ làm đến tổng thống, khi đã ra
lệnh tấn công chùa chiền, bắt bớ hàng ngàn tăng ni, thì việc ác
nào cũng có thể làm. Hậu duệ Ngô Đình Cẩn với 'Chín Hầm' ở gần
Phủ Cam, Huế là nơi đã bức tử, hại sinh biết bao sinh mạng vô
tội; hay một đứa con khác đã đi tu tới chức Giám mục rồi, mà vẫn
đeo đẳng tinh thần:
"Ngô Đình Thục háo danh thèm chức tước,
Tiếm loạn quyền nên cả nước khinh khi,
Tu hành gì mà gian ác sân si!
Thế mà vẫn nghiễm nhiên làm Giám mục..."
(Nguyễn Mạnh Quang, 'Thực Chất của Giáo Hội La Mã', tập 2,
tác giả xb, trang 571).
Nhận định về công trạng của hai đại dòng họ Nguyễn Hữu-Ngô
Đình đã đóng góp cho thế quyền (Đại Pháp) và giáo quyền (Giáo
hội Công giáo Vatican) lớn tới đâu, chỉ có trong nội bộ của hai
thế lực này biết thôi, nhưng có một câu vè trong dân gian ở Huế
về hai nhân vật này "Đày vua có Khả, đào mã có Bài" vẫn
còn là dấu hỏi. Dấu hỏi bởi, theo các tài liệu lịch sử Giáo hội
Công giáo VN viết thường là ca tụng hai nhân vật "độc đáo" này
hết lời, và tất nhiên câu vè dân gian trên được sửa lại:
"Phế Vua không Khả, Đào mã không Bài" ("Nhân
Vật Giáo Phận Huế", sách đd, tập I, trang 115) để ám chỉ tới lập
luận của chính họ: Bài đã từng "lên tiếng" ngăn chận, dù không
thành Khâm sứ Mahé ngang ngược bắt khai quật lăng Vua Tự Đức lấy
vàng ngọc châu báu vào năm 1907, dưới triều Vua Duy Tân. Ông
Thượng Ngô Đình Khả "phản đối" Pháp trong âm mưu truất phế và
đày Vua Thành Thái ('cũng chỉ lên tiếng thôi mà không thành'!).
Cho tới hôm nay, các nhà viết sử ở nước ngoài chưa thấy ai nói
rõ điều này một cách rạch ròi cho thỏa lòng dân Huế. Đến ngay cả
tác giả Hoàng Trọng Thược trong "Hồ Sơ Vua Duy Tân" (Thanh Hương
xuất bản 1984, Hoa Kỳ) cũng dùng tài liệu cũ vốn thiếu phần
chính xác để xác nhận việc Ngô Đình Khả không chịu ký tờ biểu
vua thoái vị (trang 410). Nhưng với vai trò "Thị vệ" (đúng nghĩa
là làm nhiệm vụ cảnh sát và báo cáo) báo cáo mọi hành vi, nhất
cử nhất động của Vua Thành Thái lên quan Đại Pháp, thì sự việc
ông Khả có lên tiếng "phản đối' âm mưu "truất ngôi, đày vua" có
thật hay không cũng chẳng có giá trị thuyết phục nhân dân Việt
thay đổi cái nhìn về bản chất và hành động của Bài và Khả.
Theo nhận xét qua phương pháp phân tích sử liệu của Vũ Ngự
Chiêu ('Các Vua Nhà Nguyễn', tập 2), chúng ta thấy có sự mâu
thuẫn giữa Giáo hội Công giáo (bản xứ + truyền giáo) và chính
quyền thực dân về việc truất phế Thành Thái. Báo 'L'Avenir de
Tonkin' (có cổ phần của Hội Truyền giáo) đã báo cáo về Paris
rằng: "Có vẻ Thành Thái đã rửa tội trong một cơn bệnh nặng
trước khi lên ngôi (1884). Hội Truyền giáo chẳng bao giờ chống
lại vua; vài năm trước Hội đã vận động để cắt cử một giáo dân
Ki-tô, Ngô Đình Khả vào chức vụ thân cận cho phép hành xử trên
vua những ảnh hưởng trực tiếp và liên luỹ..." (trang 583).
Quan điểm của chính quyền thực dân Pháp (qua đại biểu Khâm sứ
F. Levecque, có khuynh hướng Tam Điểm ('Freemason' – vốn không
ưa Công giáo Rôma) không quan tâm lắm tới một ông vua bù nhìn có
"rửa tội" hay không, mà là một ông vua tương đối "tử tế", biết
vâng lời nước Pháp và quan Đại Pháp.
Trong lúc Hội Truyền giáo và nhóm Ki-tô thì thích một ông vua
đã rửa tội hơn, và điều quan trọng nhất là họ có khả năng kiểm
soát và kiềm chế ông vua này không. "Ngô Đình Khả – người
được giao chức quan Thị vệ và an ninh Cấm thành – bị nghi là
gieo rắc những ảnh hưởng tai hại trên vua." (Vũ Ngự Chiêu,
tập 2, sách đd, trang 585). Trong lá thư ngày 15/8/1907, Khả vận
động 154 học sinh Quốc Tử Giám gởi Khâm sứ Levecque tỏ lộ rằng:
"Yêu cầu Pháp ban cho họ một ông vua mà chỉ nguyên sự hiện
diện đủ trấn an tinh thần binh sĩ và các liệt thần của đế quốc."
(sách đd, trang 585). Do đó, vấn đề Khả dù có chống việc "phế
ngôi, đày vua", không phải vì ông ta thương xót gì triều đình
nhà Nguyễn, lo cho sơn hà xã tắc nước Nam, mà do điều đó có phù
hợp với mưu đồ hợp tung giữa Bài và Khả, có được lòng Giáo hội
Mẹ, quyền lợi nước Đại Pháp và khả năng khuynh loát triều chính
hay không ? Câu trả lời : ngày 3/9/1907, Nguyễn Hữu Bài, cùng
Phủ Phụ Chính (tất nhiên trong đó có Khả) chấp nhận giải pháp
của nước Đại Pháp, và hơn một tháng sau (17/10/1907), Vĩnh San
(hoàng tử thứ hai mới 10 tuổi) lên ngôi, Thành thái phải rời Huế
đi Bà-rịa, mở đầu cho cuộc đời tù đày long đong viễn xứ của ông
vua giả điên này.
Một tài liệu khác trong "Lịch Sử Phật Giáo Huế" của Thượng
tọa Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm (nhà xb TP/Hồ Chí Minh 2000)
lại trưng ra những chứng cớ đơn giản hơn, khẳng quyết Nguyễn Hữu
Bài là kẻ đã đồng ý đào mã Vua Tự Đức : "Nguyễn Hữu Bài là
người đã ký giấy để bọn thực dân Pháp quật lăng Vua Tự Đức. Điều
này có thể không sai, bởi vì ông đã nói với ông A. Delvaux là
"nước Pháp đã mở rộng nền bảo hộ của họ một cách "cực chẳng đã",
nghĩa là điều nước Pháp không muốn, họ vẫn bị đẩy bởi sự vi phạm
không ngừng các hiệp ước do triều đình Vua Tự Đức gây nên."
(dẫn theo LSPGH, trang 355-356 A. Delvaux, 'Quelques précisions
sur une période troublé d'histoire d'Annam' – Bulletin des Amis
du Vieux de Hue số 3, năm thứ 28). Đây là lối luận định - tư
tưởng đã như vậy thì hành động không thể khác. Riêng Ngô Đình
Khả "là người đã ký giấy cho bọn thực dân Pháp đày Vua Thành
Thái sang Réunion. Dân Huế còn truyền tụng "Đày vua ông Khả, đào
mã ông Bài"" (trang 356). "Lịch Sử Phật Giáo Huế" đã kết
luận về con người ông Khả rằng : "Mấy chữ sau đây của ông
Nguyễn Đình Hòe nói về ông Ngô Đình Khả, mà Louis Sogny trích
lại trong bài viết của ông ở BAVH (Bulletin des Amis du Vieux de
Hue), tưởng là quá đủ: "...un grand serviteur de la France..."
Cho nên đối với nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam, nhất là dân
Huế, thì ông Ngô Đình Khả đã bị "tombé dans l'oubli depuis
longtemps" như lời ông Nguyễn Đình Hòe đã nói vào đầu thế kỷ 20
này là điều hiển nhiên vậy." (LSPGH, trang 357).
Đúng vậy, cái 'tên' Ngô Đình Khả – "một đại-tôi-tớ cho nước
Pháp" đã bị tiêu trầm trong lòng người dân Huế một thời gian dài
đằng đẳng, nhưng dòng họ Ngô Đình chỉ thật sự hoàn toàn "xóa sổ"
vào ngày 13/12/1984, lúc Tổng Giám mục Ngô Đình Thục (con trưởng
nam cuối cùng của dòng họ Ngô Đình) lìa trần trong tình trạng
"tù đày" (captivity) cô độc sau một thời gian dài công khai
chống lại Vatican. C̣n một chút ảo vọng khác là Hồng y Nguyễn
Văn Thuận (cháu ngoại của Ngô Đình Khả (*)), trong niềm mơ ước
hoang tưởng của một số người Công giáo hoài Ngô ôm ấp viễn mộng
một ông Giáo hoàng Việt Nam đầu tiên – ngày 16/9/2002 cũng đã
"về với Chúa". Ngoài những "hậu duệ" bàng dân thiên hạ như :
Nguyễn Văn Lục, Thoma Thiện, Lữ-Giang-Tú-Gàn còn tỏ chút "Đôi
dòng ghi nhớ", và những bùi ngùi, luyến thương công khai
hoặc âm thầm khác; từ đây không biết còn có những tung hô "dựng
đền tạc tượng" dòng họ Ngô Đình nữa hay không – cũng chỉ vì
những bâng khuâng tiếc nuối, mơ tưởng về đống của phù vân đã tan
biến theo dòng đời ?
Nguyễn Hạnh Hoài Vy
(Thu 2002 - hồi tưởng về 1.11.63)
[(*) Trích sau đây là một đoạn qua bản tin "Hồng y Nguyễn Văn
Thuận từ trần" của website ở Paris tháng 10 năm 2002 : "Theo
thông tín viên của chúng tôi ở Roma, cách đây vài tháng, em trai
của hồng y, ông Nguyễn Văn Tuyên, đã từ trần tại Houston, Texas.
Ông Tuyên sống độc thân sau khi li dị, chết đơn độc không ai
hay. Nhiều ngày sau, bạn bè mới phát hiện khi thấy đàn quạ bay
vần vũ trên nóc nhà"].
NDVN, ngày 16/7/06
[Nguồn: fromHoang
Thuc An
hoangthucan@.....
toPhoNang@yahoogroups.com
dateWed, Oct 29, 2008 at 2:03 AM
subject Cuoc doi TT Ngo Dinh Diem
mailed-by gmail.com]
IV - NGÔ ĐÌNH DIỆM và BẢO ĐẠI
Nguyễn Đắc Xuân
Bà "thứ phi" Mộng Điệp nói về
chuyện ông Ngô Đình Diệm phản bội Cựu hoàng Bảo Đại như thế nào?
Chuyện ông Ngô Đình Diệm phản bội Cựu hoàng Bảo Đại đã được
báo chí nói đến nhiều. Lần đầu tiên nhà văn nhà nghiên cứu
Nguyễn Đắc Xuân được nghe chính người trong cuộc là bà Mộng Điệp
"thứ phi" của Cựu hoàng Bảo Đại đề cập đến vấn đề đó tại Paris.
Câu chuyện lịch sử ấy đã được xuất bản trong cuốn
Hỏi chuyện đời bà "thứ phi" Mộng Điệp với Cựu hoàng Bảo Đại
do Nxb Thuận Hóa ấn hành vào tháng 6-2008 vừa qua.
Được sự đồng ý của tác giả, chúng tôi
xin trích hai đọan từ tr.47 đến 52 và từ tr.132 đến tr.139 sau
đây.
NĐX.-
Có dư luận nói rằng, Cựu hoàng bị áp lực của Mỹ nên mới mời
ông Ngô Đình Diệm về làm Thủ tướng ?
Bà Bùi Mộng Điệp.- Không
có lửa thì làm sao có khói. Dư luận đó có phần nào đúng. Tôi xin
kể chuyện nầy: Trong thời gian sắp ký Hiệp định Genève, Dulles
gặp ông Bảo Đại ở nhà hàng gần hồ Léman (Thụy Sĩ). Hai người
không dám ngồi ăn trong nhà vì sợ gián điệp thu âm, phải dọn ăn
ở ngoài vườn. Hai người Pháp theo hầu Bảo Đại cũng cho ăn riêng
ở một chỗ xa. Lúc về ông Bảo Đại bảo tôi :
- "Thằng Dulles bảo đại ý là
Ngài lùi đi, Ngài đi đi. Ngài đừng về VN nữa. Ngài cứ ngồi im ở
bên nầy. Mỹ sẽ đuổi Pháp ra và lấy Việt Nam lại cho. Mỹ cần một
người không cần giỏi lắm, miễn là dân chúng cho là trong sạch,
ghét Tây là được. Còn vấn đề sinh sống của Ngài bên Tây, Ngài
đừng lo !"
NĐX.- Thế sau người
Mỹ có giữ lời hứa giúp Cựu hoàng không ?
Bà Bùi Mộng Điệp.- Đầu năm
1955 ông Tôn Thất Hối và ông Ngô Đình Luyện có đem tiền qua, gặp
ông Ngài ở bờ biển Cannes. Nhưng Ngài không nhận. Nếu ông Bảo
Đại nhận số tiền ấy là mắc bẫy của Mỹ và ông Diệm rồi ! Chuyện
nầy ông Trần Văn Đôn cũng biết đã ghi trong Việt Nam Nhân Chứng
[1].
NĐX.- Cũng có dư
luận nói rằng Ngô Đình Diệm định mời Hoàng hậu Nam Phương về làm
"Phụ chánh" cho chính phủ của Diệm, theo bà chuyện đó có không
?
Bà Bùi Mộng Điệp: Trước
khi lên đường về Sài Gòn nhận chức Thủ tướng, người ta nói ông
Diệm hứa, sau khi cầm quyền sẽ mời Hoàng hậu Nam Phương về làm
Phụ chánh và sau đó sẽ cho Hoàng thái tử Bảo Long lên nối ngôi
và sẽ thiết lập quân chủ lập hiến giống như Anh quốc. Nghe người
Pháp nói lại, sau đó bà Nam Phương chuẩn bị khăn áo để về làm
Phụ chánh. Chuyện đó ông Bảo Đại hoàn toàn không hay biết. Chồng
làm một đường, vợ làm một nẽo. Do ai gây ra chuyện chia rẽ ấy?
Có lẽ do mấy ông chịu ảnh hưởng của Vatican lúc đó mà thôi.
Nhưng rồi sau đó ở bên nhà xảy ra bao chuyện rắc rối, bà Nam
Phương chưa về được bèn cử ông Phạm Bích về. Trong một bữa cơm
trưa tôi nói cho ông Bảo Đại biết Đức Từ gởi thư cho biết ông
Phạm Bích đã nói với Đức Từ rằng "Ngài hoàng sắp về VN". Ông Bảo
Đại nói:
- "Tôi có biết gì đâu !".
Sáng hôm sau ông Nguyễn Đệ đi tàu đêm về
Cannes bảo tôi:
- "Có chuyện rất quan trọng cần phải gặp
Quốc trưởng gấp".
Tôi phôn tìm ông Bảo Đại, ông đi
vắng, đến 10 giờ mới gặp được ông. Có tin ông Bidault của Pháp
muốn ngăn chận việc bà Nam Phương đơn phương về Việt Nam. Từ đó
tôi mới hiểu. Trước đó những người giúp việc trong nhà xa Việt
Nam lâu nhớ nhà, tranh nhau để được theo Hoàng hậu Nam Phương về
thăm nhà một chuyến. Như vậy là chuyện bà Nam Phương được ông
Diệm mời về là có thật. Có lẽ đây là một âm mưu của Hồng y
Spellman với Mỹ bày ra và không có ý kiến của Thiên chúa giáo ở
Pháp. Cho nên sự thể mới ra như thế. Có lẽ vì Pháp chận lại nên
bà Nam Phương lần đó không về VN và không bao giờ bà về Việt Nam
nữa. Cái trò nầy do các ông cố đạo bên Mỹ sắp xếp, chính bà Nam
Phương cũng không hiểu hết ý nghĩa chính trị của nó. Về sau, một
mặt Pháp không muốn bà Nam Phương về tiếp tay cho Mỹ và phía Mỹ
thấy ông Diệm đã làm chủ được tình thế nên cũng không cần đến
vai trò hiệu triệu của bà Nam Phương nữa nên họ đã lật lọng mọi
lời hứa ban đầu. Cũng may bị lật lọng sớm không thôi bà Nam
Phương chuốc phải một cái nhục suốt đời. Nhưng mà lúc đó bà Nam
Phương rất ghét ông Nguyễn Đệ.
Tôi hỏi ông Nguyễn Đệ:
- "Bà Nam Phương là người của Tây, tại sao
Tây không cho bà đi ?"
Ông Nguyễn Đệ kể lại:
- "Tôi được tin của chính phủ Pháp cho
biết là bà Nam Phương cả tin quá, nghe tụi Ngô Đình Diệm nên
định đi về. Ông Diệm hứa về trước quét sạch rác rưởi rồi rước bà
Nam Phương về tôn lên làm Phụ chánh đại thần. Bảo Long sẽ lên
ngôi."- Nguyễn Đệ nói tiếp: "Bà Hoàng là người Nam bộ thật thà
không hiểu hết cái thâm ý của bọn Diệm. Tây cho biết ngày bà Nam
Phương về đến Sài Gòn thì sẽ có một cuộc biểu tình phản đối hạ
nhục bà và qua đó hạ nhục ông Bảo Đại".
Đó là lý do tại sao Bidault bắt ông Nguyễn
Đệ là Đổng lý văn phòng phải cấp báo không cho bà Nam Phương
đừng về Việt Nam nữa.
Chuyện ông Diệm viết thư cúc bái ông Ngài
để được trao quyền, cả ông Trần Văn Đôn và ông Đỗ Mậu đều biết.
Nhưng không ai được biết cái thư đó cụ thể nói gì. Đây là một
cái thư lịch sử do chính tay Ngô Đình Diệm viết bằng tiếng Pháp.
Nhân đây tôi công bố cái thư ấy để cho lịch sử biết bộ mặt thật
của ông Diệm. (Xem phần Phụ Lục ở sau kỳ cuối cùng) .
NĐX.- Lúc ấy làm
sao bà có thể biết chuyện ở bên nhà ?
Bà Bùi Mộng Điệp.- Lúc ấy
tình hình hết sức phức tạp, tôi phải bỏ khá nhiều tiền mua báo
chí để lấy tin, nhất là báo chí Anh quốc. Họ đòi năm chục ngàn
mình phải trả năm chục, đòi một trăm phải trả một trăm với một
cái tin. Nhờ thế mà chúng tôi biết được tin tức bên nhà.
NĐX.- Thưa bà, qua
Pháp, nhất là giai đoạn sau khi bị ông Diệm tịch thu hết tài sản
của ông Bảo Đại, bà sinh sống ra sao ?
Bà Bùi Mộng Điệp.- Sang
bên Tây tôi buôn bán nhà cửa, tôi mở hiệu, tôi làm đủ thứ để
sống. Tôi cho rằng mình cần tiền để sinh sống mình buôn bán để
kiếm tiền, có chuyện gì nhục đâu. Sau khi bị bọn Diệm lấy hết
tiền, người ta bảo tôi:
- "Sao bà không xin một cái dommage de
guerre (thiệt hại do chiến tranh) ? Tại sao con
cái bà học giỏi thế mà bà không xin bourse (học bổng)
của chính phủ Pháp cho chúng ?"
Tôi đáp:
- "Tôi xin cám ơn nước Pháp đã cho gia đình
ông Bảo Đại, cho mấy mẹ con tôi ở đây được yên thân là quý lắm
rồi! Tôi không dám xin gì nữa !".
Trong việc buôn bán kinh doanh tôi nạp thuế
nạp má đàng hoàng. Tôi biết tôi xin các thứ ấy chính phủ Pháp sẽ
cho ngay nhưng tôi không xin. Bởi vì khi người ta đã cho mình
một cái gì là mình thiếu nợ họ cái ấy. Đời tôi không trả được
thì đời sau con tôi cũng phải trả. Mà chưa trả được nợ cho người
ta thì đừng có hòng mà ngẩng đầu lên. Sống mà phải cúi mặt thì
tôi không muốn.
[….]
NĐX.- Nhắc đến một
việc hệ trong liên quan đến ông Ngô Đình Diệm, hôm trước bà có
nói:"Chuyện ông Diệm viết thư cúc bái ông Ngài để được trao
quyền, cả ông Trần Văn Đôn và ông Đỗ Mậu đều biết. Nhưng không
ai được biết cái thư đó cụ thể nói gì. Đây là một cái thư lịch
sử do chính tay Ngô Đình Diệm viết bằng tiếng Pháp. Nhân đây
tôi công bố cái thư ấy để cho lịch sử biết bộ mặt thật của ông
Diệm". Thưa bà, hôm nay bà có thể cho tôi công
bố cái thư lịch sử ấy được chưa ?
