Hồ Sơ Tộc Ác của Hội Thừa Sai Paris và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam
trong lịch sử mất nước hồi cuối thế kỷ 19
Nếu
lấy năm 1533 làm cái mốc đầu
tiên về sự có mặt của đạo
Công giáo trên đất nước Việt
Nam thì tới nay (2003), Giáo
hội Công giáo Việt Nam đã có
470 năm lịch sử. Trong chiều
dài thời gian gần 5 thế kỷ
có khoảng hơn bốn thập niên
trong nửa cuối thế kỷ 19
(1852-1884) là thời gian
thăng trầm, phức tạp và ô
nhục nhất trong giáo sử Công
giáo Việt Nam. Đó chính là
thời gian các giáo sĩ trong
Hội Thừa Sai Paris và khoảng
600,000 giáo dân đã tích cực
giúp cho thực dân Pháp hoàn
thành dễ dàng cuộc xâm chiếm
Việt Nam và mau chóng bình
định lãnh thổ để áp đặt nền
thống trị lên dân tộc Việt
Nam trong hơn 80 năm.
Những
gì đã xảy ra trước và trong
quá trình xâm lược Việt Nam
của thực dân Pháp đã khẳng
định rằng: các giáo sĩ
trong Hội Thừa Sai Paris đã
chủ động tạo ra cớ cho cuộc
can thiệp võ trang của Pháp
vào Việt Nam. Sử gia Pháp
Georges Coulet đã viết
trong
tác phẩm của ông Cultes
et Religions de l’Indochine
Annamite (Saigon, p. 99)
như sau: “ Thiên Chúa
giáo đã mở cửa cho quân đội
Pháp và đã là nguyên nhân
trực tiếp của cuộc xâm lược
đất nước này”.
Suốt
thời gian giặc Pháp đô hộ,
danh dự của tổ quốc Việt Nam
đã bị xỉ nhục nặng nề, sinh
mạng và tài sản của nhân dân
bị quân địch xâm phạm nghiêm
trọng.
Đây là những vết hằn lịch sử
khó có thể xóa mờ trong ký
ức của mọi người Việt yêu
nước. Lịch sử mất
nước của dân tộc Việt Nam
vào cuối thế kỷ 19 gắn liền
với sự có mặt của Hội Thừa
Sai Paris - một công cụ mở
rộng nước Chúa của Vatican,
đồng thời cũng là một công
cụ mở rộng thuộc địa của
thực dân Pháp. Sát cánh với
Hội Thừa Sai Paris là Giáo
Hội Công Giáo Việt Nam
vào thời điểm đó đã hiện
nguyên hình là một tập đoàn
Việt gian bán nước
theo
giặc, trắng trợn phản bội Tổ
Quốc.
Việc
dựng lại một cách chân xác
giai đoạn thăng trầm của
lịch sử mất nước ô nhục đó
không phải là chuyện dễ dàng
vì các sử liệu về giáo sử
Công giáo Việt Nam còn lưu
lại ở Việt Nam rất hiếm hoi.
Nhưng một sự may mắn đã đến
với chúng ta là sử gia
Patrick J.N. Tuck, người Ấn
Độ, giáo sư sử học tại đại
học Liverpool (Anh Quốc) đã
bỏ ra nhiều công sức sưu tầm
các tư liệu liên quan đến
các hoạt động của các giáo
sĩ thừa sai Pháp và các
chính sách của đế quốc tại
Việt Nam từ 1857 đến 1914.
Tất cả
các tài liệu lịch sử quí giá
này đều là những tài liệu do
chính văn khố của Hội Thừa
Sai Paris cung cấp.
