|
IN GOD WE TRUST
Theo bản
tin đăng trên Giao Điểm số 42
(trang 77-79) thì vụ biến động
của người Thượng ở Pleiku đầu
năm 2001 cho thấy có âm mưu
ngoại bang xử dụng chiêu bài tôn
giáo phá hoại an ninh xã hội và
sự vẹn toàn lãnh thổ nước ta.
Những người Thượng Tin Lành nổi
loạn này hầu như không màng tới
việc làm ăn
mà chỉ lo sẵn sàng khăn gói để
chờ một thế lực nào đó từ Mỹ sẽ
đến bốc họ đi, rồi sau đó sẽ đưa
họ về giải phóng quê hương miền
cao để thành lập một Quốc Gia
Tin Lành!
Sau khi
đọc bản tin này, tôi không khỏi
lo ngại liên tưởng đến những vụ
nội chiến vì lý do tôn giáo ở
Đông Timor thuộc Indonesia và
Basilan thuộc Philipines.
Indonesia,
còn gọi là Nam Dương, có 228
triệu dân, khoảng 91%
theo
đạo Hồi và khoảng 9% (tức 20
triệu dân) theo đạo Công giáo La
Mã. Đầu thế kỷ XVI, song song
với người Tây Ban Nha giảng đạo
ở Việt Nam thì người Bồ Đào Nha
vào giảng đạo ở Nam Dương. Đa số
tín đồ Công giáo định cư ở phía
đông đảo Timor. Sau khi Nam
Dương trở thành một nước độc lập
vào năm 1945, những người Công
giáo ở Đông Timor bắt đầu nổi
dậy và phát động một cuộc nội
chiến đẫm máu chống chính quyền
trung ương Hồi giáo. Sau hơn 40
năm chiến tranh gây thiệt mạng
cho trên một triệu binh sĩ và
dân lành, cuối cùng chính phủ
Nam Dương đã phải chấp thuận cho
Đông Timor tách rời để trở thành
một nước độc lập từ tháng 8/99
vừa qua.
Trường hợp
của Philippines thì ngược lại:
Philippines có 74 triệu dân.
Khoảng 92%
theo đạo Công giáo La Mã,
khoảng 6 triệu dân theo đạo Hồi,
qui tụ tại đảo Mindanao và đảo
Basilan. Những người Phi này có
tổ tiên theo
đạo Hồi từ thế kỷ XIV, tức hai
thế kỷ trước khi đạo Công giáo
xâm nhập nước này. Trải qua
nhiều thế kỷ bị đàn áp tàn bạo
bởi chính quyền thuộc địa Tây
Ban Nha và giáo quyền Công giáo
La Mã, những người Phi Hồi giáo
đã kiên cường bảo vệ tôn giáo
của họ cho tới ngày nay.
Cuộc chiến
tranh đòi tự trị của những người
Phi Hồi giáo chống chính phủ đã
khởi đầu từ nhiều chục năm qua
đến nay vẫn tiếp diễn. Để
đạt những mục tiêu chính trị,
những người Phi Hồi giáo đã áp
dụng chiến thuật du kích, phá
hoại và khủng bố, đặc biệt là họ
thường bắt cóc con tin.
Tôn giáo là
một sản phẩm văn hóa. Khi xâm nhập
một lãnh thổ nào đó nó thường
bước vào bằng những bước đi nhẹ
nhàng êm ái. Nhưng khi số
tín đồ của tôn giáo đạt tới mức
có thể tạo thành một lực lượng
chính trị áp đảo thì hậu quả của
nó thật khó lường.
Chỉ với mấy
cuốn sách Thánh Kinh, Vatican đã
trải rộng đế quốc của nó gần
khắp thế giới với hơn một tỷ tín
đồ và đã duy trì đế quốc của nó
gần 2000 năm.
Với cuốn
Thánh Kinh Koran, những đoàn
quân Hồi giáo Ả Rập đã chiếm
toàn bộ bán đảo Ả Rập rộng lớn,
chiếm Irag, Syria, Palestine, Ai
Cập và Iran vỏn vẹn trong vòng
10 năm. Một
thế kỷ sau khi giáo chủ Mohamét
qua đời, Hồi giáo trở thành một
đế quốc trải dài từ Bắc Phi, qua
Cận Đông, miền Nam châu Âu qua
Trung Á đến Bắc Ấn.
Đầu thế kỷ
IV, đế quốc La Mã có tham vọng
dùng Công giáo để chinh phục
toàn cầu. Đế quốc La Mã
không ngờ đạo Hồi xuất hiện vào
giữa thế kỷ thứ VII với Thánh
Kinh Koran đã phá tan tham vọng
toàn cầu của họ. Số tín đồ đạo
Hồi ngày nay lên tới 1 tỷ 200
triệu, vượt trội số tín đồ Công
giáo La Mã (khoảng 1 tỷ).
Mặc dầu
Hồi giáo và Ki-tô giáo đều có
chung
cội nguồn là Kinh Thánh Cựu Ước
Do Thái, cùng chung ông tổ
Abraham và cùng thờ một Thiên
Chúa (God) nhưng hai đạo này đã
quan niệm về Thiên Chúa hoàn
toàn khác nhau.
Ki-tô giáo
tin Thiên Chúa có ba ngôi. Thiên Chúa
Cha sinh ra Thiên Chúa Con
(Jesus). Jesus là
người thường lại được Ki-tô giáo
suy tôn làm Thiên Chúa.
Bà Maria, mẹ của Jesus, được
Ki-tô giáo tôn lên làm Mẹ Thiên
Chúa!
Tất cả các
giáo lý nói trên đều bị kinh
Koran thẳng thừng bác bỏ.
Kinh Koran
ghi rõ: “Bà Maira chẳng bao giờ
nhận rằng bà ta là Mẹ Thiên Chúa
hoặc con của bà ta là Chúa”.
(She never claimed she was
Mother of God or her son was God
– Koran 5:75). Kinh Koran kết
án
những người Ki-tô giáo là nhục
mạ Thiên Chúa khi nói Thiên Chúa
chỉ là một trong ba ngôi. (They
do blaspheme who say God is one
of three – Koran 5:75)
“Thiên Chúa
là một ngôi duy nhất.