Bà Bùi Mộng Điệp - Vâng,
tôi đã hứa thì tôi phải thực hiện chứ ! Đây là lá thư viết tay
bằng tiếng Pháp của ông Diệm gởi cho ông Ngài, lần đầu tiên tôi
đưa cho anh và anh có thể đem về lưu trữ ở Việt Nam.
Trang cuối lá thư 5 trang viết tay
của ông Ngô Đình Diệm gởi Quốc trưởngBảo Đại:
Kính gởi Hoàng thượng Bảo Đại
Quốc trưởng Việt Nam
Kính thưa Ngài,
Tôi thật vô cùng cảm kích
trước những lời tin cậy và khích lệ đầy thương mến mà Ngài đã
chỉ thị cho bào đệ Ngô đình Luyện truyền lại cho tôi.
Ngài đã biết rõ sự bất vụ
lợi và lòng trung thành của dòng họ chúng tôi, trong quá khứ, đã
phục vụ Tổ quốc và Hoàng triều như thế nào. Xin Ngài hãy tin
tưởng rằng đến lượt tôi, tôi sẽ cố gắng tiếp tục phục vụ với tất
cả sức lực và tâm hồn để xứng đáng với lòng tin cậy thân yêu mà
Ngài đã dành cho.
Trong lúc có những giải
thích đầy xuyên tạc của dư luận về sự mở rộng thành phần Nội các
đã gây cho tôi quá nhiều phiền muộn, tôi muốn nói lên đây lòng
tri ân của tôi về sự tín nhiệm của Ngài vẫn dành cho tôi.
Thật ra hoài bảo thân thiết
nhất của tôi là nhận được sự chấp thuận của Quốc trưởng trong
các đại sự của Quốc gia, về Binh bị, Ngoại giao, Xã hội, Tài
chánh hay Hành chánh.
Chỉ có sự chỉ đạo khôn khéo
và chỗ dựa vững chắc ở Quốc trưởng, tôi mới có thể thực thi được
những quyền lực đầy đủ để giải quyết tất cả vấn đề có tầm vóc
liên quan đến sự sống còn và tương lai của đất nước.
Những cải cách về Hiến pháp
và Dân chủ phải được nhanh chóng thực thi theo đúng những lời
tuyên bố của Ngài khi Ngài trở về sau chuyến lưu vong.
Nhưng quyền lực của Hoàng
triều phải thật sự cứng rắn để bảo đảm trật tự và công bằng xã
hội, kỷ luật quân đội, tôn trọng quyền lợi và tự do của dân.
Trình Ngài, chính trong
tinh thần nầy mà tôi đã nhờ bào đệ Luyện thỉnh cầu Ngài hồi loan
càng sớm càng tốt, miễn là không trở ngại đến việc chữa bệnh của
Ngài ở Pháp.
Tiếc thay khi được tin nầy
thì những xáo trộn những âm mưu chính trị không tránh được khi
đất nước bị chia cắt, đã tăng lên gấp bội, vì những tham vọng và
quyền lợi riêng tư đó đã lo sợ sự hiện diện của Hoàng thượng và
sự củng cố chánh quyền của Ngài.
Là người chủ xướng sự hồi
loan nhanh chóng của Ngài, thế mà tôi phải đau lòng thỉnh cầu
ngài dời hoãn ngày về nước để cho tôi có đủ thời gian cần thiết
để san bằng những trở ngại khó khăn và đánh tan một vài thái độ
mâu thuẫn.
Sự mong đợi chuyến về của Hoàng
thượng càng lớn khi tôi cần dựa vào sự minh triết của Hoàng
thượng để giúp tôi, ngoài những việc khác, tái tổ chức và phát
triển Hoàng Triều Cương Thổ mà Hoàng thượng đã tức thời quyết
định cho sát nhập về với Việt Nam. Việc nầy đã được sự tán thành
của toàn dân.
Tôi nghỉ rằng, thật ra các miền
Cao nguyên đó, từ lâu đã được sự chăm lo ưu ái của Hoàng thượng,
rồi đây sẽ được hưởng những lợi ích to lớn về một tổ chức xã
hội, kinh tế và quân sự mà các ngành Hành chánh cao cấp sẽ được
chính phủ bổ nhiệm sau khi được sự chấp thuận của Ngài.
Để kết thúc, tôi xin đươc phép
nhắc lại sự cảm tạ của tôi về sự tiếp tục tín nhiệm mà Ngài đã
dành cho.
Tình trạng đất nước, bị xâu xé và
tàn phá bởi cuộc chiến lâu ngày nầy đã gây quá nhiều lo âu cho
tôi, vì vậy những bằng chứng về lòng tin tưởng thương yêu của
Hoàng thượng sẽ là một niềm khích lệ vô giá đối với tôi.
Xin được phép nhắc Ngài rằng khi
nhận chức Thủ tướng chính phủ, tôi đã có xin Ngài hứa cho là
trong trường hợp chính sách của tôi, nếu xét có bằng chứng có
thể phương hại cho Tổ quốc, thì Hoàng thượng sẽ không để những
tình cảm tốt đẹp dành cho tôi chi phối, mà sẽ cương quyết chối
từ chính sách đó để cứu quốc dân.
Xin phép Ngài cho tôi được tin
vào lời hứa đó, vì tôi phải có một chính sách cứng rắn và dũng
cảm để đối phó với các sự xáo trộn chính trị và các liên hệ
chằng chịt quá phức tạp của những quyền lợi lớn của cá nhân hay
ngoại quốc gây ra.
Tôi sẽ làm chuyện nầy với lương
tâm thanh thản vì tôi biết trước, nếu trường hợp gặp thất bại,
Ngài sẽ sẵn sàng điều chỉnh tay lái khi cần.
Tôi trao thư nầy cho bào đệ Luyện
để đệ trình lên Ngài với lòng trung thành tôn kính và thâm sâu
của tôi.
Sài gòn, ngày 10 tháng 11 năm 1954
Ngô Đình
Diệm"
NĐX.- Bà có nhận
xét gì về lá thư lịch sử nầy của ông Ngô Đình Diệm ?
Bà Bùi Mộng Điệp.- Trước
tiên người đọc thấy ông Diệm viết chữ đẹp, viết tiếng Pháp giỏi,
tự nhận mình là người xuất thân trong "dòng họ trong quá
khứ, đã phục vụ Tổ quốc và Hoàng triều Nguyễn" rất tận tụy,
được ông Bảo Đại "tin cậy và khích lệ"; ông ta hứa sẵn
sàng ra đi "nếu ông Bảo Đại xét thấy có bằng chứng có những
hành động chủ trương có thể phương hại cho Tổ quốc".v.v.
Qua lá thư nầy chứng tỏ ông Diệm là người được ông Bảo Đại tin
cẩn giao phó cho việc phụng sự tổ quốc và triều Nguyễn và đáp
lại ông Diệm hứa cúc cung tận tụy với ông Bảo Đại và đất nước.
Nhưng ngay sau đó ông Diệm đối xử với ông Bảo Đại với đồng bào
và đất nước như thế nào các sử gia trong và ngoài nước đã biết
rõ [2].
NĐX.- Thưa bà, vẫn
biết như thế nhưng xin bà cho một vài ví dụ ấn tượng nhất đối
với bà.
Bà Bùi Mộng Điệp.- Sự phản
trắc của ông Diệm có nhiều, như ông Diệm không chịu thi hành
Hiệp định Genève để thống nhất đất nước năm 1956, tuyên bố cải
tổ chính phủ rồi nuốt lời quay lại đàn áp cuộc đảo chính
11.11.1960, đặc biệt là không thi hành Thông Cáo Chung ký với
Phật giáo tháng 6.1963. Riêng việc phản trắc của ông Diệm đối
với người đứng đầu họ hàng Nguyễn Phước tộc là ông Bảo Đại gây
cho chúng tôi đau đớn nhất. Sau khi được ông Bảo Đại trao quyền
và được Mỹ (đại tá CIA Lansdale) hậu thuẫn, ông đã "trả ơn" ông
Bảo Đại bằng cuộc "Trưng cầu dân ý" bịp bợm truất phế ông Bảo
Đại một cách hèn hạ chưa từng có trong lịch sử Việt Nam. Ông
Diệm cho thực hiện cuộc "trưng cầu dân ý" đó như thế nào anh hãy
xem một đoạn của "người trong cuộc" với ông Diệm lúc ấy là tướng
Trần Văn Đôn viết trong hồi ký «Việt Nam Nhân Chứng» sau đây
thì sẽ rõ: "Ngô Đình Diệm tổ chức trưng cầu dân ý vào ngày
23 tháng 10 năm 1955 để lật đổ Bảo Đại. Kết quả là Bảo Đại bị
truất phế. Trong phong bì bỏ phiếu trưng cầu dân ý, nhiều cán bộ
phụ trách đã bỏ sẵn phiếu ủng hộ Ngô Đình Diệm, người dân không
cần chọn lựa gì, chỉ cầm lá phiếu đó bỏ vào thùng nên Ngô Đình
Diệm thắng 99%." [3]
NĐX.- Thưa bà, lúc
ấy tôi còn là cậu học sinh mới vào trường trung học, tôi cũng đã
nhiều lần được trường dẫn đi biểu tình mít-tin hô hào truất phế
Bảo Đại, nên tôi có biết sự kiện mà bà vừa kể. Nhưng đó là vấn
đề chính trị, ngoài chuyện ấy ra ông Diệm còn có hành động gì
nghiệt ngã đối với Cựu hoàng nữa không ?
Bà Bùi Mộng Điệp.- Ông
Diệm cho tịch thu nhiều tài sản riêng của ông Bảo Đại, trong đó
có chiếc du thuyền. Hành vi tàn nhẫn nhất của ông Diệm là việc
ông lấy ngôi biệt thự của Đức Từ Cung ở Sài Gòn [4] và đuổi Đức
Từ về Huế. Những chuyện phản trắc ấy đã làm cho ông Bảo Đại
"phát điên" như hôm trước tôi đã kể với anh. Tinh thần của ông
Bảo Đại tuột dốc từ đó và không cứu vãn được. Tôi trao cho anh
sử dụng lá thư nầy: Đây là một tư liệu lịch sử chính thức cùng
với những hành động phản trắc của ông Diệm từ 1955 đến 1963 mà
lịch sử đã viết bộc lộ cái bản chất lá mặt lá trái của ông Diệm.
Một người phản trắc như thế mà lãnh đạo miền Nam làm sao đồng
bào mình không khổ, không chết chóc ! May mà chế độ Diệm chỉ tồn
tại đến cuối năm 1963 thôi. Nếu không ….không biết chuyện gì sẽ
xảy ra nữa !
Chú thích:
[1] "Trong hiệp định Genève, phía Việt Nam
tự do và Mỹ không ký nên Ngô Đình Diệm viện cớ đó không thi hành
tổng tuyển cử thống nhứt Nam Bắc Việt Nam vào năm 1956 như văn
kiện kết quả hội nghị quy định.
Ngô Đình Nhu cho tôi (Trần Văn Đôn) biết
trước khi tổ chức trưng cầu dân ý, để có phương thức dân chủ,
Ngô Đình Diệm tự tay viết một lá thư dài cho Bảo Đại, giải thích
tình hình, yêu cầu Bảo Đại về nước tiếp tục lãnh đạo Việt Nam.
Ngô Đình Diệm sẽ trả lại toàn quyền lãnh đạo cho Bảo Đại. Tôi
không được đọc là thư lịch sử đó, nhưng Ngô Đình Nhu cam đoan
với tôi là có lá thư như vậy. Ngô Đình Nhu không cho tôi biết
Bảo Đại có trả lời hay không. Ngô Đình Nhu cũng tiết lộ là nếu
Bảo Đại điều đình với Ngô Đình Diệm hàng tháng gửi cho một số
tiền để chi tiêu thì chắc Ngô Đình Diệm cũng thu xếp chu toàn,
nhưng Bảo Đại không đòi tiền chu cấp hàng tháng mà đòi một triệu
Mỹ kim. Ngô Đình Luyện hứa nhưng Bảo Đại không nhận được tiền mà
chỉ nhận tin kết quả trưng cầu dân ý truất phế đưa Ngô Đình Diệm
lên chức Tổng Thống mà thôi". (Trần Văn Đôn, Sđd, Nxb
Xuân Thu (Mỹ), 1989, tr. 133)
[2] Trưng cầu dân ý bịp bợp như thế nào,
Tiến sĩ Nguyễn Đình Tuyến, trong cuốn Những Biến Cố Lớn
trong 30 Năm Chiến Tranh tại Việt Nam 1945-1975, do "Đại
Học Đông Nam" ở Houston, TX, USA, xuất bản năm 1995, đã viết
(nơi trang 39) như sau:
‘Ngày 6 tháng 10 năm 1955
Bộ Nội Vụ của Thủ Tướng Diệm tuyên bố
sẽ có cuộc Trưng Cầu Dân Ý được công bố với kết quả là 98,2%
chống Quốc Trưởng Bảo Đại, đồng ý bầu Thủ Tướng Diệm làm Quốc
Trưởng. Cuộc Trưng Cầu Dân Ý này là màn đạo diễn của Đại tá
Landsdale đã đóng vai trò quan trọng trong việc ủng hộ Thủ
Tướng Diệm. Ở nhiều nơi trong thành phố Saigon, số phiếu bầu cử
cho ông Diệm bằng 130% con số cử tri (vì binh sĩ của Lữ Đoàn
Phòng Vệ Phủ Thủ Tướng và Đoàn Viên Phong Trào Cách Mạng Quốc
Gia của ông Diệm đã được phép đi bầu lại nhiều lần’.
(Trích lại của Lê Xuân Nhuận)
[3] Việt Nam Nhân Chứng, Trần Văn
Đôn, tr.133
[4] Theo nghiên cứu của tôi [NđX], ngôi
biệt thư của bà Từ Cung bị ông Diệm trịch thu và bán cho Bộ
trưởng Nguyễn Đình Thuần giá 1$. Về sau ông Thuần bán lại theo
thời giá cho tướng Dương Văn Minh, nay vẫn còn ở 3 Võ Văn Tần,
Q.1, TP HCM.
[5] Nguyễn đắc Xuân và Thứ phi Mộng Điệp
|
Trang
cuối lá thư 5 trang viết tay
của ông Ngô Đình Diệm
gởi Quốc trưởng Bảo Đại. Tài
liệu do NĐX sưu tập.
Bản
dịch nguyên văn lá thư do
ĐDTB thực hiện:
Nguyễn Đắc Xuân - Gác Thọ
Lộc, 10/10/08
Chú
thích:
[1]
“Trong hiệp định Genève,
phía Việt Nam tự do và Mỹ
không ký nên Ngô Đình Diệm
viện cớ đó không thi hành
tổng tuyển cử thống nhứt Nam
Bắc Việt Nam vào năm 1956
như văn kiện kết quả hội
nghị quy định.
Ngô
Đình Nhu cho tôi (Trần Văn
Đôn) biết trước khi tổ chức
trưng cầu dân ý, để có
phương thức dân chủ, Ngô
Đình Diệm tự tay viết một lá
thư dài cho Bảo Đại, giải
thích tình hình, yêu cầu Bảo
Đại về nước tiếp tục lãnh
đạo Việt Nam. Ngô Đình Diệm
sẽ trả lại toàn quyền lãnh
đạo cho Bảo Đại. Tôi không
được đọc là thư lịch sử đó,
nhưng Ngô Đình Nhu cam đoan
với tôi là có lá thư như
vậy. Ngô Đình Nhu không cho
tôi biết Bảo Đại có trả lời
hay không. Ngô Đình Nhu cũng
tiết lộ là nếu Bảo Đại điều
đình với Ngô Đình Diệm hàng
tháng gửi cho một số tiền để
chi tiêu thì chắc Ngô Đình
Diệm cũng thu xếp chu toàn,
nhưng Bảo Đại không đòi tiền
chu cấp hàng tháng mà đòi
một triệu Mỹ kim. Ngô Đình
Luyện hứa nhưng Bảo Đại
không nhận được tiền mà chỉ
nhận tin kết quả trưng cầu
dân ý truất phế đưa Ngô Đình
Diệm lên chức Tổng Thống mà
thôi”. (Trần Văn Đôn, Sđd,
Nxb Xuân Thu (Mỹ), 1989, tr.
133)
[2]
Trưng cầu dân ý bịp bợp như
thế nào, Tiến-sĩ Nguyễn Đình
Tuyến, trong cuốn “Những
Biến Cố Lớn trong 30 Năm
Chiến Tranh tại Việt Nam
1945-1975”, do “Đại Học
Đông Nam” ở Houston, TX,
USA, xuất-bản năm 1995, đã
viết (nơi trang 39) như sau:
Ngày
6 tháng 10 năm 1955
Bộ
Nội Vụ của Thủ Tướng Diệm
tuyên bố sẽ có cuộc Trưng
Cầu Dân Ý được công bố với
kết quả là 98,2% chống Quốc
Trưởng Bảo Đại, đồng ý bầu
Thủ Tướng Diệm làm Quốc
Trưởng.
Cuộc
Trưng Cầu Dân Ý này là màn
đạo diễn của Đại-tá
Landsdale đã đóng vai trò
quan trọng trong việc ủng hộ
Thủ Tướng Diệm. Ở nhiều nơi
trong thành phố Saigon, số
phiếu bầu cử cho ông Diệm
bằng 130% con số cử tri (vì
binh sĩ của Lữ Đoàn Phòng Vệ
Phủ Thủ Tướng và Đoàn Viên
Phong Trào Cách Mạng Quốc
Gia của ông Diệm đã được
phép đi bầu lại nhiều lần).
(Trích
lại của Lê Xuân Nhuận)
[3]
Việt Nam Nhân Chứng, Trần
Văn Đôn, tr.133
[4]
Theo nghiên cứu của tôi,
ngôi biệt thư của bà Từ Cung
bị ông Diệm trịch thu và bán
cho Bộ trưởng Nguyễn Đình
Thuần giá 1$. Về sau ông
Thuần bán lại theo thời giá
cho tướng Dương Văn Minh,
nay vẫn còn ở 3 Võ Văn Tần,
Q.1, TP HCM.
ĐDTB, ngày 13/10/08
http://www.dongduongthoibao.net/view.php?storyid=508
|
[6] Trang cuối lá thư 5 trang viết tay của
ông Ngô Đình Diệm
gởi Quốc trưởng Bảo Đại. Bản dịch nguyên văn lá thư do ĐDTB thực
hiện:
V - Bất đắc dĩ khơi lại đống tro
tàn
Lê Nguyên Long
LTS: Tác giả bài này
là một nhân sĩ miền Trung, lãnh tụ Việt Quốc vùng Nam Ngãi.
Trưởng thành qua những thời đại Phong kiến, Độc tài, Cộng Sản.
Ông đã là chứng nhân của lịch sử cận và hiện đại. Bài viết của
ông sau đây, dù thuộc về một đề tài vốn đã được nói nhiều nhưng
vì tính cách chứng nhân đó của tác giả mà nó vẫn có cái giá trị
riêng biệt của nó - cần thiết cho một cái nhìn đúng đắn về lịch
sử. – KP, 1981
Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm bị hạ sát cách đây đã gần hai
thập niên, sự việc đã chìm vào quên lãng, đáng lẽ những ân oán
xa xưa chẳng nên đề cập, nhưng hơn vài năm nay nơi hải ngoại,
một vài tổ chức đã phát động phong trào suy tôn ông Diệm. Một
vài tờ báo đã đề cao ông Diệm như: "Lịch sử đã ghi tên Ngô
Đình Diệm là một vĩ nhân cận đại, lịch sử đã ghi nhận Ngô Đình
Diệm là một nhà đại ái quốc, một người Việt Nam kiêu hùng, một
cứu tinh của dân tộc v.v..." và đã có nhiều kẻ từng thừa
hưởng đỉnh chung của nhà Ngô đã lập luận: "Nếu ông Diệm
không chết thì chúng ta đã không mất nước!".
Kẻ viết bài này thật sự luôn luôn thiết tha với tình tự đoàn
kết quốc gia dân tộc, không muốn khơi lại đống tro tàn ô uế dĩ
vãng... Đã bỏ nước đau khổ lưu vong thôi thì tất cả ai cũng
chống Cộng là đồng chí, là anh em... nhưng thiết nghĩ Sự Thật
chẳng thể bẻ cong, nhất là sự thật lịch sử phải trả cho lịch sử.
Lịch sử Việt Nam không thể gọi vua Long Đỉnh Ngọa Triều là
anh quân, Mạc Đăng Dung là ông vua anh hùng, Lê Chiêu Thống là
ông vua cứu nước. Vậy thì sự thật như thế nào về thời Ngô Đình
Diệm phải được minh định để trả sự thật về cho lịch sử.
