Độc Thần Giáo
(MonoTheism)
Từ thế kỷ 2 (sau
công nguyên),
ông Sỹ Nhiếp
(137-226) đã
khai mở kỷ
nguyên Tam Giáo
(Phật-Khổng-Lão)
ở Việt Nam.
Song song với
Tam Giáo đồng
lưu, phần đông
người Việt chúng
ta
theo đạo
“Thờ Cúng Ông
Bà”. Như vậy,
trong suốt hơn
13 thế kỷ, dân
tộc Việt Nam đã
theo và thực
hành 4 đạo (nếu
coi tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên
như một tôn
giáo), nhưng
chẳng có đạo nào
thờ Thần
(God) và hầu
như cả 4 đạo chỉ
là 4 “triết lý
sống” hơn là 4
tôn giáo.
Mãi đến đầu
thế kỷ 16,
khoảng vào năm
1533, lần đầu
tiên có một đạo
“độc thần” thuộc
văn hóa du mục
Tây Phương (Do
Thái-Ả Rập) là
đạo Công Giáo La
Mã (Roman
Catholicism) đã
xâm nhập vào
vùng Bùi
Chu-Phát Diệm
thuộc miền duyên
hải Bắc Việt. Vì
bản
chất của
đạo này hoàn
toàn trái ngược
với bản chất văn
hóa “nông nghiệp
nhân bản” của
dân tộc nên đạo
này đã gây nên
nhiều “va chạm
đột ngột”
(shocks) về tâm
lý cũng như về
sinh hoạt xã
hội.
Nó đã gây phân
hóa dân tộc,
biến 7-8% thành
phần dân tộc
thành những phần
tử tách rời và
luôn luôn đối
kháng với quyền
lợi dân tộc.
Cuối cùng họ đã
đưa dân tộc vào
vòng nô lệ ngoại
bang và tới nay
những hệ lụy
tai hại
của nó cũng vẫn
còn tồn tại.
Từ đầu thế kỷ
20, một loạt các
đạo “độc thần”
thuộc KiTô giáo
là các giáo phái
Tin Lành đã xâm
phạm nước ta.
Họ đã lập được
nhiều cơ sở tôn
giáo hoạt động
tại khắp
Trung-Nam-Bắc
Việt Nam trong
suốt thời Pháp
thuộc.
Trong cuộc chiến
Việt-Mỹ
(1964-1975),
nhiều giáo phái
Tin Lành Mỹ đã
lợi dụng ưu thế
quân sự và tiền
bạc để dụ dỗ mua
chuộc những
người Thượng
nhẹ dạ lập nên
những “Hội Thánh
Tin Lành” tại
miền Cao Nguyên
ở Trung và Bắc
Việt.
Ngày nay, những
“Hội Thánh” này
đã trở thành
những ung nhọt
nhức nhối cho
dân tộc Việt
Nam.
Mặc dầu
KiTô giáo (Công
giáo và Tin
Lành) có mặt tại
nước ta đã mấy
trăm năm, nhưng
nó vẫn là một
thứ sản phẩm văn
hóa xa lạ đối
với tuyệt đại đa
số dân tộc Việt
Nam.
Cho đến nay, vẫn
có nhiều người
Việt Nam lầm lẫn
về các danh xưng
tôn giáo này của
Tây Phưong.
Điều này dễ hiểu
vì hai hệ thống
tôn giáo của Tây
Phương và Đông
Phương hoàn toàn
khác biệt nhau.
Trải qua nhiều
thế kỷ, các tôn
giáo Tây Phương
bị phân hóa
thành rất nhiều
giáo phái
(denominations)
khác nhau, với
tên gọi khác
nhau, làm cho
chúng ta nhìn
vào cái khối tôn
giáo phức tạp
này phải rối mắt
và rất khó phân
biệt.
Điều lầm
lẫn lớn nhất và
đáng nói nhất là
nhiều người Việt
đã lầm lẫn gọi
KiTô giáo hoặc
Công giáo La Mã
là “Thiên Chúa
Giáo”, vì trong
thế giới Tây
Phương không hề
có danh từ
“Thiên Chúa
Giáo”. Chúng
ta đã biết các
tôn giáo thờ
Chúa đều đã xuất
phát và thịnh
hành trong các
nền văn hóa Tây
phương (bao gồm
các nước Âu Mỹ,
Do Thái, Ả Rập)
Quan niệm về
Chúa hay Thần
(God)
và cách
đặt tên hoặc
phân loại các
tôn giáo của họ
hoàn toàn khác
biệt với quan
niệm của chúng
ta.
Do đó, muốn
xử dụng đúng các
danh từ tôn giáo
Tây phương,
chúng ta phải
hiểu rõ cách suy
nghĩ và quan
niệm của họ về
tôn giáo. Đồng
thời chúng ta
cũng cần phải
hiểu người Á
Đông, nhất là
các tín đồ Phật
giáo Việt Nam
quan niệm về
“tôn giáo” như
thế nào.
Trong bài
viết “Vô Ngã”
đăng trong tạp
chí Hoa Sen, số
46, ngày
15-5-2002, giáo
sư Trần Trung
Ngọc đã giải
thích hết sức rõ
ràng và dễ hiểu
về sự khác biệt
trong quan niện
về tôn giáo giữa
người Tây phương
và người Phật tử
như sau (trang
70-71):
“ Phật giáo
không phải là
một tôn giáo
theo nghĩa của
người Tây
phương thường
hiểu, nghĩa là
một tôn giáo
trong đó các tín
đồ tin rằng có
một vị Thần
(hoặc Thiên
Chúa/Thượng Đế)
có khả năng sáng
tạo ra vũ trụ
muôn loài, có
quyền thưởng
phạt con người.
Do đó con người
sợ hãi và cầu
nguyện để xin vị
Thần đó ban
ân huệ
cho mình và nhất
là ban cho mình
có sự sống đời
đời sau khi
chết. Phật giáo
quan niệm một
tâm cảnh như
trên làm mất
phẩm giá con
người, vì như
vậy là con người
tự buộc mình vào
mớ xiềng xích nô
lệ. Nô lệ vật
chất hay nô lệ
tôn giáo tâm
linh cũng đều là
nô lệ. Do đó,
nếu chúng ta coi
Phật giáo là một
tôn giáo thì
chúng ta cần
phải hiểu đó là
một tôn giáo
nhân bản và nhân
chủ. Nhân bản là
đặt căn bản trên
con người. Nhân
chủ là con người
tự làm chủ mình,
tự mình tu tập
để đi đến giải
thoát, chứ không
trông ngóng ở
bất cứ một thứ
Thần quyền nào”.
