|
Phần I : Ngày Tận Thế của Giáo Hội Satan
1. DÒNG TU ĐỨC MẸ ĐỒNG CÔNG
Dòng tu Công Giáo đầu tiên do người Việt Nam
sáng lập là dòng tu mang danh hiệu của Đức Mẹ Đồng-Công Cứu Chuộc
(The Co-Redemptrix) gọi tắt là Dòng Đồng Công. Ngày nay dòng tu này
đã phát triển thành một cơ sở kinh doanh lớn chuyên khai thác lòng
sùng kính của giáo dân đối với Đức Mẹ Maria. Trụ
sở chính đặt tại Canthage, Missouri, Hoa Kỳ.
Vào cuối thập niên 1940, Linh Mục Trần Đình
Thủ sáng lập dòng Đồng Công đã đặt cơ sở đầu tiên tại nhà xứ Liên
Thủy Bùi Chu. Khu vực nhà thờ Liên Thủy kế cận
khu vực của Tòa Giám Mục Bùi Chu, chỉ cách nhau một cái lạch nhỏ và
một dậu tre.
Tháng 7.1950, một đám học sinh tuổi từ 10 đến
13 tuổi, trong đó có tôi và cô em gái, đã được thầy giáo dẫn đến
thăm nhà dòng tân lập này và được Cha Thủ tiếp đãi ân cần.
Điều gây ấn tượng sâu sắc nhất là chúng tôi được
phép gọi Cha Thủ bằng "anh cả". Chuyến
viếng thăm này là một kỷ niệm khó quên vì từ xưa đến nay, bổn đạo
đâu có dám gọi các linh mục bằng "anh". Thường thường mỗi lần
gặp các cha, bổn đạo có thói quen khoanh tay cúi đầu và thưa: "Con
xin phép lạy cha ạ!".
Có lẽ vì thấy sinh hoạt
của nhà dòng tân lập này có nhiều điều mới lạ hấp dẫn nên hai người
bạn của tôi đã xin Cha Thủ cho ở lại để bắt đầu cuộc đời tu hành tại
đây. Vì được Cha chấp nhận nên hai bạn tôi đi tu
theo dòng này từ đó.
Bẵng đi một thời gian khá dài tới 15 năm sau,
tức vào khoảng cuối năm 1965, tôi đi cùng mẹ tôi đến thăm dòng Đồng
Công tại Thủ Đức. Bố mẹ tôi vốn là những con chiên ngoan đạo, lúc
nào cũng tin tưởng vào sự giáo dục của các trường Công Giáo nên đã
gửi hai em trai tôi là học sinh trung học vào nội trú tại ký túc xá
của nhà dòng. Trong dịp này tôi gặp lại hai
người bạn cũ lúc đó đều đã trở thành linh mục. Hai bạn tôi,
súng sính trong chiếc áo chùng đen với hàng cúc đen chạy dài từ cổ
xuống chân và với cổ tràng hạt lớn trước ngực, chạy ra phòng khách
tiếp tôi trong tình thân mật anh em. Một trong hai bạn tôi tên là
Chương với nét mặt thành khẩn cảm động nói: "Em phải cám ơn anh vì
chính nhờ ảnh hưởng của anh, em mới có lòng sùng kính Đức Mẹ và vào
tu dòng này đấy!". Tôi ngạc nhiên về điều
đó và nói đùa: "Dù đi tu hay ở ngoài đời, chúng ta vẫn sùng kính Đức
Mẹ và sống thánh thiện như nhau. Anh đi tu làm
cha, còn tôi lấy vợ cũng làm cha như ai, có sao đâu!" Chúng tôi cười đùa vui vẻ. Sau đó, cuộc đời lính của tôi đã đưa tôi đi xa.
Một phần bận công vụ, phần khác bận chuyện gia đình, tiếp
theo là 10 năm tù cải tạo... chúng tôi
đến nay vẫn chưa có dịp gặp lại nhau. Tôi đã nhiều lần tìm cách liên
lạc với Dòng Đồng Công ở Missouri, nhưng có lẽ các bạn tôi đã đổi
tên hoặc còn ở lại Việt Nam nên tôi vẫn chưa liên lạc được.
Năm 1997, nhân dịp đọc tờ
Newsweek số đặc biệt ra ngày 16.8.1997 nói về Tín Điều Đức Mẹ Đồng
Công (The dogma of Co-Redemptrix) tôi có ý định viết một bài về dòng
tu này. Nhưng rồi lần lữa chưa có cảm
hứng để viết.
Tới Mùa Chay năm nay, báo
chí Mỹ rầm rộ loan tin về các cuộc vận động của các ứng viên tổng
thống và cuộc hành hương dài ngày tại vùng Thánh Địa của Giáo Hoàng
Jean Paul II. Tôi chú ý đến việc giáo
hoàng thay mặt giáo hội chọn ngày chủ nhật đầu mùa chay 12.3.2000
làm ngày xin tha thứ tập thể cho những tội ác của giáo hội trong hơn
một ngàn năm qua. Bên cạnh đó, tôi chú ý
đến hai mẩu tin ngắn. Mẩu tin thứ nhất cho biết: vào ngày
2.2.2000, trong cuộc vận động bầu cử tại trường Đại Học South
Carolina, ứng cử viên tổng thống George W. Bush đã chỉ trích giáo
hoàng và gọi giáo hội Công Giáo là "giáo hội Satan".
Mẫu tin thứ hai đăng trên Washington Post ngày
26.3.2000 cho biết: trong cuộc vận động tại Los Angeles, ứng cử viên
tổng thống Mc. Cain đã gọi hai lãnh tụ Tin Lành Pat Robertson và
Jerry Falwell là "evil" (quỉ). Lời tuyên bố của
hai ứng cử viên tổng thống này làm tôi liên tưởng đến thi sĩ Anh gốc
Ấn Độ Salmon Rushdie đã gọi Kinh Thánh Hồi Giáo là "những vần thơ
quỉ" (Satanic verses). Vì cái tội xúc
phạm tôn giáo này, giáo chủ kiêm tổng thống của Iran là Khomeni đã
treo giải thưởng cái đầu của Rushdie với giá 1 triệu đô la vào năm
1988.
Ngày nay, các lời xúc phạm tôn giáo hầu như đã
trở nên chuyện thường vì lương tâm nhân loại đã thức tỉnh và lương
tri con người đã nhận ra bộ mặt thật xấu xa ác độc của các tôn giáo,
đặc biệt là Công Giáo La Mã và Hồi Giáo. Có nhiều dấu hiệu cho thấy
cả hai cái đạo thờ Chúa này không thể tránh khỏi một cuộc tàn sát
thật thảm khốc trong thế kỷ 21, trước khi mở đầu cho một trật tự thế
giới mới. Nếu sự việc này có xảy ra nay mai thì
những người Công Giáo chính là những người không ngạc nhiên chút nào
vì họ đã được nghe những lời cảnh cáo nghiêm khắc của Đức Mẹ Fatima
từ năm 1917.
Vốn là người có lòng sùng kính Đức Mẹ, rất sốt
sắng và rất chú trọng các huấn thị của Đức Mẹ nên cha tôi đã viết
một cuốn sách nhỏ tựa đề "Sự Mới Lạ Đời Nay" xuất bản tại Nam Định
vào năm 1952 kể chuyện Fatima. Ngày nay, đọc lại các sách cũ về phép
lạ Fatima, tôi cảm thấy những lời Đức Mẹ phán cách đây trên 80 năm
không mất đi tính cách thời sự và vẫn văng vẳng bên tai: "Vì lòng
phản trắc, những người lãnh đạo giáo hội đã đóng đinh Con Của Mẹ
thêm nhiều lần nữa trên thập giá. Tội lỗi của họ
đang kêu thấu trời đòi hỏi sự trả thù, và kìa, sự trả thù đang chờ
sẵn trước cửa nhà họ. Không còn ai mủi
lòng van nài lòng thương xót và ơn tha thứ cho họ. Không còn ai muốn tỏ ra lòng đại lượng thêm nữa. Cũng không còn ai muốn cầu xin Chúa Hằng Sống
phù hộ cho giáo hội nữa. Chúa sẽ ra tay
đánh phạt thật tàn khốc chưa từng thấy. Chúa sẽ trút cơn thịnh nộ
của Người lên đầu họ và họ không thể tránh khỏi những
tai ương sẽ dồn dập đổ tới.
Các nhà thờ sẽ bị đóng cửa và bị xử dụng vào các
việc ô uế. Các linh mục, các tu sĩ sẽ bị săn đuổi và bị chính
những giáo dân của mình đập chết như người ta đập chết những con chó
dại trên đường phố..."
Mặc dầu tôi không còn niềm
tin Công Giáo nhưng tôi vẫn yêu thương Đức Mẹ như xưa. Tôi
tin lời Đức Mẹ phán sẽ phải trở thành sự thật trong một ngày không
xa. Tôi khẩn cầu Đức Mẹ cho sự việc đó xảy đến càng sớm càng tốt để
cứu loài người nói chung và cứu dân tộc
Việt Nam nói riêng. Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ hãy cho thành lập một đạo
quân chuyên săn lùng và trừng trị bọn tu sĩ Công Giáo lưu manh. Con
xin tình nguyện đi hàng đầu, làm việc full time và hoàn toàn free
(miễn phí). Lạy Mẹ Maria, xin mẹ hãy nhớ đến mấy chục năm tuổi trẻ
của con đã dâng hiến cho tình yêu Mẹ và xin Mẹ hãy chấp nhận lời con
cầu nguyện: Ave Maria, gratia plena... Salve Regina, Mater
Misericodiae...
Mẹ ơi, Mẹ vẫn muôn đời là
một khuôn mặt nữ nổi bật nhất trong sinh hoạt văn hóa của loài người
chúng con. Mẹ đã từng là nguồn cảm hứng dạt dào của biết bao
thi sĩ lừng danh: Francois Villon, Dante, Gerard Hopkins, Eliot, Hàn
Mặc Tử... Mẹ là hồn nhạc bất hủ của Franz Schubert, Hải Linh... Hình
ảnh của người mẹ trẻ 17 tuổi ôm đứa con huyền thoại cứu thế là hình
ảnh được khắc họa nhiều nhất trong lịch sử nhân loại.
Với tài hoa kiệt xuất của Michel Angleo, Mẹ vừa
là nữ thần của Sự Sống Madona và Mẹ cũng là nữ thần của sự chết La
Pieta. Xin Mẹ hãy là Madona của những
người ngay lành vô tội và xin mẹ hãy là Pieta của những kẻ gian
manh.
Những kẻ gian manh độc ác
nhất chính là những kẻ mặc áo thầy dòng đội lốt thánh thiện. Những kẻ lớn tiếng ca tụng Mẹ là Đấng Đồng Công
Cứu Chuộc, lớn tiếng hô hào xây dựng đền thờ Khiết Tâm Mẹ không phải
là những kẻ yêu Mẹ thật đâu. Những kẻ tổ chức lễ hội La Vang
với hình ảnh Mẹ mặc áo dài và đội khăn hoàng hậu Việt Nam chỉ nhằm
mục đích đánh lừa đồng bào chúng con để chạy tội bán nước và che đậy
lòng tham lam ích kỷ vô độ của chúng. Mẹ ơi, con biết cách đây 20
thế kỷ, Mẹ chỉ là một phụ nữ nông dân chất phát ở xứ nghèo Galilee,
chẳng khác gì bà mẹ nông dân chất phát đã sinh ra con ở miền quê Bắc
Việt.
Con yêu Mẹ cũng như yêu Mẹ của con vì Mẹ phải
mang nặng đẻ đau mới sinh ra được mấy đứa con mình. Con yêu Mẹ vì Mẹ
là Mẹ thật chứ không phải vì Mẹ là Mẹ Đồng Trinh! Mẹ ơi, những mỹ từ
giả tạo của bọn lưu manh đã gán cho mẹ, nào là Đức Mẹ Vô Nhiễm
Nguyên Tội, Đức Mẹ Hồn Xác lên Trời, Đức Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc...
Tất cả đều là những chuyện láo khoét và hoàn
toàn vô nghĩa đối với con.
Quê hương Galilee ở miền Bắc Do Thái của Mẹ đã
bị đế quốc La Mã dày xéo cũng như đất nước của con đã bị thực dân
Pháp dày xéo có khác gì nhau! Nước Pháp thường
tự xưng là trưởng nữ của Giáo Hội Công Giáo La Mã và là mẹ của Giáo
Hội Công Giáo Việt Nam, gọi tắt là Giáo Hội Việt Gian. Con
yêu Mẹ vì Mẹ là một người Mẹ bình thường sống bên cạnh ông chồng
Joseph của mẹ làm thợ mộc cần cù nhẫn nại như những người
lao động Việt Nam chúng con. Con trai của
Mẹ là một người yêu nước đã dám chống lại bọn tu sĩ Do Thái và đế
quốc La Mã. Bọn chúng đều cấu kết với nhau giết hại con của Mẹ. Con
trai Mẹ không hề biết mình là giáo chủ lập đạo Kitô và đã không chết
với danh nghĩa là giáo chủ của cái đạo quái gở này. Con trai của Mẹ
là một thanh niên yêu nước đã chết với danh nghĩa là một công dân Do
Thái chống đế quốc. Bọn đế quốc căm thù con của Mẹ, chúng đã gán cho
Do Thái cái tội giết Chúa của chúng để có cớ tiêu diệt dân tộc của
Mẹ trong hơn một ngàn năm qua. Vatican là hậu
thân của đế quốc La Mã. Bản chất của
chúng vẫn là đế quốc, nhưng chúng quỉ quyệt núp dưới chiêu bài tôn
giáo thờ Con của Mẹ và thờ chính Mẹ để lừa gạt những người khờ dại.
Chính nhờ cái thủ đoạn vô cùng xảo trá này nên chúng đã gieo rắc tội
ác khủng khiếp cho loài người chúng con trong gần 2000 năm qua.
Chúng đã là nguyên nhân gây ra cái chết của 200 triệu người vô tội
kể từ ngày Constantine đổi tên Kitô Giáo thành "Katholikos", tiếng
Hy lạp có nghĩa là toàn cầu (universal) vào năm 340, tiếng Việt gọi
là "Công Giáo La Mã".
Bây giờ Vatican lên tiếng ăn năn hối hận và
xin cả thế giới tha thứ cái gánh nặng của 16 thế kỷ gây tội ác để
chúng dễ dàng đổ cái gánh nặng lịch sử ấy xuống biển.
Chúng chỉ giả vờ tự đánh đòn mình để tránh những
đòn thù khủng khiếp của nhân loại sắp đổ lên đầu chúng.