Từ ngày được Hồng Y Spellman đỡ đầu, được Chính phủ
Eisenhower ủng hộ, được Quốc trưởng Bảo Đại chấp nhận, ông Ngô
Đình Diệm từ Hoa Kỳ về chấp chánh ở Việt Nam năm 1954, trong khi
Hiệp định Genève sắp kết thúc, (tháng 7-1954).
Lúc đó, lòng dân thật tình hướng về ông Ngô Đình Diệm. Người
ta đã nghĩ ông Diệm sau khi từ quan, chu du ngoại quốc, chắc hẳn
là một nhà lãnh đạo quốc gia xứng đáng. Hầu hết các phe phái và
các nhân vật quốc gia đã nồng nhiệt tin tưởng và kỳ vọng ở ông
Diệm.
Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn cầm quyền, chủ trương độc
tôn, độc tài, phản bội, lật lọng, phong kiến, thối nát, bất lực,
kỳ thị của nhà Ngô đã lần lượt thể hiện... Khiến những người vốn
tích cực ủng hộ ông Diệm, đến những người vô tư khách quan với
ông Diệm lần lượt đứng lên chống đối và nhà Ngô đã dùng thủ đoạn
sắt máu đàn áp để củng cố địa vị suốt 9 năm cầm quyền.
Có thể nói trừ chế độ Cộng Sản ra, chưa có một chế độ nào ở
Việt Nam đã đàn áp, thủ tiêu, ám sát, bắt cóc, tra tấn, cầm tù
hàng vạn người quốc gia cũng như các tu sĩ các tôn giáo như thời
Diệm. Trừ Cộng Sản ra, chưa có một chế độ nào đã thẳng tay đàn
áp đối lập để củng cố địa vị như chế độ ông Diệm. Chưa có một
chế độ nào phản dân chủ và khinh thị lợi dụng nhân dân làm cái
bung xung để hợp thức hóa các chức vụ theo ý muốn của mình bằng
cách tổ chức những cuộc bầu cử gian lận như chế độ ông Diệm.
Tất cả những ai chỉ ở thủ đô hoặc các thành phố lớn khó lòng
thấy rõ chánh sách gian ác, hành động bất nhân, phản dân hại
nước của chế độ Diệm, mà phải quan sát ở các tỉnh, quận, nông
thôn (90% lãnh thổ toàn quốc) mới thấy rõ tội ác của tay chân
nhà Ngô một thời... mà có người đã nói: Trúc Nam Sơn không thể
chép hết tội, nước muôn sông không thể nào rửa hết nhơ!
Rõ ràng ông Diệm đã có một cái may mắn mà chưa có một nhân
vật lãnh đạo quốc gia nào sau 1945 được cái may mắn như ông kể
từ Chính phủ Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Phan Long, Trần Văn Hữu,
Nguyễn Văn Tâm đến Bửu Lộc là: Đất nước đã tạm chấm dứt chiến
tranh, dân tình phấn khởi bồng bột ủng hộ người lãnh đạo và được
ngoại viện dồi dào như ông Diệm.
Ông Diệm cầm quyền sau Hiệp định Genève, khoảng 6 năm trời từ
1954 đến 1959 miền Nam không có chiến tranh và chưa có Cộng Sản
hoạt động đáng kể. Từ thành thị đến thôn quê quốc gia có thể
kiểm soát chặt chẽ khắp hang cùng ngõ hẻm. Đại đa số dân chúng
nông thôn ở các vùng Cộng Sản chiếm từ trước như Nam, Ngãi,
Bình, Phú chẳng hạn, đã chán ngấy thù ghét Cộng Sản và đều ngã
về Quốc gia. Ông Diệm còn có một kho cán bộ kinh nghiệm chống
Cộng, vốn mắc kẹt trong vùng Cộng Sản hoặc một số lớn thị thành,
vì mặc cảm làm việc cho Pháp, đã "trùm chăn", nay vươn mình đứng
lên tích cực ủng hộ cho Ngô Thủ tướng.
Lúc ấy ở miền Trung có hàng nghìn cán bộ không cần làm việc
có lương nhiều, chỉ sao đủ sống đạm bạc để hoạt động chống Cộng
là họ thỏa chí. Bao năm khổ đau sống trong tăm tối của Cộng Sản,
nay ánh sáng quốc gia rọi về, họ hứng khởi đứng dậy, lửa chống
Cộng bừng bừng, khí thế Cộng Sản lụi tàn. Nhưng ngay lúc đó, ông
Diệm và tay chân của ông lo diệt người Quốc gia hơn là Cộng Sản,
một thời cơ thuận lợi để nắm dân ông Diệm đã đánh mất!
Những cuộc bầu cử như Trưng Cầu Dân ý truất phế Bảo Đại, bầu
cử Quốc Hội Lập Hiến, Lập Pháp, Tổng thống đều hoàn toàn gian
lận vi luật trắng trợn. Ông Diệm đã hạ lệnh cho quân đội tấn
công Hòa Hảo, Cao Đài vốn là những lực lượng chống Cộng, hữu
hiệu từ 1945 đến bây giờ và nếu ông Diệm không độc tôn đã có thể
đoàn kết thu hút họ. Ông đã lường gạt tướng Lê Quang Vinh, người
hùng Nam Bộ, từng lập chiến khu chống cả Pháp lẫn Cộng về hợp
tác, rồi bắt chặt đầu. Cái chết bí mật của tướng Cao Đài Trình
Minh Thế cũng trong nghi vấn là ông Diệm đã giết.
Và, ác nghiệt hơn cả, nhà Ngô đã tuyển chọn quân đội người
Nùng - một binh chủng thiện chiến say máu - thời bấy giờ, và các
chỉ huy trưởng có đảng tịch Cần Lao cầm quân vào các chiến khu
Quốc Dân Đảng ở miền Trung với ác lệnh: giết sạch. Sự tấn công
vào các chiến khu Quốc Dân Đảng còn tàn độc hơn hồi giặc Pháp đi
"càn quét" nhiều. Đốt thực phẩm đốt nhà, tra tấn giết người một
cách tàn ác đã xảy ra ở Quế Sơn, Tiên Phước, Duy Xuyên v.v...
vào những năm 1955-1956.
Với lối tấn công ấy, nhà Ngô đã phá vỡ được chiến khu Ba Lòng
của Đại Việt, nhưng không thể tiêu diệt các chiến khu Quốc Dân
Đảng. Thuở đó quân du kích Quốc Dân Đảng Nam Ngãi đã giáng cho
chính quyền địa phương Diệm nhiều đòn chí tử. Biết rõ không thể
tấn công để thủ thắng, cuối cùng Ngô Đình Cẩn, bào đệ ông Diệm,
lập kế mời về hợp tác. Làm kế phỉnh gạt, hơn 2000 nghĩa binh
Quốc Dân Đảng kéo về với đầy đủ vũ khí và làm lễ hợp tác tại Hội
An cuối năm 1956. Nhưng sau đó bọn họ đều bị thủ tiêu và lần
lượt bị bắt đi mất tích. (Khi ông Diệm đổ, một số trong bọn họ
đã được thả ra, nhưng đều thân tàn ma dại).
Thiết tưởng kẻ viết cần trình bày rõ là Quốc Dân Đảng miền
Trung lúc đầu ủng hộ ông Diệm tích cực. Họ đã lên án Nguyễn Văn
Hinh và ủng hộ ông Diệm để chống Cộng. Họ đã có cán bộ giữ chức
vị Tỉnh trưởng và Quận trưởng ở hai tỉnh lớn Nam Ngãi (Quảng Nam
Tỉnh trưởng Lê Trung Chi, Quảng Ngãi Phạm Đình Nghị). Phong trào
tố Cộng ly khai Cộng Sản, xé đảng kỳ Cộng Sản, bắt đầu tháng
10-1954 do họ tiên khởi phát động ở Quảng Nam rồi sau mới lan ra
toàn quốc, nhưng tay chân nhà Ngô nhận định: Nếu để uy thế Quốc
Dân Đảng miền Trung lan tràn thì Phong trào Cách mạng Quốc gia
và đảng Cần Lao Nhân Vị do nhà Ngô đẻ ra sẽ tuyệt địa. Nên ông
Diệm bất thần giải chức các Tỉnh trưởng và bắt giam hàng loạt
các Quận trưởng Quốc Dân Đảng ở hai tỉnh Nam Ngãi và mật lệnh
triệt hạ toàn bộ Quốc Dân Đảng (lại vu cáo Quốc Dân Đảng theo
Pháp). Và, vì cớ ấy, khoảng tháng 3-1955 Quốc Dân Đảng miền
Trung lập chiến khu để tự vệ và để quật khởi chống Diệm.
Trong suốt 9 năm ông Diệm cầm quyền, thời gian đó ở nông thôn
cơ quan nào cũng có thể bắt người. Công an bắt người, Xã trưởng
bắt người, Cách Mạng Quốc Gia (phong trào đẻ ra từ nhà Ngô) cũng
bắt người rồi giao cho Công an trừng trị. Nhưng ghê tởm nhất là
đoàn "Mật Vụ Miền Trung" do Ngô Đình Cẩn đỡ đầu. Đó là đoàn hung
thần toàn quyền sinh sát. Đoàn có quyền đi khắp nơi, đến đâu địa
phương phải tiếp rước chu đáo. Đoàn cần bắt ai thì giao cho Công
an đi bắt bất kỳ đêm ngày. Nếu tra tấn chết thì Quận trưởng và
Công an phải lập biên bản hợp thức hóa sự chết và bị bắt không
cần phải có chứng cớ chỉ bị nghi chống Chính phủ là bị bắt. (Tại
Long Beach, California có một đồng hương từ ngày vào đất Mỹ đến
nay, vẫn nằm bẹp ở nhà, vì bệnh cũ tái phát, hậu quả của sự tra
tấn tàn độc của mật vụ Diệm).
Hầu hết viên chức chính quyền từ Quận trưởng, Ty trưởng, Tỉnh
trưởng ở miền Trung được bổ dụng thời đó, không phải vì khả năng
chuyên môn hay tài đức, mà vì lòng trung thành hay mức quỳ lụy
cao thấp đối với gia đình nhà Ngô thôi. Phần lớn viên chức chỉ
huy cấp Tỉnh, Quận được bổ dụng do một người ở hậu trường định
đoạt. Đó là ông Ngô Đình Cẩn, bào đệ ông Diệm, với chức vụ "Cố
vấn Chỉ đạo" Phong trào Cách mạng Quốc gia (chức vụ này trên
danh nghĩa là một tổ chức nhân dân, nhưng trên thực tế là quyền
quyết định tối hậu) cũng như ở miền Nam thì do vợ chồng ông Nhu
định đoạt.
Cũng vì lối bổ dụng đặc biệt này mới có tên Nguyễn Văn Tất
nguyên là hương bộ thôn thời Pháp thuộc, nghiễm nhiên thành Tỉnh
trưởng Quảng Ngãi; Lê Gia Quyến, cán bộ phù động hạng chót, bỗng
nhiên là Quận trưởng Trà Bồng. (Hai tên này khi Diệm đổ thì bị
bắt) và còn hàng chục hàng trăm trường hợp bổ dụng tương tự kể
sao cho xiết. Cũng vì lối bổ dụng này mới có tên Thái, Quận
trưởng Điện Bàn, mỗi khi đi hành hạt có điều phật ý là cầm "ba
tông" đánh xả lên đầu viên chức xã. Cũng vì lối bổ dụng này mà
các Tỉnh, Quận trưởng mỗi khi về chầu hầu ông Cố vấn chỉ đạo,
ông đều xem như tôi tớ, xưng hô "mày tao" nhưng bọn vô liêm sỉ
này vẫn gật đầu vâng dạ và xem sự điếu đóm chầu hầu "cậu" là một
diễm phúc có hy vọng thăng quan tiến chức hoặc giữ vững địa vị.
Trước 1954 các Xã trưởng đều được dân bầu, nhưng thời
Diệm đã bãi bỏ bầu cử các viên chức Xã. Lại cho quyền
Quận trưởng đề nghị lên Tỉnh trưởng bổ dụng hoặc cách chức viên
chức xã, ấp. Vì thế các Xã trưởng, ấp trưởng là những tôi tớ của
Quận, Tỉnh hoàn toàn không phải của dân. (Điểm này phải khen ông
Diệm thành thật. Tuy phản bội nguyên tắc dân chủ trắng trợn,
nhưng lại có minh văn. Nghị định bãi bỏ bầu cử xã 1956). Vì bộ
máy chính quyền gồm toàn tay sai, tổ chức theo lối gia nô hóa
cho nhà Ngô như vậy, cho nên đã gây ra bao nhiêu tham nhũng bất
công, tang tóc, tù đày cho lương dân vô tội nơi nông thôn. Mỗi
một chính sách của nhà Ngô đưa ra là dân chúng kinh hoàng.
Quốc sách Dinh Điền nghe thuyết trình thì thật hay nhưng thi
hành thì lệch lạc sai quấy. Cán bộ Xã, Ấp cứ nhằm những người
mình thù ghét hoặc cần làm tiền thì ép buộc phải đi dinh điền.
Thế cho nên ở một vài tỉnh đã có người tự tử vì bị ép buộc. Còn
những người chịu đi Dinh Điền, khi đến nơi lại bị cán bộ dinh
điền hành hạ, đối xử bất công, ăn chận của cấp phát v.v... nhiều
sự không tốt xảy ra khiến họ chán nản trốn về, vì vậy tỉnh nào
cũng có người ở tù vì chống phá quốc sách dinh điền.
Quốc sách Dinh Điền của nhà Ngô trừ một vài vùng tương đối
thành công, còn phần lớn, hàng chục vùng Dinh Điền khác đều thất
bại hoàn toàn. Dân chúng lũ lượt trốn về quê, rồi bị bắt bớ đánh
đập đã tổn phí tiêu hao không biết bao nhiêu công quỹ! Nhà "lãnh
đạo anh minh" có lần đi kinh lý một vùng dinh điền nhìn thấy
những cây ăn trái được trồng trọt tốt tươi, ngay thẳng, ông ta
ban khen, nhưng chính đó là những nhánh cây vừa được chặt cắm
xuống đất trong ban đêm, do sáng kiến của khu trưởng Dinh Điền
chào mừng Tổng thống.
Về Quốc sách Ấp Chiến Lược là một quốc sách vô hiệu, nhưng đã
làm phiền nhiễu hành hạ dân chúng không thể kể xiết. Ấp Chiến
Lược trước hết là phải rào làng-Xã, Ấp bằng nhằm vào những nhà
có của khá giả trong làng đe dọa sẽ bỏ ra ngoài vòng rào vì
những lý do "tiện" hoặc "bất tiện" theo ý của họ. Thế là màn trà
nước van xin được diễn ra (vì bỏ ra ngoài rào là chết). Rồi đến
khi rào làng, thì dân chúng phải tự nai lưng ra tìm kiếm vật
liệu như tre, gai, cọc gỗ v.v... và bỏ công đi rào ngày này qua
ngày nọ. Còn quỹ Ấp Chiến Lược do Mỹ viện trợ phần nhiều do Tỉnh
trưởng, Quận trưởng chia nhau bỏ túi hoặc làm kinh tài cho
"Cậu". Sự rào các Xã cho đúng tiêu chuẩn là một điều kiện khó
khăn mà dân làng không đủ sức vì quá tốn kém. Vì vậy Ấp Chiến
Lược chỉ được rào kỹ một vài đoạn bề mặt để trình diện và để báo
cáo. Còn lại, thì chỉ rào sơ sài, ai ra vào cũng được. Nhưng mỗi
tháng một lần, Xã, Ấp lại đốc xuất dân kiếm vật liệu như tre,
gai đi tu bổ. Người dân biết rõ ràng rào Xã, Ấp như kiểu họ đang
làm là một điều vô ích, chẳng ngăn ngừa gì được Cộng Sản, nhưng
phải bỏ công đi rào vì không thể không tuân lệnh.
Trên đây là một vài nét điển hình về những quốc sách kỳ công
của ông Diệm.
Thời Ngô, những sự xây dựng cơ cấu dân chủ như bầu cử Quốc
hội, Tổng thống là những Trò Hề. Khi chưa bỏ phiếu người dân đã
biết rõ ai trúng ai trật một cách chắc chắn.
Một Dân biểu thời Ngô, người Thừa Thiên, được chỉ định ra ứng
cử tại Quận Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam có cái tên mà dân chúng địa
phương không biết y là đàn ông hay đàn bà vẫn đắc cử với số 99%
với số phiếu. Đó là ông Lâm My Bạch Tuyết. (Dân biểu này có liên
quan trong một vụ buôn gạo của Ngô Đình Cẩn cho Cộng Sản Bắc
Việt, bị bắt quả tang, nhưng Tòa án không giám xử).
Dân chúng Ninh Thuận vẫn còn nhớ trong năm 1956, ứng cử viên
Dân biểu đơn vị Ninh Thuận là ông Trần Trung Dung, cháu rể ông
Diệm, từ chức Thứ trưởng Quốc phòng để ra ứng cử. Khi ra Ninh
Thuận "tranh cử", ứng cử viên Trần Trung Dung đã được Tỉnh
trưởng Ninh Thuận Hồ Trần Chánh tổ chức một cuộc tiếp rước linh
đình trọng thể. Dân chúng và học sinh đứng hai bên đường từng
đoàn từng đoàn từ ga Tháp Chàm về đến tỉnh lỵ Phan Rang để hoan
hô ứng cử viên. Khi ông Dung bước lên diễn đàn để tuyên bố: "Ngày
trước Ngô Tổng thống cai trị ở đây, ngài biết rõ dân tình ở đây
nên nhờ tôi ra ứng cử ở địa phương này để có thể đạo đạt nguyện
vọng nhân dân lên Tổng thống v.v..." Rồi sau đó ứng cử viên
Dung được tiếp rước về nhà Công quán của Tòa Hành Chánh Ninh
Thuận có lính hầu hạ canh gác trước sau. Chưa bỏ phiếu, dân Ninh
Thuận đã biết chắc ông Dung sẽ đắc cử 99% số phiếu.
Ai cũng chưởi ông Thiệu độc diễn. Nhưng sự độc diễn của ông
Thiệu còn thật thà hơn ông Diệm, là khi ông Diệm ứng cử nhiệm kỳ
2 (1961) có các ông Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Đình Quát dàn
cảnh. Mỗi lần ông Quát, ông Truyền đọc diễn văn tranh cử trên
đài không có ai nghe được gì hết vì đài bị phá. Cán bộ các ông
ấy đi về các tỉnh vận động liền bị Công an tổ chức những nhóm
anh chị du côn hăm dọa họ xin tý huyết. Khắp nơi, ngày bỏ phiếu
họ trốn về không dám ở lại các tỉnh. Vậy mà sau khi kiểm phiếu
Quận trưởng, Xã trưởng phải... chịu khó tráo sửa biên bản để Ngô
Tổng thống được 95% số phiếu.
Về kinh tế, tất cả tài nguyên từ trên núi xuống bể, mọi dịch
vụ tài chánh từ Quảng Trị đến Cà Mâu, thượng vàng hạ cám, đều do
tay chân quyến thuộc nhà Ngô bao thầu, thao túng, chiếm đoạt
khai thác. Người viết không muốn bẩn bút nhắc đến những ai trong
thân tộc hoặc tay chân Ngô triều vốn là Tay trắng chỉ trong vài
năm "làm kinh tài cho đoàn thể" đã trở nên triệu phú kếch xù!
Ông Diệm nói chống Cộng nhưng tất cả việc làm của Ngô
triều đều bắt chước Cộng Sản. Cộng Sản bắt dân suy tôn
Hồ Chí Minh thì ông Diệm cũng bắt dân suy tôn mình. Cộng Sản có
Quốc Hội bù nhìn, thì ông Diệm cũng tổ chức một cái Quốc Hội
nghị gật tay sai. (Quốc Hội gì mà cả một khóa họp chỉ ê a thảo
luận các luật gia đình để có lợi cho bà "Đệ Nhất Phu Nhân"?)
Cộng Sản có cái đảng Lao Động làm nòng cốt, Mặt Trận Cứu Quốc
Liên Việt làm ngoại vi, thì ông Diệm cũng có cái Đảng Cần Lao
làm cốt và Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia, Tập Đoàn Công Dân, Phụ
Nữ Liên Đới làm ngoại vi. Nhưng có một điều khác là Cộng Sản, từ
Đảng đẻ ra chính quyền, còn ông Diệm thì có chính quyền rồi mới
dùng nhân sự, phương tiện của chính quyền đẻ ra Đảng. Nên tất cả
tổ chức của ông Diệm chỉ là bèo bọt, chính quyền đổ thì đảng đổ
theo.
