Từ thái độ khinh miệt chà đạp phụ nữ
của các đạo Độc Thần
đến thái độ tôn trọng và ca ngợi phụ nữ
trong văn chương bình dân Việt Nam
Nói
một cách công bình và khách
quan thì trong hầu hết các
nền văn hóa, Đông cũng như
Tây, người phụ nữ luôn luôn
bị đối xử một cách bất bình
đẳng. Có
lẽ vì bản chất của phụ nữ là
“chân yếu, tay mềm” “liễu
yếu đào tơ” nên cần được
phái nam (được mệnh danh là
phái mạnh) che chở bao bọc. Từ đó,
phụ nữ bị phái nam lấn lướt
dành quyền ưu thắng trong
mọi sinh hoạt xã hội. Vì vậy,
trong mọi xã hội thuộc đủ
mọi nền văn hóa, quyền bình
đẳng của phụ nữ không ít thì
nhiều cũng luôn luôn bị xâm
phạm.
Có lẽ
các xã hội Phật giáo ít bị
mang tiếng nhất về vấn đề nữ
quyền. Phật giáo phát
khởi trong bối cảnh Ấn giáo,
nhưng Đức
Phật đã
đưa ra nhiều quyết định sáng
suốt để tránh cho Phật giáo
những khuyết điểm đáng tiếc
:
- Đức Phật không chấp nhận
những nghi lễ của Ấn giáo
đặt trên nền tảng giai cấp
phi nhân, vô lý và bất công.
- Đức Phật luôn luôn xác
định phụ nữ có khả
năng
tâm linh cũng như nam
giới.
- Đức Phật kịch liệt phản
đối tập tục “Sati” là một
tập tục dã man vẫn tồn tại
trong Ấn giáo cho đến gần
đây. Đó là tục người vợ bị
buộc phải lên dàn hỏa để
được thiêu với người chồng
quá cố. Người đã chết không
cón sợ hãi hay đau đớn,
nhưng người vợ còn sống sẽ
phải trải qua những cơn đau
đớn kinh
hoàng!
Trong
bài “Đạo Phật và vấn đề phụ
nữ”, tác giả là bà Thái Kim
Lan cho biết: Nhà nghiên cứu
người Đức là ông Kurt
Schmidt, chuyên nghiên cứu
về đạo Phật từ thập niên
1920 đã dịch từ tiếng Trung
Hoa một số câu kệ của 42 bài
kinh nguyên tác bằng tiếng
Sankrit. Bản kệ nói trên có
đoạn viết lời Đức Phật nói
về phụ nữ như
sau :
“Khi nói chuyện với phụ nữ,
hãy nói với sự trong sáng
của con tim.
Nếu
người phụ nữ là một người
già nua, hãy xem họ như mẹ. Nếu
người đó là một chủ nhân
đáng kính, hãy đối xử như
một bà chị. Nếu
người đó xuất thân thấp kém,
hãy xem họ như em gái. Nếu
người ấy còn thơ ngây, hãy
đối xử tế nhị và lịch sự”.
(Bà
Thái Kim
Lan nguyên là một
Phật tử ở Huế.
Bà đã du
học ở Đức từ thập niên 1970
và trở thành giáo sư đại học
ở Đức từ đó đến nay.
Bà đã chuyển ngữ đoạn văn
trên từ Đức ngữ sang tiếng
Việt. Theo bà, dù không đúng
từng chữ, nhưng những lời
nói trên phản ảnh trung thực
tinh thần những lời giảng
dạy đích thực của Đức Phật).
Như trên
đã trình bày, trong mọi xã
hội thuộc mọi nền văn hóa
đều có nạn kỳ thị phụ nữ với
những mức độ khác nhau. Tuy
nhiên, một sự thật hiển
nhiên là không nó một nền
văn hóa nào khinh miệt và
chà đạp phụ nữ bằng nền văn
hóa Độc thần giáo.
Đó là nền văn hóa của ba đạo
độc thần
: đạo Do Thái, đạo Ki
Tô và đạo Hồi.
I.- Quan niệm về phụ nữ của đạo
Do Thái và đạo Ki Tô.