Hoàn toàn tương
phản với quan
niệm về tôn giáo
nói trên của
Phật giáo, trong mọi tôn
giáo của Tây
phương luôn luôn
phải có sự hiện
diện của một vị
Thần (God).
Tiếng Hy Lạp gọi
Thần (God) là
“Theo”.
Từ căn ngữ
“Theo”, người
Tây phương đã
sáng tạo các
danh từ về tôn
giáo của họ.Tỷ
dụ :
-
Theology
: khoa thần học
-
Theism
: hữu thần
-
Atheism
: vô thần
-
Polytheism :
đa thần giáo
(đạo thờ nhiều
Thần như Đa Thần
giáo La Mã hay
Hy Lạp)
-
Monotheism :
độc thần giáo
(như các dạo thờ
Chúa – God)
-
Non-theism :
phi thần giáo
(như Phật giáo
đặt trọng tâm
vào con người,
chứ không vào
một vị thần nào
cả)
Danh Từ “Độc
Thần Giáo”
(Monotheism)
được hình thành
bởi hai chữ:
“Mono” có nghĩa
là Một (duy
nhất) và
“Theism”
(Theo=God). Như
vậy, Độc Thần
giáo có nghĩa là
niềm tin tôn
giáo vào một vị
thần duy nhất
(Monotheism is
the belief in
only one God).
Người Tây
phương dùng danh
từ Độc Thần giáo
(Monotheism) để
gọi
chung 3
tôn giáo thuộc
hệ thống “độc
thần” là: Do
Thái giáo, Ki Tô
giáo và Hồi giáo
(the three
related
monotheist
faiths of
Judaism,
Christianity and
Islam). Cả ba
tôn giáo này đều
thờ
chung một
Chúa (God) nhưng
người ta đã
không gọi những
tôn giáo này là
Thiên Chúa Giáo.
Chỉ có một danh
từ
chung cho
các đạo thờ Chúa
là “Độc Thần
Giáo” mà thôi.
Chúng ta sẽ lần
lượt nghiên cứu
về ba tôn giáo
độc thần
này :
1.
Do Thái Giáo
(Judaism) :
Riêng cái tên
“Do Thái giáo”
cũng đã đủ nói
lên cái ý nghĩa
hạn chế của nó:
đó là đạo của
một dân tộc
(a religion
limited to one
people).
Tín đồ Do Thái
giáo chính là
công dân Do
Thái.
Hiện nay số tín
đồ Do Thái giáo
khoảng 12 triệu
người (ở Mỹ 5.8
triệu; ở Israel
4.6 triệu, ở các
nơi khác trên
thế giới 1.6
triệu).
Do Thái là
một dân tộc nhỏ
bé, nhưng ảnh
hưởng văn hóa
của nó đối với
Tây phương thật
là lớn lao: Ít
nhất là 1/3 nền
văn minh Tây
phương mang dấu
ấn của các tổ
tiên Do Thái:
Adam Smith, Noah
Webster, Abraham
Lincoln, Isaac
Newton, Rebecca
West, Sara
Teasdale,
Michaelangelo,
và nhiều nữa.
Bản kinh Mười
Điều Răn (The
Ten
Commandments)
được toàn thế
giới Kitô giáo
và Hồi giáo (gồm
quá nửa tổng số
nhân loại) tuân
theo.
Chính nó đã tạo
nền tảng tinh
thần (moral
foundation) cho
thế giới Tây
phương.
Những điều
răn :
“Thou shalt not
murder, Thou
shalt not commit
adultery, Thou
shalt not steal,
.....” tiếp tục
có tác dụng từ
3000 năm trước
cho đến nay.
Tuy nhiên,
ảnh hưởng lớn
lao nhất của dân
tộc Do Thái đến
với thế giới
chính là đạo Do
Thái: từ 5000
năm qua, các dân
tộc Babylon, Ai
Cập, Syria và
các dân tộc khác
ở Âu Châu và Địa
Trung Hải đều
vẫn nghĩ rằng
mỗi một năng lực
thiên nhiên đều
được cai quản
bởi một vị thần
riêng biệt: bão
tố có Thần Bão
Tố, sấm sét có
Thần Sấm Sét,
... rồi Thần
Biển, Thần Mặt
Trăng, Thần Mặt
Trời, Thần Núi,
Thần Sông,
v.v.... Nhưng
riêng dân tộc Do
Thái, suốt 5000
năm qua, chỉ có
một quan niệm
hết sức rõ rệt
là “một Thiên
Chúa đơn thuần
cho muôn loài”
(A single
Lord of all
being). Rõ ràng
là các nước
Trung Đông cổ
xưa theo Đa Thần
giáo
(Polytheism),
trong khi Do
Thái là nước duy
nhất theo Độc
Thần. Kinh thánh
Cựu Ước Do Thái
xác định Thiên
Chúa Yahweh là
Thiên Chúa duy
nhất được tôn
thờ bởi dân tộc
Do Thái.
Vì thế Yahweh là
Thiên Chúa
(Thần) của
Israel (God of
Israel).
Như vậy, ngay từ
ngày đầu có lịch
sử Do Thái,
những người Do
Thái đã tự khẳng
định bản thân
mình là những
người độc thần
(monotheists).
Sách Cựu Ước
Deuteronomy
(6:4) tạo nền
tảng “độc thần”
cho dân tộc Do
Thái: “Dân tộc
Do Thái, hãy
nghe đây, Chúa
của chúng ta,
Chúa là Một”
(hear, O Israel,
the Lord is our
God, the Lord is
One). Đạo Do Thái
trở thành khởi
điểm của Độc
Thần giáo (The
point of
departure of
Monotheism) hay
nói đúng hơn, Do
Thái giáo là
“Mẹ” của các đạo
Độc Thần (the
mother of all
monotheist
religions).
2.
Ki Tô Giáo
(Christianity)
:
KiTô giáo là đứa
con đầu lòng của
Do Thái giáo.
