|
 |
|
Giám mục Nguyễn Văn Sang |
Ngài hãy nhớ ý dạy của Chúa Giê-su:
Anh em đong đấu nào, sẽ bị đong lại đấu đó. Mạo xưng mảnh đất 42
Nhà Chung là của tổ tiên mình (từ tổ tiên là lời của ngài) để xúi giục
giáo dân xuống đường thắp nến cầu nguyện, phá cổng, bê tượng Mẹ sầu bi,
cắm thánh giá đánh dấu chủ quyền trên mảnh đất đã từng có 1 trong tứ đại
khí của dân tộc, đã từng là mảnh đất thiêng của Phật giáo (là bộ phận đa
số của Dân tộc hiện nay) không phải là việc làm xứng đáng với người con
Chúa, với dân tộc Việt Nam chút nào.
Thưa ngài!
Trong thời gian hơn 2 tháng nay, trên một
vài website và blog Công giáo, chúng tôi có “vinh hạnh” được đọc một số
thư, bài, nhật kí của ngài viết về vụ “Tòa Khâm sứ” Hà Nội. Đặc biệt gần
đây nhất, chúng tôi có đọc bài “Sự thực về đất đai tòa Khâm sứ, nhà thờ
lớn Hà Nội và chùa Báo Thiên” của ngài viết tại Thái Bình ngày
24/02/2008.
Chúng tôi thấy cần phải trao đổi và xác
quyết với các ngài chí ít là hai vấn đề mà chúng tôi cho rằng ở đó ngài
có sự “hồ đồ, mập mờ đánh lận, tiền hậu bất nhất”.
Vấn đề thứ nhất,
vị trí của khu vực chùa Báo Thiên trước khi Pháp đánh chiếm Hà Nội với
vị trí của khu vực nhà thờ Lớn và khu vực tòa Khâm sứ Hà Nội ngày nay.
Ngài viết: “Tôi không là nhà sử học,
lẫn địa dư học, song tôi có bộ óc hoài niệm và suy nghĩ. Tôi đã vâng lời
Đức Tổng Giám mục Hà Nội, Giuse Ngô Quang Kiệt, đã viết một số bài liên
quan tới khu đất 40 Phố Nhà Chung”.
Cứ cho là, ngài thành thực biết mình ở
trình độ nào, như ngài tự nhận, thì sao ngài lại viết tên bài là “Sự
thực về đất đai tòa Khâm sứ, nhà thờ lớn Hà Nội và chùa Báo Thiên”.
Sao ngài lại đi xác quyết, khẳng định các vấn đề mà ngài không rõ, chỉ
ước chừng, phỏng đoán? Chúng thôi thật sự lấy làm tiếc cho ngài về sự
cẩu thả về mọi mặt trong các bài viết gần đây, phải chăng ngài coi
thường và xúc phạm độc giả? Hay ngài nghĩ đã là linh mục thì nói điều gì
cũng đúng, giống như lời Chúa thì không thể sai?
Còn nếu đó chỉ là thái độ nhún nhường,
khiêm tốn của người cầm bút, thì chúng tôi xin trao đổi và cùng với ngài
đi đến làm rõ và cùng xác quyết lại vấn đề vị trí của khu vực chùa Báo
Thiên trước khi Pháp đánh chiếm Hà Nội với vị trí của khu vực nhà thờ
Lớn và khu vực tòa Khâm sứ Hà Nội ngày nay.
Chúng tôi được biết, ngài là một người
Việt Nam, sống lâu dài và liên tục ở trong nước, thế nhưng ngài đã lẫn
lộn (cố tình hay vô ý) khái niệm chùa và tháp Báo Thiên khi ngài ngây
ngô viết: “Chúng ta thử tưởng tượng tháp trên gò đất đó, nền bằng
đá, mà chân nó rộng, dài 2km, thì tháp đó vĩ đại thế nào, trong thời kỳ
nước ta vào năm 1054 có đủ kỹ thuật để xây dựng chăng, mặc dù theo sử
tháp đó cao tới 30 tầng!!!”