Đạo
KiTô phát sinh từ đạo Do
Thái, do đó mọi quan niệm
chính yếu liên quan đến niềm
tin tôn giáo của đạo KiTô
đều được rập khuôn theo đạo
Do Thái. Câu chuyện thần
thoại Vườn Địa Đàng
(Gan-Eden) của người
Sumerians ở Babylon đã có từ
3000 năm trước Công Nguyên,
không ngờ đã trở thành nồng
cốt cho niềm tin của cả Do
Thái giáo, KiTô giáo và cho
cả Hồi giáo sau này.
Chuyện
Vườn Địa
Đàng
kể rằng :
trước hết, Thiên Chúa dựng
nên tổ tiên loài người là
Adam bằng đất sét.
Sau đó,
Chúa thấy Adam sống cô đơn
buồn bã, nên Ngài rút một
khúc xương sườn cụt của Adam
để tạo ra bà Evà. Evà
bị con
rắn nói tiếng người
dụ dỗ ăn trái cấm.
Evà dụ
dỗ chồng là Adam phạm tội
chống Chúa, nên cả hai đã
trở thành những kẻ đầu tiên
phạm tội. Tội này
được gọi là “nguyên tội”
(the original sin) và là tội
đầu tiên của loài người, và
đặc điểm của tội này là di
truyền cho con cháu loài
người đến muôn đời.
Câu
chuyện thần thoại Vườn
Địa Đàng đã được ông
thánh Augustine khai thác
tạo thành một gia tài giáo
lý, biến Công giáo La Mã
thành một tôn giáo nổi tiếng
về óc kỳ thị phụ nữ.
Augustine viết: Mỗi người
đàn bà là một Evà. Sự kết
án
của Thiên Chúa không phải
trên cá nhân Evà, mà là trên
phái tính của các người.
Các
người là hình ảnh của qủi
dữ, vì các người phá hoại
đàn ông là hình ảnh của
Thiên Chúa. Đàn bà
là cửa hỏa ngục. Chỉ
vì tội lỗi của các người mà
con của Thiên Chúa phải
chết
.....
Câu
chuyện thần thoại Vườn
Địa Đàng đưa đến nhiều
hậu quả bất lợi cho phụ nữ:
Trước
hết, đàn bà phải phụ thuộc
đàn ông vì “đàn bà chỉ là
một cái xương sườn cụt của
đàn ông mà thôi”!
Chúa
dựng nên Eva trực tiếp từ
một cái xương sườn cụt thành
một người đàn bà hoàn chỉnh.
Cho nên Eva không được sinh
ra bởi cha mẹ, không được
cưu mang trong bụng mẹ ngày
nào, do đó Eva không được
sinh ra từ bụng mẹ, không
được cắt rốn, và Eva trở
thành người duy nhất trên
thế giới không có lỗ rốn!
Một
trong những lý thuyết quan
trọng nhất của Augustine là
“tội tổ tông” được di truyền
cho con cháu muôn đời là do
hành vi
giao cấu tội lỗi của cha mẹ.
Augustine quan niệm dù là
hành vi
giao cấu giữa vợ chồng là
hợp pháp, nhưng động lực
chính yếu vẫn là sự ham muốn
dâm dục.
Vì vậy hành vi giao cấu của
cha mẹ vẫn cấu thành hành vi
tội lỗi và làm cho Tội Tổ
Tông (Nguyên Tội) được di
truyền liên tục muôn đời.
Bà Maria
có cha mẹ là ông Joachim và
bà Anna. Bà Maria
đã được sinh ra bởi cha mẹ. Bà Maria
đã được sinh ra từ bụng mẹ,
có cắt rốn cho nên bà Maria
phải có lỗ rốn. Cái
lỗ rốn của bà Maria là bằng
cớ hùng hồn chứng tỏ là bà
ta đã mắc tội tổ tông, vì
(theo lý thuyết của
Augustine) bà ta đã sinh
ra do
sự giao cấu của cha mẹ là
ông Joachim và bà Anna.
Một
khi bà Maria đã bị “nhiễm
tội tổ tông”, thì bà ta sẽ
truyền tội cho thằng con
trai của bà là Jesus, và
biến Jesus thành kẻ có tội
(a sinner). Hậu qủa cuối
cùng là Jesus không thể
vừa là một tội nhân lại vừa
là Đấng Chí Thánh! Jesus
phải hiện nguyên hình là một
người thường (a man), chứ
không thể là một thứ quái
thai
nửa người nửa Thiên Chúa
(half-man, half-god).