KiTô giáo sau
vài thế kỷ phát
triển, nhất là
từ sau thế kỷ 4
do được sự công
nhận là “quốc
giáo” cho toàn
thể đế quốc La
Mã của hoàng đế
Constantine,
KiTô giáo đã trở
thành một tôn
giáo phổ biến
rộng rãi khắp
thề giới. Ngày
nay, tổng số tín
đồ KiTô giáo lên
tới 2 tỷ 100
triệu, tức
khoảng 1/3 tổng
số nhân loại !
KiTô giáo là
tôn giáo lớn
nhất thế giới,
nhưng đã bị chia
thành 3 khối
chính (three
major
divisions):
a. Công giáo La
Mã
(Catholicism)
b. Chính
Thống giáo Đông
phương
(Eastyern
Orthodox)
c. Tin Lành
(Protestantism)
Dù bị chia ra
nhiều giáo phái
nhỏ, tất cả các
tín đổ KiTô giáo
đều thống nhất ở
một điểm
là tôn
thờ Jesus
Christ. Chúng ta
có thể phân biệt
hai Jesus: một
“Jesus của lịch
sử” (Jesus of
History) và một
“Jesus của niềm
tin” (the Jesus
of Faith)
- Về “Jesus
của lịch
sử” , chúng ta
biết rất ít về
Ngài. Thậm chí
người ta cho
rằng chỉ có 20%
các lời nói của
Jesus trong các
sách Tân Ước là
đúng thật của
Jesus, 80% còn
lại là những lời
bịa đặt do người
ta gán cho Ngài
mà thôi.. Jesus
chưa bao
giờ bước
chân ra khỏi
sinh quán xa tới
90 dậm !
Không hề được
bước chân tới
trường học ngày
nào, nên ông ta
là một kẻ hoàn
toàn mù chữ và
thất học.
Tuy nhiên, do
những hoàn cảnh
đặc biệt của
lịch sử, “Jesus
của lịch sử” đã
biến thành
“Jesus của niềm
tin” (The Christ
of Faith):
- Trước hết,
những người Do
Thái mến mộ
Jesus ở thủ đô
Jerusalem trong
đầu thế kỷ 1 đã
trở thành những
tín dồ KiTô giáo
đầu tiên (Jewish
Christians). Họ
không nghĩ là
một tôn giáo mới
đã được hình
thành mà chỉ
nghĩ rằng: Jesus
là một tín đồ
của đạo Do Thái
và chính họ cũng
vẫn là những tín
đồ Do Thái giáo.
- Từ sau thế
kỷ 4, KiTô giáo
được công
nhận là
quốc giáo của đế
quốc La Mã, các
tín đồ KiTô giáo
gốc La Mã (Roman
Christians) đã
đem vào KiTô
giáo rất nhiều
nghi lễ và tập
tục của Đa Thần
giáo La Mã: nhận
ngày sinh của
Jesus là 25
tháng 12 dương
lịch, đi lễ ngày
chủ nhật
(sunday). Những
ngày này thật ra
là những ngày tế
thần Mặt
Trời của
Đa Thần giáo La
Mã.
Giáo hoàng đầu
tiên của KiTô
giáo là
Miltiades (giám
mục thứ 32 ở
Rome) được hoàng
đế Constantine
phong là
“Pontifex
Maximus”.
Đó
chính là chức vị
của người đứng
đầu Đa Thần giáo
của đế quốc La
Mã. Có
lẽ biến cố quan
trọng nhất trong
lịch sử KiTô
giáo là vào năm
325, hoàng đế
Constantine
triệu tập công
đồng Nicaea với
sự tham dự của
trên 300 giám
mục (gồm hầu
hết các giám mục
trong toàn đế
quốc hồi đó) để
bỏ phiếu quyết
định về bản chất
của Jesus. Kết
quả là do quyền
lực của hoàng
đế, các giám mục
đã quyết định
chiều
theo ý
nhà vua là
“Christ có cùng
bản chất với
Chúa Cha”
(Christ was of
one substance
with Father).
Như thế là chỉ trong một
sớm một chiều,
Jesus từ một
người thường (a
man) bỗng nhiên
trở thành “Thiên
Chúa xuống thế
làm người” (a
God-man) Yahweh
của Israel trở
thành Chúa Cha
(God the Father)
và Jesus thành
Chúa Con (God
the Son).
Jesus được gọi
là “Chúa Hóa
Thân” (God
Incarnate).
Đó là nguồn gốc
của “The
Incarnation of
God”
!
Quyết định
của công đồng
Nicaea do
Constantine
triệu tập năm
325 thật sự đã
lập ra một tôn
giáo mới là Ki
Tô giáo. Cái
cốt lõi của KiTô
giáo là: Ta có
thể biến một
người tầm thường
thành Thiên Chúa
Toàn Năng để tôn
thờ, miễn là
điều này được
một công đồng
như công đồng
Nicaea quyết
định !
Công đồng Nicaea
là sản phẩm
quyền lực của
Constantine và
chính
Constantine mới
thực sự là cha
đẻ của đạo Ki
Tô.
Qua nhiều thế kỷ
kế tiếp, nhất là
sau “thánh
Augustine” thuộc
thế kỷ 4, nhiều
nhà thần học
KiTô giáo đã
“thêm mắm thêm
muối” hoặc “tô
son trát phấn”
cho Jesus bằng
những thần
thuyết nhảm nhí
để biến ông ta
thành “Đấng Tạo
Hóa Toàn Năng”.
Họ dùng thần
thoại Hy Lạp
“The Logos”
(tiếng Anh dịch
là “Word”) có
nghĩa là “Lời
Nói của Thiên
Chúa”. Họ
gán cho Jesus là
Logos đã cùng
với Thiên Chúa
sáng tạo ra vũ
trụ vạn vật.
Sách Tân Ước của
John xác định về
Jesus: The Word
(Jesus)
had been
with God in the
beginning.
Through Him all
things came to
be”.
Cuối cùng,
đối với các tín
đồ KiTô giáo
(Christians),
Jesus là Thiên
Chúa, là chính
đấng tạo hóa
toàn năng tạo
thành vũ trụ, là
Chúa Cứu Thế
(Savior) chuộc
tội thiên hạ.
Tóm lại, Jesus
là “Chúa Ki Tô
của niềm tin”
(The Christ of
Faith).
