(tiếp theo)
4. GIÁO HỘI GIAN ÁC
Trên đời này chẳng có tôn
giáo nào cao hơn Lẽ Thật vì Lẽ Thật là chân lý hằng cửu. Cũng chẳng có tình nào cao đẹp hơn tình người
với người, chứ không phải chỉ yêu Thiên Chúa, chà đạp con người như
các tu sĩ của Vatican. Cả cái hệ thống tu sĩ của Vatcian là
một tổ chức vĩ đại của những kẻ đạo đức
giả. Chúng dựng lên thần linh quái đản là Thiên Chúa Ba Ngôi rồi
nhân danh Thần Linh để khủng bố loài người và giết hại trên
200.000.000 sinh mạng vô tội trong 16 thế kỷ qua. Họ là cha đẻ ra
các tai họa khủng khiếp cho loài người qua các chế độ nô lệ, chủ
nghĩa diệt chủng Do Thái, chủ nghĩa phát Xít, chủ nghĩa Quốc Xã, chủ
nghĩa thực dân, chủ nghĩa kỳ thị phụ nữ, kỳ thị tôn giáo, kỳ thị
chủng tộc và thậm chí cả chủ nghĩa Cộng Sản.
Năm 1917, Vatican đã viện trợ cho đảng
Bolshervik của Lenin 660 triệu đô la (trị giá bằng nhiều tỷ đô la
ngày nay) để Cộng Sản lật Nga Hoàng và diệt Chính Thống Giáo cho
Vatican. Người Tây Phương có quá nhiều kinh
nghiệm về Vatican nên đã gọi nó bằng một danh từ rất tượng hình và
nhiều ý nghĩa, đó là Con Bạch Tuộc của Đức Chúa Trời (Octopus Dei). Sở dĩ mọi tổ chức tội ác còn tồn tại trên thế
giới ngày nay là vì cái đầu của con bạch tuộc là Vatican vẫn còn tồn
tại. Chỉ khi nào cái đầu của con bạch tuộc chết đi thì các
cái vòi của nó là các thứ chủ nghĩa tội ác mới thật sự bị tiêu diệt.
Tất cả các cuộc chiến đấu của nhân loại ngày
nay chỉ qui vào một cuộc chiến đấu duy nhất, đó là cuộc chiến đấu
của những người thiện lành chống lại những thế lực tội ác do Vatican
ngấm ngầm lãnh đạo. Con bạch tuộc khổng lồ Công Giáo La Mã cũng là
đầu não của mọi hình thức khủng bố: Tòa án
dị giáo với các dàn hỏa thiêu sống con người, bắt cóc ban đêm và đủ
kiểu tra tấn hết sức dã man không kể xiết. Muốn hiểu tòa án dị giáo
của Vatican kinh khủng như thế nào xin hãy đọc The Inquisition,
Hammer of Heresy của Edward Burman, 254 trang.
Dorset Press NY. 1992. Ngay trang đầu của cuốn sách, tác giả
viết: "Tòa án dị giáo đồng nghĩa với
khủng bố, bắt người ban đêm và đủ thứ tra tấn". Nó cũng được mô tả
trong The Pit and The Pendulum của Edgar Poe, trong kịch Opera của
Don Alhambra, trong những chuyện kinh dị của Gilber, Sullivan, Verdi
và cả trong thơ của Tennyson..." The (Inquisition is synonymous with
terror, noctural arrest and torture...)
Qua 16 thế kỷ gieo rắc
khủng bố cho loài người, tội ác chồng chất của Công Giáo La Mã đã
cao ngất như núi. Đã đến lúc cái giáo hội
của tội ác này phải đền tội và phải chết. Mới đây, nữ tu sĩ
Angelica là người đứng đầu hệ thống truyền hình Công Gíao Mỹ
"Eternal World Television Network" có 55 triệu khán giả tại 38 quốc
gia có hệ thống tiếp vận của nó, đã tuyên bố trong một talk-show
rằng: Thế giới Công Giáo không thể tránh khỏi đại thảm họa. Ngày tận
thế của nó chỉ trong tầm tay. (Its end
times are at hand). Mọi người Công Giáo đều tin rằng thế giới này sẽ
có ngày tận thế, nhưng họ đã lầm. Thế giới này vẫn muôn đời tồn tại,
chỉ có cái giáo hội khốn nạn của họ phải đến ngày tận số mà thôi!
Hòn đá tảng Phêrô đang
biến thành bùn và cả tòa lâu đài Vatican đang lún xuống bùn dưới sức
nặng của tội ác cao như núi đang đè lên đầu nó. Cái chết vô cùng nhục nhã của nó đang đến và
phải đến trong những năm của thế kỷ 21.
Cả thế giới còn lại sẽ thở phào nhẹ nhõm vì đã vứt đi được cái ung
nhọt cương mủ trên cơ thể nhân loại ròng rã trong hơn 16 thế kỷ qua
(tính từ ngày Constantine đẻ ra nó vào đầu thế kỷ thứ tư). Cả
loài người thiện lành sẽ từ đây ung dung bước đi chững chạc vào một
trật tự thế giới mới trong ánh bình mình đẹp vô cùng của thiên niên
kỷ thứ ba. Khi "con bạch tuộc của Chúa Trời" không còn nữa, tất cả
loài người sẽ dành lại vườn địa đàng của mình là trái đất này để
kiến tạo cuộc sống thanh bình hạnh phúc cho các thế hệ con cháu đến
muôn đời. Hallelujah! Hallelujah!
Thượng đế [Chữ Thượng Đế
nói đây không cùng nghĩa với tín đồ Kitô giáo gọi.]
chứ không phải
Jehovah (con bò El) đã đang và mãi mãi tiếp tục kiến tạo vũ trụ hoàn
toàn trong thinh lặng. Ngài đã mặc nhiên trao
trái đất này cho toàn thể loài người chúng ta với lòng yêu thương vô
hạn của Ngài. Thượng đế yêu thương loài người nên chẳng bao
giờ Ngài muốn làm khổ con người. Chỉ có quỉ mới muốn làm khổ con
người nên đã xúi bậy con cái của nó là Công Giáo gieo rắc đủ thứ
tai họa cho loài người mà thôi. Chẳng có
tôn giáo nào do Thượng Đế tạo ra mà tất cả đều là sản phẩm của con
người. Tôn giáo chỉ có thể là chính đáng khi nó thật sự phục vụ con
người. Mọi thứ tôn giáo nhân danh Thượng Đế chà đạp con người đều là
tà đạo của sa tăng rồi phải bị tiêu diệt.
Thánh linh của Thượng Đế cũng như Phật tính đều có sẵn trong tâm
linh của mọi người chúng ta, đúng như lời Phật dạy: "Phật tại tâm".
Các thứ Phật hay Chúa trong các chùa và nhà thờ đều là đồ giả [Vì
thế nên một hôm trời lạnh, một vị thiền sư bảo đệ tử đem cái tượng
Phật bằng gổ chẻ làm củi.] do các tu sĩ của các tôn giáo tạo ra để
lừa bịp con người. Đỉnh cao của mọi thứ đạo đức
thật sự là lòng yêu thương Sự Thật. Tình yêu thương dàn trải giữa
mọi người với nhau là nguồn hạnh phúc vĩnh cửu trên cõi đời này. Đó là thiên đàng duy nhất có thật chứ chẳng có
một thiên đàng nào khác. Loài người làm khổ nhau do lòng tham
lam ích kỷ là địa ngục duy nhất có thật chứ cũng chẳng có một địa
ngục nào khác ở ngoài thế gian này.
Các tổ chức giáo hội là
nguyên nhân gây ra thảm họa cho loài người chúng ta. Giáo hội
tạo ra những ốc đảo tôn giáo chia rẽ con người. Các ốc đảo tôn giáo
đó tranh chấp nhau để dành tín đồ nhằm tụ bè kết đảng không ngoài
mục đích củng cố quyền lực cho các tu sĩ lưu manh của nhiều tôn giáo
chứ cũng chẳng riêng gì của Công Giáo La Mã.
Cả ba tôn giáo Phật Khổng
Lão đều đã du nhập vào nước ta gần 2000 năm qua mà dân tộc Việt nam
không hề coi ba tôn giáo đó là ngoại lai.
Cả ba tôn giáo, với các chủ trương đối nghịch nhau, đã hòa làm một
trong lòng dân tộc mà ta thường gọi là "TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN". Sở dĩ cả ba tôn giáo Phật Khổng Lão đã hòa đồng
một cách tốt đẹp như vậy là nhờ ở yếu tố của ba tôn giáo đều không
có giáo hội. Sau 1.11.1963, các tăng sĩ
Phật Giáo bắt chước Công Giáo thành lập "Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất". Như Vậy, Phật Giáo hình như đã chủ trương đi vào
con đường thế tục như Vatican từ đây? [Ban biên tập xin phép tác giả
bỏ một trang vì thấy thiếu sử liệu.]
Giáo Hội Công Giáo Việt Nam luôn luôn phục vụ
quyền lợi ngoại bang và đàn áp tôn giáo là một động lực thúc đẩy
nhiều người Phật Giáo tham gia Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất để chống lại Công Giáo. Đối với nhiều người Phật Tử thì Công
Giáo nguy hiểm hơn gấp trăm lần các tổ chức Cộng Sản, Công Giáo là
yếu tố khiến cho chiến tranh Việt Nam kéo dài và càng ngày càng thêm
thảm khốc.
Giáo Hoàng Gioan XXIII ủng
hộ việc lật đổ và tiêu diệt chế độ Ngô Đình Diệm vì cho rằng chế độ
Diệm đã đe dọa phá hoại chính sách hiệp thông của Vatican.
Giáo Hoàng Gioan XXII đã chính thức gửi văn thư
mắng nhiết Ngô Đình Diệm năm 63 về tội đàn áp Phật Giáo. Báo chí Hoa
Kỳ xác nhận: "Giáo Hoàng Gioan XXIII bí mật hợp tác với Cộng Sản để
chuẩn bị cho một nước Việt Nam thống nhất dưới chế độ Mác-xít của Hồ
Chí Minh". (Pope John XXIII secretly cooperated with the Communists
in preparing a future united Marxist Việt Nam under Ho Chi Minh).
Ngày 30.1.1967, báo chí thế giới loan tin về
cuộc tiếp tân của Giáo Hoàng Paul VI tại Vatican long trọng chào đón
thủ tướng Liên Xô Podgorny để củng cố sự hợp tác toàn diện với Liên
Xô và các nước Chư hầu của Cộng Sản tại Đông Âu (The new policy of
Paul VI of full cooperation with Soviet Russia and the Communist
satellites of Eastern Europe). Báo chí thế giới
cũng xác nhận Paul VI là cha đẻ ra liên minh Vatican-Moscow.