Thiên Chúa chẳng sinh ra đứa con
nào và cũng chẳng do ai sinh
ra”. (God is one. He begot none
nor was he begotten – Koran
112:1-4).
Khi trình bày những điều nói
trên, tôi không có ý bài bác
những giáo lý Ki-tô giáo.
Tôi chỉ có ý làm sáng tỏ một sự
thật lịch sử: không phải sức
mạnh quân sự của Hồi giáo đã
chận đứng khả năng bành trướng
của Ki-tô giáo mà chính sức mạnh
văn hóa của Hồi giáo đã phá tan
mộng ước toàn cầu hóa của đạo
Ki-tô. Một bài học lịch sử khác
đã chứng tỏ rằng: Sức mạnh quân
sự thuần túy nếu không kèm
theo
sức mạnh văn hóa hỗ trợ thì sớm
muộn sẽ bị tiêu diệt.
Đó là trường
hợp Mông Cổ.
Đầu thế kỷ
XIII, Genghis Khan
thống
nhất các bộ lạc Mông Cổ rồi xua
quân đi chinh phục thế giới. Chỉ
trong mấy năm, quân Mông Cổ đã
tạo nên một đế quốc rộng lớn bao
gồm Trung Quốc, qua Trung Á và
phía Nam nước Nga, qua Thổ Nhĩ
Kỳ tới các nước Cận Đông.
Nhưng quân
Mông Cổ hoàn toàn chỉ có sức
mạnh quân sự chứ không có một
sản phẩm văn hóa nào. Kết quả là
chỉ sau vài thế hệ, đoàn quân
chiến thắng Mông Cổ ở Trung Quốc
đã bị Hán hóa. Cuối thế
kỷ XIII, những vua chúa Mông Cổ
ở Bắc Ấn đã
theo đạo hồi và tạo nên
các triều đại Hồi giáo Mughul
(do chữ Mongol mà ra).
Dần dần, các
người Mông Cổ đã bị hoàn toàn
đồng hóa vào dân địa phương.
Những
người Tây-phương trước đây đã
hiểu rõ sức mạnh của văn hóa nên
họ đã xâm
lăng nước ta bằng văn hóa
Ki-tô trước rồi mới xâm lăng
bằng súng đạn sau.
Ngày nay,
mặc dầu không còn bóng quân xâm
lược trên lãnh thổ Việt Nam
nhưng vẫn còn tồn tại một đạo
quân thứ năm không nhỏ của địch,
dưới hình thức một giáo hội nô
lệ ngoại bang nằm vùng thường
trực trong lòng dân tộc.
Đại họa này
chưa dứt thì một đại họa khác
đang nhen nhúm trên miền cao
nguyên Trung Phần Việt Nam. Đó là những
hành động đầy tham vọng của một
số những giáo phái Tin Lành lớn
tại Mỹ đang muốn trở thành những
thế lực của chủ nghĩa đế quốc
tinh thần (spiritual
imperialism). Những nhóm
này hoạt động ráo riết từ giữa
thế kỷ XX đến nay trên phạm
vi
toàn thế giới. Giáo phái Baptist
đã tung
ra trên 3000 nhân viên truyền
giáo hoạt động trong 94 quốc
gia. Tổ Chức
Thanh Niên Tin Lành
(International Youth for a
Mission) hiện có trên 12.000
nhân viên giảng đạo trên khắp
thế giới. Tổ Chức Thập
Tự Quân Tin Lành (The Giant
Campus Crusade) có nhiều ngàn
nhân viên truyền giáo hoạt động
trên 130 quốc gia từ 1960. Hầu hết mọi
quốc gia trên thế giới đều bị
các toán quân truyền đạo Tin
Lành xâm nhập từ lâu.
Riêng nước Nga, sau khi mở cửa
tự do năm 1991, chẳng những bị
xâm nhập bởi nhiều đoàn truyền
giáo Tin Lành mà còn tiếp nhận
232 tấn sách Thánh Kinh Tin Lành
bằng Nga ngữ in tại Hoa Kỳ! Trên
đây chỉ là hoạt động truyền giáo
của một số ít giáo phái Tin Lành
tiêu biểu, ngoài ra còn nhiều
giáo phái khác cũng rất lưu tâm
đến việc truyền giáo để bành
trướng thế lực của họ.
Qua những
hiện tượng tôn giáo ở Đông Timor
và Mindanao (Philippines) chúng
ta nhận thấy ở những vùng đảo
này có nhiều sắc dân và nhiều
thổ ngữ khác nhau. Nhưng cuối
cùng họ đã liên kết với nhau
thành một khối duy nhất rất chặt
chẽ trong niềm tin tôn giáo. Những dân
tộc thiểu số ở Cao Nguyên Trung
Phần cũng tương tự như vậy.
Mặc dầu họ thuộc nhiều sắc tộc
và ngôn ngữ khác nhau, nhưng một
khi đa số cùng
theo
một tôn giáo thì họ sẽ liên kết
thành một khối và tình trạng nội
chiến sẽ rất có thể xảy ra như ở
Đông Tomor hay Mindanao!
Vấn đề đặt
ra hiện nay là chúng ta phải lo
phòng bệnh hơn chữa bệnh.
Nếu thiếu cảnh giác để nhúm lửa
đó bốc lên thành đám cháy lớn e
rằng sau này dù cho có dập tắt
được đám cháy thì nhà cửa cũng
tan hoang! Vậy chúng ta hãy thử
tìm hiểu xem những người truyền
giáo đã dùng cách nào để dụ dỗ
những người Thượng và cả người
Kinh theo
đạo Tin Lành?
Thông
thường, họ luôn luôn tuyên
truyền rằng nước Mỹ giàu mạnh
nhất thế giới và Tin Lành là
quốc giáo của nước Mỹ. Do
đó, ai chịu cải đạo
theo
Tin Lành chắc chắn sẽ được giúp
đỡ về mọi mặt, tinh thần cũng
như vật chất, nhất là sẽ được dễ
dàng nhập cư Hoa Kỳ để sống một
cuộc đời giàu sang hạnh phúc...!
Nhiều người
nhẹ dạ và hám lợi dễ dàng nghe
lời dụ dỗ đã trở thành những tín
đồ Tin Lành. Một số không
lo làm ăn
mà chỉ ngóng trông các đồng đạo
Tin Lành Hoa Kỳ đến bốc họ sang
Mỹ!
