Con Đường Cụt Của Vatican
Trên Lộ Trình Xâm Lăng Văn Hóa Á Châu
Từ
đầu thập niên 1990 đến
nay, do sự thức tỉnh tâm
linh, phần đông người
Tây phương đã nhận ra
thực chất của đạo Công
giáo La mã chỉ là một
thứ “tà đạo khuyển
sinh”. Do đó, con số
giáo dân tại các nước Âu
Mỹ ngày càng suy giảm
mau chóng khiến cho
nhiều giáo phận bị phá
sản, nhiều nhà thờ bị
phát mại hoặc đóng cửa
vô thời hạn. Công giáo
La mã đã trở thành một
thứ cặn bã văn hóa mà
người Tây phương muốn
tống xuất ra khỏi cơ thể
của họ.
Đứng trước nguy cơ không
còn tìm đất sống tại các
nuớc Âu Mỹ, Vatican phải
tìm đất sống mới tại Á
châu, nơi có khối lượng
khổng lồ về dân số là 3
tỉ 300 triệu người
(chiếm một nửa tổng số
nhân loại). Tuy nhiên
Vatican cũng không thể
mù quáng để quá lạc quan
nhìn về tương lai vì quá
khứ đã chứng minh rằng:
Tuyệt đại đa số dân Á
châu rất hờ hững với
Kitô giáo nói chung và
Công giáo La mã nói
riêng. Từ thế kỷ 16 đến
nay, tuy đã hơn 4 thế kỷ
qua, các cố đạo Tây
phương đã dầy công
truyền đạo tại lục địa
này, nhưng số giáo dân Á
châu chưa bao giờ vượt
qua được con số tỉ lệ
hết sức nhỏ bé là 1%!
Kết quả thê thảm đó là
một thực tế đắng cay đối
với tham vọng quá lớn
của Vatican. Thực tế dạy
cho Vatican một bài học:
Á châu hoàn toàn khác
châu Mỹ La tinh và cũng
không phải là cái sân
sau của chủ nghĩa đế
quốc Tây phương để họ
mặc sức tung hoành.
Trong thực tế, Á châu là
một lục địa có nhiều nền
văn hoá giá trị từ lâu
đời nên người dân Á châu
không dễ gì bị mê hoặc
hay bị lừa gạt bởi một
thứ tôn giáo hạ cấp đã
sinh ra từ đạo thờ bò
như Công giáo La mã. Xét
về giá trị thực chất,
Công giáo là thứ đạo vô
luân, hạ đẳng chỉ để
dành riêng cho những
hạng người thấp kém,
không muốn đứng thẳng
(homo erectus) mà chỉ
muốn cúi xuống làm bầy
súc vật cho ngoại nhân
chăn dắt mà thôi.
Mặc dầu đã ý thức được
thực trạng văn hóa Á
châu hiển hách như vậy,
nhưng Vatican vẫn nuôi
ảo tưởng sẽ tạo ra một
cơ hội mới tại lục địa Á
châu trong thiên niên kỷ
thứ ba. Trong chuyến
công du tại Philippines
năm 1996, giáo hoàng
Gioan Phaolồ II đã bộc
lộ tham vọng của y như
sau: “Tương lai của giáo
hội Công giáo La mã nằm
tại Á châu.”
Ba
năm sau, trong chuyến
công du Ấn độ vào tháng
11-1999, giáo hoàng
Gioan Phaolồ II công bố
tông huấn của y mang tên
“Giáo hội tại Á châu”
(Ecclesia in Asia). Nội
dung chính của tông huấn
này là Giáo hoàng chỉ
thị cho các Hội đồng
Giám mục Á châu phải cải
đạo những người ngoại
giáo Á châu theo cung
cách của người châu Á.
Giáo hội phải tìm mọi
cách để hòa nhập
(giả vờ) vào đời sống
của người bản địa để
cuối cùng sẽ Công giáo
hoá họ và gia đình họ.
Đặc biệt, giáo hội Á
châu phải chú ý đến giới
phụ nữ và giới người
nghèo là hai giới mà từ
xưa đến nay giáo hội
thường kỳ thị và ruồng
bỏ. (Báo Dấn Thân của
Phong trào Giáo dân
Houston, số 35, tháng
3-2002).
Từ
ngày 3 đến ngày 13 tháng
Giêng năm 2000, hội đồng
Giám mục Á châu đã tổ
chức cuộc họp tại thành
phố Sanphran (Thái Lan)
để học tập và nghiên cứu
ngõ hầu thi hành tông
huấn này. Sau cuộc họp,
các giám mục trở về nước
đã chỉ thị cho các tu sĩ
và giáo dân dưới quyền
tham gia công cuộc
truyền đạo theo sách
lược của giáo hoàng đã
vạch ra trong tông huấn,
với tất cả các phương
tiện truyền thông hiện
đại gồm các sách báo,
truyền thanh, truyền
hình và nhất là Mạng
lưới Tin học toàn cầu
(Internet).
Trong tất cả các cộng
đồng Công giáo Á châu,
có lẽ có cộng đồng Công
giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ
là hoạt động tích cực
nhất. Ồn ào nhất là hệ
thống Radio Bolsa, phát
thanh đồng loạt tại
Washington DC., Houston,
Orange County và San
Jose. Phương tiện truyền
thông hiện đại qua
Internet cũng được triệt
để khai thác cho việc
truyền đạo, đáng kể nhất
là mạng lưới
Vietcatholic.net do linh
mục Trần Công Nghị, tiến
sĩ thần học tại Roma,
làm giám đốc với sự cộng
tác của trên 200 linh
mục và trí thức Công
giáo (báo Viet Tide số
55, 8/8/2002, trang 20).