Liên minh này đã phá tan chiến lược chống cộng của Hoa Kỳ ở cả hai
lục địa Âu châu và Á Châu. Liên minh Công Giáo
với Cộng Sản đã trở nên một yếu tố quan trọng cho cuộc thất trận của
Hoa Kỳ tại Việt Nam. (Paul VI fathered the Vatican-Moscow
Alliance which undermined the Anti-Russian strategy of the US in
Europe and Asia. This alliance became an important factor in the
final defeat of the US is Viet Nam).
Paul VI dư biết Vũ Ngọc Nhạ là gián điệp Cộng
Sản qua hai đời tổng thống Công Giáo đã góp phần quan trọng trong
việc làm sụp đổ VNCH ngày 30.4.1975 nhưng y vẫn ban thưởng cho tên
gián điệp Cộng Sản này huy chương cao quí của Tòa Thánh là "Huy
Chương Hòa Bình" có in hình của giáo hoàng . Vì thế, Việt Nam Cộng Hòa rất cay đắng không bao
giờ quên mối hận này đối với hai giáo hoàng Gioan XXIII và Paul VI.
Giáo Hoàng Jean Paul II hiện nay đang lên
tiếng kêu gọi nhân dân toàn thế giới tha tội cho các tội các của
Công Giáo La Mã trong 16 thế kỷ qua nhưng chưa đả động gì tới các
tội ác của Công Giáo đối với dân Việt Nam.
Trong chiến tranh, các cha
cố đã bòn rút viện trợ Mỹ che chở cho kẻ buôn lậu, đào binh, trốn
quân dịch. Nhiều giáo xứ Công Giáo là những khu
an toàn lý tưởng của Việt Cộng và các tội
phạm đủ loại.
Công Giáo Bùi Chu Phát Diệm
do Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi lãnh đạo chỉ
tôn thờ thực dân Pháp, trước cũng như sau 1954. Trước 1954, họ chống
Cộng điên cuồng, lợi dụng vũ khí của Pháp đi cướp phá các làng Phật
Giáo, chiếm chùa làm nhà thờ, giết hại dân lành để cưỡng bức người
ngoại đạo phải "trở lại đạo Công Giáo". Chúng chống Cộng sản do lệnh
của Giáo Hoàng Pius XII, một tên đồ tể của Đức Quốc Xã tại Rome.
Sau 1954, họ trở cờ hòa hợp với Cộng Sản, các
khu đông giáo dân như Hố Nai, Gia Kiệm là các trung tâm khai thác gỗ
bất hợp pháp. Họ phá rừng lấy gỗ kiếm tiền lo làm giàu và đóng thuế
nuôi Việt Cộng. Hoàng Quỳnh, Lê Hữu Từ liên kết với bọn Mafia Bảy
Viễn chống VNCH để làm lợi cho thực dân Pháp và Vatican của John
XXIII và Paul VI. Ngày 12.11.1974, tập đoàn Hoàng Quỳnh Vũ Ngọc Nhạ
và các nghị sĩ Công Giáo trong liên minh Nguyễn Gia Hiến đã đến xã
trung lập Củ Chi gặp gở các đại diện của MTGPMN và Cộng Sản Bắc Việt
để lập chính phủ ba thành phần thân Cộng Sản (Sách Ông Cố Vấn tập 3,
trang 32-33).
Tất cả các Việt gian trong thành phần thứ ba
gồm các cường hào ác bá của Bảo Hoàng trong chính quyền và quân lực
VNCH, cũng như các tu sĩ làm chính trị đã là các thủ phạm chính yếu
dẫn đến sự sụp đổ của VNCH ngày 30.4.75.
Tất cả chúng đều bỏ chạy
sau 30.4.75 và hiện đang chiếm lãnh các tổ chức cộng đồng người Việt
tại hải ngoại. Họ liên tục chống phá tại hải ngoại dưới các
hình thức chống Cọng giả vờ như đòi Nhân quyền Dân chủ cho Việt
Nam... chúng đang lớn tiếng hô hào Tự do Tôn Giáo, thực chất là để
biến tôn giáo thành nơi trú ẩn an toàn cho bọn Việt gian đủ loại ngõ
hầu sau này chúng sẽ xuất phát từ các giáo hội trở ra chống phá
chính quyền mới của Việt Nam.
Một số ít tu sĩ Phật Giáo
cũng đi vào con đường hủ hóa với lối sống xa hoa và hưởng thụ chẳng
khác gì các tu sĩ Công Giáo.
Với tổ chức giáo hội, Phật Giáo Việt nam có lẽ
đang đi vào vết bánh xe đỗ của Công Giáo
La Mã.
Tự do tín ngưỡng (Freedom of beliefs) là một
hình thức của tự do tư tưởng không có nghĩa là tự do thành lập giáo
hội. Mọi người đều có thể có tín ngưỡng (niềm
tin) của riêng mình nhưng không nhất thiết phải có giáo hội.
Tín ngưỡng là niềm tin trong lòng, còn giáo hội là một tổ chức có hệ
thống tu sĩ chỉ huy và với những đoàn thể được đoàn
ngũ hóa để theo đuổi những mục tiêu nặng
về thế tục hơn là tâm linh tôn giáo. Giáo hội là
định chế chính trị lũng đoạn quốc gia và chia rẽ dân tộc. Muốn bảo toàn sự thống nhất quốc gia và hạnh
phúc dân tộc, việc cần thiết là phải xóa bỏ mọi tổ chức giáo hội,
không phân biệt là của tôn giáo nào.
Sở dĩ Công Giáo La Mã đã biến thành một tổ
chức tội ác lớn nhất lịch sử loài người chính vì nó đã tiêu diệt các
chi phái Kitô để thành lập một giáo hội duy nhất do đế quốc lãnh
đạo. Trước thế kỷ thứ 4, Kitô Giáo đã có nhiều chi phái chủ trương
không thành lập giáo hội, không xây nhà thờ mà chỉ có phòng hội,
không thờ ảnh tượng và không có giáo lý cứng nhắc.
Giáo phái Macionism gọi
Jehovah của đạo Do Thái là quỉ. Họ tin rằng Thiên Chúa thật
phải là Thiên Chúa của Tình Thương (Real God: God of Love).
Giáo phái Gnosticism thịnh
hành tại Ai Cập và Tiểu Á, phân biệt Tinh Thần là Thiện, Vật Chất là
Ác. Thiên Chúa là Tinh Thần cao thượng
còn Vật Chất (matter) là Satan, biểu tượng của lòng tham vật dục
thấp hèn. Họ cho rằng con rắn cám dỗ Adong Evà không phải là
Satan mà là vị thần của sự khôn ngoan và tinh thần cao thượng. Con
rắn đó thật tâm muốn giúp tổ tiên loài người ăn
trái cây hiểu biết (The Tree of Knowledge) để trở nên khôn ngoan
sáng suốt ngõ hầu thoát khỏi sự thống trị độc đoán của Jehovah. Con
rắn không phải là quỉ mà là một đại ân
nhân của loài người. Chỉ vì lòng sợ hãi hèn yếu mà Adong Evà đã
không dám ăn trái cây hiểu biết nên đã không thoát ra được kiếp sống
đau khổ triền miên do sự áp chế của ác thần Jehovah.
Jesus là thần Logos, hiện thân của sự khôn
ngoan, dạy loài người thoát khỏi trầm luân của thế giới vật chất. Jehovah không khôn ngoan bằng Logos. Danh từ Hy Lạp Gnostic có nghĩa là sự hiểu biết
(knowledge), muốn ám chỉ Jesus là sự hiểu biết đích thực.
Giáo phái thứ ba là giáo phái thịnh hành tại
Pháp do Irenaeus, giám mục tại Lyon, chủ trương.
Năm 185, Irenaeus viết sách Against the Heretics" để chống lại hai
giáo phái Macionism và Gnostic. Iranaeus
chủ trương công nhận Jehovah của đạo Do Thái là Chúa Cha.
Jesus là con duy nhất của Jehovah. Ý niệm về Đức
Chúa Thánh Thần rất mơ hồ. Irenaeus xác
quyết Chúa Jesus thực hiện cuộc cứu thế bằng cái chết đau khổ và 3
ngày sau sống lại hiển vinh. Cuốn sách Against the Heretics
đã dọn đường cho sự hình thành bản tóm lược giáo lý gọi là "Đức Tin
của các tông đồ" The Creed of Apostles) được Công Đồng Nicaea do
Constantine triệu tập thông qua. Đó là sự xuất
hiện của bài kinh đầu tiên của Đạo Công Giáo La Mã gọi là Kinh Tin
Kính. Công Giáo La Mã là tôn giáo được
cấu tạo bởi quyền lực của Constantine, dựa trên giáo lý của giám mục
Pháp Irenaeus và được hoàn chỉnh bởi Augustine (như có trình bày ở
đoạn trước).
Tất cả mọi giáo phái Kitô
khác đi ngược lại với giáo lý của Irenaeus và Augustine đều bị
Constantine và đế quốc La Mã tiêu diệt bằng bạo lực khủng bố. Có thể nói Công Giáo La Mã là tôn giáo của Chủ
nghĩa khủng bố quốc tế. Cuộc chiến đấu của nhân loại ngày nay
là cuộc chiến đấu của những người thiện lành chống lại các thế lực
tội ác đã gieo rắc đau khổ cho con người từ xưa đến nay. Thế giới
chỉ có thể xây dựng được một trật tự mới khi nào các thế lực tội ác,
dẫn đầu là Công Giáo La Mã, phải bị tiêu tan hoàn toàn và triệt để.
Lương tâm và lương tri của nhân loại nhất quyết
không thể cho phép nó tồn tại lâu hơn để kéo dài thêm nữa những
chuổi ngày bi thảm của nhân loại.
Mọi người Việt Nam chúng ta phải góp công sức
cùng toàn thể những người thiện lành trên thế giới mau chóng đẩy con
quỉ Công Giáo La Mã xuống đáy địa ngục để chấm dứt hoàn toàn cái
lịch sử tội ác gần 2000 năm của nó. Cần từ bỏ ác thần Jehovah và đám
con cái của ác quỉ để dành lại vườn địa đàng của chúng ta là trái
đất này. Chỉ có ác quỉ chứ không phải Thiên Chúa mới xua đuổi con
người ra khỏi vườn địa đàng mà thôi.