Thật ra, tất
cả các luận điệu tuyên truyền
nói trên đều là lừa dối bịp bợm
vì từ xưa đến nay Hoa Kỳ chưa
từng có quốc giáo (national
religion). Nhất là Tin
Lành lại càng không thể là một
quốc giáo vì Tin Lành không phải
là một tôn giáo thuần nhất. Hiện nay tại
Mỹ khoảng 200 giáo phái Tin Lành
lớn nhỏ không đều nhau. Vậy chẳng lẽ
Hoa Kỳ có 200 quốc giáo Tin Lành
sao?
Ngoài 200
giáo phái Tin Lành, Hoa Kỳ hiện
có khoảng 53 triệu người Công
giáo, 7 triệu người Hồi giáo, 5
triệu người Do Thái giáo, vài
triệu người Anh giáo. Xét
theo
danh xưng thì có nhiều tôn giáo
khác nhau, nhưng thực ra đều là
các đạo độc thần, tức thờ cùng
một Chúa (monotheistic
religions) và cùng chung ông tổ
Abraham (Abrahamic religions).
Do đó, mặc dầu khác tôn giáo về
danh xưng nhưng tất cả đều đồng
ý tôn vinh Thượng đế (hoặc Thiên
Chúa) mà họ gọi là GOD.
Bài ca phổ
thông nhất là “God bless
America”. Tòa
án
Tối Cao Pháp Viện khai mạc phiên
họp với lời cầu nguyện “Xin Chúa
cứu nước Mỹ và tòa án này” (God
saves the United States and the
honorable court). Từ năm 1950,
do nhu cầu chống lại chủ thuyết
vô thần của Cộng sản, nước Mỹ có
thêm lời Tuyên Thệ Trung Thành
với Quốc Gia, trong đó có cụm từ
“một quốc gia dưới sự che chở
của Chúa” (a nation under God).
Mặc dù cùng nói đến God nhưng
mỗi tôn giáo nghĩ về God
theo
một cách khác nhau, chẳng ai
giống ai.
Một điều
rất cần phải nêu lên ở đây là
những người Việt Nam ở Mỹ - Công
giáo cũng như Tin Lành - cứ
tưởng rằng chữ “God” mà người Mỹ
thường nhắc tới là Thiên Chúa
của Ki-tô giáo (Christian God).
Sự thật
không phải như vậy. Chúng
ta hãy lấy tờ One Dollar ra coi
sẽ thấy: Kim tự tháp tượng trưng
cho Trật Tự Thế Tục Mới (Novus
Ordo Seclorum). Trên đỉnh Kim tự
tháp là Con Mặt Thượng đế
(All-seeing Deity) tượng trưng
cho Đấng Toàn Năng của Lý Trí
(God of Reason) hoặc còn được
gọi là Thượng Đế của Tự Nhiên
(Nature’s God). Bên phải huy
hiệu Kim tự tháp là hàng chữ IN
GOD WE TRUST biểu lộ lòng tin
tưởng của giới lãnh đạo Hoa Kỳ
vào Lý Trí để xây dựng một trật
tự xã hội thế tục.
Trong xã hội
thế tục, con người là trung tâm
phục vụ chứ không phải là Thiên
Chúa. Con người không có
bổn phận phải tôn thờ Thiên Chúa
trên hết mọi sự. Lòng sùng tín
tôn giáo là sự một đạo riêng tư
(Religion is private devotion)
không thể được coi là khuôn vàng
thước ngọc để áp đặt lên cả quốc
gia được.
Một số trí
thức Công giáo thuộc xu hướng
“Khôi phục tinh thần Ngô Đình
Diệm” thường hay giảng thuyết
trên báo chí hay trên đài phát
thanh luận điệu tuyên truyền
rằng: Sở dĩ người Mỹ trở nên văn
minh giàu có là nhờ họ biết đặt
lòng tin nơi Thiên Chúa (Ý muốn
nói Thiên Chúa Ba Ngôi của Công
giáo). Phần lớn người Mỹ đặt nền
tảng đời sống đạo đức của họ
trên Kinh Thánh Tân Ước và Cựu
Ước. Điều này có thể đúng về
phương diện biểu kiến, vì quả
thực đại đa số dân Mỹ là những
người Ki-tô hữu (Christians).
Tuy nhiên,
hoàn cảnh của nước Mỹ rất đặc
biệt là ngay từ những ngày đầu
lập quốc đến nay, những vị lập
quốc và những vị thật sự lãnh
đạo nước Mỹ lại không hẳn là
những người Ki-tô hữu.
Trái lại, họ là những người có
tinh thần khai sáng và thuần lý
(enlightened and reasonable
men), hậu duệ của John Locke,
Voltaire, Jean Jacques Rousseau,
Thomas Paine...
Đó là những
người công khai phủ nhận giáo lý
Ki-tô giáo. Dưới sự lãnh
đạo khôn khéo và kín đáo của họ,
Ki-tô giáo chẳng những không bao
giờ trở thành quốc giáo mà trái
lại đang đi vào con đường mỗi
ngày một suy thoái. Bề ngoài có
vẻ như hai đảng Dân Chủ và Cộng
Hòa thay đổi nhau lên nắm chính
quyền cai
trị đất nước.
Trong thực
tế, luôn luôn có một
siêu-quyền-lực bao trùm trên cả
hai đảng.
Siêu-quyền-lực này làm trọng tài
cho mọi tranh chấp chính trị và
giữ cho đường lối chính sách của
Hoa Kỳ có tính nhất quán trải
qua các giai đoạn lịch sử.
Cũng trên
phương diện hình thức, nước Mỹ
theo
đuổi chính sách đa văn hóa
(multicultural) nhưng trên thực
tế thì chủ nghĩa nhân đạo thế
tục (secular humanisme) mới thật
sự chi phối đời sống văn hóa
chính trị của mọi người dân Hoa
Kỳ.
Trên khắp
nước Mỹ, đi đâu chúng ta cũng
thấy san sát những giáo đường
lớn nhỏ và ở mọi nơi mọi lúc
người ta thường nói nhiều đến
Thượng Đế (GOD).
Nhưng vấn đề
quan trọng không phải ở số đông.
