Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm

Charlie Nguyễn

Phần I : Ngày Tận Thế của Giáo Hội Satan


1. DÒNG TU ĐỨC MẸ ĐỒNG CÔNG

Dòng tu Công Giáo đầu tiên do người Việt Nam sáng lập là dòng tu mang danh hiệu của Đức Mẹ Đồng-Công Cứu Chuộc (The Co-Redemptrix) gọi tắt là Dòng Đồng Công. Ngày nay dòng tu này đã phát triển thành một cơ sở kinh doanh lớn chuyên khai thác lòng sùng kính của giáo dân đối với Đức Mẹ Maria. Trụ sở chính đặt tại Canthage, Missouri, Hoa Kỳ.

Vào cuối thập niên 1940, Linh Mục Trần Đình Thủ sáng lập dòng Đồng Công đã đặt cơ sở đầu tiên tại nhà xứ Liên Thủy Bùi Chu. Khu vực nhà thờ Liên Thủy kế cận khu vực của Tòa Giám Mục Bùi Chu, chỉ cách nhau một cái lạch nhỏ và một dậu tre.

Tháng 7.1950, một đám học sinh tuổi từ 10 đến 13 tuổi, trong đó có tôi và cô em gái, đã được thầy giáo dẫn đến thăm nhà dòng tân lập này và được Cha Thủ tiếp đãi ân cần. Điều gây ấn tượng sâu sắc nhất là chúng tôi được phép gọi Cha Thủ bằng "anh cả". Chuyến viếng thăm này là một kỷ niệm khó quên vì từ xưa đến nay, bổn đạo đâu có dám gọi các linh mục bằng "anh". Thường thường mỗi lần gặp các cha, bổn đạo có thói quen khoanh tay cúi đầu và thưa: "Con xin phép lạy cha ạ!".

Có lẽ vì thấy sinh hoạt của nhà dòng tân lập này có nhiều điều mới lạ hấp dẫn nên hai người bạn của tôi đã xin Cha Thủ cho ở lại để bắt đầu cuộc đời tu hành tại đây. Vì được Cha chấp nhận nên hai bạn tôi đi tu theo dòng này từ đó.

Bẵng đi một thời gian khá dài tới 15 năm sau, tức vào khoảng cuối năm 1965, tôi đi cùng mẹ tôi đến thăm dòng Đồng Công tại Thủ Đức. Bố mẹ tôi vốn là những con chiên ngoan đạo, lúc nào cũng tin tưởng vào sự giáo dục của các trường Công Giáo nên đã gửi hai em trai tôi là học sinh trung học vào nội trú tại ký túc xá của nhà dòng. Trong dịp này tôi gặp lại hai người bạn cũ lúc đó đều đã trở thành linh mục. Hai bạn tôi, súng sính trong chiếc áo chùng đen với hàng cúc đen chạy dài từ cổ xuống chân và với cổ tràng hạt lớn trước ngực, chạy ra phòng khách tiếp tôi trong tình thân mật anh em. Một trong hai bạn tôi tên là Chương với nét mặt thành khẩn cảm động nói: "Em phải cám ơn anh vì chính nhờ ảnh hưởng của anh, em mới có lòng sùng kính Đức Mẹ và vào tu dòng này đấy!". Tôi ngạc nhiên về điều đó và nói đùa: "Dù đi tu hay ở ngoài đời, chúng ta vẫn sùng kính Đức Mẹ và sống thánh thiện như nhau. Anh đi tu làm cha, còn tôi lấy vợ cũng làm cha như ai, có sao đâu!" Chúng tôi cười đùa vui vẻ. Sau đó, cuộc đời lính của tôi đã đưa tôi đi xa. Một phần bận công vụ, phần khác bận chuyện gia đình, tiếp theo là 10 năm tù cải tạo... chúng tôi đến nay vẫn chưa có dịp gặp lại nhau. Tôi đã nhiều lần tìm cách liên lạc với Dòng Đồng Công ở Missouri, nhưng có lẽ các bạn tôi đã đổi tên hoặc còn ở lại Việt Nam nên tôi vẫn chưa liên lạc được.

Năm 1997, nhân dịp đọc tờ Newsweek số đặc biệt ra ngày 16.8.1997 nói về Tín Điều Đức Mẹ Đồng Công (The dogma of Co-Redemptrix) tôi có ý định viết một bài về dòng tu này. Nhưng rồi lần lữa chưa có cảm hứng để viết.

Tới Mùa Chay năm nay, báo chí Mỹ rầm rộ loan tin về các cuộc vận động của các ứng viên tổng thống và cuộc hành hương dài ngày tại vùng Thánh Địa của Giáo Hoàng Jean Paul II. Tôi chú ý đến việc giáo hoàng thay mặt giáo hội chọn ngày chủ nhật đầu mùa chay 12.3.2000 làm ngày xin tha thứ tập thể cho những tội ác của giáo hội trong hơn một ngàn năm qua. Bên cạnh đó, tôi chú ý đến hai mẩu tin ngắn. Mẩu tin thứ nhất cho biết: vào ngày 2.2.2000, trong cuộc vận động bầu cử tại trường Đại Học South Carolina, ứng cử viên tổng thống George W. Bush đã chỉ trích giáo hoàng và gọi giáo hội Công Giáo là "giáo hội Satan".

Mẫu tin thứ hai đăng trên Washington Post ngày 26.3.2000 cho biết: trong cuộc vận động tại Los Angeles, ứng cử viên tổng thống Mc. Cain đã gọi hai lãnh tụ Tin Lành Pat Robertson và Jerry Falwell là "evil" (quỉ). Lời tuyên bố của hai ứng cử viên tổng thống này làm tôi liên tưởng đến thi sĩ Anh gốc Ấn Độ Salmon Rushdie đã gọi Kinh Thánh Hồi Giáo là "những vần thơ quỉ" (Satanic verses). Vì cái tội xúc phạm tôn giáo này, giáo chủ kiêm tổng thống của Iran là Khomeni đã treo giải thưởng cái đầu của Rushdie với giá 1 triệu đô la vào năm 1988.

Ngày nay, các lời xúc phạm tôn giáo hầu như đã trở nên chuyện thường vì lương tâm nhân loại đã thức tỉnh và lương tri con người đã nhận ra bộ mặt thật xấu xa ác độc của các tôn giáo, đặc biệt là Công Giáo La Mã và Hồi Giáo. Có nhiều dấu hiệu cho thấy cả hai cái đạo thờ Chúa này không thể tránh khỏi một cuộc tàn sát thật thảm khốc trong thế kỷ 21, trước khi mở đầu cho một trật tự thế giới mới. Nếu sự việc này có xảy ra nay mai thì những người Công Giáo chính là những người không ngạc nhiên chút nào vì họ đã được nghe những lời cảnh cáo nghiêm khắc của Đức Mẹ Fatima từ năm 1917.

Vốn là người có lòng sùng kính Đức Mẹ, rất sốt sắng và rất chú trọng các huấn thị của Đức Mẹ nên cha tôi đã viết một cuốn sách nhỏ tựa đề "Sự Mới Lạ Đời Nay" xuất bản tại Nam Định vào năm 1952 kể chuyện Fatima. Ngày nay, đọc lại các sách cũ về phép lạ Fatima, tôi cảm thấy những lời Đức Mẹ phán cách đây trên 80 năm không mất đi tính cách thời sự và vẫn văng vẳng bên tai: "Vì lòng phản trắc, những người lãnh đạo giáo hội đã đóng đinh Con Của Mẹ thêm nhiều lần nữa trên thập giá. Tội lỗi của họ đang kêu thấu trời đòi hỏi sự trả thù, và kìa, sự trả thù đang chờ sẵn trước cửa nhà họ. Không còn ai mủi lòng van nài lòng thương xót và ơn tha thứ cho họ. Không còn ai muốn tỏ ra lòng đại lượng thêm nữa. Cũng không còn ai muốn cầu xin Chúa Hằng Sống phù hộ cho giáo hội nữa. Chúa sẽ ra tay đánh phạt thật tàn khốc chưa từng thấy. Chúa sẽ trút cơn thịnh nộ của Người lên đầu họ và họ không thể tránh khỏi những tai ương sẽ dồn dập đổ tới. Các nhà thờ sẽ bị đóng cửa và bị xử dụng vào các việc ô uế. Các linh mục, các tu sĩ sẽ bị săn đuổi và bị chính những giáo dân của mình đập chết như người ta đập chết những con chó dại trên đường phố..."

Mặc dầu tôi không còn niềm tin Công Giáo nhưng tôi vẫn yêu thương Đức Mẹ như xưa. Tôi tin lời Đức Mẹ phán sẽ phải trở thành sự thật trong một ngày không xa. Tôi khẩn cầu Đức Mẹ cho sự việc đó xảy đến càng sớm càng tốt để cứu loài người nói chung và cứu dân tộc Việt Nam nói riêng. Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ hãy cho thành lập một đạo quân chuyên săn lùng và trừng trị bọn tu sĩ Công Giáo lưu manh. Con xin tình nguyện đi hàng đầu, làm việc full time và hoàn toàn free (miễn phí). Lạy Mẹ Maria, xin mẹ hãy nhớ đến mấy chục năm tuổi trẻ của con đã dâng hiến cho tình yêu Mẹ và xin Mẹ hãy chấp nhận lời con cầu nguyện: Ave Maria, gratia plena... Salve Regina, Mater Misericodiae...

Mẹ ơi, Mẹ vẫn muôn đời là một khuôn mặt nữ nổi bật nhất trong sinh hoạt văn hóa của loài người chúng con. Mẹ đã từng là nguồn cảm hứng dạt dào của biết bao thi sĩ lừng danh: Francois Villon, Dante, Gerard Hopkins, Eliot, Hàn Mặc Tử... Mẹ là hồn nhạc bất hủ của Franz Schubert, Hải Linh... Hình ảnh của người mẹ trẻ 17 tuổi ôm đứa con huyền thoại cứu thế là hình ảnh được khắc họa nhiều nhất trong lịch sử nhân loại. Với tài hoa kiệt xuất của Michel Angleo, Mẹ vừa là nữ thần của Sự Sống Madona và Mẹ cũng là nữ thần của sự chết La Pieta. Xin Mẹ hãy là Madona của những người ngay lành vô tội và xin mẹ hãy là Pieta của những kẻ gian manh.

Những kẻ gian manh độc ác nhất chính là những kẻ mặc áo thầy dòng đội lốt thánh thiện. Những kẻ lớn tiếng ca tụng Mẹ là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc, lớn tiếng hô hào xây dựng đền thờ Khiết Tâm Mẹ không phải là những kẻ yêu Mẹ thật đâu. Những kẻ tổ chức lễ hội La Vang với hình ảnh Mẹ mặc áo dài và đội khăn hoàng hậu Việt Nam chỉ nhằm mục đích đánh lừa đồng bào chúng con để chạy tội bán nước và che đậy lòng tham lam ích kỷ vô độ của chúng. Mẹ ơi, con biết cách đây 20 thế kỷ, Mẹ chỉ là một phụ nữ nông dân chất phát ở xứ nghèo Galilee, chẳng khác gì bà mẹ nông dân chất phát đã sinh ra con ở miền quê Bắc Việt.

Con yêu Mẹ cũng như yêu Mẹ của con vì Mẹ phải mang nặng đẻ đau mới sinh ra được mấy đứa con mình. Con yêu Mẹ vì Mẹ là Mẹ thật chứ không phải vì Mẹ là Mẹ Đồng Trinh! Mẹ ơi, những mỹ từ giả tạo của bọn lưu manh đã gán cho mẹ, nào là Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đức Mẹ Hồn Xác lên Trời, Đức Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc... Tất cả đều là những chuyện láo khoét và hoàn toàn vô nghĩa đối với con.

Quê hương Galilee ở miền Bắc Do Thái của Mẹ đã bị đế quốc La Mã dày xéo cũng như đất nước của con đã bị thực dân Pháp dày xéo có khác gì nhau! Nước Pháp thường tự xưng là trưởng nữ của Giáo Hội Công Giáo La Mã và là mẹ của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, gọi tắt là Giáo Hội Việt Gian. Con yêu Mẹ vì Mẹ là một người Mẹ bình thường sống bên cạnh ông chồng Joseph của mẹ làm thợ mộc cần cù nhẫn nại như những người lao động Việt Nam chúng con. Con trai của Mẹ là một người yêu nước đã dám chống lại bọn tu sĩ Do Thái và đế quốc La Mã. Bọn chúng đều cấu kết với nhau giết hại con của Mẹ. Con trai Mẹ không hề biết mình là giáo chủ lập đạo Kitô và đã không chết với danh nghĩa là giáo chủ của cái đạo quái gở này. Con trai của Mẹ là một thanh niên yêu nước đã chết với danh nghĩa là một công dân Do Thái chống đế quốc. Bọn đế quốc căm thù con của Mẹ, chúng đã gán cho Do Thái cái tội giết Chúa của chúng để có cớ tiêu diệt dân tộc của Mẹ trong hơn một ngàn năm qua. Vatican là hậu thân của đế quốc La Mã. Bản chất của chúng vẫn là đế quốc, nhưng chúng quỉ quyệt núp dưới chiêu bài tôn giáo thờ Con của Mẹ và thờ chính Mẹ để lừa gạt những người khờ dại. Chính nhờ cái thủ đoạn vô cùng xảo trá này nên chúng đã gieo rắc tội ác khủng khiếp cho loài người chúng con trong gần 2000 năm qua. Chúng đã là nguyên nhân gây ra cái chết của 200 triệu người vô tội kể từ ngày Constantine đổi tên Kitô Giáo thành "Katholikos", tiếng Hy lạp có nghĩa là toàn cầu (universal) vào năm 340, tiếng Việt gọi là "Công Giáo La Mã".

Bây giờ Vatican lên tiếng ăn năn hối hận và xin cả thế giới tha thứ cái gánh nặng của 16 thế kỷ gây tội ác để chúng dễ dàng đổ cái gánh nặng lịch sử ấy xuống biển. Chúng chỉ giả vờ tự đánh đòn mình để tránh những đòn thù khủng khiếp của nhân loại sắp đổ lên đầu chúng.