Tuy nhiên, mặc dầu tông
huấn của giáo hoàng tung
ra nhiều độc chiêu nham
hiểm để xâm lăng văn hoá
Á châu và bọn lâu la
gián điệp ra sức thực
hiện các kế hoạch của
giáo hoàng, nhưng tất cả
sẽ chẳng thâu lượm được
một kết quả nào. Cuối
cùng bản tông huấn của
giáo hoàng sẽ đưa Công
giáo Á châu đi vào con
đường bế tắc, không lối
thoát.
Sau đây là một số những
lý do chính yếu khiến
cho ảo vọng của Vatican
về “một vụ gặt lớn tại Á
châu” tan thành mây khói
và riêng giáo hội Công
giáo Việt Nam sẽ thấy
hiện ra trước mặt một
tương lai đen tối không
thể tránh khỏi.
Nguyên nhân 1:
Tông huấn của Gioan
Phaolồ II không đưa ra
một điều gì mới, sẽ chỉ
đưa Công giáo La mã Á
châu vào con đường cụt.
So
sánh với các sách lược
truyền đạo của các cố
đạo Tây phương tại Á
châu trong những thế kỷ
trước, ta thấy tông huấn
của Gioan Phaolồ II
chẳng có điều gì mới lạ,
ngoại trừ một số danh từ
mị dân rẻ tiền: “Chúa
Giêsu mang hình hài
người Á châu”, “Công
giáo La mã là đạo của
người Á châu”, “Thiên
Chúa đã chọn Á châu để
khởi sự kế hoạch cứu độ
của Ngài” v.v...
Những lời mị dân đó
chẳng lừa bịp được ai vì
trình độ hiểu biết của
người Á châu đã khác
xưa. Người Á châu biết
phân biệt hai Giêsu: một
Giêsu thật (the real
Jesus) và một Giêsu của
sự thờ phượng (the
cultic Jesus). Giêsu
thật là một người Do
thái đã sinh ra trên
phần đất ngày xưa là
thuộc địa của đế quốc La
mã và ngày nay thuộc
lãnh thổ Á châu. Giêsu
thật có hành vi chống đế
quốc La mã và ngày nay
thuộc lãnh thổ Á châu.
Giêsu thật có hành vi
chống đế quốc La mã và
đã bị La mã giết chết
bằng cách đóng đinh trên
thập giá. “Giêsu thật”
đã chết với tư cách là
một công dân Do thái yêu
nước. “Giêsu thật” là
một nhân vật có thật
trong lịch sử nên còn
được gọi là “Giêsu lịch
sử” (the historical
Jesus). Trái lại “Giêsu
của sự thờ phượng” là
một sản phẩm giả tạo đã
được tạo ra bởi những kẻ
chủ mưu lập đạo Kitô gồm
có Phaolồ, Constantine
và Augustine. Bọn này đã
thần thánh hoá Giêsu
bằng huyền thoại Chúa
Cứu Thế của Do thái,
bằng thần thoại “Ngôi
lời Nhập thể” của Hy lạp
và bằng môn thần học
hoang tưởng của
Augustine. Vì thế “Giêsu
của sự thờ phượng” còn
được gọi là “Giêsu thần
học” (the theological
Jesus = the cultic
Jesus). Người Á châu có
thể chấp nhận Giêsu là
một người Á châu, có thể
có cảm tình tốt với
Giêsu vì ông ta cũng có
tinh thần yêu nước chống
đế quốc. Nhưng người Á
châu nhất định không
chấp nhận “Giêsu thần
học” vì nó chỉ là sản
phẩm giả tạo do đế quốc
La mã dựng lên để làm
công cụ xâm lược và nô
lệ hoá con người.
Chẳng khác nào dân Do
thái trong hai ngàn năm
qua vẫn công nhận “Giêsu
thật” tức là “Giêsu lịch
sử” là một công dân Do
thái,nhưng họ dứt khoát
từ chối không chấp nhận
“Giêsu của sự thờ
phượng” là một Chúa Cứu
thế (Messiah) hoặc là
“Con trai duy nhất của
Thiên Chúa” xuống thế
làm người...!
Thực tế văn hoá Á châu
đã quyết liệt phủ nhận
“Giêsu thần học” và sẽ
phủ nhận quyết liệt hơn
nữa trong tương lai. Bất
chấp thực tế phũ phàng
đó, giáo hoàng Gioan
Phaolồ II vẫn đưa ra một
lời tuyên bố ảo tưởng:
“Trong thiên niên kỷ thứ
ba, giáo hội sẽ gặt hái
được một mùa gặt lớn
trên lục địa rộng lớn và
tràn trề sức sống này.”
Chẳng bao lâu nữa, thực
tế sẽ dạy cho Vatican
thấy rằng : Á châu là
một ‘bức tường lửa văn
hoá’ sẽ thiêu rụi mọi
tín điều nhảm nhí của
Kitô giáo nói chung và
của Công giáo La mã nói
riêng.