Cái lỗ
rốn của bà Maria, không ít
thì nhiều, cũng làm tổn hại
đến thằng con trai của bà.
Tội Ác Dã Man đối với Phụ Nữ
của Công Giáo La Mã và Thệ
Phản Giáo dưới chiêu bài
Diệt Nạn Phù Thủy.
Tác
phẩm “Búa Phù Thủy”, do bác
sĩ Trần Qúi Nhu dịch, Giao
Điểm xuất bản Hè 2003.
Nguyên tác bằng tiếng
la-tinh “Malleus
Maleficarum” của hai linh
mục “quan án đạo” là
Heinrich Kramer và James
Sprenger. Tác phẩm được xuất
bản lần đầu vào năm
1486 để
làm tài liệu chính thức
cho các quan tòa án đạo xử
dụng.
Mấy
trang đầu sách có in sắc
lệnh 1482 của giáo hoàng
Innocent VIII. Sắc lệnh
của giáo hoàng là văn kiện
luật pháp tối cao chỉ đạo
công cuộc diệt phù thủy. Đây là
chứng tích không thể chối
cãi về một thời kỳ kinh
hoàng cho phụ nữ kéo dài 300
năm (1450-1750). Bất cứ
một phụ nữ nào cũng có thể
dễ dàng bị ghép vào tội phù
thủy. Người phụ nữ có
thể bị người hàng xóm thù
ghét vu cáo cho tội đã dùng
bùa phép làm chết con bò hay
con ngựa của hắn ta. Thế là
người phụ nữ đó có thể bị
truy tố ra Tòa
Án
Đạo và bị kết tội phù thủy.
Một phụ nữ bỗng nhiên bị nổi
ở trên mặt một vài cái nốt
ruồi hay mụn cơm có hình thù
đặc biệt khiến cho kẻ mê tín
tin đó là dấu hiệu của ma
qủi. Người phụ nữ đó có thể
bị kết
án về tội phù thủy.
Vào
đầu thế kỷ 15, các tu sĩ
dòng Đa Minh (Dominicans)
được giáo hoàng cử làm các
quan án
xử tội phù thủy.
Trong
hai thế kỷ 15 và 16, riêng
tại Đức có 100,000 người bị
giết bằng cách thiêu sống
trên dàn hỏa.
Năm
1572, tại Saxony, phe Thệ
Phản giáo (Tin Lành) tỏ ra
còn khắc khe với phù thủy
hơn cả công giáo La Mã.
Cuối thế
kỷ 16, phe Thệ Phản giáo
thiêu sống 20,000 người
riêng tại Saxony. Từ
1615-1635, hơn 5,000 người
bị đưa lên dàn hỏa về tội
phù thủy tại miền Strasburg.
Sắc
lệnh 9-12-1482
của giáo hoàng Innocent VIII
Sắc
lệnh của giáo hoàng đưa ra
nhiều “kiến thức lạ lùng” về
phù thủy,thầy pháp, bói
toán, ... Giáo hoàng cũng
đưa ra nhiều “niềm tin mê
tín” của riệng ông ta để dạy
dỗ các quan án :
- Các phù thủy có thể thông
đồng với “qủi đực, qủi cái”
để gây ra bão táp phá hoại
mùa màng, giết hại súc vật.
- Bọn phù thủy đã lạc ra
ngoài đức tin Công giáo, sa
vào tay qủi dữ và có khả
năng xử dụng tà thuật , phù
phép, bùa ngải để làm các
việc ác.
- Phù thủy có khả năng vận
dụng sự di chuyển các ngôi
sao để gây ra bệnh hoạn. Họ
kết ước với ma qủi để có thể
biết trước tương lai bằng
cách đoán mộng.
Đó là
tiêu biểu những “kiến thức”
của giáo hoàng về phù thủy.
Giáo hoàng đã tán bậy
theo
sự suy tưởng ngu xuẩn của
hắn. Chủ trương diệt phù
thủy thực sự đã bắt nguồn từ
Cựu Ước, ít nhất từ 3000 năm
trước CN:
- Deut.