Vấn đề chủ yếu là những người
lãnh đạo ở thượng tầng nước Mỹ
quan niệm thế nào về Thượng Đế.
Đó là những vấn đề chúng ta sẽ
tìm hiểu sau đây:
I. Là một quốc gia đa-văn-hóa
(multicultura) Hoa Kỳ không bao
giờ chấp nhận một quốc giáo.
Đầu thế kỷ
XVI, những người đầu tiên đến Mỹ
là những kẻ có óc phiêu lưu làm
giầu. Sau đó là những làn
sóng người tỵ nạn tôn giáo:
Những người Puritams (Thanh
giáo) và Quakers bị ngược đãi
tại Anh quốc, những người Tin
Lành như Lutherans, Calvinists
bị Công giáo bách hại tại Âu
châu. Cho đến khi Hoa Kỳ tuyên
bố độc lập năm 1776, dân số Mỹ
là 2 triệu rưỡi, 60% là người
Anh – đa số theo tin lành, còn
lại là Anh giáo – 12% là những
người Tô Cách Lan, Hòa Lan và
Đức, đa số cũng theo Tin Lành –
28% còn lại là những người nô lệ
da đen, không có quyền công dân.
Bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX đến
đầu thế kỷ XX, nhiều làn sóng di
dân từ Đông và Nam Âu Châu sang
Mỹ, đa số là Công giáo và Do
Thái. Dân Mỹ
Tin Lành phản đối bằng cách lập
ra đảng khủng bố Ku-Klux-Klan
nhắm vào Do Thái, Công giáo và
người da đen. Nhiều nhà
thờ Công giáo và Do Thái bị đốt,
nhiều người da đen bị sát hại.
Chính quyền trung ương chủ
trương theo
đuổi chính sách đa văn hóa nên
đã áp dụng chính sách trấn áp
đảng khủng bố Ku-Klux-Klan.
Trong thập niên 1870, chính phủ
Mỹ cho nhập cư rất nhiều dân các
nước Ả Rập theo đạo Hồi và trong
thập niên 1960 cho nhập cư ồ ạt
các di dân thuộc Ấn Độ, Pakistan
và Bangladesh, đa số theo đạo
Hồi. Hiện
nay, số tín đồ Hồi giáo tại Mỹ
lên tới 7 triệu người.
Trước đây,
người Mỹ thường tự nhận nền văn
minh của họ có truyền thống Do
Thái – Ki-tô (Judeo – Christian
tradition). Trong dịp lễ
nhậm chức của tân tổng thống
Bush vào đầu năm 2001, giáo sư
Stephen Prothero thuộc Đại Học
Boston đã đề nghị sửa lại cho
đúng với thực tế là
“Judeo-Christian – Islamic
tradition” vì công dân Mỹ
theo
đạo Hồi hiện nay đông hơn người
Mỹ Do Thái giáo!
Ngoài ra,
nước Mỹ hiện có đủ các sắc dân
trên thế giới với đủ mọi tôn
giáo thuộc mọi nguồn gốc văn
hóa. Do đặc tính đa chủng
và đa văn hóa, xã hội Mỹ không
thể có một sự đồng thuận để chấp
nhận bất cứ một tôn giáo nào là
tôn giáo chính thức của quốc
gia. Các
giáo phái Tin Lành, mặc dầu đã
chiếm đa số từ ngày lập quốc đến
nay, vẫn chưa bao giờ và sẽ
không bao giờ trở thành quốc
giáo tại Hoa Kỳ.
II. Chủ nghĩa nhân đạo thế tục
(Secular Humanism) luôn luôn
thống lãnh đời sống văn hóa
chính trị Hoa Kỳ.
Các nhà
lập quốc Hoa Kỳ là những bộ óc
sáng suốt thấu triệt những hậu
quả tai
hại của tôn giáo tại Âu châu. Do
đó, ngay từ đầu họ đã
theo
đuổi chủ nghĩa nhân đạo thế tục
mà yếu tố chủ chốt là sự phân
chia rõ rệt giữa tôn giáo và nhà
nước (Strict separation of
religion and government).
Đó chính là
nguyên tắc bảo đảm không cho
phép bất cứ một tôn giáo nào có
thể áp đặt giáo điều của mình
lên đời sống toàn dân. Đó
cũng là nguyên tắc chiến đấu cho
con người được tự do sử dụng lý
trí của mình để hướng dẫn cuộc
sống của chính mình và chống lại
bọn cuồng tín làm công cụ cho
các thế lực thần quyền đen tối.
Chính vì
vậy, Hiến pháp Hoa Kỳ và Bản
Tuyên Ngôn Nhân Quyền đã minh
thị ngăn cấm chính quyền thiết
lập một quốc giáo và ngăn cấm
tôn giáo xen vào chính trị.
Từ ngày lập quốc đến nay đã hơn
hai thế kỷ, nước Mỹ vẫn luôn
luôn trung thành với chủ nghĩa
Nhân Đạo Thế Tục. Đó là chủ
nghĩa coi trọng những lợi ích,
ước vọng và giá trị của con
người hơn là niềm tin tôn giáo.
(Secular humanism = A philosophy
that elevates human interests,
desires and values over
religious beliefs). Trong ý
nghĩa đó, quyền tự do ngôn luận
(Freedom of speech) và quyền tự
do báo chí (Freedom of Press)
được coi trọng hơn tự do tín
ngưỡng (Religious Freedom) như
ta thấy trong vụ phim The last
Temptation of Christ (Cơn cám dỗ
cuối cùng của chúa Ki-tô). Cuốn
phim này được mô phỏng
theo
cuốn tiểu thuyết cùng tên của
nhà văn Hy Lạp Nikos Kazantzaki,
xuất bản năm 1951.
Nhà đạo diễn
Mỹ Martin Scarsese dựng thành
phim năm 1988. Theo giáo
lý Ki-tô thì Jesus có hai bản
tính: bản tính con người và bản
tính Thiên Chúa.