Điều đó chẳng có gì đáng
ngạc nhiên vì đã nhiều
thế kỷ trôi qua, các
giáo hoàng và ban tham
mưu của họ ở Vatican đã
không tìm ra được một
phương cách nào mới hữu
hiệu ngoài những cách đã
cũ rích “Hòa để Hóa” đã
không thành công trong
sách lược truyền đạo ở Á
châu.
Người đầu tiên áp dụng
sách lược “Hòa để Hóa”
trong mục tiêu truyền
đạo là linh mục dòng tên
gốc Ý rất nổi tiếng
Matteo Ricci. Ông ta đặt
chân lên đất Trung hoa
năm 1583, lúc 32 tuổi,
tự đổi tên thành
Mã-Lợi-Đậu, ăn mặc và
sinh hoạt hoàn toàn như
một người Trung hoa. Sau
13 năm học và nói thông
thạo nhiều thổ ngữ Trung
hoa, đọc và viết thông
thạo chữ Hán, linh mục
Matteo Ricci đã viết
sách “Thiên Chủ Thực
Nghĩa”. Xuất bản tại Bắc
kinh năm 1603 với nội
dung chủ yếu là “Hội
nhập Thiên Chúa giáo vào
văn hoá Trung quốc”.
Cuốn sách của Matteo
Ricci trở thành sách gối
đầu giường cho các giáo
sĩ ngoại quốc đến truyền
đạo tại Trung Hoa từ thế
kỷ 16 về sau, và cho các
giáo sĩ đến truyền đạo
tại Việt Nam trong thế
kỷ 17. Cuốn sách đó đặc
biệt có ảnh hưởng sâu
đậm đến cố đạo Đắc Lộ vì
Matteo Ricci là người
đầu tiên đưa vào ngôn
ngữ Trung Hoa những danh
từ Kitô giáo dưới dạng
chữ Hán như: Thiên chủ,
Thiên chủ giáo, Thiên
đàng, Hỏa ngục, Linh
hồn, Thánh thần (Holy
ghost) v.v... Từ những
danh từ chữ Hán đó, Đắc
Lộ đã dịch sang tiếng
Việt và tìm cách “Hội
nhập Thiên Chúa giáo vào
văn hóa Việt Nam”. Đắc
Lộ đã phát sinh ra danh
từ “Đức Chúa Trời”,
“Chúa Thánh thần” để
giảng đạo.
Matteo Ricci và Đắc Lộ
được coi là hai giáo sĩ
truyền đạo xuất sắc, cả
hai đều thuộc dòng Tên
là dòng tu nổi tiếng trí
thức nhất của giáo hội
Công giáo La mã, cả hai
đều được coi là những
người đã khai sáng ra
sách lược truyền giáo
bằng cách “hòa nhập vào
văn hóa bản địa” rồi sau
đó “Công giáo hóa người
bản xứ” tại Á châu.
Tuy nhiên cả hai đều
thất bại trong việc
thuyết phục người Á châu
tin vào tín điều “Thiên
Chúa Ba Ngôi” nên cả
hai đều đã tránh đề cập
đến vấn đề này, mặc dầu
Chúa Ba Ngôi là vấn đề
tâm điểm của Kitô giáo.
Từ ngày Matteo Ricci đặt
chân lên đất Trung Hoa
năm 1583 cho đến 160 năm
sau, số tín đồ Công giáo
Trung Hoa đã tăng lên
con số khoảng 3 triệu
người. Nhưng một biến cố
nghiêm trọng xẩy ra là
việc giáo hoàng Benoit
XIV công bố đạo luật
“Bulle Ex Quo Singular”
năm 1742 cấm người Á
châu không đựợc thờ cúng
tổ tiên. Đạo luật
này đã làm cho các tín
đồ Công giáo Trung Hoa
bất mãn tức giận nên họ
đã bỏ đạo gần hết. Chỉ
còn lại một số rất ít
tiếp tục theo Công giáo
La mã mà thôi.
Bản chất của người Trung
Hoa rất tôn trọng đạo
Hiếu. Giáo hoàng Benoit
đã hành động một cách
hết sức dại dột là cấm
họ thờ cúng tổ tiên,
chẳng khác nào xối một
thùng nước lạnh lên đầu
họ. Họ nhìn đạo Công
giáo La mã như một thứ
đạo dành riêng cho những
kẻ bất hiếu đáng khinh
bỉ và họ đã bỏ đạo không
luyến tiếc.
Theo thống kê năm 1980
thì dân số Trung quốc
trên 1 tỉ người, số tín
đồ Công giáo La mã cũng
vẫn là 3 triệu người,
tức là chưa đến 3 phần
ngàn (0.3%). Trong khi
đó số tín đồ Tin Lành là
7 triệu, mặc dầu Tin
Lành mới được truyền vào
Trung quốc từ đầu thế kỷ
20. (Theo nguyệt san
Công giáo và Dân tộc, số
22, tháng 10/1996).