Tu sĩ Công Giáo ngoan cố
nhất thế giới chắc chắn phải là tu sĩ Công Giáo Việt Nam. Đầu
não của họ là Hội Đồng Giám Mục, văn phòng tại số 40 Phố Nhà Chung
Hà nội, từ trước đến nay, vẫn cứ hoàn toàn ngậm tăm im re, không hề
lên tiếng xin lỗi về tội nhục mạ Phật Giáo là "đang ở nơi tối tăm
thờ lạy bụt thần ma quỉ" (Kinh Nhựt Khóa của Tổng Giáo Phận Sài Gòn
– trang 130), tội nhục mạ các nước phương Đông là "dân mọi rợ" (kinh
cầu ông Thánh Phan xi cô Xavie. Nhựt khóa tr. 782), Kinh Bổn đầu độc
tuổi trẻ của các tín đồ với định kiến võ đoán: "Kẻ dữ là kẻ chẳng có
đạo" (Toàn Niên Kinh Nguyện Bùi Chu – tr. 325). Nếu tuyệt đại đa số
dân Việt đều là kẻ dữ như Kinh Bổn dạy thì 8% dân Việt là Công Giáo
làm sao sống sót được đến ngày nay? Làm sao 8%
dân số ấy lại chiếm được 2/3 số ghế các dân biểu nghị sĩ Quốc Hội
thời đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa trước 1975?
Trải qua 25 năm dưới chế độ Cộng Sản, tại sao các thiểu số Công Giáo
ấy vẫn phát triển như thường? Chúng cứ làm như cái giáo hội
vọng ngoại cao độ của chúng chẳng có tội lỗi gì với dân tộc Việt
Nam! Chúng có quyền gì mà dám tự ý dâng nước Việt Nam và dâng toàn
cõi Đông Dương, nói là "dâng cho Đức Nữ Đồng Trinh Maria", nhưng
thực chất là dâng cho Vatican (sách Kinh Nhựt Khóa 170-172). Hội
đồng Giám Mục Việt Nam phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung
phản văn hóa, phản dân tộc của các sách kinh nguyện (prayer-books).
Các sách kinh này sặc mùi văn hóa du mục Babylon, biến tập thể giáo
dân thành một bầy cừu non ngu dại để cho
ngoại bang tha hồ thao túng. Chẳng hạn như "Xin Chúa ràn lùa tôi một
đoàn cùng các con chiên Chúa" (Nhựt Khóa 170-172), "Đức Chúa Trời
hằng gìn giữ Đức Giáo Hoàng cho nên chẳng có lẽ nào sai lầm được"
(Toàn Niên Kinh Nguyện Bùi Chu tr. 126). Các
sách kinh nguyện là công cụ chiến tranh tâm lý vô cùng xảo quyệt của
Vatican nhằm đầu độc tinh thần giáo dân để biến tập thể giáo dân
thành một lực lượng chính trị nằm vùng phá hoại ngay trong lòng dân
tộc Việt Nam. Các sách kinh nguyện biến
tim óc giáo dân thành những tim óc bán khai để loại lưu manh
quốc tế ở Vatican tha hồ thao túng theo ý chúng qua công cụ nằm vùng
của chúng tại Việt Nam gọi là Hội Đồng Giám Mục.
Tại Hải ngoại, tập thể
giáo dân càng giàu bao nhiêu thì lực lượng chính trị Công Giáo sẽ
càng lớn mạnh bấy nhiêu. Mọi người Việt
Nam yêu nước, tại hải ngoại cũng như tại quốc nội, cần phải lưu tâm
đến sức phá hoại của các sách kinh nguyện này vì thảm họa của dân
tộc nằm sẵn trong đó. Tập thể giáo dân
vốn quen thói lười biếng suy xét, chỉ biết nhắm mắt vâng lời các tu
sĩ chủ chăn. Kẻ lưu manh chính trị chỉ
cần bỏ ra chút tiền của mua chuộc, là cha cố hám lợi hám quyền sẽ
trổ tài thuyết giảng ở nhà thờ ủng hộ chúng. Chính vì vậy mà
Công Giáo Miền Nam Việt Nam trước đây chỉ có 8% mà chiếm được 2/3 số
ghế quốc hội! Vận mạng của quốc gia dân tộc
không thể trao phó cho trò chơi dân chủ giả tạo vì thực chất là trao
cho bọn chính trị lưu manh tiếm quyền đoạt chức bằng cách bợ đỡ cha
cố quen thói lộng hành dưới thời Pháp thuộc và trong thời của các
tổng thống Công Giáo. Xin mọi người hãy ôn lại và học cho
thuộc bài học lịch sử của dân tộc, nếu không tai
họa lịch sử sẽ tái diễn.
Lạy Mẹ Maria, xin mẹ hãy soi sáng cho các con
cái của Mẹ được nhìn thấy bộ mặt thật của bọn tu sĩ vì bọn chúng là
những kẻ phản bội giáo dân, chống lại Thiên Chúa và chống lại cả Mẹ.
Viết tới đây, tôi có cảm tưởng như mình không
viết mà là đang cầu nguyện cùng Đức Mẹ. Quả thật tôi đã bỏ đạo nhưng
tôi đã không bỏ Đức Mẹ. Những kỷ niệm về Mẹ vẫn in sâu trong lòng
tôi. Những bài thánh ca về Mẹ vẫn luôn luôn có
sự lôi cuốn mãnh liệt mỗi khi tôi bất chợt nghe ở đâu đó vang lên.
Hoămỗi khi gặp chuyện buồn tôi vẫn thường tìm đến nguồn
an ủi ở nơi Mẹ bằng cách hát thầm trong
lòng những bài thánh ca vinh danh Mẹ: "Lạy Mẹ xin an ủi chúng con
luôn luôn. Mẹ từ bi xin phá những nỗi u buồn..." "Trên con đường về
quê mà vắng bóng Mẹ, con biết cậy vào ai, biết trông nhờ ai..." hoặc
"lạy Mẹ là Ngôi Sao Sáng, soi lối cho con lúc vượt biển thế gian".
Những bài thánh ca đó vẫn là những nguồn suối
mát của linh hồn tôi. Tôi yêu Mẹ Maria
như yêu người mẹ quê chất phát của thân xác tôi. Tôi cảm thấy
dường như cả hai người Mẹ là một và đều ở cùng một chỗ trong trái
tim mình.
Mẹ Maria ơi, con vẫn yêu
Mẹ như ngày nào. Con chưa bao giờ bỏ Mẹ mà chỉ từ bỏ cái giáo
hội hư nát phản bội Mẹ mà thôi. Mẹ ơi, chỉ có Mẹ
hiểu thấu lòng con. Con chỉ cần Mẹ hiểu con và thương con
thôi, con chẳng cần ai khác hiểu con. Càng yêu
mẹ bao nhiêu, con càng thù bọn phản Mẹ bấy nhiêu. Tôi lục tìm chồng sách cũ để đọc lại những lời
Mẹ đã phán dạy cùng 3 em nhỏ chăn cừu ở Fatima năm 1917. Tôi
gặp những dòng chữ này: "Khốn cho những người lãnh đạo giáo hội vì
họ chỉ còn biết vơ vét của cải và bảo vệ quyền lợi vật chất của
riêng mình. Họ chỉ biết cai trị một cách
láo xược kiêu ngạo. Đã đến lúc giáo hội bị bách
hại nặng nề. Đó là thời kỳ của bóng tối
che phủ toàn thể giáo hội Công Giáo trên khắp thế giới. Hỡi
những người dâng mình cho Chúa hãy biết run sợ vì trong thâm tâm các
người chỉ biết tôn thờ chính mình. Chúa đã trao các người vào
tay quân thù vì các thánh đường đã trở
thành nơi ô uế. Nhà thờ cũng như nhà dòng không còn là nhà Chúa nữa
vì đã trở thành những tiệm buôn bán trá hình từ lâu rồi..."
Ôi, lạy mẹ Maria, xin Mẹ
hãy hiện ra nơi tâm hồn của những tu sĩ con buôn trá hình để thức
tỉnh họ. Đa số giáo dân đã biết họ là ai còn chính họ cứ
tưởng giáo dân vẫn ngu khờ chẳng biết gì
về họ. Kinh Bổn dạy rằng: "Kẻ dữ là kẻ chẳng có đạo". Không phải
vậy, dân tộc Việt Nam có tới 92% là ngoại đạo và tôi thấy họ quá
hiền, chẳng dữ chút nào. Kẻ dữ hơn ai hết chính
là những người Công Giáo tỉnh ngộ. Một
khi họ nỗi giận vì hết chịu đựng nổi, họ chỉ muốn, phá sạch, đốt
sạch cái giáo hội đã phỉnh gạt họ.
Cách đây ít lâu, tôi tình cờ đọc tạp chí
National Geographic Vol. 182 No. 5 ra ngày 18.11.1992 nói về
"Portugal’s sea road to the East" (trang 56-93) thuật chuyện diệt
đạo Công Giáo ở Nhật năm 1638: Vị tướng Nhật tên là Iemitsu mang đại
quân đến dẹp tan cuộc nổi loạn của dân Công Giáo tại Nagasaki. Ông
đã ra lệnh đóng đinh tất cả các giáo sĩ thừa sai và thẳng
tay giết sạch 37.000 giáo dân một lúc.
Toàn bộ quân xâm lược Bồ Đào Nha bị đánh bật ra
khỏi Nagasaki. Từ đó, đạo Công Giáo hoàn
toàn bị tiêu diệt trên nước Nhật trong hơn hai thế kỷ. Do
biến cố này, nước Nhật đã bảo toàn độc lập quốc gia và giữ vững tinh
thần dân tộc với truyền thống Thần Đạo và Hiệp Sĩ Đạo.
Biến cố này đã là một yếu tố quan trọng đưa nước
Nhật lên địa vị cường quốc ngày nay.
Đọc bài báo trên, tôi vui
sướng phát run lên và hướng về nước Nhật với niềm ngưỡng mộ vô hạn.
Nghĩ về lịch sử Việt Nam, tôi ngao ngán oán trách các triều đại nhà
Nguyễn đã đánh mất cơ hội lịch sử vì đã không thực hiện được công
cuộc tiêu diệt tà đạo đến nơi đến chốn để phải chịu cái hậu quả tàn
khốc cho dân tộc trong hơn thế kỷ qua. Máu tử đạo giống như bông cỏ
dại, muốn diệt phải diệt có phương pháp và diệt trọn, diệt nửa vời
thì chẳng khác gì như quạt gió cho bông cỏ dại
lan rộng ra thêm. Đó là sự khác biệt giữa
hai cách diệt đạo của ta và của Nhật.
Tôi tưởng tượng về một
giấc mơ. Giấc mơ đẹp nhất trong đời chắc
chắn phải là giấc mơ mà trong đó và thời đó tôi biến thành Iemitsu. Tôi sẽ bắt hết toàn bộ Hội Đồng Giám mục, toàn
bộ tu sĩ dòng Đồng Công và tu sĩ lưu manh. Tôi sẽ tịch
thu nhà thờ Phát Diệm và nhà thờ Huyện Sĩ
để biến chúng thành viện bảo tàng triển lãm tội ác của cả cái giáo
hội Công Giáo đã chống nhân loại trong hơn ngàn năm qua.
Nhưng đó chỉ là ước mơ
thôi. Tôi chẳng cần phải là Iemitsu Nhật Bản. Nhân loại đã có
sẵn những kế hoạch tinh vi và cao siêu để
tiêu diệt mọi thứ tà đạo chống lại con người. Con mắt của Thượng Đế
đã và đang soi sáng cho lương tri và lương tâm của nhân loại kiến
tạo kim tự tháp của Trật Tự Mới (Novus
Ordo Seclorum). Kim tự tháp vừa là biểu tượng của nền trật tự vững
bền muôn đời và đồng thời nó cũng là biểu tượng của một nấm mồ
vĩ đại chôn xác chết của các thế lực tội
ác. Tất nhiên trong đó phải có cái xác của con khủng long tội ác là
giáo hội Công Giáo La Mã.
Chúng ta đang sống trong
buổi bình minh của thiên niên kỷ mới, chúng ta sẽ được chứng kiến sự
sụp đổ ngoạn mục của lâu đài Vatican đã được xây dựng trên hòn đá
Phêrô. Mọi người trước đây cứ tưởng Chúa
Jesus đã chúc phúc cho Phêrô và giáo hội.
Sự thật không phải như vậy. Chúa Jesus đã cảnh cáo Phêrô
rằng: "Quỉ Satan muốn có nhà ngươi, nó sẽ "sàng ngươi" như sàng
gạo". (And the Lord said: Simon, Simon, Satan hath desired to have
you that he may sift you as wheat – Luke 22:31) Sau đó, Chúa gọi
Phêrô là quỉ Satan, đuổi hắn ra phía sau và trách hắn về tội xúc
phạm Ngài: (But He turned and said unto Peter: "Get thee behind me,
Satan, thou art an offence unto me" – Matt. 16:23).
Theo nguyên ngữ Hebrew, Satan có nghĩa là vật
chất. Phêrô là Đá: Đá và Vật Chất là một. Giáo Hội Công Giáo
của Phêrô là Giáo Hội của Satan, chỉ lo vơ
vét tiền của vật chất thế gian cho nên từ hơn ngàn năm qua nó lao
mình vào con đường tội lỗi chống lại con người và chống lại Thiên
Chúa.
Công Giáo thường kết tội
Cộng Sản là tam vô. Sự thật Công Giáo còn
hơn tam vô. Vì bọn lãnh đạo Công Giáo không hề tin Chúa, thờ
Chúa, chúng chỉ tin và thờ vật chất mà thôi.
Chúng khinh miệt phụ nữ và coi rẻ giá trị gia đình. Augustine
coi sự giao hợp của vợ chồng để sinh con là tội lỗi.
Chúng bịa đặt ra giáo điều Thiên Chúa Ba Ngôi
loạn luân để nhục mạ Thiên Chúa và Mẹ Maria. Tu sĩ Công Giáo Việt Nam không biết tổ quốc là
gì. Tổ quốc của chúng là Vatican, thủ đô
tổng hợp của Mafia và chủ nghĩa đế quốc La Mã. Chúng xấu hổ làm người Việt Nam nên không nhận
mình là người Dân Việt mà thường tự xưng là Dân Chúa, thực chất chỉ
là công dân loại dỏm của Vatican. Các cha cố không hề lo xây
dựng tâm hồn con người mà chỉ lo xây cất nhà thờ để phô trương uy
thế quyền hành của họ. Nhà thờ thực chất là
những cửa tiệm buôn thần bán thánh của họ. Họ hoàn toàn đi ngược lại lời dạy của Chúa
Jesus. Chúa dạy: "Thánh linh của Thiên Chúa không ngự trong
các đền thờ được xây dựng bởi bàn tay con người". (The Holy Spririt
of God no longer dwells in temples made with men’s hands – Act
17:24). Chúa cũng như Đức Phật đều dạy Phật tính hay Thiên Chúa tính
đều sẵn có trong lòng mọi người chứ không nằm trong chùa hay nhà
thờ. Lời Phật dạy là "Phật tại tâm" chẳng khác gì lời Chúa: "Anh em
là đền thờ của Chúa. Thánh linh của Thiên Chúa
ngụ trong anh em". (Ye are the temple of
God, the Spririt of God dwelleth in you – Corinth 3:16).