Tác giả cốt
truyện cũng như nhà làm phim bỏ
qua tính Thiên Chúa của Jesus để
chỉ mô tả về tính “người” của
Jusus mà thôi. Tất nhiên,
với tư cách là con người, Jesus
cũng có những đau khổ, những
thèm muốn và cũng bị cám dỗ như
mọi người chúng ta. Đó cũng là
lẽ thường trong đời sống thật
của Jesus. Tuy nhiên,
những người cuồng tín Công giáo
cũng như Tin Lành đều không muốn
nhìn thấy sự thật vì nó làm giảm
đi sự kính trọng của họ đối với
Jesus vốn đã được thần thánh hóa
quá mức. Tài tử
Willem Dafoe đóng vai Jesus. Cuốn phim đã
làm cho những người Ki-tô giáo
tức giận vì đã mô tả giấc mơ của
Jesus khi Ngài bị treo trên thập
giá. Trong cơn đau đớn
cùng cực, Jesus ước muốn được
làm một người bình thường chứ
không muốn làm đấng cứu thế.
Jesus muốn
trở về đời thường, cưới Mary
Magdelene làm vợ và có con với
nàng.
Magdelene nguyên là một cô gái
điếm nhưng đã tha thiết yêu
Jesus từ lâu. Hầu như
Jesus đi đâu cũng có mặt nàng ở
đó.
Nàng luôn luôn chăm sóc Jesus
như một người vợ đảm đang yêu
chồng. Trong cơn hấp hối,
Jesus cảm thấy yêu nàng vô cùng.
Jesus chẳng
tha thiết gì với cái trò cứu
chuộc và cũng chẳng màng tới
việc trở về với Đức Chúa Cha như
người ta gán ép. Niềm khát
khao lớn nhất của Jesus là làm
tình với Magdelene. Cuốn phim
trình bày cảnh Jesus làm tình
với Magdelene như một cặp vợ
chồng bình thường.
Nhiều
người Ki-tô giáo bảo thủ kịch
liệt kết án
cuốn phim là nhục mạ Thiên Chúa
của họ. Các
rạp chiếu bóng trên khắp nước Mỹ
bị những người biểu tình bao vây
ngăn chặn không cho khán giả vào
rạp coi phim “The last
Temptation of Christ”.
Nhiều tổ chức Ki-tô giáo vận
động với chính quyền tiểu bang
hay thành phố ra lệnh cấm lưu
hành cuốn phim này.
Nội vụ được
đưa lên Tối Cao Pháp Viện.
Kết quả, Tối Cao Pháp Viện xác
định quyền làm phim là quyền tự
do phát biểu tư tưởng (freedom
of expression), do đó mọi việc
ngăn cản chiếu phim nói trên đều
vi
hiến.
Tu chính
án 14
còn đi xa hơn nữa: chính sách
của chính phủ phải theo đuổi mục
tiêu thế tục hoặc vô tôn giáo (a
government policy must have a
secular or non – religious
purpose). Do đó, trong thập niên
1960, Tối Cao Pháp Viện Mỹ đã
cấm các trường công lập không
được tổ chức đọc kinh cầu nguyện
và không được đọc Thánh kinh
trong trường. Ngoài ra, Tu Chính
án 14
còn ngăn cấm các cơ quan chính
quyền không được hỗ trợ một tôn
giáo nào (A government policy
must neither inhibit nor advance
religion to any significant
degree). Do những qui định của
luật pháp và hiến pháp Hoa Kỳ
rất chặt chẽ nhằm ngăn chặn mọi
sự lạm dụng của tôn giáo, thiết
tưởng những hoạt động truyền
giáo Tin Lành hiện nay ở Việt
Nam chỉ là những hoạt động tư
nhân mà thôi. Nếu phát hiện có
một cơ quan nào của chính phủ hỗ
trợ cho các việc truyền giáo nói
trên ở Việt Nam hiện nay, chúng
ta cần lên tiếng tố cáo trước dư
luận . Những cơ
quan đó có thể bị truy tố vì họ
đã vi phạm Hiến pháp và luật
pháp Hoa Kỳ.
III. Ý
nghĩa đích thực của phương châm
“IN GOD WE TRUST”
Năm 1814,
Francis Scott Key sáng tác bài
thơ “The Star-sprangled Banner”.
Câu thứ tư của bài thơ này là:
“In God is our trust”. Năm 1864,
Bộ Trưởng Ngân Khố Salmon P.
Chase sửa lại thành IN GOD WE
TRUST và xin chính phủ cho phép
in câu này trên các đồng coins
(tiền kẽm). Chính phủ chấp thuận
nên câu này được in trên các
đồng coins từ đó. Năm 1956, Quốc
hội Mỹ công nhận câu “IN GOD WE
TRUST” là phương châm chính thức
của nước Mỹ (the US Motto) và
phương châm này được in trên các
đồng tiền giấy cũng như các đồng
coins của Mỹ.
Nhân tiện
cũng xin nói thêm về tiền giấy
của Mỹ: Mặc dầu gọi là tiền giấy
(paper money) nhưng thực sự là
vải, vì nó gồm có: 75% bông, 20%
nylon-polyester và 5% hóa chất.
Công ty CRANE độc quyền chế tạo
tiền có nam châm (magnetic ink)
được chế tạo theo một công thức
bí mật của Bureau of Engraving
and Printing ở Washington D.C.
Hình thức và khuôn khổ của tờ
giấy bạc Mỹ như ta thấy hiện nay
đã bắt đầu từ 1862.
Như ta đã
biết, trên tờ giấy bạc và đồng
coins nào cũng có phương châm IN
GOD WE TRUST, nhưng chỉ trên tờ
ONE DOLLAR mới có sự giải thích
ý nghĩa của nó mà thôi.
Kim
Tự Tháp là biểu tượng cho nền
tảng vững chắc của sự phát triển
nước Mỹ trong tương lai (the
strong base of future growth). Kim tự tháp
chưa có đỉnh hàm ý sự kiến tạo
chưa hoàn thành. Chân kim
tự tháp có hàng số La mã
MDCCLXXBVI (1776) mang ý nghĩa
đời sống chính trị văn hóa và sự
phát triển
nước Mỹ đặt trên căn bản là Bản
Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ
năm 1776. Jefferson là người
soạn thảo Bản Tuyên Ngôn Độc Lập
và đóng vai trò trọng yếu trong
thời kỳ Cách Mạng Hoa Kỳ. Quan
điểm triết học và chính trị của
Jefferson chịu ảnh hưởng sâu đậm
tác phẩm Law of Nature (Luật
Thiên Nhiên) của triết gia Anh
Quốc John Locke (1632-1704), tư
tưởng của Locke đã đi vào Bản
Tuyên Ngôn Độc Lập và đã trở
thành yếu tố quan trọng trong
truyền thống trí thức (the
inellectual tradition) của giới
lãnh đạo Mỹ. Locke quan niệm
Thượng Đế là Thiên Nhiên (God is
Nature’s God). Luật của Thiên
Nhiên là luật của Thượng Đế.