Không biết vì lý do gì, ngài đã “không”
biết hay cố tình lờ tảng, là tháp chỉ là một bộ phận của chùa,
thuộc về chùa.
Ngài viết: “Song tôi xin đặt vấn đề
thực tế hơn: Chùa và rõ hơn Tháp Báo Thiên gồm khu đất nào? Rộng bao
nhiêu? Dài bao nhiêu? …Có người nói [chùa Báo Thiên] ở chỗ nhà Bưu điện
hiện nay, có người nói ở Nhà Báo Nhân dân bây giờ."
Ngài dẫn tiếp: “Ông Nguyễn Đình Tư [?] cho
biết rõ hơn: “Thiết nghĩ… chính quyền Hà Nội nên cho phục
chế ngôi tháp Báo Thiên đã bị quân Minh phá hủy (chứ không phải thừa sai
Công giáo v.v.) trong khuôn viên khu đền thờ Vua Lê”
Ngài tạm kết luận: “Như vậy, có thể
đoán được rằng: khu Chùa và Tháp Báo Thiên cũ là ở phía bên này hồ Hoàn
Kiếm, trong khu đất Tam giác, nơi có Hội Trí Đức cũ, và đầu kia là cơ sở
của Báo Nhân Dân đứng trên mảnh đất nhà binh Pháp cũ”.
“Còn đất Tòa Khâm Sứ cũ và đất cả Tòa
Tổng Giám Mục Hà Nội có phải là đất Chùa và Tháp Báo Thiên không, thì
xem bản đồ Hồng Đức 1406 càng xa địa điểm giả định của Tháp Báo Thiên
bên hồ Hoàn Kiếm như trên đã nói. Thế thì đất Khâm Sứ cũ nằm trong đất
Tòa Tổng Giám Mục, đâu có nằm trên khu đất của chùa Báo Thiên, mà là đất
giữa Tràng Thi và chùa Báo Thiên cũ, rõ ràng không phải là đối tượng cho
một số Phật tử đòi phải trả lại (!!!)”
Trong đoạn trên, ngài có dụng tâm muốn đi
đến khẳng định: khu vực nhà thờ Lớn và tòa Khâm sứ ngày nay không (hoặc
ít) liên quan đến khu vực di sản chùa tháp Báo Thiên. Đó là 2 khu vực
khác nhau, nên chư vị nào bàn bạc đến vấn đề chùa tháp Báo Thiên thì cứ
bàn nhưng điều đó không (hoặc ít) liên quan đến vấn đề nhà thờ Lớn và
tòa Khâm sứ, còn chúng tôi thì vô can. Chư vị có đòi hỏi hay thắc mắc gì
thì sang khu đất “tam giác” mà tôi chỉ ra đó.
Nếu không có lịch sử, các nhân chứng, vật
chứng, thư tịch khách quan, đáng tin cậy và những người ngài nói cho
nghe không có đầu óc lý tính thì tuyệt chiêu của ngài quả thật là đắc
thủ. Nhưng rất tiếc cho ngài là sự thật lại lên tiếng theo hướng khác.
Xin thưa với ngài, rồi đây rất có thể một
hội nghị khoa học cấp quốc gia sẽ được mở ra và xác
quyết (chuyện này đâu có khó khăn gì ở nước ta hiện nay) làm rõ các vấn
đề:
1. Diện tích chùa Báo Thiên, trong đó có
tháp Báo Thiên nằm ở vị trí nào và có quy mô, giới hạn như thế nào trong
quan hệ với nhà thờ lớn và khu 42 Nhà Chung ngày nay (cũng như nhà thờ
Lớn)?
2. Trước khi xuất hiện nhà thờ Lớn và tòa
Khâm sứ, tình trạng của chùa tháp đó như thế nào?