Đây là
một món quà tinh thần quí
giá cho những ai hằng thao
thức tìm hiểu giáo sử Công
giáo Việt Nam. Bộ sưu
tập tài liệu về Hội Thừa Sai
Paris của sử gia Patrick
J.N. Tuck được viết bằng Anh
ngữ dưới tựa đề “French
Catholic Missionaries and
the Politics of Imperialism
in Vietnam 1857-1914” do
Liverpool University Press
xuất bản tại Anh Quốc năm
1987. Bản dịch Việt ngữ do
UBĐKCGYNVN/TP.HCM thực hiện
và phổ biến năm 1989 dưới
tựa đề: “Thừa Sai Công
Giáo Pháp và các chính sách
của dế quốc tại Việt Nam
1857-1914”. (Mỗi khi
trích dẫn tài liệu này,
chúng tôi xin ghi tắt TSCG)
. Ngoài tư liệu của
Patrick Tuck, chúng tôi còn
tham khảo thêm
sách “Sự Du Nhập
của Thiên Chúa giáo vào Việt
Nam từ thế kỷ 17 đến thế kỷ
19” của giáo sư Nguyễn
Văn Kiệm với sự hợp tác của
Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo và
Hội Khoa Học Lịch Sử Việt
Nam (mỗi khi trích dẫn sách
này, chúng tôi xin ghi vắn
tắt SDN/TCG).
Cả hai
cuốn sách nói trên cung cấp
cho chúng ta rất nhiều bằng
chứng lịch sử về các hoạt
động đầy tội ác của các giáo
sĩ thuộc Hội Thừa Sai Paris
trong nỗ lực vận động
Vatican và hoàng gia Pháp
(Napoleon III) xâm chiến
Việt Nam hầu thực hiện hai
mục tiêu vừa truyền giáo vừa
xâm chiếm thuộc địa.
I. Sự thành lập hội Thừa Sai
Paris và tiến trình tội ác
của hội này đối với dân tộc
Viêt Nam.
Sáng
kiến đầu tiên đưa đến việc
thành lập hội Thừa Sai Paris
là do Alexandre de Rhôde.
Vào năm 1652 và 1653,
Alexandre de Rhôde về Âu
châu vận động Vatican và
Pháp thành lập hội Thừa Sai
gồm toàn giáo sĩ người Pháp
để gửi sang Viễn Đông truyền
đạo và mở rộng ảnh hưởng của
Pháp tại vùng này.
Tuy
nhiên, vào thời điểm đó, ảnh
hưởng của Bồ Đào Nha tại Á
Châu còn mạnh. Đại sứ
Bồ Đào Nha bên cạnh Vatican
cực lực phản đối việc thành
lập Hội Thừa Sai Pháp và hăm
dọa sẽ bắt bỏ tù các giáo sĩ
đến Á Châu mà không có phép
của hoàng gia Bồ. Phải đợi
đến năm 1658, khi hoàng gia
Bồ suy yếu mọi mặt và không
còn đủ sức tài trợ cho cuộc
truyền giáo tại Á Châu, nên
đã bị Tòa Thánh chính thức
thu hồi “độc quyền truyền
giáo” (Padroado).>
Hội
Thừa Sai Paris được chính
thức thành lập năm 1663 gồm
toàn các giáo sĩ người Pháp
thuộc ngành triều (secular),
tức là các tu sĩ chuyên việc
trông coi giáo dân tại các
giáo xứ. Kể từ đó, mỗi khi
thiết lập một giáo phận mới
tại Á Châu, Vatican đều giao
các giáo phận mới cho các
giáo sĩ thừa sai Pháp
cai
quản. Mặc dầu hoạt động của
các thừa sai đều thuộc về
tôn giáo, nhưng chính quyền
Pháp đã ra lệnh cho bộ Ngoại
Giao, bộ Thương Mại và nhất
là bộ Hải Quân và Thuộc Địa
phải tích cực yểm trợ cho
các giáo sĩ thừa sai (TSCG,
trang 27). Ông Bonifacy, tác
giả cuốn “Les Debuts du
Christianisme en Annam” xuất
bản tại Hà-Nội năm 1930 đã
viết: “Vai trò của
Alexandre de Rhôde trong
việc thành lập hội Thừa Sai
Paris đã đưa giáo hội Công
giáo Đàng Trong và Đàng
Ngoài ra khỏi vòng kiểm soát
của người Bồ Đào Nha, và đem
lại cho người Pháp vai trò
quan trọng nhất ở bán đảo
Đông Dương” p. 16-17
(SDN/TCG, trang 123).