Cùng với Chúa
Cha và Chúa
Thánh Thần,
Jesus kết hợp
với hai người
kia tạo
thành Thiên Chúa
Ba Ngôi (Holy
Trinity).
Cả ba người là
Một Thiên Chúa.
Với lý luận như
vậy về “Thiên
Chúa của đạo Ki
Tô” (The
Christian God),
KiTô giáo tự xác
định tôn giáo
của mình là Độc
Thần giáo thứ
hai sau đạo Do
Thái.
Như trên đã
nói, KiTô giáo
bị phân hóa
thành 3 khối tôn
giáo riêng biệt
và luôn luôn
xung đột với
nhau, rất nhiều
lần trong lịch
sử, họ đã đi đến
nhiều cuộc xung
đột đẫm máu.
Chúng ta sẽ lần
lượt xét về ba
ngành
(divisions) này
của KiTô
giáo :
-
Công
Giáo La Mã
(Roman
Catholicism)
:
KiTô giáo là
một hiện tượng
phức tạp
( a
complex
phenomenon), vì
mỗi khi chúng ta
đưa ra một vấn
đề chung của
KiTô giáo không
có nghĩa là mọi
người KiTô giáo
(Christians) sẽ
đồng ý với chúng
ta.
Giáo Hội của
Chúa Jesus vẫn
được coi là
chính thân thể
của Ngài (the
Church is the
Body of Christ)
đã bị vỡ thành 3
mảnh lớn. Thế
giới KiTô giáo
(the
Christendom/the
Christian World)
đã bị phân ra 3
vùng trên 3 khu
vực của thế
giới :
(1) Công Giáo
La Mã thống
trị vùng Trung
và Nam Âu Châu,
Ái
Nhĩ Lan,
các nước Trung
và Nam Mỹ. Mọi
tín điều và mọi
thứ biệt lệ đều
được ban ra từ
trung tâm chỉ
huy tối cao là
Vatican ở Rome.
(2) Chính
Thống giáo Đông
Phương (Eastern
Orthodoxy) chi
phối toàn miền
đông Âu Châu: Hy
Lạp, các dân tộc
thuộc giống
Slavic (Bạch
Nga, Bảo Gia
Lợi, Tiệp Khắc,
Macedonia,
Serbia, Croatia,
Ukraine,
Slovakia,...) và
vùng lãnh thổ
Liên Xô cũ.
(3) Các giáo
phái Tin Lành
thống trị miền
Bắc Âu Châu (Na
Uy, Thụy Điển),
Anh Quốc, Tô
Cách Lan, và Bắc
Mỹ (Mỹ và
Canada).
Năm 380, KiTô
giáo được công
nhận là một tôn
giáo chính thức
(the official
religion) của
toàn đế quốc La
Mã.
Tất nhiên, vào thời điểm
đó, KiTô giáo là
một khối tôn
giáo thống nhất
(a united body).
Cái khối thống
nhất
vĩ đại
này chỉ tồn tại
đến năm 1054.
Nói một cách
khác, “cái thân
thể của chúa
KiTô” (the body
of God) do hoàng
đế Constantine
dựng lên chỉ giữ
được cái hình
hài của nó
nguyên vẹn
trong 674 năm mà
thôi. Năm 1054
là cái mốc
lớn đánh
dấu sự rạn nứt
đầu tiên, vĩ đại
nhất và đau đớn
nhất của KiTô
giáo.
Sự rạn nứt này
đã kéo dài gần
10 thế kỷ qua và
không có một dấu
hiệu nào về sự
hiệp thông cả.
Sự phân cách giữ
Đông (Chính
Thống giáo Đông
phương) và Tây
(Công giáo La
Mã) đã trở thành
vĩnh viễn và vô
phương cứu chữa.
Cái nguyên
do chính yếu đưa
đến đổ vỡ giữa
hai giáo hội
Đông và Tây của
KiTô giáo chính
là thái độ hống
hách láo xược
của Vatican đối
với giáo hội
Đông Phương: Vatican dành
toàn quyền giáo
huấn các tín đồ
(teaching
authority) và
củng cố quyền
hành
bằng tín
điều do họ tự ý
đặt ra là “giáo
hoàng không thể
sai lầm” (the
doctrine of
papal
infallibility).
Vatican tự nhận
mình là “hòn đá
tảng” duy nhất
do Chúa chọn để
xây dựng giáo
hội: “Trên viên
đá này ta xây
giáo hội” (On
this rock, I
build my
Church). Điều
quan trọng hơn
hết là Vatican
gom hết mọi
quyền năng
thiêng liêng cao
cả của Chúa
thành quyền năng
của mình: Nắm
giữ các chìa
khóa của Thiên
Đàng (all the
keys of the
Kingdom of
Heaven). Mọi
người được cứu
rỗi linh hồn hay
không đều do
Vatican quyết
định: “Bất cứ
điều gì con buộc
ở dưới đất, điều
đó sẽ bị buộc ở
trên trời. Bất
cứ điều
gì con
tha ở dưới đất,
điều đó sẽ được
tha ở trên trời
!”
Một thế kỷ
sau biến cố rạn
nứt giữa hai
giáo hội Đông
Tây của đạo
KiTô, tức là từ đầu thế kỳ 12,
giáo hội Công
giáo La Mã đưa
ra một ý tưởng
trung tâm của
giáo hội (the
central idea to
the Church): Giáo hội Công
giáo là “đại
diện” của Chúa
trên trái đất,
một cơ quan duy
nhất có quyền
ban phát mọi
phép bí tích
(sacraments) cho
con người.
Giáo hội Công
giáo ấn định có
7 phép bí tích.
Bảy phép bí tích
này chi phối cả
cuộc đời của mọi
tín đồ Công
giáo:
- Khi mới
sinh, đứa con
nít phải được
đưa đến nhà thờ
chịu phép
rửa tội
(Baptism) để
xin Chúa tha cho
nó cái “tội
tổ tông”. Khi nó lớn
lên 12-13
tuổi, nó cần
được chịu phép thêm sức
(Confirmation).
Thêm
vài tuổi
nữa nó sẽ được
hướng dẫn để đi
xưng tội
(confession)
và quan
trọng hơn cả là
phép mình
Thánh Chúa (the Holy
Eucharist)
trong các lễ
Misa.