3. Việc khu chùa tháp đó biến thành nhà
thờ và tòa khâm đã diễn ra như thế nào, những ai là chủ thể của quá
trình đó?
Thiết tưởng, đây cũng là dịp để các ngài
bộc lộ, giãi bầy, khẳng định lịch sử, tâm nguyện, vị trí, vai trò và
thực chất của đạo Công giáo ở Việt Nam với dân tộc và nhân dân trong
lịch sử và hiện tại.
Với tất cả sự thật hiện đang có đủ để các
nhà nghiên cứu khách quan có thể phác họa để ngài thấy những nét chính,
căn bản như sau:
Hồ Gươm bây giờ bé hơn rất nhiều
(khoảng bằng 1/3) so với hồ Gươm khi xây Tháp và chùa Báo Thiên, và cả
so với thời điểm trước khi xây nhà thờ Lớn. Riêng đoạn bờ
hồ phía tây thì ăn sâu vào, men từ ngã 5 Hàng Đào xuôi theo Hàng Trống,
áp sát chùa Bà Đá, kéo dài qua đường Tràng Thi. Bờ hồ phía đông thì
ra đến khu Ngô Quyền, Hàng Chuối... Chùa Lý Triều Quốc Sư vốn
là một ngôi đền nhỏ thờ Quốc sư Minh Không trong khuôn viên chùa Báo
Thiên, dựng đời nhà Lý. Chùa Bà Đá cũng thuộc khuôn viên chùa Báo Thiên,
dựng đời Lê Thánh Tông khi phát hiện ra pho tượng đá cổ, khi đó tháp Báo
Thiên thời Lý - Trần đã bị phá một phần sau 20 năm thuộc nhà Minh. Vì
thế nói tháp Báo Thiên soi bóng xuống Hồ Gươm cũng là chuyện bình
thường. Nếu nói như ngài phỏng đoán về vị trí chùa và tháp Báo Thiên thì
hẳn khi vua Lý xây chùa và tháp thì nó phải ở gần giữa hồ Gươm!!!
Như vậy, trung tâm của chùa Báo Thiên ban
đầu thời không phải nằm ở cái khu Tam giác mà ngài đã chỉ, mà nó là một
khu rộng lớn mà trung tâm là khu vực nhà thờ Lớn, nhà Chung và tòa Khâm
sứ bây giờ. Dĩ nhiên, trong quá trình tồn tại gần 1.000 năm của mình thì
một số khu ngoại vi có thể đã được sử dụng vào việc khác, trong đó có cả
khu dân cư của đồng bào Công giáo, nhưng khu vực Trung tâm của chùa Báo
Thiên ở khu vực nhà thờ Lớn và tòa Khâm sứ bây giờ thì vẫn được duy trì
và hoạt động đến năm 1883. Sự thật của vấn đề đó chắc chắn, nhân dịp các
ngài khơi sự này, sẽ được xác quyết để toàn thể dân tộc Việt Nam biết rõ
và đúng đắn hơn.
Vấn đề thứ 2, quá trình
tồn tại của chùa tháp Báo Thiên và thực trạng của nó trước khi xây nhà
thờ lớn.
Tuy cố gắng phỏng đoán “khu Chùa và
Tháp Báo Thiên cũ là ở phía bên này hồ Hoàn Kiếm, trong khu đất Tam
giác, nơi có Hội Trí Đức cũ, và đầu kia là cơ sở của báo Nhân Dân đứng
trên mảnh đất nhà binh Pháp cũ” để làm cho khu vực nhà thờ Lớn và
tòa Khâm “không phải là đối tượng cho một số Phật tử đòi phải trả
lại”, nhưng ngài cũng cố gắng vớt vát minh chứng tiếp là: nếu sự
thật có đúng là nhà thờ Lớn và tòa Khâm được xây dựng trên khu đất trung
tâm của chùa tháp Báo Thiên thì cũng là vào thời điểm khu đó là vô chủ
và không còn tồn tại với tư cách là chùa tháp nữa.