Trong tác phẩm Essays On The Law
and Nature xuất bản năm 1663,
Locke viết: “Trong trạng thái tự
nhiên, tất cả mọi người đều tự
do và bình đẳng” (In a state of
Nature, all men are free and
equal). Tư tưởng trên của Locke
đã gợi ý cho Jefferson viết một
câu nổi tiếng thế giới trong Bản
Tuyên Ngôn Độc Lập: “Mọi người
sinh ra bình đẳng và được Tạo
Hóa [1] phú
cho những quyền không thể chuyển
nhượng, đó là quyền sống, quyền
tự do và quyền theo đuổi hạnh
phúc” (All men are created equal
that they are endowed by the
creator (Nature) with certain
inalienable rights, among these
are life, liberty and the
persuit of happiness).
Sau John
Loke là các triết gia thuộc
phong trào khai sáng ở Pháp như
J.J. Rousseau, Voltaire và
Montesquieu.
Các triết gia này đều nổi tiếng
là những người chống Ki-tô giáo
và đều có ảnh hưởng sâu đậm đến
tư tưởng của Jefferson.
Trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập,
Jeffuson viết: “Mọi người được
tự do bày tỏ và bằng sự tranh
luận để duy trì ý kiến của mình
về tôn giáo (All men shall be
free to profess and by argument
to maintain their opinions of
religion)”. Riêng về Thánh Kinh
Ki-tô giáo, Jefferson đã phê
phán như sau: “Tôi đọc sách Khải
Huyền của Tân Ước và tôi coi nó
chỉ là những lời điên dại của kẻ
mất trí” (I read the Apocalypse
and I then considered it merely
the ravings of a maniac).
Sau hết,
người có ảnh hưởng lớn và trực
tiếp đến Jefferson cùng những
nhà lập quốc Hoa Kỳ là Thomas
Paine (1737-1809) với tác phẩm
Common Sense xuất bản tháng
1/1776 với 120.000 bản. Đây cũng là
một tác phẩm kịch liệt chống
Ki-tô giáo.
Tất cả
những điều trình bày trên chứng
tỏ rằng: trật tự thế tục của xã
hội Mỹ được đặt trên nền tảng
của bản Tuyên Ngôn Độc Lập 1776,
trong đó có nói tới Tạo Hóa
nhưng đó là Tạo Hóa Thiên Nhiên
chứ tuyệt đối không có nghĩa là
Thượng Đế của Ki-tô giáo.
Mặt trước
của tờ One Dollar là hình vị
tổng thống tiên khởi George
Washington. Ông không
thuộc một đảng hoặc một giáo
phái nào. Khi ông lãnh
đạo nước Mỹ dành độc lập từ
tay
người Anh thì ông là thủ lãnh
của Hội Tam Điểm Mỹ (trụ sở đặt
tại Alexandria thuộc tiểu bang
Virginia). Mặc dầu lúc đầu lập
quốc, tuyệt đại đa số dân chúng
Mỹ theo
đạo Tin Lành nhưng đạo này đã
không thể trở thành quốc giáo.
Cũng như trong hơn hai thế kỷ
qua, hai đảng Dân Chủ và Cộng
Hòa luân phiên nhau lãnh đạo
nước Mỹ nhưng không một đảng nào
có thể đi tới độc tài.
Đó là nhờ
Hội Tam Điểm có những bậc minh
triết (dấu mặt) điều khiển nước
Mỹ như một siêu chính phủ
(Super-government).
Hội Tam Điểm
(Freemasonry) là một hội huynh
đệ (fraternal order) lâu đời
nhất và lớn nhất thế giới. Hội này xuất
phát từ những nghiệp đoàn các
thợ xây đá (unions of stone
masons) là những người thợ nề
chuyên xây các đại thánh đường
và các dinh thự lâu đài khắp Âu
châu trong thời Trung cổ.
Ngày xưa, họ đã đem hết tài năng
trí tuệ để dựng nên những thánh
đường vĩ
đại và những dinh thự nguy nga
tráng lệ.
Ngày nay họ quyết tâm xây dựng
những giá trị luân lý và đạo đức
ở tầm mức cao nhất. Họ là những
người thấu triệt các thủ đoạn
nham hiểm và các tội ác kinh
khủng của Giáo hội Công giáo và
những chế độ chính trị phi nhân
bản.
Ngày nay họ quyết tâm xây dựng
một Trật Tự Thế Tục Mới. (NOVUS ORDO
SECLORUM). Những hội viên
Tam Điểm được tự do di chuyển
khắp nơi trên thế giới (to
travel freely), do đó chữ FREE
được dùng làm tiếp đầu ngữ trước
chữ MASON để trở thành FREE
MASON (Hội viên Tam Điểm).
Hội được
thành lập vào thế kỷ XVI với quy
định đầu tiên là chỉ
thu
nhận những người thợ xây đá
(stone mason). Từ đầu thế kỷ
XVII, hội
thu nhận những người ưu
tú xuất sắc trong xã hội, không
phân biệt quốc tịch và nghề
nghiệp. Hội
chú trọng huấn luyện hội viên về
triết lý đạo đức (normal
philosophy) hơn là về kỹ thuật. Hội xác nhận
không phải là một tôn giáo và
không thuộc tôn giáo nào. Hội xác nhận
Công giáo là thù địch.
Theo đặc
san “Avoice Crying In The
Wilderness” số 2 của Tu viện
Thánh Gia thuộc Giáo Phận New
York (4425 Sneider Road,
Fillmore NY14735) thì các thủ
lãnh Tam Điểm đã vạch ra đường
lối để tiêu diệt giáo hội Công
giáo từ năm 1819 (P. 43).
Phần lớn các
tổng thống Mỹ từ trước đến nay
là hội viên Tam Điểm. Phần lớn các
nhà lập quốc ký tên trong Bản
Tuyên Ngôn Độc Lập và Bản Tuyên
Ngôn Nhân Quyền đều là Hội Viên
Tam Điểm.