Vatican trước đây đã đạt tới đỉnh cao danh
vọng do cấu kết chặt chẽ với các chủ nghĩa quân chủ phong kiến, chủ
nghĩa thực dân đế quốc, chủ nghĩa phát-xít và chủ nghĩa Đức Quốc Xã.
Nó cấu kết với các bố già Mafia Ý và bọn khủng bố quốc tế...
Tất cả các thế lực tội ác đồng lõa với Vatican
đã gần như đang bị dồn vào thế cô lập.
Ngày tận thế của nó không bao xa. Xưa kia
Jesus thường hăm dọa mọi người là ngày tận thế đã đến gần trong tầm
tay (Doomsday is at hand). Nhưng 2000 năm qua
vẫn không có tận thế và sẽ chẳng bao giờ có. Cái mà Jesus không biết tới là cái giáo hội Công
Giáo La Mã đang bên bờ "tận thế". Cái câu
nói của Jesus "Doomsday is at hand" chỉ đúng cho tình trạng hiện nay
của Công Giáo La Mã mà thôi. Lịch sử tội
ác của Công Giáo La Mã chống loài người là một hồ sơ dầy cộm đã đến
lúc phải kết thúc. Các giáo hoàng tự xưng là đại diện của
Chúa Cứu Thế (Vicars of Christ) chính là một danh hiệu làm nhục Chúa
Cứu Thế hơn bất cứ cái gì khác.
- Đại diện Chúa Kitô như Giáo Hoàng Innocent
(but not innocent) chỉ trong một buổi chiều giết 12.000 giáo dân tại
Rome vì những người này đã dám chống lại y. Giáo hoàng này vượt xa
hơn bất cứ một bạo chúa nào trên thế gian về tội giết người. Y là kẻ
đã phát minh ra tòa án dị giáo (the Inquisition) gieo kinh hoàng tại
Âu Châu liên tiếp trong 3 thế kỷ (13-16) và tiếp tục gây tội ác cho
đến giữa thế kỷ 19 mới chấm dứt. Nỗi ám ảnh của dân Âu Mỹ về tòa
án dị giáo được phản ảnh trong sử sách và
trong cả những chuyện ghê rợn của Allan Edgar Poe. Sullivan, Verdi,
Tennyson. Muốn tìm hiểu về tội ác của Giáo Hoàng Innocent này xin
hãy đọc The Inquisition Hammer of Heresy, 253 trang của Edward
Burman Dorset Press NY. 1992. Tội ác của Innocent kéo dài hơn 6 thế
kỷ,10 triệu sinh mạng hầu hết bị thiêu sống trên dàn hỏa. Tòa
án dị giáo là hiện tượng có tầm quan
trọng căn bản trong lịch sử Âu Châu. Đó là một
định chế xuất hiện từ thế kỷ 13 nhưng ảnh hưởng của nó còn kéo dài
đến ngày nay. (Phenonmenon of fundamental
importance in the history of Western Europe. As an
institution, it came into being in the thirteenth century.
Its effect are still felt today).
Tuy nhiên, đề cập đến tên
vô địch dâm tặc phải kể đến đấng đại diện Chúa Kitô là Rodrigo
Borgia tức "Đức Thánh Cha" Alexander VI (The Bad Popes, by E.R.
Chamberlin. Dorset Press NY. 1969
pages 159-205).
- Giáo Hoàng Alexander VI
cai trị Hội Thánh 11 năm (1492-1503). Lên ngôi giáo hoàng
không do ai bầu mà do cậu ruột là Giáo Hoàng Calistus III truyền
ngôi cho. Trước khi lên ngôi giáo hoàng thì y đã
có vợ và 4 con đã lớn và thêm một đứa con hoang ngoài hôn thú.
Việc đầu tiên là giáo hoàng phong chức cho đứa con trai tên Ceasare
18 tuổi và đứa con hoang chức vụ hồng y giáo chủ.
Năm 1497, Alexander VI định đưa con thứ tên Juan
lên ngôi giáo hoàng thì bỗng nhiên Juan bị giết bằng nhiều nhát dao
và bị ném xác xuống sông Tiber. Người ta
vớt xác Juan đem về cho giáo hoàng coi.
Giáo hoàng xúc động quá đến phát điên. Y cho rằng giới quí
tộc ở Rome đã hãm hại con trai yêu quí của y. Do đó, y bèn khởi động
một cuộc khủng bố đẫm máu chống giới quí tộc La Mã.
Tuy là một bạo chúa, nhưng
Alexander lại là một kẻ yêu chuộng nghệ thuật. Y đã để lại một kho tàng nghệ thuật là Đền Thánh
Phêrô với các bức họa và tượng điêu khắc của hai vô địch kỳ tài là
Michael Angelo và Leonardo Vinci. Chỉ vì muốn tạo cảm hứng
cho Leonardo Vinci có thể mô tả sự đau khổ một cách linh động, y có
sáng kiến đem các nạn nhân của tòa án dị
giáo ra tra tấn trước mặt nhà nghệ sĩ tài danh này. Alexander VI có
cô con gái rất xinh đẹp tên là Lucrezia. Mặc dù Lucrezia đã được gã
chồng nhưng hai anh của nàng đều yêu nàng nên đã sát hại chồng nàng.
Lucrezia trở về sống tại Tòa Thánh với cha ruột
và hai anh mình. Lucrezia làm tình với cả
cha và hai anh mình. Chỉ vì quá ghen,
Ceasar đã giết em là Juan chứ chẳng phải là ai khác trong giới quí
tộc La Mã. Mấy cha con của Giáo Hoàng Alexander VI thích ngồi
xem những người khác làm tình tập thể. Do đó, Vatican thường xuyên
diễn ra các cuộc dạ tiệc hết sức sang trọng tốn kém.
Mỗi buổi dạ tiệc thường được triệu tập 50 gái
điếm tuyển lựa tại Rome để vũ thoát y ngay tại phòng hội của Tòa
Thánh. Các tu sĩ và nhân viên Tòa Thánh
sau đó làm tình tập thể tại chỗ. Giáo
hoàng cho người đi hứng các tinh dịch của đàn ông làm tình để phát
thưởng. Ai có khả năng làm tình nhiều lần và xuất tinh nhiều
lần đều được giáo hoàng và con gái phát thưởng!
Sau đó, Lucrezia sinh ra một đứa con trai, không biết là con ai.
Tuy nhiên, lúc đứa bé được 6 tháng tuổi, Giáo Hoàng Alexander đã
công khai cho Lucrezia bế đứa nhỏ 6 tháng ngồi bên cạnh y khi dự các
buổi tiếp tân công cộng. Từ đó, dân La Mã truyền
tụng nhau một câu thơ "Giáo Hoàng Alexander là cha, là chồng, là cha
chồng và là cha của cô dâu xinh đẹp Lucrezia". Alexander
không chỉ loạn luân với con gái của y mà còn loạn luân với hai cô em
ruột. Một trong những vợ bé của giáo hoàng nầy là Vanozza
del Cantanel có con gái riêng tên Rosa.
Rosa sinh cho giáo hoàng tới 5 đứa con! (Babylon Mystery Religion,
page 89). Với quá nhiều oán thù, ngày 18.8.1503,
Alexander VI bị đầu độc chết bằng chất bột trắng (white poison
powder).
Kể chuyện tội ác và các
tật dâm ô vô đạo của các Giáo Hoàng La Mã thì thật vô tận. Xin quí độc giả tự tìm kiếm lấy tài liệu để đọc
thêm. Ở đây tôi chỉ muốn bày tỏ một nỗi đau buồn là đồng bào
Công Giáo Việt Nam hoàn toàn bị đám tu sĩ bưng bít nên họ cứ tưởng
giáo hoàng là các bậc thánh sống để họ tôn thờ.
Gia đình Công Giáo nào cũng thường có hình giáo hoàng được gia chủ
đóng khung kiếng và treo ở nơi trang trọng gần như ảnh thờ. Các sách kinh nguyện Việt Nam có rất nhiều bài
kinh cầu cho giáo hoàng. Giáo hoàng được
giáo dân tôn kính và cầu nguyện cho nhiều lần gấp bội số lần cầu
nguyện cho những người thân nhất của mình. Tại Rome, thỉnh
thoảng cũng có các đám rước giáo hoàng ngồi trên kiệu do nhiều người
khiêng. Năm 1951, chính kẻ viết bài này cũng đi dự một đám rước kiệu
tấm hình lớn của đồ tể Pio XII tại Bùi Chu! Thật là một điều mỉa mai
đau xót mà tôi khó có thể diễn tả bằng lời...
Cả thế giới ngày nay người
ta đã biết nhiều về bộ mặt xấu xa tội lỗi đáng ghê tởm cùng cực của
cái gọi là Tòa Thánh và những kẻ được tôn xưng làm "Đại Diện của
Chúa Kitô" (Vicars of Christ). Nhưng tôi
vô cùng ngao ngán và phải nói rằng tuyệt đại số đồng bào đồng đạo
của tôi không biết tí gì về các điều đó. Mặc dầu tôi đã kể
chuyện một số giáo hoàng tội lỗi tiêu biểu ở những đoạn trên, nhưng
tôi tin rằng những chuyện đó chưa đủ để làm thay đổi cái não trạng
đen tối của những người đồng đạo. Đây là lý do khiến tôi phải cố
gắng viết thêm nữa về Vatican và giáo hoàng. Những điều tôi kể sau
đây cũng chỉ là một số rất ít trong cả một rừng tài liệu hiện có
trong các thư viện. Các tài liệu hết sức
phong phú lên án Vatican và giáo hội Công Giáo sẽ không có tác dụng
gì nếu không có người đem nó ra trình bày bằng Việt Ngữ để giáo dân
Việt Nam có phương tiện tìm hiểu. Chính sự thiếu
hiểu biết của giáo dân đã làm cho các tu sĩ lộng hành và khuyến
khích họ tìm mọi cách ngăn cản giáo dân tìm hiểu sự thật về giáo
hội. Chính sách ngu dân luôn luôn
là một phương tiện hữu hiệu nhất của kẻ thống trị xử dụng để bảo vệ
thế quyền cũng như thần quyền của họ. Giáo dân
có mê tín mới đem tiền đến nhà thờ xin lễ hoặc dâng cúng, các cha cố
mới có nhiều tiền để xây nhà thờ to đẹp hầu phô trương uy thế của
mình. Giáo dân càng ngu dốt bao
nhiêu, càng khúm núm ngoan ngoãn cha cố bấy nhiêu.