7:16 (Sách Phục
Luật) “ Ngươi phải diệt các
dân tộc mà Thiên Chúa của
ngươi đã giao cho ngươi”.
- Deuteromy
18:10 “Phải
giết hết các thầy pháp và
các thầy bùa ngải”.
- Leviticus
19:26 “Thiên
Chúa sẽ đối mặt với các kẻ
làm thầy pháp và giết hết
bọn này trước mặt dân
chúng”.
- Levi. 20:26-27
“Những kẻ làm phù
thủy hoặc bói toán phải được
đem ra giết hết”.
Giáo
hoàng và bọn quan
án
đạo đã vận dụng cái ngu và
cái ác của Thiên Chúa trong
Kinh Thánh hợp với cái ngu
và lòng mê tín ác nghiệt của
chúng để tạo thành một căn
bản luật pháp tôn giáo. Bọn
chúng đã dám dựa vào cái
lòng tin
ngu xuẩn của chúng để
ra lệnh tàn sát bao nhiêu
ngàn sinh linh! Trong 300
năm, từ 1450 đến 1750, ít
nhất cũng có 200,000 phụ nữ
bị thiêu sống dưới cái tội
danh “phù thủy” vu
vơ,
không có thật. Tội danh này
thật sự đã được tạo ra do sự
tưởng tượng của những kẻ
nặng đầu óc mê tín mà thôi.
II.
Quan Niệm của đạo Hồi
về Phụ Nữ.
Số tín
đồ Hồi giáo hiện nay trên 1
tỷ 200 triệu, trải rộng khắp
các lục địa gồm nhiều quốc
gia dân tộc với những tục lệ
và luật pháp khác nhau. Do
đó, số phận của phụ nữ mỗi
nơi một khác. Tuy nhiên,
vượt lên trên mọi dị biệt
của địa phương, kinh thánh
Koran và “thánh luật” Sharia
là hai bộ sách luật pháp tối
cao quyết định phần lớn số
phận của người phụ nữ Hồi
giáo.
- Koran
33:53
“Phụ nữ
phải mặc kín đáo hoàn toàn,
không được để lộ phần nào
của cơ thể trước mặt bất cứ
một người đàn ông nào, bao
gồm cả mặt và tay”.
- Koran
4:34
“Đàn ông có thẩm
quyền trên người đàn bà.
Chúa sinh ra đàn ông cao qúi
hơn đàn bà. Đối với phụ nữ
không biết vâng lời, đàn ông
có quyền ruồng bỏ và đánh
đập”.
- Koran
2:22
“Đàn bà là “cánh
đồng lạc thú”, đàn ông có
quyền chủ động bước vào nếu
muốn”.
Các
thánh tử đạo lên thiên đàng
được chúa Allah cấp cho mỗi
người
72 trinh nữ để hưởng
lạc suốt đời. Kinh Koran coi
“Thiên Đường là khu vườn của
lạc thú nhục dục muôn đời”.
Đàn ông
không có tội “ngoại tình” vì
có quyền lấy nhiều vợ.
Đàn bà không
được
lấy người thứ hai
ngoài chồng.
Khi bị
buộc vào tội ngoại tình thì
người đàn bà phải bị đưa ra
cho công chúng ném đá cho
đền chết.
Tại
Afganistan, phụ nữ không
được đi học. Các cán bộ tôn
giáo có nhiệm vụ như cảnh
sát. Họ được trang bị một
cái roi dài, quấn dây cáp
bằng thép, dùng để đánh bất
cứ một phụ nữ nào trên đường
phố mà mặc y phục không đúng
qui định, như mặc quần áo bó
sát thân hình, để lộ vớ
trắng ở bàn chân, đeo nữ
trang, đi giầy gây tiếng
kêu. Phụ nữ bị cấm đi học,
cấm làm việc, cấm đi
xe
đạp, v.v...
Tuy
nhiên, mọi sự cấm đoán vô lý
và quá đáng cuối cùng sẽ bị
phản ứng ngược lại.
Xưa kia,
trong thế giới Hồi giáo ít
có ai dám viết sách chống
lại đạo Hồi. Cách đây vài
thập niên, nhà văn Anh gốc
Ấn rất nổi tiếng là Salmon
Rushdie đã dám viết tiểu
thuyết “Satanic Verses”
chống đạo Hồi và bị giáo chủ
Khomeni lên
án
tử hình. Nhưng ngày nay,
người ta thấy có nhiều sách
do chính các tín đồ Hồi giáo
viết để lên
án
Hồi giáo và kêu gọi cải tổ.