Ngài nhắc lại lời linh mục Kim Linh rằng:
“Ảnh hưởng của đạo Phật trong cách điều khiển đất nước của các vua
quan đời Lý lúc đó, đã đem lại rất nhiều tệ nạn, làm suy nhược đất nước.
Điều này rất phù hợp với nội dung của cuốn tiểu thuyết Hồ Quí Ly của nhà
văn Nguyễn Xuân Khánh”.
Câu văn này chẳng liên quan đến chuyện
tháp, chùa Báo Thiên, nhưng ngài cũng đưa vào thì chúng tôi xin thưa.
Vua Lý Thánh Tông, người cho xây chùa, tháp Báo Thiên được ghi trong Đại
Việt sử ký toàn thư như thế này: “Sử thần Ngô Sĩ Liên bàn: Thương
xót hình ngục, yêu thương nhân dân, là việc đầu tiên của vương chính.
Thánh Tôn lo rằng tù giam trong ngục, hoặc có kẻ không có tội, nhân đói
rét mà đến chết, thì cấp cho chiếu chăn ăn uống để nuôi cho sống; lo
rằng quan lại giữ việc hình ngục hoặc có kẻ vì nhà nghèo mà nhận tiền
đút lót, thì cấp thêm cho tiền bổng và thức ăn, để nhà được giàu đủ; lo
rằng nhân dân thiếu ăn thì xuống chiếu khuyến nông; lo rằng năm đại hạn
đói kém thì ban lệnh chẩn cấp người nghèo; trước sau một lòng, đều là
thành thực. Huống chi lại tôn sùng đạo học, định rõ pháp độ, văn sự bên
trong tiến mau chóng; phía Nam bình nước Chiêm; phía Bắc đánh nước Tống,
uy vũ bên ngoài hiển hách rõ ràng. Tuy có việc lầm lỗi nhỏ khác, cũng
vẫn là bậc vua hiền. Hoặc có người bảo là vua nhân nhu có thừa mà cương
đoán không đủ, ngụ ý chưa cho là phải”.
Phải chăng lãnh đạo đất nước theo tư tưởng
Phật giáo như thế là sai, là nhu nhược, là đưa đất nước đến chỗ suy vi?
Đưa đất nước đến chỗ suy vi hay như Lý Thường Kiệt cho quân vượt biên
giới sang Trung Quốc đánh phủ đầu quân Tống? Hay như nhà Trần ba lần
đánh bại quân Nguyên Mông?
Chúng tôi đoan chắc ngài và linh mục Linh
chưa từng đọc tiểu thuyết Hồ Quý Ly của nhà văn Nguyễn Xuân
Khánh nhưng lại dám nói năng hồ đồ. Vì tiểu thuyết Hồ Quý Ly
viết về giai đoạn cuối nhà Trần, đầu nhà Hồ, giai đoạn mà vua quan hướng
nhiều đến Nho học hơn Phật giáo? Ngài có biết vì sao Hồ Quý Ly không
được lòng dân và để đất nước rơi vào tay nhà Minh không? Ngài và các
linh mục nên đọc kỹ tiểu thuyết Hồ Quý Ly và lịch sử Việt Nam,
hơn là lịch sử Vatican. Ngài cũng nên đọc kỹ tiểu thuyết Mẫu Thượng
ngàn để biết giám mục Puginier và giáo dân Công giáo tiếp tay cho
Pháp xâm lược Hà Nội và Bắc kỳ như thế nào.