Lễ Misa là nghi
lễ kỷ niệm bữa
tiệc cuối cùng
(The Last
Supper) của
Jesus với các
môn đệ, trong đó
có bánh và rượu.
Trong lễ Misa
ngày nay, các
linh mục Công
giáo có “quyền
năng” biến thể
bánh thành thịt
thật và rượu
thành máu thật
của Jesus.
Tất cả các tín
đồ đều nghiêm
chỉnh “ăn
thịt sống và
uống máu tươi
của Chúa”. Tất
cả các tín đồ
đều quên rằng họ
đã trở nên những
kẻ
ăn thịt
người
(cannibals) man
rợ!
Đây là “phép bí
tích” mọi rợ độc
đáo của giáo hội
Công giáo La Mã.
-
Chính
Thống Giáo
Đông Phương
(Eastern
Orthodoxy):
Chính Thống
giáo Đông Phương
tách khỏi giáo
hội Công giáo La
Mã để lập thành
một giáo hội
riêng biệt mà họ
tin rằng
chính họ đã tách
ra khỏi “tà đạo
Công giáo” để
trở về với đạo
KiTô chân chính
theo truyền
thống của Chúa
KiTô (the
traditional
Christianity).
Ngày
nay, Chính Thống
giáo Đông Phương
có 250 triệu tín
đồ. Về
phương diện nghi
lễ, Chính Thống
giáo Đông Phương
rất gần gũi với
Công giáo La Mã:
cả hai đều rất
tôn
sùng đức
Bà Maria. Đại
biệt là cả hai
đều thờ
chung một
ảnh về Đức Bà,
đó là ảnh “Đức
Mẹ Hằng Cứu
Giúp” (tranh vẽ
vào thế kỷ 14
của Hy Lạp).
Giáo hội Chính
Thống giáo cử
hành 7 phép bí
tích giống hệt
như Công giáo La
Mã. Về
các tín điều
khác, họ cho
rằng Công
giáo La Mã chỉ
có quyền giải
thích các điều
đã nói trong
Thánh kinh mà
thôi, và không
có quyền “phát
minh” ra những
tín điều mới.
(The Church
can interpret
doctrines, but
cannot initiate
them). Do đó,
họ không công
nhận những tín
điều mà Công
giáo La Mã đã tự
ý phịa ra mà
không có căn bản
Thánh kinh.
Đó là các tín
điều “Đức Mẹ Vô
Nhiễm Nguyên
Tội” (The
Immaculate
Conception),
“Đức Mẹ Hồn Xác
Lên Trời”
(Assumption of
Mary).
Chính Thống giáo
phủ nhận sự hiện
diện của “Luyện
Ngục”
(Purgatory), phủ
nhận tín điều
“Giáo hoàng
không thể sai
lầm” và các “Ơn
Toàn Xá”, “Ơn
Đại Xá”, “Ơn
Tiểu Xá” mà
Vatican dành
quyền ban cho
các linh hồn bị
giam ở Luyện
Ngục. Hầu hết
các ơn này
(indulgences)
đều đã được
Vatican và các
tu sĩ Công giáo
bán lấy tiền.
Đây là một hình
thức lừa bịp
giáo dân một
cách hết sức bỉ
ổi do Vatican
phát minh vì
trong Kinh Thánh
chỉ nói đến
Thiên Đàng và
Hỏa Ngục mà
thôi. Lò
Luyện Ngục
(Purgatory) là
một sự sáng tạo
độc quyền của
Vatican. Chính Thống giáo
mỉa mai gọi nó
và các tín điều
bịa đặt của
Vatican hoàn
toàn là những
“sáng kiến”
(innovations),
có nghĩa là hoàn
toàn do Vatican
tự ý bịa ra, chứ
không hề được
nói đến trong
Thánh Kinh.
Các tu sĩ Chính
Thống giáo Đông
Phương không
nhất thiết phải
sống độc thân.
Người đứng đầu
giáo hội là
Thượng phụ tại
Constantinople
(The Patriarch
of
Constantinople)
cũng có gia
đình.
-
Đạo
Tin Lành
(Protestantism)
và tín dồ
(protestants/protesters)
:
Tôi rất thắc mắc
không biết tại
sao cái giáo
phái KiTô Tây
Phương nổi tiếng
“chống đối” (to
protest) lại
được người Việt
Nam gọi là “Đạo
Tin Lành”.
Tôi đã cố gắng
rất nhiều để xem
trong các tự
điển Anh-Pháp
văn xem có tôn
giáo nào có tên
gọi là “Tin
Lành” không,
nhưng không hề
thấy. Quả thật,
không hề có một
tôn giáo nào
được gọi là “The
religion of Good
News”
cả !
Mặc dầu các
cuốn kinh thánh
Tân Ước của đạo
KiTô được gọi là
“Sách Tin Mừng”,
dịch từ tiếng Hy
Lạp “Gospel”, có
nghĩa là “Good
News”. Đạo Tin
Lành lấy
“Gospel” làm nền
tảng chính yếu
cho niềm tin của
mình, nhưng
không thể vì thế
mà có thể tự đặt
tên cho niềm tin
của mình là “Đạo
Tin Lành”, vì
Công giáo La Mã
cũng như Chính
Thống giáo cũng
coi trọng Gospel
không kém gì
“Tin Lành” !
Danh từ “Đạo Tin
Lành” có lẽ dã
xuất hiện tại
Việt Nam từ đầu
thế kỷ 20, khi
tôn giáo này mới
du nhập vào nước
ta. Tôi
tin rằng các mục
sư Tin Lành Việt
Nam đã cố
tình dịch
sai danh từ
“Protestatism”
để đem lại cho
cái giáo phái
KiTô này một cái
tên “quá đẹp”
trong Việt ngữ
của chúng ta.
Tôi thực tình
tin rằng cái bản chất của tôn
giáo này không
phải là “Tin
Lành” mà là “Tin
Dữ”, “Tin Buồn”
cho dân tộc Việt
Nam chúng ta.
Cụ thể là nó
đang gây chia rẽ
giữa người Kinh
và người Thượng,
nó đang xúi dục
các lực lượng
dân tộc thiểu số
ly khai Fulro
chống
lại sự
toàn vẹn lãnh
thổ và chủ quyền
của Tổ Quốc Việt
Nam.