Giáo dân khúm núm quị lụy với cha cố bao nhiêu,
càng làm cho họ lên mặt bấy nhiêu. Nếu để cho cha cố tiếp tục
lộng hành lũng đoạn cả khối giáo dân, chúng có thể sẽ tạo thêm nhiều
Ngô Đình Diệm cai trị đất nước. Với cương
vị là tổng thống đứng đầu một quốc gia, nhưng Ngô Đình Diệm vẫn lấy
tư cách giáo dân trung thành của Vatican để cúi đầu khom lưng hôn
nhẫn, hôn tay các hồng y đại diện Tòa Thánh. Cử
chỉ đó của Ngô Đình Diệm đã nói lên tinh thần nô lệ của Công Giáo
Việt Nam và đã làm nhục quốc thể không ít.
Sự ngu đốt là
nguyên nhân đầu cùng của mọi hành vi sai trái. Tất cả những hành
vi sai trái nói trên của tập thể giáo dân
đều xuất phát từ sự tối tăm không biết gì về thánh kinh, giáo hội và
tu sĩ: Thánh kinh là sản phẩm bịa đặt tạo ra một giáo hội gian dối.
Giáo hội gian dối tạo ra một hệ thống tu sĩ gian
manh. Sự ngu dốt là nền tảng của
tất cả những thứ đó.
Hệ thống tu sĩ Công Giáo
thế giới là hệ thống tu sĩ thiếu lương thiện, đứng đầu là giáo
hoàng. Chức vị giáo hoàng chẳng phải do Chúa trao cho mà
thường do cướp đoạt bằng đủ mọi thủ đoạn: hối lộ, mua chuộc, vận
động chính trị và rất nhiều trường hợp là do mưu sát lẫn nhau.
Chỉ trong vòng 12 năm (891-903), có 10 giáo
hoàng liên tục giết lẫn nhau để đoạt ngôi giáo hoàng. Chức vị giáo hoàng là mục tiêu quyền lực mà kẻ
lãnh đạo cao cấp trong giáo hội luôn luôn nhắm tới để tranh đoạt.
Chẳng cần nói đâu xa, đương kim giáo hoàng Jean Paul II lên ngôi
giáo hoàng năm 1978 là do y đã can dự vào việc mưu sát giáo hoàng
tiền nhiệm là Jean Paul I bằng chất độc vào đêm 5.9.1978.
Việc sản xuất chất độc giết người là nghề của
Jean Paul II. Trong thời đệ nhị thế chiến, Jean Paul II lúc
đó là thanh niên Ba Lan mang tên Karol Wojtila, giữ chức vụ Saleman
cho công ty Đức Farben Chemical chuyên sản xuất độc khí thủy ngân
(Cyanicgas) cung cấp cho Đức Quốc Xã dùng chế tạo hơi ngạt giết 6
triệu Do Thái trong các trại tập trung. Việc xử
dụng chất độc được gọi là "Lentulo", một thứ bột trắng chết người
(the lethal white powder), là một truyền thống lâu đời của triều
đình Vatican. Có lẽ khởi đầu từ thế kỷ
II. Sử sách giáo hội La Mã ghi nhận con gái giáo hoàng
Alexander VI là Lucrezia là một chuyên viên xử dụng chất độc giết
hại nhiều người. Chính giáo hoàng Alexander VI
cũng chết vì bị đầu độc năm 1503. Sách "The Pope
Encyclopedia" liệt kê danh sách nhiều giáo hoàng bị mưu sát bằng
chất độc bột trắng: Giáo hoàng duy nhất tại Vatican có gốc Đức quốc
là Utrech bị mưu sát bằng thuốc độc năm 1073. Từ đó, người Ý dành
độc quyền làm giáo hoàng cho đến ngày Jean Paul II lên ngôi năm 1978
không phải là người gốc Ý. Các giáo hoàng sau đây đều đã bị người kế
nhiệm đầu độc để cướp ngôi: Pio VIII (1830), Leo XIII (1903). Pio X
(1914) và Pio XI (1939).
Sách Babylone Mystery
Religion liệt kê các vụ giáo hoàng kế nhiệm trả thù giáo hoàng tiền
nhiệm. Điển hình là vụ Giáo Hoàng Stephen
VI (896-897) trả thù giáo hoàng tiền nhiệm là Formosus (891-896). Sau khi giáo hoàng Formosus chết được 8 tháng,
giáo hoàng Stephen VI vẫn ra lệnh quật mồ lấy bộ xương của giáo
hoàng này đặt lên ghế giáo hoàng. Stephen
VI đứng phía trước bộ xương tra hỏi và chửi rủa. Stephen VI
kết án bộ xương của Formosus rồi truyền
vứt bộ xương ra đường phố, cuối cùng được vứt xuống sông Tiber.
Stephen VI kết tội Formosus rối đạo và sai lầm.
Giáo Hoàng Honorius I, sau
khi chết cũng bị Tòa Thánh họp hội nghị đem hồ sơ ra xét xử năm 680.
Giáo hoàng Honorius bị kết án là sai lầm
và rối đạo! Vậy mà giáo dân Việt Nam vẫn đọc kinh "Đức Chúa Trời đã
đặt Đức Giáo Hoàng lên quyền rất trọng, là cai trị các giáo hữu đời
này, cho nên khi Đức Giáo Hoàng truyền sự nào chung cho các giáo
hữu, cùng phán dạy phải tin cùng điều nọ chẳng nên tin thì Đức Chúa
Trời hằng soi sáng cùng gìn giữ Đức Giáo Hoàng cho nên chẳng có lẽ
nào sai lầm được." (Toàn Niên Kinh Nguyện Bùi Chu, trang 326).
CÁCH LÀM TIỀN CỦA VATICAN
Tiếp sau quyền lực là
Tiền. Tiền là mối quan tâm hàng đầu của
Vatican vì dành quyền là để chiếm độc quyền làm tiền. Các bộ
óc siêu đẳng về tài chánh được xử dụng tìm mọi cách để làm giàu: ban
các chức thánh, bán ơn đại xá Tòa Thánh, ơn tha tội (indulgence) cho
người chết trong lễ cầu hồn, tổ chức hành hương, tổ chức năm thánh
(jubilee) bán thánh tích v.v...
Trong năm thánh 1300 (the
jubilee year of 1300) tiền bán ơn tha tội cho người chết gồm cả tiền
mặt và vàng bạc nữ trang nhiều đến nỗi Tòa Thánh phải cho các tu sĩ
dùng cào để cào thành đống tại Đền Thánh Phêrô. Thế kỷ 13
được coi là thế kỷ sáng chói của Tòa Thánh về phương diện tài chánh.
Tòa Thánh sản xuất nhiều thánh tích giả để đem
bán đấu giá. Thậm chí có cả chiếc răng sữa và miếng da qui
đầu của Chúa Jesus! Có cả tã lót và bình sữa Đức
Mẹ dùng nuôi Chúa lúc nhỏ. Tổng số đinh và gỗ
thu lượm tại Jerusalem được gán cho là gỗ
của thập giá và đinh đóng vào tay chân Chúa nhiều đến nỗi có thể
dùng đóng chiến hạm! Chúa chỉ bị đâm cạnh sườn bằng một cây giáo,
vậy mà Tòa Thánh chính thức bán đấu giá tới 3 cái!
Các sử gia đã phải gọi Giáo Hội Công Giáo là
giáo hội đói tiền (A money-hungry church). Giáo hội đã biến
Núi Sọ của Chúa thành NÚI VÀNG: Church turn
Golgotha (mountain of Skulls) into Golconda (mountain of gold).
Nguyên nhân thúc đẩy các thập tự quân đi đánh
các nước Hồi Giáo là lòng ham muốn chiếm đoạt tài sản của họ.
Sử gia Lloyld Graham viết trong The Deceptions and Myths of the
Bible, trang 472: "Núi vàng biến thành chiến trường của thập tự
quân. Động cơ chính yếu là lòng thèm muốn của dân Âu Châu đối với sự
giàu có huy hoàng của người Ả Rập" (Golcond was turned into
battleground of the Crusades. The real motivation was hungry
Europe’s envy of the wealth and splendor of Araby). Sử gia Lloyld
kết luận: "Sử gia sau tôi sẽ viết một cuốn sử khác tựa đề là: Sự suy
đồi và sụp đổ của giáo hội Công Giáo". (Another historian will write
another book and he will call it: The Decline and
Fall of the Roman Church).
Từ ngày Constantine lập ra
đạo Công Giáo, giáo hội đã mau chóng trở thành giàu có ngoài sức
tưởng tượng. Thời Trung cổ, giáo hội là
sở hữu chủ các thành phố tại Âu châu. Tất
cả các quốc gia Công Giáo đều buộc dân chúng phải nộp thuế cho Tòa
Thánh. Năm 1170, Giáo Hoàng Alexander II ra đạo luật buộc mọi
khế ước, di chúc phải được tu sĩ thị thực và thu
lệ phí mới có giá trị.
Việc bán ơn đại xá (tha tội cho linh hồn người
chết) là một nguồn thu nhập khổng lồ của
Vatican. Dân Ái Nhĩ Lan có câu tục ngữ: "Tiền nhiều lễ lớn, tiền ít
lễ nhỏ, không tiền không lễ" (High money high mass, low money low
mass, no money no mass). Đến thế kỷ 19, dư luận
Âu Châu cho rằng có rất nhiều linh hồn đã bị lãng quên (forgotten
souls in Purgatory) cần phải được Tòa Thánh cầu nguyện tập thể cho
họ. Do đó, Tòa Thánh lập ra Lễ Các Thánh vào ngày 2 tháng 11
hằng năm để cầu cho các vong hồn không có thân nhân nộp tiền xin lễ
ở các nhà thờ! Lễ Các Thánh bắt đầu có từ 1856.
Để các đồng đạo Việt Nam của tôi có một cái
nhìn khái quát về guồng máy đầu não điều khiển giáo hội, về các biến
cố lịch sử cận đại của thế giới có liên hệ đến Tòa Thánh và nhất là
các giáo hoàng có liên hệ đến chiến tranh Việt Nam như Pio XII,
Gioan XXIII, Paul VI, Jean Paul II, tôi xin tóm lược tác phẩm Vicars
of Christ – The Dark Side of The Papacy [Tác phẩm này có dành một
chương viết về các giáo hoàng dâm loạn đăng trong cuốn "Tại sao
không theo đạo Chúa" tập 1.]
của cựu Linh Mục
dòng Tên Peter de Rosa do Crown Book Editions xuất bản năm 1988.