Việc
thành lập
hội
Thừa Sai Paris năm
1663 không phải là một hành
vi tôn giáo thuần túy mà là
một nhu cầu cần thiết của
chủ nghĩa thực dân Pháp thời
đó, vì hội này do chính phủ
Pháp thành lập và tài trợ để
làm công cụ thực hiện tham
vọng bành trướng thuộc địa ở
Viễn Đông. Danh từ “giáo sĩ
thừa sai” (missionaries)
được định nghĩa là người
được cử ra nước ngoài để
thực hiện những công việc do
cấp trên sai phái.
Cấp trên
ở đây không hẳn chỉ là Toà
Thánh La Mã mà chủ yếu là
quốc gia đã lập ra hội Thừa
Sai. Tự Điển Bách
Khoa Hoàn Vũ (Encyclopedia
Universallis) của Pháp xuất
bản năm 1990 cũng thêm định
nghĩa Hội Thừa Sai (Mission)
như sau: “Hội Thừa
Sai
cũng tiến hành nhiệm
vụ thực dân, cũng chinh phục
và tiêu diệt, tham gia các
cuộc chinh phạt để đoạt lấy
quyền uy vinh quang và lợi
tức. Điều quan trọng nhất
của Hội Thừa Sai là đồng hóa
văn hóa của các xứ bản địa”
(SDN/TCG, trang 302).
Gần
hai thế kỷ sau ngày thành
lập, đến đầu thế kỷ 19 có 3
biến cố xảy ra làm cho Hội
Thừa Sai Paris trở thành hội
Truyền Giáo mạnh nhất của
Giáo hội Công giáo:
- Biến cố 1: Vào năm 1822,
các nhà tư bản Pháp thành
lập tại Lyon một tổ chức lấy
tên là “Hội Truyền Bá Đức
Tin”.Đây là một trung tâm
tài chánh lớn lao yểm trợ
các hoạt động của các giáo
sĩ thừa sai tại Viễn Đông.
Năm 1839, quĩ của hội lên
tới hai triệu francs.
- Biến cố 2: Năm 1839, giáo
hoàng Gregory XVI chính thức
thừa nhận hội Thừa Sai Paris
là cơ quan truyền giáo chủ
lực tại Viễn Đông. Tuy
nhiên, trọng tâm trách nhiệm
của Hội là Việt Nam.>
- Biến cố 3: Cuộc đảo chánh
do các giáo sĩ Pháp chủ
trương năm 1851 đã đưa Louis
Napoleon lên ngôi hoàng đế
(tức Napoleon III). Sự kiện
này đưa đến sự liên kết mật
thiết giữa hoàng gia Pháp và
Vatican. Điển hình là vụ
Vatican và Pháp dàn dựng màn
kịch bịp bợm “Phép lạ Lộ
Đức” năm 1858 (xin đọc
webpage Giao Điểm tháng 8,
2003).
A.- Các
giáo sĩ thừa sai tích cực
vận động Vatican và chính quyền Pháp
xâm chiếm Việt Nam.
- Các giáo sĩ thừa sai
Paris giao du thân mật với
hoàng hậu Eugénie, họ đã lợi
dụng hoàng
hậu xúi
giục Napoleon III xâm chiếm
Việt Nam từ năm 1852. Do đó,
Napoleon III đã đích thân ra
lệnh cho phái bộ ngoại giao
Pháp tại Trung Quốc phải
thâu thập các tài liệu về
công cuộc truyền giáo tại
Đông Dương (TSCGP, trang
53).
- Đầu tháng 5/1857, giám
mục Pellerin và linh mục Huc
đến Paris trình bày kế hoạch
đánh chiếm Đông Dương tại Ủy
Ban Thuộc Địa Pháp. Ngày
21-5-1857, giám mục Pellerin
và linh mục Huc được
Napoleon III tiếp kiến tại
hoàng cung. Sau đó, vào
tháng 6 và tháng 8 năm 1857,
Pellerin và Huc lại được
Napoleon tiếp kiến thêm hai
lần nữa. Toàn bộ kế hoạch
xâm lược Việt Nam do hai
giáo sĩ thừa sai này đề nghị
đều được giáo hoàng Pio IX
và Napoleon III tán thành
(TSCGP, trang 554).