Tôi tin rằng
danh từ “Protestatism”
và “Protestant”
được định nghĩa
trong các tự
điển Webster
hoặc Bách Khoa
tự điển Anh ngữ
(Encycloepedia)
là chính xác
nhất. Cái ý
nghĩa chính yếu
của danh từ
“Protestatism”
là căn ngữ “to
protest” (chống
lại). Ở đây
chỉ có nghĩa
là chống
giáo hội Công
giáo La Mã.
Tự điển The
American
Heritage College
Dictionary định
nghĩa
“Protestatism”:
The religion
and religious
belief fostered
by the
Protestant
movement in the
Western Church.
The faith is the
principles of
the Protestant
Reformation (Protestatism là
một tôn giáo hay
một niềm tin
được phát sinh
bởi một phong
trào chống đối
trong giáo hội
KiTô giáo Tây
Phương. Đó là
một niềm tin
được tạo thành
trên căn bản
những nguyên tắc
của cuộc Cải
Cách Giáo Hội).
Protestant(tín đồ Tin
Lành) được các
tự điển Anh ngữ
định nghĩa:
“Protestant is
one who
supported the
Protestation
presented by the
German Lutheran
states against
the revocation
of the decree The Diet of
Sprayers of
the Holy Roman
Empire in 1529”.
Danh từ “tín đồ
Tin Lành”
(Protestant)
được định nghĩa
khá dài dòng và
phức tạp.
Trong thế kỷ 16,
giáo hội Công
Giáo La Mã tự
xưng là “Đế Quốc
La Mã Thánh
Thiện” (The Holy
Roman Empire),
nhưng bị nhiều
quốc gia khác
bất phục tòng,
trong số đó có
các quốc gia
thuộc bộ lạc Đức
theo phái
Lutheran. Những
quốc gia này
(the German
Lutheran states)
đã nộp
thư phản
kháng (The
Protestation)
chống đối giáo
hội Công giáo La
Mã vào năm 1529.
Sau đó, trong toàn
thế giới KiTô
giáo Tây Phương,
bất cứ tín đồ
KiTô giáo
(Christians) nào
tự ý tuyên bố
ủng hộ “Thư Phản
Kháng” nói trên
đều được gọi là
“người chống
đối”
(Protestant) tức
là họ đã mặc
nhiên trở thành
“tín đồ Tinh
Lành” !
Tóm lại,
theo các định
nghĩa của các tự
điển lớn hoặc
các sách Bách
Khoa tự điển Tây
Phương, chúng ta
thấy danh từ
Protestatism
không hề có
nghĩa là “Tin
Lành” mà chỉ có
nghĩa là “Phản
Kháng” hoặc
“Phản Đối” mà
thôi.
Vì vậy, xin đề
nghị đồng bào
Việt
Nam hủy bỏ
danh từ vô lý
“đạo Tin Lành”
để thay thế bằng
danh từ “Thệ
Phản Giáo”.
Danh từ này đã
có thời được
nhiều người xử
dụng ở Việt Nam.
Điều đáng chú ý
là danh từ “Thệ
Phản giáo” đã
nói lên được
phần nào cái ý
nghĩa chính yếu
là “phản kháng”
(to protest)
trong danh từ
Protestatism.
Theo tôi, danh
từ “Thệ Phản
Giáo” là danh từ
thích hợp nhất
để gọi cái tôn
giáo mà chúng ta
đã sai lầm gọi
là đạo Tin
Lành !
3.
Độc Thần Giáo
thứ
Ba : Hồi Giáo
(Islam)
Trong tác
phẩm best-seller
“A History of
God”, nơi trang
141, tác giả là
bà Karen
Amstrong đã
viết: “Muhammed
không cần phải
chứng minh sự
hiện hữu của
Thiên chúa
(Allah) cho bộ
lạc Quraysh (bộ
lạc tổ tiên của
Muhammad) vì họ
đã tin và thờ
Allah một cách
mặc nhiên.
Họ tin Allah là
Đấng Tạo Hóa đã
dựng nên trời
đất và mọi sinh
vật. Họ tin rằng
Allah chính là
vị Thiên Chúa đã
được tôn thờ từ
lâu bởi người Do
Thái và KiTô
giáo.
Muhammad xác
nhận: kinh
Koran không
dạy điều gì mới
mà chỉ nhắc lại
những điều đã
được biết (the
Koran was not
teaching
anything new, it
claims to be a
reminder of
things known
already) p.142.
Tuy nhiên, Muhammad và
kinh Koran kết
án nặng nề KiTô
giáo vì tôn giáo
này tin Thiên
Chúa có ba ngôi,
tin Jesus là con
của Thiên Chúa
(the only son of
God) và là Thiên
Chúa Hóa Thân
(God
Incarnate),....
Muhammad coi các
tín điều của
KiTô giáo này
đều có tính “phỉ
báng” Thiên Chúa
(blasphemy)
!
Muhammad và đạo
Hồi kịch liệt
chống đối sự thờ
ảnh tượng của
Công giáo La Mã
(Idolatry) và
gọi đó là tội
lớn nhất trong
đạo Hồi (the
greatest sin of
Islam).
Người KiTô giáo
nhấn mạnh đến sự
cứu chuộc của
“Thiên Chúa Hóa
Thân Thành
Người” (God
Incarnate) tức
Jesus, nhưng
kinh Koran khẳng
định: Không
có một Thiên
Chúa nào khác
ngoài Allah là
đấng Tạo Hóa đả
tạo thành trời
đất, muôn vật,
chỉ có một
mình Allah có
thể cứu chuộc
con người
(There is no
Diety but Allah,
the Creator of
heaven and
earth, who alone
can save man –
p.149).
Muhammad là
người độc thần
đầu tiên nhận ra
sự đồng nhất
trong việc thờ
Thiên Chúa Duy
Nhất của ba tôn
giáo Do Thái, Ki
Tô và Hồi.
Do đó, Muhammad
đã sáng tạo
ra những danh từ
để gọi
chung cho
cả ba “niềm tin
độc thần” (the
three related
monotheist
faiths).
1). Trước
hết, Muhammad
gọi các sách
Thánh Kinh của
cả ba đạo độc
thần (Do Thái,
Ki Tô và Hồi) là
các “sách mặc
khải” (Books
of Revelation).