Chúa dạy "Kẻ hạ mình xuống sẽ được đưa lên và kẻ
đưa mình lên sẽ bị hạ xuống". Chúa cũng dạy về tinh thần bình
đẵng: "Mỗi người trong anh em đều là thầy của nhau, tất cả đều là
anh em" (for one is your Master and all ye are brethen – Matt 23:
4-10).
Các cha cố luôn luôn tránh
né, không bao giờ dám phổ biến những lời dạy chí lý và chí tình của
Chúa. Bởi vì nếu nói ra thì chúng phải
phá bỏ hoặc đóng hết các cửa tiệm buôn trá hình của chúng. Chúng dấu nhẹm các lời dạy của Chúa về sự khiêm
tốn và tinh thần bình đẵng giữa các anh chị em có chung một Cha là
Thiên Chúa. Có như vậy thì các tu sĩ mới
có thể tâng bốc nhau lên tận mây xanh.
Thực chất chúng chỉ là một bọn cướp đội lốt thánh thiện.
Chúng không xứng đáng được giáo dân gọi là Cha, các đức Cha, đức
Ông, đức Thánh Cha hoặc Đức giáo tông v.v...
Công Giáo La Mã là tôn giáo kỳ quái nhất trong
các tôn giáo vì kẻ đứng đầu là giáo hoàng tự xưng có đặc quyền
"không thể sai lầm". Giáo hoàng cũng giống như con rùa có cái đầu
luôn luôn thập thò ở cửa sổ tòa lâu đài
Apostolic để ban phép lành cho khách du lịch giàu có đến hành
hương hoặc để tuyên phán tín điều này tín điều nọ. Giáo hoàng tự coi
mình là kẻ duy nhất có quyền tuyệt đối xác định hay phủ nhận mọi giá
trị cao nhất về luân lý và đạo đức của toàn thể nhân loại! Giáo
hoàng độc quyền nắm chìa khóa mở cửa thiên đàng cho ai biết tuân
phục và sẽ thẳng tay loại trừ bất cứ ai
dám chống lại hắn ta, ngay trong đời này và cả trong kiếp sau đời
đời!
2. CÔNG GIÁO VÀ THÁNH TỬ ĐẠO
Năm 340, đế quốc La Mã tiêu diệt hết các giáo
phái Kitô đi ngược lại các giáo điều của hội nghị Nicaea do hoàng đế
Constantine triệu tập vào năm 325 và chính thức đặt tên cho giáo hội
Kitô mới của toàn đế quốc là Công Giáo (tiếng La tinh: Cattolica,
tiếng Hy Lạp: Katholicos, có nghĩa là tôn giáo của hoàn cầu). Saint
Cyril of Jerusalem đã viết trong năm 340 định nghĩa giáo hội Công
Giáo như sau: "Tất cả mọi người thờ Chúa đều phải qui tụ trong một
hệ thống thiêng liêng đặt dưới quyền cai trị của Giáo Hoàng La Mã.
Bất cứ ai không phải là thành viên của Giáo Hội
đều bị vứt bỏ ra khỏi cuộc đời này và điều quan trọng hơn là bị vứt
bỏ ra khỏi đời sau". (All who worshiped God were united in
one sacramental system under the government of the Roman Pontiff.
Anyone not a member of the Church must be cast out of this life and
more important, out of next). Đây là một lệnh cưỡng bức toàn dân
thuộc đế quốc phải theo đạo Công Giáo.
Mọi người chống đối đều bị giết. Riêng những người Kitô thuộc giáo phái Arius
(Arian Christians) bị giết trên 3000 người.
Trong các năm 1512-1517, Công Đồng Lateran tái
xác định giáo hội Công Giáo là giáo hội duy nhất nắm Ơn Cứu Chuộc
của Chúa với khẩu hiệu: "Nulla Salus extra Ecclessian" (không thuộc
giáo hội sẽ không được cứu chuộc – có nghĩa là phải sa hỏa ngục).
Năm 1703, thánh De La Salle viết sách "Les Devoirs d’un Chretien"
tái định nghĩa danh từ Công Giáo như sau: "Công Giáo là xã hội của
đức tin được thâu tóm thành một và thuộc một thực thể được cai trị
bởi các đấng chăn chiên hợp pháp mà Chúa Jesus là thủ lãnh vô hình
và Đức Giáo Hoàng là thủ lãnh hữu hình trên trái đất này". (In 1703,
Saint De La Salle wrote "Les Devoirs d’un Chretien" defined:
"Catholicism is the society of the faithful collected into one and
the same body governed by its legitime pastors of whom Jesus Christ
is the invisible head and the Pope being his representative on
earth".) Xin đọc các phần trích dẫn trên trong tác phẩm "A World lit
only by fire" của William Manchester, do Little Brown and Co. USA.
Xuất bản 1992, các trang 8-20.
Sau khi đọc các điều trên từ một cuốn sách ở
thư viện, về nhà đọc Báo Đại Chúng Xuân Canh Thìn phát hành tại vùng
Washington DC tháng 2.2000, trong đó có bài "Bên trong và đằng sau
thư ngõ của các ông Đỗ Mậu, Nguyễn Kha, Lê Trọng Văn" của tác giả
Trần Ngọc Vân với nội dung chống lại ý kiến của 10 vị nhân sĩ đã ký
tên trong "Bức Thư Ngõ Gửi Giáo Hoàng Jean Paul II" đăng trên báo
Vận Hội Mới Xuân Kỷ Mão (1999). Tôi rất tiếc không có số báo Vận Hội
Mới nói trên nên không có dịp đọc Bức thư
Ngõ của 10 vị nhân sĩ. Cho nên tôi chỉ được biết vài điểm của bức
thư ngõ này qua sự trích dẫn của tác giả
Trần Ngọc Vân thôi.
Tôi đồng ý với ông Trần Ngọc Vân là chúng ta
không nên gọi đạo Công Giáo là đạo Gia Tô (hoặc Ca
Tô Rôma) vì trên thế giới này không có
đạo nào là đạo Gia Tô cả! Chỉ có đạo Kitô hoặc
Cơ-đốc. Ta phải thừa nhận một điều là các đạo thờ Chúa đều
xuất phát từ Tây Phương – bao gồm Âu Mỹ và các nước Do Thái-Ả Rập.
Vì vậy chúng ta cần hiểu các tôn giáo này theo định nghĩa của họ.
Gia Tô là tiếng phiên âm
chữ Hán tên của Giêxu. Trong kinh cầu hồn bằng chữ Hán có
câu: "Thiên Chúa Da-tô thục tội thi ân
chi đại", có nghĩa là "Đức Chúa Giê xu chuộc tội ban ơn rất lớn".
Người Tây phương dùng thần thoại Kitô (Cơ-đốc)
chứ không lấy tên của Jesus (Datô) đặt tên cho đạo này. Vì
vậy ta không nên gọi Công Giáo là đạo Gia Tô
(hay Da Tô). Hơn nữa, nếu hiểu Công Giáo là đạo
Gia Tô, tức đạo duy nhất thờ Jesus, thì lại là một lầm lẫn lớn.
Chính Thống Giáo (Anh Giáo), hàng trăm giáo phái Tin Lành, thậm chí
Hồi Giáo và Cao Đài cũng có thờ Jesus nhưng không phải là Công Giáo.
Sở dĩ ta phải gọi là "Công Giáo La Mã" vì có mấy thứ Công Giáo khác
nhau với hệ thống giáo quyền và giáo đô khác nhau, trong đó có Công
Giáo Anh, Công Giáo Hy Lạp, Công Giáo Ai Cập (Egyptian Coptic), Công
Giáo Nam Phi, Công Giáo Trung Nam Mỹ với Thần Học Giải Phóng tách
rời Vatican...
Tôi xin đề nghị chúng ta
nên xử dụng danh từ "Công Giáo La Mã" là danh từ chính xác nhất để
tránh lầm lẫn với các tôn giáo thờ chúa khác. Danh từ Thiên
Chúa Giáo nên được hiểu là Độc Thần Giáo (Monotheism) bao gồm 3 tôn
giáo lớn là Do Thái Giáo (Judaism), Hồi Giáo (Islam) và Kitô Giáo
hoặc Cơ Đốc Giáo. Danh từ Christianity do nguyên ngữ Hy Lạp Christos
mà ra. Christos (tiếng Anh và Pháp là Christ,
tiếng Tây Ban Nha Cristo) được người Hoa phiên âm thành "Cơ Đốc".
Người Việt xưa kia phiên âm từ tiếng Tây Ban Nha Cristo thành "Chúa
Ki-ri-xi-tô" trong các sách kinh nguyện xuất bản trước Công Đồng
Vaticano 1962. Sau 1962, danh từ "Ki ri xi tô" được
thu gọn lại thành Kitô.
Tín đồ Kitô (Christians) được dịch là Ki-tô-hữu. Đạo Kitô được gọi là Kitô Giáo bao gồm Công
Giáo, Tin Lành, Chính Thống, Anh Giáo vì tất cả đều tin Jesus là
Chúa Kitô. Chúng ta cũng không nên gọi Công Giáo La Mã là
"Catô Rôma" vì phiên âm như vậy sẽ làm mất cái ý nghĩa "Công Giáo"
là đạo chung của toàn cầu qua âm mưu thâm độc của Constantine và đế
quốc La Mã trong mưu đồ dùng đạo này làm lợi khí chinh phục toàn
cầu. Nếu chỉ hiểu Công Giáo là "public religion" hoặc "state
religion" là quốc giáo của một quốc gia tức là đã đánh giá quá thấp
tham vọng ban đầu của bọn đế quốc khi chúng diệt đạo Kitô nguyên
thủy và lập ra đạo Công Giáo để dùng làm chiêu bài xâm lược toàn
cầu.
Tôi xin đề nghị nên xử dụng danh từ "Công Giáo
La Mã" để làm nổi bật cái dã tâm xâm lược toàn cầu của đế quốc La Mã
núp dưới chiêu bài tôn giáo bịp bợm và ác độc của nó.
Theo ông Trần Ngọc Vân, tác giả bài báo đăng
trên Đại Chúng Xuân Canh Thìn vào tháng 2.2000, thì 10 nhân sĩ tác
giả bức thư ngỏ gửi giáo hoàng (trong đó có các ông Đỗ Mậu, Nguyễn
Kha, Lê Trọng Văn...) đều là những người "đã xếp hàng chung với tập
đoàn Cộng Sản" (Đại Chúng tr. 191). Có lẽ ông Vân ngụ ý cho rằng
những nhân sĩ này đều là những cây bút tay sai Cộng Sản chỉ viết để
xuyên tạc nhằm bôi lọ Công Giáo và làm lợi cho Cộng Sản. Theo tôi,
dù cho nhận định của ông Trần Ngọc Vân là đúng chăng nữa thì những
cây bút chống Công Giáo này không thể nào làm lợi cho Cộng Sản bằng
Gioan XXIII và Paul VI trong thời chiến tranh Việt Nam.
Bài báo của ông Trần Ngọc
Vân là động lực chính yếu đã thúc đẩy tôi viết bài này để trình bày
những nhận định của một người trong cuộc (an insider) nhìn về giáo
hội lâu đời của gia tộc mình. Ngoài ra,
tôi là một quân nhân phục vụ 10 năm trong QLVNCH và ở tù 10 năm
trong trại cải tạo sau 30.4.1975. Tất cả
những nhận định của tôi trình bày trong bài này đều là những điều
tôi thấy sao nói vậy, nghĩ sao viết vậy.
Tôi không oán thù riêng một ai và cũng không sợ hãi bất cứ một thế
lực nào. Tôi chỉ yêu sự thật và dám chết
cho sự thật với niềm tự hào của một người chân thực. Mọi người thân yêu nhất của đời tôi trong quá
khứ cũng như trong hiện tại, tất cả đều là người Công Giáo.
Tôi sinh ra và lớn lên trong môi trường Công
Giáo, đã chứng kiến những thảm trạng do giáo hội Công Giáo gây ra
chung quanh tôi và cũng do sự học hỏi tìm tòi những sự thật lịch sử
qua các sách nghiên cứu hết sức đầy đủ và có giá trị cao trong các
thư viện Mỹ. Tôi đã tỉnh ngộ để có đủ tinh thần khách quan đánh giá
lại niềm tin và giáo hội của mình. Tôi đã chọn cho mình một hướng đi
là phải tham gia công tác giáo dục ngõ hầu giúp đồng bào đồng đạo
của mình thức tỉnh để nhận cho đúng chân tướng gian ác của giáo hội
Công Giáo La Mã, để không còn bị bọn tu sĩ lưu manh bóc lột và dẫn
đi vào con đường tội ác chống loài người và chống dân tộc mình. Tôi
cố gắng làm việc hết mình để góp phần vào công việc "Enlightenment"
này càng nhiều bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu và tôi sẵn sàng chấp
nhận mọi điều bất hạnh có thể xảy đến cho bản thân, tất cả chỉ vì
lòng khát khao yêu mến sự thật. Ý nguyện này có thể được tóm tắt
trong khẩu hiệu:
"CHRISTIAN BY BIRTH ANTI-CHRISTIAN BY CHOICE".
Trải qua gần 500 năm theo
đạo, các tiền nhân của tôi đã có nhiều vị tử đạo.
Tuy nhiên, tôi không lấy điều này làm niềm vinh
dự. Trái lại, tôi coi đó là niềm đau xót lớn
lao vì các tiền nhân đã phải đổ máu vô
ích cho một thứ tà đạo mà cả loài người ngày nay đang lớn tiếng
nguyền rủa nó. Ông Trần Ngọc Vân viết: "Trong một đoạn ở đầu trang 3
thư ngõ, các ông Đỗ Mậu, Lê Trọng Văn, Nguyễn Kha còn dùng những lời
lẽ hạ cấp nhất để miệt thị 117 vị Thánh Tử Đạo Việt Nam, đồng thời
mạt sát Đức Gioan Phaolồ II khi Ngài quyết định tuyên thánh cho các
vị này hơn 10 năm trước". Tôi không biết các tác giả
thư ngỏ đã viết ra sao mà bị ông Vân gọi
là "dùng những lời lẽ hạ cấp nhất". Ở đây tôi
chỉ xin bày tỏ cảm nghĩ của tôi đối với vụ phong thánh cho các tử
đạo Việt Nam với tư cách là một người Công Giáo tỉnh ngộ.