Đây là một tác phẩm best-seller (bán chạy nhất)
trong nhiều năm của một tác giả được báo chí gọi là siêu điệp viên
quốc tế về thâm cung bí sử của Vatican.
TÁC PHẨM KIỆT XUẤT "KẺ ĐẠI
DIỆN CHÚA"
Mở đầu cho tác phẩm kiệt
xuất này, tác giả viết bài The Great Cover-up để thay lời tựa. Tôi đã mô phỏng ý của tác giả để viết bài Cái
khố của Jesus trên thập giá đăng trên Đông Dương Thời Báo, xuất bản
tại Houston Texas ngày 30.7.1998. Tác giả
dùng chứng cớ lịch sử chứng minh cái khố của Jesus trên thập giá là
hoàn toàn giả mạo vì mọi kẻ bị đóng đinh đều bị lột trần truồng. Cái khố đó nhỏ xíu nhưng là biểu tượng cho sự
bịp bợm dối trá của đạo Kitô. Vatican là
tổng hành dinh của tội ác chống nhân loại và đồng thời cũng là cái
xưởng chế tạo đồ giả lớn nhất thế giới. Sau đây là những nét
chính yếu của nội dung tác phẩm:
Tác phẩm Vicars of Christ
chú trọng tới việc vạch trần tội ác diệt chủng Do Thái của Giáo Hội
Công Giáo trong suốt 16 thế kỷ qua. Nguyên nhân dẫn đến tội
ác diệt chủng này và hành vi tội ác của các kẻ tự xưng là "Đại Diện
của Chúa Kitô" đã diễn ra như thế nào.
Chúng ta đã biết, vào đầu thế kỷ 4, đa số dân
chúng trong Đế Quốc La Mã đều theo đạo
Kitô với nhiều giáo phái khác nhau. Tuy các giáo
phái có khác nhau về giáo lý nhưng đều đồng nhất ở điểm cùng tôn thờ
Jesus là Chúa Cứu Thế (Messiah/Christ Savior, Redeemer).
Constantine có sáng kiến thống nhất các giáo phái này thành một đạo
Kitô thống nhất được gọi là "Công Giáo" để làm lợi khí xâm lược toàn
cầu, vì Công Giáo có nghĩa là "toàn cầu". Sau khi thống nhất Kitô
Giáo hoàn toàn vài năm 340, Constantine ra lệnh hủy diệt hết mọi dấu
vết của các giáo phái Kitô khác, bao gồm các cuốn kinh thánh Tân Ước
không phù hợp với đạo Công Giáo, xóa bỏ mọi dấu vết thật của Chúa
Jesus tại Jerusalem, thiêu hủy mọi sách triết học khoa học của Hy
Lạp. Muốn thống nhất đạo Kitô, đế quốc La Mã không thể làm điều gì
khác hơn là phải tôn Jesus lên làm Thiên Chúa Toàn Năng. Nhưng vì
không thể tôn thờ một người do chính mình đã giết hại nên Đế quốc La
Mã tìm mọi cách đổ tội giết Jesus cho Do Thái là nước thuộc địa đã
dám chống lại mẫu quốc. Một công hai việc, một
mặt vừa đạt mục tiêu thống nhất đạo Kitô, mặt khác vừa trả thù Do
Thái một cách ghê gớm chưa từng thấy. Đó là nguyên nhân đã
đưa đến chủ trương diệt chủng Do Thái của Đế Quốc La Mã mà kẻ thừa
kế là Vatican.
Về mặt giáo lý, La Mã bịa chuyện Pilate rửa
tay để phủi trách nhiệm kết tội tử hình
Jesus. Các kinh sách cầu nguyện luôn luôn nói là
dân Do Thái đòi phải giết Chúa. La Mã đã thành công trong
việc biến máu cứu chuộc của Chúa Jesus thành máu hận thù dân tộc Do
Thái đến muôn đời. Chúa Jesus dạy mọi người phải
thương yêu và tha thứ cho nhau, nhưng La Mã dạy giáo dân không thể
tha thứ cho dân tộc Do Thái về tội đã giết Chúa. Sự thật lịch
sử là dân Do Thái dưới sự thống trị của La Mã không có quyền xử tử
bất cứ ai. Xưa kia, lúc Do Thái còn độc
lập tự trị, luật pháp của họ chỉ dự liệu phương cách xử tử tội nhân
bằng cách ném đá chứ không hề xử tử tội nhân bằng thập tự giá bao
giờ. Mọi việc xét xử tội nhân dưới thời lệ thuộc hoàn toàn do Đế
Quốc La Mã quyết định. Phương cách xử tử tội
nhân bằng thập tự giá là phương cách đặc biệt của La Mã và Hy Lạp
dùng để khủng bố trấn áp nô lệ và dân thuộc địa. Họ không áp dụng lối xử tử nhục nhã và rất đau
đớn này đối với công dân của họ. La Mã đã thành công nhồi sọ
giáo dân phân biệt hai thứ máu Do Thái. Máu cứu
chuộc của Chúa là máu của Abraham, David, Solomon và các thánh. Máu của dân Do Thái là máu tội lỗi của Herod,
Caipha, Judas Escariot.
Tội của tổ tiên Do Thái là tội trực tiếp giết
Chúa, tội của dân tộc Do Thái từ đó đến nay là tội phủ nhận chúa
Jesus là Thiên Chúa Toàn Năng, đấng tạo thành vạn vật và tạo thành
cả tổ tiên đã sinh ra mình!
Về mặt tuyên truyền, đế quốc La Mã phao tin vu
cáo người Do Thái hay bỏ thuốc độc để giết hại người Kitô Giáo và
hay bắt cóc con nít cắt tiết để uống máu. Do đó, từ giữa thế kỷ 4
trở đi, bất cứ nơi nào có người Kitô Giáo là ở đó có sự hận thù Do
Thái cùng cực.
Hình ảnh 14 "đàng thánh giá" trong các nhà thờ
đều mô tả quân lính La Mã đánh đập và giết Chúa, nhưng mọi giáo dân
đều không nghĩ đó là lính La Mã mà chỉ gọi là "quân dữ" hoặc "quân
Giu-dêu". Họ căm thù Do Thái và quên khuấy một điều là cả Chúa, Đức
Mẹ, các thánh tổ tông, các thánh tông đồ tất cả đều là Do Thái!
Suốt thế kỷ 12 và 13, tại khắp Âu Châu, người
Do Thái bị cấm không được tiếp xúc với người Kitô Giáo.
Họ bị tước đoạt hết nhà cửa và tài sản.
Ban đêm, tất cả mọi người Do Thái không phân biệt già trẻ, đàn ông,
đàn bà, con nít, đều bị lùa vào các khu tập trung có cổng khóa chặt,
tiếng Ý gọi là GHETTOS – Đây là một phát minh độc đáo của giáo hội
Công Giáo La Mã. Các sử gia đã phải than rằng: Ghettos là một chế độ
apartheid tàn bạo chưa từng thấy.
Mỗi lần La Mã tổ chức các
cuộc thập tự chinh đến các nước xa xôi, việc đầu tiên của thập tự
quân là đi lùng bắt những người Do Thái cư trú tại địa phương đó đem
đi chém giết tập thể.
Tại các quốc gia có vua chúa Công Giáo
cai trị, mọi người Do Thái đều bị cấm
xuất đầu lộ diện vào ngày thứ Sáu Tuần Thánh. Bất cứ người Do Thái
nào bị bắt gặp trên đường phố đều bị xử tử tại chỗ!
Vào thế kỷ 16, giáo dân tôn sùng giáo hoàng và
tin rằng giáo hoàng không bao giờ sai lầm. Giáo
hoàng ra lệnh gì, giáo dân thi hành triệt để. Do vậy,
tai họa đến với người Do Thái càng trầm
trọng hơn.
Năm 1581, Giáo Hoàng Gregory XIII ban tông
huấn: "Tội ác của Do Thái trong việc chối Chúa và đóng đinh Chúa
Jesus chỉ càng ngày càng ăn sâu vào các thế hệ kế tiếp, do đó Do
Thái phải bị nô lệ muôn đời". (The guilt of Jews in rejecting and
crucifying Jesus only grows deeper with successive generation,
entailing perpetual slavery). (page 191).
Cuối thế kỷ 18 tại Rome, 2030 người Do Thái bị
buộc phải "trở lại" đạo Công Giáo. Khi họ đi nhà thờ nếu lỡ ngủ gật,
có thể bị các người cai quản nhà thờ đập
chết hay đánh trọng thương. Nhiều người Do Thái
muốn tránh cho con cái của họ sau này khỏi bị hành hạ, đã đem con
đến nhà thờ cho cha cố rửa tội. Sau đó họ chẳng bao giờ được
gặp lại con của họ nữa. Nhà thờ đem chúng đi biệt tích vì sợ sau này
chúng lớn lên sẽ trở lại đạo Do Thái!
Cuộc Cách Mạng Pháp 1789
đã mở đầu cho phong trào bài trừ mê tín tại Âu Châu. Các nhà
đại tư tưởng có khuynh hướng nhân đạo và cấp tiến như
Voltaire , J.J. Rousseau Montesquieu,
Diderot và ở Anh có Thomas Paine, đã cố gắng soi rọi ánh sáng để xóa
tan bóng tối đã bao phủ Âu Châu nhiều thế kỷ. Nhưng ánh sáng đó
chẳng bao giờ soi tới Vatican! Các giáo hoàng là
các bạo Chúa vô địch về tính thủ cựu. Tất cả các giáo hoàng
vẫn tiếp tục giữ nguyên thành kiến căm thù Do Thái và vẫn tiếp tục
duy trì chế độ Ghettos tại Ý, trong khi hầu hết các nước Âu Châu đã
bãi bỏ chế độ này đối với người Do Thái.
Sau khi thuốc chủng ngừa các bệnh được Pasteur
phát minh, mọi người trên thế giới đều được quyền hưởng lợi ích của
sự chích ngừa, Giáo Hoàng Leo XII lại ra lệnh cấm chích ngừa cho
người Do Thái. Sự hành hạ người Do Thái tại Ý càng trở nên tàn bạo
khiến cho vua Áo Franz Joseph và vua Pháp Napoleon III phải gửi văn
thư cảnh cáo giáo hoàng: "Ngài đang trở
nên thù địch với công tâm của toàn thế giới" (You are antagonizing
the world opinion). Nhà quí tộc Anh đích thân
đến Vatican khuyên Giáo Hoàng Pius IX phải bớt cứng rắn với Do Thái.