Chẳng hạn như tác phẩm “Tại
sao tôi không
theo
đạo Hồi” (Why I am not a
Muslim) của Ign Warra
(Prometheus Books xuất bản
năm 2003). Ngay ở trang đầu
cuốn sách, tác giả đã trích
dẫn câu nói rất nổi tiếng
của triết gia kiêm sử gia
Pháp Joseph Ernest Renan
(1823-1892): “Những tín đồ
Hồi giáo là những nạn nhân
đầu tiên của đạo Hồi. Rất
nhiều lần trong các cuộc du
lịch của tôi tại phương
Đông, tôi thấy sự cuồng tín
của một nhóm ít người nguy
hiểm đã buộc người khác phải
theo
đạo bằng cách khủng bố. Giải
phóng tín đồ Hồi giáo thoát
ra khỏi tôn giáo của họ là
việc làm tốt nhất mà chúng
ta có thể làm cho họ”
(Muslims are the fisrt
victims of Islam. Many times
I have observed in my
travels in the Orient, that
fanatism comes from a small
number of dangerous men who
maintain the others in the
practice of religion by
terror. To liberate the
Muslim from his religion is
the best service that one
can render him).
Điều
làm tôi cảm thấy vui là mới
đây xuất hiện một cuốn sách
tựa đề “Chuyện rắc rối với
đạo Hồi” (The Trouble with
Islam) của Irshad Manjii,
một nữ tín đồ Hồi giáo ở
Đông-Phi (East Africa),
Random House, Canada xuất
bản 2003. Tác giả tố cáo các
chính quyền Hồi giáo trên
khắp thế giới xâm phạm nữ
quyền và kêu gọi toàn toàn
thế giới can thiệp để cải tổ
đạo Hồi
:
- Tại Nigeria, một cô gái
17 tuổi bị các bạn của cha
cô hiếp dâm; có 7 nhân
chứng, nhưng cô ta vẫn bị
tòa án
Hồi giáo phạt đánh 180 roi.
- Tại Pakistan, hiện nay
mỗi ngày có ít nhất 2 phụ nữ
bị giết vì “honor killing”
- Tại Tunisia và Algéria,
phụ nữ Hồi không được lấy
chồng ngoài đạo Hồi.
- Cảnh sát Saudi Arabia bắt
giam các phụ nữ mua hoa, quà
tặng, hay mặc áo đỏ trong
dịp lễ Valentine.
- Khi vào đền thờ Hồi giáo,
đàn ông và đàn bà đi vào
bằng các cửa khác nhau. Đàn
bà đứng sau đàn ông, do đó
đàn bà có thể nhìn thấy đàn
ông, nhưng đàn ông không
nhìn thấy đàn bà. Trong đền
thờ, chỉ đàn ông có quyền
điều khiển các buổi đọc
kinh. Đàn bà bị cấm triệt
để, vì kinh Koran đã qui
định rõ như
vậy :
“Girls can’t lead prayer.
They are not permitted”.
Irshad
Manjii là một phụ nữ Hồi
giáo trẻ
tuổi đã khám phá ra
một điều mà tác giả cho là
mới mẻ và đáng ngạc nhiên.
Trước đó, Manjii nghĩ Hồi
giáo là một tôn giáo riêng
biệt, nhưng sau đó Manjii
mới biết Hồi giáo đã phát
sinh từ truyền thống Do Thái
– Kitô giáo (Islam comes
from Judae-Christian
traditions). Do Thái giáo,
Kitô giáo và Hồi giáo là ba
đạo độc thần, đều là con
cháu của một ông tổ
chung
là Abraham. Hồi giáo là món
quà tặng từ Do Thái giáo
(Islam is a gift of the
Jews). Vấn đề được đặt ra là
tại sao Hồi giáo, Do Thái
giáo và Kitô giáo lại căm
thù nhau, chem giết nhau
không nương
tay.