Trong buổi lễ phong thánh cho 117 tử đạo Việt
Nam tại Vatican năm 1988, giáo hoàng đã đọc các lời vinh danh sau
đây:
"Các người vinh quang của Jerusalem
Là nỗi vui mừng của Israel
Và là vinh dự của dân tộc
Việt Nam!"
Tôi không hề thấy các
người tử đạo đã đem lại một vinh dự nào cho dân tộc Việt Nam. Trái lại họ chỉ nhắc cho mọi người về một nguyên
nhân chính yếu làm cho dân tộc Việt Nam rơi vào vòng nô lệ nhục nhã
của thực dân Pháp hơn 80 năm. Họ là nguyên nhân gây mặc cảm
hận thù chia rẽ dân tộc mà hậu quả là việc thành lập các lực lượng
vũ trang cuồng tín hiếu sát của Tự Vệ Công Giáo Phát Diệm Bùi Chu
Thái Bình và Lực Lượng Công Giáo Miền Nam, gọi tắt là UMDC (Unités
Mobiles de Défense des Chrétiens) của đại tá Le Roy trong các năm
1946-1954. Người Công Giáo luôn luôn phản bội dân tộc, chỉ lo phục
vụ Vatican và ngoại bang. Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi cũng như Le Roy
ra mặt phục vụ thực dân Pháp cho đến 1954. Sau 1954, Le Roy chạy
sang Pháp, còn Lê Hữu Từ và Hoàng Quỳnh móc nối với Bình Xuyên chống
chính phủ Diệm. Trong chiến tranh Pháp-Việt và Đệ Nhất Cộng Hòa,
người Công Giáo chống Cộng điên cuồng không phải vì yêu nước mà để
phục vụ chủ trương chống Cộng cực đoan của Giáo hoàng Piô XII. Khi
Giáo hoàng Gioan XXIII và Paul VI trở mặt thân Cộng chống VNCH, họ
cũng thay đổi theo. Năm 1966, LM Hoàng
Quỳnh xua hàng chục ngàn giáo dân biểu tình phá rối trị
an của VNCH. GH Paul
VI tiếp thủ tướng Nga tại Vatican ngày 30.1.1967. Ngay từ đầu
thập niên 60, GH Gioan XXIII đã móc nối với Hồ Chí Minh để thiết lập
chính phủ trung lập tại VN đã đưa đến cuộc lật đổ chính phủ Ngô Đình
Diệm năm 1963 và rút phép thông công TGM Ngô Đình Thục. Ngày
12.11.1974, LM Hoàng Quỳnh và gián điệp Vũ Ngọc Nhạ đến Củ Chi họp
mật với MTGPMN để lập thành phần thứ ba trong chính phủ Liên Hiệp
với Cộng Sản. Tất cả chỉ để thi hành mệnh lệnh của Vatican. Sau
30.4.1975, Giáo Hoàng Paul VI đã ban thưởng huy chương cho Vũ Ngọc
Nhạ trong khi hàng trăm ngàn quân cán chính VNCH đi tù cải tạo thì
Tòa Thánh hoàn toàn lặng thinh không hề can thiệp!
Tập thể Công Giáo Việt Nam
đã tự biến mình thành một giáo hội hèn hạ, hoàn toàn nép mình dưới
cái gậy chỉ huy độc đoán, và nhiều khi rất nham hiểm của các giáo
hoàng La Mã. Do sự việc này, chúng ta sẽ nhận ra sự độc hại
của các sách kinh... "mọi nơi thảy nên một ràn cùng một kẻ chăn"
(Kinh Nhựt khóa 170-172) "Ai chẳng vâng lời Hội Thánh trong mọi việc
là chẳng vâng lời Chúa tôi", "Đức Chúa Trời hằng gìn giữ Đức giáo
hoàng cho nên chẳng có lẽ nào sai lầm được" (Toàn Niên Kinh Nguyện
Bùi Chu N-127 do Cơ Sở Dân Chúa xuất bản). Cả cái tập thể Công Giáo
VN, người sống cũng như người tử đạo, đều chỉ làm nhục dân tộc Việt
Nam do những lời cầu kinh thiếu trí tuệ đó.
Tôi đau xót tự hỏi: Tại sao những người tử đạo
VN đã phải đổ máu mình cho vinh quang của Jerusalem? Cái thành phố
Jerusalem xa xôi kia có liên quan gì đến
dân tộc VN? Báo Washington Post loan tin: Ngày 25.3.2000, Giáo Hoàng
Jean Paul II đến nhà thờ The Holy Sepuleher tại Jerusalem làm lễ kêu
gọi 7 chi phái Kitô Giáo tại đây hãy hợp nhất lại để xóa bỏ hận thù
với nhau. Trong khi giáo hoàng làm lễ thì các
nhà thờ thuộc các giáo phái khác khua chuông ầm ĩ để phá đám.
Một giới chức trong phái đoàn của giáo hoàng tuyên bố với báo chí
gồm 2000 phóng viên quốc tế rằng: "Phương cách này là một cuộc
chiến" (this process is a battle) và tuyên bố tiếp: "Đó là thực tế,
mọi người dồn vào khu đất thiêng này nhưng chẳng ai chịu ai, chẳng
ai muốn mất đi một cái gì cả" (It’s the reality, everybody is packed
into sacred space and unwillingly to lose something). Cuối cùng,
giáo hoàng xác nhận ngay tại Jerusalem: "Tôn giáo vẫn được dùng làm
một phương tiện cho sự chia rẻ và chiến tranh" (Religion has been
used as a means for division and war – Washington Post 19.3.2000 p.
A30). Giáo hoàng đã công khai phủ nhận giá trị của các tôn giáo nói
chung và Công Giáo nói riêng ngay tại đất
thánh Jerusalem. Vậy Jerusalem chỉ là một chứng
tích cụ thể về sự thất bại hoàn toàn của cái gọi là "Công Ơn Cứu
Chuộc của Chúa Kitô". Bản thân đất thánh
Jerusalem còn không tạo nổi vinh quang cho mình trong mấy ngàn năm
qua, hà cớ gì người Việt Nam lại phải đổ máu mình cho vinh quang của
Jerusalem?
Tại sao người tử đạo Việt
Nam phải đổ máu mình vì nỗi vui mừng của Israel? Cách đây 4000 năm, cháu nội của Abraham là Jacob
đã đặt tên cho nước Do Thái là Isra-El để tôn vinh thiên chúa của
dân tộc Do Thái thời đó là con bò El. Do Thái thờ con bò El
từ khoảng năm 4000 trước Công Nguyên, đến thế kỷ 12 trước Công
Nguyên, đạo thờ bò được cải tổ thành đạo Do Thái của Môi-se (Mosaic
Judaism). Môi-Se
(Moses) đổi tên Thiên Chúa El hoặc Elohim thành Jehovah. Đây
không phải là tên mới của Thiên Chúa mà chỉ có nghĩa là "Thiên Chúa
của các tổ phụ" (Jehovah means God of Fathers) tức vẫn là Elohim,
vẫn là con bò thần El. Tại sao các tử đạo VN phải chết vì nỗi vui
mừng của dân tộc thờ bò là Isra-El?
Tôi nghĩ đến câu tục ngữ Việt Nam: "Đồ ngu như
bò" và nhận thấy không có một trường hợp nào áp dụng câu tục ngữ này
thích hợp cho bằng trường hợp tử đạo Việt Nam được phong thánh với
những lời vinh danh như trên của Giáo Hoàng Jean Paul II.
Nhân dịp này tôi xin kính gửi đến 10 vị nhân
sĩ ký tên chung trong bức thư ngỏ gửi Giáo Hoàng Jean Paul II đã
đăng trên báo Vận Hội Mới Xuân Kỹ Mão (1999) cũng như kính gửi đến
toàn thể quí vị hằng quan tâm đến nền văn hóa và tiền đồ dân tộc một
số kinh nghiệm bản thân của tôi về vấn đề Công Giáo và Dân tộc như
sau:
1) Chúng ta nên phân biệt hai loại người đối
tượng. Loại người thứ nhất là các tu sĩ Công Giáo và tập thể chính
trị gia, trí thức Công Giáo lưu manh là bọn xưa nay chỉ vì tư lợi
gây rất nhiều tội ác chống lại nhân loại và dân tộc.
Đối với loại người này, chúng ta phải xác định
họ là kẻ thù nguy hiểm và chúng ta cần phải đấu tranh diệt trừ không
thể khoan nhượng. Đứng đầu bọn này phải kể đến Hội Đồng Giám
Mục, những dòng tu đang biến đức tin Công Giáo thành một món hàng
béo bở để tận dụng khai thác làm giàu như dòng tu Đồng Công ở
Missouri chẳng hạn. Kế đến là bọn chính trị lưu
manh đang ẩn nấp trong các đoàn thể ở nhà thờ như Hiệp sĩ đoàn.
Vào một lúc nào đó thuận tiện, chúng sẽ mau chóng biến thành những
đoàn quân võ trang hoặc những đoàn quân mật vụ hiếu sát như những
đoàn thể của LM Hoàng Quỳnh, Lê Hữu Từ, Le Roy hoặc Trần Kim Tuyến.
Loại người thứ hai là tuyệt đại đa số giáo dân,
những người mãi lo làm ăn, vô tư chất phát, họ chỉ vì thiếu hiểu
biết đã bị các tu sĩ và trí thức lưu manh lừa gạt kích động, xô đẩy
vào những hoạt động phá hoại đất nước mà họ vô tình không biết.
Họ cũng như hầu hết các người tử đạo xưa kia
chỉ là những nạn nhân bị lừa gạt mà thôi. Đối
với những người này, chúng ta cần phải đối xử với lòng thương yêu
chân thành trong tình nghĩa đồng bào. Chúng ta chỉ có một
khát vọng là đem ánh sáng của sự thật để xua đuổi bóng tối trong
tinh thần của họ mà thôi. Họ đã và đang là nạn
nhân bị các tu sĩ bòn rút tiền của. Đối
với bọn tu sĩ lưu manh, họ chỉ là một bầy bò sữa để cho chúng vắt
hầu vỗ béo thân xác và thỏa mãn các thứ dục vọng của chúng. Họ cũng là những nạn nhân của bọn chính trị lưu
manh, lúc nào cũng lăm le biến họ thành những công cụ hoặc những vật
hy sinh cho những mưu đồ đen tối của chúng. Trong thâm tâm của mỗi người chúng ta luôn luôn
phải phân biệt rõ rệt bạn và thù, nạn nhân và thủ phạm. Mục đích tối hậu là diệt trừ mọi thứ kẻ ác để
bảo vệ những người thiện lành. Nhất định
đồng bào sẽ ủng hộ chúng ta và Ơn Trên sẽ phù hộ chúng ta.
2) Với nhận định như trên, chúng ta cần đem
lại sự giáo dục tới tận các giáo dân bằng những bằng chứng sự thật
được trình bày đơn giản, cụ thể và dễ hiểu. Không nên quá chú trọng
đến các lý thuyết cao xa như thuyết Tạo Dựng, Thuyết Cứu Rỗi mà cần
chú trọng đến các vấn đề thông thường được nêu trong các sách kinh
nguyện (prayer books) mà nhà giáo dân nào cũng có và họ thường tụng
niệm hằng ngày.
Thánh kinh thường được coi như những cuốn sách
làm căn bản của đạo thì rất ít giáo dân đọc. Họ
chỉ biết thánh kinh qua một số trích đoạn mà bọn cha cố đã lựa chọn
kỹ càng để đem ra giảng thuyết mà thôi.
Các cuốn sách dày như Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi chắc chắn chẳng
có giáo dân bình thường nào đọc cả. Vậy nên cần xuất bản
nhiều cuốn sách nhỏ đề cập đến những vấn đề thiết thực để khai sáng
hơn là viết các sách đồ sộ khô khan hầu như không có tác dụng nào
đối với đa số giáo dân.
3) Có những điều mà các trí thức ngoại giáo ít
ai biết tới là:
a) Mỗi khi có một cuốn sách hay bài báo chống
đạo xuất hiện, bọn cha cố công khai ngăn cấm giáo dân không được
đọc. Nếu đọc là phải tội v.v... nên bọn
chúng đã vô hiệu hóa một cách dễ dàng tác dụng của các sách báo này.
b) Dưới sự lãnh đạo dày dạn kinh nghiệm và vô
cùng xảo quyệt của Vatican, các giáo sĩ luôn luôn có sẵn những lối
giải thích lươn lẹo để hóa giải các lập luận tấn công Giáo lý hay
giáo hội. Vì thế Công Giáo đã vượt qua mọi cuộc tấn công của khoa
học và mọi cuộc chống phá của các phong trào soi sáng
(Enlightenment) hay các phong trào giải trừ Kitô Giáo
(Dischristianization) như hiện nay. Muốn biết các lập luận lươn lẹo
này ra sao xin hãy đọc "Giáo Lý Mới –Thời Đại Mới" 157 trang do Đất
Mẹ xuất bản và phát hành tại Houston năm 1996.
Đọc cuốn sách Giáo Lý Mới này, quí vị sẽ phải khâm phục tài nghệ
giải thích lươn lẹo của bộ tham mưu thần học của Vatican. Thí
dụ: Thiên Chúa dựng nên vũ trụ trong 7 ngày cần được hiểu là 7 thời
đại, [ Nếu nói 7 thời đại thì cây cỏ thảo mộc Chúa tạo ra trước mặt
trời làm sao sống được vì không có diệp lục tố!]
Mỗi thời đại kéo
dài nhiều triệu năm! Giáo dân được mời gọi để
bắt chước lòng trung thành tuyệt đối của Abraham đối với Thiên Chúa
chứ không phải được mời gọi để bắt chước hành động của Ngài (loạn
luân, giết con để tế Thiên Chúa). Kinh Tin Kính là bản liệt
kê các giáo điều căn bản của đạo Công Giáo đã được Hội Nghị Nicaea
chấp thuận năm 325 vẫn có thể được sửa đổi cho phù hợp với thời đại
ngày nay (sách trích dẫn trang 160). Do đó, việc bài trừ hệ thống tu
sĩ Công Giáo là một vấn đề ưu tiên cần thực hiện trước khi bắt
tay vào việc giáo dục quần chúng.