Thiên tài
âm nhạc Áo quốc Mozart
(1756-1791) cũng là hội viên Tam
Điểm, đã sáng tác bản đại nhạc
kịch Tiếng Sáo Thần (The Magic
Flute) mô tả nữ thần của màn đêm
– tượng trưng cho các thế lực
đen tối của tội ác – sẽ bị đánh
bại và biến mất trên thế gian.
Sau đó,
hoàng tử của Công lý sẽ xuất
hiện để báo hiệu sự hình thành
của một Trật Tự Thế Tục Mới
(Novus ordo seclorum).
Cũng
theo
đặc san của Tu Viện Thánh Gia
New York thì giáo hoàng Gioan
XXIII, Giáo hoàng Paul VI và
giáo hoàng John Paul II đều là
những người của Tam Điểm cài vào
để phá giáo hội Công giáo.
Ngày
25/9/59, Giáo hoàng Gioan XXIII
triệu tập cộng đồng Vatican II
để khởi đầu cuộc hủy diệt hoàn
toàn giáo hội Công giáo.
Từ sau Vatican II, giáo hội chỉ
còn cái vẻ bề ngoài đồ sộ, thật
sự bên trong đã bị sụp đổ tan
hoang vì nạn mất đức tin.
Giáo hoàng
Paul VI nhiều lần công khai tự
nhận là bạn của Tam Điểm. Giáo hoàng
John Paul II công khai nhìn nhận
thuyết Big Bang, tức đã mặc
nhiên phủ nhận việc Chúa dựng
nên vũ trụ trong 7 ngày.
Ngài công nhận thuyết Darwin tức
đã mặc nhiên phủ nhận Adam-Eve
là tổ tiên loài người, phủ nhận
tội tổ tông và Chúa chẳng còn lý
do gì để xuống thế cứu chuộc.
Điều quan trọng hơn cả là Giáo
hoàng John Paul II phủ nhận sự
hiện hữu của Thiên Đàng và Hỏa
Ngục. Như vậy, việc các linh mục
nhận tiền xin lễ của giáo dân đã
trở thành một chuyện lừa bịp vì
làm sao có thể cầu nguyện cho
linh hồn thân nhân giáo dân lên
thiên đàng khi giáo chủ đã xác
nhận thiên đàng không có?
Xét cho
kỹ, chúng ta nhận thấy cái công
phá đạo của Giáo hoàng Paul II
không phải là nhỏ và sự tố giác
của Tu Viện Thánh Gia New York
(Most Holy Family Monastery)
không phải là điều vô căn cứ.
Cái Kim Tự
Tháp NOVUS ORDO SECLORUM hiện
chưa hoàn thành vì nó chưa có
đỉnh. Chúng ta tự hỏi một
khi cái kim
tự tháp đó hoàn thành thì liệu
cái sào huyệt tội ác lớn nhất
của loài người là Vatican có còn
không? Câu trả lời khẳng định là
KHÔNG!
Có lẽ những
người Hồi giáo cực đoan đã hiểu
rõ nước Mỹ không có quốc giáo và
Đấng Toàn Năng Lý Trí (GOD của
Mỹ không phải là Allah. Chính vì vậy
mà Osama Bin Laden đã gọi nước
Mỹ là “vô thần”. Thật sự, Hoa
Kỳ là một nước Cộng Hòa đầu tiên
trên thế giới thế tục hóa. Sự thế tục
hóa được thể hiện bằng những
điều khoản phân định rõ rệt giữa
thần quyền tôn giáo và thế quyền
chính trị trong hiến pháp. Sự thế tục
hóa là một nỗ lực của giới lãnh
đạo Hoa Kỳ chủ yếu nhằm chống
lại những áp lực của Ki-tô giáo.
Do đó, “God” trong phương châm
“In God We Trust” dứt khoát
không phải là “Christian God”
tức Thiên Chúa Ba Ngôi của đạo
Ki-tô.
Giáo lý
Thiên Chúa Ba Ngôi của đạo Ki-tô
chẳng những là một quái
thai
tư tưởng, một quái vật ba đầu
(gồm có đầu bò El, đầu người
Jesus và đầu chim bồ câu) mà còn
là một thứ Thiên Chúa loạn luân
mất nết. Trong cuốn sách “Chứng
Nhân Hy Vọng”, trang 293, tác
giả là Hồng Y Nguyễn Văn Thuận
viết: “Là nữ tử của Thiên Chúa
Cha, Đức Mẹ Maria trở thành mẹ
của Ngôi Lời Nhập Thể và hiền
thê của Chúa Thánh Thần”.
Chúng ta đã
biết giáo lý Ki-tô giáo dạy rằng
cả ba ngôi Thiên Chúa là một Đức
Chúa Trời. Như vậy, Đức
Mẹ Maria cùng một lúc vừa là nữ
tử vừa là hiền thê của một Thiên
Chúa. Rõ ràng là Thiên
Chúa Cha đã làm cho nữ tử kiêm
hiền thê mang bầu vào lúc nàng
16 tuổi để đẻ ra Chúa Con là
Jesus! Tính
chất loạn luân của Thiên Chúa Ba
Ngôi là điều không thể chối cãi
được. Thượng Đế Lý Trí
(God of Reason) của những bậc
đại trí như John Locke,
Voltaire, J.J. Rousseau,
Jefferson, Thomas Paine,
Washington... hiển nhiên không
phải là thứ Thiên Chúa quái thai
loạn luân bệnh hoạn mà Nguyễn
Văn Thuận tôn thờ.
God trong
châm ngôn IN GOD WE TRUST cũng
dứt khoát không phải là Thiên
Chúa của Ki-tô giáo bao gồm Công
giáo và các giáo phái Tin Lành. God trong
châm ngôn của Mỹ tương tự như
quan niệm về ĐẠO của Lão Tử hoặc
quan niệm về Thượng Đế của
Spinoza (1631-1677). Học
giả Stephen Mitchell viết về
Thượng Đế của Spinoza như sau:
“Thượng Đế là tổng thể của mọi
vật hiện hữu trong thời gian và
không gian hoặc như chúng ta có
thể nói tại Huê Kỳ ngày nay: Đó
là Đạo” (God is the totality of
all things that exist in time
space... or as we might say
today in America: The Tao – The
Enlightened Minds – page 142).