Cộng Sản độc quyền ái quốc, ai khác mình là phản động Việt
gian, thì ông Diệm cũng độc quyền chống Cộng, ai khác mình là
Cộng Sản phải giết! (Đã biết bao người chống Cộng, từng bị Cộng
Sản giam cầm, đến khi ông Diệm cầm quyền thì hồ sơ của họ trở
thành là những người hoạt động cho Cộng Sản! Biết bao đảng viên
Quốc Dân Đảng, Đại Việt, Duy Dân một sớm một chiều hồ sơ của họ
biến thành Cộng Sản di hại cho họ mãi sau khi ông Diệm đổ).
Cộng Sản có chủ thuyết Mác Xít, giai cấp đấu tranh thì ông
Diệm cũng ráng nặn ra cái chủ nghĩa nhân vị nhưng hoàn toàn vô
vị... (vô vị vì ngoài tay chân ông Diệm ra toàn dân có ai để ý
hoặc tìm hiểu các thuyết nhân vị là gì đâu?). Cộng Sản có hiến
pháp nhưng không bao giờ thực thi, thì ông Diệm cũng bắt chước
mà dẫm nát lên Hiến Pháp của mình.
Tự do đi lại, hội họp, ngôn luận v.v... những quyền tối thiểu
ấy có ghi trong Hiến Pháp, nhưng suốt 9 năm ông Diệm cầm quyền
có bao giờ thực thi đâu?. Báo chí thời Diệm trừ tờ Thời Luận của
ông Nghiêm Xuân Thiện bị đóng cửa đưa ra Tòa và tờ Tân Dân của
Cụ Lộc phải đình bản, còn tất cả đều nói theo luận điệu của đài
Sài Gòn. Thế cho nên bao nhiêu hành vi gian ác bất lương, tham
nhũng của tay chân cán bộ nhà Ngô có bao giờ được công khai
phanh phui như trong các Chính phủ khác?.
Từ xưa đến nay chưa có một vị lãnh đạo quốc gia nào làm phiền
nhiễu dân chúng như ông Diệm. Mỗi lần ông Diệm đi kinh lý một
tỉnh nào thì toàn dân tỉnh ấy phải chuẩn bị cơm nước từ khuya,
quần áo tươm tất, đi bộ lên tỉnh để cầm cờ tung hô ông Diệm.
(Gia đình nào không có lý do chính đáng mà vắng mặt sẽ bị Xã, Ấp
ghi vào sổ đen rất nguy hiểm). Còn các cơ quan Hành chánh, Quân
sự Tỉnh, Quận được huy động tối đa trong việc đón tiếp. Phải bố
trí công an chìm nổi, phải tổ chức huấn luyện cho những người
đứng gần ông Diệm thưa bẩm những gì... phải dàn cảnh sao cho xôm
tụ, cho Tổng thống hài lòng. Thành thử dù nghìn lần đi kinh lý,
ông Diệm chỉ thấy cái giả dối, hào nhoáng bề ngoài, làm gì biết
được ẩn tình dân chúng bên trong..Thời gian ông Diệm cầm quyền ở
nhiệm kỳ I, trong nước chưa có chiến tranh nhưng mọi tự
do đều bị bóp nghẹt: không có giấy chứng nhận đi bầu cử
thì không được ra khỏi làng để đi chợ..
Có một điều kỳ lạ tại sao ông Diệm lại bãi bỏ Lễ Tổ
Hùng Vương? nhưng có người mách: điều kỳ lạ này có thể
hỏi Đức Cha Cố Vấn cho ông Diệm..
Về việc kỳ thị tôn giáo, bản thân kẻ viết không muốn nhắc
đến. Chỉ mong sao các tôn giáo hiện tại tâm thành Đoàn Kết trước
quốc thù Cộng Sản vì tất cả các tôn giáo đều đã bị đại khủng bố
ở quê nhà.. Nhưng vì có kẻ biện hộ ông Diệm đã nói: Họ chưa thấy
ông Diệm ký một sắc lệnh nào nâng đỡ ưu tiên cho Công giáo hay
bóp nghẹt Phật giáo mà gọi là kỳ thị?. Vụ tranh đấu Phật giáo
đâu phải bất thần nổ ra từ Phật Đản 1963 mà nó đã tiềm tàng âm ỉ
từ nhiều năm về trước. Thời ông Diệm tại miền Trung, mỗi tỉnh có
một vị Linh mục hầu như cố vấn và giám sát Tỉnh trưởng. Những
Tỉnh trưởng nào dù lương hay giáo, nếu có hành vi trái ý vị Linh
mục thì rất khó tại vị. Vị linh mục sẽ đề nghị lên ông Cố vấn
chỉ đạo Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia (ông Ngô Đình Cẩn) có biện
pháp (hoặc thuyên chuyển hoặc cách chức)..
Vì cảm thông uy quyền ngầm của các vị Linh mục, nên các Tỉnh,
Quận trưởng thời nhà Ngô không có ai gan làm trái ý những yêu
cầu, đề nghị của các vị Linh mục. Nhiều vùng Linh mục đi giảng
đạo nơi nào, có thể yêu cầu Xã trưởng cho mượn Trụ Sở Xã, triệu
tập dân xã v.v... Trong khi đó các tôn giáo khác muốn hội họp
phải xin phép khó khăn. Nhiều Linh mục còn lộng hành hơn nữa là
nhận đơn kiện cáo hoặc thỉnh nguyện của các con chiên, rồi phê
vào đơn, đưa đến Quận trưởng bảo xử theo ý của Linh mục.
Người ta rỉ tai nhau cho biết các Cha rất có thế lực. Cứ vào
Công giáo sẽ như ưu dân, sẽ được đề bạt v.v... Có nhiều Linh mục
tổ chức Hội chợ, tổ chức sổ số Tombola không cần giấy phép Bộ
Nội Vụ. Khi tiêu thụ Tombola, các Linh mục đã nhờ các Quận
trưởng gởi cho các xã bán. Nhiều xã đã xuất công quỹ để mua
Tombola ủng hộ các Cha. Người viết biết rất rõ có một nhà thờ ở
một tỉnh miền Trung, do Tỉnh trưởng dùng uy quyền chiếm trên 2
mẫu đất công, ở một địa điểm tốt đẹp và lươn lẹo dùng phương
tiện công quỹ của tỉnh để xây cất tòa nhà thờ đồ sộ ấy. Công
việc nửa chừng thì ông Diệm đổ, viên Tỉnh trưởng bị bắt và nhà
thờ xây cất nửa chừng phải bỏ dở.
Còn biết bao nhiêu tranh chấp lặt vặt phi lý như những thắng
cảnh từ lâu vốn là của Phật giáo như Núi Bút Quảng Ngãi, Ngũ
Hành Sơn Quảng Nam, chính quyền địa phương đã muốn giúp các linh
mục thiết lập nhà thờ ở những nơi ấy nhưng đã bị Phật tử phản
ứng quyết liệt.
Thời gian thuận lợi 1954-1958 bất kỳ ai cũng có thể
cầm quyền làm bằng hoặc hơn ông Diệm. Không cần ông
Diệm chống Pháp, Pháp cũng rút, vì Hiệp định Genève đã quy định,
và vì Pháp đã ký kết với chính phủ Bảo Đại giao trả độc lập cho
Việt Nam. Trước khi ông Diệm về chấp chánh đã có gần 40 nước
trong thế giới Tự Do công nhận và bang giao với Việt Nam kể cả
Anh, Mỹ và Tòa Thánh Vatican. Nếu nói những khó khăn của ông
Diệm thời đó, thì cũng phải nói đến những thuận lợi,
tiện nghi của ông Diệm trong việc tiếp thu một chính
quyền có sẵn tất cả và Đất Nước Đã Chấm Dứt Chiến Tranh.
Đến đây kẻ viết muốn hỏi nhỏ quý vị đang suy tôn ông Diệm:
Ông Diệm từ một đường quan Tri Huyện, lần lượt lên Quản Đạo,
Tuần Vũ rồi Thượng thư Bộ Lại, nếu thật sự chống Pháp, sao đường
công danh của lãnh tụ quý vị lại hanh thông như vậy? (trong thời
Pháp thuộc muốn xin một chân giáo viên mà có thành tích chống
Pháp bị ty Liêm Phóng (Service de Sureté phê "Avis défavorable"
vào hồ sơ là đương sự xem như... "lúa", chỉ có về nhà... xua gà
cho vợ). Vậy tại sao đường công danh của "chí sĩ" Ngô Đình Diệm
lại lên vùn vụt?.
Việc từ quan của ông Diệm chỉ vì chống nhau với ông Phạm
Quỳnh đương triều, nhưng ở đây người viết không đề cập đến vấn
đề đó.
Ông Diệm tự phong mình là người thành tín quân tử, nhưng việc
truất phế Bảo Đại là Đại Phản Phúc. Nếu nói
chống ông Bảo Đại, thì ai cũng có quyền chống, nhưng trừ ông
Diệm. Vì cha, anh ông Diệm và cả ông Diệm vốn là tôi con nhà
Nguyễn. Ông Bảo Đại trên nguyên tắc đã tín nhiệm ông Diệm, đã
phú thác việc nước cho ông Diệm và ông Diệm đã phục mệnh. Trước
và sau khi truất phế ông Bảo Đại, ông Diệm, (qua Bộ Thông Tin)
đã thuê bọn bồi bút (hầu hết báo chí thời Diệm) mở một chiến
dịch dài hạn đả kích, bêu xấu, vu cáo nhục mạ ông Bảo Đại một
cách tàn tệ.
Thiết nghĩ một người có lương tâm tối thiểu, không ai nỡ hành
xử như thế! Cũng phải khen việc "Trưng cầu dân ý" tổ chức thật
chu đáo. Đến Bà Từ Cung mà cũng bỏ phiếu truất phế ông Bảo Đại!.
Tóm lại: Ông Diệm Đã Làm Hỏng Đại Cuộc, đã
sát hại nhiều phần tử quốc gia, đã tự tâm thiên vị làm hư Công
giáo, đã kỳ thị khủng bố Phật giáo đã Lường Gạt Phản Bội
Và Vô Cùng Tham Quyền Cố Vị. (Ông đã vận động Quốc Hội
thông qua đạo luật cho ông ứng cử lần thứ 3).
Do những hành động tham nhũng, đàn áp, khủng bố đại thất nhân
tâm như đã kể trên, của bộ máy chính quyền gia nô, do ông lãnh
đạo, đã xô đẩy hàng hàng lớp lớp thanh niên, phụ lão, những
người vốn không phải Cộng Sản đã ngã về Cộng Sản. Ông Diệm hô
hào chống Cộng, độc quyền chống Cộng, cho đến đầu năm 1963 thì
toàn quốc ở trong cái thế cài răng lược với Cộng Sản
và ông đã tuyên bố trước đó: "Tổ Quốc Lâm Nguy!".
Sau khi ông chết, thì tay chân tôi tớ ông vẫn cầm quyền. Hậu
quả của Ngô Đình Diệm để lại sau 63 là một ngôi nhà mục nát sửa
sang gì cũng khó lòng đứng vững. Bàn cờ nhà Ngô đã đi bậy bạ...
Khi sang tay khác đánh cờ, nếu gặp phải tay cao thủ thì còn có
thể gỡ gạt..., nhưng không may, bàn cờ lại rơi vào các tay thấp
như vịt, cho nên họ chỉ loay hoay lên Tướng, xuống Sĩ và giục
Tốt mà thôi!
Trách Mỹ lật đổ nhà Ngô ư? Mỹ bồng nhà Ngô lên thì Mỹ lại hạ
nhà Ngô xuống, có gì mà đáng trách.
Sau khi ông Diệm chết, tay chân nhà Ngô còn trong quân đội,
trong chính quyền đã âm mưu phá nát thêm Quốc gia, bí mật mở cửa
cho Cộng Sản thao túng vì muốn chứng tỏ: Không có "Cụ" của chúng
thì tai hại thế đó. (Đây là một hiện tượng nguy hiểm cho quốc
gia sau ngày Diệm đổ mà ít ai để ý). Chỉ tiếc Dương Văn Minh nhu
nhược, đã lật Diệm mà chỉ lật nửa chừng, chỉ hạ cái chóp bu còn
tay chân vẫn để y nguyên như cũ, sau Diệm có thể gọi là "Diemist
sans Diem".
Cuộc lật đổ nhà Ngô năm 1963 đáng lý là một cuộc cách
mạng vì đã nối tiếp tinh thần quật khởi chống bạo quyền
của dân Việt, nối tiếp những hành động đại nghĩa hy sinh
liên tục của các chiến sĩ quốc gia dưới thời Diệm trị. Ta có nên
kể lại từ một thanh niên Cao Đài hành động như một Kinh Kha tại
Ban Mê Thuột năm 1955, từ các sĩ quan Nhảy Dù bao vây dinh Độc
Lập 1960, từ 2 phi công ưu tú Phạm Phú Quốc, Nguyễn Văn Cử bắn
phá dinh Độc Lập 1962 và biết bao nhiệm vụ mưu sát bạo chúa bất
thành, mà chỉ có mật vụ nhà Ngô mới biết rõ, cho đến khi Đại úy
Nhung và Thiếu tá Nghĩa căm phẫn trả thù cho các đồng chí của
họ.
Lật Diệm năm 1963 đáng lý là một cuộc cách mạng vì đã giải
thoát hàng vạn người quốc gia trong các ngục tù trên toàn quốc,
giải thoát hàng triệu nhân dân đang nghẹt thở dưới một chế độ
thối nát học thói độc tài. Toàn dân đã bừng bừng phấn khởi...
Nhưng hỡi ơi hương lửa cách mạng chỉ bừng lên vài ba tuần đầu
rồi dần dần tắt ngủm, chỉ vì người cầm đầu Dương Văn Minh nhu
nhược chỉ muốn cuộc cách mạng ấy là một binh biến hay chỉnh lý
thôi.
Nhiều người bào chữa cho ông Diệm: Ông Diệm rất tốt chỉ vì
tay chân ông làm sai. Lối bào chữa này e giống Cộng Sản: Hồ Chủ
tịch luôn luôn sáng suốt chỉ có cấp dưới làm bậy!
Dân tộc Việt Nam là một dân tộc hỉ xả, uất hận bao nhiêu
nhưng khi đối phương đã xuống ngựa thì sẵn sàng làm lành với
nhau quên đi hết mọi lỗi lầm thù xưa oán cũ. Nhưng cây muốn lặng
gió mà gió chẳng dừng, ta bất đắc dĩ khơi lại đống tro tàn để
phơi bày sự thật.
Vì là chứng nhân nên chẳng muốn ẩn danh.
Lê Nguyên Long
[Source: Khai Phóng số 7, 1981,
USA.Nguồn:fromHoang Thuc An
hoangthucan@gmail.com
tophonang
<phonang@yahoogroups.com>
dateWed, Oct 29,
2008 at 10:48 AM
subjectNhan gio cu
Diem - Nhân ngày giổ cụ Diệm, xem lại bài báo
27 năm trước (1981)của Lê Nguyên Long : Bất
đắc dĩ khơi lại đống tro tàn]
VI- ĐẠI HỌC HUẾ TRANH ĐẤU CHỐNG CHẾ ĐỘ CŨ
Qua hai giờ nói chuyện với Giáo sư Lê Tuyên
Tạp chí BÁCH KHOA (số 171 & 172 ngày
15/2 & 1/3/1964)
Nguiễn Ngu Í
L.T.S. Ông Lê Tuyên là một trong
những người đầu tiên đã từ ngoại quốc về để cùng linh mục Cao
Văn Luận xây dựng viện Đại học Huế. Ông phụ trách môn Việt văn,
đồng thời cũng là tác giả quyển “Chinh phụ ngâm, tâm thức lãng
mạn của kẻ lưu đày”, một tập thơ và có chân trong nhóm Bút
Việt.
Ông là một trong những vị giáo sư
hưởng ứng phong trào giáo sư và sinh viên Đại học chống chế độ
cũ (Ngô Đình Diệm). Cuộc đàm thoại sau đây giữa bạn Nguiễn Ngu Í
(của báo Bách Khoa) và ông Lê Tuyên, nhơn dịp ông vô Sài Gòn để
họp Hội đồng Nhân sĩ, sẽ trình bày cùng bạn đọc những nét chính
của cuộc tranh đấu nói trên.
Lần đầu gặp anh ở nhà một người bạn
chúng tôi không ngờ người vui vẻ bắt tay mình là người mình muốn
gặp. Tôi chờ đợi một thân thể gầy gò, hay một gương mặt xanh
xao, hoặc đôi mắt lờ đờ, mệt mỏi: hơn hai tháng trường nằm trong
bàn tay sắt của công an mật vụ Ngô Đình Diệm, một trong những
người đã từng hướng dẫn phong trào giáo sư Đại học và sinh viên,
học sinh Huế chống lại chế độ cũ đang hồi hăng máu, mà vẫn giữ
được cái vẻ thư sinh với sắc diện hồng hào, ánh mắt vui cười sau
gương trắng, thì quả là một điều ngạc nhiên thích thú. Mặc dầu
hai tháng đã trôi qua . . .
Như đoán được ý nghĩ tôi, anh mở lời
trước:
- Tôi bị mất tự do bảy mươi ba ngày,
nhưng không bị tra tấn, nên nay mới được như thế này.
- Nhưng mà tinh thần anh, họ nào có
để yên đâu!
Anh cười lặng lẽ. Tôi tiếp:
- Lắm khi thể xác mình bị xác xơ,
nhưng rồi sức khỏe hồi phục dễ dàng; còn như tinh thần bị dày
vò, nhiều lúc bên ngoài có vẻ như chẳng sao đâu, mà bên trong
mình vẫn chưa được bình thường. “Chắc anh hiện ở trong tình
trạng đó.”
Anh xác nhận bằng một cái gật đầu
nhẹ.
- Tôi thấy con người tôi chưa được
bình thường như trước, tuy tôi được về với gia đình, với xã hội
đã trên hai tháng.
- Cũng trên hai tháng nay, anh em
chúng tôi muốn tiếp xúc thân mật với anh, để nhờ anh mà hiểu đầu
đuôi phong trào giáo sư, sinh viên Đại học Huế chống đối với
chánh phủ trước. Vì nếu sinh viên và học sinh Sài Gòn tiếp tục
và kết thúc phong trào chống lại bạo quyền, thì cái danh dự
giương cao lá cờ chống đối, vốn là phần sinh viên và học sinh
Huế, trong đó có thể nói các anh em giáo sư Đại học là linh hồn.
Cách tổ chức, những kinh nghiệm cùng các biến cố từ ngày phong
trào nhen nhúm đến khi bị đàn áp, rã tan … chúng tôi nghĩ rằng
người Việt nào cũng muốn biết. Vẫn biết anh là người trong cuộc,
nói ra làm sao tránh khỏi cái “tôi”, điều người trí thức nào
cũng kị. Nhưng nếu người trong cuộc mãi giữ im lặng, thì dư luận
ắt là phải nghe tiếng nói của người ngoài cuộc, thế nào cũng
thiếu sót, nếu chẳng phải sai lầm.
Thấy anh ra chiều nghĩ ngợi, tôi lại
tiếp:
- Hẳn anh cũng thấy, chúng ta đang ở
trong một thời kì chưa ổn định. Bây giờ chúng ta ngồi đây, thong
thả chuyện trò; ai biết ngày mai sẽ dành cho chúng ta những cái
bất ngờ gì. Vả lại, chúng ta từng khó chịu – và lắm khi tủi hổ -
phải tìm hiểu những gì xảy ra ở nước mình, hay cách mình mấy
bước, qua đài phát thanh, qua báo chí, qua bản tin nước người!
Chẳng lẽ anh lại nỡ để chúng tôi phải chờ người ngoại quốc cho
biết sự thật về vụ này, khi nào họ muốn!
Tới đây, anh vòng tay ôm lấy hai đầu
gối, chậm rãi nói:
- Các anh hiểu cho. Sở dĩ tôi lần
lữa, là vì tôi đã hành động với một số anh em. Cần hội ý với
nhau trước để xét xem có nên hay không. Nếu anh em thấy lúc này
có thể nói, thì tôi có tiếc gì với Bách Khoa.
Thế là đành phải chờ anh vào họp (1)
khóa sau vậy.
Lần này, thì anh “được phép” nói. Và
chính tôi lại lúng túng, không biết nên hỏi về giáo sư trước hay
về sinh viên trước! Anh thì sẵn sàng “chịu đựng”. May sao một
câu hỏi ổn thỏa vụt đến:
- Chẳng hay cuộc tranh đấu của giáo
sư và của sinh viên xảy ra đồng thời hay nó … so le?
- Đồng thời, và bên trong, có cả một
chương trình hành động.
- Hai bên chắc có một sự lãnh đạo
chung?
- Lãnh đạo chung thì không có, nhưng
hai bên thường liên lạc với nhau để biết phải làm gì và để hành
động ăn khớp với nhau.
- Phong trào nổi dậy nhơn cuộc đàn áp
tín đồ Phật giáo trong ngày Phật Đản (2), song âm ỉ từ lâu ?