Mọi người chúng ta đều
biết rằng Chúa Jesus chỉ có một người mẹ duy nhất là đức Mẹ Maria. Nhưng chúng ta thấy người Công Giáo đã gọi Mẹ
Maria bằng rất nhiều danh hiệu khác nhau. Nào là Đức Mẹ Đồng
Trinh, Đức Mẹ Chúa Trời, Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đức Mẹ Mông
Triệu, Đức Mẹ Mân Côi và Đức Mẹ sắp mang thêm một danh hiệu chính
thức nữa là "Đức Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc". Ngoài ra, chúng ta cũng
nghe nói tới những vụ Đức Mẹ hiện ra ở nhiều nơi trên thế giới như
Lộ Đức (Pháp) Fatima (Bồ Đào Nha) La Vang (Việt Nam) và hàng trăm
địa danh khác nữa không xiết. Mỗi một danh hiệu
nói trên của Đức Mẹ đều có lịch sử của nó và đều đã gây ra nhiều hậu
quả cho đời sống nhân loại và đời sống của giáo hội Kitô. Mỗi lần Vatican đưa ra một phép lạ của Đức Mẹ ở
một nơi nào đó đều có dụng đích chính trị của họ. Vấn đề tôn thờ Đức Mẹ có cả một ngành nghiên cứu
riêng gọi là Mariology hết sức phức tạp và hoàn toàn xa lạ đối với
đại đa số đồng bào ta là những người ngoại giáo.
Đây là lý do thứ hai thúc đẩy tôi viết bài này
nhằm trình bày khái lược về những vấn đề trên để quí vị độc giả
ngoại giáo hiểu thêm về thực chất của giáo hội Công Giáo La Mã và
cũng để từ đó có thể đoán biết được tương lai của giáo hội này sẽ đi
về đâu. Sự mất còn của giáo hội Công Giáo với
trên một tỷ tín đồ có liên hệ mật thiết với vận mệnh của nhân loại,
trong đó có dân tộc Việt Nam.
3. TÍN ĐIỀU, HUYỀN THOẠI, ĐỨC MẸ,
VƯỜN ĐỊA ĐÀNG, THÁNH TÍCH.
Trước hết, tôi xin trình bày
sơ lược một số tín điều quan trọng về Đức
Mẹ:
Tín Điều Đức Mẹ Đồng
Trinh. Trong 300 năm đầu của kỷ nguyên,
chúng ta chưa có đạo Công Giáo mà chỉ có đạo Kitô nguyên thủy (Early
Christianity). Tín đồ Kitô Giáo nguyên
thủy không xây nhà thờ, không có ảnh tượng, không có hệ thống tu sĩ,
không tin Đức Mẹ đồng trinh. Họ tụ họp nhau trong các phòng
hội (sinagogues) để đọc Thánh Kinh và noi gương cuộc sống của Chúa
Jesus mà họ tin là Đấng Cứu Thế (Messiah/Christ). Kinh Thánh nói rõ
Chúa Jesus là con trai đầu của Đức Mẹ chứ không phải là con trai duy
nhất của Người. Trưởng nam Jesus có 4 em trai và
3 em gái. Em trai đầu của Chúa Jesus tên James làm giáo chủ
đạo Kitô tại Jerusalem vào giữa thế kỷ I. Đức Mẹ có tới 8 người con
làm sao còn đồng trinh được? Vì vậy tín điều Đức
Mẹ Đồng Trinh là một điều vừa phản tự nhiên vừa khôi hài quái đản.
Mọi vấn đề về đức tin Kitô trở nên phức tạp và gây ra các vụ tranh
cãi, thậm chí gây ra chiến tranh đẩm máu là do tham vọng của Đế Quốc
La Mã. Đứng đầu bởi Hoàng Đế Constantine The
Great.
Sau hơn 300 năm, các hoàng
đế La Mã ra sức diệt đạo Kitô nhưng đạo này vẫn bành trướng ra khắp
đế quốc. Điều nguy hiểm là những đoàn quân Hung Nô (Mông Cổ)
rất đông đảo và hùng mạnh đang đe dọa tràn ngập toàn đế quốc. Dân
chúng đa số theo đạo Kitô chẳng những
không chịu đi lính cho đế quốc La Mã mà còn sẵn sàng hợp tác với
địch. Do đó, năm 313, Constantine ra lệnh bãi bỏ việc cấm đạo và
chính thức công nhận đạo Kitô là đạo của toàn đế quốc. Ngày
20.5.325, Constantine ra lệnh triệu tập hội nghị các giám mục họp
tại Nicaea (Thổ Nhĩ Kỳ) để thống nhất các giáo phái Kitô bằng cách
buộc mọi người phải chấp nhận một bản tóm tắt các tín điều được gọi
là "Niềm Tin của các Tông Đồ" (The Creed of Apostles), sau gọi tắt
là Kinh Tin Kính. Trong đó có tín điều Thiên
Chúa Ba Ngôi và Đức Mẹ Đồng Trinh. Các
Giám mục và tín đồ Kitô nguyên thủy chống lại Công Đồng Nicaea đều
bị giết hoặc bị đưa đi đày. Riêng giáo
phái Arius bị giết tới 3000 người. Năm
340, đạo Kitô của Constantine được đổi tên thành Công Giáo
(Cattolica) nghĩa là Đạo Toàn Cầu (Universal Religion). Nhờ
quyết định cực kỳ khôn ngoan của Constantine, đế quốc La Mã đã tạo
lập được những đoàn quân thập tự (Crusaders) vừa đông đảo vừa cuồng
tín để bảo vệ đế quốc La Mã và có thể xử dụng để chinh phục toàn cầu
dưới khẩu hiệu "IN HOC SIGNO VINCES" (Dưới dấu hiệu thánh giá ta sẽ
chiến thắng toàn cầu!) Tự Điển Bách Khoa Công Giáo (The Catholic
Encyclopedia vol.4, p.300) đã viết rõ như sau: "Constantine ưu đãi
Kitô Giáo hoàn toàn vì lý do chính trị và ông ta đã được xem như là
một bạo chúa được ơn soi sáng để xử dụng tôn giáo vào mục tiêu thực
hiện chính sách của mình". (Constantine favored Christianity merely
from political motives and he has been regarded as an enlightened
despot who made use of religion only to advance his policy). Như vậy
rõ ràng một điều là các vua La Mã đã ra sức diệt đạo Kitô nguyên
thủy để lập ra đạo Công Giáo. Đạo Công Giáo là
Đạo của đế quốc La Mã nên danh từ Công Giáo La Mã thật là chính xác
(Roman Catholic). Đạo Công Giáo đã được lập nên trên nấm mồ
của Kitô Giáo nguyên thủy và hoàn toàn đi ngược lại giáo lý đạo Kitô
lúc ban đầu. Kitô giáo nguyên thủy là Độc Thần
Giáo đúng nghĩa vì chỉ thờ Một Thiên Chúa. Công Giáo La Mã thực sự là Đa Thần Giáo vì thờ
cả Thiên Chúa Ba Ngôi, Đức Mẹ Maria và rất nhiều Thánh. Đây là một nhận định hết sức quan trọng về lịch
sử, nếu không chú ý đến những điều trình bày trên đây, ta sẽ dễ dàng
bị các sử gia Công Giáo lừa bịp.
Trong bài tựa cuốn Việt Nam Giáo Sử (trang
20), Linh Mục Phan Phát Huồn viết: "Máu – của các thánh tử đạo – đã
nhuộm đỏ đất nước Việt Nam yêu quí làm cho đất phì nhiêu tốt tươi.
Lấy võ lực đàn áp Công Giáo để tiêu diệt người Công Giáo thì chẳng
những Công Giáo không bị tiêu diệt mà còn sinh sản đông đúc
thêm...Các Hoàng đế La Mã muốn tiêu diệt đạo Công Giáo thì ngày nay
trên thủ đô Roma phất phới trước gió cách oai hùng quốc kỳ Vatican
tượng trưng cho quyền bính của giáo hội".
Sử gia Công Giáo Linh Mục Phan Phát Huồn đã
cao hứng ca ngợi những người cuồng tín tử đạo Việt Nam quá trớn mà
quên rằng các hoàng đế La Mã không thể nào tiêu diệt đạo Công Giáo!
Các hoàng đế La Mã chỉ tiêu diệt đạo Kitô nguyên
thủy để lập đạo Công Giáo mà thôi. Từ năm
313 trở đi, các hoàng đế La Mã chỉ lo củng cố chứ không bao giờ diệt
đạo Công Giáo cả. Xin đề nghị Linh Mục sử gia Phan Phát Huồn
hãy đọc kỹ lịch sử trước khi viết sách sử, dù là giáo sử thế giới
hay giáo sử Việt Nam!
Về việc "máu tử đạo làm cho đất phì nhiêu tốt
tươi" và làm cho "Công Giáo càng sinh sản đông đúc thêm" là do chính
sách diệt đạo của các vua chúa Việt Nam thiếu cương quyết và do thực
dân Pháp làm cho Công Giáo phát triển mạnh chứ chẳng phải máu tử đạo
có sức mạnh thiêng liêng nào. Nếu các vua chúa Việt Nam biết noi
gương như người Nhật đã làm vào năm 1638 thì liệu Công Giáo Việt Nam
có ngóc đầu lên nổi không? Nếu thực hiện được một chính sách diệt
đạo đúng đắn và khoa học thì máu tử đạo có "thiêng" đến mấy cũng
không cứu được sự tuyệt chủng nhục nhã của đạo Công Giáo!
Giáo Hội Công Giáo Việt
Nam là con đẻ của thực dân Pháp. Các cố đạo thừa sai thường
nói: "Nước Pháp là trưởng nữ của Hội thánh và là Mẹ của giáo hội
Việt Nam". (France, fille ainée de L’Eglise et
Mère du Vietnam).
Đám trí thức Công Giáo mất gốc làm bộ yêu
thương tổ quốc Việt Nam ra tờ báo lấy tên là "Đất Mẹ", nhưng ai cũng
hiểu đó chẳng phải là đất Mẹ Việt Nam mà là đất "mẹ Tây" và của "bà
ngoại Vatican".
Công Giáo La Mã không còn
là Kitô giáo đúng nghĩa vì nó đã trở thành đa thần giáo. Việc
thờ kính Đức Mẹ Maria và việc bịa đặt các tín điều về Đức Mẹ hoàn
toàn do Công Giáo La Mã sáng tạo sau khi các hoàng đế La Mã đã diệt
gọn đạo Kitô nguyên thủy và xóa bỏ hầu hết các dấu vết của đạo này
vào đầu thế kỷ thứ tư. Các tín điều về Đức Mẹ
đều không có nền tảng thánh kinh, trái lại tất cả đều trắng trợn đi
ngược lại với chính các sách kinh Tân Ước là nền tảng của Kitô Giáo.
Suốt 16 thế kỷ, Công Giáo La Mã thống trị Âu Châu đã đưa lên dàn hỏa
tới 10 triệu người, đa số là giới trí thức, vì đã dám chỉ trích các
tín điều vô lý ấy. Giáo Hoàng Innocent III (1198-1216) sáng lập ra
hệ thống tòa án tôn giáo (Inquisition) để
xử tội mọi người chống đạo, bị ghép vào tội rối đạo (heretic) đều bị
đưa lên dàn hỏa thiêu sống. Trong lịch sử giáo hội Công Giáo có rất
nhiều giáo hoàng giết người, nhưng Giáo Hoàng Innocent III vượt trên
tất cả các giáo hoàng sát nhân khác vì tòa án dị giáo hiện diện khắp
Âu Châu trên 500 năm và sau này được đoàn quân xâm lược Tây Ban Nha
đưa sang áp dụng tại các quốc gia Trung Nam Mỹ thuộc địa của họ.
Sách Babylon Mystery Religion của Hội Nghiên
Cứu Thánh Kinh Ralph Woodrow Evanlistic Association, P.O. Box 124
Riverside, CA 92502) trang 86 viết: "Một số giáo hoàng can tội sát
nhân nhưng Innocent III vượt trên mọi giáo hoàng tiền nhiệm về tội
giết người... Trong hơn 500 năm, các giáo hoàng dùng tòa
án tôn giáo để duy trì quyền lực chống
lại bất cứ ai tỏ ra không đồng ý với các giáo điều của giáo hội La
Mã" (A number of the popes had committed murders, but Innocent III
surpassed all of his predecessors in killing... For over five
hundred years, popes used the Inquisition to maintain power against
those who did not agree with the teachings of the Roman Church).
Cũng chính Innocent III xúi giục vua Pháp xâm
lược nước Anh vì tại nước này đang có mầm mống chống giáo hoàng.
Điều này do sử gia Loyd M. Graham viết trong tác phẩm Deceptions and
Myths of the Bible như sau: Innocent III even urged the king of
France to invade England because something had happened there that
threaten the divine right of popes". Graham viết tiếp: "Đế quốc Công
Giáo luôn luôn là mục tiêu của giáo hội Công Giáo, một đế quốc bao
gồm toàn Âu Châu và Bắc Phi. Sự kiện này khởi đầu từ Constantine"
(Ever and always a Catholic Empire was the objective of the Catholic
Church, an empire with all Europe and Northern Africa for its
domain. It began under Constantine - page 469). Nhân tiện cũng xin
nói thêm về một điều mỉa mai của lịch sử là giáo dân Ái Nhĩ Lan đã
mấy thế kỷ chống nước Anh và Tin Lành để khôi phục lãnh thổ và cũng
để giữ vững lòng trung thành với Tòa Thánh La Mã.
Họ đâu có ngờ kẻ bán đứng nước họ cho Anh quốc
chính là Giáo Hoàng Adrian IV. Ngày nay các sử gia đã tìm
được thư của Giáo Hoàng Adrian IV viết
cho vua Anh, Henry II như sau: "Ái Nhĩ Lan và các đảo thuộc về nó
nay đã trở lại đạo, như vậy đã thuộc về giáo hội La Mã. Nếu nhà vua
muốn vào Ái Nhĩ Lan thiết lập luật pháp
để buộc mọi người tuân phục và bắt mọi người đóng thuế cho Tòa Thánh
thì ta sẵn sàng chuyển nhượng nước đó cho nhà vua" (Ireland and all
those Islands which have received the faith belong to the Church of
Rome. If you wish to enter that island to cause law to be obeyed and
Saint Peter Pence to be paid by every house, it will be pleased to
us to assign it to you – page 470).
Lịch sử thế giới đã có đầy đủ mọi tài liệu
chứng tích thống kê tội ác giết người thật khủng khiếp của giáo hội
La Mã do Constantine lập ra từ thế kỷ thứ tư. Trong 16 thế kỷ, số
người bị giết dưới bàn tay của những người nhân danh Chúa như sau: 3
triệu tín đồ Hồi Giáo, 10 triệu tín đồ Công Giáo bị giết do tòa án
tôn giáo, 14 triệu tín đồ Kitô ngoài Công Giáo (Tin Lành, Chính
Thống, Anh Giáo v.v...) 30 triệu chết trong các cuộc chiến tranh
giữa các vua chúa Công Giáo Âu Châu tranh chấp quyền lợi với nhau
hoặc với giáo hoàng (page 463).