PHẦN KẾT
Qua tất cả
những điều đã trình bày ở trên,
chúng ta nhận thấy nền trật tự
xã hội thế tục có tính chất biến
định đã không cho phép chính phủ
Hoa Kỳ hình thành một quốc giáo
và mọi hành vi của chính phủ
nhằm hỗ trợ cho công cuộc truyền
giáo ở nước ngoài đều là bất hợp
pháp. Tất cả
các giáo hội Tin Lành dù lớn đến
đâu thì cũng chỉ là những hiệp
hội tư nhân mà thôi.
Tuy nhiên,
chúng ta cũng cần nhận rõ một
điều là tại Hoa Kỳ có nhiều hiệp
hội tư nhân rất giầu và hoạt
động rất mạnh. Một số giáo
phái Tin Lành tuy hoạt động
trong lãnh vực tư nhân nhưng
cũng có tham vọng rất lớn.
Chẳng hạn như tổ chức Tin Lành
TBN, do mục sư Pat Roberson lãnh
đạo, có tham vọng dùng hệ thống
truyền thanh và truyền hình
giảng đạo bằng đủ mọi ngôn ngữ
và rộng khắp hoàn cầu trong một
kế hoạch mệnh danh là: “Chương
trình Thay Đổi Thế Giới”
(Programs to Change the World).
Từ nhiều năm qua, các hệ thống
truyền thanh và truyền hình của
tổ chức này đã chủ yếu nhắm vào
Trung Quốc và Nhật Bản. Hiện
nay, trong 10 tỉnh miền Hoa Nam
(Trung Quốc) đã có 16 giáo hội
Tin Lành đang hoạt động. Ở Nhật
trong mấy thập niên qua đã mọc
lên hàng trăm nhà thờ Tin Lành
(xin đọc Salvation
For
Sale của Gerard Thomas Straub –
Prometheus Book 1986).
Một số
giáo phái Tin Lành khác như
Episcopal, nhân chứng Jehorah,
Mormon đã đào tạo nhiều mục sư
người Việt và đồng thời huấn
luyện nhiều nhân viên truyền
giáo người Mỹ trẻ tuổi nói thông
thạo tiếng Việt.
Phải chăng
họ đã chuẩn bị cho công cuộc
truyền giáo Tin Lành vào Việt
Nam trong giai đoạn sắp tới?
Xét về bản
chất, Tin Lành cũng như Công
giáo đều là những sản phẩm của
nền văn hóa du mục Ả Rập, Do
Thái.
Cả hai cùng thuộc Ki-tô giáo và
đều không phù hợp với truyền
thống văn hóa nhân bản Việt Nam.
Trong hiện tình Việt Nam, nếu
chúng ta để cho Tin Lành tự do
truyền đạo trên miền Cao Nguyên
chắc chắn sẽ bị bọn chính trị
lưu manh lợi dụng để gây thêm
phe cánh. Nếu không kịp thời
ngăn chặn, một khi số tín đồ Tin
Lành trở thành một lực lượng
chính trị đông đảo thì nguy cơ
nội chiến
theo kiểu Đông Timor sẽ
có thể xảy ra.
Để đối phó
với những làn sóng truyền đạo
Tin Lành vào Việt Nam, thiết
tưởng chúng ta cần học hỏi kinh
nghiệm của các nước:
1/ Bài học
sáng giá nhất về việc này có lẽ
là bài học Do Thái.
Năm 1978,
Quốc Hội Do Thái (The Israel
Knesset) đã ban hành Luật Cấm
Truyền Giáo (Anti-missionary
Laws). Theo luật này thì
bất cứ ai đến Do Thái truyền đạo
Tin Lành sẽ bị tòa án tuyên phạt
5 năm tù và 3200 đô la Mỹ.
2/ Bài học
thứ hai ít nghiêm khắc hơn nhưng
xét ra cũng rất hữu hiệu. Đó là bài
học của Indonesia. Chính phủ
Indonesia buộc mọi người ngoại
quốc nhập cảnh Indonesia đều
phải khai báo về nghề truyền
giáo (Missionary). Nếu khai là
người truyền giáo thì họ chỉ
được sở ngoại vụ cấp phép di trú
không quá 6 tháng. Thời gian 6
tháng này thiết nghĩ quá lâu. Đề nghị chỉ
nên cho phép những người truyền
đạo lưu trú tại Việt Nam không
quá một tháng và ít nhất phải 3
năm sau mới được trở lại Việt
Nam.
3/ Bài học
của Nga có tính cách quyết liệt
đối với cả Công giáo lẫn Tin
Lành.
Tháng 8/1997, Quốc Hội Nga đã
biểu quyết luật về Tự Do Tôn
Giáo. Theo luật này thì
mọi tôn giáo – kể cả đạo Phật,
đạo Hồi, đạo Bà-la-môn – đều
được tự do truyền đạo và hành
đạo. Ngoại
trừ Công giáo và Tin Lành bị đặt
ra ngoài vòng pháp luật và bị
cấm hoạt động tại Nga.
Đây một là một gương can đảm và
sáng suốt của những người đã có
kinh nghiệm xương máu với các tà
đạo Ki-tô. Ước mong rằng những
đạo luật có nội dung tương tự sẽ
được hình thành trên đất nước
Việt Nam thân yêu của chúng ta.
[1] chữ
Tạo Hóa ở đây có nghĩa là Thiên
Nhiên (Nature) chứ không có
nghĩa là God (Thượng Đế) như bị
lạm dụng.
Charlie Nguyễn
Các chương khác trong sách:
Alexandre De Rhodes và Chữ Quốc Ngữ Con Đường Cụt của Vatican ... Các Hoạt Động Chính Trị của Đạo Quân Thứ 5 Hồ Sơ Tội Ác của Hội Thừa Sai ... In God We Trust Màn Kịch Lộ Đức Một Vấn Đề về Huyền Thoại Giáng Sinh Nhận Xét về Thư của Phan Dình Diệm Quan Niệm Ông Trời của Người Việt Từ Thái Độ Khinh Miệt ... Việt Nam cần thực hiện ... Đòi Lại Đất bị Nhà Thờ Chiếm Đoạt Độc Thần Giáo ...
|