- Âm ỉ thì chẳng riêng gì viện Đại
học Huế. Anh nhớ lại không khí trong nước lúc bấy giờ, đâu cũng
nghẹt thở. Cốc nước đã đầy, vụ đàn áp trắng trợn và vô nhơn đạo
trên kia là giọt nước cuối cùng làm cho nước phải tràn ra. Chúng
tôi ở ngay tại chỗ, thấy tận mắt, nghe tận tai, nên công phẫn
trước. Tôi có thể nói rằng, ngày lịch sử ấy tại Huế, quần chúng
thế nào, thì sinh viên, giáo sư thế ấy!
- Nghĩa là máu nóng sôi lên, và không
còn sợ gì nữa?
Anh mĩm cười rồi nói:
- Tôi xin kể lại đầu đuôi. Chiều ngày
7 tháng 5 - tức 14 tháng 4 ta – tôi đang dùng cơm với cha Luận,
thì nghe tin Chánh phủ ra lịnh cấm treo cờ Phật trong dịp Phật
đản. Tôi rất đổi ngạc nhiên, linh tính báo có điều gì khác
thường; cha Luận cũng sững sốt. Đến 9 giờ tối, thì lại được tin
ông tỉnh trưởng Thừa Thiên nhượng bộ và mai – ngày Phật đản –
chùa chiền, nhà cửa của Phật giáo đồ được treo cờ. Ai nấy tưởng
thế là yên. Nào ngờ sáng hôm sau, sự thật lại khác. Thế là dân
chúng tự động biểu tình, rồi cuộc biểu tình biến thành mết tinh.
Những gì đã xãy ra trong ngày Phật đản, hẵn các anh đã rõ, báo
chí đã thuật lại, nhất là thiên hồi ký của thượng tọa Thích Trí
Quang. Tôi chỉ kể đôi chi tiết nhỏ anh nghe. Đêm rằm ấy, 9 giờ
quân đội xịt nước rồi bắn vào đám đông đang tụ tập trước đài
phát thanh. Ông tỉnh trưởng đã đích thân ra (vì lúc bấy giờ, ông
và thượng tọa Thích Trí Quang đang ở trong đài) yêu cầu ngưng
xịt nước và ngưng bắn, bộ đội chẳng thèm đếm xỉa …
- Như thế là đã có lịnh trên rồi.
Nhưng ai ra lịnh ấy ? Ông Cẩn, ông Thục ? Hay ông Nhu, ông Diệm
?
- Đến giờ, tôi cũng chưa biết rõ. Đạn
bắn qua trường Đại học, đối diện với đài phát thanh, làm bể mấy
tấm cửa gương, hiện nay vẫn còn để làm chứng. Sáng lại, xe đạp
và guốc, giép vứt bỏ ở trước đài phát thanh nhiều đến đỗi Chánh
quyền phải cho mấy xe cam nhông đến để thu dọn.
- Sáng hôm sau, anh có đến thăm ông
Luận ?
- Có. Lúc 7 giờ. Bàn về vụ rắc rối
đêm qua, cha cho là do Việt cộng liệng plastic gây nên. Nhưng
đến trưa, thì theo tin riêng của phái bộ quân sự Hoa Kì cho
biết, họ đã lượm được những quai lựu đạn, đã đục tường đài phát
thanh để lấy đạn bắn ghim vào đó, những thức ấy là loại võ khí
do Hoa Kì viện trợ. Bởi vậy họ điện về tòa đại sứ ở Sàigòn xác
nhận rằng chính những quân nhân được điều động để đàn áp cuộc
biểu tình đến đó đã gây ra cuộc đổ máu, chứ chẳng phải Cộng sản.
Họ lại nhấn mạnh thứ lựu đạn đưa ra sử dụng là lựu đạn tự vệ,
chớ không phải lựu đạn tấn công.
- Có gì khác nhau giữa hai thứ lựu
đạn ấy ?
- Lựu đạn tự vệ mạnh hơn lựu đạn tấn
công.
Im lặng một hồi tôi mới hỏi tiếp:
- Thái độ đầu tiên của các anh chắc
là dè dặt.
- Phải nói là rất dè dặt. Vì thấy
Chánh quyền chưa tỏ gì gọi là nhượng bộ. Khiến đại úy Minh báo
cáo về văn phòng ông cố vấn Chánh trị, đại khái: “Tụi trí thức
Huế không có phản ứng gì cả”.
- Nhưng lúc đó, các anh nghĩ sao ?
- Chúng tôi bàn riêng với nhau: lần
nầy, Chánh quyền không giải quyết ổn thỏa thì Chánh phủ chết đến
nơi. Đổi đi vài người có trách nhiệm trong vụ nầy; trừng trị
nặng vài người gây cuộc đổ máu. Đừng để kéo dài. Dân chúng sẽ
phản ứng mạnh, thì tức nước vỡ bờ. Đa số đồng bào dù không phải
là Phật tử, nhưng không bằng lòng Chánh phủ từ lâu, nay gặp dịp,
tất nhiên họ sẽ đứng vào một mặt trận với các Phật tử để tranh
đấu …
- Tôi nhớ dường như lúc gay cấn
nhất, ông Cao Văn Luận đi Mĩ thì phải..
Anh gật đầu:
- Cha từ giã Huế đúng vào hôm có cuộc
biểu tình vĩ đại của Phật giáo. Có trên bảy vạn người. Đó là
ngày thứ sáu, 10 tháng 5.
- Thế thì ai trông nom viện Đại học
khi ông viện trưởng vắng mặt ?
- Anh Lê Văn xử lí thường vụ, nhưng
lúc cha Luận đi, anh Văn đang bận việc ở Sàigòn, nên cha nhờ anh
Lê Văn Diệm, khoa trưởng Văn khoa, coi giùm công việc trường.
Cha Viện trưởng đi hôm trước thì hôm sau chúng tôi được giấy mời
đến chùa Từ Đàm vào lúc 6 giờ chiều hôm ấy để nghe trình bày đơn
phương về vụ đáng tiếc vừa xảy ra. Giấy mời từng người nên chúng
tôi dễ định đoạt. Ai muốn đi thì đi, ai không muốn đi thì tùy.
- Thế thì như thế giới, giới giáo sư
các anh cũng chia làm hai phe !
- Phe đã “dấn thân” (engagé) thì mượn
công xa, xe của Viện, mà đi, để tỏ rằng việc mình làm tỏ rõ như
ban ngày; còn phe ngần ngại thì ở nhà hay đi cửa Thuận nghỉ mát
!
- Phe nầy có nhiều không anh ?
- Độ mươi người.
- Buổi trình bày đơn phương ở chùa Từ
Đàm ngày 11 tháng 5 ấy, có dân chúng không ?
- Không. Chỉ có giáo sư, học sinh và
sinh viên.
- Chắc là Thượng tọa Thích Trí Quang
đứng lên trình bày.
- Phải. Ông giải thích năm nguyện
vọng, và cho rằng Phật giáo đòi hỏi như thế chẳng có gì là quá
đáng. Cử tọa đồng ý cho rằng đòi hỏi như vậy là điều chánh đáng.
- Chắc là sau đó, tên các anh em đi
dự bị ghi vào sổ đen.
- Chẳng những thế, mà sau đó ông Cẩn
cho gọi một anh, trách: lên đó làm chi để Phật giáo họ lợi dụng
sự có mặt của các giáo sư Đại học mà tuyên truyền. Anh bạn nọ
trả lời trôi chảy: bởi có giấy mời chứ nào tự động; vả lại,
chính quyền cũng chẳng cấm người đến nghe. Nhưng tình hình mỗi
ngày mỗi nghiêm trọng. Chính phủ chưa có dấu gì là nhượng bộ, mà
có vẻ “hoãn binh”.
Anh ngưng nói, nhớ một điều gì:
- Tôi muốn nói với anh: trước kia,
anh em giáo sư Đại học Huế đã chận đứng tại ngưỡng cửa Đại học
những gì của vợ chồng Nhu. Bất cứ tổ chức gì định lợi dụng giáo
sư, sinh viên, là chúng tôi tìm mọi cách “mời” nó ra xa. Như tổ
chức “Thanh niên Cọng hòa” là một, tổ chức “Phụ nữ bán quân sự”
là hai, và “Tổng hội giáo giới” là ba.
- Nhưng còn trại Giáo dục ở Suối Lồ Ồ
vào khoảng tháng sáu ?
- Lúc đầu, chúng tôi định phản đối
trại ấy một cách thụ động: Không tham dự. Nhưng vài anh em ngại
không đi tức là ra mặt chống đối rồi, thì càng bị để ý, chi bằng
một số ở nhà một số đi. Như thế, Chánh quyền chẳng bắt bẻ vào
đâu được. Đi để nghe ngóng, để hiểu thái độ anh em ở Sàigòn,
cũng có cái lợi. Ý kiến nầy được chấp thuận. Một số lớn đi Lồ Ồ,
một số nhỏ ở lại Huế.
- Anh ở lại ?
- Tự nhiên là tôi ở lại. Tôi cần có
mặt ở Huế hơn là ở Lồ Ồ. Và chính trong thời gian các bạn dự
trại, ở Huế có cuộc biểu tình tuần hành lớn. Và chính trong cuộc
biểu tình, người ta thấy xuất hiện đoàn sinh viên Phật tử. Và
đoàn sinh viên nầy gởi bản kiến nghị đầu tiên cho Tổng thống,
yêu cầu thực thi bản thông cáo chung. Chánh quyền có ý làm khó
dễ viện Đại học về vụ nầy, chúng tôi phản đối ngay, vì họ đi
biểu tình, họ viết kiến nghị, không phải với tư cách sinh viên
suông mà là với danh nghĩa sinh viên Phật tử, một việc làm không
còn thuộc phạm vi viện Đại học.
Khi cuộc biểu tình vừa xảy ra, tôi có đánh
điện vào anh em ở Suối Lồ Ồ nên anh em đã có thái độ sẵn. Bởi
vậy, trong một buổi họp, khi một vị theo phe chánh quyền yêu cầu
tất cả giáo sư Đại học thông qua một bản tuyên ngôn đã được soạn
sẵn lên án hành động của sinh viên Huế thì một giáo sư Huế lập
tức đứng lên phản đối là anh em ở xa, không thể biết việc làm
của sinh viên ngoài ấy đúng hay là sai, mà vội lên án được. Lập
trường của anh em giáo sư ở Huế được đa số bạn đồng nghiệp ở
Sàigòn ủng hộ. Khi bỏ phiếu để lấy quyết địng của hội nghị, tuy
thắng “phe địch” có hai lá thăm, nhưng anh em Huế cũng tự hào
rằng mình đã thắng trong ván đầu,
Không khí nặng nề càng đè nặng lên Huế.
Chùa chiền bị canh gác. Ai lên chùa Từ Đàm đều bị khám xét.
Trọn tháng bảy, chúng tôi chỉ liên lạc với
nhau để nhận định cho rõ ràng tình hình hầu có một quyết định
hành động. Chúng tôi phải tỏ ra hết sức thận trọng; những con
mắt của Công an Mật vụ đã hướng về phía chúng tôi.
Nhưng bước qua tháng tám là phong
trào bột phát.
Sinh viên Phật tử bắt đầu lên tiếng
than phiền: “Thời thế như thế nầy mà các thầy còn ngồi yên”.
Tôi cười:
- May mà họ mới trách móc nhè nhẹ chớ
chưa nặng lời mạt sát !
- Ấy cũng nhờ họ hiểu chúng tôi. Anh
em chúng tôi đã ôn tồn nói với họ: “Không phải các thầy lãnh đạm
thờ ơ. Nhưng các em là Phật tử, còn các thầy không phải người
theo đạo Phật hết. Các thầy ở Đại học, các thầy chờ một sự kiện
đặc biệt liên quan với Đại học, các thầy sẽ lên tiếng. Mà sự
kiện kia thế nào cũng xảy ra. Chẳng phải các thầy trốn trách
nhiệm. Nhưng giờ các thầy chưa điểm …” Nói thế, song thấy các
học sinh sinh viên bị bắt bớ, bị tra tấn, mà vẫn âm thầm hoạt
động, chúng tôi cũng thấy khó chịu. Ngày nào chúng tôi cũng họp.
Chúng tôi có đặt vấn đề với cha Luận. Cha Luận thì chủ trương ôn
hòa: ta không làm thì thiên hạ cũng làm; chế độ nầy không thể
tồn tại lâu; chúng ta làm gì bây giờ cũng sẽ bị đối phương chúng
ta - Cộng sản - lợi dụng để khai thác. Nhóm đầu não không chịu.
Họ thấy cần tỏ thái độ mình ngay.
Ngày 14 tháng 8, nhân một chú tiểu chùa
Phước Duyên tự thiêu (đêm 12 rạng 13), chúng tôi họp bàn với
nhau, đặt vấn đề: nói thẳng với linh mục viện trưởng. Rồi vụ một
người thợ mộc chùa Từ Đàm bị ám sát bí mật …
Tôi ngắt lời anh:
- Chúng tôi ở trong nầy chưa biết
việc nầy. Chẳng hay người thợ mộc ấy có làm gì …
- Người thợ ấy lãnh việc treo biểu
ngữ cho nhà chùa. Một khuya nọ, có người kêu cửa, anh ra là bị
bắn chết.
- Và chẳng tìm ra thủ phạm !
- Chúng tôi xét rằng mình không thể
kéo dài thái độ chờ đợi nữa. Bên chánh quyền ngày càng nghi ngờ,
mà bên sinh viên đã bắt đầu lộ vẻ khinh khi. Tôi với anh Trường
bèn đến nhà riêng cha viện trưởng xin từ chức. Cha không nhận,
buồn ra mặt, yêu cầu chúng tôi đợi ít ngày, vì từ chức ngay bây
giờ không lợi.
Thì ngày hôm sau, 15 tháng 8, nhân lễ Đức
Bà, học sinh và sinh viên biểu tình. Chính quyền thả chó dữ đàn
áp, có cuộc xô xát, và một số sinh viên bị bắt. Tình trạng căng
thẳng quá rồi. Ngay chiều hôm đó, sinh viên Phật tử cử một phái
đoàn đến yết kiến linh mục viện trưởng với hai yêu sách:
1- Cha viện trưởng và giáo sư Đại
học phải tỏ rõ thái độ của người trí thức.
2- Cha viện trưởng và các khoa
trưởng can thiệp ngay với chánh quyền để các sinh viên bị bắt
được trả lại tự do.
Về yêu sách thứ nhì, nếu không được
chấp thuận, thì ngay chiều hôm sau, sẽ có một sinh viên tự thiêu
trước viện hay trước chùa Diệu Đế.
- Thế linh mục Luận đối phó ra sao ?
- Cha đã rơi lệ. Vì con người Đạo và
con người Đời xung đột quyết liệt trong cha, không thể dung hòa
được nữa. Cha triệu tập hội đồng khoa trưởng và giám đốc lại.
Chúng tôi tường thuật những sự việc đã xãy ra và sau cùng cha
Viện trưởng nhận lãnh trách nhiệm can thiệp với chánh quyền để
trả lại tự do cho tất cả sinh viên Phật tử bị bắt giam.
Trong khi đó, Phật giáo càng tranh
đấu mãnh liệt – trong sự bất bạo động. 4 giờ rưỡi khuya ngày 16
tháng 8, chùa Từ Đàm đã chuẩn bị xong cho đại đức Thích Tiêu
Diêu châm ngòi lửa vào người. Chánh quyền đối phó bằng cách
thiết quân luật vào lúc 6 giờ sáng. Xe tăng ở ngã tư đường, rào
thép gai đây đó.
- Thế các anh cũng đối phó chớ ?
- May thay, cơ hội đến đúng lúc. Sáng
ngày ấy, có cuộc thi về Văn chương Việt Nam do tôi chịu trách
nhiệm. Tôi nhắn bảo sinh viên đừng thi vì sinh viên ở ngoại ô
không đến được, thi là gây thêm một sự bất công. Tôi bèn nhờ cha
Luận điện thoại cho ông đại biểu Chánh phủ xin phép hoãn cuộc
thi. Tự nhiên là người thay mặt chánh quyền nầy cho phép ngay.
Lúc ấy vào khoảng 8 giờ, chúng tôi –
5 anh em - họp nhau ở ngoài hành lang …
- Sao các anh không họp ở trong phòng
lại đứng ở ngoài hành lang ?
- Vì chúng tôi được biết An ninh quân
đội đã móc thêm dây đặc biệt vào điện thoại ở viện, nói gì ở
phòng họp đều bị người ta biết cả !
Chúng tôi cũng đồng ý ở điểm chánh
quyền họ Ngô đã để lộ bộ mặt tàn bạo, vô nhơn đạo của họ rồi,
thì chẳng nên chần chờ gì nữa. Người sống tay không, họ cho xe
tăng cán bừa lên, liệng lựu đạn át-xít vào đám học sinh sinh
viên; người chết tự thiêu, họ cướp xác chôn vùi ở đâu không ai
biết, hoặc xin họ cái hòm để chôn cho kịp, họ cũng không cho.
Tàn bạo với người sống, vô nhơn đạo với người chết. Không thể
tiếp tay cho một chế độ phi nhơn như thế.
Nhưng muốn tranh đấu có hiệu quả nhiều,
phải làm một người dân thường; chớ còn bị ràng buộc bởi những
chức týớc, ðịa vị, thì vướng bận lắm. Phải cùng nhau xin từ chức
ngay. Nhưng sau đó, ông tổng thư kí viện Đại học cho hay linh
mục viện trưởng vừa đi Đà Nẵng, ông không có quyền nhận sự từ
chức của chúng tôi, vậy chúng tôi hãy chờ cha Luận sẽ về ngay
chiều hôm ấy. Chúng tôi liền yêu cầu ông tổng thư kí ghi vào
nhật ký của viện để làm bằng, rằng vào ngày đó, giờ đó, chúng
tôi có đến xin viện trưởng từ chức.
Chiều hôm đó, ông bộ trưởng bộ Quốc gia
Giáo dục ra Huế cùng với ông Trần Hữu Thế, tân viện trưởng. Hai
ông ở Sàigòn ra lúc 5 giờ thì 7 giờ, cha Luận hay tin mình bị
cách chức, nhờ ông Thế báo tin riêng nên anh Hanh, khoa trưởng
Khoa học, cũng biết. Nhưng vì lúc đó nhằm giờ thiết quân luật,
anh chỉ có thể cho những người ở cùng một khu với anh hay được
thôi.
Hôm sau, 17 tháng 8 lúc 6 giờ, tôi được anh
Nguyễn Văn Thạch cho biết tin. Chúng tôi kéo đến nhà cha Luận.
Được biết 9 giờ làm lễ bàn giao, chúng tôi vội vã họp nhau lại ở
nhà anh bác sĩ Quyến để phác họa chương trình sẽ cho “bom nổ”
cùng một lúc: cha Luận vừa hết nhiệm vụ là chúng tôi lần lượt từ
chức, để anh cao niên nhất mở đầu, rồi theo thứ tự tuổi lớn nhỏ.
Cần cho ngoại quốc biết tin sốt dẻo nầy ngay. Anh em giao tôi
việc thảo thông cáo. Tôi thảo xong đọc lên, anh em đồng ý, bèn
đánh máy rồi cho người mang trao cho đài VOA, Associated Press
và UPI.
- Xin anh cho biết nội dung bản thông
cáo ấy.
- Chúng tôi xin từ chức khoa trưởng,
giáo sư Đại học vì bị ba xúc động liên tiếp: Chánh phủ đàn áp
Phật giáo - Chánh phủ không thực thi bản cam kết với Phật giáo -
Chánh phủ cách chức viện trưởng Cao Văn Luận.
- Thế “âm mưu” của các anh có được
hai ông Trình, Thế biết trước buổi họp không ?
- Không. Tất cả khoa trưởng, giáo sư
đều đủ mặt. Ông Trình nói ít lời, đọc sắc lịnh bổ ông Thế đảm
nhiệm chức viện trưởng thay cha Luận. Rồi cha Luận đứng lên nói
rằng cha sung sướng mà thấy ngày mong đợi đã đến vì vai trò
người viện trưởng rất quan trọng, nặng nề, nhất là viện Đại học
Huế đang ở thời xây dựng. Cha là người tu hành, không thể kéo
dài công việc ngoài đời mãi được. Hơn nữa, không khi nào cha cho
mình là người không thể thay thế được. Và cha đọc một câu của
Valéry: “Les cimetières sont remplis de gens irremplaçables”
(3).
Cha Luận nói tiếp: cha nghĩ rằng Văn Hóa
lúc nào cũng trường tồn, nhưng đôi khi nó bị Chánh trị lãnh đạo.
Vậy, muốn làm việc đắc lực cho Văn hóa lúc nầy đây, người lãnh
đạo viện Đại học phải là người có cái “thế” chánh trị. Tưởng
không ai hơn ông tân viện trưởng. Ông Trần Hữu Thế là người “có
thế” hơn ai hết: ông có cái thế của Tổng thống tức là cái thế
của Chánh phủ; lại có cái thế của tổng giám mục Huế tức là cái
thế của mấy trăm ngàn giáo dân. Từ trung ương đến địa phương, từ
đời qua đạo, thì chắc rằng viện Đại học Huế sẽ có một tương lai
vô cùng tốt đẹp, và hơn hẳn quá khứ đi rồi …
- Hẳn là mặt ông Thế lúc đó xám xịt ?