Điều đáng đau buồn là các cuộc tranh chấp đẫm
máu trên phần lớn là do sự bất đồng với nhau giữa các giáo phái Kitô
về các tín điều có liên quan đến Đức Mẹ Maria. Đức Mẹ là hiện thân
của tình mẫu tử đã bị giáo hội Công Giáo biến thành một nguyên nhân
của biết bao vụ thảm sát đẫm máu giữa những người anh em cùng thờ
một Chúa và cùng yêu một Mẹ. Thật không có gì đau xót và vô lý cho
bằng!
NGUỒN GỐC VỀ THẦN THOẠI ĐỨC MẸ
ĐỒNG TRINH
Một trong những điều dị biệt nhất giữa Công
Giáo và Tin Lành là vấn đề đồng trinh của Đức Mẹ. Sách Babylon
Mystery Religion dành ra 2 chương để nói về điều này p. 7-22), tôi
xin tóm lược như sau:
Việc tôn thờ ảnh tượng Mẹ
Bồng Con xuất phát từ Babylon cách đây 6000 năm. Dân Babylon đã có huyền thoại Chúa Cứu Thế
(Kitô/Messiah/Savior) từ thời đó. Chúa
Cứu Thế của họ là Tammuz và mẹ là nữ thần Semiramis. Cho đến
nay, các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều tượng Mẹ bồng con ở Babylon
(phía Iraq) cũng như tại Ai Cập. Hiện ở Ai Cập còn tồn tại nhiều đền
thờ cổ với tượng Mẹ bồng con. Đó là tượng thần
nhi đồng Horus ngồi trên đùi của mẹ là nữ thần Isis. Người Ai
Cập đã nhập cảng tục lệ này từ Babylon và họ sáng tác ra thần thoại
về tượng mẹ bồng con như sau: Bà Isis thụ thai
do phép của Thần Mặt Trời (Sun God) sinh ra một người con thần thánh
(a divine son) đặt tên là Horus. Lúc Horus còn là hài
nhi, bị thần Bão Tố Typhoon rượt bắt nên
bà Isis phải mang con chạy trốn và bị thất lạc con mình. Về sau bà
gặp lại đứa con mới biết chính con mình là Thần Mặt Trời!
Vào thế kỷ đầu Công Nguyên, các tu sĩ lập đạo
Kitô đã ăn cắp thần thoại Ai Cập này để phóng tác ra chuyện Bà Maria
thụ thai do phép Đức Chúa Thánh Thần sinh ra con trai của Thiên Chúa
(Son of God) được ít ngày thì bị vua Herod rượt đuổi nên phải chạy
trốn sang Ai Cập. Đến khi Jesus lên 12 tuổi thì bị lạc tại Đền
Thánh. Nhưng bà Maria vẫn tin tưởng con mình là Đức Chúa Trời và
đồng thời cũng là chồng của mình, còn ông Joseph chỉ là chồng hờ để
che mặt thế gian. Các tu sĩ lập đạo Kitô cũng như tu sĩ Ai Cập đều
là những kẻ bệnh hoạn mang mặc cảm loạn luân với mẹ như chuyệp
Odipus của Hy Lạp loạn luân với mẹ là Jocasta. Kinh Thánh Tân Ước
của Luca viết: "Thiên Thần nói với bà Maria là Chúa Thánh Thần sẽ
đến cùng Người và Thiên Chúa Tối Cao sẽ "phủ" người, cho nên vật
thánh thiện sẽ được sinh ra bởi Người được gọi là Thiên Chúa". (And
the Angel answered and said to her: The Holy Spirit shall come upon
thee and the power of the Highest shall overshadow thee, therefore
also that holy thing which shall be born of thee shall be called the
Son of God – Luke I:35).
Thiên Chúa Ba Ngôi nhưng thực ra là một ngôi,
Jesus cũng chính là Đức Chúa Thánh Thần. Nếu Đức Chúa Thánh Thần
"phủ" bà Maria thì cũng chính là Jesus đã "phủ" mẹ mình chẳng khác
gì chuyện thần thoại Ai Cập: Bà Isis được thần Mặt Trời "phủ" sinh
ra Horus và chính Horus là Thần Mặt Trời! Xin
đọc thêm Deceptions and Myths of The Bible, p. 377).
Những tín đồ Kitô Giáo
nguyên thủy không để ý đến chuyện loạn luân nói trên vì họ không tin
bà Maria đồng trinh.
Kinh thánh Tân Ước kể rõ
tên 4 em trai của Jesus là James, Joses, Simon và Judas (không phải
Judas Escariot) và 3 cô em gái nhưng không nêu tên (Matt 13:55-56).
Kinh Thánh cũng ghi rõ Jesus là con trưởng của bà Maria chứ không
phải con duy nhất (first born son – Matt 1:25). Kẻ duy nhất viết Tân
Ước đã xuyên tạc nữ tính của bà Maria thành "đồng trinh" là ông
Matthew [ Matthew là tên tác giả viết
cuốn Tân Ước, vì vậy người ta đặt tên cuốn kinh nầy là Matthew.]
Và y đã trích dẫn
kinh Cựu Ước nói tiên tri: "Chúa Cứu Thế sẽ được sinh ra bởi người
mẹ Đồng Trinh". Sự gian trá của Matthew đã bị
các học giả nghiên cứu thánh kinh vạch mặt. Các học giả đã
tìm khắp Thánh Kinh Cựu Ước không hề có một chữ "Đồng Trinh" nào cả
vì dân tộc Do Thái từ xưa đến nay không có ý niệm này. Họ chỉ phân
biệt người đàn bà có chồng (married) và chưa chồng (unwed) mà thôi.
Chỉ có một câu duy nhất của tiên tri Isaiah nói rằng: "Chúa Cứu Thế
sẽ được sinh ra bởi một người mẹ trẻ". Nguyên văn tiếng Hebrew là
ALMAH nghĩa là trẻ (young) chứ không phải là đồng trinh (virgin)!
Sau khi tiêu diệt đạo Kitô nguyên thủy, các tu
sĩ ở Vatican triệu tập công đồng Ephesus năm 431 để thiết lập giáo
lý về Đức Mẹ. Tại Ephesus có đền thờ nữ thần Diana của La Mã vốn
được mệnh danh là nữ thần Đồng Trinh (Goddess of Virginity). Tại
cuộc họp này, các lãnh đạo giáo hội chủ trương biến Đức Mẹ Maria
thành nữ thần Diana đồng trinh, mục đích là để
thu hút các tín đồ của Đa Thần Giáo La Mã.
(Babylon Mystery Religion – p.11).
Tín điều Đức Mẹ Chúa Trời
(Master Dei/Mother of God). Danh hiệu
"Đức Mẹ Chúa Trời" bắt nguồn từ Babylon. Dân Babylon tôn thờ
thần Nimrod và tin rằng chính Nimrod là đức Chúa Trời (Baal) và mẹ
của Nimrod được tuyên xưng là "mẹ Chúa Trời", tiếng Babylon là "Mea
Domina". Theo sử gia Ý Hislop thì danh hiệu này được chuyển sang
tiếng Ý là "Madonna". Các lãnh đạo giáo hội Công Giáo đồng hóa La Mã
không ngoài mục đích thu hút tín đồ đông
đảo vì họ đễ dàng cải đạo sang niềm tin tương tự.
Hơn nữa, mục tiêu của chúng là biến Jesus thành
Thiên Chúa cho nên một khi đọc kinh, tuyên xưng bà Maria là Mẹ Chúa
Trời, đương nhiên tín đồ sẽ tự kỷ ám thị để tin rằng Jesus là Thiên
Chúa.
Danh hiệu Đức Mẹ Mân Côi.
Tháng năm là tháng hoa hồng, còn được gọi là tháng Mân Côi dâng hoa
kính Đức Mẹ. Chuổi hạt dùng để đếm số lần đọc kinh Kính Mừng được
gọi là Chuỗi hạt Mân Côi. Đức Mẹ Mân Côi là Đức
Mẹ chuyên việc lắng nghe những lời cầu kinh được nhắc đi nhắc lại
nhiều lần. Việc lần hạt Mân Côi dựa trên
giáo lý Công Giáo cho rằng Đức Mẹ là trung gian (Mediator) giữa
Thiên Chúa và loài người. Thiên Chúa được mô tả là một vị
thần khó tính, dễ nỗi giận, rất hung dữ và hình phạt của Ngài rất
khủng khiếp. Các tu sĩ lập đạo cố tạo ra một
Thiên Chúa ghê gớm buộc mọi người phải sợ. Tín đồ đồng nghĩa với "kẻ biết kính sợ Chúa"
(God fearer). Tín đồ muốn được ơn cứu
chuộc và được bênh vực cần phải chạy đến cầu cứu các tu sĩ.
Bên cạnh Thiên Chúa hung dữ, các tu sĩ lập đạo
tạo ra một bà mẹ nhân từ biết lắng nghe và sẵn sàng làm trung gian
can thiệp để Thiên Chúa bớt giận và chấp thuận ban cho kẻ cầu nguyện
những ơn này ơn nọ. Các tu sĩ lãnh đạo Công Giáo
đã chọn Mẹ Maria làm đấng trung gian thần thánh đó. Linh Mục
Greeley, Giáo sư Đại học Dublin mới đây tuyên bố: "Bởi sống trong
một thế giới bị đòi hỏi phải sợ Chúa, nhân loại cần phải có ai đó
giúp đỡ chúng ta chống lại sự sợ hãi" (Because in a world asked to
be God-fearing, humankind requires someone to help us fight the
fear). Đức Mẹ trở thành một trung gian đắc lực của Vatican: Trong
thời chiến, Vatican biến Đức Mẹ thành vị tướng quân sự thúc quân ra
trận. Trong những đoàn thập tự quân thường có
những lá cờ về hình Đức Mẹ với dòng chữ "Hãy tiến lên, những người
lính của Chúa Kitô" (onward Christian soldiers!). Trong thời
bình, Đức Mẹ biến thành Nữ Vương Hòa Bình (Regina Pacis), các tu sĩ
vẫn hốt bạc bằng những thùng tiền đặt bên cạnh các tượng ảnh của
"Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp", bằng "Đền Thánh Khiết Tâm Mẹ" với những bản
liệt kê in sẵn chỉ cần đánh dấu (X) vào những ô vuông bên cạnh: Xin
được khỏi bệnh, xin được khỏe mạnh, xin được thành công trong việc
làm ăn, xin cho tìm thấy người yêu lý tưởng... gửi về "Đền Thánh"
bằng "Bussiness Reply Mail" [Thư hồi báo. Tem sẽ
được trả bởi ngươi nhận.] với ghi chú "Postage will be paid
by addressee", tất nhiên trong thư phải kèm theo chi phiếu vô hạn
định!
Tuy được tuyên xưng là Đấng Trung Gian giữa
Thiên Chúa và loài người, trong thực tế, Đức Mẹ đã trở thành một món
hàng hấp dẫn hốt bạc cho các dòng tu và cha cố. Giáo lý dạy Đức Mẹ
là Đấng Trung Gian hoàn toàn đi ngược với Thánh Kinh vì Thánh kinh
đã xác định chỉ có một mình Chúa Jesus là trung gian duy nhất giữa
Thiên Chúa và con người. (There is one mediator between God and men,
the man Christ Jesus – I Thimothy 2:5). Giáo Hội
Công Giáo khuyến khích giáo dân lần chuỗi Mân Côi và được giáo dân
ngoan ngoãn hưởng ứng. Người ta tính ra
có tới 46.296 lời kinh Kính Mừng được đọc trong một giây. Đến Thiên Chúa cũng không nghe kịp chứ đừng nói
tới Đức Mẹ. (Babylon Mystery Religion P.18). Việc lần hạt cầu kinh là một thói quen trong tôn
giáo của Ai Cập từ nhiều ngàn năm trước Công Nguyên. Người Do
Thái cũng bắt chước làm theo.
Trong thời gian giảng đạo tại Jerusalem, Chúa
Jesus đã công khai ngăn cấm việc đọc kinh nhắc lại bằng cách lần
hạt. Ngài nói: "Khi cầu nguyện, anh em đừng nhắc đi nhắc lại
vô ích như những người ngoại giáo vì họ tưởng rằng lời cầu nguyện
của họ sẽ được lắng nghe chỉ vì nói nhiều. (When ye pray, use not
vain repetitions as the heathen do: for they think that they shall
be heard do: for they think that they shall be heard for their much
speaking – Matthew 6:7). Những kẻ cầu nguyện
Chúa qua trung gian Đức Mẹ bằng những chuỗi hạt Mân Côi chỉ có thể
làm cho Chúa nổi giận. Chúa không thể chấp nhận các lời cầu
nguyện được vì chính họ đã làm những điều Chúa ngăn cấm!
Tín điều Mẹ Vô Nhiễm
Nguyên Tội. (The dogma of Immaculate
Conception). Tín điều này bắt đầu từ chuyện Vườn Địa Đàng
(Garden of Eden) do các tu sĩ lập đạo Do Thái viết Cựu Ước sao chép
từ chuyện thần thoại Babylon là chuyện "Gan Eden", tiếng Babylon có
nghĩa là "Khu Vườn Phương Đông".
Babylon là xứ sở văn minh
nhất ở vùng Cận Đông từ 5500 năm trước Công Nguyên. Đến thế
kỷ 4 trước Công Nguyên, do sự đổi dòng bất ngờ của con sông Euphrate
gây trận lụt lớn chưa từng thấy, chôn vùi toàn vùng Babylon xuống
dưới những lớp cát sa mạc.
Từ đó, loài người ít ai biết tới Babylon và kho
thần thoại của nó. Mãi đến giữa thế kỷ
19, các nhà khảo cổ mới tìm thấy Babylon (cách thủ đô Baghdad cuả
Iraq 80 dặm về phía Nam đến biên giới Kuweit ngày nay). Sau
hơn một thế kỷ đào xới, các nhà khảo cổ đã tìm thấy hàng trăm ngàn
tấm đất sét nung khô với chữ viết giống như những cái nêm cối
(cuneiform) và người ta đã đọc được những chuyện thần thoại giống
như những chuyện kể trong kinh Thánh Cựu Ước Do Thái với những tên
nhân vật hao hao giống nhau. Những chuyện thần thoại của Babylon đã
lan tràn ra khắp các vùng Cận Đông. Đến
thế kỷ 3 trước Công Nguyên, Alexander The Great (A-lịch-sơn Đại đế)
chiếm Cận Đông thì ngôn ngữ Hy Lạp trở thành ngôn ngữ chính của vùng
này. Các chuyện thần thoại đó được dịch sang Hy Lạp và truyền sang
Âu Châu. Có nhiều danh từ của Babylon trở thành căn ngữ trong nhiều
ngôn ngữ ở Âu Châu, nhưng vì Công Giáo La Mã tiêu diệt Kitô Giáo
nguyên thủy, tiêu diệt luôn văn hóa Hy Lạp và các dấu vết thật về
Chúa Jesus trong thế kỷ 4 nên sau này người ta đã không biết nguồn
gốc của các chuyện kể trong Thánh Kinh Cựu Ước cũng như Tân Ước. Các
công trình lớn lao của ngành khảo cổ đã là chiếc chìa khóa vạn năng
mở toang cánh cửa bí mật của quá khứ đen tối do Công Giáo La Mã đã
tạo ra để che dấu sự lừa dối. Trước đây, ai cũng tưởng nhân vật
Abraham là có thật trong lịch sử lập quốc Do Thái, nhưng nhờ khoa
khảo cổ, người ta mới biết Abraham chỉ là nhân vật thần thoại của
Babylon.