Tu sĩ Công Giáo ngoan cố nhất thế giới chắc chắn phải là tu sĩ Công Giáo Việt Nam. Đầu não của họ là Hội Đồng Giám Mục, văn phòng tại số 40 Phố Nhà Chung Hà nội, từ trước đến nay, vẫn cứ hoàn toàn ngậm tăm im re, không hề lên tiếng xin lỗi về tội nhục mạ Phật Giáo là "đang ở nơi tối tăm thờ lạy bụt thần ma quỉ" (Kinh Nhựt Khóa của Tổng Giáo Phận Sài Gòn – trang 130), tội nhục mạ các nước phương Đông là "dân mọi rợ" (kinh cầu ông Thánh Phan xi cô Xavie. Nhựt khóa tr. 782), Kinh Bổn đầu độc tuổi trẻ của các tín đồ với định kiến võ đoán: "Kẻ dữ là kẻ chẳng có đạo" (Toàn Niên Kinh Nguyện Bùi Chu – tr. 325). Nếu tuyệt đại đa số dân Việt đều là kẻ dữ như Kinh Bổn dạy thì 8% dân Việt là Công Giáo làm sao sống sót được đến ngày nay? Làm sao 8% dân số ấy lại chiếm được 2/3 số ghế các dân biểu nghị sĩ Quốc Hội thời đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa trước 1975? Trải qua 25 năm dưới chế độ Cộng Sản, tại sao các thiểu số Công Giáo ấy vẫn phát triển như thường? Chúng cứ làm như cái giáo hội vọng ngoại cao độ của chúng chẳng có tội lỗi gì với dân tộc Việt Nam! Chúng có quyền gì mà dám tự ý dâng nước Việt Nam và dâng toàn cõi Đông Dương, nói là "dâng cho Đức Nữ Đồng Trinh Maria", nhưng thực chất là dâng cho Vatican (sách Kinh Nhựt Khóa 170-172). Hội đồng Giám Mục Việt Nam phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung phản văn hóa, phản dân tộc của các sách kinh nguyện (prayer-books). Các sách kinh này sặc mùi văn hóa du mục Babylon, biến tập thể giáo dân thành một bầy cừu non ngu dại để cho ngoại bang tha hồ thao túng. Chẳng hạn như "Xin Chúa ràn lùa tôi một đoàn cùng các con chiên Chúa" (Nhựt Khóa 170-172), "Đức Chúa Trời hằng gìn giữ Đức Giáo Hoàng cho nên chẳng có lẽ nào sai lầm được" (Toàn Niên Kinh Nguyện Bùi Chu tr. 126). Các sách kinh nguyện là công cụ chiến tranh tâm lý vô cùng xảo quyệt của Vatican nhằm đầu độc tinh thần giáo dân để biến tập thể giáo dân thành một lực lượng chính trị nằm vùng phá hoại ngay trong lòng dân tộc Việt Nam. Các sách kinh nguyện biến tim óc giáo dân thành những tim óc bán khai để loại lưu manh quốc tế ở Vatican tha hồ thao túng theo ý chúng qua công cụ nằm vùng của chúng tại Việt Nam gọi là Hội Đồng Giám Mục.

Tại Hải ngoại, tập thể giáo dân càng giàu bao nhiêu thì lực lượng chính trị Công Giáo sẽ càng lớn mạnh bấy nhiêu. Mọi người Việt Nam yêu nước, tại hải ngoại cũng như tại quốc nội, cần phải lưu tâm đến sức phá hoại của các sách kinh nguyện này vì thảm họa của dân tộc nằm sẵn trong đó. Tập thể giáo dân vốn quen thói lười biếng suy xét, chỉ biết nhắm mắt vâng lời các tu sĩ chủ chăn. Kẻ lưu manh chính trị chỉ cần bỏ ra chút tiền của mua chuộc, là cha cố hám lợi hám quyền sẽ trổ tài thuyết giảng ở nhà thờ ủng hộ chúng. Chính vì vậy mà Công Giáo Miền Nam Việt Nam trước đây chỉ có 8% mà chiếm được 2/3 số ghế quốc hội! Vận mạng của quốc gia dân tộc không thể trao phó cho trò chơi dân chủ giả tạo vì thực chất là trao cho bọn chính trị lưu manh tiếm quyền đoạt chức bằng cách bợ đỡ cha cố quen thói lộng hành dưới thời Pháp thuộc và trong thời của các tổng thống Công Giáo. Xin mọi người hãy ôn lại và học cho thuộc bài học lịch sử của dân tộc, nếu không tai họa lịch sử sẽ tái diễn.

Lạy Mẹ Maria, xin mẹ hãy soi sáng cho các con cái của Mẹ được nhìn thấy bộ mặt thật của bọn tu sĩ vì bọn chúng là những kẻ phản bội giáo dân, chống lại Thiên Chúa và chống lại cả Mẹ.

Viết tới đây, tôi có cảm tưởng như mình không viết mà là đang cầu nguyện cùng Đức Mẹ. Quả thật tôi đã bỏ đạo nhưng tôi đã không bỏ Đức Mẹ. Những kỷ niệm về Mẹ vẫn in sâu trong lòng tôi. Những bài thánh ca về Mẹ vẫn luôn luôn có sự lôi cuốn mãnh liệt mỗi khi tôi bất chợt nghe ở đâu đó vang lên. Hoămỗi khi gặp chuyện buồn tôi vẫn thường tìm đến nguồn an ủi ở nơi Mẹ bằng cách hát thầm trong lòng những bài thánh ca vinh danh Mẹ: "Lạy Mẹ xin an ủi chúng con luôn luôn. Mẹ từ bi xin phá những nỗi u buồn..." "Trên con đường về quê mà vắng bóng Mẹ, con biết cậy vào ai, biết trông nhờ ai..." hoặc "lạy Mẹ là Ngôi Sao Sáng, soi lối cho con lúc vượt biển thế gian". Những bài thánh ca đó vẫn là những nguồn suối mát của linh hồn tôi. Tôi yêu Mẹ Maria như yêu người mẹ quê chất phát của thân xác tôi. Tôi cảm thấy dường như cả hai người Mẹ là một và đều ở cùng một chỗ trong trái tim mình.

Mẹ Maria ơi, con vẫn yêu Mẹ như ngày nào. Con chưa bao giờ bỏ Mẹ mà chỉ từ bỏ cái giáo hội hư nát phản bội Mẹ mà thôi. Mẹ ơi, chỉ có Mẹ hiểu thấu lòng con. Con chỉ cần Mẹ hiểu con và thương con thôi, con chẳng cần ai khác hiểu con. Càng yêu mẹ bao nhiêu, con càng thù bọn phản Mẹ bấy nhiêu. Tôi lục tìm chồng sách cũ để đọc lại những lời Mẹ đã phán dạy cùng 3 em nhỏ chăn cừu ở Fatima năm 1917. Tôi gặp những dòng chữ này: "Khốn cho những người lãnh đạo giáo hội vì họ chỉ còn biết vơ vét của cải và bảo vệ quyền lợi vật chất của riêng mình. Họ chỉ biết cai trị một cách láo xược kiêu ngạo. Đã đến lúc giáo hội bị bách hại nặng nề. Đó là thời kỳ của bóng tối che phủ toàn thể giáo hội Công Giáo trên khắp thế giới. Hỡi những người dâng mình cho Chúa hãy biết run sợ vì trong thâm tâm các người chỉ biết tôn thờ chính mình. Chúa đã trao các người vào tay quân thù vì các thánh đường đã trở thành nơi ô uế. Nhà thờ cũng như nhà dòng không còn là nhà Chúa nữa vì đã trở thành những tiệm buôn bán trá hình từ lâu rồi..."

Ôi, lạy mẹ Maria, xin Mẹ hãy hiện ra nơi tâm hồn của những tu sĩ con buôn trá hình để thức tỉnh họ. Đa số giáo dân đã biết họ là ai còn chính họ cứ tưởng giáo dân vẫn ngu khờ chẳng biết gì về họ. Kinh Bổn dạy rằng: "Kẻ dữ là kẻ chẳng có đạo". Không phải vậy, dân tộc Việt Nam có tới 92% là ngoại đạo và tôi thấy họ quá hiền, chẳng dữ chút nào. Kẻ dữ hơn ai hết chính là những người Công Giáo tỉnh ngộ. Một khi họ nỗi giận vì hết chịu đựng nổi, họ chỉ muốn, phá sạch, đốt sạch cái giáo hội đã phỉnh gạt họ.

Cách đây ít lâu, tôi tình cờ đọc tạp chí National Geographic Vol. 182 No. 5 ra ngày 18.11.1992 nói về "Portugal’s sea road to the East" (trang 56-93) thuật chuyện diệt đạo Công Giáo ở Nhật năm 1638: Vị tướng Nhật tên là Iemitsu mang đại quân đến dẹp tan cuộc nổi loạn của dân Công Giáo tại Nagasaki. Ông đã ra lệnh đóng đinh tất cả các giáo sĩ thừa sai và thẳng tay giết sạch 37.000 giáo dân một lúc. Toàn bộ quân xâm lược Bồ Đào Nha bị đánh bật ra khỏi Nagasaki. Từ đó, đạo Công Giáo hoàn toàn bị tiêu diệt trên nước Nhật trong hơn hai thế kỷ. Do biến cố này, nước Nhật đã bảo toàn độc lập quốc gia và giữ vững tinh thần dân tộc với truyền thống Thần Đạo và Hiệp Sĩ Đạo. Biến cố này đã là một yếu tố quan trọng đưa nước Nhật lên địa vị cường quốc ngày nay.

Đọc bài báo trên, tôi vui sướng phát run lên và hướng về nước Nhật với niềm ngưỡng mộ vô hạn. Nghĩ về lịch sử Việt Nam, tôi ngao ngán oán trách các triều đại nhà Nguyễn đã đánh mất cơ hội lịch sử vì đã không thực hiện được công cuộc tiêu diệt tà đạo đến nơi đến chốn để phải chịu cái hậu quả tàn khốc cho dân tộc trong hơn thế kỷ qua. Máu tử đạo giống như bông cỏ dại, muốn diệt phải diệt có phương pháp và diệt trọn, diệt nửa vời thì chẳng khác gì như quạt gió cho bông cỏ dại lan rộng ra thêm. Đó là sự khác biệt giữa hai cách diệt đạo của ta và của Nhật.

Tôi tưởng tượng về một giấc mơ. Giấc mơ đẹp nhất trong đời chắc chắn phải là giấc mơ mà trong đó và thời đó tôi biến thành Iemitsu. Tôi sẽ bắt hết toàn bộ Hội Đồng Giám mục, toàn bộ tu sĩ dòng Đồng Công và tu sĩ lưu manh. Tôi sẽ tịch thu nhà thờ Phát Diệm và nhà thờ Huyện Sĩ để biến chúng thành viện bảo tàng triển lãm tội ác của cả cái giáo hội Công Giáo đã chống nhân loại trong hơn ngàn năm qua.

Nhưng đó chỉ là ước mơ thôi. Tôi chẳng cần phải là Iemitsu Nhật Bản. Nhân loại đã có sẵn những kế hoạch tinh vi và cao siêu để tiêu diệt mọi thứ tà đạo chống lại con người. Con mắt của Thượng Đế đã và đang soi sáng cho lương tri và lương tâm của nhân loại kiến tạo kim tự tháp của Trật Tự Mới (Novus Ordo Seclorum). Kim tự tháp vừa là biểu tượng của nền trật tự vững bền muôn đời và đồng thời nó cũng là biểu tượng của một nấm mồ vĩ đại chôn xác chết của các thế lực tội ác. Tất nhiên trong đó phải có cái xác của con khủng long tội ác là giáo hội Công Giáo La Mã.

Chúng ta đang sống trong buổi bình minh của thiên niên kỷ mới, chúng ta sẽ được chứng kiến sự sụp đổ ngoạn mục của lâu đài Vatican đã được xây dựng trên hòn đá Phêrô. Mọi người trước đây cứ tưởng Chúa Jesus đã chúc phúc cho Phêrô và giáo hội. Sự thật không phải như vậy. Chúa Jesus đã cảnh cáo Phêrô rằng: "Quỉ Satan muốn có nhà ngươi, nó sẽ "sàng ngươi" như sàng gạo". (And the Lord said: Simon, Simon, Satan hath desired to have you that he may sift you as wheat – Luke 22:31) Sau đó, Chúa gọi Phêrô là quỉ Satan, đuổi hắn ra phía sau và trách hắn về tội xúc phạm Ngài: (But He turned and said unto Peter: "Get thee behind me, Satan, thou art an offence unto me" – Matt. 16:23). Theo nguyên ngữ Hebrew, Satan có nghĩa là vật chất. Phêrô là Đá: Đá và Vật Chất là một. Giáo Hội Công Giáo của Phêrô là Giáo Hội của Satan, chỉ lo vơ vét tiền của vật chất thế gian cho nên từ hơn ngàn năm qua nó lao mình vào con đường tội lỗi chống lại con người và chống lại Thiên Chúa.

Công Giáo thường kết tội Cộng Sản là tam vô. Sự thật Công Giáo còn hơn tam vô. Vì bọn lãnh đạo Công Giáo không hề tin Chúa, thờ Chúa, chúng chỉ tin và thờ vật chất mà thôi. Chúng khinh miệt phụ nữ và coi rẻ giá trị gia đình. Augustine coi sự giao hợp của vợ chồng để sinh con là tội lỗi. Chúng bịa đặt ra giáo điều Thiên Chúa Ba Ngôi loạn luân để nhục mạ Thiên Chúa và Mẹ Maria. Tu sĩ Công Giáo Việt Nam không biết tổ quốc là gì. Tổ quốc của chúng là Vatican, thủ đô tổng hợp của Mafia và chủ nghĩa đế quốc La Mã. Chúng xấu hổ làm người Việt Nam nên không nhận mình là người Dân Việt mà thường tự xưng là Dân Chúa, thực chất chỉ là công dân loại dỏm của Vatican. Các cha cố không hề lo xây dựng tâm hồn con người mà chỉ lo xây cất nhà thờ để phô trương uy thế quyền hành của họ. Nhà thờ thực chất là những cửa tiệm buôn thần bán thánh của họ. Họ hoàn toàn đi ngược lại lời dạy của Chúa Jesus. Chúa dạy: "Thánh linh của Thiên Chúa không ngự trong các đền thờ được xây dựng bởi bàn tay con người". (The Holy Spririt of God no longer dwells in temples made with men’s hands – Act 17:24). Chúa cũng như Đức Phật đều dạy Phật tính hay Thiên Chúa tính đều sẵn có trong lòng mọi người chứ không nằm trong chùa hay nhà thờ. Lời Phật dạy là "Phật tại tâm" chẳng khác gì lời Chúa: "Anh em là đền thờ của Chúa. Thánh linh của Thiên Chúa ngụ trong anh em". (Ye are the temple of God, the Spririt of God dwelleth in you – Corinth 3:16). Chúa dạy "Kẻ hạ mình xuống sẽ được đưa lên và kẻ đưa mình lên sẽ bị hạ xuống". Chúa cũng dạy về tinh thần bình đẵng: "Mỗi người trong anh em đều là thầy của nhau, tất cả đều là anh em" (for one is your Master and all ye are brethen – Matt 23: 4-10).