Sự “mặc khải” là
nét đặc thù quan
trọng của cả 3
tôn giáo độc
thần.
Danh từ
“Revelation” do
căn ngữ “to
reveal” là “tiết
lộ”.
Mặc Khải là
hành động Thiên
Chúa tự tiết lộ
những bí mật của
mình cho một
“tiên tri” nào
đó. Sau đó, vị
tiên tri “tiết
lộ” lại với các
tín đồ để họ có
thể hiểu được “ý
Chúa” và các
mệnh lệnh của
Ngài.
Trong thực tế,
chắc chắn một
điều là chẳng
bao giờ có
chuyện Chúa và
người nói chuyện
mặt đối mặt để
Chúa tiết lộ mọi
mệnh lệnh và
những bí mật của
Ngài cho nhân
loại biết qua
các vị tiên tri.
Các điều được
gán cho là Chúa
đã “mặc khải”
cho các tiên tri
như Abraham,
Moses, Isaiah
(Cựu Ước) hoặc
các “thánh sử”
như Matthew,
Luke, John và kể
cả việc thiên
thần Gabriel
được Allah mặc
khải rồi “kể
lại” cho
Muhammad nghe để
rồi viết thành
kinh Koran. Tất
cả chỉ là chuyện
bịp!
Thật sự, Chúa là
đấng vô hình,
hoàn toàn im
lặng, Chúa chẳng
tiết lộ (mặc
khải) điều gì
cho con người.
Tất cả những
điều được các
đạo Độc Thần gọi
là “sự mặc khải”
chỉ là những ý
kiến riêng của
Abraham, Moses,
Matthew, John,
Luke và
Muhammad.
Tất cả các điều
được ghi chép
trong các sách
mặc khải chỉ là
“lời của người
phàm” và không
có một lời nào
có thể gọi là
“Lời Chúa”!
Lý do đơn
giản là Chúa
không biết nói
và cũng chẳng
nói bao giờ, nên
từ xưa tới nay
không một
ai có
thể nghe thấy để
có thể ghi chép
được “lời
Chúa”.Tất cả các
sách mặc khải
(Cựu Ước, Tân
Ước, Koran) đều
chỉ là những
sách bịp bợm ghi
chép các lời bịa
đặt được gán cho
các nhân vật
(được gọi là
tiên tri) như
Abraham, Moses,
Gioan Baotixita,
Jesus, Muhammad.
2).
Muhammad
gọi chung các
tín đồ của ba
đạo độc thần
bằng danh từ
chung “những
người của các
sách mặc khải”
(The People of
the Books –
tiếng Ả Rập gọi
là “Dhimmis”)
hoặc gọi họ bằng
một danh từ đơn
giản hơn là
“những kẻ biết
kính sợ Đức Chúa
Trời” (God
fearers).
Trong Lời Nói
Đầu viết cho tác
phẩm “Why I am
not a Muslim”
của Ibn Warraq,
giáo sư Joseph
Hoffman thuộc
đại học
Westminster,
Oxford, đã viết:
“KiTô giáo và
Hồi giáo đã nổi
bật lên là những
phong trào cải
cách tôn giáo
độc thần. Cả hai
đều tự cho là
mình tôn thờ
“Thiên Chúa
Thật” và đồng
thời đề cao lòng
bác
ái , nhất
là lòng từ bi
khoan dung tha
thứ. Nhưng cả hai
đều tuyên truyền
tư tưởng và mở
rộng “Nước Chúa”
bằng bạo lực.
Thế giới KiTô
giáo thường được
gọi là
Christemdom (The
Christian World)
hoặc “Vương Quốc
của Chuá Ki Tô”
(The Kingdom of
Christ), so sánh
với
“Dar-Al-Islam
(The World of
Islam – Thế Giới
Hồi Giáo) là hai
anh em sinh đôi
trong 12 thế kỷ
qua. (Christianity
and Islam arose
as monotheistic
reform
movements. Both
proclaimed the
true God, the
importance of
charity, the
quality of
mercy. Yet both
were inclined to
propagate their
ideals and to
enlarge the
Kingdom of God
by force. The Dar-Al-Islam
(The World of
Islam) and the
Kingdom of
Christ, once
called
Christiandom,
were twins for
the better part
of twelve
centuries).
Điều nguy
hiểm là Hồi giáo
đã không gọi
những vùng không
theo Hồi
giáo là “vùng
ngoại đạo” mà
lại gọi là “vùng
chiến tranh” (tiếng Ả Rạp:
Dar-Al-Harb –
Realm of War).
Đó là vùng
đất mà người Hồi
giáo sẽ quyết
dùng chiến tranh
để thanh toán
những kẻ không
tin
(unbelievers) để
mở rộng nước
Chúa !
Nói chung,
các tín đồ độc
thần giáo
(monotheists) dù
thuộc đạo Do
Thái, đạo KiTô
hay Hồi giáo đều
giống nhau ở
điểm là đa số
cuồng tín, tự
cao tự đại về
tôn giáo của
mình và nhất là
luôn luôn tự
cho rằng chỉ có
tôn giáo của
mình là nắm chân
lý tuyệt đối mà
thôi (absolute
truth claim). Do
lòng tự tôn mù
quáng, những
người độc thần
đã gọi những
người ngoại đạo
là “heathen” với
ý khinh bỉ. Các tự điển
Webster hoặc
The American
Heritage định
nghĩa “Heathen”
như sau: “One
who adheres to a
religion that
doesnot
acknowledge
the God of
Judaism,
Christianity or
Islam. One who
is regarded as
irreligious and
uncivilized”
(Người “ngoại
đạo” là những
người
theo một
tôn giáo không
công nhận Thiên
Chúa của Do Thái
giáo, KiTô giáo
và Hồi giáo.
Người “ngoại
đạo” bị coi là
vô tôn giáo và
kém văn minh!).
Trong lịch sử
nhân loại, tính
ra có hàng trăm
triệu người đã
bị chết vì sự
cuồng tín của
các tín đồ tôn
giáo độc thần
(KiTô và Hồi
giáo). Họ
có thể mù quáng
tin là “giết”
người (ngoại
đạo) là không hề
vi phạm điều dạy
của Chúa “thou
shalt not kill”,
mà lại là hợp
với ý của Chúa
và được thưởng
“lên Thiên Đàng”
! Cũng vì tinh
thần cuồng tín
này mà ngay
những người cùng
đạo “độc thần”
cũng hăng hái
giết nhau, chỉ
vì lời giải
thích khác nhau
của cuốn thánh
kinh hay lời dạy
của ông giáo
chủ !