THẦN THOẠI JESUS CHÚA CỨU THẾ
Thần thoại Babylon kể rằng: Thần Đất Terah
sinh ra một "vị thần con" tại thành phố UR (có nghĩa là Ánh Sáng)
tên là Abarama (a god) và thần Abarama lấy em gái mình là Sarai làm
vợ.
Các tu sĩ lập đạo Do Thái vớ lấy chuyện này để
viết Cựu Ước Sáng Thế Ký (Genesis) phịa chuyện lập quốc Do Thái: Cha
của Abraham (hoặc Abrama), là Terah vốn sinh sống tại thành phố UR.
Sau này Abraham lớn lên đã lấy em gái mình là Sarah làm vợ và được
các tộc trưởng Do Thái tại Babylon bầu làm lãnh tụ dẫn dân Do Thái
rời Babylon về vùng đất hứa là Canaan [Nước Palestine bây giờ.] để
lập quốc. Chuyện thần Đất Terah truyền tới Âu Châu vào thế kỷ 3
trước Công Nguyên và trở thành căn ngữ của tiếng La Tinh "Terra" và
tiếng Pháp "Terre" nghĩa là Đất.
Thần thoại Kitô cũng xuất
phát từ Babylon từ nhiều ngàn năm trước khi có đạo Do Thái.
Ta có thể tìm thấy dấu vết của thần thoại này ngay trong sách Sáng
Thế Ký (Genesis) của Cựu Ước.
Sách Sáng Thế Ký kể rằng: " Những đoàn người
du mục đến định cư tại Shinar và lập nên thành phố Babylon (có nghĩa
là Cổng Trời: Gate of God). Babylon về sau trở
thành đế quốc (Gen 11:2). Tại đây có hai con sông lớn là
Euphrate và Tigris. Vùng đồng bằng của hai sông này rất phì nhiêu
nhưng có rất nhiều thú dữ ăn thịt người
(Exodus 23:29-30). Một người thợ săn rất hùng mạnh tên là Nimrod
(the mighty hunter before God – Gen 10:8-9) diệt thú dữ cứu dân. Về
sau lên làm vua cai trị rất anh minh.
Vương quốc của Người gồm có Erech, Accad và Calneh (Gen 10:10).
Khi Nimrod chết, dân Babylon vì quá yêu thương
đã khóc lóc thảm thiết. Bà vợ của Nimrod là Semeramis chặt
xác Nimrod thành những miếng nhỏ đem nướng chín gửi đi khắp nơi cho
dân chúng ăn cho bớt đau khổ (Judges
19:29, Sam 11:17). Bà Semeramis lúc đó đang mang
thai đã hứa với dân chúng rằng bà sẽ sinh một con trai đặt
tên là Tamuz. Con trai này sẽ là Chúa Cứu Thế và là Nimrod tái sinh.
Từ đó, Tamuz được dân chúng mong mỏi ra đời cứu
thế. Đó là ý niệm đầu tiên về Chúa Cứu
Thế (Savior) mà người Do Thái dịch ra là Messiah. Đến thế kỷ
3 trước Công Nguyên, do đế quốc Hy Lạp chiếm toàn Cận Đông và Âu
Châu nên thần thoại Babylon về Chúa Cứu Thế được dịch sang tiếng Hy
Lạp là CHRISTOS (Savior) người Hán phiên âm là Cơ Đốc. Babylon nằm
giữa hai dòng sông Euphrate và Tigris được người Hy Lạp đặt tên là
Meso-Potamia (Meso: Middle, Potamia: Rivers).
Người Hán dịch thành Lưỡng Hà Châu.
Từ huyền thoại Chúa Cứu Thế Nimrod và Talmuz,
người Babylon lập ra đạo thờ Thiên Chúa mà họ gọi là BAAL hoặc BAL
vì họ tin rằng Nimrod chính là Bal. Cũng tương tự như người Công
Giáo thờ Jesus vì tin rằng Jesus là Chúa Kitô và Kitô là Ngôi Hai
Thiên Chúa, cũng chính là Thiên Chúa Toàn Năng!
Đạo thờ Thiên Chúa BAL thường bắt con nít hoặc
các thiếu nữ làm vật hy sinh tế thần. Tượng thần rất lớn, cao cỡ 10
mét, hai bàn tay thần to bằng hai cái
chảo lớn được đun nóng từ cái lò trong tượng thần. Các tu sĩ tế thần
(được gọi là CAHNA) ném các nạn nhân trần truồng vào hai bàn
tay của thần. Trong lúc đó các tu sĩ nhảy
múa, đánh trống và phèng la inh ỏi để
khỏa lấp tiếng thét ghê hồn của các nạn nhân đang bị nướng sống và
tiếng khóc thảm thiết của thân nhân các nạn nhân. Từ đó phát sinh ra
danh từ CAHNA-BAL (Priest of Bal) có nghĩa là "Những kẻ ăn thịt đồng
loại" vì sau khi tế thần, các tu sĩ đạo thờ thần Bal chặt nhỏ xác
các nạn nhân lúc đó đã chín để chia nhau ăn.
Tục lệ dã man này của Babylon du nhập vào đạo
Công Giáo La Mã thành "Phép Mình Thánh Chúa" mà ta thấy trong các lễ
Mi-sa ở nhà thờ hiện nay. Giáo dân lên rước lễ tưởng tượng được
ăn thịt uống máu thật của Jesus. Họ đã
trở thành một lũ mọi ăn thịt người mà Tây Phương gọi là CANNIBAL
(Anh Ngữ) hoặc CANNIBALE (Pháp Ngữ) là danh từ có xuất xứ từ
CAHNA-BAL của Babylon mà ra.
Việt Nam là một dân tộc có tinh thần nhân bản,
ai cũng phải rùng mình ghê sợ khi nghe chuyện tế thần bằng người
sống như đạo thờ thần Bal của Babylon.
Chúng ta chưa từng nghe thấy những chuyện dã man tương tự trong lịch
sử dân tộc. Tổ tiên chúng ta chỉ cúng Trời bằng bông hoa, trái cây
hoặc bánh chưng bánh dầy được làm ra từ
các sản phẩm nông nghiệp.
Cách thờ cúng của dân tộc ta và cách thờ cúng
của Babylon (hoặc Công Giáo) phản ảnh hai nền văn hóa khác hẳn nhau.
Một bên là nền văn hóa nông nghiệp nhân bản, còn bên
kia là nền văn hóa du mục phi nhân bản.
Người Việt Nam từ bỏ đạo của ông bà tổ tiên đi
theo đạo Công Giáo là đã từ bỏ cái nguồn
gốc nhân bản của mình để trở thành kẻ mọi ăn thịt người (cannibal)
của nền văn hóa du mục phi nhân bản. Họ cứ tưởng đi
theo đạo của Tây Phương là đã trở thành
kẻ văn minh, rồi lên mặt khinh rẻ dân tộc và nền văn hóa nhân bản
của tổ tiên. Họ đâu có ngờ họ đã trở thành những kẻ mọi rợ
ăn thịt người, dù chỉ là tưởng tượng. Từ
tâm linh văn minh biến thành tâm linh bán khai mọi rợ mà vẫn không
biết mình đã biến thành bán khai mọi rợ từ lúc nào và do đâu!
Cũng từ cái thần thoại Chúa Cứu Thế Nimrod mới
phát sinh danh từ MESSIAH của Do Thái có nghĩa là Chúa Cứu Thế
(Savior) ngụ ý "Vua Nimrod mới hoặc "vua David mới" (Messiah means a
new King David). Người Do Thái định nghĩa
MESSIAH (tiếng hy Lạp là Christos – Anh Pháp Christ) phải là "đấng
giải thoát mọi kẻ bị áp bức" (to let the oppressed go free – Isaiah
58:6). Họ không tin Jesus là
Messiah/Christ vì Jesus chẳng cứu được ai.
Người Công Giáo đã lầm lẫn
đồng hóa Jesus với Kitô. Jesus là người thật, sinh khoảng năm
thứ 4 trước Công Nguyên, bị đóng đinh năm 29 lúc 33 tuổi, cao 1m82
và cân nặng 79 kí. Kitô là huyền thoại xuất phát
từ Babylon và được nhập cảng từ đạo Do Thái. Các tu sĩ lưu manh lập đạo Kitô đã viết Tân Ước
bằng cách dẫn chứng bậy bạ những điều nói trong Cựu Ước liên quan
đến Messiah để biến Jesus thành Kitô. Sự việc Jesus được Kitô
hóa (Jesus was Christed) đã được các nhà khoa học, các học giả và
nhất là các nhà khảo cổ vạch mặt. Kẻ viết Tân Ước cố ý gán ghép mọi
dẫn chứng giả tạo để người đọc nghĩ rằng Jesus thuộc dòng dõi vua
David vì người Do Thái định nghĩa Messiah (Kitô) là vua David Mới sẽ
được sinh ra để cứu dân tộc Do Thái. Về sau, các tu sĩ đạo Kitô đã
biến ý nghĩa Messiah lúc ban đầu chỉ có nghĩa là anh hùng dân tộc
(Savior of the People) trở thành Đấng Cứu Chuộc toàn thể loài người
(The Redeemer). Nền văn hóa du mục phi nhân bản
Babylon là linh hồn của đạo Công Giáo đã làm cho người Công Giáo
Việt Nam mất hết dân tộc tính. Nước rửa tội là một thứ a-xít
đã hủy diệt cái ánh hào quang dân tộc trên đầu của mọi người Công
Giáo Việt Nam! Vào năm 40, hai bà Trưng đã cứu
dân tộc ta chống quân xâm lược phương Bắc để dành độc lập cho tổ
quốc. Hai Bà Trưng là hai Chúa Cứu Thế
của dân tộc ta. Hai Bà Trưng xấp xỉ bằng tuổi Jesus, là những
vị anh hùng đích thực của dân tộc thì người Công Giáo Việt Nam lại
coi thường và khinh rẻ. Trái lại, cũng vào thời điểm của Jesus thì
dân tộc ta bị Tàu đô hộ, một phần vì Jesus thất học chẳng biết nước
Giao Chỉ nằm ở nơi nào trên thế giới, phần khác Jesus còn mãi đi
giảng đạo ở Jerusalem, đâu có giúp ích gì cho đất nước Việt Nam?
Và giả sử có muốn cứu Việt Nam cũng chẳng cứu
nỗi vì chính Jesus cũng không cứu nỗi bản thân và dân tộc Do Thái. Vậy hà cớ gì mà Công Giáo Việt Nam phải tôn thờ
Jesus làm Chúa Cứu Thế của mình? Sự ngu
dốt chứ không phải Đức tin đã là nguyên nhân chính yếu dẫn đến cái
chết của những người tử đạo Việt Nam. Vinh danh tử đạo Việt Nam là
vinh danh sự ngu dốt và tôn vinh tinh
thần phản dân tộc. Người Công Giáo Việt nam hãy tỉnh ngộ để sớm
rũ bỏ cái độc chất văn hóa Babylon trong
người ngõ hầu sớm biết từ bỏ kiếp sống con chiên (con lừa) để làm
người đứng thẳng (homo-erectus) trước khi trở lại làm người Việt
Nam. Tổ quốc Việt Nam có những người công dân đích thực Việt Nam anh
hùng bất khuất dám hiên ngang tiêu diệt mọi kẻ thù xâm lược, bảo tồn
lãnh thổ và danh dự làm người với truyền thống văn hóa cao không kém
gì ai trên trái đất này.
Không phải đến bây giờ người ta mới nhận ra
cái độc hại của nền văn hóa du mục Babylon, mà ngay trong sách Mặc
Khải (Tân Ước của Gioan) cũng đã nguyền rủa cái nền văn hóa này
"Huyền thoại, Babylon vĩ đại, là mẹ của các con điếm và các chuyện
kinh khủng trên trái đất này". (Mystery, Babylon the great, the
mother of harlots and abdominations of the earth – Rev. 17:1-6).
Sách Mặc Khải Tân Ước muốn ám chỉ "mẹ của các
con điếm" đó là ai; nếu không phải là cái giáo hội thối nát hư hỏng
được xây dựng trên những huyền thoại của Babylon?
HUYỀN THOẠI VƯỜN ĐỊA ĐÀNG
Lịch sử nhân loại đã nhận
ra cái hậu quả ghê gớm của huyền thoại "Gan Eden" kể chuyện Adam và
Eva phạm tội. Chỉ vì dám ăn trái
táo trị giá mấy chục cents (xu) mà cả loài người phải chết, đàn ông
phải vất vả cực khổ mới kiếm được miếng ăn và đàn bà phải mang nặng
đẻ đau mới sinh được đứa con của mình! Cái lỗi nhẹ đó của Adam đã
đưa đến hậu quả là Con một của Thiên Chúa phải mất công xuống thế
gian đầu thai làm người, phải chịu đánh đòn nhục nhã và chết trần
truồng trên thập giá chỉ để "Chuộc tội tổ tông"? Nhưng cái chết thảm
của Jesus cũng hóa thành vô ích vì tất cả cái hậu quả của tội tổ
tông trên số phận của loài người vẫn còn nguyên vẹn: Con người vẫn
phải chết, đàn ông vẫn phải vất vả kiếm ăn
và đàn bà vẫn mang nặng đẻ đau như lúc Jesus chưa "cứu chuộc".
Thật là xảo trá bịp bợm, Jesus chẳng cứu được
ai, vậy tại sao lại cứ tôn vinh y là "Chúa Cứu Thế"? Khoa học khảo cổ đã chứng minh chuyện Vườn Địa
Đàng chỉ là chuyện thần thoại bịa đặt, vậy làm gì có tội tổ tông
thật đâu mà phải cứu chuộc? Ngay cả trường hợp chuyện Vườn
Địa Đàng là thật chăng nữa thì hành vi
của Adam cũng không phải là tội. Triết gia Baruch Spinoza
(1632-1677) bậc thầy tư tưởng Tây Phương được xếp ngang hàng với Lão
Tử của Đông Phương đã viết: "Ý muốn hay quyết định của Adam chẳng
phải là xấu và cũng chẳng chống lại ý muốn của Chúa vì Chúa là
nguyên nhân của điều đó... Chúa muốn kẻ ác hối
hận tại sao Ngài cấm Adam ăn trái táo khi Ngài Phú cho ông ta ý muốn
trái ngược?" (Adam’s will or decision was
neither evil, properly speaking, contrary to God’s will, it
follows that God can be its cause... God wants the wicked to repent,
why did he forbid Adam to eat of the tree when he ordained the
opposite – The Enlighten Minds by Stephen, p.142-143).