- Anh đoán sai. Mặt ông ấy xanh ngắt.
Rồi cha cảm ơn các vị giáo sự và yêu cầu chúng tôi cộng tác với
tân viện trưởng như đã cộng tác với cha.
- Đến phiên ông Thế, chắc ông cũng
tìm cách “trả đũa” ông Luận ?
- Đại khái ông Thế cho biết ông đã cố
gắng xây dựng Đại học Huế ngay từ khi ông còn làm bộ trưởng.
Bằng cách tỏ ra rất dễ dãi về mặt hành chánh, để cho cha Luận
mọi sự tự do hành động, lắm khi cha Luận trực tiếp với Tổng
thống mà không qua ông, theo hệ thống dưới trên, nhưng ông không
lấy thế làm buồn, hiểu rằng cha Luận sở dĩ làm thế vì quá thiết
tha với viện, muốn cho công việc được mau chóng. Ông chỉ đảm
nhiệm chức vụ này trong một thời gian thôi, trong giai đoạn
chuyển tiếp vì ông phải trở về với chức vụ đại sứ tại Phi Luật
Tân của ông.
- Ông tân viện trưởng dứt lời chắc cử
tọa vỗ tay như thường lệ.
- Không ai vỗ tay cả.
- Cả ông bộ trưởng ?
- Cả ông bộ trưởng cũng không buồn vỗ
tay.
Ông Thế vừa ngồi xuống trong im lặng thì
bác sĩ Lê Khắc Quyến, người lớn tuổi nhất, khoa trưởng Y khoa,
đứng lên xin từ chức. Nhưng trái với bản thông cáo gởi cho các
đài ngoại quốc, anh chỉ nói: vì xúc động bởi việc cách chức cha
Luận. Rồi đến anh Bùi Tường Huân, khoa trưởng Luật khoa, anh Tôn
Thất Hanh, khoa trưởng Khoa học, anh Nguyễn Văn Trường, giám đốc
ban Khoa học Đại học Sư phạm.
Anh Lê Văn Diệm thấy anh em đồng lòng như
thế bèn tìm một lối ra khác là xin ông bộ trưởng cho du học
ngoại quốc một năm ! Đến tôi, tôi đưa ra hai lẽ: một là vì tôi
là học trò của cha Luận, cha Luận gọi về công tác tôi mới về;
hai là ở trong tình trạng nầy, tôi ở lại đây không làm được gì.
Đến đây, ông Trình không cho ai nói nữa,
viện lý do: đây là lễ bàn giao giữa hai ông tân và cựu viện
trưởng. Các giáo sư có muốn từ chức xin nói sau với ông viện
trưởng mới.
- Thế ông đại biểu chánh phủ chẳng
nói gì sao ?
- Sao lại không, anh. Ông Khương nói
với vẻ hăm dọa tế nhị. Ông bảo rằng chúng tôi không vì quyền lợi
cá nhân mà về Huế (Huế kém quyến rũ, quyền lợi vật chất không
nhiều), thì khi đưa ý kiến từ chức hẵn là chúng tôi muốn xa Huế
lâu dài vậy.
- Tôi hiểu lời hăm dọa tế nhị ấy rồi.
Muốn xa Huế lâu dài tức là muốn bị đày ra miền quan tái như
chàng Giang Châu tư mã đời Đường, hay muốn bị nhốt dưới một hầm
bí mật nào của cậu Cẩn. Chắc anh cũng có lời gì với vị đại diện
chánh quyền ấy ?
- Có, nhưng mà thẳng thắn hiền lành.
Anh Nguyễn Hữu Trí đáp lại: chúng tôi về Huế là để phục vụ cho
viện Đại học Huế, nay xét không thể phục vụ được như ý thì xin
từ chức. Chớ ở lại mà chẳng làm được gì thì chẳng hóa ra phụ
người mà cũng phụ mình. Còn như phải xa Huế là việc đã đành.
Ông Trình vội vàng tuyên bố bế mạc
buổi lễ bàn giao.
Chúng tôi đưa bản thông cáo cho một số anh
em, được 27 người ký; sau đó, số người lên đến 45. Một phái đoàn
được cử đến tòa lãnh sự Mĩ để cho hay rằng công việc đã xong
xuôi. Ở đây, họ đã dịch tờ thông cáo của chúng tôi rồi, và hỏi
chúng tôi có định rút lại đơn từ chức không. Chúng tôi trả lời
không, chỉ trừ khi nào chánh phủ giải quyết êm đẹp với Phật
giáo, sinh viên, cha Luận.
Ngay sau đó, vào lúc 10 giờ 10 phút, ông
Thế nhờ anh đưa lên thăm chùa Từ Đàm. Gặp lúc dân chúng lên
chiêm ngưỡng Xá Lợi của đại đức Tiêu Diêu, người đông như thác.
Ông Thế mất tinh thần. Trở về, lại được nghe bản thông cáo của
chúng tôi. Ông thấy mình bị cô lập nên lẽn về Sài Gòn tức khắc
(lúc 10g.30)
Ngay hôm đó, lúc 11 giờ, chúng tôi đến thăm
cha Luận. Cha cho biết sắp đi Đà Nẵng để rồi đi Sài Gòn. Chúng
tôi khuyên cha hãy ở lại Đà Nẵng để chúng tôi tiện bề liên lạc,
có gì thì bàn tính với nhau trước khi định thái độ.
Chiều ngày 17, sinh viên biểu tình.
Chúng tôi có đưa ý cho anh em tách cuộc tranh đấu nầy ra ngoài
cuộc tranh đấu Phật giáo. Anh chị em biểu tình là để phản đối
Chính phủ cách chức cha Luận, do đó đa số giáo sư phải từ chức.
Mục đích là để yêu cầu cha Luận và các giáo sư ở lại. Tuyệt
nhiên không nói gì đến vấn đề Phật giáo cả.
- Như thế là các anh đặt Chính phủ
đứng trước hai vấn đề rắc rối cả hai !
- Có phải thế không anh. Gom lại một
thì ít thì yếu. Tách ra làm hai: sinh viên Phật tử tranh đấu để
bảo vệ Phật pháp, tất cả sinh viên tranh đấu để giữ lại viện
trưởng và giáo sư - thì làm khó dễ Chánh quyền thêm !
Hai giờ chiều, ông Trình cho mời
chúng tôi tới, yêu cầu rút đơn từ chức.
- Ông bộ trưởng yêu cầu các anh chung
một lần hay riêng từng người ?
- Riêng từng người. Nhưng không phải
ông gặp chúng tôi hết, một số được ông tiếp, còn anh Trường và
tôi thì lại “bị” ông đại biểu chánh phủ ngỏ ý muốn gặp.
- Tiếp hai anh một lượt ?
- Không, anh ạ. Ông ta chỉ mới ngỏ ý
muốn gặp riêng từng người. Chúng tôi phản đối. Ông bộ trưởng là
cấp trên trực tiếp, ông muốn tiếp từng người cái đó tùy ông; còn
ông đại biểu chánh phủ là người thay mặt chánh quyền tiếp người
này trước rồi đến người kia, ai biết ông sẽ dở trò gì đối với
một người chống đối mà ông định mua chuộc hay dọa dẫm, không ai
làm chứng. Nên chúng tôi đưa điều kiện mời hai người một lần
chúng tôi mới chịu.
- Nhưng ông ta không chịu ?
Anh mĩm cười, và mắt anh mơ màng sau
kính trắng như để nhớ lại cảnh và người hôm ấy.
- Trong lúc ấy, hơn ngàn sinh viên
kéo đến nhà cha Luận thì cha Luận đã đi Đà Nẵng trước đó năm
phút. Lúc bấy giờ là hai giờ rưỡi. Đoàn sinh viên đi xuống tòa
đại biểu để trình kiến nghị cho ông bộ trưởng, cuộc biểu tình
nầy được ông tỉnh trưởng Nguyễn Văn Hà cho phép. Ông Trình coi
mòi không êm, gọi máy bay ở Đà Nẵng ra Huế rước ông về Sàigòn
gấp. Máy bay ra nhưng sinh viên đã vây chặt tòa đại biểu, ông
đành chịu kẹt.
Ông đại biểu Chánh phủ cho mời một
phái đoàn sinh viên vô, nhưng sinh viên không chịu, họ yêu cầu
hoặc cho họ vô hết hoặc ông bộ trưởng ra. Ông bộ trưởng đành
nhượng bộ. Họ lễ phép trình bày nguyện vọng và trình bản kiến
nghị đệ lên Tổng thống.
Trong bản kiến nghị “toàn thể sinh viên
thuộc các phân khoa viện Đại học Huế, họp tại trường Đại học
Khoa học lúc 14 giờ ngày 17-8-1963” yêu cầu Tổng thống thâu hồi
lệnh bãi chức viện trưởng của linh mục Cao Văn Luận và tìm mọi
phương sách để các khoa trưởng và giáo sư đã từ chức đảm nhận
lại chức vụ của mình - cũng trong bản kiến nghị nầy, các sinh
viên “quyết định bãi khóa cho tới khi nguyện vọng trên đây được
thỏa mãn”.
Đưa kiến nghị xong, họ về cầu Tràng Tiền
định diễn hành sang phố nhưng bị Cảnh sát Chiến đấu bao vây nên
phải tập trung lại trong tòa Khâm sứ cũ và giải tán tại đó.
Bốn giờ, chúng tôi họp để vận động
anh em từ chức, nhưng có bảy anh chẳng khứng.
- Anh cho biết nhân viên giảng huấn
của viện được bao nhiêu người ?
- Được từ 52 đến 55 người mà có 45
người ký vào đơn xin từ chức.
- Như thế số người đứng ngoài cuộc
tranh đấu không là bao.
- Nhưng chúng tôi muốn không có một
bạn nào đứng riêng nên cố vận động với anh em Đại học Văn khoa:
chưa có một chử ký nào của anh em này cả. Các anh ấy hẹn ngày
mai, để tối suy nghĩ lại và ra về. Những bạn đã xin từ chức ở
lại bàn với nhau nên đặt kế hoạch hẳn hoi. Đã ra mặt chống đối
Chánh quyền - dù là tiêu cực đi nữa - thì cần phải có quĩ tranh
đấu. Mỗi anh em góp một số tiền để thành lập quĩ. Chớ còn dùng
phương tiện của Chánh phủ (như đánh máy, quay rô-nê-ô) thì danh
bất chánh mất. Rồi chúng tôi chia tay, hẹn họp lại sáng mai, chủ
nhật 18-8.
Trước khi họp, bác sĩ Quyến cho hay
ông Cẩn khi được biết cha Luận bị cách chức, có thốt một câu:
“tụi nó đạp trên đầu tôi mà đi” !
Trong phiên họp sáng 18-8 này tại Đại
học Sư phạm, chúng tôi quyết định đánh điện cho ông bộ trưởng
cho hay vẫn giữ lập trường. Chúng tôi cũng đánh điện cho hai
viện Đại học Sàigòn và Đà Lạt, báo tin việc chúng tôi từ chức
chớ chưa kêu gọi các bạn đồng nghiệp hai nơi này ủng hộ. Rồi
chúng tôi thảo một bức thư ngỏ cho toàn thể giáo chức Tiểu,
Trung và Đại học toàn quốc. Đến chiều thì bức thư ấy được anh em
giáo chức duyệt y và đồng ý gởi đi. Trong thư có những đoạn
nguyên văn như sau:
… Tình trạng sinh viên của viện
Đại học Huế càng ngày càng trầm trọng vì tinh thần của họ luôn
luôn bị căng thẳng bởi tất cả lực lượng quân sự hay võ trang,
bấy lâu nay chỉ biết thẳng tay đàn áp chứ không quan tâm đến sự
thực thi bản Thông cáo chung giữa Phật giáo và Chánh phủ. Hầu
hết sinh viên đều là Phật tử, và họ đã gánh chịu một cách thê
thảm hậu quả tàn khốc của những vụ đàn áp đến nỗi ngày 15-8-63
vừa qua, một phái đoàn Nam Nữ Sinh viên đã đến yết kiến linh mục
Viện trưởng, kêu gọi lòng nhân đạo của Người để ra tay cứu vớt
cho họ. Một giàn củi đã được dựng lên tại chùa Diệu Đế và họ đau
đớn tuyên bố sẽ hỏa thiêu và bãi khóa. Linh mục Viện trưởng đã
xúc động rơi lệ trước buổi tiếp kiến đó, nhưng người chưa kịp
làm gì thì đã bị cách chức và sinh viên phẩn uất biểu tình chiều
17-8 trước tòa Đại biểu Chánh phủ, trao cho ông Bộ trưởng Quốc
gia Giáo dục một bản kiến nghị để đệ trình Tổng thống. Họ cũng
long trọng xác định lại vấn đề bãi khóa và hỏa thiêu làm cho
chúng tôi vô cùng đau đớn vì nhận thấy rằng vấn đề càng ngày
càng thêm trầm trọng, không những chỉ ở phạm vi tín ngưỡng mà
còn lan tràn sang cả địa hạt giáo huấn, gây cho những giáo chức
có trách nhiệm những khó khăn mà tự cá nhân mình cũng như cả Đại
học họp ại cũng không h ể nào giải quyết được.
… Vì thế chúng tôi thiết tha kêu
gọi sự sáng suốt giúp đỡ của quí vị Khoa trưởng các phân khoa
Đại học, các vị Giám đốc các trường Cao đẳng, các vị Hiệu trưởng
các trường Trung, Tiểu học toàn quốc, sự đoàn kết huynh đệ chân
thành về mọi phương diện của tất cả các bạn đồng nghiệp giáo
chức, để cùng nhau tìm ra một giải pháp ổn định cho tình thế mà
giáo dục cũng như xã hội đã bị lâm nguy suốt ba tháng rưỡi.
Chúng tôi được tin mai ông Thế ra, bèn làm
cho xong một việc chưa kết liễu, đó là một vận động lấy chử kí
của anh em Văn khoa. mãi đến 9 giờ tối mà các bạn ấy vẫn không
chịu kí. Chúng tôi hết sức buồn, buồn vì nói hết nước bọt thì ít
mà buồn vì thấy anh em không chịu “dấn thân”: có tới hai cớ để
mà chẳng thể đúng bang quan: nếu không xúc động vì Phật giáo bị
đàn áp dã man thì cũng xúc động vì linh mục viện trưởng bị cách
chức vô lối. Sau cùng, các bạn ấy bảo “Để rồi chúng tôi làm
riêng”. Thôi thế cũng được. Miễn là anh em rồi cũng có làm một
cái gì hơn là mãi thờ ơ …
- Nhưng sau rốt “một cái gì” ấy có
không ?
Anh thở dài và gương mặt tươi trẻ của
anh bỗng tối lại:
- Rốt lại chẳng có gì cả. Đáng buồn
hơn nữa là các bạn ấy cho là bản văn chúng tôi đã kí và mời các
anh cùng kí vốn kém ôn hòa, để các anh sẽ thảo một bản khác ôn
hòa hơn. Nhưng bản văn từ chức soạn vào chiều 17-8-1963 là chính
do đề nghị của các anh em ấy.
Xin nhắc lại rằng bản văn từ chức nầy
khác với Bản Thông cáo của chúng tôi do đài VOA loan đi. Bản văn
nầy chỉ nói đến tình hình của Viện Đại học mà thôi, còn bản
Thông cáo gửi đài VOA nêu rõ 3 lý do từ chức của các Khoa
trưởng, Giám đốc học vụ và nhân viên giáo huấn Y khoa, Luật
khoa, Khoa học, Sư phạm trong viện Đại học Huế: - Xúc động trước
hai vụ hỏa thiêu và cướp xác tại Huế, trước sự đàn áp bắt bớ
Phật tử và sinh viên Phật giáo, - Xúc động trước sự thờ ơ của
chánh phủ kéo dài đến 3 tháng rưỡi mà không đem lại giải pháp
nào để ổn định tình thế, - Xúc động trước sự thay thế linh mục
viện trưởng.
Sáng ngày 19, ông tỉnh trưởng Thừa Thiên
cho hay rằng công an đã được lệnh bố trí để kịp thời ngăn chận
những cuộc biểu tình của sinh viên. Vì hôm nay là ngày kỷ niệm
cách mạng tháng 8 nên công an có thể nhân dịp sinh viên biểu
tình mà buộc tội những người đi biểu tình là Việt Cộng – tin nầy
ông Tỉnh trưởng mật báo cho tôi để kịp đề phòng, ngăn giữ đừng
cho sinh viên mắc mưu họ mà biểu tình hôm đó.
Chúng tôi bèn về sân viện Đại học chờ ông
Thế. Chính trong lúc chờ đợi nầy chúng tôi nhận được tờ Tuyên
cáo của viện Hán học, lời lẽ còn hăng hơn chúng tôi nhiều.
Nói tới đây, anh đưa cho tôi coi bản “tuyên
cáo” in ronéo của “Giảng viên Viện Hán học Huế” đề ngày 17/8/63,
nội dung tán đồng quan điểm của các khoa trưởng và giáo sư các
phân khoa Đại học Huế, phản đối những lời tuyên bố của những
nhân vật không có trách nhiệm đã gây hoang mang trong dân chúng,
phản đối những hành động che dấu sự thật, xúc động trước sự
tranh đấu bất bạo động của Phật giáo đồ, bất bình vì sự bãi chức
linh mục viện trưởng Cao Văn Luận cũng là Giám đốc viện Hán học
Huế.
Do đó, toàn thể giảng viên Viện Hán học
tuyên bố nghĩ việc giảng dạy. Người ta đọc được những tên ký
dưới Tuyên cáo như sau: Võ Như Nguyện, Nguyễn Duy Bột, Hà Ngãi,
Mguyễn Hưng Giáo, Hồ Đắc Định, Cao Hữu Hoành, Phan Chí Chương,
Nguyễn Hữu Châu-Phan, Cao Xuân Duẫn, Phan Văn Dật, Châu Văn
Liệu, Nguyễn Văn Dương, Nguyễn Doãn Thám, Trương Xuân Trực, bà
Nguyễn Thị Trang (tức bà Nguyễn Hữu Trí), La Hoài, Vĩnh Quyền,
Nguyễn văn Kháng.
- Hẳn là ở viện Hán học mọi người đều
kí vào tuyên ngôn “nẫy lửa” nầy ?
- Tiếc thay, có hai người không kí.
Chúng tôi bèn gửi bản Thông cáo của chúng tôi, bản tuyên ngôn
nầy, cùng bức Thư ngỏ với giáo chức toàn quốc đã quay ronéo vào
Sàigòn, nhờ một bà Mĩ mang đi. Trưa hôm ấy thì chùa Xá Lợi phát
thanh hai tài liệu đó.
Chúng tôi cấp tốc thành lập một ủy
ban gồm 5 người lấy tên là Ủy ban Liên lạc Giáo chức với 5 tiểu
ban sau đây ra đời: ấn loát, liên lạc, chính trị, ngoại giao và
phụ trách sinh viên.
Xong, chúng tôi nhờ người giữ công
văn ghi đơn từ chức của chúng tôi vào sổ, kèm theo thông cáo của
chúng tôi và tuyên ngôn của viện Hán học.
Lúc 11 giờ, bác sĩ Quyến đọc cho sinh
viên và chúng tôi nghe bức điện tín của đại sứ Trần văn Chương
(thân phụ bà Nhu) gởi linh mục Cao Văn Luận. Đây là một bức điện
tín công khai ủng hộ lập trường của viện Đại học và phỉ báng
chính quyền Ngô Đình Diệm.
TÉLÉGRAMME
Washington, le 18-8-1963
Révérend Père CAO VAN LUẬN,
University Hue
Veuillez recevoir l’expression de
ma sincère sympathie (stop). Vous aurez rendu un grand service
au pays et au gouvernement en contribuant à montrer que la
dignité humaine est le plus respectable des biens et que les
forces morales triomphent toujours au Vietnam comme au treizème
siècle et comme en 1954 et 1955 - Trần Văn Chương.
(Dịch: Hoa Thạnh Đốn, ngày
18-8-1963
Linh mục Cao văn Luận, Đại học Huế
Xin nhận cảm tình chân thành của
tôi (stop). Ngài đã giúp ích nhiều cho xứ sở và cho chính phủ
bằng cách giúp cho thấy rằng giá trị con người là tài sản đáng
kính trọng nhất và những lực lượng tinh thần luôn luôn đắc thắng
ở nước Việt, cũng như ở thế kỉ thứ mười ba và cũng như ở những
năm 1954 và 1955 - Trần Văn Chương).