Các cha cố luôn luôn tránh né, không bao giờ dám phổ biến những lời dạy chí lý và chí tình của Chúa. Bởi vì nếu nói ra thì chúng phải phá bỏ hoặc đóng hết các cửa tiệm buôn trá hình của chúng. Chúng dấu nhẹm các lời dạy của Chúa về sự khiêm tốn và tinh thần bình đẵng giữa các anh chị em có chung một Cha là Thiên Chúa. Có như vậy thì các tu sĩ mới có thể tâng bốc nhau lên tận mây xanh. Thực chất chúng chỉ là một bọn cướp đội lốt thánh thiện. Chúng không xứng đáng được giáo dân gọi là Cha, các đức Cha, đức Ông, đức Thánh Cha hoặc Đức giáo tông v.v...

Công Giáo La Mã là tôn giáo kỳ quái nhất trong các tôn giáo vì kẻ đứng đầu là giáo hoàng tự xưng có đặc quyền "không thể sai lầm". Giáo hoàng cũng giống như con rùa có cái đầu luôn luôn thập thò ở cửa sổ tòa lâu đài Apostolic để ban phép lành cho khách du lịch giàu có đến hành hương hoặc để tuyên phán tín điều này tín điều nọ. Giáo hoàng tự coi mình là kẻ duy nhất có quyền tuyệt đối xác định hay phủ nhận mọi giá trị cao nhất về luân lý và đạo đức của toàn thể nhân loại! Giáo hoàng độc quyền nắm chìa khóa mở cửa thiên đàng cho ai biết tuân phục và sẽ thẳng tay loại trừ bất cứ ai dám chống lại hắn ta, ngay trong đời này và cả trong kiếp sau đời đời!

 

2. CÔNG GIÁO VÀ THÁNH TỬ ĐẠO

 Năm 340, đế quốc La Mã tiêu diệt hết các giáo phái Kitô đi ngược lại các giáo điều của hội nghị Nicaea do hoàng đế Constantine triệu tập vào năm 325 và chính thức đặt tên cho giáo hội Kitô mới của toàn đế quốc là Công Giáo (tiếng La tinh: Cattolica, tiếng Hy Lạp: Katholicos, có nghĩa là tôn giáo của hoàn cầu). Saint Cyril of Jerusalem đã viết trong năm 340 định nghĩa giáo hội Công Giáo như sau: "Tất cả mọi người thờ Chúa đều phải qui tụ trong một hệ thống thiêng liêng đặt dưới quyền cai trị của Giáo Hoàng La Mã. Bất cứ ai không phải là thành viên của Giáo Hội đều bị vứt bỏ ra khỏi cuộc đời này và điều quan trọng hơn là bị vứt bỏ ra khỏi đời sau". (All who worshiped God were united in one sacramental system under the government of the Roman Pontiff. Anyone not a member of the Church must be cast out of this life and more important, out of next). Đây là một lệnh cưỡng bức toàn dân thuộc đế quốc phải theo đạo Công Giáo. Mọi người chống đối đều bị giết. Riêng những người Kitô thuộc giáo phái Arius (Arian Christians) bị giết trên 3000 người.

Trong các năm 1512-1517, Công Đồng Lateran tái xác định giáo hội Công Giáo là giáo hội duy nhất nắm Ơn Cứu Chuộc của Chúa với khẩu hiệu: "Nulla Salus extra Ecclessian" (không thuộc giáo hội sẽ không được cứu chuộc – có nghĩa là phải sa hỏa ngục). Năm 1703, thánh De La Salle viết sách "Les Devoirs d’un Chretien" tái định nghĩa danh từ Công Giáo như sau: "Công Giáo là xã hội của đức tin được thâu tóm thành một và thuộc một thực thể được cai trị bởi các đấng chăn chiên hợp pháp mà Chúa Jesus là thủ lãnh vô hình và Đức Giáo Hoàng là thủ lãnh hữu hình trên trái đất này". (In 1703, Saint De La Salle wrote "Les Devoirs d’un Chretien" defined: "Catholicism is the society of the faithful collected into one and the same body governed by its legitime pastors of whom Jesus Christ is the invisible head and the Pope being his representative on earth".) Xin đọc các phần trích dẫn trên trong tác phẩm "A World lit only by fire" của William Manchester, do Little Brown and Co. USA. Xuất bản 1992, các trang 8-20.

Sau khi đọc các điều trên từ một cuốn sách ở thư viện, về nhà đọc Báo Đại Chúng Xuân Canh Thìn phát hành tại vùng Washington DC tháng 2.2000, trong đó có bài "Bên trong và đằng sau thư ngõ của các ông Đỗ Mậu, Nguyễn Kha, Lê Trọng Văn" của tác giả Trần Ngọc Vân với nội dung chống lại ý kiến của 10 vị nhân sĩ đã ký tên trong "Bức Thư Ngõ Gửi Giáo Hoàng Jean Paul II" đăng trên báo Vận Hội Mới Xuân Kỷ Mão (1999). Tôi rất tiếc không có số báo Vận Hội Mới nói trên nên không có dịp đọc Bức thư Ngõ của 10 vị nhân sĩ. Cho nên tôi chỉ được biết vài điểm của bức thư ngõ này qua sự trích dẫn của tác giả Trần Ngọc Vân thôi.

Tôi đồng ý với ông Trần Ngọc Vân là chúng ta không nên gọi đạo Công Giáo là đạo Gia Tô (hoặc Ca Tô Rôma) vì trên thế giới này không có đạo nào là đạo Gia Tô cả! Chỉ có đạo Kitô hoặc Cơ-đốc. Ta phải thừa nhận một điều là các đạo thờ Chúa đều xuất phát từ Tây Phương – bao gồm Âu Mỹ và các nước Do Thái-Ả Rập. Vì vậy chúng ta cần hiểu các tôn giáo này theo định nghĩa của họ.

Gia Tô là tiếng phiên âm chữ Hán tên của Giêxu. Trong kinh cầu hồn bằng chữ Hán có câu: "Thiên Chúa Da-tô thục tội thi ân chi đại", có nghĩa là "Đức Chúa Giê xu chuộc tội ban ơn rất lớn". Người Tây phương dùng thần thoại Kitô (Cơ-đốc) chứ không lấy tên của Jesus (Datô) đặt tên cho đạo này. Vì vậy ta không nên gọi Công Giáo là đạo Gia Tô (hay Da Tô). Hơn nữa, nếu hiểu Công Giáo là đạo Gia Tô, tức đạo duy nhất thờ Jesus, thì lại là một lầm lẫn lớn. Chính Thống Giáo (Anh Giáo), hàng trăm giáo phái Tin Lành, thậm chí Hồi Giáo và Cao Đài cũng có thờ Jesus nhưng không phải là Công Giáo. Sở dĩ ta phải gọi là "Công Giáo La Mã" vì có mấy thứ Công Giáo khác nhau với hệ thống giáo quyền và giáo đô khác nhau, trong đó có Công Giáo Anh, Công Giáo Hy Lạp, Công Giáo Ai Cập (Egyptian Coptic), Công Giáo Nam Phi, Công Giáo Trung Nam Mỹ với Thần Học Giải Phóng tách rời Vatican...

Tôi xin đề nghị chúng ta nên xử dụng danh từ "Công Giáo La Mã" là danh từ chính xác nhất để tránh lầm lẫn với các tôn giáo thờ chúa khác. Danh từ Thiên Chúa Giáo nên được hiểu là Độc Thần Giáo (Monotheism) bao gồm 3 tôn giáo lớn là Do Thái Giáo (Judaism), Hồi Giáo (Islam) và Kitô Giáo hoặc Cơ Đốc Giáo. Danh từ Christianity do nguyên ngữ Hy Lạp Christos mà ra. Christos (tiếng Anh và Pháp là Christ, tiếng Tây Ban Nha Cristo) được người Hoa phiên âm thành "Cơ Đốc". Người Việt xưa kia phiên âm từ tiếng Tây Ban Nha Cristo thành "Chúa Ki-ri-xi-tô" trong các sách kinh nguyện xuất bản trước Công Đồng Vaticano 1962. Sau 1962, danh từ "Ki ri xi tô" được thu gọn lại thành Kitô. Tín đồ Kitô (Christians) được dịch là Ki-tô-hữu. Đạo Kitô được gọi là Kitô Giáo bao gồm Công Giáo, Tin Lành, Chính Thống, Anh Giáo vì tất cả đều tin Jesus là Chúa Kitô. Chúng ta cũng không nên gọi Công Giáo La Mã là "Catô Rôma" vì phiên âm như vậy sẽ làm mất cái ý nghĩa "Công Giáo" là đạo chung của toàn cầu qua âm mưu thâm độc của Constantine và đế quốc La Mã trong mưu đồ dùng đạo này làm lợi khí chinh phục toàn cầu. Nếu chỉ hiểu Công Giáo là "public religion" hoặc "state religion" là quốc giáo của một quốc gia tức là đã đánh giá quá thấp tham vọng ban đầu của bọn đế quốc khi chúng diệt đạo Kitô nguyên thủy và lập ra đạo Công Giáo để dùng làm chiêu bài xâm lược toàn cầu.

Tôi xin đề nghị nên xử dụng danh từ "Công Giáo La Mã" để làm nổi bật cái dã tâm xâm lược toàn cầu của đế quốc La Mã núp dưới chiêu bài tôn giáo bịp bợm và ác độc của nó.

Theo ông Trần Ngọc Vân, tác giả bài báo đăng trên Đại Chúng Xuân Canh Thìn vào tháng 2.2000, thì 10 nhân sĩ tác giả bức thư ngỏ gửi giáo hoàng (trong đó có các ông Đỗ Mậu, Nguyễn Kha, Lê Trọng Văn...) đều là những người "đã xếp hàng chung với tập đoàn Cộng Sản" (Đại Chúng tr. 191). Có lẽ ông Vân ngụ ý cho rằng những nhân sĩ này đều là những cây bút tay sai Cộng Sản chỉ viết để xuyên tạc nhằm bôi lọ Công Giáo và làm lợi cho Cộng Sản. Theo tôi, dù cho nhận định của ông Trần Ngọc Vân là đúng chăng nữa thì những cây bút chống Công Giáo này không thể nào làm lợi cho Cộng Sản bằng Gioan XXIII và Paul VI trong thời chiến tranh Việt Nam.

Bài báo của ông Trần Ngọc Vân là động lực chính yếu đã thúc đẩy tôi viết bài này để trình bày những nhận định của một người trong cuộc (an insider) nhìn về giáo hội lâu đời của gia tộc mình. Ngoài ra, tôi là một quân nhân phục vụ 10 năm trong QLVNCH và ở tù 10 năm trong trại cải tạo sau 30.4.1975. Tất cả những nhận định của tôi trình bày trong bài này đều là những điều tôi thấy sao nói vậy, nghĩ sao viết vậy. Tôi không oán thù riêng một ai và cũng không sợ hãi bất cứ một thế lực nào. Tôi chỉ yêu sự thật và dám chết cho sự thật với niềm tự hào của một người chân thực. Mọi người thân yêu nhất của đời tôi trong quá khứ cũng như trong hiện tại, tất cả đều là người Công Giáo.

Tôi sinh ra và lớn lên trong môi trường Công Giáo, đã chứng kiến những thảm trạng do giáo hội Công Giáo gây ra chung quanh tôi và cũng do sự học hỏi tìm tòi những sự thật lịch sử qua các sách nghiên cứu hết sức đầy đủ và có giá trị cao trong các thư viện Mỹ. Tôi đã tỉnh ngộ để có đủ tinh thần khách quan đánh giá lại niềm tin và giáo hội của mình. Tôi đã chọn cho mình một hướng đi là phải tham gia công tác giáo dục ngõ hầu giúp đồng bào đồng đạo của mình thức tỉnh để nhận cho đúng chân tướng gian ác của giáo hội Công Giáo La Mã, để không còn bị bọn tu sĩ lưu manh bóc lột và dẫn đi vào con đường tội ác chống loài người và chống dân tộc mình. Tôi cố gắng làm việc hết mình để góp phần vào công việc "Enlightenment" này càng nhiều bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu và tôi sẵn sàng chấp nhận mọi điều bất hạnh có thể xảy đến cho bản thân, tất cả chỉ vì lòng khát khao yêu mến sự thật. Ý nguyện này có thể được tóm tắt trong khẩu hiệu:

 

"CHRISTIAN BY BIRTH ANTI-CHRISTIAN BY CHOICE".

 Trải qua gần 500 năm theo đạo, các tiền nhân của tôi đã có nhiều vị tử đạo. Tuy nhiên, tôi không lấy điều này làm niềm vinh dự. Trái lại, tôi coi đó là niềm đau xót lớn lao vì các tiền nhân đã phải đổ máu vô ích cho một thứ tà đạo mà cả loài người ngày nay đang lớn tiếng nguyền rủa nó. Ông Trần Ngọc Vân viết: "Trong một đoạn ở đầu trang 3 thư ngõ, các ông Đỗ Mậu, Lê Trọng Văn, Nguyễn Kha còn dùng những lời lẽ hạ cấp nhất để miệt thị 117 vị Thánh Tử Đạo Việt Nam, đồng thời mạt sát Đức Gioan Phaolồ II khi Ngài quyết định tuyên thánh cho các vị này hơn 10 năm trước". Tôi không biết các tác giả thư ngỏ đã viết ra sao mà bị ông Vân gọi là "dùng những lời lẽ hạ cấp nhất". Ở đây tôi chỉ xin bày tỏ cảm nghĩ của tôi đối với vụ phong thánh cho các tử đạo Việt Nam với tư cách là một người Công Giáo tỉnh ngộ.