Giám
mục Pellerin sinh tại Pháp
năm 1813, được cử làm giám
mục tại Saigon
năm 1844. Năm
1857, y về Pháp vận động
chiếm Việt Nam. Năm
1859, Pellerin trở lại Việt
Nam trên chiếm hạm của
Rigault de Genouilly, nhân
dịp này, y xúi giục đô đốc
Genouilly đánh chiếm Đà
Nẵng, nhưng Genouilly không
chịu vì y muốn chiếm Saigon
trước đã.
Sau đó,
Pellerin được hội Thừa Sai
đổi về Penang dạy học, y
chết tại đó năm 1862, thọ 49
tuổi (TSCGP, trang 554).
Linh
mục Huc sinh tại Pháp năm
1814.
Trong
các năm 1844-1846, linh mục
Huc mạo hiểm đến giảng đạo
tại Tây Tạng và miền Tân
Cương (Trung Quốc).
Năm 1850, linh mục Huc xuất
bản mấy cuốn sách kể chuyện
mạo hiểm giảng đạo tại các
xứ huyền bí Á Châu, đồng
thời viết sách kêu gọi chính
quyền Pháp xâm chiếm Triều
Tiên, Madagascar và Việt Nam
làm thuộc địa.
Napoleon
III đã đọc và rất chú ý đến
các sách của linh mục Huc.
Do đó, sau khi tiếp xúc với
linh mục Huc năm 1857 tại
hoàng cung, Napoleon II đã
cho thành lập “Ủy Ban
Brenier” để nghiên cứu đề
nghị của linh mục Huc.
Trong
khi đó, giám mục Pellerin
đến thuyết giảng tại nhà thờ
Notre Dame de Paris
và vận động tờ báo L’Univers ủng hộ việc
xâm chiếm Việt Nam làm thuộc
địa.
Tháng
5/1857, ủy ban Brenier lập
bản phúc trình đề nghị hoàng
đế Napoleon III áp đặt chế
độ bảo hộ lên Việt Nam để
phục vụ lợi ích của nước
Pháp. Ủy ban này đề nghị
thực hiện một cuộc viễn
chinh với một hạm đội gồm 6
tàu chiến và 2600 thủy quân,
kinh phí 4 triệu quan.
Quân
viễn chinh sẽ được sự yểm
trợ của hải quân Pháp đang
đóng tại Trung Quốc và sự hỗ
trợ tích cực của 600,000
giáo dân công giáo bản địa.
Hoàng
đế Napoleon III chấp thuận
đề nghị của ủy ban Brenier
ngày 21-9-1857. Mấy tháng
sau, Napoleon III giao nhiệm
vụ cụ
thể cho đô đốc Rigoult de
Genouilly để thực hiện cuộc
bảo hộ của Pháp trên toàn
lãnh thổ Việt Nam (TSCGP,
trang 57-61). Cuộc chiến
tranh xâm lược kéo dài từ
cuối 1857 đến tháng 2/1861,
Pháp chiếm trọn Côn Đảo,
Biên Hòa, Bà Rịa, Vĩnh Long
và toàn miền Đông Nam Kỳ.
B. –
Quân dội viễn chinh Pháp và
các giáo sĩ thừa sai tại
Việt Nam
có cùng mục tiêu
chung.
- Cơ
quan tối cao điều hành cuộc
viễn chinh xâm lược Việt Nam
là bộ Hải Quân và Thuộc Địa
Pháp, trụ sở tại Paris, do
Chasseloup Laubat làm bộ
trưởng.
Chasseloup Laubat công khai
tuyên bố phải biến xứ Nam Kỳ
thành một Philippines thứ
hai tại Á Châu. Nói cách
khác, biến Nam Kỳ thành một
xứ Công giáo là một giải
pháp tốt nhất để ổn định
thuộc địa một cách lâu dài.