Đáng lẽ cả ba đạo phải thân
thiết nhau mới phải, vì cả
hai đều thờ
chung
một Chúa và cùng một gốc
Abraham! Lý do đơn giản là
bản chất của độc thần giáo
là tự cho đạo của mình có
độc quyền chân lý, là “chánh
đạo” còn tất cả những ai có
ý nghĩ khác họ là “tà đạo”.
III. Thái độ tôn trọng và ca ngợi
phụ nữ trong văn chương bình
dân Việt Nam.
Dân
tộc chúng ta theo truyền
thống thờ cúng Tổ Tiên, nên
rất tôn kính Ông Bà, Cha Mẹ.
Chúng ta coi cha mẹ ngang
nhau :
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong
nguồn chảy ra.
Một
lòng thờ mẹ, kính cha
Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo
con.
Cha mẹ
là hình ảnh của vợ chồng vì
phải là vợ chồng rồi mới
thành cha mẹ. Vợ chồng
là đầu mối của gia đình, gia
tộc và dân tộc. Vì
tầm mức quan trọng của mối
liên hệ vợ chồng như vậy,
nên dân tộc ta đã đưa mối
liên hệ vợ chồng thành “Đạo
Vợ Chông”, đặt trên căn bản
kết ước lâu dài trọn cuộc
đời :
Đạo
vợ chồng khó lắm anh ơi
Không như ong bướm đậu rồi
lại đi.
Vợ
chồng bình đẳng và lo giúp
đỡ nhau tác động hai chiều:
Xét
ra trong đạo vợ chồng
Cùng nhau nương cậy để phòng
nắng mưa.
Đôi
ta như rắn liu
điu
Nước chảy mặc nước, ta đìu
lấy nhau.
Đạo
vợ chồng đừng có đổi thay
Làm
nên danh vọng hay
ăn
mày cũng theo.
Thuận vợ, thuận chồng
Tát bể Đông cũng cạn.
Trong
đời sống gia đình Việt Nam,
người phụ nữ luôn luôn đóng
vai chính, biểu lộ lòng yêu
thương và hy sinh cho gia
đình, luôn luôn cần cù siêng
năng, chịu khó chịu khổ, tự
lực tự cường, chỉ biết trông
cậy vào sức mình để lo bản
thân, cho gia đình, cho con
cái, cho dòng tộc và luôn
cho cả đất nước. Phụ nữ Việt
Nam giống như hình ảnh con
cò trên đồng
ruộng :
Trời sinh mẹ đẻ
tay
không
Nên
tôi bay khắp tây đông kiếm
mồi
Trước là nuôi cái thân tôi
Sau
nuôi đàn trẻ nên đời cò con
Một
mai khôn lớn vuông tròn
Rủ
nhay bay khắp nước non xa
gần.
Nhà
thơ Tú Xương ví vợ của ông
như con cò ở ven
sông :
Thân cò lặn lội bờ sông
Nuôi đủ năm con với một
chồng.
Lịch
sử Việt Nam cho thấy nhiều
phụ nữ là những anh thư liệt
sĩ, như bà Triệu, bà Trưng,
Nguyễn thị
Xuân :
Giặc đến nhà, đàn bà phải
đánh.
Ghé
vai gánh vác sơn hà
Làm
cho rõ mặt đàn bà nước Nam.
Phụ nữ
Việt còn biểu lộ đức tính tự
trọng, và hiên ngang lên
tiếng chống lại cường quyền.
Dưới thời nhà Nguyễn, nhiều
nhà nho bị hủ hóa vì tư
tưởng Tống Nho, khinh thường
văn hóa nước
nhà :
“Nôm na là cha mách qué”
coi
các nguyên tắc cứng ngắc của
Khổng Mạnh như những khuôn
vàng thước ngọc. Bà vợ Việt
Nam chống lại ông chồng hủ
nho chỉ biết trọng cái vỏ hư
danh bề ngoài mà không biết
lo thực
tế :
Ra
ngoài làm dáng anh đồ
Về
nhà hỏi vợ: “Cám khô đâu
mày?”
Cám
khô tao để cối xay
Chó
mà ăn
hết thì mày đừng ăn.