Trong buổi lễ phong thánh cho 117 tử đạo Việt Nam tại Vatican năm 1988, giáo hoàng đã đọc các lời vinh danh sau đây:

"Các người vinh quang của Jerusalem

Là nỗi vui mừng của Israel

Và là vinh dự của dân tộc Việt Nam!"

Tôi không hề thấy các người tử đạo đã đem lại một vinh dự nào cho dân tộc Việt Nam. Trái lại họ chỉ nhắc cho mọi người về một nguyên nhân chính yếu làm cho dân tộc Việt Nam rơi vào vòng nô lệ nhục nhã của thực dân Pháp hơn 80 năm. Họ là nguyên nhân gây mặc cảm hận thù chia rẽ dân tộc mà hậu quả là việc thành lập các lực lượng vũ trang cuồng tín hiếu sát của Tự Vệ Công Giáo Phát Diệm Bùi Chu Thái Bình và Lực Lượng Công Giáo Miền Nam, gọi tắt là UMDC (Unités Mobiles de Défense des Chrétiens) của đại tá Le Roy trong các năm 1946-1954. Người Công Giáo luôn luôn phản bội dân tộc, chỉ lo phục vụ Vatican và ngoại bang. Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi cũng như Le Roy ra mặt phục vụ thực dân Pháp cho đến 1954. Sau 1954, Le Roy chạy sang Pháp, còn Lê Hữu Từ và Hoàng Quỳnh móc nối với Bình Xuyên chống chính phủ Diệm. Trong chiến tranh Pháp-Việt và Đệ Nhất Cộng Hòa, người Công Giáo chống Cộng điên cuồng không phải vì yêu nước mà để phục vụ chủ trương chống Cộng cực đoan của Giáo hoàng Piô XII. Khi Giáo hoàng Gioan XXIII và Paul VI trở mặt thân Cộng chống VNCH, họ cũng thay đổi theo. Năm 1966, LM Hoàng Quỳnh xua hàng chục ngàn giáo dân biểu tình phá rối trị an của VNCH. GH Paul VI tiếp thủ tướng Nga tại Vatican ngày 30.1.1967. Ngay từ đầu thập niên 60, GH Gioan XXIII đã móc nối với Hồ Chí Minh để thiết lập chính phủ trung lập tại VN đã đưa đến cuộc lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm năm 1963 và rút phép thông công TGM Ngô Đình Thục. Ngày 12.11.1974, LM Hoàng Quỳnh và gián điệp Vũ Ngọc Nhạ đến Củ Chi họp mật với MTGPMN để lập thành phần thứ ba trong chính phủ Liên Hiệp với Cộng Sản. Tất cả chỉ để thi hành mệnh lệnh của Vatican. Sau 30.4.1975, Giáo Hoàng Paul VI đã ban thưởng huy chương cho Vũ Ngọc Nhạ trong khi hàng trăm ngàn quân cán chính VNCH đi tù cải tạo thì Tòa Thánh hoàn toàn lặng thinh không hề can thiệp!

Tập thể Công Giáo Việt Nam đã tự biến mình thành một giáo hội hèn hạ, hoàn toàn nép mình dưới cái gậy chỉ huy độc đoán, và nhiều khi rất nham hiểm của các giáo hoàng La Mã. Do sự việc này, chúng ta sẽ nhận ra sự độc hại của các sách kinh... "mọi nơi thảy nên một ràn cùng một kẻ chăn" (Kinh Nhựt khóa 170-172) "Ai chẳng vâng lời Hội Thánh trong mọi việc là chẳng vâng lời Chúa tôi", "Đức Chúa Trời hằng gìn giữ Đức giáo hoàng cho nên chẳng có lẽ nào sai lầm được" (Toàn Niên Kinh Nguyện Bùi Chu N-127 do Cơ Sở Dân Chúa xuất bản). Cả cái tập thể Công Giáo VN, người sống cũng như người tử đạo, đều chỉ làm nhục dân tộc Việt Nam do những lời cầu kinh thiếu trí tuệ đó.

Tôi đau xót tự hỏi: Tại sao những người tử đạo VN đã phải đổ máu mình cho vinh quang của Jerusalem? Cái thành phố Jerusalem xa xôi kia có liên quan gì đến dân tộc VN? Báo Washington Post loan tin: Ngày 25.3.2000, Giáo Hoàng Jean Paul II đến nhà thờ The Holy Sepuleher tại Jerusalem làm lễ kêu gọi 7 chi phái Kitô Giáo tại đây hãy hợp nhất lại để xóa bỏ hận thù với nhau. Trong khi giáo hoàng làm lễ thì các nhà thờ thuộc các giáo phái khác khua chuông ầm ĩ để phá đám. Một giới chức trong phái đoàn của giáo hoàng tuyên bố với báo chí gồm 2000 phóng viên quốc tế rằng: "Phương cách này là một cuộc chiến" (this process is a battle) và tuyên bố tiếp: "Đó là thực tế, mọi người dồn vào khu đất thiêng này nhưng chẳng ai chịu ai, chẳng ai muốn mất đi một cái gì cả" (It’s the reality, everybody is packed into sacred space and unwillingly to lose something). Cuối cùng, giáo hoàng xác nhận ngay tại Jerusalem: "Tôn giáo vẫn được dùng làm một phương tiện cho sự chia rẻ và chiến tranh" (Religion has been used as a means for division and war – Washington Post 19.3.2000 p. A30). Giáo hoàng đã công khai phủ nhận giá trị của các tôn giáo nói chung và Công Giáo nói riêng ngay tại đất thánh Jerusalem. Vậy Jerusalem chỉ là một chứng tích cụ thể về sự thất bại hoàn toàn của cái gọi là "Công Ơn Cứu Chuộc của Chúa Kitô". Bản thân đất thánh Jerusalem còn không tạo nổi vinh quang cho mình trong mấy ngàn năm qua, hà cớ gì người Việt Nam lại phải đổ máu mình cho vinh quang của Jerusalem?

Tại sao người tử đạo Việt Nam phải đổ máu mình vì nỗi vui mừng của Israel? Cách đây 4000 năm, cháu nội của Abraham là Jacob đã đặt tên cho nước Do Thái là Isra-El để tôn vinh thiên chúa của dân tộc Do Thái thời đó là con bò El. Do Thái thờ con bò El từ khoảng năm 4000 trước Công Nguyên, đến thế kỷ 12 trước Công Nguyên, đạo thờ bò được cải tổ thành đạo Do Thái của Môi-se (Mosaic Judaism). Môi-Se (Moses) đổi tên Thiên Chúa El hoặc Elohim thành Jehovah. Đây không phải là tên mới của Thiên Chúa mà chỉ có nghĩa là "Thiên Chúa của các tổ phụ" (Jehovah means God of Fathers) tức vẫn là Elohim, vẫn là con bò thần El. Tại sao các tử đạo VN phải chết vì nỗi vui mừng của dân tộc thờ bò là Isra-El?

Tôi nghĩ đến câu tục ngữ Việt Nam: "Đồ ngu như bò" và nhận thấy không có một trường hợp nào áp dụng câu tục ngữ này thích hợp cho bằng trường hợp tử đạo Việt Nam được phong thánh với những lời vinh danh như trên của Giáo Hoàng Jean Paul II.

Nhân dịp này tôi xin kính gửi đến 10 vị nhân sĩ ký tên chung trong bức thư ngỏ gửi Giáo Hoàng Jean Paul II đã đăng trên báo Vận Hội Mới Xuân Kỹ Mão (1999) cũng như kính gửi đến toàn thể quí vị hằng quan tâm đến nền văn hóa và tiền đồ dân tộc một số kinh nghiệm bản thân của tôi về vấn đề Công Giáo và Dân tộc như sau:

1) Chúng ta nên phân biệt hai loại người đối tượng. Loại người thứ nhất là các tu sĩ Công Giáo và tập thể chính trị gia, trí thức Công Giáo lưu manh là bọn xưa nay chỉ vì tư lợi gây rất nhiều tội ác chống lại nhân loại và dân tộc. Đối với loại người này, chúng ta phải xác định họ là kẻ thù nguy hiểm và chúng ta cần phải đấu tranh diệt trừ không thể khoan nhượng. Đứng đầu bọn này phải kể đến Hội Đồng Giám Mục, những dòng tu đang biến đức tin Công Giáo thành một món hàng béo bở để tận dụng khai thác làm giàu như dòng tu Đồng Công ở Missouri chẳng hạn. Kế đến là bọn chính trị lưu manh đang ẩn nấp trong các đoàn thể ở nhà thờ như Hiệp sĩ đoàn. Vào một lúc nào đó thuận tiện, chúng sẽ mau chóng biến thành những đoàn quân võ trang hoặc những đoàn quân mật vụ hiếu sát như những đoàn thể của LM Hoàng Quỳnh, Lê Hữu Từ, Le Roy hoặc Trần Kim Tuyến. Loại người thứ hai là tuyệt đại đa số giáo dân, những người mãi lo làm ăn, vô tư chất phát, họ chỉ vì thiếu hiểu biết đã bị các tu sĩ và trí thức lưu manh lừa gạt kích động, xô đẩy vào những hoạt động phá hoại đất nước mà họ vô tình không biết. Họ cũng như hầu hết các người tử đạo xưa kia chỉ là những nạn nhân bị lừa gạt mà thôi. Đối với những người này, chúng ta cần phải đối xử với lòng thương yêu chân thành trong tình nghĩa đồng bào. Chúng ta chỉ có một khát vọng là đem ánh sáng của sự thật để xua đuổi bóng tối trong tinh thần của họ mà thôi. Họ đã và đang là nạn nhân bị các tu sĩ bòn rút tiền của. Đối với bọn tu sĩ lưu manh, họ chỉ là một bầy bò sữa để cho chúng vắt hầu vỗ béo thân xác và thỏa mãn các thứ dục vọng của chúng. Họ cũng là những nạn nhân của bọn chính trị lưu manh, lúc nào cũng lăm le biến họ thành những công cụ hoặc những vật hy sinh cho những mưu đồ đen tối của chúng. Trong thâm tâm của mỗi người chúng ta luôn luôn phải phân biệt rõ rệt bạn và thù, nạn nhân và thủ phạm. Mục đích tối hậu là diệt trừ mọi thứ kẻ ác để bảo vệ những người thiện lành. Nhất định đồng bào sẽ ủng hộ chúng ta và Ơn Trên sẽ phù hộ chúng ta.

2) Với nhận định như trên, chúng ta cần đem lại sự giáo dục tới tận các giáo dân bằng những bằng chứng sự thật được trình bày đơn giản, cụ thể và dễ hiểu. Không nên quá chú trọng đến các lý thuyết cao xa như thuyết Tạo Dựng, Thuyết Cứu Rỗi mà cần chú trọng đến các vấn đề thông thường được nêu trong các sách kinh nguyện (prayer books) mà nhà giáo dân nào cũng có và họ thường tụng niệm hằng ngày.

Thánh kinh thường được coi như những cuốn sách làm căn bản của đạo thì rất ít giáo dân đọc. Họ chỉ biết thánh kinh qua một số trích đoạn mà bọn cha cố đã lựa chọn kỹ càng để đem ra giảng thuyết mà thôi. Các cuốn sách dày như Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi chắc chắn chẳng có giáo dân bình thường nào đọc cả. Vậy nên cần xuất bản nhiều cuốn sách nhỏ đề cập đến những vấn đề thiết thực để khai sáng hơn là viết các sách đồ sộ khô khan hầu như không có tác dụng nào đối với đa số giáo dân.

3) Có những điều mà các trí thức ngoại giáo ít ai biết tới là:

a) Mỗi khi có một cuốn sách hay bài báo chống đạo xuất hiện, bọn cha cố công khai ngăn cấm giáo dân không được đọc. Nếu đọc là phải tội v.v... nên bọn chúng đã vô hiệu hóa một cách dễ dàng tác dụng của các sách báo này.

b) Dưới sự lãnh đạo dày dạn kinh nghiệm và vô cùng xảo quyệt của Vatican, các giáo sĩ luôn luôn có sẵn những lối giải thích lươn lẹo để hóa giải các lập luận tấn công Giáo lý hay giáo hội. Vì thế Công Giáo đã vượt qua mọi cuộc tấn công của khoa học và mọi cuộc chống phá của các phong trào soi sáng (Enlightenment) hay các phong trào giải trừ Kitô Giáo (Dischristianization) như hiện nay. Muốn biết các lập luận lươn lẹo này ra sao xin hãy đọc "Giáo Lý Mới –Thời Đại Mới" 157 trang do Đất Mẹ xuất bản và phát hành tại Houston năm 1996. Đọc cuốn sách Giáo Lý Mới này, quí vị sẽ phải khâm phục tài nghệ giải thích lươn lẹo của bộ tham mưu thần học của Vatican. Thí dụ: Thiên Chúa dựng nên vũ trụ trong 7 ngày cần được hiểu là 7 thời đại, [ Nếu nói 7 thời đại thì cây cỏ thảo mộc Chúa tạo ra trước mặt trời làm sao sống được vì không có diệp lục tố!]

Mỗi thời đại kéo dài nhiều triệu năm! Giáo dân được mời gọi để bắt chước lòng trung thành tuyệt đối của Abraham đối với Thiên Chúa chứ không phải được mời gọi để bắt chước hành động của Ngài (loạn luân, giết con để tế Thiên Chúa). Kinh Tin Kính là bản liệt kê các giáo điều căn bản của đạo Công Giáo đã được Hội Nghị Nicaea chấp thuận năm 325 vẫn có thể được sửa đổi cho phù hợp với thời đại ngày nay (sách trích dẫn trang 160). Do đó, việc bài trừ hệ thống tu sĩ Công Giáo là một vấn đề ưu tiên cần thực hiện trước khi bắt tay vào việc giáo dục quần chúng.