Cái tâm của ngài còn “sáng” hơn nữa khi
viết thêm “Có thể nói, đất đai chùa chiền chiếm phần lớn đất của
quốc gia. Dân thì “trốn việc quan đi ở chùa” làm thành phần sư
sãi đông gấp bội…"
Việc bôi nhọ Phật giáo của một số Nho sĩ
dạng như câu trên đã có nhiều người nói, chúng tôi không muốn bàn thêm,
nhưng cũng cần nói thêm với ngài rằng nếu có chuyện “trốn việc quan
đi ở chùa”, nhưng khi đất nước gặp nạn ngoại xâm thì sẵn sàng “cởi
áo cà sa khoác chiến bào” chứ không nối giáo cho giặc làm tay sai
bán nước như một số giáo sĩ và giáo dân Công giáo trước và trong thời
Pháp thuộc.
Ngài viết “Sang đến đời Trần và các
đời sau, đạo Phật bị mất ảnh hưởng nơi các triều đại kế tiếp, chùa chiền
vắng bóng các sư coi sóc, để hoang phí dột nát, kể cả chùa Báo Thiên,
lẫn tháp bị quân Minh năm 1426 phá sập, triều Lê cho đắp mú đất phủ lên
nền cũ. Cuối thế kỷ XVIII, nơi sân chùa thì họp chợ, núi (gò) dùng làm
nơi xử chém những tội nhân bị kết án tử hình. Vậy thì còn đâu là Chùa,
là Tháp để cho các Thừa Sai hoặc những người Công giáo năm 1883 đập phá,
rỡ bỏ nơi cơ sở văn hóa như một số người đã phát biểu.”
Tạm chưa nói đến việc ngài xuyên tạc và
làm phiến diện lịch sử, phải khẳng định chắc chắn với ngài rằng cho tới
cuối thế kỷ XIX, chùa Báo Thiên, mặc dù có lúc bị hư hại theo lẽ vô
thường của thời gian nhưng luôn được trùng tu bảo tồn, là nơi cử hành
các nghi lễ Phật giáo cầu cho quốc thái dân an mưa thuận gió hoà.
Đó là sự thực không thể chối bỏ, bởi vì
dưới thời vua Tự Đức, Tổng đốc Hà Nội là Tôn Thất Bật đã cho trùng tu
lại chùa Báo Thiên. Năm Thiệu Trị thứ 7 (1847), Hòa Thượng Phúc Điền
(1784-1863) về trụ trì chùa Báo Thiên. Trong Kế đăng lục in năm
Tự Đức thứ 12 (1857) viết: Lúc đó tại chùa Báo Thiên đang khắc ván bộ
Phật Tổ thống kỷ. Sau khi Hòa thượng Phúc Điền qua đời, chùa
Báo Thiên vẫn còn lại cho đến ngày thực dân Pháp đánh thành Hà Nội lần
thứ 2 (1882).
Còn việc bảo cố tình bảo rằng ngôi chùa đó
là vô chủ và hoang phế thì, xin mời ngài hãy nghe lại chính lời ông
Bonnal, công sứ Pháp tại Hà Nội kể lại chuyện tay sai Nguyễn Hữu Độ phá
chùa dâng đất cho giám mục Puginier: “Ông chỉ thị cho các thân hào
trong khu vực, được chọn, như thể tình cờ, trong các giáo dân bản xứ, để
xét xem mức độ chắc chắn của ngôi chùa thế nào, và các ông nầy chẳng
ngần ngại gì mà tuyên bố rằng: do hư nát, ngôi chùa khi sụp đổ có thể
gây nguy hại cho những ai đi ngang qua.
Vậy là, bây giờ mọi việc đều đã đúng
luật lệ. Cho phá hủy ngôi chùa, sung công thửa đất vô chủ... theo tập
quán Việt Nam, là những biện pháp chính đáng, không thể gây nên một sự
phản đối nào. Ông Tổng đốc đã xử lý theo cách đó. Ông còn nhận trách
nhiệm nhượng lại miễn phí cho nhà chung công giáo thửa đất đã sung công,
và tôi đã vui lòng trao cho vị giám mục văn bản chính thức chuyển giao
cho ngài quyền sở hữu trọn vẹn”.