Tỉ
lệ Công giáo La mã Việt
Nam là khoảng 7% dân số
toàn quốc, so với Trung
quốc chỉ có 0.3% thì
tổng số Công giáo La mã
Việt Nam rất cao. Tuy
nhiên, tỉ lệ cao này
không phải là kết quả
của sách lược “Hòa để
Hóa” mà là kết quả của
80 năm Pháp cai trị Việt
Nam và 21 năm nhà Ngô
cai trị miền Nam Việt
Nam. Dưới hai chế độ
Việt Nam Cộng hòa
(1954-1975) bọn gián
điệp văn hóa mặc áo thầy
tu đã ra sức tung hoành
và xuyên tạc phá hoại
văn hóa nước nhà để
quảng bá nền văn hóa phi
nhân và nô dịch của đạo
Công giáo La mã. Tên
gián điệp văn hóa điển
hình thuộc loại này là
cố linh mục Lương Kim
Định đã bị nhà nghiên
cứu văn hóa Lê Trọng Văn
vạch trần trong tác phẩm
“Lột Mặt Nạ Những Con
Thò Lò Chính Trị” do tác
giả xuất bản tại Hoa Kỳ
năm 1991, trang 334-455.
Tác giả Lê Trọng Văn đã
nêu lên một nhận xét hết
sức chính xác như sau:
“Nho cũng như Thích, Lão
đều là những thứ keo sơn
gắn bó giữa các giai
tầng trong xã hội của
các nước châu Á... phá
Nho không phải là một
điều dễ làm nếu không
muốn nói đó chỉ là
chuyện mộng du... giai
cấp Nho sĩ Việt Nam
không phải hèn từ trong
quá khứ xa xưa, và trong
hiện tại đã góp phần khá
lớn cho chiến thắng Điện
Biên Phủ 1954 vang lừng
thế giới... Công giáo La
mã không thể đánh phá
Nho bằng bạo lực thì
phải tìm cách Hòa để
Đồng Hóa dần bằng kinh
tế và và Đức Tin dưới
hình thức giả bộ đề cao
Nho” (trang 352-353).
Lm. Lương Kim Định đã bỏ
ra nhiều công sức để
“hòa nhập” vào đạo Nho
bằng cách nghiên cứu và
viết nhiều sách về Nho
giáo, đến nỗi học giả
Nguyễn Hiến Lê phải
tuyên bố : “Thật lạ
lùng! Người có công
nghiên cứu đạo Khổng
nhất, đề cao Khổng nhất
ở nước ta từ trước đến
nay lại là một người
Công giáo: giáo sư Lương
Kim Định” (sách đã dẫn,
trang 267).
Lm. Lương Kim Định viết:
“Cái nền tảng giáo lý
Khổng Mạnh đã là công cụ
thống trị bóc lột của
bọn vua chúa phong kiến
Hán tộc và đã bị nhân
dân tại nơi sinh ra nó
phế thải... Điều đó nói
lên tính lỗi thời của
giáo lý Khổng Mạnh”
(sách đã dẫn, trang
403).
Lm. Lương Kim Định cũng
viết nhiều về lịch sử
Việt Nam và gây ấn tượng
tác giả đã thật sự “tìm
về dân tộc”, nhưng Lương
Kim Định chỉ nhắm xuyên
tạc lịch sử Việt Nam để
xóa bỏ triều đại Hùng
Vương và thay thế bằng
huyền thoại Bàn Cổ của
Trung quốc. (Sách đã
dẫn, trang 362).
Nhà nghiên cứu văn hóa
Lê Trọng Văn kết luận:
“Những tác phẩm của linh
mục Lương Kim Định đã
thành công trên mặt
giảng đạo... bằng lừa
lọc công luận, tạo điều
kiện áp đặt văn hóa Kitô
lên truyền thống văn hóa
lâu đời của dân tộc.”
(sách đã dẫn, trang
371).
Nói tóm lại, sau hơn 4
thế kỷ truyền đạo tại Á
châu với sách lược “hòa
để hóa”, Vatican chẳng
bao giờ có nổi ‘một vụ
gặt bội thu’ như mong
ước. Trái lại, tỉ số
chưa đến 1% tín đồ đã
nói lên sự thất bại nặng
nề trong sách lược
truyền đạo của Vatican.
Ngày nay, nội dung chính
yếu của bản tông huấn
‘Giáo hội tại Á châu’
vẫn là: “truyền đạo cho
người Á châu với cung
cách của người châu Á
và tạo cho người châu Á
có cảm tưởng Công giáo
La mã là đạo của người
châu Á chứ không phải là
đạo ngoại lai” v.v...
Ngôn từ tuy có khác
nhưng ý chính vẫn là
“hòa để hóa”, vẫn chỉ là
‘bình cũ rượu mới’, tất
cả vẫn là tiếp tục đi
trên con đường mòn thất
bại. Con số tín đồ Công
giáo La mã châu Á sẽ
chẳng bao giờ vượt quá
tỉ lệ 1%!
Bản tông huấn của Gioan
Phaolồ II không phải là
một phép mầu của Chúa
Thánh Thần có thể đưa
giáo hội Công giáo Á
châu ra khỏi con đường
bế tắc hiện nay.
Nguyên nhân 2:
Giáo hội La mã là một dị
vật không thể hoà nhập
vào văn hóa Á châu.
Ba
tôn giáo quan trọng tại
Trung quốc, Nhật Bản và
Việt Nam là đạo Phật,
đạo Lão và đạo Khổng. Cả
ba đạo đều xuất phát từ
những nhu cầu của xã hội
và của con người. Cả ba
đạo đều nhằm một mục
đích chung là phục vụ
lợi ích thiết thực của
con người trong đời sống
này. Cả ba tôn giáo đã
tạo nên nét đặc thù của
văn hóa Việt Nam.