Mọi người chúng ta đều biết rằng Chúa Jesus chỉ có một người mẹ duy nhất là đức Mẹ Maria. Nhưng chúng ta thấy người Công Giáo đã gọi Mẹ Maria bằng rất nhiều danh hiệu khác nhau. Nào là Đức Mẹ Đồng Trinh, Đức Mẹ Chúa Trời, Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đức Mẹ Mông Triệu, Đức Mẹ Mân Côi và Đức Mẹ sắp mang thêm một danh hiệu chính thức nữa là "Đức Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc". Ngoài ra, chúng ta cũng nghe nói tới những vụ Đức Mẹ hiện ra ở nhiều nơi trên thế giới như Lộ Đức (Pháp) Fatima (Bồ Đào Nha) La Vang (Việt Nam) và hàng trăm địa danh khác nữa không xiết. Mỗi một danh hiệu nói trên của Đức Mẹ đều có lịch sử của nó và đều đã gây ra nhiều hậu quả cho đời sống nhân loại và đời sống của giáo hội Kitô. Mỗi lần Vatican đưa ra một phép lạ của Đức Mẹ ở một nơi nào đó đều có dụng đích chính trị của họ. Vấn đề tôn thờ Đức Mẹ có cả một ngành nghiên cứu riêng gọi là Mariology hết sức phức tạp và hoàn toàn xa lạ đối với đại đa số đồng bào ta là những người ngoại giáo.

Đây là lý do thứ hai thúc đẩy tôi viết bài này nhằm trình bày khái lược về những vấn đề trên để quí vị độc giả ngoại giáo hiểu thêm về thực chất của giáo hội Công Giáo La Mã và cũng để từ đó có thể đoán biết được tương lai của giáo hội này sẽ đi về đâu. Sự mất còn của giáo hội Công Giáo với trên một tỷ tín đồ có liên hệ mật thiết với vận mệnh của nhân loại, trong đó có dân tộc Việt Nam.

 

3. TÍN ĐIỀU, HUYỀN THOẠI, ĐỨC MẸ, VƯỜN ĐỊA ĐÀNG, THÁNH TÍCH.

 Trước hết, tôi xin trình bày sơ lược một số tín điều quan trọng về Đức Mẹ:

Tín Điều Đức Mẹ Đồng Trinh. Trong 300 năm đầu của kỷ nguyên, chúng ta chưa có đạo Công Giáo mà chỉ có đạo Kitô nguyên thủy (Early Christianity). Tín đồ Kitô Giáo nguyên thủy không xây nhà thờ, không có ảnh tượng, không có hệ thống tu sĩ, không tin Đức Mẹ đồng trinh. Họ tụ họp nhau trong các phòng hội (sinagogues) để đọc Thánh Kinh và noi gương cuộc sống của Chúa Jesus mà họ tin là Đấng Cứu Thế (Messiah/Christ). Kinh Thánh nói rõ Chúa Jesus là con trai đầu của Đức Mẹ chứ không phải là con trai duy nhất của Người. Trưởng nam Jesus có 4 em trai và 3 em gái. Em trai đầu của Chúa Jesus tên James làm giáo chủ đạo Kitô tại Jerusalem vào giữa thế kỷ I. Đức Mẹ có tới 8 người con làm sao còn đồng trinh được? Vì vậy tín điều Đức Mẹ Đồng Trinh là một điều vừa phản tự nhiên vừa khôi hài quái đản. Mọi vấn đề về đức tin Kitô trở nên phức tạp và gây ra các vụ tranh cãi, thậm chí gây ra chiến tranh đẩm máu là do tham vọng của Đế Quốc La Mã. Đứng đầu bởi Hoàng Đế Constantine The Great.

Sau hơn 300 năm, các hoàng đế La Mã ra sức diệt đạo Kitô nhưng đạo này vẫn bành trướng ra khắp đế quốc. Điều nguy hiểm là những đoàn quân Hung Nô (Mông Cổ) rất đông đảo và hùng mạnh đang đe dọa tràn ngập toàn đế quốc. Dân chúng đa số theo đạo Kitô chẳng những không chịu đi lính cho đế quốc La Mã mà còn sẵn sàng hợp tác với địch. Do đó, năm 313, Constantine ra lệnh bãi bỏ việc cấm đạo và chính thức công nhận đạo Kitô là đạo của toàn đế quốc. Ngày 20.5.325, Constantine ra lệnh triệu tập hội nghị các giám mục họp tại Nicaea (Thổ Nhĩ Kỳ) để thống nhất các giáo phái Kitô bằng cách buộc mọi người phải chấp nhận một bản tóm tắt các tín điều được gọi là "Niềm Tin của các Tông Đồ" (The Creed of Apostles), sau gọi tắt là Kinh Tin Kính. Trong đó có tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi và Đức Mẹ Đồng Trinh. Các Giám mục và tín đồ Kitô nguyên thủy chống lại Công Đồng Nicaea đều bị giết hoặc bị đưa đi đày. Riêng giáo phái Arius bị giết tới 3000 người. Năm 340, đạo Kitô của Constantine được đổi tên thành Công Giáo (Cattolica) nghĩa là Đạo Toàn Cầu (Universal Religion). Nhờ quyết định cực kỳ khôn ngoan của Constantine, đế quốc La Mã đã tạo lập được những đoàn quân thập tự (Crusaders) vừa đông đảo vừa cuồng tín để bảo vệ đế quốc La Mã và có thể xử dụng để chinh phục toàn cầu dưới khẩu hiệu "IN HOC SIGNO VINCES" (Dưới dấu hiệu thánh giá ta sẽ chiến thắng toàn cầu!) Tự Điển Bách Khoa Công Giáo (The Catholic Encyclopedia vol.4, p.300) đã viết rõ như sau: "Constantine ưu đãi Kitô Giáo hoàn toàn vì lý do chính trị và ông ta đã được xem như là một bạo chúa được ơn soi sáng để xử dụng tôn giáo vào mục tiêu thực hiện chính sách của mình". (Constantine favored Christianity merely from political motives and he has been regarded as an enlightened despot who made use of religion only to advance his policy). Như vậy rõ ràng một điều là các vua La Mã đã ra sức diệt đạo Kitô nguyên thủy để lập ra đạo Công Giáo. Đạo Công Giáo là Đạo của đế quốc La Mã nên danh từ Công Giáo La Mã thật là chính xác (Roman Catholic). Đạo Công Giáo đã được lập nên trên nấm mồ của Kitô Giáo nguyên thủy và hoàn toàn đi ngược lại giáo lý đạo Kitô lúc ban đầu. Kitô giáo nguyên thủy là Độc Thần Giáo đúng nghĩa vì chỉ thờ Một Thiên Chúa. Công Giáo La Mã thực sự là Đa Thần Giáo vì thờ cả Thiên Chúa Ba Ngôi, Đức Mẹ Maria và rất nhiều Thánh. Đây là một nhận định hết sức quan trọng về lịch sử, nếu không chú ý đến những điều trình bày trên đây, ta sẽ dễ dàng bị các sử gia Công Giáo lừa bịp.

Trong bài tựa cuốn Việt Nam Giáo Sử (trang 20), Linh Mục Phan Phát Huồn viết: "Máu – của các thánh tử đạo – đã nhuộm đỏ đất nước Việt Nam yêu quí làm cho đất phì nhiêu tốt tươi. Lấy võ lực đàn áp Công Giáo để tiêu diệt người Công Giáo thì chẳng những Công Giáo không bị tiêu diệt mà còn sinh sản đông đúc thêm...Các Hoàng đế La Mã muốn tiêu diệt đạo Công Giáo thì ngày nay trên thủ đô Roma phất phới trước gió cách oai hùng quốc kỳ Vatican tượng trưng cho quyền bính của giáo hội".

Sử gia Công Giáo Linh Mục Phan Phát Huồn đã cao hứng ca ngợi những người cuồng tín tử đạo Việt Nam quá trớn mà quên rằng các hoàng đế La Mã không thể nào tiêu diệt đạo Công Giáo! Các hoàng đế La Mã chỉ tiêu diệt đạo Kitô nguyên thủy để lập đạo Công Giáo mà thôi. Từ năm 313 trở đi, các hoàng đế La Mã chỉ lo củng cố chứ không bao giờ diệt đạo Công Giáo cả. Xin đề nghị Linh Mục sử gia Phan Phát Huồn hãy đọc kỹ lịch sử trước khi viết sách sử, dù là giáo sử thế giới hay giáo sử Việt Nam!

Về việc "máu tử đạo làm cho đất phì nhiêu tốt tươi" và làm cho "Công Giáo càng sinh sản đông đúc thêm" là do chính sách diệt đạo của các vua chúa Việt Nam thiếu cương quyết và do thực dân Pháp làm cho Công Giáo phát triển mạnh chứ chẳng phải máu tử đạo có sức mạnh thiêng liêng nào. Nếu các vua chúa Việt Nam biết noi gương như người Nhật đã làm vào năm 1638 thì liệu Công Giáo Việt Nam có ngóc đầu lên nổi không? Nếu thực hiện được một chính sách diệt đạo đúng đắn và khoa học thì máu tử đạo có "thiêng" đến mấy cũng không cứu được sự tuyệt chủng nhục nhã của đạo Công Giáo!

Giáo Hội Công Giáo Việt Nam là con đẻ của thực dân Pháp. Các cố đạo thừa sai thường nói: "Nước Pháp là trưởng nữ của Hội thánh và là Mẹ của giáo hội Việt Nam". (France, fille ainée de L’Eglise et Mère du Vietnam).

Đám trí thức Công Giáo mất gốc làm bộ yêu thương tổ quốc Việt Nam ra tờ báo lấy tên là "Đất Mẹ", nhưng ai cũng hiểu đó chẳng phải là đất Mẹ Việt Nam mà là đất "mẹ Tây" và của "bà ngoại Vatican".

Công Giáo La Mã không còn là Kitô giáo đúng nghĩa vì nó đã trở thành đa thần giáo. Việc thờ kính Đức Mẹ Maria và việc bịa đặt các tín điều về Đức Mẹ hoàn toàn do Công Giáo La Mã sáng tạo sau khi các hoàng đế La Mã đã diệt gọn đạo Kitô nguyên thủy và xóa bỏ hầu hết các dấu vết của đạo này vào đầu thế kỷ thứ tư. Các tín điều về Đức Mẹ đều không có nền tảng thánh kinh, trái lại tất cả đều trắng trợn đi ngược lại với chính các sách kinh Tân Ước là nền tảng của Kitô Giáo. Suốt 16 thế kỷ, Công Giáo La Mã thống trị Âu Châu đã đưa lên dàn hỏa tới 10 triệu người, đa số là giới trí thức, vì đã dám chỉ trích các tín điều vô lý ấy. Giáo Hoàng Innocent III (1198-1216) sáng lập ra hệ thống tòa án tôn giáo (Inquisition) để xử tội mọi người chống đạo, bị ghép vào tội rối đạo (heretic) đều bị đưa lên dàn hỏa thiêu sống. Trong lịch sử giáo hội Công Giáo có rất nhiều giáo hoàng giết người, nhưng Giáo Hoàng Innocent III vượt trên tất cả các giáo hoàng sát nhân khác vì tòa án dị giáo hiện diện khắp Âu Châu trên 500 năm và sau này được đoàn quân xâm lược Tây Ban Nha đưa sang áp dụng tại các quốc gia Trung Nam Mỹ thuộc địa của họ.

Sách Babylon Mystery Religion của Hội Nghiên Cứu Thánh Kinh Ralph Woodrow Evanlistic Association, P.O. Box 124 Riverside, CA 92502) trang 86 viết: "Một số giáo hoàng can tội sát nhân nhưng Innocent III vượt trên mọi giáo hoàng tiền nhiệm về tội giết người... Trong hơn 500 năm, các giáo hoàng dùng tòa án tôn giáo để duy trì quyền lực chống lại bất cứ ai tỏ ra không đồng ý với các giáo điều của giáo hội La Mã" (A number of the popes had committed murders, but Innocent III surpassed all of his predecessors in killing... For over five hundred years, popes used the Inquisition to maintain power against those who did not agree with the teachings of the Roman Church). Cũng chính Innocent III xúi giục vua Pháp xâm lược nước Anh vì tại nước này đang có mầm mống chống giáo hoàng. Điều này do sử gia Loyd M. Graham viết trong tác phẩm Deceptions and Myths of the Bible như sau: Innocent III even urged the king of France to invade England because something had happened there that threaten the divine right of popes". Graham viết tiếp: "Đế quốc Công Giáo luôn luôn là mục tiêu của giáo hội Công Giáo, một đế quốc bao gồm toàn Âu Châu và Bắc Phi. Sự kiện này khởi đầu từ Constantine" (Ever and always a Catholic Empire was the objective of the Catholic Church, an empire with all Europe and Northern Africa for its domain. It began under Constantine - page 469). Nhân tiện cũng xin nói thêm về một điều mỉa mai của lịch sử là giáo dân Ái Nhĩ Lan đã mấy thế kỷ chống nước Anh và Tin Lành để khôi phục lãnh thổ và cũng để giữ vững lòng trung thành với Tòa Thánh La Mã. Họ đâu có ngờ kẻ bán đứng nước họ cho Anh quốc chính là Giáo Hoàng Adrian IV. Ngày nay các sử gia đã tìm được thư của Giáo Hoàng Adrian IV viết cho vua Anh, Henry II như sau: "Ái Nhĩ Lan và các đảo thuộc về nó nay đã trở lại đạo, như vậy đã thuộc về giáo hội La Mã. Nếu nhà vua muốn vào Ái Nhĩ Lan thiết lập luật pháp để buộc mọi người tuân phục và bắt mọi người đóng thuế cho Tòa Thánh thì ta sẵn sàng chuyển nhượng nước đó cho nhà vua" (Ireland and all those Islands which have received the faith belong to the Church of Rome. If you wish to enter that island to cause law to be obeyed and Saint Peter Pence to be paid by every house, it will be pleased to us to assign it to you – page 470).

Lịch sử thế giới đã có đầy đủ mọi tài liệu chứng tích thống kê tội ác giết người thật khủng khiếp của giáo hội La Mã do Constantine lập ra từ thế kỷ thứ tư. Trong 16 thế kỷ, số người bị giết dưới bàn tay của những người nhân danh Chúa như sau: 3 triệu tín đồ Hồi Giáo, 10 triệu tín đồ Công Giáo bị giết do tòa án tôn giáo, 14 triệu tín đồ Kitô ngoài Công Giáo (Tin Lành, Chính Thống, Anh Giáo v.v...) 30 triệu chết trong các cuộc chiến tranh giữa các vua chúa Công Giáo Âu Châu tranh chấp quyền lợi với nhau hoặc với giáo hoàng (page 463).