Sau khi thấy các lãnh đạo thế giới đã khuyên bảo Tòa Thánh phải thay
đổi chính sách đối với Do Thái mà không có hiệu quả, vua Ý không thể
kiên nhẫn được, đã dùng hỏa lực quân sự chiếm Vatican ngày
2.10.1870. Vua Ý đã dùng thế quyền tước bỏ thần
quyền của giáo hoàng, hủy bỏ các sắc luật đối xử bất công với Do
Thái của Tòa Thánh từ xưa đến nay. Nhà vua ban hành đạo luật
của hoàng gia Ý (Royal decree) công bố người Do Thái được hưởng toàn
quyền tự do bình đẳng như các người công dân Ý khác.
Chính sách ngược đãi Do Thái tại Ý trong 15 thế
kỷ của Vatican bị hoàn toàn chấm dứt. Thành lũy Ghettos cuối
cùng ở Âu Châu đã bị bỏ bằng sức mạnh quân sự của thế quyền nước Ý!
Mọi người trên thế giới
tưởng rằng người Do Thái đã thoát nạn diệt chủng, nhưng giáo hội
Công Giáo vẫn chưa chịu thua. Tội ác của
họ tiếp tục dưới hình thức khác.
Năm 1926, Giáo Hoàng Pius
XI (1922-1939) ra lệnh cho Đảng Công Giáo (The Catholic Party) giải
tán để nhập vào đảng của Mussolini. Năm
1929, đảng của Mussolini ký hiệp ước với Vatican tại Lateran chia xẻ
quyền hành tại Ý, tiêu diệt các phong trào tiến bộ và tiếp tục chính
sách chống Do Thái.
Trong khi đó, Hồng Y Pacelli là nhà ngoại giao
của Vatican tại Đức đã ra sức vận động Đảng Công Giáo Đức và các
lãnh tụ chính trị Công Giáo Đức ủng hộ cho Hitler để đưa y lên cầm
quyền. Hồng Y Pacelli về sau trở thành Giáo Hoàng Pius XII [Ông giáo
hoàng này đã vận động chính phủ Mỹ dội từ 1-6 quả bom nguyên tử
xuống Bắc Việt năm 1954 để giải vây cho quân đội Pháp nhằm kèo dài
sự đô hộ của thực dân trên đất nước Việt Nam.] khét tiếng chống Cộng
và ủng hộ Pháp.
Từ giữa thập niên 1930,
trước cửa nhà của những người Do Thái thường bị những kẻ bí mật vẽ
dấu hiệu ngôi sao David (sao 6 cạnh) bằng sơn. Trên cây thánh giá ở nhà thờ, chữ JNRJ được thay
thế bằng chữ Đức, có nghĩa là "Jews are not welcome here". Năm 1936, giáo hội Công Giáo Đức cử giám mục
Osmabruch đến gặp Hitler. Hai người đàm
đạo với nhau trong hơn một giờ. Hitler đã
xác quyết với Giám Mục Osmabruch là có cùng một quan điểm với giáo
hội trong mục tiêu diệt Do Thái. Hitler nói: "Chẳng phải là
giáo hội đã coi bọn Do Thái là ký sinh trùng và nhốt chúng vào
Ghettos đó sao? Tôi chỉ đang làm những gì giáo hội đã làm trong 15
thế kỷ qua, và làm cho hữu hiệu hơn... với tư cách là một người Công
Giáo, tôi ngưỡng mộ và muốn chấn hưng đức tin Kitô" (Had not the
church looked on the Jews as parasites and shut them in ghettos? I
am only doing what the church has done for fifteen hundred years
more effectively... Being a catholic, I admired and wanted to
promote Christianity).
Đức Quốc Xã và Giáo Hội
Công Giáo giống nhau ở mục tiêu là diệt chủng Do Thái. Chỉ
khác nhau ở chỗ Đức Quốc Xã ngược đãi Do
Thái vì kỳ thị chủng tộc còn giáo hội Công Giáo thù ghét Do Thái vì
Do Thái không chịu công nhận Jesus là Kitô như ý của Đế Quốc La Mã
mong muốn. Điều kỳ quặc là Công Giáo bắt chước Do Thái tôn thờ Đức
Chúa Trời (tức Jehovah) nhưng lại kết tội Do Thái thờ lầm Chúa Jesus
vốn là tín đồ đạo Do Thái, chính Vatican đã buộc Jesus phải bỏ Do
Thái Giáo để "trở lại" đạo Công Giáo La Mã!
Xét kỹ ra thì cái tội của Do Thái là chỉ thờ
một Thiên Chúa Duy Nhất (The Unity God) chứ không thờ Thiên Chúa của
Công Giáo La Mã là Thiên Chúa Ba Ngôi (The Trinity God). Công Giáo
Hy Lạp (tức Chính Thống Giáo) cũng thờ Thiên Chúa Ba Ngôi như Công
Giáo La Mã, chỉ khác ở chỗ Chính Thống Giáo cho rằng: Chúa Cha lớn
nhất, Chúa Thánh Thần thứ nhì và Jesus thứ ba.
Vatican chủ trương ba ngôi Thiên Chúa bằng nhau (như ba ông đầu râu
trong bếp ở nhà quê ta). Khác nhau chỉ có mấy điểm nhỏ nhặt
mà hai giáo phái Kitô này đã giết nhau trong 10 thế kỷ qua, huống hồ
dân Do Thái khác với Vatican như mặt trời mặt trăng!
Pio XII lên ngôi 1939, là
thời điểm khởi sự Đệ nhị Thế chiến. Tên thật là Pacelli, sinh
tại Ý năm 1876, sống tại Đức 25 năm, nói tiếng Đức như tiếng mẹ đẻ
và thông thạo lịch sử phong tục văn hóa Đức còn hơn người Đức. Năm
1929, lên chức Bộ trưởng ngoại giao của Vatican.
Được bầu giáo hòang lúc 63 tuổi. Pio XII thừa biết Đức Quốc
Xã tung đòn khốc liệt tiêu diệt Do Thái, nhưng vốn có dòng máu lạnh
bẩm sinh của Mafia và có khuôn mặt diều hâu, y luôn luôn câm miệng
hến như chẳng có gì xảy ra.
Ngày 4.6.1940, Vatican đưa Mussolini lên cầm
quyền tại Ý. Chưa đầy một năm sau, 3/4 dân Do Thái tại Ý về chầu
Chúa Jehovah hết, trong số đó không thiếu gì người Do Thái có đức
tin Công Giáo thờ cả ba ngôi Thiên Chúa mà cũng không thoát chết!
Ba Lan là xứ Công Giáo toàn tòng, là đạo quân
thứ 5 của Đức Quốc Xã, chỉ trong mấy tháng năm 1942 đã giết 700.000
người Do Thái. Riêng tháng 7 đến tháng 9 năm 1942, 5000 trẻ em Do
Thái được đưa từ Ba Lan và Pháp qua Drancy (Đức) để làm vật thí
nghiệm y khoa, trong số đó có 1000 em dưới 6 tuổi. George Wellers,
tác giả cuốn sách Drancy viết: "Từng đoàn chiên kinh hoàng (ám chỉ
các em nhỏ Do Thái) bị giết mà cái môi của Rome vẫn cứ ngậm chặt và
nó đã được hàn lại vĩnh viễn" (A frightened flocks of lambs were
slaughtered... Rome’s lips were firmed closed and it turned out
permanently sealed).
Một bác sĩ Đức Quốc Xã làm việc tại Drancy sau
Đệ nhị Thế chiến đã thú nhận tại nhà giam: "hỏa ngục của Hitler đã
tiêu thụ một triệu trẻ em. (Hitler’s hell consumed one million
children!).
Giữa lúc chiến tranh khốc liệt vào tháng
1.1943, nước Pháp bị Đức chiếm đóng và Đức vẫn tiếp tục giết người
Do Thái, giáo hội Pháp cử Hồng Y Laval sang Rome trao cho Giáo Hoàng
Pio XII ngân khoản rất lớn của chính phủ Pétain tặng Tòa Thánh.
Hai người đàm luận rất vui vẻ và không hề nói gì
tới số phận của người Do Thái.
Tháng 12.1943, Phát-xít Ý
ra lệnh tước bỏ quyền công dân Ý của mọi người Do Thái. Kết
quả mọi người Do Thái thoát chết trước đây đều bị tàn sát.
Thảm cảnh của họ được mô tả trong tác phẩm Death
in Rome của Robert Katz.
Tác giả viết: "Có một người có thể cứu sống
mọi người Do Thái tại Rome, nhưng người đó đã không muốn cứu.
Người đó là Pio XII".
Tướng Đức cầm đầu cơ quan SS tại Rome còn biết thương Do Thái đã nhờ
một linh mục Đức là Pancrazzio mật báo cho Pio XII biết sẽ có tắm
máu Do Thái tại Rome. Vậy mà "Đức Thánh
Cha" Pio XII vẫn lờ đi. Chẳng những thế,
Pio XII còn ra lệnh cho đài phát thanh Vatican không được loan tin
gì về Do Thái. Cả thế giới ít ai biết: Trong Đệ Nhị Thế
Chiến, Hitler không biết sợ một ai, ngoại trừ giáo hoàng! Lý do:
Công Giáo Đức khá ngoan đạo và chiếm đa số trong quân đội, trong
cảnh sát đặc biệt SS và các đoàn thể tại Đức. Chỉ một câu nói của
giáo hoàng cũng có thể làm tinh thần của quân đội, cảnh sát và quần
chúng Đức suy yếu. Pio XII rất thông minh và dư
biết điều đó. Pio XII là "Hitler trong tâm" hoàn toàn giữ im
lặng để khích lệ "Hitler trong hành động" mặc sức
tung hoành tiêu diệt Do Thái.
Khoảng năm 1960, giáo hội
Công Giáo muốn vận động phong thánh cho Pio XII. Kẹt một điều
là nếu phong cho Pio XII làm á thánh thì phải phong cho Hitler làm
hiển thánh! Giáo dân Đức cuồng tín đã có người khấn vái Pio XII:
"Lạy đức Pio XII là đấng đã yêu nước Đức hết mình, xin hãy cầu cho
chúng con!".
Dân Do Thái vẫn tự hào là
dân Chúa chọn (The Chosen People) nhưng lại không biết thánh ý của
Chúa chọn để làm gì. Nay nhiều người đã hiểu thánh ý của Chúa
là thế! Ngày 5.6.1944, quân đồng minh tiến vào
Rome. Số người Do Thái "đã được Chúa chọn" nhưng chưa diệt
kịp còn sót lại rất ít. Tất cả đều được quân
đồng minh giải thoát.