Trước đó, vào năm 1873, Francis Garnier
đánh chiếm Hà Nội lần thứ nhất, giao toàn bộ ngôi chùa này cho Giám mục
Puginier làm nơi ở và làm việc tạm thời khi giám mục về Hà Nội trực tiếp
làm thông ngôn và cố vấn cho Garnier. Lúc đó, giám mục Puginier dựng mấy
ngôi nhà gỗ trong vườn chùa để ở và làm việc cho gần Garrnier đóng quân
tại Trường Thi gần đó, còn Tòa Giám mục (khi đó gọi là Tòa Giám mục Tây
Đàng ngoài) thì vẫn đóng ở Kẻ Sở (nay là vùng ngã tư Sở).
Năm 1882, Henry Riviere đánh chiếm Hà Nội
lần thứ hai. Năm 1883, theo yêu cầu của Công sứ Bonnal, kinh lược Bắc Kỳ
là tổng đốc Nguyễn Hữu Độ đã giao khu chùa này cho Giám mục Puginier phá
đi để kiến tạo Nhà thờ chính toà Hà Nội. Năm 1887, khi Pháp đã đặt vững
nền cai trị ở Bắc Kỳ, giám mục Puginier mới cho xây dựng mới Nhà thờ Lớn
và các toà nhà khác của Nhà Chung bằng những vật liệu kiên cố rồi dời
Toà Giám mục Hà Nội về đây.
Di tích còn lại của chùa Sùng Chính Báo
Thiên (Chùa báo Thiên) là ngôi giếng đá cổ. Giếng đá này nằm trong ngõ
của một nhà dân ở phố Nhà Chung, thuộc phần đất nhà thờ cho giáo dân cư
trú. Năm 2002 giếng đá đã bị người dân cho đổ đất, cát lấp đầy. Việc này
được phát hiện và báo chí đưa tin. Sau khi báo đưa tin các vị thẩm quyền
của nhà thờ chính toà Hà Nội đã cho khai quật giếng cổ ấy lên, di chuyển
vào đặt trước hang đá bên trong khuôn viên nhà thờ.
Và sau cùng, thưa ngài, ngài đã đưa ra
cách giải quyết xuề xòa để trục lợi. Ngài viết: “Nói tóm lại, theo
thiện ý của tôi, đứng về phương diện nào đi nữa, mảnh đất mang số 42
cũng dứt khoát là thuộc sở hữu của Tòa Giám Mục Hà Nội, vấn đề trả lại
là hợp tình hợp lý. Còn những lý do cao cả đem lại sự đoàn kết, an bình
cho nhân dân cả hai tôn giáo: Công giáo và Phật giáo, là bạn với nhau
trong việc xây dựng đất nước, thì không còn vì một mảnh đất cỏn con,
hoặc sỹ diện của một vài cá nhân mà làm mất đi nghĩa lớn của tổ quốc.”
Sau đó, Ngài nhắc lại lời ông Lê Tuấn Huy:
“Nhà nước “mất” về tay các giáo phận một vài toà nhà hay khu đất mà
trong quá khứ không lâu đã là của họ, chẳng tốt hơn là mất đi khối đoàn
kết dân tộc và sự bình yên trước viễn cảnh xung đột tôn giáo sao? Về
phía (những người lấy danh nghĩa) Phật giáo, đã mấy trăm nay mất những
chùa chiền nào đó, nay nếu tiếp tục “mất” thì có tăng thêm chút mất mát
nào không, thay vì lại “tự nguyện” nhảy vào thế chân Nhà nước trong cuộc
tranh chấp này, để mất đi cả căn tính vốn có của đạo Phật? Nếu những tài
sản mà phía Công giáo chứng minh được sở hữu có về với họ, thì cũng chỉ
là thêm cho một bộ phận con dân nước Việt được có được những cơ sở vật
chất mới phục vụ cho đời sống tâm linh, cho việc giáo dục, giải trí, hay
làm từ thiện…, không phải là điều Nhà nước ta cũng chủ trương hay sao?