Như
vậy rõ ràng là quan điểm của
bộ Hải Quân và Thuộc Địa của
chính quyền Pháp coi việc
Công giáo hóa Nam Kỳ là một
nhu cầu chính trị (TSCGP,
trang 123). Để thực hiện
mục tiêu này, bộ Hải Quân và
Thuộc Địa Pháp đã đưa ra hai
quyết định sau đây:
1. Chính quyền Hải Quân Pháp
nhận trách nhiệm thành lập
một hệ thống các giáo xứ
Công Giáo tại Nam Kỳ.
2. Các giáo sĩ thừa sai Pháp
được coi là những công chức
phục vụ nhà nước nên họ được
hưởng lương hàng năm. Năm
1864, nhà nước thuộc địa
Pháp đã trả cho các giáo sĩ
thừa sai 40,000 Francs; năm
1879 tăng lên 145,000
Francs. (TSCGP, trang
134-135).
C.- Các giáo sĩ thừa sai tích
cực giúp thực dân Pháp mau
chóng bình định lãnh thổ
thuộc địa.
1.- Giám mục Puginier
(1835-1892): Dựa vào thế
lực mạnh của hội Thừa Sai
Paris đối với chính quyền
Pháp, giám mục Puginier đã
tỏ thái độ coi thường các
quan chức thuộc địa tại Việt
Nam. Vào tháng 7-1874, giám
mục Puginier viết
thư
mắng đô đốc Dupré đã để cho
thuộc hạ là Francis Garnier
rút quân khỏi Bắc Việt.
Tháng
8-1885, giám mục Puginier
đòi tướng Courcy phải bắt
Nguyễn Văn Tường bỏ tù. Giám mục
Puginier đưa ra chủ trương
ổn định thuộc địa bằng cách
Công giáo hoá thuộc địa.
Y tuyên bố:
“ Khi
nào Bắc Kỳ biến thành một xứ
Công giáo thì nó sẽ là một
nước Pháp nhỏ” (TSCGP,
trang 560-562)
Puginier đòi hỏi chính quyền
thuộc địa Pháp phải tiêu
diệt giới nho sĩ Việt Nam
(Văn Thân) vì họ được dân
chúng kính trọng, họ không
chấp nhận sự đô hộ của Pháp
và chẳng ai trong số họ chịu
theo
đạo.
Năm
1886, giám mục Puginier ra
lệnh cho linh mục Trần Lục ở
Phát Diệm tăng viện cho Pháp
5,000 giáo dân binh để phá
chiến lũy Ba Đình của Đinh
Công Tráng.
Giám mục
Puginier là người đã để lại
nhiều dấu ấn sâu đậm trên
chính sách bình định Việt
Nam của thực dân Pháp.
Chính ông ta đã cung cấp cho
Pháp rất nhiều tin tức tình
báo do giáo dân khắp nơi thu
thập báo cáo về các cuộc
phản công của triều đình Huế
và các cuộc binh biến của
quân kháng chiến.
Puginier
chết tại Hà Nội năm 1892.
Hắn được chính phủ Pháp truy
tặng Bảo Quốc Huân Chương và
truy phong Sĩ Quan Danh Dự
của quân đội Pháp để xác
nhận công
lao
to lớn của giáo sĩ thừa sai
này trong việc Pháp đánh
chiếm Bắc Kỳ hồi cuối thế kỷ
19.
2.-
Giám mục Gauthier
(1810-1877) : Gauthier lấy
tên Việt là Ngô Gia Hậu,
được cử làm giám mục Nam
Đàng Ngoài từ năm 1846, có
66,350 giáo dân rải rác
trong 346 xứ dạo (TSCGP, trg
528-530).
Trong
bức thư gửi đô đốc Dupré
ngày 15-1-1874, giám mục
Gauthier và Puginier đã thúc
giục chính quyền thuộc địa
Pháp thiết lập một chính phủ
Công giáo tại Bắc Việt (theo
“Christianisme et
Colonialisme au Vietnam
1857-1914 par Cao Huy Thuần
– Paris 1960, p. 306).
Năm
1874, Gauthier khuyến khích
các làng Công giáo tổ chức
các đội dân quân võ trang,
sau đó ra lệnh cho họ kéo
quân đi đánh phá các làng
bên lương ở Nghệ An và Hà
Tĩnh.