Điều đáng đau buồn là các cuộc tranh chấp đẫm máu trên phần lớn là do sự bất đồng với nhau giữa các giáo phái Kitô về các tín điều có liên quan đến Đức Mẹ Maria. Đức Mẹ là hiện thân của tình mẫu tử đã bị giáo hội Công Giáo biến thành một nguyên nhân của biết bao vụ thảm sát đẫm máu giữa những người anh em cùng thờ một Chúa và cùng yêu một Mẹ. Thật không có gì đau xót và vô lý cho bằng!

 

NGUỒN GỐC VỀ THẦN THOẠI ĐỨC MẸ ĐỒNG TRINH

 

 Một trong những điều dị biệt nhất giữa Công Giáo và Tin Lành là vấn đề đồng trinh của Đức Mẹ. Sách Babylon Mystery Religion dành ra 2 chương để nói về điều này p. 7-22), tôi xin tóm lược như sau:

Việc tôn thờ ảnh tượng Mẹ Bồng Con xuất phát từ Babylon cách đây 6000 năm. Dân Babylon đã có huyền thoại Chúa Cứu Thế (Kitô/Messiah/Savior) từ thời đó. Chúa Cứu Thế của họ là Tammuz và mẹ là nữ thần Semiramis. Cho đến nay, các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều tượng Mẹ bồng con ở Babylon (phía Iraq) cũng như tại Ai Cập. Hiện ở Ai Cập còn tồn tại nhiều đền thờ cổ với tượng Mẹ bồng con. Đó là tượng thần nhi đồng Horus ngồi trên đùi của mẹ là nữ thần Isis. Người Ai Cập đã nhập cảng tục lệ này từ Babylon và họ sáng tác ra thần thoại về tượng mẹ bồng con như sau: Bà Isis thụ thai do phép của Thần Mặt Trời (Sun God) sinh ra một người con thần thánh (a divine son) đặt tên là Horus. Lúc Horus còn là hài nhi, bị thần Bão Tố Typhoon rượt bắt nên bà Isis phải mang con chạy trốn và bị thất lạc con mình. Về sau bà gặp lại đứa con mới biết chính con mình là Thần Mặt Trời!

Vào thế kỷ đầu Công Nguyên, các tu sĩ lập đạo Kitô đã ăn cắp thần thoại Ai Cập này để phóng tác ra chuyện Bà Maria thụ thai do phép Đức Chúa Thánh Thần sinh ra con trai của Thiên Chúa (Son of God) được ít ngày thì bị vua Herod rượt đuổi nên phải chạy trốn sang Ai Cập. Đến khi Jesus lên 12 tuổi thì bị lạc tại Đền Thánh. Nhưng bà Maria vẫn tin tưởng con mình là Đức Chúa Trời và đồng thời cũng là chồng của mình, còn ông Joseph chỉ là chồng hờ để che mặt thế gian. Các tu sĩ lập đạo Kitô cũng như tu sĩ Ai Cập đều là những kẻ bệnh hoạn mang mặc cảm loạn luân với mẹ như chuyệp Odipus của Hy Lạp loạn luân với mẹ là Jocasta. Kinh Thánh Tân Ước của Luca viết: "Thiên Thần nói với bà Maria là Chúa Thánh Thần sẽ đến cùng Người và Thiên Chúa Tối Cao sẽ "phủ" người, cho nên vật thánh thiện sẽ được sinh ra bởi Người được gọi là Thiên Chúa". (And the Angel answered and said to her: The Holy Spirit shall come upon thee and the power of the Highest shall overshadow thee, therefore also that holy thing which shall be born of thee shall be called the Son of God – Luke I:35).

Thiên Chúa Ba Ngôi nhưng thực ra là một ngôi, Jesus cũng chính là Đức Chúa Thánh Thần. Nếu Đức Chúa Thánh Thần "phủ" bà Maria thì cũng chính là Jesus đã "phủ" mẹ mình chẳng khác gì chuyện thần thoại Ai Cập: Bà Isis được thần Mặt Trời "phủ" sinh ra Horus và chính Horus là Thần Mặt Trời! Xin đọc thêm Deceptions and Myths of The Bible, p. 377).

Những tín đồ Kitô Giáo nguyên thủy không để ý đến chuyện loạn luân nói trên vì họ không tin bà Maria đồng trinh.

Kinh thánh Tân Ước kể rõ tên 4 em trai của Jesus là James, Joses, Simon và Judas (không phải Judas Escariot) và 3 cô em gái nhưng không nêu tên (Matt 13:55-56). Kinh Thánh cũng ghi rõ Jesus là con trưởng của bà Maria chứ không phải con duy nhất (first born son – Matt 1:25). Kẻ duy nhất viết Tân Ước đã xuyên tạc nữ tính của bà Maria thành "đồng trinh" là ông Matthew [ Matthew là tên tác giả viết cuốn Tân Ước, vì vậy người ta đặt tên cuốn kinh nầy là Matthew.]

Và y đã trích dẫn kinh Cựu Ước nói tiên tri: "Chúa Cứu Thế sẽ được sinh ra bởi người mẹ Đồng Trinh". Sự gian trá của Matthew đã bị các học giả nghiên cứu thánh kinh vạch mặt. Các học giả đã tìm khắp Thánh Kinh Cựu Ước không hề có một chữ "Đồng Trinh" nào cả vì dân tộc Do Thái từ xưa đến nay không có ý niệm này. Họ chỉ phân biệt người đàn bà có chồng (married) và chưa chồng (unwed) mà thôi. Chỉ có một câu duy nhất của tiên tri Isaiah nói rằng: "Chúa Cứu Thế sẽ được sinh ra bởi một người mẹ trẻ". Nguyên văn tiếng Hebrew là ALMAH nghĩa là trẻ (young) chứ không phải là đồng trinh (virgin)!

Sau khi tiêu diệt đạo Kitô nguyên thủy, các tu sĩ ở Vatican triệu tập công đồng Ephesus năm 431 để thiết lập giáo lý về Đức Mẹ. Tại Ephesus có đền thờ nữ thần Diana của La Mã vốn được mệnh danh là nữ thần Đồng Trinh (Goddess of Virginity). Tại cuộc họp này, các lãnh đạo giáo hội chủ trương biến Đức Mẹ Maria thành nữ thần Diana đồng trinh, mục đích là để thu hút các tín đồ của Đa Thần Giáo La Mã. (Babylon Mystery Religion – p.11).

Tín điều Đức Mẹ Chúa Trời (Master Dei/Mother of God). Danh hiệu "Đức Mẹ Chúa Trời" bắt nguồn từ Babylon. Dân Babylon tôn thờ thần Nimrod và tin rằng chính Nimrod là đức Chúa Trời (Baal) và mẹ của Nimrod được tuyên xưng là "mẹ Chúa Trời", tiếng Babylon là "Mea Domina". Theo sử gia Ý Hislop thì danh hiệu này được chuyển sang tiếng Ý là "Madonna". Các lãnh đạo giáo hội Công Giáo đồng hóa La Mã không ngoài mục đích thu hút tín đồ đông đảo vì họ đễ dàng cải đạo sang niềm tin tương tự. Hơn nữa, mục tiêu của chúng là biến Jesus thành Thiên Chúa cho nên một khi đọc kinh, tuyên xưng bà Maria là Mẹ Chúa Trời, đương nhiên tín đồ sẽ tự kỷ ám thị để tin rằng Jesus là Thiên Chúa.

Danh hiệu Đức Mẹ Mân Côi. Tháng năm là tháng hoa hồng, còn được gọi là tháng Mân Côi dâng hoa kính Đức Mẹ. Chuổi hạt dùng để đếm số lần đọc kinh Kính Mừng được gọi là Chuỗi hạt Mân Côi. Đức Mẹ Mân Côi là Đức Mẹ chuyên việc lắng nghe những lời cầu kinh được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Việc lần hạt Mân Côi dựa trên giáo lý Công Giáo cho rằng Đức Mẹ là trung gian (Mediator) giữa Thiên Chúa và loài người. Thiên Chúa được mô tả là một vị thần khó tính, dễ nỗi giận, rất hung dữ và hình phạt của Ngài rất khủng khiếp. Các tu sĩ lập đạo cố tạo ra một Thiên Chúa ghê gớm buộc mọi người phải sợ. Tín đồ đồng nghĩa với "kẻ biết kính sợ Chúa" (God fearer). Tín đồ muốn được ơn cứu chuộc và được bênh vực cần phải chạy đến cầu cứu các tu sĩ.

Bên cạnh Thiên Chúa hung dữ, các tu sĩ lập đạo tạo ra một bà mẹ nhân từ biết lắng nghe và sẵn sàng làm trung gian can thiệp để Thiên Chúa bớt giận và chấp thuận ban cho kẻ cầu nguyện những ơn này ơn nọ. Các tu sĩ lãnh đạo Công Giáo đã chọn Mẹ Maria làm đấng trung gian thần thánh đó. Linh Mục Greeley, Giáo sư Đại học Dublin mới đây tuyên bố: "Bởi sống trong một thế giới bị đòi hỏi phải sợ Chúa, nhân loại cần phải có ai đó giúp đỡ chúng ta chống lại sự sợ hãi" (Because in a world asked to be God-fearing, humankind requires someone to help us fight the fear). Đức Mẹ trở thành một trung gian đắc lực của Vatican: Trong thời chiến, Vatican biến Đức Mẹ thành vị tướng quân sự thúc quân ra trận. Trong những đoàn thập tự quân thường có những lá cờ về hình Đức Mẹ với dòng chữ "Hãy tiến lên, những người lính của Chúa Kitô" (onward Christian soldiers!). Trong thời bình, Đức Mẹ biến thành Nữ Vương Hòa Bình (Regina Pacis), các tu sĩ vẫn hốt bạc bằng những thùng tiền đặt bên cạnh các tượng ảnh của "Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp", bằng "Đền Thánh Khiết Tâm Mẹ" với những bản liệt kê in sẵn chỉ cần đánh dấu (X) vào những ô vuông bên cạnh: Xin được khỏi bệnh, xin được khỏe mạnh, xin được thành công trong việc làm ăn, xin cho tìm thấy người yêu lý tưởng... gửi về "Đền Thánh" bằng "Bussiness Reply Mail" [Thư hồi báo. Tem sẽ được trả bởi ngươi nhận.] với ghi chú "Postage will be paid by addressee", tất nhiên trong thư phải kèm theo chi phiếu vô hạn định!

Tuy được tuyên xưng là Đấng Trung Gian giữa Thiên Chúa và loài người, trong thực tế, Đức Mẹ đã trở thành một món hàng hấp dẫn hốt bạc cho các dòng tu và cha cố. Giáo lý dạy Đức Mẹ là Đấng Trung Gian hoàn toàn đi ngược với Thánh Kinh vì Thánh kinh đã xác định chỉ có một mình Chúa Jesus là trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và con người. (There is one mediator between God and men, the man Christ Jesus – I Thimothy 2:5). Giáo Hội Công Giáo khuyến khích giáo dân lần chuỗi Mân Côi và được giáo dân ngoan ngoãn hưởng ứng. Người ta tính ra có tới 46.296 lời kinh Kính Mừng được đọc trong một giây. Đến Thiên Chúa cũng không nghe kịp chứ đừng nói tới Đức Mẹ. (Babylon Mystery Religion P.18). Việc lần hạt cầu kinh là một thói quen trong tôn giáo của Ai Cập từ nhiều ngàn năm trước Công Nguyên. Người Do Thái cũng bắt chước làm theo. Trong thời gian giảng đạo tại Jerusalem, Chúa Jesus đã công khai ngăn cấm việc đọc kinh nhắc lại bằng cách lần hạt. Ngài nói: "Khi cầu nguyện, anh em đừng nhắc đi nhắc lại vô ích như những người ngoại giáo vì họ tưởng rằng lời cầu nguyện của họ sẽ được lắng nghe chỉ vì nói nhiều. (When ye pray, use not vain repetitions as the heathen do: for they think that they shall be heard do: for they think that they shall be heard for their much speaking – Matthew 6:7). Những kẻ cầu nguyện Chúa qua trung gian Đức Mẹ bằng những chuỗi hạt Mân Côi chỉ có thể làm cho Chúa nổi giận. Chúa không thể chấp nhận các lời cầu nguyện được vì chính họ đã làm những điều Chúa ngăn cấm!

Tín điều Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. (The dogma of Immaculate Conception). Tín điều này bắt đầu từ chuyện Vườn Địa Đàng (Garden of Eden) do các tu sĩ lập đạo Do Thái viết Cựu Ước sao chép từ chuyện thần thoại Babylon là chuyện "Gan Eden", tiếng Babylon có nghĩa là "Khu Vườn Phương Đông".

Babylon là xứ sở văn minh nhất ở vùng Cận Đông từ 5500 năm trước Công Nguyên. Đến thế kỷ 4 trước Công Nguyên, do sự đổi dòng bất ngờ của con sông Euphrate gây trận lụt lớn chưa từng thấy, chôn vùi toàn vùng Babylon xuống dưới những lớp cát sa mạc. Từ đó, loài người ít ai biết tới Babylon và kho thần thoại của nó. Mãi đến giữa thế kỷ 19, các nhà khảo cổ mới tìm thấy Babylon (cách thủ đô Baghdad cuả Iraq 80 dặm về phía Nam đến biên giới Kuweit ngày nay). Sau hơn một thế kỷ đào xới, các nhà khảo cổ đã tìm thấy hàng trăm ngàn tấm đất sét nung khô với chữ viết giống như những cái nêm cối (cuneiform) và người ta đã đọc được những chuyện thần thoại giống như những chuyện kể trong kinh Thánh Cựu Ước Do Thái với những tên nhân vật hao hao giống nhau. Những chuyện thần thoại của Babylon đã lan tràn ra khắp các vùng Cận Đông. Đến thế kỷ 3 trước Công Nguyên, Alexander The Great (A-lịch-sơn Đại đế) chiếm Cận Đông thì ngôn ngữ Hy Lạp trở thành ngôn ngữ chính của vùng này. Các chuyện thần thoại đó được dịch sang Hy Lạp và truyền sang Âu Châu. Có nhiều danh từ của Babylon trở thành căn ngữ trong nhiều ngôn ngữ ở Âu Châu, nhưng vì Công Giáo La Mã tiêu diệt Kitô Giáo nguyên thủy, tiêu diệt luôn văn hóa Hy Lạp và các dấu vết thật về Chúa Jesus trong thế kỷ 4 nên sau này người ta đã không biết nguồn gốc của các chuyện kể trong Thánh Kinh Cựu Ước cũng như Tân Ước. Các công trình lớn lao của ngành khảo cổ đã là chiếc chìa khóa vạn năng mở toang cánh cửa bí mật của quá khứ đen tối do Công Giáo La Mã đã tạo ra để che dấu sự lừa dối. Trước đây, ai cũng tưởng nhân vật Abraham là có thật trong lịch sử lập quốc Do Thái, nhưng nhờ khoa khảo cổ, người ta mới biết Abraham chỉ là nhân vật thần thoại của Babylon.