Sau đệ nhị thế chiến, các
người Do Thái truy tầm bọn Đức Quốc Xã để trừng trị. Họ rất thù ghét Pio XII nhưng vì giáo hòang là
thủ lãnh của một tôn giáo lớn có ảnh hưởng chính trị toàn cầu nên
Pio XII đã được giới chính trị quốc tế tha mạng.
Dư luận thế giới nguyền
rủa Pio XII vang lên từ mọi phía. New
York Times gọi Pio XII là "biểu tượng của sự vô trách nhiệm luân
lý". Vì thế, Viện Bảo Tàng lịch sử Bronx ở New York có cả một
gian hàng triển lãm tội ác của Pio XII với bảng hiệu "Tên Đồ Tể Quốc
Xã tại Rome" [Trong lúc đó, giáo hội Công Giáo Việt Nam trước 1975
lấy tên ông giáo hoàng nầy đặt tên cho một chủng viện ở Đà Lạt gọi
là Giáo Hoàng Chủng Viện PIO XII.]
(The Nazi Butcher at
Rome). Linh Mục dòng Tên Fontana phát biểu: "Kẻ làm đại diện
của Chúa mà thản nhiên nhìn tội ác diễn ra trước mặt là một tội ác
ghê gớm". Văn hào Pháp Fanncois Mauriac tuyên bố: "Đấng kế vị Thánh
Phêrô không hề lên tiếng về sự hành hạ đối với các anh em của Chúa
Jesus, cũng không hề có một biện pháp nhỏ nhoi nào xứng hợp với
trách nhiệm của một vị lãnh đạo tinh thần lớn nhất hoàn cầu.
Dù cho biện minh bằng cách nào chăng nữa thì sự
im lặng đó hiển nhiên đã là một tội ác".
Mười lăm năm sau khi các trại tập trung Do
Thái ở Auschwitz, Burgen, Dachau, Ravensbrunch bị đóng cửa do sự
thắng trận của đồng minh, năm 1960, giáo hoàng kế nhiệm Pio XII là
John XXIII đã đến những địa điểm tội ác đó để làm lễ và cầu nguyện"
"Lạy Chúa, dấu ấn của Cain đã đóng trên trán của chúng con. Qua bao
nhiêu thế kỷ, máu người anh em Abel của chúng con do chúng con làm
đổ ra cùng với nước mắt vì chúng con đã quên mất tình yêu của Chúa.
Lạy Chúa, xin tha tội chúng con vì chúng con đã nguyền rủa sai lầm.
Xin Chúa tha tội chúng con đã đóng đinh Chúa lần thứ hai trên thân
xác của những người anh em Do Thái. VÌ CHÚNG CON CHẲNG BIẾT VIỆC
CHÚNG CON LÀM" (The mark of Cain is stamped on our foreheads. Across
the centuries, our brother Abel has lain in blood which we drew and
shed tears we caused by forgetting thy love. Forgive us, Lord for
the curse we falsely attributed to their name as Jews. Forgive us
for crucifying Thee a second time in their flesh.
FOR WE NOT KNEW WHAT WE DID).
Giáo hoàng Gioan XXIII đã thú nhận toàn bộ
giáo hội Công Giáo trong những thế kỷ qua đã sai lầm và hành động
trong sự ngu dốt vì "không biết việc mình
làm". (We knew not what we did). Vậy mà giáo dân Công Giáo vẫn cứ
tin "giáo hoàng không thể sai lầm!".
Trong một buổi chiếu phim tại Vatican, khi
chiếu đến cảnh quân đồng minh đến giải thoát những người Do Thái còn
sống sót tại trại tù Belsen, John XXIII xúc động thấy những thân xác
gầy trơ xương, mắt họ sâu hoắm như sọ người chết, John XXIII bật
khóc rồi kêu rú lên: "Lạy Chúa, đây mới là mầu nhiệm Thánh Thể của
Chúa Kitô" (Oh my Lord, this is The Mystical Body of Christ). Cái
làm cho John XXIII xúc động là tất cả các tù nhân sống sót đều trần
truồng, và đó mới là hình ảnh thật của Jesus trên thập giá!
Trong đệ nhị thế chiến, dư luận thế giới có ác
cảm với giáo hội Công Giáo do các hành động của Pio XII.
Giáo hội muốn coi cái chết của Pio XII năm 1958
như một dấu chấm của một thời đại sai lầm. John XXIII muốn gỡ lại danh dự cho giáo hội bằng
một chính sách đối ngoại mới được gọi là hiệp thông (ecumenism).
Từ đầu thập niên 1960, John XXIII theo
đuổi chính sách sống chung hòa bình với Cộng Sản và đối thoại thân
hữu với các giáo phái Kitô và các tôn giáo khác.
John XXIII chủ xướng công đồng Vatican cải cách giáo hội.
Để sống còn trong thời đại mới, Vatican chấp
nhận cho các giáo dân tuân theo các tập
tục cổ truyền của các dân tộc, lấy vợ lấy chồng ngoại đạo và làm lễ
bằng ngôn ngữ địa phương thay vì xử dụng tiếng La Tinh.
Trong 5 năm cai trị
giáo hội (1958-1963), John XXIII canh cải nhiều mặt của giáo hội chỉ
nhằm cứu vãn danh dự cho giáo hội bề ngoài mà thôi. Kỳ dư, mọi sai
lầm căn bản của giáo hội vẫn còn y nguyên. John
XXIII cũng có lòng thương xót dân tộc Do Thái nhưng quyền lực và
tham vọng của Vatican vẫn luôn luôn là ưu tiên tối thượng.
Các hành vi đóng kịch của y chỉ làm cho
lương tâm nhân loại bớt giận. Thực chất, theo
tác giả Peter de Rosa, John XXIII chỉ là "một luật sư của quỉ" (The
Devil’s Advocate).
Sau cái chết của John
XXIII, Paul VI kế nhiệm lại dẫn giáo hội Công Giáo trở lại thời
trung cổ. Năm 1965, trong ngày Chủ Nhật lễ tưởng niệm Chúa bị
đóng đinh (Passion Sunday), Paul VI giảng tại Đền Thánh Phêrô với
luận điệu cũ rích: "Do Thái đã được Kinh Thánh báo trước về Chúa
Jesus là đấng Kitô cả ngàn năm. Vậy mà khi Chúa đến, họ chẳng những
không nhận Ngài là đấng Kitô mà còn sỉ nhục Chúa và cuối cùng họ đã
đóng đinh Chúa trên thập giá!".
Lời thuyết giảng của Paul VI năm 1965 không
khác gì với lời thuyết giảng của Gregory XIII năm 1581: "Tội ác chối
Chúa (không phải là Kitô) và đóng đinh Chúa của Do Thái càng ngày
càng ăn sâu vào các thế hệ kế tiếp, do đó họ phải bị nô lệ vĩnh
viễn!" (The guilt of Jews in rejecting and crucifying Jesus only
grows deeper with successive generations, entailing perpetual
slavery. Page 191-201 Vicars of Christ).
Giáo hội Công Giáo vẫn tiếp tục đi
theo con đường mòn cố hữu của lịch sử tội
lỗi của mình.
Năm 1978, Hồng y Ba Lan
Karol Wojtyla lên làm giáo hòang lấy hiệu là Jean Paul II.
Bề ngoài Giáo Hoàng Jean Paul II tỏ ra là một
người xông xáo hoạt bát đầy uy quyền, trong thực tế ông ta cũng như
các giáo hoàng khác đều chỉ là những "người tù trong cung điện". Văn phòng của Jean Paul II ở lầu 3 của tòa lâu
đài Phêrô. Một toán lính Thụy Sĩ mặc y
phục cổ xưa sặc sở như cầu vồng, chỉ làm nhiệm vụ nghi lễ chứ không
có tính cách quân sự. Cơ quan quân sự bảo vệ giáo hoàng thật
sự là Ufficio Central di Vigilanza mặc đồng phục xanh, võ trang
những vũ khí cá nhân cực kỳ hiện đại và luôn luôn sẵn sàng nhả đạn
bắn chết bất cứ ai khả nghi đến gần giáo hoàng mà không được phép.
Toán võ trang có vô tuyến liên lạc thường xuyên với tổng hành dinh
cảnh sát Ý và lực lượng bí mật mang ngụy danh Digos.
Giáo hoàng là đầu não của cả một hệ thống giáo
sĩ đông đảo gồm 4000 hồng y và giám mục. Đội
ngũ managers là các linh mục lên tới tổng
số 400.000!
Jean Paul II là một trong số rất hiếm hoi các
giáo hoàng không phải gốc Ý:
Adrian VI (1522-1523) người Phần
lan (Flemish)
Alexander VI (1492-1503) người Pháp
Sylvester II (999-1003)
người Tây Ban nha.
Trong thời gian nước Pháp hùng mạnh đã áp lực
đưa Tòa Thánh dời Vatican về Avignon. Các vua Pháp đã phong chức cho
7 đời giáo hoàng cai trị hội thánh. Các
giáo hoàng này đã không được chọn do sự soi sáng của "Đức Chúa Thánh
Thần" mà hoàn toàn do Đức Vua Pháp, nhưng cũng vẫn cai trị giáo hội
như thường".
Năm 1978, Karol Wojtyla lên làm giáo hoàng do
sự sắp đặt quốc tế để thay thế giáo hoàng Jean Paul I bị đầu độc
chết bí mật sau 33 ngày cai trị ngắn
ngủi. Đế Quốc La Mã xưa kia gọi dân Ba
Lan là dân nô lệ (Slaves), nên bây giờ giáo hoàng tự nhận là dân gốc
Slavonic. Chắc Wojtyla đã không thể ngờ được một tên nô lệ lại đứng
đầu cả một giáo hội to lớn của La Mã!
Jean Paul II là một giáo
hoàng trẻ nhất trong lịch sử cận đại của Vatican. Từ thuở
nhỏ, Jean Paul II đã từng sinh sống bằng nghề làm
lao công trong xưởng máy, thích leo núi
và đã từng là diễn viên tài tử đóng kịch mấy năm, đôi khi cũng mơ
mộng làm thơ tình. Jean Paul II là giáo hoàng
duy nhất mặc sì-líp tại hồ bơi của Tòa Thánh.