Đạo Phật:
Phát sinh từ nhận thức
cuộc đời đau khổ như một
giòng sông, bên này sông
là “bến mê”, bên kia
sông là “bờ giác”. Phật
giáo vạch ra một ‘con
đường’ để đưa con người
đến giác ngộ, hay nói cụ
thể hơn là cung cấp cho
con người một cái bè qua
sông không phải là ‘đức
tin’ mà là trí tuệ và
tinh thần tự giác để tự
cứu. Đạo Phật không bắt
buộc con người phải tôn
thờ hoặc phải sợ hãi một
thần linh nào, không hăm
dọa đầy đọa con người
đời đời trong hỏa ngục
và không xiềng xích tín
đồ vào những tín điều vô
lí, phản lý trí và phản
khoa học như đạo Kitô.
Đạo Khổng:
Xuất hiện tại Trung quốc
trong thế kỷ 5 TCN. mục
tiêu chính của đạo Khổng
là dạy con người cách xử
thế:
-
Hiếu: tỏ lòng
thành kính biết ơn cha
mẹ, tổ tiên.
-
Đễ: thuận thảo
với anh em.
-
Trung: trung
thành với quốc gia dân
tộc.
-
Thứ: cư xử với
mọi người cho hợp lẽ.
Đạo Khổng đã góp phần
quan trọng trong việc
tạo thành một nếp sống
văn hóa lành mạnh trong
xã hội Việt Nam, nhờ đó
mọi người biết dùng lễ
nghĩa cư xử với nhau,
tạo thành một thứ xã hội
an bình, trên thuận dười
hòa.
Đạo Khổng đề cao tinh
thần thực tế, khiến cho
mọi người chú tâm xây
dựng cuộc sống hiện tại.
Khổng Tử nói: “vị tri
sinh, an tri tử”, có
nghĩa là ‘chúng ta chưa
biết hết mọi chuyện của
cuộc sống này thì đừng
nên bận tâm về những gì
xảy ra sau khi chết.’
Chúng ta không cần phải
lo sau khi chết sẽ đi về
đâu, thiên đàng hay hỏa
ngục? Cũng chẳng cần
thắc mắc là ở trên có
Thiên Chúa hay không?
Thiên Chúa có mấy ngôi?
Chúa Cha có mấy con?
Chúa sai đứa nào xuống
thế làm người hay làm
con bò (Emmanu-el = the
bull EL with us)? Tinh
thần thực tiễn của đạo
Khổng đã tránh cho chúng
ta khỏi rơi vào cái bẫy
của thần học hoang tưởng
Kitô giáo, một môn học
chuyên đoán mò những
chuyện huyền hoặc nhảm
nhí và phản khoa học.
Đạo Khổng hoàn toàn
không có một tín điều
nào và không dùng “đức
tin” để cải tạo xã hội,
đạo Khổng chỉ tin tưởng
vào kết quả của sự giáo
dục : Các công phu giáo
huấn sẽ làm thay đổi tư
cách con người, từ đó xã
hội sẽ được cải thiện để
phục vụ con người. Con
người là cứu cánh phục
vụ của đạo Khổng vậy.
Đạo Lão:
Lão tử cùng thời với
Khổng tử, tức là vào thế
kỷ thứ 5 TCN. Tinh thần
của Lão tử rất cao siêu,
tuy nhiên phần đông
người Việt cũng thấm
nhuần được cái tinh thần
thanh thoát bình thản
của đạo Lão qua hơn hai
ngàn năm đạo này tồn tại
trên đất nước ta. Cái
tinh thần bình thản đó
là do hiểu được nguyên
lý tương đối trong vũ
trụ: Trong âm có dương,
trong dương có âm. Khi
gặp điều may không vội
mừng vì trong phúc có
họa. Khi gặp điều dữ
không buồn lo vì trong
họa có phúc. Lẽ tương
đối trong vũ trụ giúp ta
hiểu được cả những điều
siêu hình: trong âm có
dương và trong dương có
âm, trong thiện có ác.
Vậy không thể có Đấng
Toàn Thiện (Thiên Chúa).
Ngược lại, trong ác có
thiện, vậy cũng không
thể có kẻ chỉ ác (Quỉ
Satan). Thiên Chúa và
Satan chỉ là sản phẩm
của óc tưởng tượng.
Lão tử giải thích căn
nguyên vũ trụ là Đạo:
Đó chính là nguyên lý
của thiên nhiên vô hình
vô sắc đã sinh ra âm
dương tương khắc tương
sinh tạo thành vũ trụ
vạn vật. Dân tộc Việt
Nam không đón nhận ba
đạo Phật, Khổng, Lão
bằng niềm tin mù quáng
nhưng đã dùng lý trí
chắt lọc tinh tuý chung
của cả ba đạo (tam giáo)
để phục vụ đời sống của
toàn dân. Cả ba đạo cùng
sống trong lòng dân tộc
như một dòng chảy văn
hóa duy nhất, đó chính
là Tam giáo Đồng lưu.
Ngoài những nét đặc thù
của tam giáo, dân tộc
Việt Nam còn có một đặc
tính văn hóa “cha mẹ
hiền lành để đức cho
con”. Học giả Đào Duy
Anh, trong sách ‘Việt
Nam Văn Hóa Sử Cương’,
gọi đặc tính ấy là ‘Nhân
sinh quan lưu ấm’.