 

THẦN THOẠI JESUS CHÚA CỨU THẾ

 Thần thoại Babylon kể rằng: Thần Đất Terah sinh ra một "vị thần con" tại thành phố UR (có nghĩa là Ánh Sáng) tên là Abarama (a god) và thần Abarama lấy em gái mình là Sarai làm vợ.

Các tu sĩ lập đạo Do Thái vớ lấy chuyện này để viết Cựu Ước Sáng Thế Ký (Genesis) phịa chuyện lập quốc Do Thái: Cha của Abraham (hoặc Abrama), là Terah vốn sinh sống tại thành phố UR. Sau này Abraham lớn lên đã lấy em gái mình là Sarah làm vợ và được các tộc trưởng Do Thái tại Babylon bầu làm lãnh tụ dẫn dân Do Thái rời Babylon về vùng đất hứa là Canaan [Nước Palestine bây giờ.] để lập quốc. Chuyện thần Đất Terah truyền tới Âu Châu vào thế kỷ 3 trước Công Nguyên và trở thành căn ngữ của tiếng La Tinh "Terra" và tiếng Pháp "Terre" nghĩa là Đất.

Thần thoại Kitô cũng xuất phát từ Babylon từ nhiều ngàn năm trước khi có đạo Do Thái. Ta có thể tìm thấy dấu vết của thần thoại này ngay trong sách Sáng Thế Ký (Genesis) của Cựu Ước.

Sách Sáng Thế Ký kể rằng: " Những đoàn người du mục đến định cư tại Shinar và lập nên thành phố Babylon (có nghĩa là Cổng Trời: Gate of God). Babylon về sau trở thành đế quốc (Gen 11:2). Tại đây có hai con sông lớn là Euphrate và Tigris. Vùng đồng bằng của hai sông này rất phì nhiêu nhưng có rất nhiều thú dữ ăn thịt người (Exodus 23:29-30). Một người thợ săn rất hùng mạnh tên là Nimrod (the mighty hunter before God – Gen 10:8-9) diệt thú dữ cứu dân. Về sau lên làm vua cai trị rất anh minh. Vương quốc của Người gồm có Erech, Accad và Calneh (Gen 10:10). Khi Nimrod chết, dân Babylon vì quá yêu thương đã khóc lóc thảm thiết. Bà vợ của Nimrod là Semeramis chặt xác Nimrod thành những miếng nhỏ đem nướng chín gửi đi khắp nơi cho dân chúng ăn cho bớt đau khổ (Judges 19:29, Sam 11:17). Bà Semeramis lúc đó đang mang thai đã hứa với dân chúng rằng bà sẽ sinh một con trai đặt tên là Tamuz. Con trai này sẽ là Chúa Cứu Thế và là Nimrod tái sinh. Từ đó, Tamuz được dân chúng mong mỏi ra đời cứu thế. Đó là ý niệm đầu tiên về Chúa Cứu Thế (Savior) mà người Do Thái dịch ra là Messiah. Đến thế kỷ 3 trước Công Nguyên, do đế quốc Hy Lạp chiếm toàn Cận Đông và Âu Châu nên thần thoại Babylon về Chúa Cứu Thế được dịch sang tiếng Hy Lạp là CHRISTOS (Savior) người Hán phiên âm là Cơ Đốc. Babylon nằm giữa hai dòng sông Euphrate và Tigris được người Hy Lạp đặt tên là Meso-Potamia (Meso: Middle, Potamia: Rivers). Người Hán dịch thành Lưỡng Hà Châu.

Từ huyền thoại Chúa Cứu Thế Nimrod và Talmuz, người Babylon lập ra đạo thờ Thiên Chúa mà họ gọi là BAAL hoặc BAL vì họ tin rằng Nimrod chính là Bal. Cũng tương tự như người Công Giáo thờ Jesus vì tin rằng Jesus là Chúa Kitô và Kitô là Ngôi Hai Thiên Chúa, cũng chính là Thiên Chúa Toàn Năng!

Đạo thờ Thiên Chúa BAL thường bắt con nít hoặc các thiếu nữ làm vật hy sinh tế thần. Tượng thần rất lớn, cao cỡ 10 mét, hai bàn tay thần to bằng hai cái chảo lớn được đun nóng từ cái lò trong tượng thần. Các tu sĩ tế thần (được gọi là CAHNA) ném các nạn nhân trần truồng vào hai bàn tay của thần. Trong lúc đó các tu sĩ nhảy múa, đánh trống và phèng la inh ỏi để khỏa lấp tiếng thét ghê hồn của các nạn nhân đang bị nướng sống và tiếng khóc thảm thiết của thân nhân các nạn nhân. Từ đó phát sinh ra danh từ CAHNA-BAL (Priest of Bal) có nghĩa là "Những kẻ ăn thịt đồng loại" vì sau khi tế thần, các tu sĩ đạo thờ thần Bal chặt nhỏ xác các nạn nhân lúc đó đã chín để chia nhau ăn.

Tục lệ dã man này của Babylon du nhập vào đạo Công Giáo La Mã thành "Phép Mình Thánh Chúa" mà ta thấy trong các lễ Mi-sa ở nhà thờ hiện nay. Giáo dân lên rước lễ tưởng tượng được ăn thịt uống máu thật của Jesus. Họ đã trở thành một lũ mọi ăn thịt người mà Tây Phương gọi là CANNIBAL (Anh Ngữ) hoặc CANNIBALE (Pháp Ngữ) là danh từ có xuất xứ từ CAHNA-BAL của Babylon mà ra.

Việt Nam là một dân tộc có tinh thần nhân bản, ai cũng phải rùng mình ghê sợ khi nghe chuyện tế thần bằng người sống như đạo thờ thần Bal của Babylon. Chúng ta chưa từng nghe thấy những chuyện dã man tương tự trong lịch sử dân tộc. Tổ tiên chúng ta chỉ cúng Trời bằng bông hoa, trái cây hoặc bánh chưng bánh dầy được làm ra từ các sản phẩm nông nghiệp.

Cách thờ cúng của dân tộc ta và cách thờ cúng của Babylon (hoặc Công Giáo) phản ảnh hai nền văn hóa khác hẳn nhau. Một bên là nền văn hóa nông nghiệp nhân bản, còn bên kia là nền văn hóa du mục phi nhân bản.

Người Việt Nam từ bỏ đạo của ông bà tổ tiên đi theo đạo Công Giáo là đã từ bỏ cái nguồn gốc nhân bản của mình để trở thành kẻ mọi ăn thịt người (cannibal) của nền văn hóa du mục phi nhân bản. Họ cứ tưởng đi theo đạo của Tây Phương là đã trở thành kẻ văn minh, rồi lên mặt khinh rẻ dân tộc và nền văn hóa nhân bản của tổ tiên. Họ đâu có ngờ họ đã trở thành những kẻ mọi rợ ăn thịt người, dù chỉ là tưởng tượng. Từ tâm linh văn minh biến thành tâm linh bán khai mọi rợ mà vẫn không biết mình đã biến thành bán khai mọi rợ từ lúc nào và do đâu!

Cũng từ cái thần thoại Chúa Cứu Thế Nimrod mới phát sinh danh từ MESSIAH của Do Thái có nghĩa là Chúa Cứu Thế (Savior) ngụ ý "Vua Nimrod mới hoặc "vua David mới" (Messiah means a new King David). Người Do Thái định nghĩa MESSIAH (tiếng hy Lạp là Christos – Anh Pháp Christ) phải là "đấng giải thoát mọi kẻ bị áp bức" (to let the oppressed go free – Isaiah 58:6). Họ không tin Jesus là Messiah/Christ vì Jesus chẳng cứu được ai.

Người Công Giáo đã lầm lẫn đồng hóa Jesus với Kitô. Jesus là người thật, sinh khoảng năm thứ 4 trước Công Nguyên, bị đóng đinh năm 29 lúc 33 tuổi, cao 1m82 và cân nặng 79 kí. Kitô là huyền thoại xuất phát từ Babylon và được nhập cảng từ đạo Do Thái. Các tu sĩ lưu manh lập đạo Kitô đã viết Tân Ước bằng cách dẫn chứng bậy bạ những điều nói trong Cựu Ước liên quan đến Messiah để biến Jesus thành Kitô. Sự việc Jesus được Kitô hóa (Jesus was Christed) đã được các nhà khoa học, các học giả và nhất là các nhà khảo cổ vạch mặt. Kẻ viết Tân Ước cố ý gán ghép mọi dẫn chứng giả tạo để người đọc nghĩ rằng Jesus thuộc dòng dõi vua David vì người Do Thái định nghĩa Messiah (Kitô) là vua David Mới sẽ được sinh ra để cứu dân tộc Do Thái. Về sau, các tu sĩ đạo Kitô đã biến ý nghĩa Messiah lúc ban đầu chỉ có nghĩa là anh hùng dân tộc (Savior of the People) trở thành Đấng Cứu Chuộc toàn thể loài người (The Redeemer). Nền văn hóa du mục phi nhân bản Babylon là linh hồn của đạo Công Giáo đã làm cho người Công Giáo Việt Nam mất hết dân tộc tính. Nước rửa tội là một thứ a-xít đã hủy diệt cái ánh hào quang dân tộc trên đầu của mọi người Công Giáo Việt Nam! Vào năm 40, hai bà Trưng đã cứu dân tộc ta chống quân xâm lược phương Bắc để dành độc lập cho tổ quốc. Hai Bà Trưng là hai Chúa Cứu Thế của dân tộc ta. Hai Bà Trưng xấp xỉ bằng tuổi Jesus, là những vị anh hùng đích thực của dân tộc thì người Công Giáo Việt Nam lại coi thường và khinh rẻ. Trái lại, cũng vào thời điểm của Jesus thì dân tộc ta bị Tàu đô hộ, một phần vì Jesus thất học chẳng biết nước Giao Chỉ nằm ở nơi nào trên thế giới, phần khác Jesus còn mãi đi giảng đạo ở Jerusalem, đâu có giúp ích gì cho đất nước Việt Nam? Và giả sử có muốn cứu Việt Nam cũng chẳng cứu nỗi vì chính Jesus cũng không cứu nỗi bản thân và dân tộc Do Thái. Vậy hà cớ gì mà Công Giáo Việt Nam phải tôn thờ Jesus làm Chúa Cứu Thế của mình? Sự ngu dốt chứ không phải Đức tin đã là nguyên nhân chính yếu dẫn đến cái chết của những người tử đạo Việt Nam. Vinh danh tử đạo Việt Nam là vinh danh sự ngu dốt và tôn vinh tinh thần phản dân tộc. Người Công Giáo Việt nam hãy tỉnh ngộ để sớm rũ bỏ cái độc chất văn hóa Babylon trong người ngõ hầu sớm biết từ bỏ kiếp sống con chiên (con lừa) để làm người đứng thẳng (homo-erectus) trước khi trở lại làm người Việt Nam. Tổ quốc Việt Nam có những người công dân đích thực Việt Nam anh hùng bất khuất dám hiên ngang tiêu diệt mọi kẻ thù xâm lược, bảo tồn lãnh thổ và danh dự làm người với truyền thống văn hóa cao không kém gì ai trên trái đất này.

Không phải đến bây giờ người ta mới nhận ra cái độc hại của nền văn hóa du mục Babylon, mà ngay trong sách Mặc Khải (Tân Ước của Gioan) cũng đã nguyền rủa cái nền văn hóa này "Huyền thoại, Babylon vĩ đại, là mẹ của các con điếm và các chuyện kinh khủng trên trái đất này". (Mystery, Babylon the great, the mother of harlots and abdominations of the earth – Rev. 17:1-6). Sách Mặc Khải Tân Ước muốn ám chỉ "mẹ của các con điếm" đó là ai; nếu không phải là cái giáo hội thối nát hư hỏng được xây dựng trên những huyền thoại của Babylon?

 

HUYỀN THOẠI VƯỜN ĐỊA ĐÀNG

Lịch sử nhân loại đã nhận ra cái hậu quả ghê gớm của huyền thoại "Gan Eden" kể chuyện Adam và Eva phạm tội. Chỉ vì dám ăn trái táo trị giá mấy chục cents (xu) mà cả loài người phải chết, đàn ông phải vất vả cực khổ mới kiếm được miếng ăn và đàn bà phải mang nặng đẻ đau mới sinh được đứa con của mình! Cái lỗi nhẹ đó của Adam đã đưa đến hậu quả là Con một của Thiên Chúa phải mất công xuống thế gian đầu thai làm người, phải chịu đánh đòn nhục nhã và chết trần truồng trên thập giá chỉ để "Chuộc tội tổ tông"? Nhưng cái chết thảm của Jesus cũng hóa thành vô ích vì tất cả cái hậu quả của tội tổ tông trên số phận của loài người vẫn còn nguyên vẹn: Con người vẫn phải chết, đàn ông vẫn phải vất vả kiếm ăn và đàn bà vẫn mang nặng đẻ đau như lúc Jesus chưa "cứu chuộc". Thật là xảo trá bịp bợm, Jesus chẳng cứu được ai, vậy tại sao lại cứ tôn vinh y là "Chúa Cứu Thế"? Khoa học khảo cổ đã chứng minh chuyện Vườn Địa Đàng chỉ là chuyện thần thoại bịa đặt, vậy làm gì có tội tổ tông thật đâu mà phải cứu chuộc? Ngay cả trường hợp chuyện Vườn Địa Đàng là thật chăng nữa thì hành vi của Adam cũng không phải là tội. Triết gia Baruch Spinoza (1632-1677) bậc thầy tư tưởng Tây Phương được xếp ngang hàng với Lão Tử của Đông Phương đã viết: "Ý muốn hay quyết định của Adam chẳng phải là xấu và cũng chẳng chống lại ý muốn của Chúa vì Chúa là nguyên nhân của điều đó... Chúa muốn kẻ ác hối hận tại sao Ngài cấm Adam ăn trái táo khi Ngài Phú cho ông ta ý muốn trái ngược?" (Adam’s will or decision was neither evil, properly speaking, contrary to God’s will, it follows that God can be its cause... God wants the wicked to repent, why did he forbid Adam to eat of the tree when he ordained the opposite – The Enlighten Minds by Stephen, p.142-143).