Năm 1981, Jean Paul II rất lấy làm lo lắng cho
tương lai của giáo hội vì bưu điện ùn ùn gửi tới Tòa Thánh 8000 lá
đơn của linh mục đòi lấy vợ. Ngoài ra còn có 3000 linh mục khác
không thèm hỏi ý kiến của "Đức Thánh Cha" đã tự ý cởi áo dòng chạy
theo người yêu. Buồn
nhất là có tới 20.000 linh mục thuộc diện tiến bộ đã bỏ đạo luôn và
không bao giờ trở lại. Tại các nước Âu Mỹ, hàng
ngũ linh mục già nua không có người thay
thế. Món hàng cứu chuộc của Chúa hiện đang thiếu
người rao bán rất trầm trọng. [Hiện nay,
dân Anamites Công Giáo tị nạn cố điền bớt chỗ trống.] Lời
Chúa phán xưa kia chưa bao giờ thê thảm
như bây giờ: "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít". Trong khi đó,
giáo phái Tin Lành càng ngày càng hung hãn cạnh tranh nghề nghiệp.
Họ chiếm lãnh thị trường trên TV để độc quyền
chương trình "Salvation on sale!" (Sự cứu
rỗi đang bán hạ giá). Tháng 8.1987, tờ Time mở cuộc thăm dò
(poll) đã phát giác ra một sự thật: 97% giáo dân Mỹ không còn để ý
đến giáo hoàng nữa! Giáo dân Mỹ có trình độ học
thức cao nên đã sớm tỉnh ngộ. Hơn ai hết,
người Công Giáo Mỹ biết giáo hoàng ngày nay chẳng còn quyền lực gì
trên thực tế. Những kẻ nắm quyền điều
khiển giáo hoàng và giáo hội là những kẻ dấu mặt (faceless men). Họ là những chuyên viên tráo bài tráo bút ở
trong và ngoài Tòa Thánh (paper-shuffers, pen shuffers in dark
offices in and around the Vatican). Đám
người dấu mặt đó mới thực sự nhào nặn ra quan điểm của giáo hoàng về
mọi vấn đề của giáo hội và thế giới sao cho phù hợp với quan điểm
của họ. Họ chỉ cho phép giáo hoàng được
biết các tin tức sau khi đã chọn lựa kỹ càng. Mọi tin tức đi
ngược lại chính kiến của họ đều được dấu nhẹm. Họ đích thực là các
ông chủ và là các cai ngục của giáo
hoàng. Tín điều "giáo hoàng không thể sai lầm"
thực chất là sự không sai lầm của nhóm thơ lại trong Tòa Thánh
(Curial Officals). Giáo Hoàng chỉ là kẻ
thừa hành và là cái máy ký tên trên những văn kiện đã được soạn sẵn.
Peter de Rosa kết luận: "Giáo hoàng có cả một
lô những kẻ canh chừng y không rời con mắt. Giáo
hoàng không bao giờ được nói những gì mà các vị tiền nhiệm đã nói về
các vấn đề tương tự hoặc có liên quan đến vấn đề đó. Mọi giáo
hòang đều là các tài xế lái xe theo kính
chiếu hậu. Giáo hoàng chỉ là tù nhân của quá
khứ, cái quá khứ chết tiệt đã rất lâu đời rồi mà người ta vẫn thường
gọi là truyền thống. Từ cái quá khứ chết
tiệt đó, giáo hoàng vạch đường cho giáo hội đi vào tương lai".
(The pope himself has a host of watchers who keep an eye on him. The
pontiff can never speak of what his predecessors have said on the
same or a related topic. All pontiffs drive by the rear-view mirror.
He is the prisoner of the past, a long dead past often called
tradition, dictates the road into the future).
Tôi xin kết thúc phần lược
dịch tác phẩm Vicars of Christ tại đây. Tôi tự hỏi không biết
các đồng bào đồng đạo của tôi theo dõi
bài viết này tới đây có thể đạt được một nhận thức mới về Vatican và
các giáo hoàng hay không. Nếu chưa đủ để có một nhận thức mới về họ
thì tôi xin quí vị hãy suy nghĩ thêm về điều này: Sau khi Đế Quốc La
Mã lập đạo Công Giáo, Tòa Thánh hoàn toàn lệ thuộc vào các hoàng đế
La Mã. Các giáo hoàng sau khi được bầu lên đều
phải được hoàng đế La Mã phê chuẩn. Từ thế kỷ 5 đến thế kỷ
11, có nhiều giáo hoàng làm trái ý nhà vua đều bị nhà vua cách chức
hoặc giết chết:
Giáo Hoàng St. Silverius
bị bắt cóc mất tích năm 537.
Giáo Hoàng St. Martini I
bị Hoàng Đế La Mã cách chức năm 655.
Giáo Hoàng Leo V bị treo
cổ năm 903.
Giáo Hoàng John X bị xiết
cổ năm 928.
Giáo Hoàng Gregory bị cách
chức năm 1046 vì bị sưu tra ra có tổ tiên xa xưa là Do Thái.
Ngoài ra còn rất nhiều giáo hoàng bị đầu độc
hoặc bị giết do những cuộc đảo chánh trong nội bộ tòa thánh để cướp
quyền hoặc để thanh toán vì tư thù. (Xin đọc
Bách Khoa Tự Điển về Giáo Hoàng – The Pope Encyclopedia by Matthew
Bunson, Crown Trade Paperbacks. NY. 1995) có đầy đủ nhiều
bảng liệt kê các giáo hoàng bị ám sát, các giáo hoàng giả, các giáo
hoàng được phong thánh v.v...
Các giáo hoàng đều chỉ có
cái vỏ về ngoài thánh thiện để lừa bịp giáo dân và thế giới. Hầu hết họ đều vô thần và chẳng bao giờ tin
tưởng vào sự gìn giữ của Chúa như câu kinh Bổn đã dạy "Chúa hằng gìn
giữ Đức Giáo Hoàng nên chẳng có lẽ nào sai lầm được". Cụ thể
nhất là Jean Paul II, nếu ông ta tin vào ơn Chúa che chở thì ông ta
đã chẳng cần đến sự che chở của chiếc xe
bọc kiến chắn đạn. Cả thế giới đều đã thấy hình ảnh của chiếc xe độc
đáo đó, được gọi là "the pope mobile", mang nhãn hiệu Mercedes-Benz
230, kiểu Station Wagon, tốc độ 80 MPH, mang bảng số đặc biệt của
Vatican SCV, chữ tắt của Stato Citta del Vaticano. Người Pháp chế
diễu đọc SCV thành "Sile Christ Voyait
禣224;" (Ước gì chúa Kitô
thấy cái xe quái đảng đó!).
Sự thật thì chẳng có Chúa nào che chở gìn giữ
giáo hoàng, cũng chẳng có cái xe chắn đạn
nào che chở gìn giữ giáo hoàng tốt cho bằng sự ngu dốt [Linh Mục
Trần Tam Tỉnh thường dùng cụm từ "ốc đảo ngu dốt" để chỉ tình trạng
các giáo dân. (Thập giá và lưỡi gươm).]
của đông đảo giáo
dân. Sự ngu đốt đần độn của tập thể giáo
dân là thành đồng lũy thép bảo vệ chẳng những giáo hoàng mà là cả
cái Tòa Thánh Công Giáo La Mã, thực chất là sào huyệt lâu đời nhất
của bọn khủng bố quốc tế. Chỉ khi nào đông đảo
giáo dân nhận ra chân tướng thật sự của bọn khủng bố quốc tế cáo già
này thì cái sào huyệt của nó là Vatican mới bị hủy diệt. Nhờ vào cái lòng mê muội cuồng tín của tín đồ mà
giáo hoàng đã trở thành một nhân vật "độc đáo" nhất thế giới.
Đầu năm 2000, Tạp Chí Life
cho ra đời một cuốn sách khổ lớn với đầy đủ hình ảnh từ nhỏ tới lớn
của Jean Paul II (giáo hoàng hiện tại) mang tựa đề Pope John Paul
II, a tribute. Cuốn sách này liệt kê thành tích của Jean Paul
II từ năm nhận chức giáo hòang 1978 đến 31.12.1999 như sau:
- Giáo hoàng du lịch tổng cộng 670.878 dặm Anh
(hơn 1 triệu 80 ngàn km).
- Hành hương nước ngoài 84 lần, trong nước Ý
134 địa điểm.
- Viết hoặc nhờ người khác viết 600 diễn văn,
877 bài thuyết giảng trước số thính giả tổng cộng là 14 triệu.
- Tiếp tân tại Vatican 15.000 thượng khách.
- Phong chức cho 2650 giám mục và tổng giám
mục, chiếm trên phân nửa số giám mục hiện có trên thế giới.
- Đặc biệt nhất là một
mình Jean Paul II đã sản xuất ra 280 ông thánh mới cho giáo hội Công
Giáo.
Muốn được làm thánh [Mấy giáo dân Việt Nam bị
giết vì tội bán nước cũng được phong thánh vì lý do chính trị, thánh
là miếng mồi để xúi giáo dân nỗi loạn. ] Công Giáo phải hội đủ ba
điều kiện: phải là người đã chết và phải được giáo hoàng tấn phong.
Vinh dự của các thánh là được giáo dân tôn kính
và cầu nguyện như thần linh. Cả ba điều này đều trái với
Thánh Kinh vì theo Thánh Kinh, giáo dân
không được cầu ai ngoài cầu Chúa. Thánh Kinh ngăn cấm việc liên lạc
với người chết (All attempts to commune with the dead are
condemned-Isaiah 8:19). Các thánh chỉ được Chúa
là đấng duy nhất công nhận mà thôi và không cần một người nào ở thế
gian công nhận. Danh từ "thánh thiện" được tự điển định nghĩa
là "có tính vị tha trọn vẹn" (Saint: completely unselfish) chẳng có
liên quan gì đến tôn giáo. Sống ngoài tôn giáo,
con người vẫn có thể trở nên thánh thiện.
Đứng đầu giáo hội vẫn có thể là một đứa mất dạy như thường.
Công Giáo có rất nhiều thánh bổn mạng cho từng
nhóm người, chẳng hạn như: thánh Nicholas quan thầy những kẻ nghiện
rượu, Thánh Gerard quan thầy các bà mang bầu, Thánh Anthony quan
thầy các kẻ bị mất trộm. Thánh Hilary quan thầy
các kẻ bị rắn cắn. Hiện nay người ta đang vận động Tòa Thánh
tôn vinh Saint Clare làm quan thầy cho các nhà sản xuất máy TV!
Nói chung, các
thánh Công Giáo đều là các người thiên cổ. Chỉ có một loại "thánh"
sống ngoại lệ gọi là "Đức Thánh Cha", tức giáo hoàng mà thôi.
(xem tiếp đoạn 5. Cha con GIÁO HOÀNG ALEXANDER
VI và Chủ Nghĩa Bá Đạo)
Charlie Nguyễn