Không biết các
ông giáo chủ các
đạo độc thần này
có biết đến hậu
quả tai hại cho
nhân loại của
những lời giảng
dạy của mình
không ?
Những người
cổ Hy Lạp
theo Đa
Thần giáo
(Polytheism).
Họ tôn thờ rất
nhiều thần.
Họ tạc các hình
tượng Thần bằng
đá hoa cương với
thân hình rất
đẹp. Họ
sẵn sàng tiếp
nhận những vị
thần của các dân
tộc khác mà
không cần phải
loại trừ một
Thần nào ra khỏi
đền thờ. Họ gọi
đền thờ là
“Pantheon”,
thường được xây
cất
theo hình
vòng tròn
(circular
temple). Đền thờ
cổ Hy Lạp chẳng
những có các
tượng Thần mà
còn có tượng các
vị anh hùng dân
tộc, cả nam lẫn
nữ.
Các vị thần linh
cũng như các
nhân thần đều
được coi là các
vị thần của dân
tộc (Gods of the
people).
Với tinh thần
đa tôn giáo, đa
văn hóa, chấp
nhận mọi tư
tưởng và niềm
tin dị biệt,
những người Hy
Lạp “đa thần”
rất cởi mở và
sống hòa hợp với
mọi người. Họ đã
tạo nên một nền
văn minh sáng
chói từ thế kỷ
16 trước Công
Nguyên (Điển
hình là họ đã
chế được dụng cụ
và vũ khí bằng
đồng, đã chiến
thắng vẻ vang
trong chuyện
“Con Ngựa thành
Troy” tk 16
TCN). Có
lẽ từ thế kỷ 2
TCN, người La Mã
đã đón nhận nền
văn minh Hy Lạp
và tiếp nhận Đa
Thần giáo.
Hiện nay tại
Rome còn tồn tại
một đền thờ
Pantheon do
người La Mã xây
năm 27 TCN.
Trong đền có rất
nhiều tượng các
vị thần.
Hầu hết là các
vị thần Hy Lạp,
nhưng được đổi
tên thành thần
La Mã: thần Zeus
của Hy Lạp thành
thần Jupiter
trong đa thần
giáo La Mã.
Một điều đáng
chú ý là các đạo
độc thần (Do
Thái, Ki Tô và
Hồi) đều thờ
Thiên Chúa thuộc
nam giới.
Đức Chúa Trời là
một thứ “Đàn Ông
Toàn Năng”.
Trong các đạo
độc thần, tuyệt
đối không có
đấng tối cao là
phụ nữ.
Trái lại trong
Đa Thần giáo có
rất nhiều “Chúa
Mẹ” (Mother
Goddess) như:
Turm, Hera,
Juno, Mercury,...
Đa Thần giáo
tôn thờ các vị
anh hùng với bản
chất con người
nên có thể nói
là Đa Thần giáo
là một loại tôn
giáo vô hại cho
nhân loại. Trái
lại, các đạo
độc thần đều có
sẵn trong bản
chất của nó rất
nhiều tiềm năng
gây đại họa
chống lại sự
sống còn của
nhân loại và phá
hoại nền hòa
bình thế giới
(Tôi sẽ viết
một bài riêng về
vấn đề này).
Con số tín đồ
của các đạo độc
thần càng lớn
bao nhiêu thì
tiềm năng gây
tội ác chống
nhân loại của nó
càng khủng khiếp
bấy nhiêu.
Để dễ hình
dung con số tín
đồ các đạo độc
thần trên thế
giới hiện nay,
tôi xin ghi lại
những số liệu
rút ra từ The
World Almanac
2004 :
1. Do Thái
giáo :
14,500,000
2. Ki Tô
Giáo :
2,039,000,000
a) Công
Giáo La Mã :
1,076,000,000
b) Chính
Thống Giáo:
250,000,000
c) Anh
Giáo:
81,663,000
d) Tin
Lành :
350,000,000
e) Các giáo phái
độc lập:
81,000,000
3. Hồi
Giáo :
1,226,000,000
Nhìn vào hai đạo
độc thần lớn
nhất thế giới là
Ki Tô giáo và
Hồi giáo, ta
thấy tổng số tín
đồ của hai đạo
này là 3 tỷ 165
triệu (chiếm ½
tổng số nhân
loại).
Nếu không có
sự giáo dục qui
mô trên toàn thế
giới để giúp cho
khối lượng trên
3 tỷ tín đồ đó
bớt cuồng tín và
nếu không có sự
vận dụng các
phương tiện
truyền thông để
thông tin cho
toàn thế giới
biết để đề cao
cảnh giác trước
các âm mưu khủng
bố và phá hoại
của các tôn giáo
độc thần cực
đoan thì số phận
sinh tồn của
nhân loại thật
là mỏng manh.
Xin mọi người
chẳng nên lo
lắng về cái chết
của các Thiên
Chúa hoặc các
Thần (God) mà
hãy lo cho cái
chết
của loài
người chúng ta
do những cuộc
chiến tranh “tôn
giáo” được gây
ra bởi những kẻ
cuồng tín cực
đoan , lúc nào
cũng tự cho mình
là kẻ duy nhất
nắm độc quyền
chân lý tuyệt
đối, bất cứ ai
nghĩ khác họ đều
phải bị tiêu
diệt !
Charlie Nguyễn
February
2004
Các chương khác trong sách:
Alexandre De Rhodes và Chữ Quốc Ngữ Con Đường Cụt của Vatican ... Các Hoạt Động Chính Trị của Đạo Quân Thứ 5 Hồ Sơ Tội Ác của Hội Thừa Sai ... In God We Trust Màn Kịch Lộ Đức Một Vấn Đề về Huyền Thoại Giáng Sinh Nhận Xét về Thư của Phan Dình Diệm Quan Niệm Ông Trời của Người Việt Từ Thái Độ Khinh Miệt ... Việt Nam cần thực hiện ... Đòi Lại Đất bị Nhà Thờ Chiếm Đoạt Độc Thần Giáo ...
|