Giám
mục Gauthier và Puginier có
nhiều tên đệ tử trung thành
xuất sắc, trong số đó có
Nguyễn Trường Tộ (theo hầu
Gauthier 10 năm) và hai linh
mục Nguyễn Hoằng và Nguyễn
Điều.
II.
Tội Ác bán nước theo giặc
của Giáo hội Công giáo Việt
Nam
trong nửa cuối thế kỷ 19.
Vào
nửa cuối thế kỷ 19, có
khoảng 600,000 người Việt
Nam đã mù quáng đi
theo
tôn giáo lạ mang tính chất
vong bản.
Họ đã dễ
dàng lìa bỏ nếp sống văn hóa
truyền thống của dân tộc.
Tuy nhiên, trước khi Pháp đổ
quân xâm chiếm Việt Nam,
những người Công giáo được
coi là những công dân lầm
lạc vì nhẹ dạ và ngu dốt nên
Triều Đình và nhân dân Việt
Nam không nỡ ra tay tiêu
diệt họ. Nhưng kể
từ khi Pháp chiếm Đà Nẵng
năm 1856, đa số giáo dân
Công giáo đã trắng trợn ra
mặt theo
giặc và phản bội Tổ Quốc.
Hiện
tượng đầu tiên là nhiều ngàn
giáo dân rời bỏ Bắc Kỳ kéo
vào Đà Nẵng xin đi lính tập
cho Pháp. Đô đốc
Rigault de Genouilly tiếp
nhận họ tại Sơn Trà và huấn
luyện họ tại đây. Sau đó,
Genouilly đã tuyển chọn 6000
người trong số họ để nhập
vào liên quân Pháp-Tây Ba
Nha đánh chiếm Saigon.
Trong
công cuộc xâm chiếm và bình
định Việt Nam, thực dân Pháp
đã được giáo hội Công giáo
Việt Nam hỗ trợ tích cực mọi
mặt. Trong số các tín
đồ Việt gian, có những nhân
vật rất nổi tiếng sau
đây :
-
Tổng Đốc Phương,
tức Đỗ hữu Phương, sinh
năm 1844 tại Saigon,
nguyên chủng sinh tại
Penang, thông thạo tiếng
Pháp, được Pháp chọn
tham gia phái đoàn của
Pháp trong cuộc thương
lượng với triều đình Huế
năm 1868. Sau đó Phương
tham gia các cuộc tảo
thanh chống Nguyễn Trung
Trực tại Rạch Giá. Năm
1872, Phương được Pháp
thăng chức tổng đốc
Saigon.
-
Trần Bá Lộc, sinh
năm 1834 trong một gia
đình Công giáo tại Long
Xuyên. Lộc xin vào đoàn
quân Công giáo do
Charner tổ chức chuyên
việc lùng quét các nhóm
quân kháng chiến. Sau
khi tham gia nhiều trận
đánh tái chiếm Rạch Giá,
Lộc được Pháp phong chức
tổng đốc Rạch Giá. Y là
tên đại Việt gian được
Pháp tín nhiệm trao
nhiệm vụ triệt hạ phong
trào kháng chiến từ
Quảng Nam đến Phan
Thiết. Với nhiệm vụ này,
Trần Bá Lộc đã giết hại
khoảng 25 ngàn người
Việt yêu nước.
-
Trần Tử Ca,
nguyên là một người bên
lương, sinh trưởng tại
Gò Vấp. Lúc đầu y đi
theo
kháng chiến, nhưng sau
đó y theo đạo, rời bỏ
hàng ngũ kháng chiến
theo giặc chống lại Tổ
Quốc. Năm 1862, Ca được
Pháp bổ làm tri huyện
Hóc Môn. Năm 1865, y đi
theo
quân đội Pháp càn quét
các tỉnh miền Tây. Đêm
9-2-1885, Ca bị nghĩa
quân giết
chết
.