11 giờ 15 phút, ông Thế tới. Tất cả
sinh viên đều đứng im lặng trong sân tòa viện trưởng. Ông Thế
tưởng đâu sinh viên đến chào mừng viện trưởng mới, nên rất vui
vẻ, song chưa biết nên có thái độ như thế nào. Sau đó ông vào
văn phòng và ngỏ lời với toàn thể giáo chức, nhưng khi ông chấm
dứt thì cả một sự im lặng đáp lại với ông. Trong sự im lặng nặng
nề, anh niên trưởng Quyến bước ra đưa đơn từ chức của chúng tôi
và liền sau đó chúng tôi rút lui. Một đoàn đại diện sinh viên
liền vào văn phòng viện trưởng và đưa bức Tâm thư. Trong thư
nầy, sinh viên rất mực tán dương ông … đại sứ (họ không gọi là
viện trưởng !). Yêu cầu ông dùng tất cả uy tín đề đạt lên chánh
phủ sự thiết tha của toàn thể sinh viên Huế được thấy cha Luận
về làm viện trưởng trở lại. Trong khi ông Thế xem thư thì tất cả
sinh viên đều ngồi ngoài nắng và tuyệt đối giữ im lặng.
Trong bức tâm thư của sinh viên Đại
học Huế gửi giáo sư Trần Hữu Thế có những đoạn sau đây:
… Sự thay thế chức vụ viện trưởng
của linh mục Cao Văn Luận đã gây xúc động lớn trong toàn thể
sinh viên chúng tôi. Chúng tôi buộc phải tranh đấu để mong Chính
phủ hiểu thấu nguyện vọng sâu thẳm của chúng tôi để linh mục Cao
Văn Luận có thể phục hồi lại chức vụ viện trưởng.
Đây là một cuộc tranh đấu chính
đáng, đầy nghĩa khí mà một người trí thức như Giáo sư hẳn không
bao giờ phủ nhận.
Vậy để cuộc tranh đấu của chúng
tôi khỏi gặp thêm trở ngại khó xử, chúng tôi tha thiết kính mong
giáo sư từ chối chức vụ Viện trưởng của viện Đại học Huế.
- Nhưng rồi ông Thế phải phá tan sự
im lặng ấy chứ ?
- Chớ còn ai làm việc ấy. Ông chỉ nói
một câu: “Tôi xin nhận thư nầy và tôi sẽ chuyển lên cấp trên”.
Rồi ngại sinh viên có thể xúc phạm đến người ông, ông định chuồn
ngõ sau. Nhưng anh Hồ, tổng thư ký, cản không cho, khuyên ông
nên đi ngõ trước để giữ thể diện viện trưởng. Ông đành phải làm
theo, sinh viên bèn rẽ ra, để đường cho ông đi. Chừng ấy, họ mới
vỗ tay.
“Chúng tôi giải tán ra về, anh em
sinh viên cũng thế. Chúng tôi về cùng một xe để bàn tiếp công
việc phải làm. Ai cũng đồng ý mỗi ngày phải làm một cái gì mới
để dồn chánh quyền vào cái thế bị động, luôn luôn phải đối phó
không thì thua họ mất. Biểu tình là hành động cuối cùng và quyết
liệt một mất một còn, phải để dành cho đúng lúc. Còn bây giờ thì
quyết định một cuộc họp báo tại viện vào chiều thứ ba 20-8. Và
mời ngay cha Luận về Huế để cha có thể tránh được những áp bức
của chánh quyền.
Nếu mời không được thì yêu cầu cha
đừng kí vào cứ giấy tờ chi, vì e vô tình cha cản trở cuộc tranh
đấu của chúng tôi khi bị áp lực của các “bề trên tôn giáo” chẳng
hạn.
Phải đẩy phong trào lan xuống giới
giáo sư Trung học để khỏi bị cô lập hóa. Và vận động liền với
hai trường Trung học Quốc học và Đồng Khánh, rồi đến các trường
Trung học khác để sao mỗi ngày mỗi trường tung ra một bản tuyên
ngôn.
Chúng tôi phải phân công việc cho mỗi
tiểu ban họp riêng, làm việc riêng, và đến 17 giờ chiều ấy cùng
đến trường Y khoa để họp.
- Các anh làm ráo riết thế chẳng lẽ
ông Thế lại ngồi im đợi ?
- Ông cũng làm phần ông chớ. Ông cho
mời riêng chúng tôi và yêu cầu rút chử kí. Nhưng không một ai
chịu cả.
Đến 5 giờ chiều, chúng tôi được tin
Sài Gòn có cuộc tuyệt thực vĩ đại ở chùa Xá Lợi, sinh viên và
học sinh có tham dự đông đảo. Chùa lại có phát thanh những bài
công kích ông bà Nhu. Chúng tôi định cử người vào Sài Gòn để bàn
cách tranh đấu sao cho thống nhất giữa Sài Gòn và Huế. Vì thế
nào, với cái đà nầy, tăng ni, sinh viên, học sinh, giáo sư cũng
phải cùng xuống đường. Và chừng ấy, là một còn một mất.
- Thái độ của người Mĩ ở Huế ra sao
anh ?
Anh đưa hai bàn tay ra nhưng chỉ nói:
- Đương nhiên những người có trách
nhiệm tại Huế tán thành và giúp đỡ để phổ biến mau chóng việc
làm của chúng tôi. Nhưng trên cương vị chính trị và ngoại giao,
họ vẫn chính thức thừa nhận Chánh phủ Ngô Đình Diệm là chánh phủ
có thẩm quyền hiện hữu.
- Còn Phật giáo ?
- Phật giáo thì rất đỗi hoan nghinh.
Chúng tôi tạo thêm cho họ yếu tố để đẩy mạnh cuộc tranh đấu bảo
vệ Phật pháp.
Chiều thứ hai 19, sau buổi họp chung
tại Đại học Y khoa của Ủy ban liên lạc, chúng tôi ra một bản
thông cáo tóm tắt những việc đã làm, và xác nhận chúng tôi không
bao giờ rút lại chử kí. Bản thông cáo nầy, người trong nước
không hay, nhưng tin lãnh sự Mĩ được biết.
Sáng thứ ba, chúng tôi họp khoáng đại
hội nghị tại viện, hay tin cha Luận đã trả lời một bức thư ông
Thục. Ông đại diện Chánh phủ chụp lại phần “Tái bút” gởi qua
viện.
- Anh còn nhớ đoạn “Tái bút” ấy nói
gì mà ông đại biểu Chánh phủ miền Trung lọi dụng nó …
- Nguyên văn thì tôi không nhớ, nhưng
đại ý cha Luận nói với ông Thục dầu Tổng thống có yêu cầu, cha
vẫn không trở về làm viện trưởng lại.
Chúng tôi lật ngược thế cờ. Vì nhận
xét thấy cha Luận viết có mấy dòng mà sai chánh tả, sai văn phạm
nhiều quá trái hẳn với mọi khi. Chúng tôi kết luận rằng cha viết
thư nầy dưới một áp lực nào đó, khiến cha mất hẳn bình tĩnh. Vậy
thì đoạn “Tái bút” nầy vô giá trị.
- Còn anh em sinh viên ?
- Hai anh chánh phó đoàn trưởng, Thơ
và Giàu, luôn luôn liên lạc với chúng tôi. Anh em họp tại Morin,
lập quĩ tranh đấu được vài ngàn. Rồi in truyền đơn, phát; viết
biểu ngữ, căng; tối lại thì viết khẩu hiệu ở vách tường, công an
đem vôi lại quét thì anh em lại viết.
Phần chúng tôi trù liệu một cuộc họp
báo nên đự định cho người vô Đà Nẵng mời cha Luận về - đi bằng
xe lữa để ít ai để ý. Có người tin cho chúng tôi biết vài sinh
viên bị bắt. Anh em sinh viên và chúng tôi quyết định nếu Chánh
quyền khủng bố mạnh thì giáo sư và sinh viên phải biểu tình.
Anh em sinh viên còn quyết liệt hơn:
hễ một giáo sư ban nào bị bắt thì có ngay một sinh viên ban ấy
tự thiêu để phản đối. Và đã có bẩy sinh viên ở bảy phân khoa
tình nguyện hy sinh.
- Thật là một tiết lộ bất ngờ ! Chúng
tôi ở Sàigòn rất ít ai biết điều nầy.
- Chúng tôi lại được biết trong
khoảng từ 21 đến 23 Sàigòn sẽ có cuộc biểu tình lớn. Huế sẵn
sàng ũng hộ. Chúng tôi còn nghe tin Chánh quyền dự định bắt anh
Lê Khắc Quyến và tôi, vì họ cho rằng mất hai chúng tôi thì phong
trào tranh đấu của giới giáo sư và sinh viên sẽ tan ngay.
- Biết thế, các anh có định lánh mặt
chăng ?
- Việc bị bắt chúng tôi có nghĩ đến,
còn việc lánh mặt thì không. Trốn tránh lẩn núp là cho việc làm
của mình sai bậy; hơn thế nữa, đối với học trò và bạn bè của
mình là một sự phản bội.
Thấy tôi không hỏi gì thêm mà có
chiều tư lự, anh ngước nhìn tôi bằng đôi mắt.
- Anh làm tôi nhớ lại một bạn khác,
bạn thân với Nhất Linh. Anh bạn nầy có nói với tôi nhân cùng bàn
về cái chết của Nhất Linh: “Anh Nhất Linh quan niệm rằng người
lãnh đạo có bổn phận đi trước quần chúng, và khi cần phải chết
trước quần chúng chớ không phải quan niệm như Cọng sản. Người
Cọng sản quan niệm rằng nếu cần thì hi sinh quần chúng để bảo vệ
cấp lãnh đạo, và cấp lãnh đạo có bổn phận đi sau quần chúng, và
có gì nguy thì lẩn tránh ngay để chờ cơ hội thuận tiện; quần
chúng lúc nào cũng có sẵn có hao hụt cũng chẳng sao, còn một
người lãnh đạo phải mất nhiều công phu và thời giờ để đào tạo,
và lắm khi mất một người lãnh đạo là thiệt hại cho cả một phong
trào …
- Chúng tôi có thái độ như thế quyết
không lẫn tránh, vì nghĩ đó là thái độ phải chăng của người trí
thức. Và (anh mĩm cười) xin anh chớ xem chúng tôi là những “nhà
cách mạng” hay những “lãnh tụ một phong trào quần chúng” mà phê
phán.
Mình đi xa câu chuyện rồi ! Chúng tôi
họp đến một giờ mới chia tay. Qua một giờ rưỡi chúng tôi liên
lạc được với nữ Trung học Đồng Khánh, được tin là đến 5 giờ Đồng
Khánh sẽ có bản tuyên ngôn. Thế là ngày 20, chúng tôi có một cái
gì “mới” rồi. Ngày 21 sẽ đến phiên nam Trung học Quốc học. Chúng
tôi hăng hái hơn, chia nhau vận động các giáo sư các trường tư,
các cựu sinh viên Đại học Sư phạm để họ hưởng ứng phong trào mà
lần lượt tung ra những bản tuyên ngôn. Thắng lợi chót của chúng
tôi về mặt nầy là lúc 14g.30, anh em giáo sư Cao đẳng Mĩ thuật
đồng ý với chúng tôi về nguyên tắc tranh đấu, trong đó có anh
giám đốc Mai La Phương. Chúng tôi sắp đặt chương trình hành động
cho những ngày 21, 22 và 23.
Hai giờ chiều, chúng tôi về nhà hàng
Morin thì biết được ông Thế bắt đầu mở cuộc phản công. Ông vừa
ra Thông cáo số 1 cho hay từ đây các giáo sư muốn họp phải có
phép.
Ba giờ, thông cáo ấy đến tay chúng
tôi. Đại ý là các khoa trưởng và giáo sư hay tổng hội sinh viên
muốn sử dụng các phòng họp và giảng đường phải xin phép trước
tòa viện trưởng. Những cuộc họp báo hay thảo luận về tôn giáo,
chính trị phải xin phép thêm ông thị trưởng thành phố Huế.
Nhưng trong phạm vi viện Đại học,
chúng tôi còn có quyền họp tại phòng giáo sư. Độ ba chục anh em
chúng tôi đã họp tại đây và đối phó lại thông cáo số 1 của ông
tân viện trưởng bằng Thông cáo 2, cho rằng ông nầy đã hành động
trái với truyền thống Đại học, vốn tự trị, tự do.
THÔNG CÁO SỐ 2
Các Khoa trưởng và Giám đốc ký tên
sau đây cực lực phản đối việc ông Trần Hữu Thế vừa ra Thông cáo
số 1 ngày 20 tháng 8 năm 1963 cho biết rằng: “Những cuộc hội họp
trong các phân khoa Đại học phải được Tòa Viện trưởng cho phép”
Điều khoản trên của thông cáo nầy
không dựa trên một văn bản pháp lý nào và trái với tinh thần Tự
do và Tự trị của các phân khoa Đại học từ trước đến nay.
Huế, ngày 20 tháng 8 năm 1963
Các Khoa trưởng Đại học Y khoa,
Luật khoa, Khoa học: Lê Khắc Quyến, Bùi Tường Huân, Tôn Thất
Hanh.
Các Giám đốc Học vụ Đại học Sư
phạm: Nguyễn Văn Trường, Lê Tuyên
- Và thông cáo 2 nầy, các anh cũng
đưa cho tòa lãnh sự Mĩ như thông cáo 1 ?
Anh gật đầu.
- Chúng tôi định cho chụp hình lại để
gởi các cơ quan ngoại quốc khác, và hủy bản chánh. Nhưng hiệu
làm “photocopie” lại thối thác bảo để mai mới làm.
- Các anh có ngờ rằng hiệu nầy đã
được lịnh trên “dạy” làm thế chăng ?.
Lúc đó thì không ngờ nhưng sau nầy,
nhớ lại thì nghi có bàn tay chánh quyền trong đó. Bởi “ngày
mai”, hôm sau, có nghĩa là chẳng bao giờ. Phần ông Thế, ông vội
vã cho ra thông cáo số 2 để “trấn an” sinh viên và dư luận. Nội
dung thông cáo số 2 cho hay “những chứng chỉ Đại học khóa hai sẽ
tiếp tục thi và ngày tựu trường sẽ định sau khi thi xong. Đặc
biệt là các thông cáo số và số 2 của ông viện trưởng Thế đều có
sao gữi “Thiếu tướng Tư lệnh quân khu I” cả.
- Anh em sinh viên hẵn ngày ấy cũng
hoạt động mạnh để “trả lời” lại ông tân viện trưởng ?
- Mạnh hơn bao giờ hết. Và cả hai phe
!
- Hai phe ?
- Có gì mà anh lấy làm lạ. Một phe
chống áp bức, bạo tàn, thì viết lại thông cáo của chúng tôi đem
đi dán khắp phố phường. Nhóm bị mua chuộc thì hoặc viết lên
thông cáo kia hai chử “Đả đảo” to tướng, hoặc đi rãi truyền đơn
chống lại thầy, chống lại bạn.
- Những phần tử này chỉ chống lại các
anh hay có còn làm gì khác ?
- Làm gì thì chưa thấy nhưng nói thì
rõ ràng lắm. Họ doạ … bằng chử rằng chúng tôi là bọn phản dân,
phản nước, không sớm quay về với chánh nghĩa quốc gia thì họ sẽ
đâm lủng ruốt, họ sẽ chặt đầu. Họ đã hăm dọa ngay trên đài phát
thanh bằng cách chỉ tên những giáo sư đã hướng dẫn sinh viên
biểu tình và cho là phản động.
Không khí căng thẳng hơn lúc nào hết
nên chúng tôi sắp đặt cho người vào Đà Nẵng mời cha Luận về Huế
ngay.
- Còn như trường hợp linh mục không
thể về hay không muốn về ?
- Thì cha ðùng kí vào bất cứ giấy tờ
gì.
- Bởi vì …
- Bởi vì cha thì rất thực thà. Mà họ
thì rất điêu ngoa.
Nhưng rồi ba giờ đêm ấy chùa chiền bị
tấn công. Nhà tôi ở trên đường đi đến chùa nên tôi nghe rõ cả
tiếng mõ, tiếng chuông, tiếng kêu cầu cứu. Đồng bào ở quanh chùa
bèn đánh mõ đánh thùng thiếc để báo nguy. Đợt xung phong đầu,
cảnh sát chiến đấu bị thanh niên sinh viên học sinh và các đạo
hữu trong chùa dùng gậy, củi đẩy lui. Lúc ấy họ chưa được lịnh
bắn. Nhưng rồi tiếng súng đầu tiên nổ. Em anh Trí đi xe vêlô lại
báo tin nhà anh Trí đã bị bắt cóc, rồi hối hả đạp xe đến các nhà
anh khác.
- Anh có ý nghĩ thoát thân chăng ?
- Ngay lúc đó thì có. Tôi nghĩ đén
tòa Lãnh sự Mĩ, ở cách nhà tôi độ 200 thước. Nhưng rồi xét lại,
tôi trốn không có lợi. Chỉ thoát được thân mình. Đã làm thì chịu
trách nhiệm. Mười lăm phút sau khi em anh Trí báo tin, thì nhà
tôi bị bao vây. Chúng kêu mở cửa. Lúc ấy là 4 giờ sáng. Tôi
không cho mở, cố ý để họ mất thì giờ và buộc họ dùng bạo lực. Họ
phá cửa trước không được họ phá cửa sau. Trong lúc đó tôi lo hủy
gấp một số tài liệu bằng cách xé ra và nuốt vào bụng, và thu dấu
một số tài liệu khác. Lúc họ vô nhà, tôi đứng ở trên lầu lắng
tai nghe. Họ vào phòng mấy đứa con tôi và bật đèn hỏi tôi. E họ
đánh đập chúng, tôi lên tiếng hỏi họ muốn gì.
Tôi cười:
- Thì họ muốn gì anh dư biết rồi kia
mà …
- Ấy đó, mà họ hỏi lại tôi” Đây có
phải nhà ông Lê Trọng Vinh không ?”
- Thế là họ lộn nhà. Nhưng tốp tìm
anh họ lại đi đâu ?
- Sau, hỏi ra, thì tốp đó về làng tìm
tôi ở Kẻ Vạn. Họ tưởng tôi không dại gì ở ngay giữa Huế.
- Rồi họ bỏ đi ?
- Không. Họ đòi tôi đưa thẻ căn cước.
Họ xuống lầu nói với xếp họ đây không phải nhà Lê Trọng Vinh mà
là nhà Lê Tuyên. Người nầy “À” lên, “Lê Tuyên cũng có tên trong
sổ !”.
Ông ta mời tôi xuống. Tôi lúc đó mặc
đồ bi da ma, xin trở lên lầu thay đồ thì ông ta lắc đầu, bảo cấp
trên mời tôi đến hỏi chuyện riêng một chút rồi về. Họ đưa tôi
đến nha cảnh sát. Tôi là người thứ sáu được Chánh quyền “mời đến
hỏi chuyện riêng”
- Anh có thể cho biết năm người đến
trước ?
- Ba bạn đồng nghiệp: Trí, Trường,
Nam; một giáo sư trường Quốc học và ông hiệu trưởng trường tư
thục Bồ Đề.
- Chưa có anh Quyến ?
- Mà đến 8 giờ, anh Quyến mới bị bắt.
- Về vụ anh bác sĩ Quyến bị bắt, tôi
có biết một anh bạn cũng bác sĩ rất khổ tâm về vụ này. Tiện đây,
tôi xin kể lại cho anh nghe.
Người bạn của tôi còn trẻ, ở ngoại
quốc về không bao lâu. Anh được bổ làm giám đốc một bịnh viện nọ
ở lục tỉnh. Khi hay tin người bạn đồng nghiệp ở Huế bị Chánh
quyền bắt ngang rồi tống giam chẳng đưa ra tòa án xét xử, anh
rất đỗi bất bình, và vì còn trẻ, vì về nước chẳng lâu, anh trông
ngóng các bậc đàn anh, giám đốc các bệnh viện trong toàn quốc
lên tiếng phản đối vụ bắt giam trái phép này để tỏ tình liên
đới, và anh tưởng thế nào rồi các bậc ấy sẽ có đơn từ chức, thì
hạng đàn em như anh sẽ sẵn sàng để trả chức. Nhưng uổng công anh
ngóng trông và dò hỏi. “Sống chết mặc … mày !”. Anh không thể
làm gì hơn là bực dọc với mình và khinh các “bậc đàn anh” ấy.
Anh ấm ức nói với tôi sau đó một tháng: “Anh tưởng tượng nếu
giám đốc tất cả bệnh viện trong nước đều từ chức một lượt để
phản đối chuyện anh Quyến thì cuộc đời chắc chẳng êm rơ như thế
nầy, và “họ” cũng bớt khinh bọn trí thức chuyên việc “cứu nhơn
độ thế”.
- Anh Quyến biết được việc nầy chắc
anh được an ủi nhiều lắm. Chính tôi sau nầy rất buồn cho cái
giới trí thức nước nhà, trong đó có mình ! Cọng sản họ khinh, họ
Ngô xem rẻ, rồi đến lớp trẻ xem thường là đáng lắm. Không dám
lãnh trách nhiệm, chẳng dám có sáng kiến, cứ đùn trách nhiệm cho
cấp trên, cứ tưởng mình khôn ngoan thận trọng nhưng thật ra nhút
nhát và hèn nhát hơn ai !