Và thêm một bộ phận chúng sanh có được niềm hoan hỉ như thế, nào có khác
chăng với tinh thần nhà Phật?”
Thật không hiểu nổi khi ngài cho rằng: “không
còn vì một mảnh đất cỏn con, hoặc sỹ diện của một vài cá nhân mà làm mất
đi nghĩa lớn của tổ quốc” thế mà các ngài lại làm việc động trời,
tụ tập, kêu gọi hàng nghìn giáo dân, hàng tháng trời để đòi lấy được cái
“mảnh đất cỏn con” đó. Thậm chí một vài website và nhân vật Công giáo
tại hải ngoại còn té nước theo mưa, hô hào đòi làm cách mạng “cầu
nguyện” tương tự cách mạng nhung, cách mạng hoa hồng... Phải chăng đó
chỉ là một nguyên cớ nhỏ để các ngài thăm dò và hướng tới một mục tiêu
“to tát, vĩ đại và dài hơi hơn” trong cái chiến lược mà các ngài đang
toan tính?
Chúng tôi cũng mong ngài cũng như một số
linh mục đọc kỹ bức thư Hòa thượng Thích Trung Hậu gửi Thủ tướng Nguyễn
Tấn Dũng. Trong bức thư đó không hề có chuyện đòi đất hay tranh giành
với người Công giáo. Đó là bức thư nói lên sự thật lịch sử, công lý và
hòa hợp dân tộc. Sự thật lịch sử là mảnh đất tọa lạc tòa Khâm sứ cũ và
nhà thờ Lớn ngày nay đã từng có chùa và tháp Báo Thiên, và chùa Báo
Thiên đã bị chính chính quyền thực dân Pháp và tay sai phá đi dâng cho
giám mục Puginier xây nhà thờ Lớn.
Công lý ở đây là sự thực lịch sử phải được
tất cả các bên liên quan tôn trọng, đất đai tòa Khâm sứ cũ là công thổ
chứ không thể thuộc về riêng ai.
Hòa hợp dân tộc là không chỉ Nhà nước,
Giáo hội Công giáo có quyền đứng ra thương thảo giải quyết, mà toàn thể
dân tộc, trong đó Phật giáo (nay là Giáo hội Phật giáo) – bên đã từng là
sở hữu chủ của mảnh đất phải cùng giải quyết. Một giải pháp hài hòa lợi
ích của tất cả các bộ phận dân tộc mới là giải pháp trọn vẹn. Ngay cả
khi Nhà nước giao quyền sử dụng mảnh đất 42 Nhà Chung về cho Giáo hội
Công giáo, thì Phật giáo vẫn hoan hỷ đồng ý, vì nó đáp ứng nguyện vọng
của một bộ phận, dù nhỏ, dù thiểu số của Dân tộc. Nhưng nguyện vọng đó
khó có thể đạt được nếu như Giáo hội Công giáo, ngài Kiệt, và cả ngài
nữa không biết biết tôn trọng sự thật.
Cuối cùng, ngài hãy nhớ ý dạy của Chúa
Giê-su: “Anh em đong đấu nào, sẽ bị đong lại đấu đó”. Mạo xưng
mảnh đất 42 Nhà Chung là của tổ tiên mình (từ tổ tiên là lời của ngài)
để xúi giục giáo dân xuống đường thắp nến cầu nguyện, phá cổng, bê tượng
Mẹ sầu bi, cắm thánh giá đánh dấu chủ quyền trên mảnh đất đã từng có 1
trong tứ đại khí của dân tộc, đã từng là mảnh đất thiêng của Phật giáo
(là bộ phận đa số của Dân tộc hiện nay) không phải là việc làm xứng đáng
với người con Chúa, với dân tộc Việt Nam chút nào.
Một nhóm Phật tử độc
giả của website (www.phattuvietnam.net)
|