Một phần lớn cái trách nhiệm về tội ác của Kitô Giáo nói chung, của giáo hội Công Giáo nói riêng, có thể qui vào cho St. Augustine. Y là cha đẻ ra thuyết Thiên Chúa Ba Ngôi với tác phẩm "De Trinitate", Cha đẻ ra thuyết "Tội Tổ Tông" và thuyết "Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội". Y xác lập thuyết thần quyền cho giáo hội để buộc mọi chính phủ thế quyền phải thần phục giáo hội bằng tác phẩm "De Civitas Dei". Augustine sinh tại Algeria năm 354 (chết năm 430, 76 tuổi). Y được coi là người sáng lập đạo Kitô đứng hàng thứ hai sau Saint Paul (Phao lồ) và là tác giả của toàn bộ hệ thống tư tưởng Tây Phương thời Trung Cổ. Năm 396, y làm giám mục địa phận Hippo tại Algeria. [Trong suốt 6 thế kỷ đầu Công Nguyên, toàn vùng Bắc Phi, Cận Đông và Âu Châu đều là các nước theo Kitô Giáo. Sự xuất hiện và bành trướng mau chóng của Hồi Giáo thời Trung Cổ đã biến toàn Bắc Phi, Cận Đông và Nam Âu Châu kéo tới Ấn Độ trở thành các nước Hồi Giáo. Sự kiện này đã chặn đứng âm mưu xâm lược toàn cầu bằng chiêu bài Công Giáo của Đế quốc La Mã.]

Augustine say mê nghiên cứu và viết sách suốt trong 34 năm. Công trình của Augustine thật khá vĩ đại, chỉ tiếc cái vĩ đại đó là ông ta đã xây dựng cả một tòa lâu đài đồ sộ trên nền tảng thần thoại Vườn Địa Đàng của Babylon!

Augustine giải thích mọi đau khổ của loài người đều do tội lỗi nguyên thủy của Adam-Eva, gọi là tội tổ tông (the Origin Sin). Tội này di truyền cho con cháu muôn đời do sự giao cấu của cha mẹ. Giao cấu là tội lỗi. (God had condemned humanity to an eternal damnation simply because of Adam’s sin. The inherited guilt was passed on to all his descendants through the sexual act which was polluted by what is called concupiscence). Dựa vào lý luận này, Augustine viết thêm cuốn On Female Dress nhục mạ phụ nữ và tạo ra hệ thống nam tu sĩ của giáo hội Công Giáo và việc phụ nữ bị từ chối phong chức linh mục.

Augustin gọi mỗi phụ nữ là một Eva, đồng lõa với ma quỉ, xúi giục đàn ông chống lại Thiên Chúa. Vì tội lỗi xấu xa của phụ nữ mà Con Thiên Chúa phải chết. Đàn bà là kẻ đào ngũ khỏi luật của Chúa. Đàn bà phá hoại đàn ông là hình ảnh của Thiên Chúa... (You are each an Eve. You are the devil’s gateway. You are the unsealer of that forbidden tree. You are the first deserter of the divine law. You so carelessly destroyed man, God’s image. On account of your desertion, even the Son of God had to die). Tuy nhiên, chỉ có một phụ nữ duy nhất trên thế gian không bị Augustine nguyền rủa là Đức Mẹ Maria. Augustine lý luận: Đức Mẹ không giao cấu với Joseph. Đức Mẹ sinh ra Chúa Jesus vẫn còn đồng trinh nên Mẹ là đấng Vô Nhiễm Nguyên tội (The Immaculate Conception).

Những lý luận trên của Augustine thống trị linh hồn Âu Châu suốt trong hơn 1000 năm! Mãi đến giữa thế kỷ 16, bỗng nhiên xảy ra một cuộc bút chiến giữa hai phe thần học Công Giáo. Phe cấp tiến cho rằng Chúa Jesus cũng mắc tội tổ tông vì bà Maria sinh ra do sự giao cấu của cha mẹ, Jesus chỉ được miễn 50% vì cha là Đức Chúa Tinh Thần. Cuộc bút chiến kéo dài lai rai trong 30 năm và bị tòa án Dị Giáo đàn áp dữ dội nên không thể bùng lên được. Biết bao sinh mạng đã phải lên dàn hỏa vì cái chuyện lẩm cẩm này! Đó là cái gọi là "nền văn minh Kitô Giáo" (The Christian civilization).

Đến giữa thế kỷ 19, khi nền dân chủ Tây Phương đã khá lớn mạnh và uy quyền của Vatican đã bị giảm sút, cuộc bút chiến về cái trinh của Đức Mẹ lại bùng lên. Giáo Hoàng Piô IX dùng mọi biện pháp dập tắt cuộc bút chiến. Đến năm 1854, y công bố tín điều "Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội". Để cho giáo dân thêm tin tưởng vào tín điều này, giáo hoàng âm mưu với giáo hội Pháp phịa ra vụ Đức Mẹ hiện ra ở hang núi hẻo lánh Massabielle thuộc tỉnh Lourdes (Tây Nam nước Pháp). Đức Mẹ tiếp xúc với một cô gái quê tên Bernadette và Mẹ tự xưng là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội (I am The Immaculate Conception). Nhiều giáo dân tiến bộ không tin phép lạ ở Lourdes (Lộ Đức) và đặt vấn đề về thẩm quyền tuyên bố tín điều của giáo hoàng. Do đó, giáo hoàng Pio IX phải triệu tập Công Đồng Vatican I vào năm 1869. Kết quả Công Đồng I chấp thuận tín điều "Giáo Hoàng Bất Khả Ngộ" [Không thể sai lầm.]

(The dogma of Papal Infallibility). Nhờ có tín điều này, năm 1950, Giáo Hoàng Pio XII công bố thêm một điều nữa về Đức Mẹ. Đó là Tín điều "Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời" còn gọi là "Đức Mẹ Mông Triệu (The Assumption).

Tổng giáo phận Sài Gòn sáng tác một bài kinh để mừng kính Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (Nhựt khóa trang 499) nghe rất cải lương như sau: "Thung thăng chân bước thang mây, tay chắp mặt vui áo tỏa. Hớn hở gót nương cung nguyệt. Khí thanh gió mát trời quang. Xuân Thu bà đã quá sáu tuần về chầu Chúa bởi lòng kính mến. Môn đệ Chúa họp gần đủ mặt Ba Ngôi thảy yêu đương, xưa đời giữ phận khiêm nhường xưng mình là tôi tớ Chúa. Nay rời khỏi thế gian nên vì cao trọng. Bà đáng chức Nữ Vương. Xưa, Ngôi Hai ngự trong lòng Bà dư chín tháng ơn thiêng gồm đủ. Rày Chúa Cả thưởng công Mẹ quyền cai trị chín trời, chức đặt chủ bầu bốn biển. Sang quá đỗi sang. Nay xin Ơn Thánh hằng giúp con, sau nguyện đặng lên trời với Mẹ. Amen".

Để củng cố và nhắc nhở các tín đồ Công Giáo về các tín điều mới này về Đức Mẹ cũng như tín điều "Giáo Hoàng không thể sai lầm.", Vatican ra lệnh cho các giáo hội phải xây thêm trong khuôn viên nhà thờ một hang đá Lộ Đức. Lệnh của Tòa Thánh ban ra chỉ được vài nước Âu Châu như Pháp, Ý, Tây Ban Nha thi hành còn toàn Bắc Mỹ đa số theo phe cấp tiến không chịu tuân lệnh. Do đó, ta thấy ở Mỹ và Canada gần như không có nhà thờ nào xây hang đá Lộ Đức. Ở Việt Nam thì ngược lại, nhà thờ nào cũng xây thêm hang đá Lộ Đức. Đó là một bằng chứng cụ thể về tinh thần nô lệ của giáo hội Công Giáo Việt Nam. Bất cứ một lệnh nào được ban ra từ Vatican cũng đều được các tu sĩ Việt Nam tuân hành răm rắp!

Tuyệt đại đa số giáo dân trình độ tâm linh quá thấp đâu ngờ khi họ xếp hàng đi xưng tội, chính họ còn ít tội hơn kẻ ngồi ở phía sau tòa giải tội.

Hầu hết các tu sĩ là những kẻ đại gian ác ngụy trang dưới những lớp áo đen, áo đỏ, áo trắng đóng vai đạo đức giả để phỉnh gạt tín đồ. Bề ngoài, họ làm ra vẻ thuận thảo với nhau, thật sự bên trong nội bộ, họ ganh tị tranh đua nhau và sẵn sàng hạ thủ nhau để tranh quyền đoạt thế. Họ dùng đủ thủ đoạn để bòn rút tiền bạc xương máu của giáo dân, để xây nhà thờ nguy nga đồ sộ chỉ cốt để họ được vênh vang với đời . [Một số tu sĩ của tôn giáo khác cũng thế.]

Mái nhà thờ của họ càng lớn rộng bao nhiêu, càng che khuất ánh sáng mặt trời chân lý bấy nhiêu. Các bức tường của nhà thờ càng cao bao nhiêu càng ngăn cách giữa con người với nhau bấy nhiêu. Giáo sĩ là những con ký sinh trùng vừa ăn bám, vừa phá hoại xã hội. Họ tội lỗi cùng mình lại nắm quyền tha tội cho đám tín đồ vô tội hoặc ít tội hơn họ. Họ thực sự là một bọn cướp nguy hiểm hơn bọn cướp thường vì những kẻ cướp thường đều bị luật pháp trừng trị. Trái lại, bọn cướp đội lốt giáo sĩ lại được giáo dân tôn kính, đi lại tự do vênh váo và được xã hội tâng bốc là "những vị lãnh đạo tinh thần". Tất cả các tệ nạn này đều xuất phát từ sự thiếu hiểu biết của đại đa số giáo dân. Do vậy, việc giáo dục khai sáng tâm linh là vô cùng cần thiết để cứu nước và bảo vệ nền văn hóa nhân bản rất cao đẹp của dân tộc ta mà tuyệt đối đa số giáo dân không hề biết tới.

Trong giáo lý Công Giáo có rất nhiều điều sơ hở của những kẻ sáng lập đạo có thể khiến cho những người có óc tò mò tìm hiểu dễ dàng phát giác ra sự lừa bịp dối trá của giáo hội. Nhưng vì trình độ thấp kém của giáo dân, giáo hội vẫn tìm cách che lấp các sơ hở đó của giáo lý và qua mặt giáo dân dễ dàng. Khi tôi còn rất nhỏ, tôi thường được cô tôi là một dì phước dạy giáo lý. Bài giáo lý đầu tiên trong đời tôi được cô tôi hỏi đi hỏi lại rất nhiều lần. Bà biết tôi đã thuộc như cháo nhưng bà vẫn hỏi để có cớ cho tôi quà. Mỗi lần có dịp đến thăm gia đình tôi, bà thường ôm tôi vào lòng âu yếm hỏi và tôi đáp như máy:

- Cháu con ai?

- Con Đức Chúa Giời.

- Cháu ai?

- Cháu ông Adong.

- Dòng dõi ai?

- Dòng dõi vua David.

Cả tới nửa thế kỷ sau, tôi không hề thắc mắc về những điều đó, nhưng rồi sau đó, tôi mới thấy cái vai trò quan trọng của vua David trong giáo lý Công Giáo. Đó là vì dân Do Thái quan niệm Chúa Cứu Thế (Christ-Messiah) là "vua David mới" phải là người thuộc dòng dõi của vua David, cũng tương tự như người Babylon quan niệm Chúa Cứu Thế (Savior of People) phải là con của vua Nimrod. Do đó, kẻ lập đạo Kitô phải viết sách làm sao để người đọc tin rằng Jesus là người thuộc dòng dõi của David thì Jesus mới có thể là Messiah (Kitô) đã được Cựu Ước Do Thái tiên tri. Tân Ước kể tiểu sử Jesus được viết trong thế kỷ I đã chứng minh mối tình tội lỗi của David với bà Bathseba đã sinh ra tổ tiên nhiều đời của Joseph là cha của Jesus. Do đó, Jesus đã thuộc dòng dõi vua David bởi cha mình là Joseph và đích thị là Chúa Kitô theo đúng Cựu Ước. Đến thế kỷ 3 và 4, lý thuyết về Thiên Chúa Ba Ngôi mới thành hình. Bọn lập đạo Công Giáo (Hoàng đế Constantine, Irenacuss, giám mục địa phận Lyon ở Pháp và Augustine là tác giả Kinh Tin Kính) chủ trương biến Joseph thành cha nuôi và Đức Mẹ phải là đồng trinh, cha của Jesus phải là đức Chúa Thánh Thần. Nhưng họ đã quên khuấy một điều là Tân Ước và Cựu Ước không có một điều nào nói về Đức Mẹ Maria thuộc dòng dõi của vua David. Thành ra, nếu Jesus là con của Đức Chúa Thánh Thần và bà Maria đồng trinh thì Jesus không thể là Kitô vì không thuộc dòng dõi vua David! Ngược lại, nếu chấp nhận Jesus thuộc dòng dõi vua David do cha mình là Joseph thì Đức Mẹ không còn đồng trinh! Để gỡ thế bí này, Vatican đã phịa ra những bài kinh cầu Đức Bà, kinh cầu Ông Thánh Gioakim và kinh cầu bà thánh Anna (là cha mẹ của bà Maria) để che lấp sơ hở nói trên của kẻ lập đạo Công Giáo.

- Kinh cầu Đức Bà có câu "Đức Bà là lâu đài David".

- Kinh cầu Ông Thánh Gioakim (Toàn niên Kinh Nguyện Bùi Chu do cơ sở Dân Chúa xuất bản. P.O Box 1419 Gretna LA 70053. Đại diện là LM Việt Châu – trang 1