Học giả Đào Duy Anh đã
nhận xét : Sau khi tam
giáo đã bắt rễ trong xã
hội, cả ba đạo tuy khác
nhau nhưng chỉ có một
đường là chỉ dạy cho dân
tộc ta ăn ở hiền lành để
tránh tai họa cho bản
thân và để đức lại cho
con cái. Nhân sinh quan
‘lưu ấm’ là kết
quả của sự tổng hợp tinh
tuý của tam giáo, đã tạo
nên một đặc tính văn hóa
rất cảm động của dân tộc
ta.
Cây xanh thì lá cũng
xanh
Cha mẹ hiền lành để
đức cho con.
Ai
ai cũng không dám làm
điều ác, không phải vì
sợ Chúa phạt xuống hỏa
ngục mà chỉ sợ ‘đời cha
ăn mặn, đời con khát
nuớc’, ‘Ác giả ác báo’
theo luật nhân quả! Mỗi
khi gặp điều gì may mắn
thì cho đó là ‘phúc đức
của tổ tiên để lại.’ Mỗi
khi con cái khôn hơn
mình, giỏi hơn mình thì
vui mừng cho đó là cái
phúc của gia đình mình :
‘Con hơn cha là nhà có
phúc’!
Tam giáo đã tạo nên tinh
thần gắn bó giữa tổ tiên
và chúng ta, sau đó là
mối liên kết kế tục giữa
chúng ta và con cháu đời
sau. Dòng chảy thiêng
liêng từ tổ tiên đến con
cháu muôn đời là ĐỨC.
Đức được tạo
thành do sự ăn ở hiền
lành ngay thẳng hợp với
đạo làm người một cách
tự nhiên theo lương tâm
hoặc theo Phật tính sẵn
có trong lòng mỗi người.
Tam giáo đã đem đến cho
dân tộc ta một triết lý
sống rất thực tiễn nhưng
cũng rất cao đẹp. Điều
mà dân tộc ta tôn quí
nhất là Đức hiền lành (hiền
đức)!
Người trồng cây hạnh
người chơi
Ta trồng cây Đức cho
đời mai sau!
Trong khi đó thì Giêsu
trắng trợn dạy tín đồ
“đạo bất hiếu” có ghi
rành rành trong Phúc âm
Luke 14:20: “Bất cứ ai
đến với ta mà không thù
ghét cha mẹ, vợ con và
anh chị em mình thì
không thể là tín đồ của
ta.” Do lời dạy khốn
nạn đó của Giêsu nên
giáo hoàng Clément XI đã
ban hành sắc luật ngày
20/11/1704 cấm tín đồ
Công giáo La mã không
được thờ cúng tổ tiên,
cấm đặt bài vị hoặc hình
ảnh của người quá cố
trên bàn thờ. Giáo hoàng
Nenoit XIV nhắc lại luật
cấm thờ tổ tiên năm
1742. Do luật cấm thờ tổ
tiên ngu xuẩn của các
giáo hoàng La mã mà hầu
hết giáo dân Trung Hoa
đã bỏ đạo trong thế kỷ
18.
Mãi đến năm 1939, giáo
hoàng Piô XII mới ban
hành đạo luật ‘Plane
Compertum Est’ cho phép
giáo dân Trung Hoa thờ
cúng tổ tiên như xưa.
Sau Công đồng Vatican II
năm 1964, bãi bỏ lệnh
cấm thờ tổ tiên nên giáo
dân Việt Nam mới được
phép tiến hành dâng
hương trước bàn thờ gia
tiên trong dịp cưới hỏi
hoặc ngày giỗ v.v...
Mục đích chính của
Vatican khi ra lệnh cấm
thờ cúng tổ tiên cốt ý
dành sự tôn thờ cho một
Thiên Chúa mà thôi.
Ngoài Thiên Chúa ra, các
tín đồ không được tôn
thờ một ai khác, dù
người đó là cha mẹ tổ
tiên của mình.
Qua những sự việc trên
chúng ta thấy các tín đồ
Công giáo La mã thật tội
nghiệp đáng thương. Họ
là một bầy nô lệ đã bị
Vatican tước đoạt hết
quyền tự do và nhân phẩm
do sự ngu dốt của họ.
Bọn lưu manh khốn nạn ở
Vatican đã dành toàn
quyền quyết định hoặc
tước đoạt hoặc cho phép
họ được thờ cúng tổ tiên
của mình. Thật ra sự thờ
cúng tổ tiên chẳng phải
là một tôn giáo, ta quen
gọi là đạo ông bà,
chỉ là một cách biểu lộ
tình cảm gia đình đối
với người thân đã khuất
mà chúng ta vẫn tha
thiết chẳng muốn xa lìa
quên lãng. Việc cúng giỗ
là một hình thức kỷ niệm
để tỏ lòng biết ơn theo
tinh thần “uống nước nhớ
nguồn”. Bọn giáo hoàng ở
Vatican cấm người Á châu
thờ cúng tổ tiên là bọn
chúng đã ngang nhiên
nhục mạ văn hóa Á châu
và xúc phạm nặng nề đến
tâm tư tình cảm của
người châu Á. Bọn lãnh
đạo giáo hội Công giáo
La mã sẽ phải trả những
giá rất đắt cho những
hành động láo xược và
ngu xuẩn của chúng.