Một phần lớn cái trách nhiệm về tội ác của
Kitô Giáo nói chung, của giáo hội Công
Giáo nói riêng, có thể qui vào cho St. Augustine. Y là cha đẻ ra
thuyết Thiên Chúa Ba Ngôi với tác phẩm "De Trinitate", Cha đẻ ra
thuyết "Tội Tổ Tông" và thuyết "Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội".
Y xác lập thuyết thần quyền cho giáo hội để buộc
mọi chính phủ thế quyền phải thần phục giáo hội bằng tác phẩm "De
Civitas Dei". Augustine sinh tại Algeria
năm 354 (chết năm 430, 76 tuổi). Y được coi là người sáng lập
đạo Kitô đứng hàng thứ hai sau Saint Paul (Phao lồ) và là tác giả
của toàn bộ hệ thống tư tưởng Tây Phương thời Trung Cổ. Năm 396, y
làm giám mục địa phận Hippo tại Algeria. [Trong suốt 6 thế kỷ đầu
Công Nguyên, toàn vùng Bắc Phi, Cận Đông và Âu Châu đều là các nước
theo Kitô Giáo. Sự xuất hiện và bành trướng mau chóng của Hồi Giáo
thời Trung Cổ đã biến toàn Bắc Phi, Cận Đông và Nam Âu Châu kéo tới
Ấn Độ trở thành các nước Hồi Giáo. Sự kiện này
đã chặn đứng âm mưu xâm lược toàn cầu bằng chiêu bài Công Giáo của
Đế quốc La Mã.]
Augustine say mê
nghiên cứu và viết sách suốt trong 34 năm. Công trình của Augustine
thật khá vĩ đại, chỉ tiếc cái vĩ đại đó
là ông ta đã xây dựng cả một tòa lâu đài đồ sộ trên nền tảng thần
thoại Vườn Địa Đàng của Babylon!
Augustine giải thích mọi đau khổ của loài
người đều do tội lỗi nguyên thủy của Adam-Eva, gọi là tội tổ tông
(the Origin Sin). Tội này di truyền cho con cháu muôn đời do sự giao
cấu của cha mẹ. Giao cấu là tội lỗi. (God
had condemned humanity to an eternal damnation simply because of
Adam’s sin. The inherited guilt was passed on to all his descendants
through the sexual act which was polluted by what is called
concupiscence). Dựa vào lý luận này, Augustine
viết thêm cuốn On Female Dress nhục mạ phụ nữ và tạo ra hệ thống nam
tu sĩ của giáo hội Công Giáo và việc phụ nữ bị từ chối phong chức
linh mục.
Augustin gọi mỗi phụ nữ là
một Eva, đồng lõa với ma quỉ, xúi giục đàn ông chống lại Thiên Chúa. Vì tội lỗi xấu xa của phụ nữ mà Con Thiên Chúa
phải chết. Đàn bà là kẻ đào ngũ
khỏi luật của Chúa. Đàn bà phá hoại đàn ông là hình ảnh của Thiên
Chúa... (You are each an Eve. You are the devil’s gateway. You are
the unsealer of that forbidden tree. You are the first deserter of
the divine law. You so carelessly destroyed man, God’s image. On
account of your desertion, even the Son of God had to die).
Tuy nhiên, chỉ có một phụ nữ duy nhất trên thế
gian không bị Augustine nguyền rủa là Đức Mẹ Maria. Augustine
lý luận: Đức Mẹ không giao cấu với Joseph. Đức
Mẹ sinh ra Chúa Jesus vẫn còn đồng trinh nên Mẹ là đấng Vô Nhiễm
Nguyên tội (The Immaculate Conception).
Những lý luận trên của Augustine thống trị
linh hồn Âu Châu suốt trong hơn 1000 năm! Mãi
đến giữa thế kỷ 16, bỗng nhiên xảy ra một cuộc bút chiến giữa hai
phe thần học Công Giáo. Phe cấp tiến cho rằng Chúa Jesus cũng
mắc tội tổ tông vì bà Maria sinh ra do sự giao cấu của cha mẹ, Jesus
chỉ được miễn 50% vì cha là Đức Chúa Tinh Thần. Cuộc bút chiến kéo
dài lai rai trong 30 năm và bị tòa án Dị Giáo đàn áp dữ dội nên
không thể bùng lên được. Biết bao sinh mạng đã phải lên dàn hỏa vì
cái chuyện lẩm cẩm này! Đó là cái gọi là "nền
văn minh Kitô Giáo" (The Christian civilization).
Đến giữa thế kỷ 19, khi nền dân chủ Tây Phương
đã khá lớn mạnh và uy quyền của Vatican đã bị giảm sút, cuộc bút
chiến về cái trinh của Đức Mẹ lại bùng lên. Giáo
Hoàng Piô IX dùng mọi biện pháp dập tắt cuộc bút chiến. Đến năm 1854, y công bố tín điều "Đức Mẹ Vô
Nhiễm Nguyên Tội". Để cho giáo dân thêm tin tưởng vào tín
điều này, giáo hoàng âm mưu với giáo hội Pháp phịa ra vụ Đức Mẹ hiện
ra ở hang núi hẻo lánh Massabielle thuộc tỉnh Lourdes (Tây Nam nước
Pháp). Đức Mẹ tiếp xúc với một cô gái quê tên Bernadette và Mẹ tự
xưng là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội (I am The Immaculate Conception).
Nhiều giáo dân tiến bộ không tin phép lạ ở
Lourdes (Lộ Đức) và đặt vấn đề về thẩm quyền tuyên bố tín điều của
giáo hoàng. Do đó, giáo hoàng Pio IX phải triệu tập Công Đồng
Vatican I vào năm 1869. Kết quả Công Đồng I chấp
thuận tín điều "Giáo Hoàng Bất Khả Ngộ" [Không thể sai lầm.]
(The dogma of Papal
Infallibility). Nhờ có tín điều này, năm 1950, Giáo Hoàng Pio
XII công bố thêm một điều nữa về Đức Mẹ. Đó là Tín điều "Đức Mẹ Hồn
Xác Lên Trời" còn gọi là "Đức Mẹ Mông Triệu (The Assumption).
Tổng giáo phận Sài Gòn sáng tác một bài kinh
để mừng kính Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (Nhựt khóa trang 499) nghe rất
cải lương như sau: "Thung thăng chân bước thang mây, tay chắp mặt
vui áo tỏa. Hớn hở gót nương cung nguyệt. Khí
thanh gió mát trời quang. Xuân Thu bà đã
quá sáu tuần về chầu Chúa bởi lòng kính mến. Môn đệ Chúa họp gần đủ mặt Ba Ngôi thảy yêu
đương, xưa đời giữ phận khiêm nhường xưng mình là tôi tớ Chúa. Nay rời khỏi thế gian nên vì cao trọng. Bà đáng chức Nữ Vương. Xưa, Ngôi Hai ngự trong
lòng Bà dư chín tháng ơn thiêng gồm đủ. Rày Chúa Cả thưởng
công Mẹ quyền cai trị chín trời, chức đặt
chủ bầu bốn biển. Sang quá đỗi sang. Nay xin Ơn Thánh hằng giúp
con, sau nguyện đặng lên trời với Mẹ.
Amen".
Để củng cố và nhắc nhở các tín đồ Công Giáo về
các tín điều mới này về Đức Mẹ cũng như tín điều "Giáo Hoàng không
thể sai lầm.", Vatican ra lệnh cho các giáo hội phải xây thêm trong
khuôn viên nhà thờ một hang đá Lộ Đức. Lệnh của Tòa Thánh ban ra chỉ
được vài nước Âu Châu như Pháp, Ý, Tây Ban Nha thi hành còn toàn Bắc
Mỹ đa số theo phe cấp tiến không chịu tuân lệnh. Do đó, ta thấy ở Mỹ
và Canada gần như không có nhà thờ nào xây hang đá Lộ Đức. Ở Việt
Nam thì ngược lại, nhà thờ nào cũng xây thêm hang đá Lộ Đức. Đó là
một bằng chứng cụ thể về tinh thần nô lệ của giáo hội Công Giáo Việt
Nam. Bất cứ một lệnh nào được ban ra từ Vatican cũng đều được các tu
sĩ Việt Nam tuân hành răm rắp!
Tuyệt đại đa số giáo dân
trình độ tâm linh quá thấp đâu ngờ khi họ xếp hàng đi xưng tội,
chính họ còn ít tội hơn kẻ ngồi ở phía sau tòa giải tội.
Hầu hết các tu sĩ là những
kẻ đại gian ác ngụy trang dưới những lớp áo đen, áo đỏ, áo trắng
đóng vai đạo đức giả để phỉnh gạt tín đồ. Bề ngoài, họ làm ra
vẻ thuận thảo với nhau, thật sự bên trong nội bộ, họ ganh tị tranh
đua nhau và sẵn sàng hạ thủ nhau để tranh quyền đoạt thế. Họ dùng đủ
thủ đoạn để bòn rút tiền bạc xương máu của giáo dân, để xây nhà thờ
nguy nga đồ sộ chỉ cốt để họ được vênh vang với
đời . [Một số tu sĩ của tôn giáo khác
cũng thế.]
Mái nhà thờ của họ càng lớn rộng bao nhiêu,
càng che khuất ánh sáng mặt trời chân lý bấy nhiêu. Các bức tường
của nhà thờ càng cao bao nhiêu càng ngăn cách giữa con người với
nhau bấy nhiêu. Giáo sĩ là những con ký sinh trùng vừa
ăn bám, vừa phá hoại xã hội.
Họ tội lỗi cùng mình lại nắm quyền tha tội cho
đám tín đồ vô tội hoặc ít tội hơn họ. Họ
thực sự là một bọn cướp nguy hiểm hơn bọn cướp thường vì những kẻ
cướp thường đều bị luật pháp trừng trị.
Trái lại, bọn cướp đội lốt giáo sĩ lại được giáo dân tôn kính, đi
lại tự do vênh váo và được xã hội tâng bốc là "những vị lãnh đạo
tinh thần". Tất cả các tệ nạn này đều
xuất phát từ sự thiếu hiểu biết của đại đa số giáo dân. Do
vậy, việc giáo dục khai sáng tâm linh là vô cùng cần thiết để cứu
nước và bảo vệ nền văn hóa nhân bản rất cao đẹp của dân tộc ta mà
tuyệt đối đa số giáo dân không hề biết tới.
Trong giáo lý Công Giáo có rất nhiều điều sơ
hở của những kẻ sáng lập đạo có thể khiến cho những người có óc tò
mò tìm hiểu dễ dàng phát giác ra sự lừa bịp dối trá của giáo hội.
Nhưng vì trình độ thấp kém của giáo dân, giáo
hội vẫn tìm cách che lấp các sơ hở đó của giáo lý và qua mặt giáo
dân dễ dàng. Khi tôi còn rất nhỏ, tôi
thường được cô tôi là một dì phước dạy giáo lý. Bài giáo lý đầu tiên trong đời tôi được cô tôi
hỏi đi hỏi lại rất nhiều lần. Bà biết tôi
đã thuộc như cháo nhưng bà vẫn hỏi để có cớ cho tôi quà. Mỗi
lần có dịp đến thăm gia đình tôi, bà thường ôm tôi vào lòng âu yếm
hỏi và tôi đáp như máy:
- Cháu con ai?
- Con Đức Chúa Giời.
- Cháu ai?
- Cháu ông Adong.
- Dòng dõi ai?
- Dòng dõi vua David.
Cả tới nửa thế kỷ sau, tôi
không hề thắc mắc về những điều đó, nhưng rồi sau đó, tôi mới thấy
cái vai trò quan trọng của vua David trong giáo lý Công Giáo. Đó là vì dân Do Thái quan niệm Chúa Cứu Thế
(Christ-Messiah) là "vua David mới" phải là người thuộc dòng dõi của
vua David, cũng tương tự như người Babylon quan niệm Chúa Cứu Thế
(Savior of People) phải là con của vua Nimrod. Do đó, kẻ lập
đạo Kitô phải viết sách làm sao để người đọc tin rằng Jesus là người
thuộc dòng dõi của David thì Jesus mới có thể là Messiah (Kitô) đã
được Cựu Ước Do Thái tiên tri. Tân Ước kể tiểu
sử Jesus được viết trong thế kỷ I đã chứng minh mối tình tội lỗi của
David với bà Bathseba đã sinh ra tổ tiên nhiều đời của Joseph là cha
của Jesus. Do đó, Jesus đã thuộc dòng dõi vua David bởi cha
mình là Joseph và đích thị là Chúa Kitô theo đúng Cựu Ước. Đến thế
kỷ 3 và 4, lý thuyết về Thiên Chúa Ba Ngôi mới thành hình. Bọn lập
đạo Công Giáo (Hoàng đế Constantine, Irenacuss, giám mục địa phận
Lyon ở Pháp và Augustine là tác giả Kinh Tin Kính) chủ trương biến
Joseph thành cha nuôi và Đức Mẹ phải là đồng trinh, cha của Jesus
phải là đức Chúa Thánh Thần. Nhưng họ đã quên khuấy một điều là Tân
Ước và Cựu Ước không có một điều nào nói về Đức Mẹ Maria thuộc dòng
dõi của vua David. Thành ra, nếu Jesus là con của Đức Chúa Thánh
Thần và bà Maria đồng trinh thì Jesus không thể là Kitô vì không
thuộc dòng dõi vua David! Ngược lại, nếu chấp nhận Jesus thuộc dòng
dõi vua David do cha mình là Joseph thì Đức Mẹ không còn đồng trinh!
Để gỡ thế bí này, Vatican đã phịa ra những bài
kinh cầu Đức Bà, kinh cầu Ông Thánh Gioakim và kinh cầu bà thánh
Anna (là cha mẹ của bà Maria) để che lấp sơ hở nói trên của kẻ lập
đạo Công Giáo.
- Kinh cầu Đức Bà có câu "Đức Bà là lâu đài
David".
- Kinh cầu Ông Thánh Gioakim (Toàn niên Kinh
Nguyện Bùi Chu do cơ sở Dân Chúa xuất bản. P.O
Box 1419 Gretna LA 70053. Đại diện là LM Việt Châu – trang
1 |