Ngày
6-3-1828, vua Minh Mạng ra
chiếu chỉ cấm phụ nữ không
được mặc váy. Phụ nữ
dám dùng lời mỉa mai châm
biếm chống lại triều
đình :
Chiếu Vua mồng sáu tháng ba,
Cấm
quần không đáy người ta hãi
hùng
Không đi thì chợ không đông
Đi
thì bắt lột quần chồng sao
đang!
Có một
đức tính rất đặc biệt ở
người phụ nữ Việt Nam mà ít
có phụ nữ của một nước nào
khác có thể có được.
Đó là đức tính nhẫn
nhịn :
Một
câu
nhịn, chín câu lành.
Chữ “Nhẫn” là chữ
tượng vàng,
Ai
mà nhẫn được thì càng sống
lâu.
Chồng giận thì vợ bớt
lời
Cơm sôi nhỏ lửa thì đời nào
khê.
Nói đây cho chị em nhà
Còn dăm bát gạo, còn
vài lạng bông
Bán đi trả nợ cho
chồng
Còn ăn, hết nhịn, bằng
lòng chồng con
Đắng cay ngậm quả bồ hòn.
Vì có
nhiều đức tính cao qúi nên
phụ nữ Việt Nam được tôn
trọng từ trong gia đình đến
ngoài xã hội. Trong
một số trường hợp, ý kiến
của phụ nữ còn được tôn
trọng hơn ý kiến của
chồng :
Lệnh ông không bằng cồng bà
Có một
câu nói phổ biến trong dân
gian, câu nói đó không vần
không điệu nhưng cũng rất
thông thường trên cửa miệng
nhiều người đàn ông Việt
Nam. Đó là
câu “Nhất Vợ, nhì Trời”.
Dù cho
câu nói này chỉ là một câu
nói đùa, nhưng nó vẫn là một
câu nói độc đáo, vì trong
các nền văn hóa độc thần
không thể nào có một câu nói
tương tự. Những câu
nói như “Con cóc là cậu
ông Trời” chỉ có thể có
trong văn hóa Việt Nam, vì
đại đa số dân tộc Việt
Nam , tuy hay nói tới “Ông
Trời”, nhưng không bao giờ
họ tin rằng Ông Trời là Đấng
Tối Cao hay Đấng Tạo Hóa
Toàn Năng. Các
linh mục Công giáo và các
mục sư Tin Lành luôn luôn
viết sách, viết báo, giảng
đạo trên đài phát thanh hay
trong các giáo đường, cố
gắng đồng hóa “ông Trời” của
văn hóa Việt với “Đức Chúa
Trời” của đạo KiTô. Họ hí
hửng tin rằng: hề người Việt
Nam tin có “ông Trời” sẽ
đương nhiên tin có “Đức Chúa
Trời” mà họ tôn thờ. Thực
sự, đối với người Việt Nam,
“ông Trời” chỉ là bầu trời
xanh, là năng lực thiên
nhiên, là sự vận hành của vũ
trụ, ... Thế còn sao lại gọi
Trời bằng “ông”. Thưa rằng
ngưòi Việt chúng tôi còn gọi
nhiều “vật” bằng “ông” lắm,
như “ông bình vôi”, “ông ba
mươi”, v.v... Khi người bình
dân Việt
nói “Nhất Vợ Nhì
Trời” là họ thật sự đặt
các bà xã của họ ngồi lên
đầu “Ông Trời” đó. Tôi
khuyên các linh mục Công
giáo và các mục sư Thệ Phản
giáo không nên ví “ông Trời”
của văn hóa Việt với Chúa
Trời của các ông, kẻo bị
hiểu nhầm là các bà xã ở nhà
được ngồi trên đầu Chúa!
Charlie Nguyễn
Lập Xuân 2004
Các chương khác trong sách:
Alexandre De Rhodes và Chữ Quốc Ngữ Con Đường Cụt của Vatican ... Các Hoạt Động Chính Trị của Đạo Quân Thứ 5 Hồ Sơ Tội Ác của Hội Thừa Sai ... In God We Trust Màn Kịch Lộ Đức Một Vấn Đề về Huyền Thoại Giáng Sinh Nhận Xét về Thư của Phan Dình Diệm Quan Niệm Ông Trời của Người Việt Từ Thái Độ Khinh Miệt ... Việt Nam cần thực hiện ... Đòi Lại Đất bị Nhà Thờ Chiếm Đoạt Độc Thần Giáo ...
|