Tổng kết lại, chúng ta
thấy Kitô giáo (gồm cả
Công giáo và Tin lành)
không thể hòa nhập vào
văn hóa Á châu, nhất là
văn hóa Trung quốc, Nhật
bản và Việt Nam, do hai
mặt đối lập chính yếu
sau đây:
1.Tam giáo được
xây dựng trên nền tảng
nhân bản, trong khi đó
Kitô giáo là một tôn
giáo hoàn toàn phi nhân
(inhuman).
Như đã trình bày: Tam
giáo xuất phát từ nhu
cầu phục vụ con người
chứ không phục vụ một
thần linh nào. Tam giáo
không đặt vấn đề thờ
phượng Thượng đế mà chỉ
chú trọng đến cái Tâm
của con người: Con người
đau khổ do mê muội và
dục vọng. Con người có
thể tự cứu mà không cần
phải cầu cứu hay ỷ lại
vào một thần thánh nào.
Đó là tính nhân bản của
Tam giáo. Trái lại, nền
tảng các đạo độc thần
(Do thái, Kitô, Hồi) đều
đặt trên niềm tin vào
Thiên Chúa và phải tôn
thờ Thiên Chúa trên hết
mọi sự. Tiêu biểu tinh
thần cho các đạo Chúa là
chuyện Abraham dám giết
người mà ông ta yêu
thương nhất để tế Chúa
thì tất nhiên ông ta
cũng không ngần ngại
giết bất cứ ai hoặc giết
vô số người khác để phục
vụ tinh thần hiếu sát vô
độ của Thiên Chúa. Thiên
Chúa thực sự là một ác
thần khát máu và các tín
đồ thờ đạo Chúa đều là
những kẻ hiếu chiến,
hiếu sát. Đó là một đặc
tính phi nhân (hoặc vô
nhân đạo) của các đạo
Chúa nói chung và của
Kitô giáo nói riêng,
không thể nào hòa nhập
vào đời sống người Á
châu vốn thấm nhuần
triết lý nhân bản của
tam giáo.
2. Cả ba đạo Phật,
Khổng, Lão thật sự là ba
triết thuyết được xây
dựng trên căn bản lý
trí,
trái với Kitô giáo là
một tôn giáo thần bí dựa
trên những tín điều do
kẻ lập đạo tự ý đặt ra
để bắt các tín đồ phải
tin theo. Các tín dồ
không có quyền dùng lý
trí để phê phán các tín
diều dù cho họ nhận thức
được các tín điều đó là
vô lý.
Họ
chỉ có một con đường duy
nhất để trở thành tín đồ
Kitô giáo là hoàn toàn
chấp nhận vô điều kiện
toàn bộ các tín điều của
đạo Kitô theo đúng lời
dạy ngu xuẩn của Giêsu :
“Phúc cho những ai không
thấy mà tin”!
Kitô giáo là một tôn
giáo hoàn toàn xây
dựng trên niềm tin và
phủ nhận lý trí.
Điều đó đủ cho thấy mọi
tín đồ Kitô giáo (Công
giáo, Tin lành) đều là
những kẻ vô minh mê
muội. Kitô giáo chẳng
khác nào bóng tối, khi
nó đến gần Tam giáo nó
sẽ bị ánh sáng trí tuệ
của Tam giáo làm cho nó
tiêu tan. Kitô giáo
chẳng bao giờ có khả
năng hòa nhập vào Tam
giáo vì nó đã bị hoàn
toàn tiêu tan trước khi
nó có thể hoà nhập.
Chính vì vậy, trong hai
ngàn năm qua, trong lòng
dân tộc Việt Nam luôn
luôn tồn tại Tam giáo
Đồng lưu, nhưng sẽ
không bao giờ có sự hòa
nhập của Kitô giáo để
biến thành “tứ giáo đồng
nguyên”. Điều quái đản
này sẽ chẳng xẩy ra trên
đất nước Việt Nam.
Nguyên nhân 3:
Thái độ kiêu căng láo
xược của Vatican đã đẩy
các dân tộc Á châu vào
thế đối đầu và dẫn đến
sự thất bại nhục nhã của
đạo Công giáo La mã.
Đã
hai ngàn năm qua, ba đạo
Phật-Khổng-Lão sống
chung hòa bình trong
lòng dân tộc Việt Nam,
không một lần gây xáo
trộn xã hội và cũng
không một lần đưa dân
tộc vào vòng nô lệ ngoại
bang. Cả ba đạo đều tỏ
thái độ tương thân tương
kính, hòa nhã khiêm cung
đúng như tư cách của
người quân tử. Thái độ
này hoàn toàn phù hợp
với tinh thần hòa nhã
nhún nhường cố hữu của
người Việt Nam:
Ai nhất thì tôi thứ
nhì
Ai mà hơn nữa tôi thì
thứ ba.
Trái lại, thái độ của
Công giáo La mã (mà đại
diện của nó là Vatican)
luôn luôn trịch thượng,
hung hăng, láo xược.
Công giáo luôn kiêu hãnh
tự cho mình ngôi vị độc
tôn và lên mặt coi
thường tất cả các tôn
giáo khác trên thế giới.