-
Huỳnh Công Tấn
là một
người Công giáo trong
hàng ngũ nghĩa quân của
Trương Công Định từ
1861. Ngày 20-8-1864,
Tấn phản bội, bất thần
phục kích giết
chết Trương Định
tại Gò Công. Ngày
19-9-1868, Huỳnh Công
Tấn cùng với 127 lính
tập Công giáo vây bắt
Nguyễn Trung Trực tại
đảo Phú Quốc. Như vậy,
riêng một mình y đã sát
hại được hai nhà cách
mạng kháng chiến nổi
tiếng tại Nam Kỳ. Y được
Pháp trao tặng Bắc Đẩu
Bội Tinh cho hai chiến
công lớn này !
-
Tạ Văn Phụng, tức
Phêrô Lê Duy Phụng,
nguyên chủng sinh tại
Penang, lấy danh nghĩa
là con cháu nhà Lê dấy
binh khởi nghĩa tại Bắc
Kỳ chống triều đình Huế
năm 1858. Tạ Văn Phụng
nhờ các giáo sĩ liên lạc
với chính phủ Pháp để
xin giúp đỡ. Napoleon
III đồng ý, và cử tên
gián điệp Duval sang
Việt Nam giúp Phụng với
mục đích biến Bắc Kỳ
thành một xứ Công giáo
với một chính quyền Công
giáo. Duval đi Macao mua
vũ khí và giúp Phụng
thành lập những đoàn
quân gồm đa số là giáo
dân. Trong các tháng 6
và 7-1863, Phụng khởi
quân đánh chiếm một vùng
rộng lớn ở đồng bằng Bắc
Bộ gồn 3 tỉnh Quảng Yên,
Hải Dương và Nam
Định.Triều đình Huế cử
Nguyễn Tri Phương đem
quân ra Bắc dẹp loạn. Tạ
Văn Phụng bị bắt đem về
Huế xử tử.
Vài
điều trình bày trên đây chỉ
là bản phác họa một cách
trung thực
những
giai đoạn của Việt
Nam vong quốc sử hồi nửa
cuối thế kỷ 19. Đây là điều
cần thiết để nhắc nhở toàn
dân Việt Nam phải luôn luôn
đề cao cảnh giác phòng ngừa
những thế lực ngoại bang
cùng tay sai bản địa lấy
danh nghĩa tôn giáo để xâm
lăng chủ quyền và phá hoại
nền văn hóa cổ truyền của
dân tộc.
Riêng
đối với Vatican và Giáo Hội
Công Giáo Việt Nam, hai tổ
chức này không thể phủ nhận
trách nhiệm trong việc họ đã
cấu kết với thực dân Pháp
chống lại nước Việt Nam gần
một thế kỷ (từ giữa tk 19
dến gần giữa tk 20).
Gần đây,
Giáo Hoàng đã thú nhận những
tội lỗi của Vatican đối với
nhiều quốc gia và dân tộc
trên thế giới. Còn
bao giờ thì Giáo hội Công
giáo Việt Nam mới lên tiếng
tạ tội với dân tộc về những
lỗi lầm trong quá khứ đối
với Tổ
Quốc ?
Các bạn Công giáo Việt Nam: để tỏ tình dân tộc, các bạn cần áp
lực Giáo Hội Công Giáo Việt Nam tách hẳn khỏi ảnh hưởng của
Vatican (như Anh Quốc đã làm trước đây, và Trung Quốc đang làm).
Tại sao các bạn không thể “hiệp thông thẳng với Chúa” mà không
cần trung gian của Vatican hay cái giáo hội tay sai của Vatican
?
Charlie Nguyễn
Sept 2003
Các chương khác trong sách:
Alexandre De Rhodes và Chữ Quốc Ngữ Con Đường Cụt của Vatican ... Các Hoạt Động Chính Trị của Đạo Quân Thứ 5 Hồ Sơ Tội Ác của Hội Thừa Sai ... In God We Trust Màn Kịch Lộ Đức Một Vấn Đề về Huyền Thoại Giáng Sinh Nhận Xét về Thư của Phan Dình Diệm Quan Niệm Ông Trời của Người Việt Từ Thái Độ Khinh Miệt ... Việt Nam cần thực hiện ... Đòi Lại Đất bị Nhà Thờ Chiếm Đoạt Độc Thần Giáo ...
|