- Chắc ngoài anh em trong giáo giới,
còn các tăng ni, sinh viên, học sinh ?
- … và Hướng đạo nữa. Chiều, thêm một
số ít đồng bào.
- Số người bị bắt ngày 21 ấy chắc là
đông lắm.
- Tôi phỏng độ ngàn người. Họ nhốt
vào hội trường của nha cảnh sát, vốn chứa ngày thường được ba
trăm người là nhiều.
- Nhốt chung như thế, các anh lúc ấy
có hiểu lí do cuộc bắt bớ nầy chăng ?
- Chưa một ai hiểu. Chỉ phỏng đoán có
lẽ là một vụ Saint Barthélémy mới, mà nạn nhân không phải là
người theo đạo Phản Thệ (Tin Lành) mà là Phật giáo đồ. Chúng tôi
bàn với nhau: nhất định không rút đơn từ chức. Nhưng nếu Chánh
phủ giải quyết trong vòng danh dự đôi bên, trưng dụng chúng tôi
thì chúng tôi làm việc lại.
- Các anh bắt đầu … bi quan chưa ?
- Trái lại là khác. Trọn ngày 21,
chúng tôi lạc quan, mà ai bị bắt cũng lạc quan như chúng tôi.
Hẳn là Sàigòn đã xảy ra gì quyết liệt nên ở đây họ mới dùng biện
pháp thất nhân tâm nầy. Mà nếu chưa có gì xảy ra hôm nay thì
cũng có cái gì xảy ra ngày mai ngày mốt: phải bắn phá chùa
chiền, bắt bớ sư vãi trí thức sinh viên như thế ni, là báo hiệu
cơn giãy chết của chế độ. Riêng chúng tôi thì nghĩ: mình thất
một trận đánh nhưng rồi mình thắng cả trận giặc.
Trưa hôm sau - thứ năm 22-8 - người
ta mời anh Quyến đi. Năm phút sau, đến phiên tôi. Tôi theo người
dắt đi vô một hành lang tối om. Một người cảnh sát chiến đầu chờ
sẵn, dí sung lục vao bụng tôi và bảo tôi cởi quần áo ra. Tôi bảo
tôi không có mặc đồ lót. Anh ta cau mặt rồi giữ áo quần cùng
gương trắng, anh ta ra lịnh vô một cái phòng. Tôi vừa để chân
vào xà lim thì anh ta to tiếng chửi …
- Anh ta chửi có chút gì … văn chương
không ?
- Văn chương thì không, mà tục tằn
cũng không nốt. Chỉ có điều trắng trợn.
- Vậy xin anh lập lại … Cũng là một
tài liệu !
- “Tài liệu” nầy có hai đoạn. Đoạn
đầu, thông thường; Đoạn sau, thật là bất ngờ. Bất ngờ đối với
tôi. Tôi xin lập lại:
“Đồ Việt gian, đồ phản động, đồ
Cộng sản ! Tụi bây thắng thì tụi bây cắt cổ tụi tau, còn tụi tau
thắng thì tụi tau cắt cổ tụi bây !”
Rồi hắn đóng sầm cửa xà lim, khóa và
niêm lại. Khoảng một giờ sau, họ mang cho tôi một cái thùng sắt
Tây sét rỉ để tôi đi ngoài.
- Anh bị nhốt xà lim mấy ngày ?
- Năm tuần
- Cơm nước ra sao, anh ?
- Ngày hai dĩa cơm nửa chín nửa sống
với một ít xì dầu.
- Anh ăn được chớ ?
- Lần đầu, tôi đành chịu. Nhưng rồi
cố nhắm mắt. Còn nước thì họ cho mỗi ngày một chai, thứ chai xa
xị đó, để dùng trọn ngày trong một lúc cho đủ mọi thứ, uống, rửa
tay, rửa mặt, v.v… Xuít nữa tôi quên, họ có để cho tôi đôi dép
Nhật để đi. Tôi không đi mà dùng chúng để gối đầu. Nền xi măng
lâu đời bể vụn, nằm khó chịu vô cùng. Chẳng dám lăn vì lăn thì
rách da.
- Trong 5 tuần xà lim ấy, chắc anh
không giữ một kỉ niệm nào êm ấm cả ?
Mắt anh chớp chớp:
- Có, anh à. Đời thỉnh thoảng cũng
dành cho mình đôi cái bất ngờ sung sướng đến có lúc mình ngờ mắt
ngờ tai. Đêm thứ ba, phiên gác vừa đổi, tôi nghe có tiếng gõ
cửa. Tôi thức mà làm thinh. Có tiếng gọi khe khẽ: “Thầy ! Thầy
…”, rồi một một miếng giấy khá lớn được chuồi vào dưới khe cửa.
“Em là một Phật tử đây thầy; thầy lấy giấy nầy để lót lưng cho
đỡ đau đỡ lạnh. Đến 5 giờ sáng đổi phiên gác, em gõ cửa, thầy
chuồi miếng giấy ra cho em kẻo chúng nó bắt gặp thì chết thầy
chết em”. Và, sau đó, hễ tới phiên gác của người lính Phật tử mà
tôi không biết tên biết mặt là lưng tôi được “sướng” mấy giờ.
Chúng tôi bị bắt sáng thứ tư 21-8,
thì đến chủ nhật 25-4 họ tha gần hết, còn có 5 người trong ban
chỉ đạo; các anh Trường, Hanh, Huân, Quyến và tôi, cùng với anh
Võ Như Nguyện thuộc viện Hán học. Anh Nguyện lãnh đạo phong trào
ở viện nầy.
- Bốn anh kia cũng bị nhốt xà lim như
anh ?
- Chỉ có mình anh Quyến và tôi vì chỉ
có hai xà lim. Ba anh kia được nằm ghế bố có mùng.
- Còn các anh chỉ đạo anh chị em sinh
viên ?
- Ba anh Giàu, Thơ, Bính thì vẫn bị
giam cạnh đấy.
- Ngày đầu, đêm đầu nằm xà lim, chắc
anh khổ sở lắm ?
- Khổ sở và mất hết tinh thần. Vì
hoàn cảnh thay đổi quá đột ngột và quá khác. Nhưng rồi cái gì
cũng quen đi, và nói như ai đó, con người là con vật dễ thích
nghi với hoàn cảnh nhất. Đến ngày thứ sáu thấy bớt khó chịu
nhiều, qua ngày thứ bảy thì thấy như thường.
Tôi nhìn anh chăm chú và hỏi:
- Đố anh biết tại sao ngày thứ bảy
anh chẳng thấy khó chịu ?
Anh đẩy gọng kính, nhìn lại tôi. Tôi
nói vì Đức Chúa Blời tạo ra cái thế giới nầy trong sáu ngày
thôi. Qua ngày thứ bảy, Ngài bèn xoa tay mà đi nghỉ vậy ! Anh
cười.
Tôi hỏi:
- Anh có tìm được cách gì để giết thì
giờ không ?
- Được hai cách. Một là gỡ những
miếng xi măng vụn dính vào người, hai là hát nghêu ngao …
- Mấy ngày sau họ mới thẩm vấn anh ?
- Năm ngày sau. Buồn cười một nỗi là
những kẻ thẩm vấn tội trạng lại là cán bộ Việt Minh cũ.
Có gì lạ đâu anh. Sau khi phụng thờ
một chế độ hết sức duy vật thì họ lại phụng sự một chính thể cực
kỳ … duy linh ! Những cái cực đoan rồi sẽ đụng nhau ! Chắc họ
hỏi anh về đêm ?
- Đúng vậy. Từ 9 giờ tối đến 4 giờ
sáng. Họ thường dựng đứng tôi trong khoảng ấy. Như tôi đã nói
với anh, tôi không bị tra tấn, họ nói tôi rất ư lịch sự.
- Và những khi đó, họ cho anh …
- Phải, họ cho tôi mặc quần áo, đưa
gương cho tôi mang đàng hoàng.
Họ hỏi khéo léo lắm, định dồn chúng
tôi phải nhận ba điều nầy: có liên lạc với Phật giáo; có liên
lạc với tòa lãnh sự Mĩ; định từ chức trước lúc cha Luận bị cách
chức. Mục đích của họ là cố gài tôi gián tiếp nhận để đưa tôi ra
tòa án Quân sự. Nhưng tôi trước sau vẫn trả lời: Không.
- Họ hỏi anh từ …
- Từ 20-8 đến 20-10. À, có lúc họ hỏi
tôi luôn ba đêm liền. mệt là mệt. Có khi họ cho nghỉ vài đêm rồi
kêu hỏi lại. Sau, Sàigòn có gởi một phái đoàn ra hỏi nữa.
- Như thế, những lúc quá mệt, anh có
khi nào trả lời cho rồi để vế ngủ cho khỏe !
- Không khi nào. Vì mình biết họ cố ý
hỏi mình trong lúc nửa tỉnh nửa mê, làm cho tinh thần mình căng
thẳng tột độ để mình không làm chủ được mình nên tôi hết sức giử
vững tinh thần. Không là không.
- Thế thì kết quả …
- Kết quả là họ đách cần mình khai ra
sao. Họ tự tiện dựng đứng hồ sơ mình để đi đến kết luận: mình đã
chống đối và khuynh đảo Chính phủ thì Tòa án Quân sự ! Và là Tòa
án Quân sự Mặt trận nghĩa là không có quyền có luật sư,
không có kháng cáo, bản án được thi hành ngay.
- Mấy anh kia có ai cũng một cảnh
đoạn trường như anh không ?
- Có. Đó là Thượng tọa Thích Trí Thư,
bác sĩ Lê Khắc Quyến, anh Võ Như Nguyện (ở viện Hán học) và hai
anh sinh viên Võ Văn Thơ và Hoàng Văn Giàu.
- Sao anh biết họ dựng đứng hồ sơ anh
và các người anh vừa kể ? Vì các anh chưa bị tòa án Quân sự xử.
- Tôi biết vì chính mắt tôi thấy
những tài liệu buộc tội ấy. Họ có đốt đi nhưng còn sót.
Tôi xin kể tiếp. Đến tuần thứ năm tôi
bị ho ra máu, họ bèn đua tôi ra ở ngoài. Tôi xin đi bịnh viện họ
không cho. Hai bác sĩ đến khám tôi đều yêu cầu ông giám đốc cho
tôi đến bịnh viện để rọi kiếng. Ông giám đốc không cho là không
cho. Ông ta yêu cầu cho tôi thuốc solucamphre mà không cho phép
nói ra ngoài là tôi đau bịnh chi, chắc là sợ người ta bảo tôi vì
bị giam mà ho ra máu.
- Anh có làm bạn với con rệp con muổi
nào trong thời ở xà lim không ?
- …
- Tôi có vài người bạn cũng bị nhốt
xà lim như anh, cũng trong vụ chống chế độ cũ vừa qua. Các anh
ấy bảo lần đầu trong đời phải chịu cảnh cô độc hoảng sợ vô cùng,
Cho nên bất cứ có sự sống nào hiện diện là các anh bám ngay. Và
chính do nhu cầu quá cần thiết này mà các anh làm chủ được phản
ứng đập liền rệp, muổi hút máu mình. Các anh sung sướng để chúng
tha hồ hút máu các anh. Nuôi chúng sống để thấy ngoài mình còn
có một sinh vật đại diện cho sự sống trong cái cảnh địa ngục
giữa trần gian ấy. Tôi lại đi xa đề mất !
À, anh vẫn bị nhốt ở nha Cảnh sát cho
tới ngày đảo chánh thành công ?
- Ngày phái đoàn Liên Hiệp Quốc ra
Huế để điều tra - tức là ngày thứ tư 30 tháng 10 - họ đưa tôi
đến Cơ quan đặc biệt Phản gián, chung quanh chôn mìn sẵn và bố
trí như một pháo đài. Tới đây, tôi thấy hai anh Nguyện, anh
Quyến, và bất ngờ hơn hết là sau hai năm mất tăm dạng, anh Dương
Kỵ ngồi ung dung gọt cà rốt !
Họ dặn chúng tôi phải nói với phái
đoàn Liên Hiệp Quốc là chúng tôi bị giam ở đây là vì có tội với
Chánh phủ. Phái đoàn có hỏi tội gì thì trả lời không ðýợc biết.
Ðiều quan trọng là nói không có kì thị tôn giáo ở nước Việt.
Nhưng khi họ đưa anh Bính (còn là
tổng thư kí đoàn sinh viên Phật tử) gặp phái đoàn thì anh Bính
nói toạc ra tất cả sự thật. Vì thế họ miễn cho chúng tôi màn
kịch ấy.
Rồi 8 giờ rưỡi ngày 2 tháng 11, họ
cho gọi anh Lê Mộng Đào, anh Võ Văn Thơ, chị Cẩm Hà (một nữ
sinh) và tôi. Thiếu tá giám đốc nhân danh Hội đồng Quân nhân
Cách mạng cám ơn chúng tôi đã tích cực tham gia vào việc lật đổ
chế độ thối nát và bạo tàn của họ Ngô Đình, và xin trả lại tự do
cho chúng tôi. Chúng tôi nghe vậy mà chẳng hiểu ất giáp gì.
Tôi lững thững về Đại học Sư phạm,
tức Morin cũ.
- Sao anh không về nhà trước ?
- Vì nhà tôi ở xa. Tới viện, thấy
sinh viên đã tụ họp sẵn để đi rước chúng tôi. Chừng ấy tôi mới
biết đầu đuôi tự sự. Được biết còn các anh Quyến, Nguyện, Giàu,
Bính chưa được thả, anh chị em sinh viên bèn kéo đi đón.
Anh thở dài như trút xong một gánh
năng.
- Thế là anh mất tự do tất cả là …
- … 73 ngày.
- Trong 73 ngày giam cầm ấy, có ngày
nào anh cảm thấy xót xa nhất ?
- Đó là ngày chủ nhật 25-8, ngày tôi
được nghe một bạn đồng nghiệp từng sát cánh đấu tranh với
mình nói qua đài phát thanh tố cáo mình là một tên lưu manh trí
thức. Tôi cũng có biết vài bạn yếu bóng vía, có vài hành động
phản bội, tôi chỉ buồn thôi chớ không có xót xa tận đáy lòng như
khi nghe anh bạn kia buộc tội qua làn sóng điện. Nhất là họ mở
ra-đô cho mình nghe từ 6 giờ sáng đến 10 giờ tối, mục đích để
khủng bố tinh thần mình.
- Ra rồi, anh có nghe gì về việc đưa
anh ra toà án Quân sự ?
- Có sắc lệnh kí từ lâu để mở những
tòa án quân sự đặc biệt, nhưng chưa có vùng chiến thuật nào mở.
Nếu không có cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm rồi thì tôi sẽ
“được” tòa án Quân sự xử vào ngày 6 tháng 11. Mà như anh biết,
bị đưa ra tòa nầy thì hoặc được tha bổng hoặc bị xử tử. Tội của
tôi, thật ra, thì chỉ có một là không đưa kiểm duyệt ấn phẩm
trước khi phổ biến, một tội về mặt hộ. Nhưng mà khi người ta
không muốn mình sống thì không có tội gì cũng phải chết, huống
chi là có một tội.
Vụ đưa ra tòa án Quân sự ngày 6 là
thời bình. Chớ vào đêm thứ sáu mùng 1, lúc 22 giờ - sau khi
tiếng súng cách mạng nổ được 8 tiếng rưỡi đống hồ, thì tại dinh
ông Cẩn, Hội đồng Quân sự đã họp và lên án xử tử anh Quyến, anh
Nguyện, một số sinh viên (Giàu, Thơ, Bính) và tôi. Gặp thời
“loạn”, người ta có thể hành quyết chúng tôi lúc nào cũng được.
Nhưng một giờ sau, tướng Đỗ Cao Trí tuyên bố đứng bên phe cách
mạng, ra lịnh ngưng thi hành tất cả mạnh lịnh của chánh phủ cũ …
- Thế là mạng anh lớn lắm !
Anh cười nhẹ, cúi nhìn lòng bàn tay
trái.
- Được tự do, anh vui. Nhưng hẳn sau
đó, anh cũng được nghe thấy vài điều buồn.
Anh im lặng một đỗi.
- Tôi xin kể vài trường hợp điển
hình.
Trước hết, về cá nhân.
Chúng tôi có được tờ truyền đơn từ
Genève gời về cho biết Chánh phủ Ngô Đình Diệm sẽ bị lật đổ và
ông Bữu Hội sẽ đứng ra lập chánh phủ mới. Bữu Hội là dân Huế,
lại là Phật tử, lại có truyền đơn kia nên khi ông ta về Huế
trong hai ngày, anh Quyến đã gặp Bữu Hội để nói rõ sự thật về vụ
đàn áp Phật giáo ở Huế cho ông ta biết, cùng những dự định của
nhóm chúng tôi để mong ông giúp đở vế mặt tinh thần.
Anh Quyến mời nhà bác học nầy về nhà
đãi cơm và giãi bày tất cả những thống khổ của một nhóm người có
học. Chẳng dè về Sàigòn, ông ta mách lại với ông Nhu tất cả !
- Có bằng chứng gì về sự phản bội
lịch sử trí thức nầy không ?
- Chính một nhân vật trong chính phủ
cũ – xin anh miễn cho tôi việc nói tên vị nầy – đã nói lại với
chúng tôi. Và đã thêm: “Bữu Hội nó bán đứng anh em lấy 80.000
đô-la qua Tây ăn hút, tưởng thế cũng quá lắm rồi. Nào ngờ nó còn
mặt dạn mày dày đi New York nói láo nói khoét nữa. Tôi không ngờ
nó lại hèn đến thế !”
- Còn trường hợp cá nhân nào nữa
không anh ?
- Còn. An ninh quân đội có bắt được
một số tài liệu của chúng tôi. Họ đem ra nghiên cứu. Một nhân
viên reo lên: “Thằng cha Tuyên tới số rồi ! Phen nầy nó chạy đâu
cho khỏi chết. Giọng của nó đây này. Tao còn lạ gì, tao học với
nó mấy năm !”
- Ai nói lại với anh ?
- Em tôi. Nó làm chung một chỗ với
người học trò cũ nọ. Tôi kể tiếp: Một sinh viên ở Ðại học Sý
phạm dán truyền ðõn xin thả tôi, bị bắt bị tra ðiện. Nay chýa
trở lại bình thường …
- Anh cho biết đôi trường hợp tập
thể.
- Một phái đoàn của bộ Giáo dục và
giáo sư Đại học Sàigòn ra Huế ngày 25-8-63 (ông Trình và ông
Thới cầm đầu), lên án thái độ chúng tôi, bắt anh em làm kiến
nghị dâng lên Tổng thống, gián tiếp buộc tội chúng tôi.
- Tôi còn nhớ kiến nghị nầy, trong đó
có đoạn bất hủ: “… nhớ ơn cao dày của Tổng thống”
- Giáo sư Đại học Sàigòn làm chúng
tôi thất vọng đến ê chề. Họ không có một phản ứng gì khi chúng
tôi từ chức, khi chúng tôi bị bắt. Tuy vậy, chúng tôi còn hiểu
họ. Chớ họ chẳng một lời gì tỏ tình thông cảm khi chúng tôi được
tự do – sau khi chế độ họ Ngô bị lật đổ - thì quả là chúng tôi
không hiểu họ nổi. Có khi chúng tôi nghỉ: “Nếu giáo sư Đại học
Sàigòn mà lên tiếng ủng hộ lập trường của chúng tôi thì biết
đâu…”. Thú thật với anh, lúc mới về tôi tính phớt qua …, nhưng
càng lâu lại càng thấy khó chịu, nhưng mà muốn sống thì phải
quên ..
- Anh làm tôi nhớ lời một người bạn ở
viễn phương: “Tôi có thể tha thứ nhưng tôi không thể quên”.
Nhưng sau cơn “mưa gió” hẳn giờ anh có gì khác trước trong cuộc
sống ?
- Tôi trở nên dè dặt trong việc giao
tế. và tôi hạn chế sự giao thiệp. Trước kia tôi cởi mở, giờ đây
tôi giữ gìn. Đó là một kinh nghiệm, theo anh, hay hay dở ?
Tôi không trả lời anh, nâng tách nước
trà bây giờ nguội như nước lạnh:
- Giờ, chúng ta có thể uống nước.
12 tháng chạp, Quí Mão 64
Nguiễn Ngu Í
Ghi chú
(1) Anh có chân trong Hội đồng Nhân
sĩ
(2) Rằm tháng 4 năm Quí Mão (nhằm
ngày thứ tư, 8 tháng 5 năm 1963)
(3) “Nghĩa địa đầy những kẻ cho mình
không ai thay thế được”
[Nguồn: From Vinh Long
vinhalong@......to giauhoang chatutuonghcuop@......date: Oct
29, 2008 at 4:17 PM
subject Re: Thầy HG nghỉ chơi với VõvănÁi????
mailed-by gmail.com] |