Trong bản tông huấn
“Giáo hội Á châu”, giáo
hoàng Gioan Phaolồ II
viết: “Đức Giêsu Kitô là
trung gian duy nhất giữa
Thiên Chúa và loài
người. Ngài đã là Đấng
Cứu độ duy nhất cho toàn
thể loài người.... khác
hẳn với các vị sáng lập
các tôn giáo khác.”
Giáo hoàng Goan Phaolồ
II muốn đề cao Giêsu
trên các giáo chủ khác
vì hai lý do hoàn toàn
giả tạo.
Thiên Chúa là sản phẩm
của tưởng tượng nên hoàn
toàn không có thật, do
đó chẳng làm gì có
chuyện Giêsu là trung
gian duy nhất giữa Thiên
Chúa và loài người. Dân
Á châu đi tìm sự cứu độ
tự bản thân mình, chứ
không tìm sự cứu độ từ
bên ngoài, do đó cái
huyền thoại cứu độ của
Giêsu chỉ là một món
hàng thừa thãi vô dụng
chỉ đáng vứt xuống hố
rác mà thôi. Cũng vì
thế, mặc dầu Giêsu đã
sinh ra trên lục địa Á
châu từ hai ngàn năm qua
nhưng y vẫn là kẻ vô
danh trên lục địa này.
Trong một đoạn khác của
bản tông huấn, Gioan
Phaolồ II còn nhục mạ
các tôn giáo Á châu một
cách nặng nề hơn nữa :
“Các tôn giáo Á châu như
Do thái giáo, Hồi giáo,
Ấn độ giáo, Phật giáo,
Lão giáo, Khổng giáo,
Hỏa giáo, đạo Sikh và
Thần đạo... các giá trị
tôn giáo mà các đạo ấy
giảng dạy đang chờ được
hoàn thành trong đức
Giêsu Kitô.” Đây là một
luận điệu láo xược đến
độ trâng tráo lố bịch
ngoài sức tưởng tượng
của mọi người. Gioan
Phaolồ II tuyên bố như
trên nhằm xuyên tạc và
hạ bệ tất cả các giáo
chủ khác xuống thành
những “công cụ dọn
đường” cho Giêsu vì
Giêsu là giáo chủ cuối
cùng và cao nhất có sứ
mạng hoàn thành chân lý?
Chúng ta hãy tự hỏi
Giêsu thật sự là ai? Và
đạo Công giáo La mã thật
sự là đạo gì? Lịch sử và
khoa học khảo cổ đã
chứng minh Công giáo chỉ
là đạo thờ bò cải biến.
Giáo lý Kitô giáo chứng
minh Giêsu là một đứa
con mất dạy loạn luân
với mẹ. Sách Tân ước
Mathew 1:23 ghi nhận
Giêsu là một con bò:
“Này, trinh nữ sẽ mang
thai và sinh ra một đứa
con trai, nó sẽ được đặt
tên là Emmanu-EL.”
(Behold, a virgin shall
be with child and shall
bring forth a son and
they shall call his name
Emmanu-EL). Theo nguyên
nghĩa tiếng Hebrew,
Emmanu-EL có nghĩa là
con bò EL ở cùng chúng
ta. (The bull EL among
us).
Phải chăng các giáo
thuyết mà đức Phật Thích
Ca, đức Khổng tử, Lão tử
giảng dạy đều thiếu sót
và cần phải đợi con bò
Giêsu hoặc đứa con loạn
luân với mẹ để hoàn
thành hay sao?
Thái độ trịch thượng và
láo xược của Gioan
Phaolồ II và Vatican đã
đẩy các tôn giáo và các
dân tộc Á châu vào thế
đối đầu. Bọn chúng quên
rằng các tôn giáo và các
dân tộc Á châu có dư khả
năng khai tử Công giáo
La mã trên lục địa này.
Với thái độ kiêu căng
ngạo mạn, khinh thường
các tôn giáo Á châu, bọn
tu sĩ Công giáo La mã
đang tự đào hố chôn
mình. Bản chất phi nhân
và phản lý trí của Kitô
giáo (gồm cả Công giáo
và Tin lành) không cho
phép Kitô giáo có thể
hòa đồng với thực tại
văn hóa tam giáo của
Việt Nam nói riêng và
của các nước Trung
Hoa-Nhật Bản-Việt Nam
nói chung. Kitô giáo sẽ
mãi mãi là một dị vật
văn hóa và sẽ bị đào
thải. Với thái độ trịch
thượng láo xược của đại
đa số tu sĩ Công giáo La
mã, bọn chúng không chỉ
đưa Giáo hội Công giáo
tới ngõ cụt mà là tới tử
địa trên mảnh đất quê
hương Việt Nam của chúng
ta.
Charlie Nguyễn
Tháng 7-2003
Các chương khác trong sách:
Alexandre De Rhodes và Chữ Quốc Ngữ Con Đường Cụt của Vatican ... Các Hoạt Động Chính Trị của Đạo Quân Thứ 5 Hồ Sơ Tội Ác của Hội Thừa Sai ... In God We Trust Màn Kịch Lộ Đức Một Vấn Đề về Huyền Thoại Giáng Sinh Nhận Xét về Thư của Phan Dình Diệm Quan Niệm Ông Trời của Người Việt Từ Thái Độ Khinh Miệt ... Việt Nam cần thực hiện ... Đòi Lại Đất bị Nhà Thờ Chiếm Đoạt Độc Thần Giáo ...
|